Dăm mẫu tự cốt hình làm vốn thông lưu
Trang sành thảo một hàng thư tình cỏ...
Lê Đạt
Williams mở tròn mắt nhìn người ta quăng mình xuống huyệt. Ông ú ớ kêu không thành tiếng. Tiếp theo là những tảng đất kếch xù đổ ụp xuống cùng với những xẻng sách, trong đó nổi bật lên cuốn Nỗi đau của Xô phi, cuốn sách đã trước bạ tên tuổi Williams vào danh mục những nhà văn Mỹ nổi tiếng thế giới.
- Tôi... chưa chết.
Nhưng chẳng ai nghe tiếng. Và đất và sách cứ ào ào trút xuống ùn lên thành một nấm mồ, giữa những lời ai điếu tiếc thương vô hạn của đồng nghiệp lòng riêng khấp khởi chợ văn chật chội bỗng một sạp hàng trống chỗ.
*
Khi Williams tỉnh giấc thì đêm đã khuya lắm. Mọi sự bắt đầu từ một tin vui, rất vui.
Năm đó Williams, người thường được giới truyền thông mệnh danh là một Dostoiepski Mỹ, lên máy bay đi Paris lĩnh giải quốc tế văn học Cinodel Dacu. Chừng như để bù cho cái Nobel mà lần nào ban giám khảo cũng đãng trí tên ông. Williams chẳng lấy thế làm điều. Với ông, mọi giải thưởng đều ít nhiều hư danh. Những khoản tiền thưởng thì hữu thực. 25.000 đôla đáng để người ta làm một phi vụ vượt Đại Tây Dương tới thủ đô nước Pháp, nơi ông đã để lại rất nhiều giấc mơ của tuổi trẻ, và có dễ đến hơn hai chục năm nay chưa có dịp trở lại. Nói không có dịp thì không đúng. Vì... chẳng vì sao cả... Nhưng với tuổi tác (có thật vì tuổi tác không?) càng ngày ông càng thấy ngại bứt khỏi bến cảng. Nó là chiếc bàn làm việc, cái máy chữ... Và dằng dặc những chai uýtxki không đáy. Cố neo lại. Kẻo đi có khi là đi luôn, chuyến tàu suốt ai cũng phải đi mà ai cũng nấn ná muốn... triển hạn. Ôi cái máy chữ và chai rượu uýtxki, những bạn đồng hành chung thủy không thể thiếu của một nhà văn Mỹ tự trọng chẳng khác gì con ngựa chiến và thanh trường kiếm của một hiệp sĩ Âu lục thế kỷ XVI.
Chiếc phản lực lúc một đưa Williams tới gần tuổi trẻ. Đúng, nhà văn có cảm giác mình đang làm một chuyến lữ hành không phải vào không gian mà trong thời gian.
Ông đang trở lại Paris những năm 20 sau Đại chiến, với những đêm tranh luận và nốc rượu bất tận nơi những tửu quán đã đi vào lịch sử như Đôm, Xêlếch, Clôdơri hoa Lila với những Joyce, Ezra Pound, Hemingway, Miller... và vân vân.
Thoạt nhìn cái bọn nhà văn trẻ này đúng là một lũ vô tích sự. Hình như họ chẳng làm việc gì khác ngoài tụ bạ rượu chè khoác lác và nói xấu nhau.
Hãy độ lượng với đám tội đồ chung thân văn học dù chỉ vì chút khổ sai kim tự tháp chúng cúc cung vì hậu thế. Amen!
Joyce, lênh khênh, xương xẩu như một thân cây mọc trên núi đá, mắt cận thị áp chót thông manh sau cặp kính dầy cộp, đã tân trang mấy đời đế giày trong cuộc phiêu lưu qua các bến sách mà chẳng gặp một nàng Pêlênôp nào mắt xanh đến tập bản thảo khó ngửi Uylítxơ. (Hiếm hoi biên tập viên đủ sức kham nổi đoạn tự sự liền tù tì trên dưới chục trang không chấm phẩy của Bloom trong nhà toalét - đoạn văn sau này trở thành nổi tiếng đến mức kẻ không đọc cũng phải chối đây đẩy là đọc rồi, để không bị xếp hạng chậm tiến và lấy dấu thị thực môđéc) - với niềm tin của một đấng tiên tri hay của một thằng điên không lúc nào thôi đinh ninh về thiên chức (cũng như thiên tài) của mình.
Người ta giai thoại không ngớt về đận Joyce hỏi vợ (thật hay bịa?). Nhà văn Ái Nhĩ Lan cầu hôn nàng Nora xinh đẹp, hầu bàn tại một khách sạn Dublin:
"Em nên lấy anh vì trên đời hiếm khi người ta có cơ may làm vợ một thiên tài (!!!)..."
Gertrude Stein, vị nữ hoàng Mỹ bệ vệ của nền văn học hiện đại đang phôi thai, có khứu giác văn học trên tài một máy siêu ngửi đời mới nhưng lại dị ứng với Joyce, mỗi lần nhắc đến ông y như là bà khịt mũi. "Đó là một thằng cha bịp chữ" chỉ vì Joyce cả gan ca ngợi một phụ nữ Mỹ khác, Mạnh thường quân văn học Silva Beach, trước mặt bà.
Và cái anh chàng Hemingway. Người thì to lớn, vạm vỡ, tưởng hợp với nghề cửu vạn hay dao búa hơn là nghề bút, hai túi áo va rơ lúc nào cũng cồm cộm hai chai uýtxki vỏ dẹt như hai khẩu súng lục. Mở mắt, vừa chân ướt chân ráo trên giường xuống là đã lập tức mở nút, súc miệng thông mấy ngụm để khởi động.
Hemingway hồi đó có vẻ nổi tiếng như một nhà báo hơn là một nhà văn.
Ezra Pound thì đã được giới phê bình cấp bằng "thi sĩ uyên bác nhất nước Mỹ". Lúc nào bên mình cũng kè kè không Đường thi tam bách thủ thì cũng Nam hoa kinh Trang tử. Không hiểu sao Pound lại khoái Hemingway. Ông say sưa dạy dỗ anh chàng ngỗ ngược này về lao động nghệ thuật. Hemingway đã học được phần nào thuật chữ kỳ công của Pound. Nhưng thái độ quá đạo mạo của Pound làm anh khó chịu.
Một hôm Hemingway nói thầm với Williams: "Tớ nghĩ được một mẹo hết sảy".
Williams hỏi gặng mãi, Hemingway chỉ ỡm ờ. "Hồi sau sẽ rõ". Thì ra không biết anh chàng dỗ ngon dỗ ngọt làm sao mà Ezra Pound bùi tai bằng lòng học đánh bốc do Hemingway dạy đổi công. Ôi cái trận đánh bốc ấy... Có lẽ phải bút lực một Shakespeare hay một Cervantes mới lột hết được.
Đôi chân vòng kiềng của Pound di chuyển theo lối con tôm... mặt ngơ ngác, hết ăn móc trái lại ăn móc phải hệt một bố vợ phải đấm.
Sau bữa quyền anh nhập môn đó, hình như Pound giận không giáo hóa tên học trò bố láo kia nữa.
Khi Williams trách "cậu đùa hơi quá", Hemingway không trả lời. Anh làm một tợp hết phần tư chai uýtxki, tặc lưỡi đọc một câu thơ Whitman (chẳng biết có phải nguyên chất không?):
Kẻ môn đồ tôi yêu là kẻ đánh bốc thầy.
Và Hê cười hề hề khả ố một cách lạ.
Nhưng thời gian Pound xỏ nhầm giày phát xít bị bắt nhốt cũi tại Rôma (khi quân Đồng Minh kéo vào giải phóng nước Ý) giữa sự im lặng đầy khinh bỉ của làng văn tiến bộ, Hemingway, lúc đó nổi tiếng khắp thế giới như một nhà văn lớn chống phát xít, đã lặng lẽ gửi tặng tác phẩm lẫy lừng của mình Chuông nguyện hồn ai cho người bạn hoạn nạn tứ cố vô thân, ngoài bì viết chữ đại tự đậm nét như trên một tấm áp phích:
Gửi thầy và bạn của tôi, Ezra Pound.
*
Nhưng rượu mềm quá. Williams muốn dừng lại cũng không được, nó cứ chui tọt xuống cổ họng. Cả người bứt rứt, lâng lâng, nóng bừng. Thiên hạ nhảy trước mặt ông trong một điệu vũ hóa trang cuồng loạn. Bụng Williams như bốc lửa. Ông lảo đảo đứng dậy:
- Ha... dễ chỉ có chúng mày biết nhảy?
Và ông xê ghế bước ra chân thấp chân cao loạng choạng nhảy một mình. Cái thằng cha nào cười khả ố thế kia. Mày cười tao say... tao chưa say... tao sẽ cho mày một bài học. Và Williams tiến tới nắm lấy ve áo hắn líu lưỡi quát:
- Son of a bitch! Đồ chó đẻ...
*
Sao Williams lại tỉnh rượu? Sau cái trò bậy bạ kia. Ước gì đừng bao giờ tỉnh nữa. Tỉnh làm gì? Cứ say... và đi... đi thẳng sang thế giới bên kia trong cơn say có phải khỏe bao nhiêu không?
Có lẽ điều đáng sợ nhất đối với một người say là cứ phải tỉnh để nhận rõ một sự thật, là mình đã say... đã xử sự như một tên vô loài...
Rượu đâu... rượu đâu... dìm cho chết những phút tỉnh bất lịch sự và khủng khiếp này... để không bao giờ tỉnh nữa.
Williams vừa quăng chai uýtxki đã cạn đến giọt cuối cùng, đang khai khẩu một chai khác thì chiếc đài chết tiệt, đã câm tiếng từ lâu bỗng ọ ẹ báo tin Hemingway bắn súng săn vào miệng tự sát hồi 3 giờ sáng.
Điều Williams lo lắng chờ đợi, xua đuổi nay đã thành sự thật. Thế là Hemingway, thằng bạn đáng ghét đáng yêu nhất đã vĩnh biệt ông.
Williams mở nút rót đầy hai cốc lớn giơ lên cụng ly mời: Uống đi cậu! Nhưng Hemingway không uống, không bao giờ còn uống được nữa. Và Williams bỗng cảm thấy cốc rượu như có thuốc độc. Ông mở cuốn Ông già và biển cả đọc lời đề tặng của bạn, nét chữ run run báo hiệu một tiền kỳ delirium tremens, chứng điên vì rượu.
Tặng Williams chai uýtxki của tao.
Ông biết Hemingway đã phải nỗ lực cái nỗ lực phi thường của kẻ khổng lồ để viết xong cuốn tiểu thuyết mỏng manh đó.
Chất rượu đã bắt đầu tấn công vào trung tâm thần kinh của nhà văn. Hemingway đã ngất nhiều lần và tay bắt đầu run như một kẻ hậu đậu. Cái con người to lớn có quả đấm thôi sơn của một võ sĩ quyền Anh hơn một lần đã không cầm vững được cốc rượu mà để rớt xuống đất.
"Williams này, một võ sĩ chỉ phòng thủ không bao giờ có khả năng trở thành một võ sĩ lớn. Và chỉ đánh khi tin chắc là mình thắng. Tớ đã khổ luyện gần như suốt đời, tớ đã bỏ hồ ngài Maupassant, tớ đã đấu với ngài Stendhal hai hiệp và ở hiệp hai, tớ đã thắng điểm... nhưng không bao giờ... không bao giờ tớ lại dại mà nhận so găng với ngài Tolstoi..."
Williams không nghĩ Hemingway đã thắng điểm Stendhal. Không gì chứng tỏ rằng Hemingway đã đánh bại Stendhal về khả năng phân tích tâm lý tinh tế đến quỷ quái của nhà văn Pháp kia, nhưng giác cảm cực nhạy của Hemingway, nó như những mạch máu phập phồng đập dưới những con chữ tiết kiệm đến keo kiệt, thì cũng chưa bao giờ Stendhal đạt tới. Nhưng thắng để làm gì?
Giới văn học nhiều người thường chửi Hemingway là kênh kiệu, ngạo mạn. Họ không biết rằng Hemingway vênh vác ngổ ngáo như vậy vì ông lờ mờ cảm thấy tuyến phòng ngự của mình hơi yếu,... quá yếu... Một lần đã lâu Hemingway đưa cho Williams xem một tấm ảnh ố vàng, chụp hình nhà văn hồi bé tí tẹo trong bộ đồ con gái. Mẹ Hemingway là một nữ ca sĩ độc đoán và bất đắc chí. Bà trút lòng căm thù chồng lên đầu đứa con trai không mời mà đến. Cho tới năm lên bốn cậu bé phải mặc quần áo chung, chơi đồ chơi chung với người chị gái hơn Hê mười tám tháng, và bị mẹ luôn miệng nhiếc mắc là "đồ bất lực" (tôi không muốn nhắc lại y lời của bà e làm rác những lỗ tai thanh tao).
Và Hê bỗng nổi giận đùng đùng đập cốc rượu xuống sàn:
- Tao thà chết không chịu làm một thằng đàn ông mặc váy.
Có phải để giải tỏa cái điều dồn nén từ thơ dại, mà Hê đã trải qua bốn lần kết hôn và hơn năm chục mối tình sóng gió? Hê đi săn sư tử bên châu Phi. Hê học đánh bốc. Và điều quan trọng hơn cả Hê đã tạo ra cái bút pháp trượng phu kiệm lời, nó là thứ thuốc đặc hiệu chống lại thứ văn chương kể lể lâm ly kiểu đàn bà của chủ nghĩa lãng mạn thường quyến rũ các nhà văn vội vàng.
Evelyn Vaught đã tỏ ra có mắt tinh đời khi nhận xét:
"Làm sao tất cả bọn họ lại căm ghét Hemingway đến thế? Tôi nghĩ rằng họ đã khám thấy trong ông một cái gì đó không thể tha thứ được: lòng nhân ái. Dưới những lời huênh hoang cục cằn, ngổ ngáo, ông có những phẩm chất của một hiệp sĩ thứ thiệt."
Ôi! Hemingway
"Người ta có thể chết nhưng không thể chịu thua".
Cái nhà thiện xạ kia đã nhanh tay hơn thần chết, tinh lược cuốn tiểu thuyết đời mình những trang lê thê, nhạt nhẽo của tuổi già lẩm cẩm, bất lực, bệnh tật và ngớ ngẩn.
Williams bỗng cảm thấy khẩn thiết phải cai rượu trước khi quá muộn.
Những ngày cai rượu!!! Dài dặc và trống vắng cuộc đời kẻ thất tình. Đã bao nhiêu lần Williams lảng vảng nơi những quán rượu xưa như một bóng ma lần về chốn cũ... Vào đi... vào đi... cố nhân... chỉ mấy bước thôi. Ngoài kia là mùa đông đơn côi và tuyết buốt... Chỉ một bước qua ngưỡng cửa là ấm áp, thân quen, là hào hứng, là câu thơ rượu ngang tàng với giọng ngâm men chín mươi độ của Pound:
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch.
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh...
Thánh hiền bặt dưới cỏ xanh
Riêng phường bợm rượu lừng danh để đời.
Chỉ một bước qua ngưỡng cửa là có thể trùng phùng Lý Bạch, Đỗ Phủ, Basho, Edgar Poe, những thi tửu đại danh của vạn cổ sầu. Nhưng Williams vẫn còn chút sáng suốt để biết rằng có một cái ngưỡng mình không được phép vượt qua, nhất thiết không được vượt qua, nếu còn muốn tồn tại như một con người tự trọng.
Sao mùi rượu thơm thế, thơm như mùi hoa đêm, như mùi cái hôn vỡ lòng.Toàn thân chòng chành nôn nao trong biển phi trọng lượng bất tận và chỉ có, chỉ có rượu may ra đủ sức neo ta vào đất liền... Vào cái yên ổn của bến.
Uýtxki... Lily... Jenny... Ôi! âm hưởng ngọt ngào và quyến rũ của hai tiếng uýtxki như tên đẹp một người đàn bà đã qua, một mối tình dang dở.
Ta nhất định sẽ đánh được một con cá lớn như mày...
Khẩu súng kia. Cái nòng thép bỗng long lanh như nòng cổ chai rượu. Cứ việc tống nó vào miệng dễ ợt... Và pằng... thế là xong. Nhưng thiên hạ lại chửi tao thuổng cái chết của mày. Và mấy thằng phê bình độc miệng sẽ xoa tay hể hả trước hàng tít lớn chạy trang nhất: Vụ thuổng văn lớn nhất thế kỷ.
Williams cứ mê mê tỉnh tỉnh. Chai uýtxki lùi lũi như con cá mập kéo nhà văn già trên biển bão. Mày cứ thả sức kéo đi... Williams sẽ theo mày đến cùng trời cuối đất và thề sẽ bắt được mày kéo về bờ... dốc ngược đáy chai lên trời như chiếc đuôi cá dựng đứng trong tiểu thuyết.
Trận đấu kéo dài tưởng như vô tận. Và cuối cùng Williams đã thắng. Ông treo chai rượu dốc ngược trên tấm ảnh râu ria bù xù của Hemingway như một đài tưởng niệm. Phía trước là cuốn Ông già biển cả với dòng chữ run run của người bạn đã khuất: Tặng Williams chai uýtxki của tao.
*
Williams đã thoát nạn. Nhưng một người đã hơn ba mươi năm ngụp lặn trong biển men không thể trắng án dễ dàng như vậy. Thế thì còn gì là quyền uy của tòa án tửu đình.
Williams chưa kịp hân hoan niềm vui của một tên trọng tội được phóng thích thì những đám mây u ám như từ một đại lục buồn bã ùn ùn kéo tới. Vừa thoát khỏi biển rượu lại rơi tõm vào một biển chán chường mênh mông của chứng thần kinh suy sụp.
Cái buồn không tên. Những lo lắng, những thấp thỏm vô cớ. Và ai đó cứ thầm thì trong đầu dai dẳng, triền miên. Có phải tiếng trách móc của rượu. Và những giấc mơ quái đản động chớp mắt là lũ lượt kéo tới như một dãy oan hồn xếp hàng đòi nợ. Nhiều đêm Williams cứ phải ngồi chồm chỗm hệt một tên ăn trộm, lưng đau dần không dám nằm vì hễ đặt mình là đầu rơi tõm vào một vực thẳm vô tận.
Rồi ban ngày, rồi mở mắt hẳn hoi ma quỷ cũng không buông tha. Bánh mì đắng ngắt. Bít tết có mùi xác chết. Nước uống như có pha dầu cá… Ói mửa... ói mửa suốt. Chuông điện thoại không ngừng réo bên tai dọa nạt nguyền rủa. Đêm cũng dài, ngày cũng dài. Đối với Williams đêm và ngày có gì khác nhau đâu, chỉ có cái hồi hộp, cái bồn chồn, cái chán nản mênh mông. Chữ nghĩa hình như cũng đã theo rượu ra đi.
Williams từng bao nhiêu năm chung sống với hai người bạn chí thiết con chấy cắn đôi! Chữ và rượu. Rượu đã đi rồi. Chữ cũng bỏ đi nốt. Để Williams bơ vơ, như ông già mồ côi cầu bơ cầu bất giữa chợ đời bỗng xa lạ.
Những cực hình rùng rợn nơi địa ngục: nấu vạc dầu, leo cột lửa, cắt lưỡi, mổ bụng... trong Thần khúc của Dante hay tranh vẽ của Jerôme Bosch chỉ là trò trẻ ranh so với những cực hình của Williams, vì ít nhất nhà thơ và nhà danh họa cũng đã định hình được chúng trên mặt viết, trên mặt vẽ và coi như đã thuần hóa được chúng bằng sức mạnh của nghệ thuật.
Cái địa ngục rùng rợn nhất, khủng khiếp nhất là trang giấy câm lặng, hà khắc với những đàn ác mộng hung dữ lai vô ảnh khứ vô hình cào xé cắn cấu trong đáy thăm thẳm của tâm hồn không ai biết, không ai hay, trừ kẻ nạn nhân bất lực, giẻ nhét đầy miệng không thốt lên được một tiếng S.O.S đồng loại.
Tưởng cai rượu để sống để viết... Không viết được nữa thì sống liệu còn có nghĩa lý gì?
Thôi nhân loại... lão già này phải "gút bai" thôi. Cũng có khó khăn gì lắm đâu. Lão đã uống thuốc ngủ qua đêm. Lão chỉ việc uống thêm thuốc ngủ qua ngày nữa là êm. Cái chết xét cho cùng chỉ là vấn đề liều lượng.
Ước gì lão có được một bản di chúc kiểu Ông già và biển của Hemingway (Bao giờ Williams cũng dứt khoát coi tác phẩm này là bản di chúc của Hê)
Nhưng sức lão đã kiệt rồi. Chữ đã bỏ lão ra đi không lời từ biệt, bạc tình.
Lão, lão thì không thể xử tệ như vậy được. Lão không thể ra đi không lời từ biệt. Chẳng lẽ ăn ở với cuộc đời ngần ấy năm trời mà lại lặng lẽ phủi quần rút dù khỏi cuộc chơi như một kẻ ăn lường.
Williams cật lực ngày đêm để làm cái công việc tưởng như chẳng có gì khó khăn ấy. Nhưng sao vất vả đến thế! Vất vả chẳng kém gì lao dịch của đám nhân mã trên núi lửa. Vẻn vẹn có mấy dòng mà lão cứ loay hoay mãi. Là một người gần trọn đời làm nghề chữ lão không đành lòng để lại một bản viết, dù là thư tuyệt mệnh ngắn ngủi, bị coi là viết vội bất thành văn kiểu một bétxelơ muối xổi.
Lão sửa đi chữa lại hàng trăm lần như một chú học trò dốt văn
"Tôi không thù hằn gì ai cả
Xin mọi người hãy nhớ đến tôi..."
Không được. Sướt mướt quá. Và thừa lời. Cần gì phải thanh minh? Tại sao lại phải "hãy nhớ đến tôi"? Viết thế này mà gặp Hemingway dưới đó hắn phải quại cho mình mấy quả vẹo hàm.
Và Williams lại sửa, lại chữa. Miệt mài say mê. Trang giấy gạch xóa lem nhem như bùa phù thủy. Hay bùa phù thủy thật? Vì nó đã trục dần ma quỷ ra khỏi đầu ông già. Williams gật gù đọc.
"Phàm mọi việc trên đời nhất thiết không nên vội, đặc biệt khi làm chữ và khi sắp tự tử".
Nhà văn lão thành vừa viết xong lá thư tuyệt mệnh có thể coi như áng văn sáng giá nhất đời ông.
Nó đã cứu ông thoát chết.