*Bà Bovary chính là tôi
FL
Nữ bá tước Laure de Moranxy đặt mạnh tờ giấy xuống bàn. Cơn thịnh nộ đẩy bà bật dậy, bà đi đi lại lại trong phòng, đôi môi thanh lịch mọng ngọt như miếng mứt hoa quả hảo hạng phun ra những lời chanh chua:
- Mẹ kiếp. Rồi bà sẽ cho thằng khốn nạn biết tay.
Bà cầm mảnh giấy lên đọc lại… Không có lẽ đây lại là sự thật. Từ chối một lời mời của Laure de Moranxy, nữ bá tước hoa hậu Paris, một lời mời ít nhất cũng sáng giá ngang một lời mời dự tiệc của Tổng thống vào một ngày lễ lạt tại điện Elysée. Bà nhìn những tấm danh thiếp được xếp cẩn thận dưới mặt kính chiếc bàn gỗ quý như những tiêu bản trong bộ sưu tập côn trùng hiếm của một nhà tự nhiên học.
Hầu hết các nhân vật thuộc lớp kem của xã hội thanh lịch nước Pháp và châu Âu đã “đến nhìn và chiến bại” ở đây. Từ nhà thơ đồ sộ Victor Hugo đến nhạc sĩ kỳ tài Liszt, Musset, Banville... Gautier..., đủ mặt… kể cả con sói cao ngạo và cô độc, Vigny…
Người đầu tiên không từ chối nổi lời mời của bà là Bá tước de Moranxy, một nhà quý tộc vào tuổi xế chiều. Và ông đã quá nhiệt thành vời lời mời của người đẹp, say sưa với những lạc thú trần tục, đến mức chưa đầy 365 ngày ông đã quy nơi cực lạc, để lại cho người vợ trẻ một nỗi buồn cần phải giải khuây, một tước hiệu thuộc một cây phổ hệ đại thụ trong giới quý tộc Pháp… và một gia tài kếch xù.
Chỉ mấy năm góa bụa vui vẻ đã mau lẹ biến nhà vị nữ bá tước thành một trung tâm văn hóa tấp nập, nó thu hút hầu hết các tao nhân mặc khách của các phòng khách thính từng đã có thời oanh liệt.
Cả phòng khách thượng thặng của bà Récamier lừng danh cũng không chịu nổi áp lực của cuộc cạnh tranh.
Thoạt đầu, bà Récamier còn bĩu môi khinh bỉ. Một người như bà, từng có tên ghi trong lịch sử văn học nước Pháp đâu lại thèm đua tranh với “con ngựa cái hãnh tiến kia”. Dầu khách khứa có thưa thớt nhưng cái đầu sư tử của Chateaubriand ngả trên chiếc xôpha Ai Cập lừng lững như một vị hoàng đế, cũng đủ giữ cho phòng khách thính của bà xoàng nhất cũng vẫn còn trên mức ba sao. Chỉ riêng với tên tuổi và vẻ đường bệ của ông, đã là một tượng đài hoành tráng. Nó khiến phòng khách thính của bà đương nhiên được xếp hạng như một địa chỉ văn hóa đầu bảng của giới thượng lưu Pari. Năm ấy Chateaubriand đã 75 tuổi. Nhà văn càng già càng đẹp. Mớ tóc “qua cầu gió bay” tiêu biểu cho phong trào lãng mạn thế kỷ 19, xõa trắng như trời mây mùa thu trên vầng trán Thi Sơn, đem lại cho ông dáng dấp của một vị Chưởng thượng trong Kinh Thánh. Chateaubriand là biểu tượng muôn đời của phòng khách thính Récamier như con Sphinx là biểu tượng vĩnh hằng của Kim tự tháp Ai Cập.
Nhưng Chateaubriand không bằng đá như con Sphinx. Và mặc dầu ông đã vào tuổi đúng là lực bất tòng tâm, nhưng ta không nên quên rằng Chateaubriand là một nhà văn… không, một nhà thơ… và cái tâm của giống thi sĩ nó vốn đa mang lắm. Bà Récamier gần trọn đời quan hệ với giới chữ mà vẫn thiếu cảnh giác.
Cho đến ngày pho tượng sống kia chống batoong lết đến nhà Laure de Moranxy để tham quan, bà Récamier tự nhủ:
- Chateaubriand bỏ sao được nơi này? Cũng không nên khe khắt với ông ta quá.
Nhưng ngày một, ngày hai… rồi ba… rồi một tuần… Nhìn chiếc giường xôpha lạnh như giường người chết, bà Récamier bỗng khóc tu tu như con nít.
Lối chơi cổ lỗ của bà làm sao chống lại được với lối chơi tàn bạo của lớp trẻ… Laure đã sắm một chiếc xôpha giống hệt chiếc xôpha của bà để Chateaubriand ngả lưng, không những thế lại còn sắp xếp hẳn một phòng riêng kín đáo để “cụ” dối già tập Hồi ký phía bên kia mồ (Memoires d’outre tombe).
Trong một phút sự thật, người kỹ nữ thanh nhã gần như suốt đời nói bằng hình ảnh và ẩn dụ vì ngại sự sống sượng của ngôn từ đời thường làm bẩn miệng đã thốt lên một danh ngôn (hay tục ngữ!):
- Cái lão già dại gái ấy đã gần kề miệng lỗ còn bị… ám.
Bà bá tước xinh đẹp lại cầm tờ giấy lên. Mắt bà muốn tóe lửa thiêu cháy nó:
Em thân yêu…
Tối nay anh bận, không đến được, xin thứ lỗi.
G. Flaubert
Cái miệng thanh tú của bà méo hẳn đi dưới lực cuồng nộ.
- Thằng khốn kiếp. Tao sẽ dạy cho mày một bài học nhớ đời…
Một nỗi hoài nghi chợt lách vào đầu bà như một con rắn độc. Chẳng lẽ mình lại xuống xề nhanh đến thế… Bà đến trước tấm gương lớn. Không! Bà vẫn còn quyến rũ lắm.
Ai cũng biết Flaubert không phải là một nam nhân hấp dẫn. Nhưng anh ta là một ngôi sao mới nổi lóe sáng trên vòm trời văn học. Hắn còn trên tài Balzac!
Hơn nữa, lại độc đáo. Người ta đồn Flaubert là một “kẻ ố nữ” cuồng nhiệt. Được loan truyền khắp nơi câu nói mà thiên hạ cứ đổ riệt cho ông “Tôi sẵn sàng đánh đổi mười người đẹp lấy một câu văn đẹp”…
Flaubert một mực khăng khăng rằng mình không nói, nhưng ai cãi lại được hàng vạn cái miệng rỗi hơi của các đài “cà phê vỉa hè”. Lời đồn đại càng khiến Flaubert nổi tiếng trong giới “bít tất dài xanh” [1] (bas bleu) nơi kinh kỳ.
Một chủng loại “độc” như vậy mà không có mặt trong bộ sưu tập của Laure de Moranxy là một khiếm khuyết không thể chấp nhận được.
Vào một ngày đẹp trời, cái con bướm lạ kia đã chui vào vợt của người kỹ nữ.
Đúng là Flaubert không đẹp trai. Theo cách nói mà các nhà tu từ học gọi là phép uyển ngữ (euphémisme). Cái mặt tròn, đầy trứng cá, hai má xệ, người thấp hơi béo mập… ăn mặc xộc xệch, dáng dấp như một công nhân tỉnh lẻ. Nếu không có đôi mắt. Xin đừng nghĩ là đôi mắt quắc sáng. Không, hai con mắt tròn đục, lúc nào cũng như vắng nhà. Xin lỗi. Không phải đôi mắt. Mà cái nhìn thì đúng hơn. Không ai nghĩ những con mắt ấy lại có cái nhìn ấy, cái nhìn thăm thẳm, nó như bóc trần, như lục lọi đến chỗ sâu kín nhất của sự vật.
Không phải chỗ sâu kín nhất của cơ thể. Một người đầu óc phóng khoáng như Laure de Moranxy không bận tâm đến điều đó một cách quá đáng vì những chỗ sâu kín nhất của cơ thể bà gần như đã trở thành bán công khai. Hơn nữa chúng còn là những vũ khí cực kỳ lợi hại. Đã nhiều lần người góa phụ đứng khỏa thân soi vào tấm gương lớn. Cái cơ thể thon thả và nõn nà của một bông loa kèn mới nở cộng với cái mãn khai, cái mời gọi của một trái táo chín thuộc dòng táo thuần chủng vườn cây Eva.
Bao nhiêu bậc tài trí đã tái phạm tội tổ tông nơi vườn địa đàng này.
Ta trở về với cái nhìn của Flaubert. Nó như một tia ngoại cảm soi rọi vào những nơi thầm kín nhất trong tâm hồn thường được che đậy dưới rất nhiều lớp hóa trang. Và nữ bá tước bỗng thấy tâm hồn đột nhiên lõa thể, nó khiến bà rùng mình, vừa xấu hổ (?) vừa khoái cảm, vừa căm giận, vừa thích thú.
Đấng cao xanh thường bày ra nhiều trò thường khi còn oái oăm hơn trò Trạng Quỳnh.
Flaubert nổi tiếng là một nhà văn căm ghét sự dung tục. Lòng căm ghét này gần như đã trở thành một bản năng. Suốt cuộc đời văn học của ông là một cuộc trường kỳ kháng chiến chống lại sự dung tục, nó tàn phá nhân loại hàng ngày hàng giờ như một chứng SIDA đáng nguyền rủa.
Nhiều lần… chính Flaubert cũng tự khinh mình. Nhiều lần ông đã quyết chí bứt khỏi xiềng xích của Laure nhưng lần nào ông cũng đại bại.
Một lần hai người đi chơi trong công viên, tai quá nhàm về những lời líu lo vô nghĩa của giai nhân, Flaubert buồn rầu nói với nữ bá tước:
- Em có biết vì sao hoa bao giờ cũng đẹp không… Vì chúng không biết nói.
Laure vỗ tay cười ran:
- Câu nói của anh tuyệt, anh phải ghi vào album cho em.
Đã đến nước thế thì Flaubert còn biết làm thế nào?
Có phải nghịch cảnh này đã khiến Flaubert ngậm ngùi ký dưới một bức thư gửi Laure:
Con chó rừng bị xích của em
Nó lập tức được lan truyền như một lời nói đẹp. Không biết một nhà phê bình hay một nhà lý luận say rượu nào đã nói “Nhà văn là một đấng tạo hóa. Nhà văn đã thắp sáng những vì tinh tú… đã tổ chức những cuộc vui tráng lệ hơn tất cả những cuộc vui xa hoa nơi cung đình”.
Chao ôi ! Nếu có thật, thì có lẽ đó chỉ là mặt tiền của ngôi nhà.
Nghề chữ chắc cũng có cao sang, nhưng về thực chất nó vất vả, nó nhọc nhằn, phu phen lắm.
Flaubert đọc lại trang nhật ký. “Hôm nay tôi cảm thấy đầu óc choáng váng, tâm trí hôn mê. Tôi làm việc suốt bốn tiếng đồng hồ, rốt cuộc không thành được câu văn. Trọn ngày hôm nay thế là không viết được một dòng, dù đã xóa bỏ hàng trăm dòng. Công việc viết lách khó khăn biết chừng nào… Nghệ thuật có phải là con ác quỷ không, nó hút hết tâm huyết của tôi”.
Con đường chữ thăm thẳm như con đường lưu đày. Và người chữ đều là bậc giáo chủ cường tráng và sung mãn như Hugo, Goethe hay kẻ tử vì đạo như Flaubert cũng hơn một lần cảm thấy bơ vơ như một “đứa trẻ mồ côi không chị”. Cõi viết lạnh lắm và người thủy thủ lênh đênh là nhà văn kia bỗng cần hơi nắng một cảng nữ, mà người ta thường gọi bằng một mỹ tự là “nàng thơ”, dầu đó không phải là nàng Beatrice[2] thánh thiện mà thường khi chỉ là một gái chơi thứ phẩm kiểu Jeanne Duval.[3]
Đã bao phen, Flaubert muốn vùng lên. Nhưng cái tên phiến loạn văn chương kia đã từng bị giới hàn lâm căm ghét đến mức nguyền rủa “đó không phải là văn học, đó là sự vô lễ”. Cái con ngựa xích thố hí rung cả chiến trường văn học thế kỷ XIX lại lủi thủi bước theo đường cũ về chuồng…
Khi Laure ve vuốt vầng trán nóng bỏng của Flaubert đặt trên nôi đùi,… khẽ luồn tay vào rừng tóc rễ tre thầm thì…
- Anh yêu, nom anh khổ sở như một con chó vừa bị đánh.
Flaubert bỗng thấy mình bập bềnh trôi trên biển mộng từ một tuổi thơ bị hắt hủi. Ông những muốn đánh đổi tất cả cuộc đời, tất cả sự nghiệp lấy những giây phút thần tiên này và người thủ lĩnh phái hiện thực bỗng thấy mình sướt mướt lãng mạn như một Alfred de Musset.
- Hay thằng khốn kiếp hẹn hò với ai?
Mối nghi ngờ như hạt giống trong đất ẩm gặp nắng ấm bỗng nẩy mầm rất nhanh trong đầu người đàn bà kiêu kỳ. Không phải tình yêu bị xúc phạm. Lòng tự ái bị thương tổn nhiều khi còn khiến người ta đau khổ căm thù hơn…
- Thằng Sở Khanh ! Mày sẽ biết tay ta.
Một người như nữ bá tước không thể đến nơi đánh ghen như một mụ nặc nô ngoài phố. Laure viết một bức thư ngắn cho Jean de Finneau, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Tin Paris.
Jean thân yêu,
Em muốn anh gửi ngay phóng viên đến chỗ Flaubert,… và cho hắn một bài báo nhớ đời. Tối có rảnh, mời anh đến chơi.
Laure
Jean lấy bút chì đỏ gạch dưới dòng chữ Tối có rảnh, mời anh đến chơi, và hôn khẽ lên chữ Laure thơm phức mùi đam mê, và lập tức ra lệnh cho một phóng viên xuất kích.
Từ lâu, Jean vốn không ưa gì Flaubert.
- Cái thằng cha câng câng, mở miệng là chữ với nghĩa, như cả nước chỉ mình nó biết viết.
Anh phóng viên có hẹn với người yêu vào buổi chiều nên tranh thủ tới ngay nhà Flaubert.
Đúng là gặp hên nên vừa đến nơi, anh bắt gặp một cô gái đang hối hả mang tới một bó hoa rất đẹp. Chẳng khó khăn gì lắm anh cũng được cô cho biết là bó hoa được mang đến cho ông Flaubert. Năm mươi quan chìa ra phía bà thường trực bép xép đã giúp anh tiến hành việc điều tra một cách nhanh chóng.
- Ông Flaubert nói tối nay không tiếp khách vì bận chiêu đãi.
- Bà cố nhớ xem… chiêu đãi ai…
Bàn tay anh như vô tình khép lại trên tờ giấy bạc và hơi kéo lui.
Trí nhớ của bà thường trực lập tức trở lại với vận tốc không thua gì động tác rụt tay của người phóng viên.
- À phải rồi… bà Bovary.
Tiền trao cháo múc. Và anh phóng viên miệng huýt sáo, chân phi mã đến nơi hẹn, với tấm lòng nhẹ lâng của một nhân vật Corneille đã giải quyết ổn thỏa cái nút kịch “Ái tình và nhiệm vụ”.
Khi được de Finneau cho biết tên kẻ tình địch (?) nữ bá tước cố lục lọi trí nhớ.
- Bovary… Bovary nào nhỉ.
Không, trong giới nữ thượng lưu Paris không có ai là Bovary… hay Tovary cả.
Jean nhún vai:
- Có khi đó là một mụ hàng xén tỉnh lẻ mê đọc những tiểu thuyết tình ba xu, hay một cô gái hạ lưu bán hoa. Anh đã nhiều lần nói với em, Flaubert là một tên dung tục không xứng đáng với giới thượng lưu chúng ta.
Nữ bá tước nghiến răng:
- Thế thì càng phải cho nó một đòn cạch đến già.
Đã hơn một năm, Flaubert khổ sở dằn vặt.
Ông cảm thấy nền tiểu thuyết đương thời hình như quá mải mê dùng những dũng cử.
Không, ông không thành kiến gì những trang bay bổng tuyệt vời của Hugo, hay đầy kỳ tưởng thâm trầm của Goethe. Nhưng là một nhà văn tự trọng, ông thấy có trách nhiệm mở mang bờ cõi văn học.
Tiểu thuyết vẫn còn thiếu nghiêm trọng một bản trường ca về sự dung tục. Ôi! sự dung tục nó đương lây lan khắp nơi như một nạn dịch hạch mới, nó đục khoét, hủy diệt những khao khát, những mơ mộng, những phần tốt đẹp nhất trong tâm hồn người một cách lặng lẽ, hàng ngày, đến mức chính những con bệnh cũng không hay.
Nhưng liệu ông có đủ sức mạnh của Hercules để làm việc đó không? Một việc còn khó hơn nhiều lần việc tổng vệ sinh chuồng ngựa Augias.
Không khí dung tục mới ngột ngạt làm sao!
Đã không ít lần, ông thèm được xả hơi bằng những trang hùng hồn kiểu Hugo, hay những trường đoạn trầm bổng kiểu Chateaubriand. Không, ngay cả lối văn tả thực lãng mạn của Balzac, ông cũng không có quyền viết. Bộ “Hài kịch nhân loại” của nhà văn khổng lồ kia xét cho cùng còn nhiều tính sân khấu quá.
Flaubert đặt cho mình một thách thức gần như vượt quá sức. Độc giả nào chẳng thích sự gay cấn, chẳng thích những xung đột tới số, thậm chí cả những tình huống ly kỳ kiểu Eugene Sue. Một trường ca về sự dung tục lúc nào cũng có nguy cơ rơi vào sự nhàm chán nhạt nhẽo và… dung tục.
Một người con gái khá đẹp lấy một người chồng thầy thuốc làng. Người đó chán cảnh sống tầm thường với chồng, muốn thoát ly trong những cuộc tình duyên “hàng ngoại”. Người thứ nhất là một thanh niên phố phủ, viết thư tình thỉnh thoảng lại rẩy nước lã “cho thêm phần huyết lệ”. Người thứ hai là một viên ký lục. Trong những lúc đầu gối tay ấp, người thiếu phụ lãng mạn năn nỉ với người yêu “Sao anh không làm tặng em một bài thơ”. Và cái anh tình nhân hay chữ kia nghĩ suy mãi mới… viết được một bài thơ tình chép trong một tập lịch nông nghiệp. Một ông cố đạo chăm lo về phần hồn của con chiên, khi người thiếu phụ đau khổ đến nguyện đường, băn khoăn vì những đêm không ngủ của mình, đã nói với con chiên lạc đang lầm đường về với Chúa “Hay con đau bao tử”…
Những truyện ấm ớ nhạt nhẽo đó có gì là đáng tiểu thuyết.
Flaubert đã xóa bao nhiêu câu văn tầm thường, bao nhiêu trang rơi vào sự biếm họa thô sơ khi viết “Bà Bovary”.
Bao nhiêu lần Flaubert thèm đến ray rứt được tả một đêm trăng Atala René, thậm chí cả Paul và Virginie. Ông phải cắn răng lại, như kẻ sau lễ ăn khem, thấy miếng sống miếng chín bày ra ngồn ngộn trước mặt và ở trong tầm với, mà cứ phải nuốt nước bọt… bước đi. Ôi! Chúa lòng lành…
Flaubert đã viết đi viết lại hàng chục lần chương Emma, tên người thiếu phụ, uống thuốc chuột để tự giải thoát khỏi những giấc mơ tiểu thuyết “nhà ga”, nhưng vẫn không thành. Lần nào ông cũng thấy mình không rơi vào sự lâm ly bi thống, thì lại rơi vào sự khô khan nhạt nhẽo. Viết đi viết lại nhiều quá đến mức có lần Flaubert cảm thấy chính ruột mình đau quặn như uống phải thuốc chuột. Và ông đã nôn thốc nôn tháo tưởng chết.
Hôm nay chương “Tự tử” đã viết xong. Cuốn tiểu thuyết coi như gần hoàn tất. Flaubert thấy cần phải tổ chức một tiệc mừng… Bà Bovary.
Tất cả những ngọn đèn trăm nến đã được bật sáng. Bàn rải khăn trắng muốt. Hoa tươi đặt trong một bình gốm quý đời Minh men xêlađông, chỉ được dùng vào những dịp đặc biệt. Flaubert trong bộ lễ phục xuân thu nhị kỳ vừa được chải lại, cổ thắt nơ đen trang trọng. Đúng tám giờ, sau khi chiếc nút sâm banh đã nổ giòn bắn lên trần nhà và chất rượu vàng óng như mật ong sủi bọt trong chiếc cốc phalê Bôhem trong suốt, Flaubert bắt đầu đọc…
Dưới những con chữ dung dị nhưng cao sản, giờ phút cuối cùng của người thiếu phụ hiển hiện sống động còn hơn trong một buổi đánh đồng thiếp. Và không một gợn sụt sùi bạc nhạc. Căn phòng như mờ dần… Trước mắt Flaubert là Charles người chồng khốn khổ, là Homais chủ hiệu tân dược, là Cha Bérusier, những con người không tốt không xấu, chỉ nhợt nhạt, thiếu chút tối thiểu thông minh và can đảm để có thể đạt tới nhân hậu…, là Emma Bovary đương hấp hối. Đến đoạn Emma kêu to:
“- Tôi khát… ôi tôi khát quá…
- Mình làm sao vậy? - Charles vừa nói vừa đưa cho vợ một cốc nước.
- Không sao cả… Mở cửa sổ ra… Tôi chết ngạt, chết ngạt… ”
Flaubert bỗng thấy chiếc nơ đen như một nút thòng lọng thít chặt cổ. Ông hổn hển nới cổ áo, giật tung chiếc nơ đen quăng xuống đất. Chiếc nơ đen bỗng bay lên lơ lửng như một con bướm ma khổng lồ. Ông vừa chạy, vừa ôm bụng nôn. Ông bị nhiễm độc thuốc chuột của Emma, hay chứng động kinh nằm ngủ đã từ lâu sau những ngày làm việc quá căng thẳng bỗng trỗi dậy.
Đêm khuya vẫn thấy đèn rực sáng, bà giúp việc đẩy cửa vào thấy Flaubert nằm co quắp trên sàn, bọt sùi hai bên mép. Bà vội hô hoán đưa ông vào nhà thương.
Báo Tin Paris hôm ấy ra sớm hơn thường lệ… Trên trang nhất có một hàng tít lớn in chữ Ơrốp đậm kéo dài ba cột - "Một cuộc hành lạc đắt giá".
“Nhà văn Flaubert dưới lốt cao đạo, thật ra là một con quỷ bạo dâm, tối qua y đã chiêu đãi một người đàn bà thuộc loại bán sử nữ tên là Bovary tại nhà riêng. Hai người đã chuốc rượu nhau cho đến mãi khuya, và Flaubert đã mặc nguyên lễ phục làm tình ngay trên bàn tiệc! Kẻ trụy lạc đã bị trúng gió chết ngất tại trận, phải đưa đi nhà thương cấp cứu. Còn người phụ nữ ma quỷ đã biến mất.
Xin xem bài tường thuật chi tiết của đặc phóng viên bản báo trong số ngày mai”.
Chú thích:
[1] Phụ nữ đài các sính văn chương rởm
[2] Người tình của Dante.
[3] Người tình của Baudelaire.