Hèn Đại Nhân

Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7. BỨC CỔ HỌA

❊ ❊ ❊

Trăng Ba Vì sao đổi chữ thiên di

Lê Đạt

Trên vách núi Vân Lĩnh gần chùa Tùng Sơn vùng Cam Túc có một bức cổ họa. Chẳng biết từ đâu bỗng phát ra tin đồn bức cổ họa có ẩn giấu sơ đồ một kho báu. Tin tức được loan đi như có cánh bay và lập tức lũ người khắp nơi chảy tới. 

Bức cổ họa vẽ một vị tướng cưỡi ngựa dưới một lá cờ đại dẫn đầu toàn quân truy kích một đám bại binh đang trốn chạy… bụi bốc mù trời và xác người ngổn ngang trên lối đi. 

Mặc dù những lời giảng giải kiên trì của nhà chùa, ai còn để tai lời hơn thiệt, dầu là vô tư, của kẻ tu hành khi có người đào được một nhúm tiền vàng dưới chân bức họa ngay những nhát cuốc đầu tiên. Nhúm tiền vàng tuy giá trị không bao nhiêu nhưng cũng đủ mồi say lòng người như một thứ rượu khai vị hảo hạng. Nhiều vàng đến mức vãi cả ra trên đường đi… thì hẳn là phải nhiều đến mức Thạch Sùng, Vương Khải chứ không chơi. Và những nhát cuốc thi nhau bổ xuống đất mẹ. Người thì giả thiết nên đào theo hướng đuôi cờ. Người thì bảo nên đào theo hướng đuôi ngựa. Người thì lần theo hướng đại đao. Người thì cho rằng không phải vô tình mà phần lớn xác chết đều gần như quay đầu về một phía. Thôi thì bốn phương trời mười phương Phật, thập phương đều khả dĩ cả. Óc tưởng tượng của con người vốn đã phong phú… được vàng rắc thính lại càng phong phú thêm. Người ta đến, người ta dựng lều, người ta ăn uống và lẽ tất nhiên cũng giải thoát cái chất phế thải ra đầy núi khiến mùi hoa rừng và hương trầm các chú tiểu đốt nhật dạ cũng không át nổi mùi bụng dạ trần gian. Xú khí theo gió thổi làm ô nhiễm vùng thôn ổ trong sạch xung quanh và xua đuổi lũ chim lành có thói quen thức giấc là hé mỏ uống khí hạo nhiên căng ngực hót chào tạo hóa. Tiếng mõ sớm chiều người tu hành không xua tan được niềm tục và chìm trong tiếng cuốc, tiếng choòng, tiếng xà beng, tiếng chửi thề. Lòng tế nhân độ thế của Phật hẳn phải bao la vô hạn để không bán xới đất này di tản như đám dân vong mệnh vào lúc đổi thế kỷ. 

Người ta đào suốt ngày đêm. Người ta đào cả trong giấc ngủ. Núi hốc hoác như bị đạn đại bác bắn cấp tập. Thảng hoặc người ta nhặt được một số mảnh gốm một thời đã xa xưa, ít đồng tiền han gỉ không còn nhận rõ thuộc triều đại nào, thậm chí ít mẩu xương không đủ bộ của cổ nhân giấc ngàn thu bị quấy rối bởi lòng tham của con cháu. Cái lòng tham nó như một ngọn lửa hỏa ngục bất diệt không sao dập tắt được. Một lớp người vừa chán nản thất vọng xuống núi, một lớp kế cận lại háo hức xông lên. Và lại đào, lại cuốc, lại hành hạ thiên nhiên một cách hăm hở hung hãn hơn. Chẳng biết ma quỷ có can dự gì vào đây không? Khi mọi người đã sắp tuyệt vọng, khi ngọn lửa tham sắp tàn lụi thì lại có kẻ đào được chút ít vàng vụn đủ sức nuôi canh bạc khát nước và thổi ngọn lửa dục vọng bùng cháy cuồng nhiệt. 

Nhưng tiệc mộng dài tới đâu cũng phải tàn… Và những phút tỉnh mộng bao giờ cũng muộn mằn của loài người thật não nề. Không tính đến những kẻ bạc phước nằm lại nơi hoang địa, sống đời vất vưởng những oan hồn, thấp thỏm ngày rằm tháng bảy chờ tin xá tội hay bữa cháo lá đa đặc sản. 

Nơi cửa thiền vừa trở lại thanh vắng vì giấc mộng vàng phá sản, hoa chưa kịp nở lại, cỏ chưa kịp xanh, chim chưa kịp về, núi rừng chưa kịp hồi phục thì lại diễn ra một cảnh tấp nập khác. Thiên hạ được thông báo chính thức rằng bất cứ ai xứng đáng với tác giả bức cổ họa sẽ được thưởng một chiếc bút thần bằng ngọc quý độc nhất vô nhị. 

Thay bằng những kẻ tục khách, lần này nẩy nòi ra toàn là những bậc tao nhân. Và cái giới tao nhân này cũng nhiều đáo để. 

Bức cổ họa thật đẹp. Từ mặt vị tướng quắc thước đường bệ như nét mặt Quan Vân Trường, từ dáng con ngựa dù kẻ thất phu chưa từng biết Biện Nhạc là ai cũng phải nhận ra ngay là giống Kỳ Ký loại xịn. Không kể những nhân vật ở tuyến một diện mạo sống động không ai giống ai, đến cả những xác chết còng queo, thường do hạng diễn viên chạy hiệu sắm, cũng mỗi người chết theo một kiểu cách. Bề trái là ngọn núi cao sừng sững như vách trời. Trước mặt là con sông lớn cuộn khúc… Người vẽ như một vị tướng giỏi đã khéo chọn nơi tuyệt địa để tăng cường chất bi kịch cho bức họa. Trong gió xa như còn nghe tiếng binh đao chạm nhau và tiếng hò hét giết người sảng khoái của đoàn quân chiến thắng. 

Các bậc tao nhân khề khà uống rượu bàn tán không ngớt về bức họa. Và dù tranh mình vợ người, một số không ít cũng biết phận giơ tay chào cổ họa lặng lẽ xuống núi…. Họ vừa đi vừa xuýt xoa sung sướng vì vận hội được thưởng thức một kỳ trân của nghệ thuật loài người, đồng thời không khỏi ngậm ngùi cho tài năng bé mọn của bản thân. Nhưng một lần hội kiến một tuyệt tác cũng như một lần bất chợt giáp mặt thượng đế và hương thơm cuộc hạnh ngộ sẽ suốt đời nâng cấp tâm hồn ta trên lầy lội lộ trình nhân gian. Thế chẳng đã là diễm phúc lắm sao! Số ở lại chấp nhận thách thức của cổ nhân cũng không hiếm. Cuộc đi tìm kho báu lần này không kém phần gay go quyết liệt so với cuộc hành trình của những kẻ đi tìm vàng lần trước nhưng nó lặng lẽ hơn và có văn hóa hơn. 

Không nên quá khe khắt với thái độ ngông nghênh của đám cuồng sĩ không ngại so tài với cổ nhân, khao khát vươn lên những đỉnh cao nhiều khi quá mức sở trường. Ai biết được những bất ngờ của sân cỏ. Người nào vẽ xong tự lượng tác phẩm không đến nỗi quá sút kém đều được mời vào nơi thờ bút ngọc. Ôi cây bút thần sáng long lanh trong bóng tối của hang động! Có lẽ ngôi sao dẫn đường các vua ngày xưa cũng sáng đến vậy là cùng. Thân ngọc trong suốt như lòng của bậc thánh nhân vừa không ngừng biến hóa những hòa sắc tuyệt vời kỳ hoa dị thảo một thiên đường bị thất lạc. 

Cây bút thần quý đến đâu thì cũng chưa ai đánh giá tường tận hết được vì một lý do đơn giản: chưa ai sử dụng nó ngoài tác giả bức cổ họa. 

Người ta phê phán, người ta bàn luận rôm rả. Số nhà hội họa được đông đảo dư luận hoan nghênh nhiều nhất ưu tiên vào trước. Phút long trọng sử sách ngàn đời có thể còn ghi lại đã tới. Nhưng thật lạ lùng, cây bút thần trông bé nhỏ như vậy mà bỗng nặng một cách lạ. Người thì mím môi trợn mắt, người thì nghiến răng kèn kẹt, người thì hét lớn như một Hạng Võ cử đỉnh gân bắp nổi cuồn cuộn, mặt đỏ bừng, mồ hôi ướt đầm mà cây bút vẫn lạnh lùng không nhúc nhích. Cây bút thần đã trở thành một thách thức lớn với giới hội họa đương đại. 

Người thì công khai, người thì lén trộm, làng vẽ hầu như không ai không một lần đến thử thời vận. Mặc dù nó xa vời như một giải siêu độc đắc. 

Thời đó có một họa sư danh tiếng lẫy lừng át cả cổ nhân. Ông có một cái tên cúng cơm gần như tiền định là Vương Nhất Họa. Hình như đấng sinh thành ra ông, do một linh cảm hay một sự run rủi nào đó của số phận vốn thích những miếng sân khấu ly kỳ, đã ghi vào sổ khai sinh của đứa hài nhi còn đỏ hỏn trong tay mẹ tương lai chói ngời của nó. Đó là khát khao, là gửi gắm của ông cũng nên, vì ông cũng là một họa sĩ nhưng miệt mài vất vả lắm cũng không vượt lên khỏi mức trung bình. Và trung bình âm trong nghệ thuật thì cũng cầm bằng như là bất tài. 

Vương Nhất Họa nổi danh đến huyền thoại. Người ta đồn rằng khi mới oe oe chào đời, lòng bàn tay phải của ông đã có một vệt đỏ như cây bút vẽ. Rằng hồi còn ẵm ngửa đang bú, cậu bé đã lấy ngón tay trỏ dúng vào sữa vẽ lên vú mẹ những đường lượn kỳ lạ. Năm tuổi đã nổi tiếng thần đồng vẽ. Với bàn tay tài hoa và bút pháp tỉ mỉ, ông thể hiện ngoại giới giống như anh em sinh đôi từ chân tơ kẽ tóc. Người ta loan truyền mãi giai thoại về vị hưu quan, bạn của ông thân sinh ra Vương Nhất Họa, một hôm ngồi uống rượu ngà ngà say, đã lấy tay chụp bắt con chim sẻ trên bức vẽ của bậc thần đồng. Danh tiếng ông nổi như cồn, và bất cứ một nhân vật sang trọng nào nhà cũng phải treo ít nhất một bức tranh Vương Nhất Họa, nếu không muốn mang tiếng là kẻ tục tử.

Trường phái đặc tả của ông đã đánh bạt các trường phái tiên triều, kể cả trường phái hội họa lẫy lừng đời Tống. Ông nổi tiếng đến mức tranh ông quý như vàng, vẽ hết công suất mà vẫn không đủ bán. Nhiều nhà đại phú thay bằng tích trữ loại kim quý đã bỏ tiền ra mua tranh ông, vừa được tiếng lại vừa được miếng. Vì vàng còn có thể hạ chứ tranh Vương Nhất Họa thì hối suất chỉ có mỗi ngày mỗi lên… như diều.

Những kẻ xấu miệng nói rằng do quá nhiều khách hàng đặt tranh, sản xuất không xuể, ông đành phải chia cho học trò vẽ và ông chỉ có việc ký tên vào đó lĩnh tiền. Mặc những lời thị phi, tranh ông vẫn bán chạy như tôm tươi.

Chuyện cây bút thần chùa Tùng Sơn trên núi Vân Lĩnh như một ác mộng đến quấy đảo cuộc đời an nhàn và phú quý của bậc danh họa. Sự thành công lâu dài đã mài mòn tính phiêu lưu, nó vốn là đặc tính hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính. Giờ đây Vương Nhất Họa không chỉ đơn thuần là một nghệ sĩ, ông còn là người đứng đầu đầy danh vọng của một trường phái nghệ thuật lẫy lừng.

Không có bút thần thì ông cũng đã danh tiếng chán rồi… Nhưng bức cổ họa cứ ám ảnh giấc ngủ như một dằn vặt lớn, nó làm trái tim nghệ sĩ không khỏi cấp tập theo tiếng trống khắc khoải vào lúc canh tàn. Liệu ông có dám chấp nhận thách thức không?... Và giấc ngủ bị băm nát với đêm bỗng dài một cách lạ.

Ông đã phái mấy học trò yêu lên Vân Lĩnh thử sức. Chúng đều thất bại nhưng cam đoan rằng bút lực trong bức cổ họa còn thua xa bút lực thầy. Nhưng… chấp nhận thách thức dù sao cũng là một chọn lựa hết sức mạo hiểm với cương vị của ông. Đoạt được cây bút thần thì rõ ràng là tiếng tăm có tăng tiến thêm nhưng dẫu không có nó ông cũng vẫn là đương kim vô địch trong làng họa. Cái ngai vàng nghệ thuật của ông bề thế vững chắc lắm… Chưa chắc đã có ai lay chuyển nổi. Và hẳn là ông có thể an nhàn hưởng lộc đến hết đời.

Dấn thân vào cuộc thách đố… liệu ông có cầm chắc phần thắng không? Lần đầu tiên kết quả trở nên bất định.

Ông rất có thể lấy cớ đó là trò hiếu thắng của lũ trẻ. Ông đã qua cái tuổi hăng máu vịt lâu rồi. Và sẽ chẳng có ai trách cứ ông về việc này.

Có. Có một người và ý kiến của anh ta lại rất nặng ký đối với khổ chủ. Đó chẳng phải ai xa lạ, chính là con người nghệ sĩ trong bản thân danh sư họ Vương. Và vị chưởng môn ở địa vị thượng đỉnh lâu năm, lòng tưởng đã nguội lạnh bỗng lại nổi cơn gió bụi của thời hành hiệp gươm đàn nửa gánh.

Đó là điểm khác biệt căn bản giữa giống nghệ sĩ và giống quan lại vốn lấy sự yên thân phì gia làm bận tâm sinh tử. Những giọt hồ đồng lại rơi trên giấc ngủ khắc khoải của Vương như trên một ngôi nhà dột nóc vào một đêm trở mùa. Và người vợ trẻ tuyệt thế của Vương bỗng thấy cái sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của mình bất lực, không đánh chìm nổi con thuyền khát vọng của người nghệ sĩ sóng đánh tứ bề vẫn bồng bềnh trên biển khổ, tìm một bến bờ điên dại.

Bến trong lòng người đẹp và vinh quang chưa đủ sao mà còn nhổ neo đi tìm bến nào nữa trong vô định?

Nhiều lần nằm trong vòng tay ngà ngọc của giai nhân, nghe những giọt nước mắt có thể làm mềm được cương thạch thánh thót rơi trên những cánh mộng mỏng manh, ru mình vào cõi nhãn tiền đầy cám dỗ, Vương đã yên giấc tốt như một đứa nhỏ, để đến lúc thức tỉnh lại khổ sở hơn, dằn vặt hơn.

Và Vương quyết định lên đường, hồi hộp, lo lắng, hạnh phúc như chưa từng bao giờ như vậy.

Mặc dù thời đó chưa có những phương tiện thông tin đại chúng hiện đại như bây giờ, nhưng tin Vương Nhất Họa lên núi Vân Lĩnh chỉ trong khoảng khắc được truyền đi khắp nơi và làm giới hội họa háo hức, chẳng kém gì giới hâm mộ quyền Anh thế kỷ XX trước tin Tyson tái xuất giang hồ.

Giới hội họa và giới ái họa khắp nước lũ lượt đổ tới chùa Tùng Sơn như tới nơi thánh địa. Người ta sẽ ân hận đến hết đời nếu không được chứng kiến sự kiện nghìn năm có một này.

Hoàng đế bận việc đối ngoại, ngài đang tiếp một phái bộ Y Pha Nho, đã cử một đặc phái viên, Chủ tịch Viện Hàn lâm Triều đình, tới dự.

Không có trọng tài nổi còi khai mạc trận đấu nhưng có tiếng trống chiêng náo nhiệt của đoàn quân nhạc.

Kể cũng lạ... Suốt đêm trước Vương trằn trọc không chợp mắt. Không phải cái mất ngủ của người già nó chập chờn, mệt mỏi, khó chịu mà cái mất ngủ đầy háo hức, kích thích, hồi hộp của tuổi trẻ. Lúc này Vương bỗng thấy bình thản một cách lạ, lòng trong sáng tuyệt vời như một buổi sáng mùa thu đại dương, khi cơn bão đã xa và người dân chài phồng ngực đón gió giương buồm ra khơi.

Ông bắt đầu khai bút. Đường bút già dặn và tài hoa, thâm trầm và bay bướm vạch những nét dứt khoát trên mặt giấy ngà. Khi thì múa lượn khi thì nghiêm cẩn, khi thì tung hoành khi thì khoan thai... Cứ nom đường tay của ông trong vũ khúc tuyệt vời cũng đã đủ là một bữa tiệc thịnh soạn của thị giác.

Người vật hiển hiện trên giấy như trong truyện Nghìn lẻ một đêm. Thần Đèn... Thần Đèn cho ta một viên tướng. Thần Đèn… Thần Đèn cho ta một con ngựa chiến. Và Thần Đèn ngoan ngoãn theo ngọn bút Alađanh của nhà danh họa tắp lự đưa vạn vật đến tập kết trên mặt giấy. Người ta nói nghệ sĩ là một tiểu tạo hóa kể cũng không lấy gì làm ngoa cho lắm.

Đám khán giả, phần lớn đều là những họa sĩ có hạng, nín thở chiêm ngưỡng cuộc đọ tài có một không hai mà hậu thế sẽ còn nhắc lại như một kỳ tích. Bức cổ họa từ vách núi bước xuống theo phép màu của họ Vương. Dưới bề ngoài ung dung, nhưng cứ nhìn vầng trán nhíu lại và hai động mạch nổi lên đập khẽ bên thái dương, ta có thể ước đoán tinh thần nhà danh họa căng thẳng tới mức nào. Bàn tay vẫn đi những đường lượn chính xác và mạnh mẽ không một dem nhỏ dung sai.

Đến đường bút cuối cùng thì sự thán phục của mọi người, từ lâu bị dồn nén, như con nước vỡ bờ réo lên ầm ầm lay động cả móng núi. Ai cũng công nhận bức tranh của Vương danh sư giống bức cổ họa như lột, có phần lại còn tỉ mỉ và chi tiết hơn. Đặc phái viên của Hoàng đế rót một chén rượu ngự thưởng nhà nghệ sĩ.

Tất cả nhất trí cao tác phẩm nhà danh sư thật xứng đáng với bức cổ họa.

Chỉ có một ý kiến phản đối của một họa sĩ trẻ. Nhưng nom anh ta lôi thôi, nhếch nhác như một tên bụi đời. Hơn nữa trước kia anh ta từng đã là học trò của Vương họa sư.

- Hắn có giỏi thì đã được Vương họa sư dạy dỗ nên người.

- Thằng khốn kiếp, đã không biết thân phận im đi cho rồi, lại còn mở miệng phạm thượng lỗi đạo sư môn.

Có người còn kiến nghị quan Hàn lâm sai lính nọc anh ta lột quần đét mấy chục roi cho tiệt thói bất mục.

Nhưng là chỗ thanh lịch cả, giở trò vũ phu ấy ra e không tiện. Mọi người chỉ cần coi như cái anh chàng bụi đời kia không tồn tại, thế là vui vẻ cả. Ai lại om sòm vì một thằng bé trót bĩnh ra quần trong một cuộc họp mặt của người lớn. Và người ta tung hô, người ta reo hò, người ta công kênh Vương Nhất Họa vào nơi thờ bút thần.

Giây phút thật trọng đại. Vương Nhất Họa mặt phương phi, dáng đường bệ như một vị trưởng tế bước khoan thai đến bệ thờ. Ông chắp tay cúi đầu vái lạy thần linh và giữa khói hương trầm nghi ngút, ông đưa tay phải nắm lấy cây bút ngọc. Ông nín hơi như người lấy sức. Một nét bối rối thoáng hiện trên mặt và ông đưa thêm một tay trái, hai tay tận lực nâng cây bút thần lên giữa tiếng hoan hô bùng nổ như muốn phá vỡ vách động. Ông thật xứng đáng được báu vật. Hai tay ông vẫn kính cẩn nâng vật thiêng. Bỗng người ta thấy ông hơi rùng mình như bị điện giật. Ông phải nghiến răng nắm chặt để cây bút khỏi rơi xuống đất.

Kể ông cứ lĩnh giải về cũng chẳng ai dị nghị. Ông đã nâng được cây bút, hơn nữa hầu hết cử tọa đều đánh giá tác phẩm của ông ngang tầm cổ nhân. Nhưng không ai vẽ mà lại nắm bút bằng hai tay. Hoặc danh dự của một vị chưởng môn không cho phép ông làm một việc gian manh như một kẻ tiện dân. Hoặc bằng cái rùng mình kia, đấng bề trên đã nhắc khéo ông rằng sự dối trá của người trần không thể qua mắt được thần thánh. Mặt ông đỏ bừng, ông định lui bước nhưng không biết nghĩ thế nào, ông lại đặt cây bút ngọc xuống vái ba vái rồi kính cẩn bước ra, nhường lại cho lớp trẻ.

Thiên hạ hết lời ca ngợi tài năng vô song, đức tính khiêm nhường vô tư của bậc đệ nhất quân tử họa.

Và tác phẩm nhà đại nghệ sĩ được treo làm bạn với bức tranh của cổ nhân.

HẬU TỪ

Khi tất cả đã lục tục xuống núi trả lại thanh vắng cho tự nhiên, người ta thấy nhà họa sĩ bụi đời, người duy nhất chê Vương Nhất Họa, lặng lẽ đến ngồi trước bức cổ họa. Và anh nhìn... Cả người như tập trung hết vào đôi mắt, cái tập trung của một guru bậc sáu Yoga hay của một đại thiền sư sắp vào kỳ ngộ. Cả người anh, cả ngoại giới đều thôi tồn tại. Chỉ có đôi mắt phút một long lanh thêm, như phát ra những ánh sáng cực biếc soi thấu được lòng vật chất. Bỗng anh bật lên một chuỗi cười sang sảng như tiếng chuông chùa ngày Phật đản.

- Tiên sinh cười gì mà sảng khoái vậy?

Anh giật mình quay lại thì thấy sư cụ chùa Tùng Sơn đã đứng đó từ bao giờ.

- Bạch cụ, tôi đã tìm ra rồi...

Vị sư già chắp tay lên ngực mô phật thành kính chờ anh nói tiếp.

- Bạch cụ, bức cổ họa phía bên kia vách núi ở đầu nguồn con sông có một ông già đang lặng lẽ buông câu... họa tiết vô hình này đem lại cho bức cổ họa chiều tự tại sâu thẳm của vô cùng. Vương Nhất Họa không thể sánh được.

Và anh đứng dậy chắp tay vái nhà sư già xuống núi. Vị sư già bỗng nhanh nhẹn nắm tay người trẻ tuổi:

- Xin tiên sinh nán lại ít phút và quá bộ vào động bút.

Anh cười lễ phép:

- Vãn sinh xét mình bất cập.

Nhưng trước lời khẩn khoản của nhà tu hành, anh đành theo bước sư cụ vào nơi tôn kính. Để vừa lòng vị thượng tọa, anh đưa tay thử nhấc bút. Chiếc bút ngọc bỗng nhẹ và vừa tay như dành riêng cho anh.

Người trẻ tuổi ấy chính là Nê Thẩm. Không biết do phép lạ của bút thần, do những lời mật truyền trong cuốn bí kíp nhà sư già trao lại hay do công phu tu luyện thượng thặng, Nê Thẩm lừng lững nổi lên vòm trời hội họa như một đỉnh núi đồ sộ và đơn độc, không có trường phái và không có môn đệ.

Nhận xét về ông, Paul Richman, nhà mỹ học nổi tiếng người Mỹ thế kỷ XX, viết như sau:

"Mô phỏng các bậc thầy đời Tống không khó nhưng mô phỏng các bậc thầy đời Nguyên thật khó. Mô phỏng các bậc thầy đời Nguyên là việc khả thể nhưng không có cách nào mô phỏng Nê Thẩm, người độc nhất có biệt tài biểu hiện cái chân không sống động".

Mặc dù tôi không ưa Thánh Thán vì phong cách hoa mỹ hơi tuồng của ông, nhưng bất chấp tôi, hình như kết luận câu chuyện này nhất thiết yêu cầu phải mời ông có mặt.

Thánh Thán sau khi xem tranh Nê Thẩm, rót hai chén rượu, bỏ thêm trầm vào lò rồi cúi đầu phán:

"Thán tôi đã xem không ít hơn vạn bức tranh người xưa lẫn người nay, chưa từng thấy ai như tiên sinh, người hiếm hoi vẽ được cả phía bên kia núi".

Nói đoạn, Thán chắp tay vái ba vái, uống cạn chén rượu, còn một chén đổ xuống phía bên kia bức tranh.

Sưu tầm và bổ sung: Huy Tran
Nguồn: NXB Tuổi Xanh 2001
Được bạn: Thanh Vân đưa lên
vào ngày: 5 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »