*Xanh thanh minh thơ thổi liễu vô hình
L.Đ
Thế là Liễu Vĩnh đệ nhất danh sĩ đất An Lực, người nổi tiếng tài hoa, nhà hiệp sĩ với những đường kiếm tuyệt luân cùng những ngón đàn tinh luyện lại thi trượt một lần nữa.
Không biết công danh là cái gì mà mê người đến thế.
Kể cũng lạ. Một danh sĩ như Liễu Vĩnh văn võ kiêm toàn tưởng đã gửi trọn đời mình cho cây kiếm hành hiệp và cung đàn nơi chiếu rượu mà cũng không thoát được bả vinh hoa.
Cái mối tình tay đôi ấy cứ hành hạ Liễu hoài... Đã có lúc Liễu tưởng có thể đổi tất cả những chức khanh tướng trên đời lấy một câu thơ hay, một nét nhạc đẹp. Những khi tỉnh rượu, nhìn tấm áo đã sờn vai và soi nét mặt sớm già chồng chất những vệt son ca nữ, Liễu lại khao khát đến khắc khoải một bộ áo mũ vua ban và một cuộc đời quan nghiệp.
Và con người tài tử ấy lại thở dài bó gươm đàn vứt vào rương như vào một huyệt mộ, vùi đầu trong lớp bụi Tứ thư Ngũ kinh chuẩn bị một cuộc thi đấu mới nơi trường ốc.
Ôi! Sự lựa chọn của con người nhiều khi mới nhiêu khê, mới bi kịch làm sao!
Lần này thì Liễu nhất định không được cho phép mình sa sảy như mấy lần trước. Liễu đã gò mình vào khuôn phép. Công thức đã có sẵn, cứ việc thế mà làm, khó gì. Tưởng vậy. Nhưng đối với một tâm hồn phóng khoáng, một ngòi bút tài tử như Liễu thật cực nhọc. Cây bút động đậy, ngỗ ngược, rình hở cơ là phóng ra ngoài.
Thuần thục nó vất vả chẳng kém gì thuần thục một con thú rừng để mua vui trên sàn diễn. Đề thi chẳng có gì khó nhưng Liễu mướt cả mồ hôi. Và khó chịu. Vì câu thúc. Liễu bật cười nghĩ đến giai thoại con chó săn nòi, chủ nhân phải buộc một chân lại để làm việc bắt chuột. Và Liễu cứ tập tễnh như vậy trên trang giấy trắng đầy cám dỗ.
Lần này thì chắc đỗ mười mươi rồi. Bạn bè coi bản nháp của Liễu ai cũng khẳng định như vậy. Đúng khuôn phép mà vẫn không cạn kiệt chất tài hoa. Văn bài này mà không đỗ, họa có là ông trời mù mắt. Xoàng ra cũng phải lót dạ cái Tiến sĩ!
*
Tể tướng thời bấy giờ là Lý Tú. Vì quyền uy khuynh loát thiên hạ của vị đại thần nên không ai dám gọi tên cúng cơm ông mà chỉ một mực xưng hô Lý tể tướng.
Lý tể tướng cũng có thể gọi là một nhân vật tài hoa.
Kể cũng buồn cười. Quyền uy trùm lấp thiên hạ, giàu sang nhất nước, tể tướng vẫn thích sáng tác. Không những thích mà còn say mê như say mê một giai nhân, một trái cấm.
Công bằng mà nói từ của tể tướng không phải tồi. Lời lẽ chải chuốt, hình ảnh hoa mỹ, ý tưởng đoan trang, thừa thãi khuôn vàng thước ngọc. Mà toàn do những ca sỹ bàn nhất hát. Nhưng tể tướng mơ hồ cảm thấy họ chỉ tán thưởng những bài từ kia trước mặt ông. Nơi góc riêng tư, họ hình như vẫn thầm yêu Liễu.
Đừng nghĩ tể tướng ghen với Liễu. Làm sao mà hắn lại có thể so sánh dầu chỉ là với móng chân út của ngài được. Nhưng ông trời vốn oái oăm. Có phải vì thế mà người ta đã mệnh danh Thượng đế bằng một biệt hiệu bất kính mà yêu mến: con tạo, nghĩa là cùng loài với đám con hát chuyên bày đặt những tấn trò đời cười đấy mà khóc đấy. Tại kinh đô thời bấy giờ có một danh kỹ tên đã đẹp, nhan sắc lại đẹp hơn. Đã thế trời lại phú cho Hoa Mẫu Đơn, tên người đẹp, một ngón đàn, một giọng hát đẹp hơn cả nhan sắc. Một đệ nhất kỳ nữ như vậy hẳn phải kiêu kỳ.
Một người oai quyền như Lý tể tướng mà cũng phải năm lần bảy lượt sai đám thuộc quan đem danh thiếp đến mời nàng tham dự tiệc sinh nhật, giai nhân mới hạ cố. Với một điều kiện khó nuốt. Trong tiết mục đêm vui, xen vào những bài từ của tể tướng phải có, nhất thiết phải có, một bài của Liễu Vĩnh. Mà thôi, một người cao sang như tể tướng cũng chẳng hẹp lượng gì.
Tiếng hát của giai nhân thật tuyệt vời. Những bài từ của Lý như được hà thêm sức sống... đến mức ngay chính tể tướng cũng không dám nghĩ mình lại có thể sáng tác hay đến thế. Và tác giả thấy mình chưa bao giờ hạnh phúc bằng lúc này. Ngài nâng ly dạ quang đựng thứ mỹ tửu thượng hạng nhắm từng câu chữ bỗng véo von, bỗng sang trọng bất ngờ qua giọng kim loại quý của giai nhân.
Thật chẳng thua kém gì những bậc đại bút trong Hoa gian tập vận (sưu tập những bài từ hay thời Vãn Đường, Ngũ Đại).
Nhưng đã đến bài từ Liễu Vĩnh.
Như sắp bước vào một đại sự, Hoa Mẫu Đơn cân lại dây đàn. Và nàng bắt đầu hát.
Chẳng những thời gian như nấn ná mà cả không gian như cũng tụ tập lại quanh lời ca của người đẹp. Không còn phải đẹp vàng son bóng bẩy, hoa mỹ mà là một cái đẹp khó nói, nó như cất lên từ nhành liễu gió bay, từ tiếng róc rách của nước, từ không gì cả... Bài Xung thiên hạc của Liễu Vĩnh quả đã gần đến mức trác tuyệt.
Và buổi tiệc có thể diễn ra suông sẻ... nếu...
Chẳng biết cái anh chàng họ Liễu kia ma đưa lối quỷ dẫn đường thế nào mà lại tương vào bài từ một câu: "Nhân bả phù danh hoán liễu thiển châm đê chước..." (Sẵn lòng đem bả danh lợi hão đổi lấy cuộc say cạn chén). Hẳn cũng là một lời nói ngông vào một lúc quá chén đấy thôi! Nhưng nó hơi chối tai Lý tể tướng.
Tuy vậy bữa tiệc vẫn được coi là thành công mỹ mãn. Lý đại phu hể hả, Hoa mỹ nương được thưởng hẳn một mâm vàng. Và cứ tưởng như thế là xong. Nhưng đám thủ túc của tể tướng như thói thường của bầy nha lại vốn điêu luyện nghề bới móc. Chúng kháo nhau: "Đúng là Liễu Vĩnh bất mãn hỏng thi nên đã cạnh khóe Lý tể tướng".
Có kẻ còn xưng xưng rằng lúc hát câu này Hoa Mẫu Đơn đưa mắt về phía Lý tể tướng và khẽ nhếch mếp cười...
Lời nói đến tai tể tướng. Nhưng là bậc quân tử, đáng lẽ nổi trận lôi đình, ngài chỉ cười nhạt. “Vậy thì cứ để cho kẻ vô hạnh kia cạn chén say sưa... cần gì đến cái thứ công danh hão”.
Và một lần nữa cái học vị tiến sĩ tưởng đã trong tầm với lại tuột khỏi tay người thí sinh tài hoa vô hạnh.
Quá tam ba bận là đủ lắm rồi. Và Liễu Vĩnh, như một người bị công danh tình phụ, dốc một lòng vào việc chữ.
Như để đền bù cho kẻ bị thiệt thòi, ông trời đạo diễn cho Liễu một kỳ duyên. Và người đó chẳng ai xa lạ, chính là Hoa Mẫu Đơn! Không ai nghĩ Hoa Mẫu Đơn lại có thể yêu được Liễu. Ta có thể yêu thơ của một người, nhưng từ đó đến mức yêu được người quả là một chặng đường vạn thủy. Lời Liễu đẹp nhưng thân hình Liễu, nói là xấu thì hơi oan, mà nói là điển trai thì quá đáng. Người Liễu gầy, đen đủi. Quần áo lôi thôi lếch thếch và hẳn không có gì đảm bảo lắm về mặt vệ sinh, hơi thở sớm tối nồng nặc mùi rượu. Có người bảo đó là mối oan nghiệt của giai nhân.
Kiêu kỳ lắm vào để vớ phải một thằng nhà thơ kiết xác.
Nhưng từ lâu Hoa Mẫu Đơn đã quen ngồi trên những lời thị phi của thiên hạ. Và mối tình kỳ ngộ tưởng như dòng suối bất tận khai nguồn cho sáng tác của Liễu. Những bài từ của Liễu sang trọng hẳn lên cũng như con người của Liễu .
Tôi không mấy tin những ai chu chéo lên rằng nhà thơ cần phải nghèo khổ, đoạn trường, thơ mới hay. Đó là một lời xui dại nhảm nhí và có hại.
Thơ của Liễu vẫn hay, càng hay, chỉ có điều Liễu ít làm thơ hơn trước. Sống với một giai nhân tuyệt thế như Hoa Mẫu Đơn chẳng là một bài thơ rồi sao? Ngồi dưới ánh trăng kề má người đẹp, nghe giai nhân hát những bài từ tuyệt tác của mình, thiết nghĩ Lưu Nguyễn lạc vào Thiên thai chưa chắc đã hạnh phúc hơn.
Những bài từ vừa làm xong, có khi nét chữ chưa ráo trên giấy đã được đệ nhất kỳ nữ hát... Thật còn sướng hơn một nhà thơ kiêm chủ thanh lâu hay kiêm chủ xuất bản. Chỉ có điều là Hoa Mẫu Đơn hát xong thì đốt ngay bản thảo, chừng nàng không muốn chia sẻ bản quyền với một ai khác.
Liễu Vĩnh chỉ cười. Ai mà có thể giận một niềm đam mê độc chiếm như vậy. Nhất là lại của một giai nhân vô địch.
Và cuộc đời Đào Nguyên ấy cứ kéo dài với những tiệc rượu, tiệc đàn bất tận.
Cho đến buổi sớm xuân kia khi những chồi liễu nẩy mới xanh mướt dưới cơn mưa bụi mờ ảo như một viễn du, ngồi nghe mỹ nhân đờn những bài từ mới viết, Liễu bỗng chớm một cảm giác khó tả. Trước những chồi liễu sắc tân xao động, Liễu bỗng cảm giác những câu chữ của mình như có gì cằn cỗi khô héo. Liễu vội xua đuổi những ý nghĩ nặng nề, cho rằng đó chẳng qua là sự mệt mỏi của một đêm hoan lạc quá liều...
Nỗi u buồn thoáng qua của Liễu không thoát khỏi mắt giai nhân.
- Chàng làm sao vậy?
- Không ...
Và tiếng đàn lại thánh thót xua tan nỗi buồn như một đám mây mùa thu chưa kịp tụ đã tan tác thành nghìn mảnh.
Nhưng buổi chiều đi một mình trên đường liễu dậy thì, nghe cái hồi hộp của nhựa trong rờn xanh của lá, người nghệ sĩ nặng nợ trong Liễu không thể không nhận thấy những bài từ của mình dường như bắt đầu đơn điệu.
Lẽ dĩ nhiên đến mồng thất cũng chưa chắc có ai tranh được chức đầu bảng của Liễu. Nhưng làm thơ đâu phải một chức. Làm thơ là chấp nhận cái thân phận Nữ Oa đội đá vá trời... Làm một lao dịch quá khổ không biết đâu là kết thúc. Đó là nghiệp của một lực sĩ chạy đường trường vô hạn. Một nhà thơ toại nguyện là một nhà thơ chết.
Cuộc giằng co trong Liễu tưởng đã chấm dứt khi Liễu quăng bút từ bỏ giấc mộng công danh nay lại có cơ bột phát. Mà lần này còn gay go gấp ngàn lần. Liệu người nghệ sĩ có dám từ bỏ một giai nhân tuyệt sắc để đổi lấy một nghiệp chữ đầy gian truân và bất trắc không?
Liễu thở dài.
Và cuộc đời lại tiếp tục trôi đi, thành thật và giả dối, hoan lạc và chán nản. Liễu cố giấu nỗi buồn để không làm phiền lòng người yêu.
Còn Hoa Mẫu Đơn thì cố tình không nhắc đến chuyện đã qua để khỏi khuấy động nỗi buồn trong lòng người nghệ sĩ. Và những tiệc vui lại được tổ chức cấp tập như để giập tắt nỗi bất hạnh không cho nó ngóc đầu dậy.
Nhưng dưới cái yên ổn bề ngoài kia là một sự rình rập triền miên. Người ta rình rập từng tiếng thở dài nén nhịn, từng cái nhíu mày thoáng qua của nhau như những thám tử cần mẫn phá án.
Và một hôm Liễu Vĩnh thoáng gặp Hoa Mẫu Đơn soi gương... hai hàng lệ từ từ lăn trên gò má. Người mỹ nữ kiêu kỳ bắt đầu hoài nghi nhan sắc quyến rũ của mình rồi chăng?
*
Liễu không tin rằng mình dám dứt áo ra đi. Và Hoa Mẫu Đơn cũng vậy. Nàng cảm thấy bị xúc phạm, nhục mạ. Là một kỳ nữ, Hoa Mẫu Đơn cũng không thể hiểu rằng Liễu yêu nàng hơn tính mệnh nhưng Liễu còn yêu từ hơn cả tính mệnh và mỹ nhân cộng lại. Mà dù có hiểu cũng vô ích.
Trong mắt bão của giai nhân, Liễu chỉ còn là một chàng Sở Khanh, một thằng đểu. Hoa Mẫu Đơn đã đốt hết những di vật của người yêu và thề rằng từ nay đến chết không hát một câu thơ nào của Liễu.
Liễu bước thấp bước cao ra bến đò. Nhiều lúc Liễu tưởng chân không cất nổi. Và chàng đã hơn một lần quyết định đằng sau quay. Liễu vẫn còn đắm đuối Hoa Mẫu Đơn lắm. Cho mãi đến khi đã ngồi trên thuyền, kẻ trốn chạy vẫn thấy mối tình sâu nặng đối với người tri kỷ dâng lên cuồn cuộn và trong một phút hoảng loạn, Liễu bỗng la lớn: "Đắm thuyền! Đắm thuyền!" Rồi ngất đi.
*
Và để quên, để nhớ người đẹp, suốt ngày Liễu vùi đầu vào từ. Là một từ nhân bậc nhất, hàng chục năm làm khuynh đảo trái tim thiên hạ bằng những câu chữ tuyệt đẹp... giờ đây Liễu mới thức giấc mình chỉ là một đứa trẻ thả một con thuyền giấy mỏng mảnh trên bao la biển từ đầy kỳ bí.
Trường phái từ Hoa gian cực thịnh gần trăm năm nay đã đến lúc suy tàn. Những lời đẹp và thật của cổ nhân dần dần đã biến thành những lời hoa mỹ và sáo rỗng. Cái khuôn khổ cũ trở thành quá chật hẹp. Liễu thấy cần phải phá vỡ nó và tạo dựng một ngôn cách mới.
Nhưng không phải một khi đã có tài năng và tên tuổi, người ta tự do muốn làm gì thì làm. Những bài từ chập chững phá cách lập tức bị chống đối gay gắt. Không nói gì đám nhà thơ bảo thủ, ngay cả những người mến mộ Liễu cũng dị ứng. Một anh bạn đã mượn chén khuyên Liễu những lời đầy thiện ý.
- Huynh đã đi lạc đường, phụ lòng tốt của bè bạn, của công chúng. Huynh thật không biết điều.
Thì số phận của Liễu là không biết điều. Và nhà thơ nổi danh từng một thời kẻ đưa người đón lủi thủi ra đi như kẻ bị trời đày. Quán gió, giữa cảnh thu hiu quạnh và sự lạnh nhạt của công chúng, còn hiu quạnh và đáng sợ hơn cảnh thu hoang sơ. Liễu bỗng nhớ Hoa Mẫu Đơn, nhớ da diết, nhớ đau xót. Liễu cảm thấy lòng mình cuồn cuộn như con nước không viết ra được, không giải thoát được thì đến vỡ tim mạch mà chết. Và Liễu cầm bút như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc.
*
Thoạt nhìn những nét chữ trễ nải và bay bướm ngoài bì, Hoa Mẫu Đơn đã nhận ra ngay mặt chữ - Nàng mỉm cười khinh bỉ: "Chắc lại xin tiền và xin quay về".
Cơn giận từ đâu nổi lên đùng đùng. Hoa Mẫu Đơn cầm phong thư đưa vào ngọn lửa đang bừng bừng cháy trên cây bạch lạp. Nhưng lại thương... Không phải thương. Làm sao có thể thương con người ấy được. Nhưng việc gì phải vội. Xem cái giọng Sở Khanh, lèo lá... thơn thớt đến thế nào, xem hắn mặt dầy mày dạn đến thế nào rồi đốt đi cũng chưa muộn... Nàng run run mở phong thư. Chỉ có hai bài từ, điệu khúc chuệch choạc:
Từ nghìn xưa giống đa tình khổ vì cảnh biệt ly
Lại còn chịu thảm cảnh rơi rụng lạnh lùng của mùa thu
Đêm nay tỉnh rượu rồi nào có biết mình ở đâu...
Bây giờ thân đã rã rời trơ trụi, sắc xuân đã về chiều
Tính trước rồi sẽ không biết bao lời phụ bạc rẻ rúng
Hối hận sao lúc đó không ở lại
Dòng chữ nhảy múa theo giọt lệ lã chã.
Trong giây phút linh cảm Hoa Mẫu Đơn chợt ngộ. Sở dĩ ngày đó Liễu bỏ đi là vì quá đam mê nàng. Liễu ao ước biến nàng thành chữ, thành cái đẹp vĩnh cửu để có thể yêu thương nhau suốt đời, hơn suốt đời, ký thác mối tình hữu hạn cõi nhân sinh vào mãi mãi.
Nàng khóc nức nở. Trong khúc hợp xướng của tâm cảm, chính nàng là kẻ lỗi điệu, kẻ phụ tình.
Hoa Mẫu Đơn ôm đàn. Qua những nghịch âm thoạt nghe như trúc trắc như ngây ngô kia, đôi tai tinh tế của người kỳ nữ hé thấy một vùng âm thanh mới lạ đằm thắm, nó như một đòi hỏi tha thiết, một lời gọi đàn, gọi nàng. Lời nhắn gửi mới tuyệt vọng, mới kỳ vọng làm sao. Nó khẩn thiết như một lời kêu cứu! Liễu Vĩnh hẳn phải lẻ loi lắm!
*
Giữa bữa tiệc trọng thể mừng sinh nhật Lý tể tướng, khi Hoa Mẫu Đơn cất tiếng hát bài từ phá cách của Liễu, cử tọa dường như nín thở. Giọng nàng bữa nay như có gì khác thường, vẫn mượt mà cao sang nhưng trầm sâu như tâm sự, day dứt như ân hận. Lời quyện với ý, chữ quyện với nhạc, nhạc quyện với tình không còn phân biệt đâu là chữ đâu là nhạc, đâu là hợp cách, đâu là phá cách, chỉ thấy thổn thức rào rạt nỗi đau nhân thế và khối tình nặng nợ cộng với cái đẹp tuyệt vời của nghệ thuật, nó mong manh khiến người ta khôn cầm nước mắt.
Bài từ đã đạt tới độ lay động mỹ học mà ân trạch lắm một nghệ sĩ mới hạnh ngộ được. Đến Lý tể tướng cũng phải công khai rơi lệ.
Chính nhờ Hoa Mẫu Đơn mà bài từ phá cách của Liễu sau này sách vở gọi là Mạn từ (sao lại không gọi là Uyên ương từ?) đã bùng nổ khắp Trung nguyên như một đám cháy. Các tiệm ca kỹ, các giếng nước, các điểm hò hẹn đều xao động tiếng từ của Liễu. Lâu lắm người ta mới lại hát náo nức đến thế. Trái tim của tuổi trẻ nhiều năm khô hạn câm nén như bỗng được khơi đúng mạch, rùng rùng bật nói.
Một nhà phê bình văn học (có phải Thánh Thán không?) đã không nói ngoa khi nhận xét:
"Không một nơi nào liễu rủ xanh mà lại vắng rì rào lời Liễu".
*
Còn "nhà thơ của lầu xanh" như đám nho sĩ đương thời mệnh danh Liễu một cách miệt thị, thì cứ lênh đênh kiếp lãng tử như một nghiệp chướng. Không ít lần chàng đã bạc đãi lòng mình để không quay về với Hoa Mẫu Đơn. Liễu cũng đã để lỡ không biết bao nhiêu mỹ nữ. “Vì không có thời giờ’’.
Hiếm giai nhân chịu hiểu rằng chữ cũng có thể là một đam mê cả ghen, nó độc chiếm thời giờ, tâm chí kẻ tài tử như sắc đẹp, hơn sắc đẹp.
Trong trận tình Liễu thường là kẻ đào ngũ. Không ít cái miệng xinh đẹp đã mắng mỏ, đã xỉ vả chàng là Sở Khanh, là thằng hèn.
Nhưng một kẻ đã hèn đến mức dũng cảm như vậy thì hậu thế còn có cách nào khác là khoan hồng, cho miễn truy cứu trách nhiệm tình sự.
Ngữ bất ba đào dị nịch nhân, hỡi ôi!
*
Một lãng tử như Liễu chết đường chết chợ chẳng phải chuyện lạ. Khăn gói nhà thơ không có tài sản gì ngoài mấy bộ quần áo cũ và một bài từ dở dang. Lời đặc biệt bi quan như lời tuyệt mệnh:
Thôi tôi đi chẳng ai còn nhớ Liễu
Gió lạnh liễu gầy quán ghé mưa suông
Liễu đã lầm, lầm chết người.
Thiên hạ vẫn nhớ Liễu. Tất cả những ca nhi có tên tuổi, tất cả những người đẹp trong giới thanh lâu đều có mặt để vĩnh biệt chàng. Đám gái nổi danh bạc tình này đã quyên góp một số tiền lớn thừa ma chay cho nhà thơ chết bất đắc kia một tang lễ đồ sộ và công bố ngừng đàn phách ba ngày để tưởng nhớ người đã khuất.
Tại hầu hết các giếng nước, các điểm tình ba ngày liền khói hương nghi ngút không lúc nào nguôi. Cả nước đã nức nở nhà thơ một lễ quốc tang dân lập với những giọt nước mắt thật lòng.
Ngày Liễu qua đời trớ trêu lại trùng lễ sinh nhật năm chẵn của tể tướng. Một lễ tiệc long trọng mà không có đàn hát thì còn mùi mẫn gì? Tể tướng buộc phải nói thác rằng ngài khó ở và hoãn lễ chúc thọ ba ngày.
Hoa Mẫu Đơn tự tay trồng bên mộ người tri kỷ một cây lệ liễu với hai câu thơ:
Tin xuân lã chã xanh giọt liễu
Đáy đất rờn nghe Liễu trở mình
Hàng năm, vào dịp thanh minh, nam thanh nữ tú khắp nơi tấp nập nô nức mang cây đến trồng bên mộ nhà thơ trong một ngày lễ hội tấp nập trở thành truyền thống gọi là Hội viếng Liễu. Loài thảo thụ, chừng cũng tri âm người đã đem danh thơm lại cho chúng, mọc nhanh như thổi chẳng mấy chốc đã thành rừng, rừng liễu Liễu.