Con Đường Cách Mạng

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 2

❊ ❊ ❊

Frank Wheeler đang đi ngược dòng người. Anh chậm rãi tiến về phía hậu trường, vừa nghiêng người tránh những người đi ngược chiều, vừa liên tục nói lời xin lỗi. Anh hy vọng vẻ ngoài của mình trông vẫn giữ được sự tôn nghiêm. Miệng anh lẩm bẩm "Xin lỗi... cho qua...", thỉnh thoảng lại gật đầu mỉm cười với vài gương mặt quen thuộc lướt qua. Tay anh đút trong túi, bởi anh không muốn những người xung quanh chú ý đến những vết mút và dấu cắn trên các đốt ngón tay mình.

Anh là một thanh niên gọn gàng, tháo vát, chỉ còn vài ngày nữa là tròn ba mươi tuổi. Anh để kiểu tóc đen cắt tỉa rất chỉn chu, ngoại hình khôi ngô nhưng không thuộc kiểu quá bắt mắt. Các nhiếp ảnh gia quảng cáo sẽ chọn anh đóng vai kiểu khách hàng có gu thẩm mỹ: những người biết chọn lựa các món đồ tinh xảo nhưng giá cả lại không quá đắt đỏ. (Câu quảng cáo tương ứng có thể là: Tại sao không chi tiêu ít đi một chút nhỉ?) Mặc dù đường nét gương mặt không có gì đặc trưng, nhưng khuôn mặt anh lại biến hóa khôn lường một cách kỳ lạ. Mỗi khi anh thay đổi biểu cảm trong chớp mắt, bạn sẽ thấy một nét tính cách hoàn toàn khác biệt. Khi mỉm cười, anh trông thật thấu tình đạt lý, hiểu rõ rằng một màn trình diễn nghiệp dư thất bại chẳng phải chuyện gì to tát, và chắc chắn anh biết cách dùng những lời lẽ phù hợp để an ủi người vợ đang ở hậu trường. Nhưng giữa những nụ cười ấy, khi anh đang cố gắng chen lấn tìm một lối đi giữa đám đông, bạn sẽ thấy ánh mắt anh bối rối, lạc lõng, như thể chính anh mới là người cần được an ủi.

Anh từng có những ảo tưởng tươi đẹp về tối nay. Khi anh bị giam chân trong thành phố với công việc mà anh mô tả là "nhàm chán nhất mà bạn có thể tưởng tượng", những ảo tưởng ấy đã khích lệ anh: Anh sẽ về nhà sớm, đùa giỡn với lũ trẻ, bế bổng chúng lên cao, sau đó nhấp một ly cocktail, họ sẽ ăn tối sớm hơn thường lệ, vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ. Anh sẽ lái xe đưa cô đến địa điểm biểu diễn, dưới sự vuốt ve từ bàn tay anh, đùi vợ anh trở nên ấm áp và săn chắc. Cô sẽ nói: "Anh làm em bớt căng thẳng hơn rồi, Frank!" Anh sẽ chăm chú, đầy tự hào xem hết buổi diễn, rồi lúc hạ màn sẽ hòa vào tiếng vỗ tay và reo hò như sấm của khán giả. Anh sẽ chen qua đám đông náo nhiệt ở hậu trường, mặt đỏ bừng, quần áo hơi xộc xệch. Anh sẽ nhận được nụ hôn đầy xúc động đầu tiên của vợ, cô sẽ rơi nước mắt và nói: "Thực sự diễn rất tốt sao? Anh yêu, thật không?" Sau đó Shep và Milly sẽ cùng họ đi uống một ly với vẻ ngưỡng mộ, họ hào hứng bàn luận về thành công tối nay, dưới gầm bàn anh và vợ nắm chặt tay nhau. Anh không bao giờ ngờ rằng thực tế nặng nề lại xuất hiện ngay trước mắt mình như thế này. Anh từng nghĩ tối nay vợ mình sẽ xuất hiện với hình ảnh rạng rỡ, một hình ảnh đầy sức hút mà đã lâu rồi anh không nhìn thấy, mỗi ánh mắt và cử chỉ của cô sẽ khiến cổ họng anh tràn ngập khát khao. ("Anh không muốn có được tình yêu của em sao?") Nhưng người trước mắt anh lại ủ rũ, đau khổ... Cô vẫn là cô. Mặc dù mỗi ngày anh đều cố gắng xóa nhòa hình ảnh này, nhưng anh hiểu cô cũng đau đớn và thấu đáo như hiểu chính bản thân mình. Gương mặt cô tiều tụy, đôi mắt đỏ hoe ánh lên vẻ oán trách, nụ cười gượng gạo khi hạ màn, tất cả đều quá đỗi quen thuộc, quá đỗi đời thường, giống như đôi chân đau nhức, chiếc quần lót ẩm ướt và mùi chua nồng trên cơ thể anh.

Anh dừng lại ở cửa hậu trường, rút bàn tay hơi đỏ của mình ra kiểm tra, có chút hy vọng tìm thấy vết thương rách da trên đó. Sau đó anh đứng thẳng người, chỉnh lại áo khoác rồi mới bước vào trong, lên lầu đi đến một căn phòng đầy bụi bặm. Bóng đèn chiếu thẳng xuống, để lại những cái bóng đổ dài. Các diễn viên của đoàn kịch đang ở đây, lớp trang điểm trên mặt vẫn còn bóng loáng, họ tụ tập thành từng nhóm nhỏ với người thân bạn bè đến thăm, trò chuyện cùng nhau, sự căng thẳng trong giọng nói vẫn chưa tan hết. Frank không tìm thấy April.

"Không, ý tôi là thật đấy," một giọng nói vang lên trong đám đông, "Rốt cuộc là cậu nghe thấy tôi nói, hay là chẳng nghe thấy gì cả?" Tiếp đó một người khác tiếp lời: "Ừm, kệ đi, dù sao thì ít nhất chúng ta cũng đã có một khoảng thời gian vui vẻ." Đạo diễn đứng giữa vài người bạn New York lác đác, rít mạnh điếu thuốc trên tay, đồng thời không ngừng lắc đầu. Shep Campbell mồ hôi nhễ nhại, tay vẫn cầm khẩu súng đạo cụ. Nhưng anh ta đã khôi phục lại vẻ tự nhiên. Anh ta đứng bên cạnh dây kéo màn, một tay ôm lấy người vợ nhỏ nhắn và lôi thôi của mình. Họ đang thể hiện cho mọi người thấy, họ đã quyết định bỏ qua mọi chuyện tối nay bằng một nụ cười.

"Frank." Milly Campbell vừa vẫy tay vừa nhón chân, hai tay đặt bên miệng gọi Frank. Thực tế đám đông ở đây không quá dày đặc, âm thanh cũng không quá ồn ào.

"Frank, lát nữa chúng ta gặp nhau với April được không? Cùng đi uống chút gì đó nhé?"

"Được chứ!" Frank đáp lại, "Đợi chúng tôi vài phút." Anh nhìn thấy Shep giơ khẩu súng đạo cụ lên một cách khoa trương, liền hiểu ý gật đầu nháy mắt với Shep.

Ở góc phòng, Frank thấy một diễn viên đóng vai tên cướp đang nói chuyện với một nữ diễn viên có thân hình đầy đặn. Chính cô tiểu thư này đã gây ra sự gián đoạn ba mươi giây trong màn một vì cô nhầm thời gian lên sân khấu. Có thể thấy cô vừa mới khóc xong, nhưng giờ tâm trạng đã bình ổn, cô nói: "Trời ơi! Lúc đó tôi chỉ muốn giết chết chính mình!" Diễn viên đóng vai tên cướp vừa lau vết bẩn nơi khóe miệng vừa nói: "Ý tôi là dù thế nào đi nữa, ít nhất chúng ta cũng đã rất vui, cô hiểu ý tôi chứ? Trong cái nghề này, đó mới là điều quan trọng nhất."

"Xin lỗi, cho qua chút nhé." Frank chen qua hai người này, đi đến cửa phòng hóa trang mà vợ anh và vài nữ diễn viên khác dùng chung. Anh gõ nhẹ cửa, chờ đợi cho đến khi nghĩ rằng mình đã nghe thấy cô nói "Vào đi", mới cẩn thận đẩy cửa, nhìn vào bên trong.

Trong phòng chỉ có một mình cô. Cô ngồi ngay ngắn trước gương, đang tẩy lớp trang điểm trên mặt. Đôi mắt cô vẫn đỏ hoe và không ngừng chớp, nhưng cô vẫn gửi đến anh một nụ cười có phần giống với nụ cười lúc hạ màn trên sân khấu vừa rồi, rồi mới quay mặt lại phía gương. "Chào anh," cô nói, "Anh chuẩn bị đi chưa?"

Frank đóng cửa lại, đi về phía vợ. Khóe miệng anh cố gắng nhếch lên cao nhất có thể, hy vọng như vậy trông sẽ tràn đầy yêu thương, hài hước và cảm thông. Trong lòng anh tính toán sẽ cúi người hôn vợ và nói với cô: "Nghe này, em diễn thật sự rất xuất sắc." Nhưng anh nhận thấy vai của vợ gần như không thể nhận ra đã né tránh một chút, cho thấy cô hiện giờ không muốn bị đụng chạm. Một lúc sau anh không biết phải đặt đôi tay mình vào đâu. Câu "Em diễn thật sự rất xuất sắc" đã chuẩn bị sẵn xem ra không phải là câu nên nói. Câu này quá tự cho mình là đúng, hoặc ít nhất là ngây thơ, quá đa cảm và quá nghiêm túc.

Vì vậy anh tạm thời đổi giọng: "À, xem ra buổi biểu diễn không thành công như mong đợi nhỉ?" Anh thản nhiên kẹp điếu thuốc lên môi, rồi dùng bật lửa Zippo châm lửa.

"Ừm, em nghĩ là vậy," cô khẽ đáp, "Em xong ngay đây."

"Không sao đâu, em cứ từ từ, không cần vội."

Anh đút hai tay trở lại túi, cúi đầu nhìn đôi chân mình, cử động các ngón chân hơi đau nhức. "Em diễn thật sự rất xuất sắc", có phải anh nên nói câu này không? Bây giờ xem ra, nói gì cũng hơn câu anh vừa thốt ra. Tuy nhiên, thôi thì lát nữa hãy nghĩ xem nên nói gì hay hơn, hiện tại điều duy nhất anh có thể làm là đứng đó, nghĩ về ly Bourbon gấp đôi mà anh sẽ đi uống cùng vợ chồng nhà Campbell trên đường về nhà. Anh nhìn mình trong gương, vô thức siết chặt cằm, và nghiêng mặt sang một bên để đường nét khuôn mặt trông gầy và mạnh mẽ hơn. Từ thời thơ ấu anh đã thích tạo dáng gương mặt này trước gương, nhưng chưa có tấm ảnh nào bắt trọn được thần thái đó... Anh bỗng sực tỉnh, phát hiện ánh mắt của April đang soi xét anh trong gương. Một thoáng không tự nhiên. Cô vội cúi đầu nhìn hàng cúc giữa áo khoác của anh.

"Nghe này," cô lên tiếng, "Anh có thể giúp em một việc không? Chuyện là thế này..." Cô như thể phải dùng hết sức lực của cơ bắp vùng lưng thì giọng nói mới không run rẩy, "Em biết Milly và Shep muốn chúng ta cùng đi uống chút gì đó, anh có thể nói với họ là chúng ta không đi được không? Vì vấn đề của người trông trẻ, hoặc dùng lý do gì khác cũng được."

Anh bước tới vài bước, rồi đứng thẳng người, vai hướng về phía trước, giống như một luật sư đang suy nghĩ xem nên tranh tụng thế nào: "Ừm, vấn đề là anh đã nói chúng ta sẽ đi. Anh vừa gặp họ ở ngoài, anh đã đồng ý rồi."

"Ồ, vậy anh có thể ra ngoài một lần nữa, rồi bảo với họ là anh nhầm không. Em nghĩ chuyện này không khó lắm đâu."

"Chúng ta đừng như vậy có được không? Anh nghĩ, cùng đi uống chút gì đó có lẽ sẽ rất thú vị. Hơn nữa nếu chúng ta nuốt lời sẽ rất thất lễ, em không thấy vậy sao?"

"Anh không muốn đi nói với họ." Cô nhắm mắt lại, "Được thôi, em tự đi, cảm ơn anh." Gương mặt mộc trong gương chỉ bôi kem dưỡng da, bóng loáng, trông như đã bốn mươi tuổi và đang phải chịu đựng sự dày vò của bệnh tật.

"Đợi đã," anh nói, "Làm ơn hãy thả lỏng đi. Anh không có ý đó. Ý anh là, họ sẽ cảm thấy như vậy là rất kiêu ngạo. Họ chắc chắn sẽ nghĩ thế, anh không thể ngăn họ nghĩ như vậy được."

"Được thôi, anh đi cùng họ đi, để chìa khóa xe lại cho em."

"Trời ơi, em có thể đừng nói với anh về chìa khóa xe nữa được không, tại sao em lúc nào cũng phải như thế..."

"Frank," cô vẫn không mở mắt, "Em sẽ không ra ngoài cùng họ đâu. Em cảm thấy không được khỏe, và em..."

"Được rồi," anh bất lực nhượng bộ, đôi tay căng cứng khẽ run rẩy, giống như đang làm điệu bộ với người khác rằng con cá nhỏ dài bao nhiêu. "Được được được, xin lỗi, là lỗi của anh. Anh đi nói với họ, anh sẽ quay lại ngay, xin lỗi em."

Sàn nhà dưới chân dường như đang trôi đi, anh cảm thấy như mình đang đi trên boong tàu. Trên sân khấu vẫn còn vài người. Một trong số đó đang cầm máy ảnh nhỏ chụp hình ("Đừng cử động, cứ như vậy đi."). Cô gái đầy đặn kia lại đang khóc lóc ỉ ôi, diễn viên đóng vai cha của Gabrielle đang an ủi cô: Cứ coi như tích lũy kinh nghiệm đi.

"Hai người chuẩn bị xong chưa?" Shep Campbell hỏi.

"À," Frank có chút lúng túng, "Thật ngại quá, chúng tôi không đi được. April đã hứa với người trông trẻ là hôm nay chúng tôi sẽ về sớm, các cậu thấy đấy, chúng tôi thực sự..."

Vợ chồng nhà Campbell tỏ ra vừa thất vọng vừa bị tổn thương. Milly khẽ cắn môi dưới: "Ừm, mình nghĩ chắc là April cảm thấy khó chịu về chuyện tối nay đúng không? Tội nghiệp cô ấy."

"Không không, cô ấy không sao," Frank nói, "Thật đấy, không phải vì chuyện đó đâu. Thực ra là vì chúng tôi đã hứa với người trông trẻ rồi, cậu hiểu mà."

Trong tình bạn kéo dài hai năm nay, đây là lần đầu tiên Frank nói dối họ. Khi mọi người ấp úng mỉm cười chúc nhau ngủ ngon, ánh mắt đều nhìn xuống đất; những sự che đậy này chẳng giúp ích được gì.

Khi anh quay lại phòng hóa trang, cô đã chuẩn bị một gương mặt hòa nhã để đối mặt với các thành viên trong đoàn kịch có thể gặp trên đường. Nhưng cuối cùng họ vẫn quyết định tránh mặt. Cô dẫn anh rời đi từ một cửa hông. Ánh trăng chiếu trên nền đá cẩm thạch, chỗ sáng chỗ tối, họ đi qua khoảng sân trống năm mươi thước, đi qua hành lang vắng lặng, không nói chuyện, không chạm vào nhau.

Mùi của trường học lan tỏa trong bóng tối. Ở đó có những hồi ức về bút chì, táo và băng dính, Frank dâng lên một nỗi đau hoài niệm. Anh trở lại năm mười bốn tuổi, ở Chester bang Pennsylvania, à không, ở Edgewood bang New Jersey. Thời đó anh dùng toàn bộ thời gian rảnh để lên kế hoạch đi tàu hỏa đến bờ Tây. Anh đã vạch ra vài lộ trình dự phòng trên bản đồ đường sắt. Anh còn diễn tập trong lòng xem làm thế nào để đối phó với cảnh đám đông người lang thang (cố gắng giải quyết vấn đề một cách văn minh lịch sự, tất nhiên khi cần thiết cũng sẽ vung nắm đấm). Anh đã nhắm được quần áo và trang bị ở cửa hàng đồ quân dụng, bao gồm áo khoác và quần jean của Levi's, áo sơ mi vải kaki kiểu quân đội có cầu vai, và đôi bốt cao cổ có đính miếng thép ở mũi và gót. Một chiếc mũ cũ của bố, chỉ cần nhét thêm chút báo là đội vừa vặn, điều này sẽ khiến anh trông thật thà đáng tin. Anh có thể cho tất cả mọi thứ vào ba lô hướng đạo sinh, và cẩn thận dùng băng dính che đi huy hiệu hướng đạo sinh.

Điều Frank hài lòng nhất là kế hoạch này hoàn toàn bí mật — cho đến ngày nọ, trong một phút bốc đồng, anh rủ Caleb đi cùng. Cậu bé béo này là người bạn thân thiết nhất của Frank năm đó. Caleb nghe xong kế hoạch, chết lặng. Một lúc sau cậu mới thốt lên một câu: "Ý cậu là ngồi tàu chở hàng á?" Cậu cười lớn, "Trời ơi, cậu đúng là buồn cười thật đấy. Cậu tưởng cậu leo lên được một toa xe hàng thì đi được bao xa chứ? Cái ý tưởng quái đản này cậu lấy từ đâu ra thế? Từ trong phim hay ở đâu ra? Nói cho cậu biết nhé, Wheeler, cậu có biết tại sao mọi người đều nói cậu là đồ ngốc không? Bởi vì cậu chính là đồ ngốc!"

Đi trong mùi vị của quá khứ, Frank nhìn April, liên tưởng đến những trải nghiệm nhạt nhòa và tuổi thơ buồn bã của cô, cảm giác đau thương dần lan tỏa sang cô. Anh không dám nghĩ quá nhiều về những điều này, bởi vì cách cô kể lại những khổ đau ấy luôn ngắn gọn, dứt khoát, không hề có chút dư địa cho sự đa sầu đa cảm. ("Em luôn biết rằng không ai quan tâm đến mình, và em luôn cho người khác biết, thực ra em hiểu rất rõ sự thờ ơ của họ.") Nhưng mùi vị của trường học vẫn khiến Frank không tự chủ được mà nhớ lại, một lần nọ cô ngồi trong lớp, bỗng nhiên kỳ kinh nguyệt đến... "Lúc đầu em chỉ ngây người ngồi đó," cô mô tả lại tình huống lúc bấy giờ cho anh nghe, "Sau đó em biết làm vậy thật ngu ngốc, rất nhanh sau đó em phát hiện ra làm gì cũng đã quá muộn." Cô vùng đứng dậy khỏi chỗ ngồi chạy ra khỏi lớp, trên chiếc váy lanh trắng đang mặc có một vệt máu đỏ to bằng lá phong, ba mươi bạn học nam nữ trong lớp nhìn theo bóng lưng cô, từng người một ngẩn ngơ. Cô chạy dọc hành lang, đi qua từng phòng học, như một cơn ác mộng im lặng. Cô nghe thấy tiếng xì xào từ các phòng học vọng ra, sách vở rơi xuống đất, cô nhặt lên, lại chạy tiếp, để lại những vệt máu ngay ngắn trên mặt đất. Cô chạy đến cửa phòng y tế, nhưng lại không dám bước vào, đành rẽ vào một hành lang khác chạy đến một lối thoát hiểm hỏa hoạn, ở đó cô cởi áo len ra, quấn quanh eo và mông. Lúc này cô nghe thấy, hoặc có lẽ là tưởng rằng, có người đang đi về phía mình. Thế là cô bước ra ngoài, đi qua bãi cỏ ngập nắng, định đi bộ về nhà. Cô cố gắng không đi quá nhanh, và ngẩng cao đầu, như vậy dù có người thò đầu ra từ hàng trăm khung cửa sổ đi ngang qua, cũng chỉ có thể tưởng rằng cô đang thực hiện việc vặt bình thường của trường, và quấn chiếc áo len quanh eo một cách rất tự nhiên.

Frank hồi tưởng lại cảnh tượng cô mô tả, đột nhiên phát hiện hai người hiện giờ vừa đúng lúc đi đến một lối thoát hiểm hỏa hoạn. Anh nghĩ giờ đây biểu cảm của cô chắc chắn chẳng khác gì lúc đó, và dáng vẻ cô đi bộ lúc này, chắc chắn cũng giống hệt như lúc cô đi qua bãi cỏ trường học ngày ấy.

Anh hy vọng cô sẽ ngồi gần lại trong xe, để anh có thể ôm vai cô khi lái xe. Nhưng cô thu mình lại nhỏ xíu, nép sát vào cửa xe phía ghế phụ, mặt hướng ra cửa kính nhìn chăm chú vào ánh sáng và bóng tối lướt qua bên ngoài. Mỗi lần sang số anh chỉ biết trợn tròn mắt, lưỡi cứng đờ không nói được lời nào. Cuối cùng, anh liếm môi, cuối cùng cũng nghĩ ra nên nói gì.

"Em biết không? Trong cả vở kịch, chỉ có em là trông ra dáng nhất. Anh không đùa đâu, April, thật đấy."

"Ừm," cô đáp nhạt nhẽo, "Cảm ơn anh."

"Chỉ là ngay từ đầu chúng ta không nên để em cuốn vào cái chuyện khốn kiếp này." Anh vừa nói vừa dùng bàn tay rảnh rỗi cởi khuy cổ áo, một là để cổ mát mẻ hơn, hai là muốn tìm kiếm cảm giác an toàn từ chất liệu phức tạp của chiếc cà vạt lụa và áo sơ mi. "Giờ anh thực sự muốn đấm cho tên đó một trận, tên đó tên là gì nhỉ, cái gã đạo diễn ấy."

"Đó không phải lỗi của anh ta."

"Ừm, vậy thì đó là lỗi của tất cả bọn họ. Chúa mới biết bọn họ bất tài đến thế nào. Vấn đề là chúng ta nên sớm phát hiện ra mới đúng. Lẽ ra anh nên sớm nghĩ đến. Nếu không phải anh và nhà Campbell khuyên em tham gia thì em đã không bị cuốn vào rồi. Em còn nhớ lúc chúng ta mới nghe thấy chuyện này không, em đã nói rằng bọn họ cuối cùng có thể bị người ta coi là một lũ ngốc. Lúc đó lẽ ra anh nên nghe em."

"Thôi nào. Giờ chúng ta có thể không nói về chuyện này nữa được không?"

"Đương nhiên là được." Anh vừa nói vừa cố gắng vỗ nhẹ vào đùi cô, tuy nhiên cô ngồi quá xa. "Anh chỉ là không muốn em vì chuyện này mà không vui, chỉ vậy thôi."

Anh lái xe với động tác điêu luyện tao nhã rời khỏi con đường phụ gập ghềnh, lên đường cao tốc số 12 rộng rãi sạch sẽ, lúc này anh cảm thấy tâm trạng mình cũng đã trở lại mặt đường bằng phẳng. Một làn gió mát thổi từ ngoài cửa sổ xe vào, làm rối mái tóc anh, cũng làm dịu đi cái đầu anh, đến tận khoảnh khắc này, anh mới có thể phản tỉnh chính xác về sự thất bại của đoàn kịch lần này. Chẳng có lý do gì phải canh cánh trong lòng vì chuyện như vậy cả. Người có trí tuệ biết suy nghĩ hoàn toàn biết cách đối mặt một cách bình thản, giống như họ biết cách nhẫn nhịn những chuyện vô lý hơn: làm những công việc cực kỳ nhàm chán trong thành phố, sống ở vùng ngoại ô tẻ nhạt. Bạn có thể vì tình hình kinh tế mà phải chịu khuất phục trong môi trường như vậy, nhưng điều quan trọng nhất là không được để nó ăn mòn. Điều quan trọng nhất, mãi mãi là, ghi nhớ bạn là ai.

Bây giờ, giống như mỗi lần nỗ lực ghi nhớ mình là ai, dòng suy nghĩ của Frank lại quay về những năm sau khi chiến tranh kết thúc, quay về khu phố trên đường Bethune. Khu vực này đâu đâu cũng là kho bãi bến tàu, mỗi buổi chiều tà, trong gió đều mang theo vị của muối, ban đêm tiếng còi tàu truyền đến từ lòng sông, mang lại một cảm giác mơ mộng về việc ra khơi. Khi Frank ngoài hai mươi tuổi, trên đầu anh đội vầng hào quang của một "cựu chiến binh", còn được người khác coi là hình mẫu của thanh niên có đầu óc. Anh luôn tự hào mặc chiếc áo khoác vải tuýt cố tình làm cũ và chiếc quần kaki bạc màu. Anh cùng hai người khác thuê chung một căn hộ một phòng ngủ, chia sẻ tiền thuê nhà hai mươi bảy đô la, và thỏa thuận cứ ba tuần lại thay phiên sử dụng. Hai người kia đều là bạn học của anh ở Đại học Columbia, một người từng là phi công chiến đấu, người kia là lính hải quân đã giải ngũ. Họ lớn tuổi hơn Frank, và như cá gặp nước trong thế giới của những người dân thường. Xung quanh họ dường như lúc nào cũng có vô số cô gái vây quanh, và sẵn sàng theo họ về căn hộ. Tuy nhiên Frank không mất bao lâu để bắt kịp họ. Lúc đó anh đang đuổi theo rất nhiều thứ với tốc độ đáng kinh ngạc, sự tự tin bành trướng chưa từng có. Thằng nhóc ngốc nghếch từng mơ mộng về những chuyến tàu hỏa kia cuối cùng đã không nhảy lên tàu chở hàng, nhưng những gã Caleb đó có lẽ không bao giờ có thể gọi anh là đồ ngốc được nữa. Anh nhập ngũ năm mười tám tuổi, quân đội tin tưởng và cử anh đến Đức tham gia đợt tấn công cuối cùng vào mùa xuân. Thế là anh đến châu Âu, trải qua một chuyến đi đầy bối rối nhưng phấn khích ở đó. Một năm sau anh tự do, từ đó về sau cuộc sống ngày càng phong phú đầy đủ. Mặt không thực tế trong tính cách của anh — những thứ khiến anh đắm chìm trong thế giới ảo tưởng, không hòa nhập được với bạn học và những người lính — đột nhiên ngưng tụ thành một sức hút. Anh tận hưởng cảm giác được người khác ngưỡng mộ lần đầu tiên trong đời. Anh phát hiện các cô gái đều sẵn sàng lên giường với anh. Một phát hiện quan trọng khác cũng tương đương, đó là những người đàn ông, những người đàn ông thông minh, thích nghe anh nói. Điểm số của anh ở trường chỉ ở mức trung bình khá, nhưng trong những cuộc trò chuyện thâu đêm suốt sáng bên ly bia, anh luôn là người xuất chúng. Những cuộc bàn luận cao siêu như vậy thường kết thúc trong những lời tán đồng khẽ khàng, đồng thời người tham gia luôn vỗ vào thái dương của mình, nói lão Frank đúng là có đầu óc. Họ nói, điều Frank cần nhất, thực ra là có thời gian và tự do để tìm thấy chính mình. Họ dự đoán đủ loại sự nghiệp mà Frank có thể theo đuổi, cuối cùng đi đến đồng thuận, dù không phải trong lĩnh vực nghệ thuật, thì anh chắc chắn cũng phù hợp với những công việc mang tính nhân văn. Những công việc này đòi hỏi tinh thần cống hiến bền bỉ và kiên định, hơn nữa kinh nghiệm ở châu Âu thời trẻ của anh cũng có thể phát huy tác dụng. Frank không chỉ một lần nói rằng, châu Âu, là nơi duy nhất trên thế giới đáng để con người ta sống.

Còn về bản thân Frank, dù là sau mỗi cuộc trò chuyện kết thúc bước đi trên phố, hay lúc nằm trong căn phòng ở đường Bethune suy nghĩ mà bên cạnh không có đàn bà, cũng chưa từng nghi ngờ việc mình sở hữu tài năng và triển vọng khác biệt. Chẳng phải tiểu sử của tất cả những người nổi tiếng đều ghi chép về những cuộc khám phá thời trẻ như thế này sao? Những sự phản kháng đối với thế hệ cha chú và con đường đời của cha chú họ. Nghĩ đến đây, Frank thậm chí cảm thấy may mắn vì mình không có chí hướng cụ thể. Chính vì không có mục tiêu cụ thể, anh cũng tránh được những hạn chế cụ thể. Khi đó, cả thế giới, cuộc sống bản thân, đều có thể trở thành lĩnh vực cho anh lựa chọn.

Thế nhưng khi đời sống đại học dần đi đến hồi kết, anh bắt đầu bị vô số nỗi muộn phiền nhỏ nhặt bủa vây. Vài tuần sau khi tốt nghiệp, tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn. Thời điểm đó, hai người kia đã ít khi sử dụng căn phòng đó, thế là anh cứ luôn ở lại đó một mình. Thỉnh thoảng anh làm mấy công việc lặt vặt kỳ quặc để kiếm sống, còn trong đầu thì không ngừng suy nghĩ lung tung. Điều khiến anh phiền lòng nhất là, trong số những cô gái anh từng tiếp xúc, chưa có ai mang lại cho anh cảm giác thỏa mãn thuần túy. Có một cô gương mặt khá quyến rũ, nhưng lại có đôi mắt cá chân thô kệch không thể tha thứ; một cô khác thì rất thông minh, nhưng lại luôn có ham muốn chăm sóc anh như mẹ chăm con; tóm lại, trong số đó không có ai là người phụ nữ "hạng nhất". Anh chưa bao giờ nghi ngờ định nghĩa của mình về người phụ nữ hạng nhất, mặc dù anh chưa bao giờ đến gần được họ. Anh nhớ lại trong mấy trường trung học mình từng học đã từng xuất hiện vài cô như vậy, nhưng họ không hề cảm nhận được sự tồn tại của anh, chỉ chú ý đến những nam sinh đại học ngoài thành phố; sau đó anh lại thấy vài cô trong quân đội, qua cửa sổ bằng vàng của câu lạc bộ sĩ quan, anh nhìn thấy họ đang khiêu vũ uyển chuyển trên sàn nhảy từ xa, giống như những mô hình nhỏ bé thoáng qua; anh đã thấy vài cô ở New York, họ luôn lên xuống taxi với những người đàn ông theo sau. Những người đàn ông đó thật ân cần và chỉn chu, cứ như thể họ sinh ra đã thế, chưa từng trải qua thời thiếu niên ngây ngô.

Tại sao không vứt bỏ những vọng tưởng đó đi? Một kẻ nghiện thuốc lá có cảm xúc cực đoan, theo kiểu Jean-Paul Sartre như anh, chẳng lẽ không nên đi tìm một nữ tín đồ thuốc lá cũng cực đoan, cũng kiểu Jean-Paul Sartre như vậy sao? Tuy nhiên, đây chỉ là sự tự an ủi của kẻ thất bại. Một buổi tối, tại bữa tiệc ở Morning Side, Frank, kẻ vừa nốc vài ngụm lớn rượu whisky, đã chọn làm người chiến thắng.

"Tôi nghĩ mình nghe không rõ tên cô," anh bước qua căn phòng đầy người lạ, đi đến bên cô gái có mái tóc bóng mượt, đôi chân thon dài này. Không nghi ngờ gì nữa, cô ấy chính là "người phụ nữ hạng nhất". "Cô là Pamela phải không?"

"Không phải," cô trả lời, "Pamela ở đằng kia. Tôi tên là April. April Johnson."

Chưa đầy năm phút, anh phát hiện mình có thể làm cho April Johnson bật cười. Anh không chỉ có thể khiến đôi mắt xám to tròn của cô dán chặt vào mình, mà còn khiến đồng tử của cô di chuyển lên xuống theo câu chuyện của anh, cứ như thể hình dáng và đường nét trên gương mặt anh có sức hấp dẫn kỳ lạ.

"Anh làm nghề gì?"

"Tôi là công nhân bốc xếp ở bến tàu."

"Không, ý tôi là thật đấy."

"Tôi cũng đang nói thật mà." Nếu không phải vì lo cô có thể phân biệt được sự khác nhau giữa vết chai và vết phồng rộp, anh đã chìa lòng bàn tay cho cô xem rồi. Tuần trước đó, nhờ sự giới thiệu của một người bạn đại học, sáng nào anh cũng đến bến tàu để bốc vác các thùng trái cây. Anh tự gọi công việc này là "rèn luyện thân thể". "Nhưng từ thứ Hai tới, tôi sẽ có một công việc tốt hơn, làm thu ngân ca đêm tại một nhà hàng tự phục vụ."

"Tôi không nói đến cái đó, ý tôi là anh thực sự quan tâm đến điều gì."

"Cưng à..." Dù sao anh vẫn còn trẻ, việc gọi người phụ nữ mới quen là "cưng" vẫn khiến anh đỏ mặt. "Cưng à, nếu tôi biết câu trả lời, tôi nghĩ chúng ta sẽ không thể trò chuyện quá nửa tiếng mà không làm cả hai chán chết đâu."

Năm phút sau, hai người bước vào sàn nhảy. Frank nhận ra lưng của April trượt nhẹ dưới lòng bàn tay anh, khít khao đến mức như thể được đo ni đóng giày cho anh vậy. Một tuần sau, trong căn hộ trên phố Bethune, thân hình khỏa thân tuyệt mỹ của cô nằm cạnh anh, trời hửng sáng, những ngón tay cô lướt qua gương mặt anh, từ lông mày đến cằm. Cô thì thầm: "Thật đấy, Frank, em thực sự cảm thấy như vậy. Anh là người thú vị nhất mà em từng gặp."

"Chuyện này không đáng để chúng ta như vậy." Anh nói, suy nghĩ quay về hiện tại. Trên dặm đường cuối cùng, anh để kim đồng hồ tốc độ chỉ con số sáu mươi. Ước chừng về đến nhà, họ sẽ cùng uống chút rượu, có lẽ cô sẽ khóc một lúc, và điều đó có thể có ích cho cô. Sau đó họ có thể cười xòa về chuyện này, tự nhốt mình vào phòng ngủ, cởi bỏ quần áo trên người. Dưới ánh trăng, bộ ngực nhỏ nhắn nhô cao của cô sẽ khẽ rung động theo cử động của anh. Tóm lại, anh cho rằng không có lý do gì họ không thể như trước đây.

"Ý anh là, sống giữa những con người này đã đủ tệ rồi, những người này, những người ở thị trấn ngoại ô chết tiệt này — tôi buộc phải nói bao gồm cả nhà Campbell — sống giữa họ mà không bị những chuyện vớ vẩn này làm tổn thương, thật là tệ hại, em thấy sao?" Anh rời mắt khỏi mặt đường, dựa vào chút ánh sáng yếu ớt trên bảng điều khiển, anh phát hiện April đang dùng hai tay che mặt.

"Đủ rồi! Frank. Anh có thể không nói nữa được không? Anh sắp làm em phát điên rồi đấy."

Anh vội vàng giảm tốc độ, lái xe vào một lề đường đầy sỏi đá, tắt máy và đèn xe. Sau đó anh quay người lại, muốn dùng hai tay ôm lấy cô.

"Đừng, Frank, làm ơn đừng làm vậy. Anh cứ để em ở một mình, được không?"

"Bảo bối, anh chỉ muốn..."

"Để em một mình, một mình!"

Anh ngồi lại trước vô lăng, bật đèn xe lên, nhưng hai tay lại không muốn khởi động máy. Anh ngồi đờ đẫn trên ghế suốt một phút, lắng nghe tiếng máu chảy trong màng tai.

"Anh cũng bị đả kích đấy chứ," cuối cùng anh không nhịn được mà mở lời, "Những chuyện bực mình ở đây đã đủ nhiều rồi. Ý anh là, sau khi em đến đây, em cứ tự coi mình là bà Bovary. Có vài điểm anh phải nói rõ với em. Thứ nhất, màn biểu diễn của các em kết thúc trong mớ hỗn độn không phải lỗi của anh; thứ hai, em không trở thành diễn viên cũng không phải lỗi của anh, tốt nhất em nên kết thúc cái vở kịch xà phòng này đi, chúng ta đều sẽ sớm ổn hơn; thứ ba, anh không phải là gã chồng ngoại ô ngu ngốc chậm chạp, mà chính em đã gán cái vai này cho anh ngay từ ngày đầu chúng ta chuyển đến đây; thứ tư..."

Chưa đợi anh nói xong, cô đã mở cửa xuống xe, chạy về phía trước. Dưới ánh đèn pha, dáng người cô nhẹ nhàng và thanh thoát, chỉ là phần hông hơi rộng. Anh lao xuống xe đuổi theo cô, có một khoảnh khắc, anh tưởng cô muốn tự sát — trong lúc này cô có thể làm ra bất cứ chuyện gì. Thế nhưng cô chạy đến bãi cỏ ven đường cách đó ba mươi thước thì dừng lại. Bên cạnh có một tấm biển báo phát sáng ghi "Cấm băng qua". Anh đứng phía sau bối rối, thở hổn hển, và giữ khoảng cách với cô. Cô không khóc, chỉ đứng đó, quay lưng về phía anh.

"Em bị cái quái gì vậy!" Anh nói, "Tại sao em lại như vậy chứ? Mau quay lại xe đi."

"Không. Một lát nữa em sẽ lên xe, anh cứ để em đứng một lát, được không?"

Hai tay anh giơ lên rồi hạ xuống. Khi thấy một chiếc xe từ phía sau chạy tới, anh lại đút tay vào túi quần, giả vờ như đang thực hiện một cuộc trò chuyện thoải mái. Chiếc xe vượt qua họ, trước tiên là chiếu sáng tấm biển báo, rồi đến bóng lưng của April. Sau đó chiếc xe lướt qua họ, đèn hậu biến mất trong tầm mắt, tiếng lốp xe ma sát với mặt đường nhỏ dần, cuối cùng là một khoảng lặng. Bên phải họ là một vùng đầm lầy đen ngòm, tiếng ếch mưa kêu lên từng hồi như đang hát một bài ca tuyệt vọng. Ngay phía trước chừng hai, ba trăm thước, phía trên những dây cáp điện thoại phủ đầy ánh trăng, mặt đất nhô lên phác họa đường nét của Revolution Hill. Trên đỉnh đồi có thể nhìn thấy những khung cửa sổ sát đất ấm áp của Revolution Hill. Vợ chồng Campbell cũng sống trong một căn nhà như vậy, họ rất có thể đang lái xe trên con đường phía sau, đèn xe đang tiến lại gần họ.

"April?"

Cô không trả lời.

"Chẳng lẽ chúng ta không thể ngồi trong xe nói chuyện tử tế, thay vì đuổi bắt nhau trên quốc lộ 12 như thế này sao?"

"Anh còn chưa hiểu rõ sao?" Cô nói, "Em không muốn thảo luận chuyện này với anh."

"Được được được," anh nói, "vì Chúa, April. Trong chuyện này anh đã thể hiện thái độ tốt nhất có thể, nhưng anh..."

"Phải, anh thật sự rất tốt," cô nói, "tốt không thể tốt hơn."

"Em đợi đấy..." Anh rút tay ra khỏi túi quần, đứng thẳng người dậy, nhưng nhanh chóng đút lại vào túi vì lại có xe đến. "Nghe anh nói này, chỉ một phút thôi," anh cố nuốt nước bọt nhưng cổ họng rất khô, "anh không biết bây giờ em muốn chứng minh điều gì," anh nói, "và nói thật, anh nghĩ chính em cũng không biết. Nhưng có một điểm anh rất chắc chắn: anh không đáng phải chịu đựng những thứ này."

"Anh lúc nào cũng chắc chắn như vậy, phải không," cô nói, "về những gì anh đã làm, và những gì đáng phải chịu đựng." Nói xong, cô bước qua người anh đi về phía chiếc xe.

"Bây giờ em đứng lại cho anh!" Anh loạng choạng đuổi theo cô trên bãi cỏ. Xe cộ chạy qua hai bên, nhưng anh đã không còn màng đến thể diện nữa. "Em đứng lại cho anh, chết tiệt!"

Cô dựa đùi vào cản xe, hai tay khoanh trước ngực, vẻ mặt cam chịu. Anh vung ngón tay trước mặt cô.

"Em nghe đây. Lần này anh sẽ không để em bóp méo ý của anh rồi quay lưng bỏ đi nữa. Đây là lần duy nhất anh biết rõ mình không làm sai. Em có biết mỗi lần em bày ra bộ dạng này, người khác cảm thấy thế nào không?"

"Chúa ơi, giá như tối nay anh cứ ở nhà thì tốt biết mấy."

"Em có biết mỗi lần em như vậy, người khác cảm thấy thế nào không? Em rất bệnh hoạn. Anh nói thật đấy."

"Vậy anh có biết anh mang lại cảm giác gì cho người khác không?" Đôi mắt cô quan sát anh từ đầu đến chân, "Anh rất kinh tởm."

Cuộc cãi vã đến mức này cả hai đều mất kiểm soát. Tay chân họ đều run rẩy, gương mặt cũng hoàn toàn biến dạng, chỉ còn lại sự phẫn nộ và thù hận. Cả hai đào sâu hơn vào điểm yếu của đối phương, không từ thủ đoạn để công phá pháo đài của nhau, thay đổi chiến thuật, đông đánh tây, rồi lại tấn công. Trong những lúc dừng lại để thở, cả hai lại tìm kiếm vũ khí từ ký ức quá khứ, vạch trần những vết sẹo cũ của đối phương. Cứ thế lặp đi lặp lại.

"Ồ phải rồi, anh chưa bao giờ lừa dối em, Frank, một lần cũng chưa. Tất cả đều là vì anh có chuẩn mực đạo đức cao thượng đúng không, và cả cái gọi là "tình yêu" của anh dành cho em nữa — anh tưởng em sẽ quên việc anh tát em một cái, chỉ vì em nói em sẽ không tha thứ cho anh sao? Phải, em biết em là lương tâm, là lá gan của anh, và còn là... bao cát của anh nữa. Chỉ vì anh đã nhốt chặt em vào bẫy, rồi anh..."

"Em ở trong bẫy! Em ở trong bẫy! Trời ạ, em đừng làm anh buồn cười nữa."

"Đúng vậy, em, chính em, chính em, chính em." Cô vừa nói vừa nắm tay thành một móng vuốt rồi bóp chặt cổ mình, "Chính là em, chính là em. Cái kẻ đáng thương bị chính mình mê hoặc này... hãy nhìn lại bản thân mình đi, nhìn lại chính mình đi." Cô ngửa đầu lên, hàm răng lộ ra dưới ánh trăng lấp lánh ánh sáng trắng lạnh lẽo, "Nhìn xem anh có chỗ nào giống một người đàn ông."

Anh giơ nắm đấm run rẩy hướng về phía đầu cô. Cô ngửa ra sau cản xe để tránh cú đấm đó, nhưng khuôn mặt vì sợ hãi mà nhăn nhúm xấu xí.

Frank không đuổi theo đánh tiếp, anh bước lùi lại vài bước như một võ sĩ quyền anh, dùng hết sức lực đấm vào mui xe. Anh đấm như vậy bốn cái, "bộp — bộp — bộp — bộp", còn cô thì đứng bên cạnh nhìn. Khi mọi chuyện kết thúc, xung quanh chỉ còn nghe thấy tiếng kêu ồn ào của lũ ếch mưa.

"Em thật đáng ghét, April," anh thì thầm, "quá đáng ghét."

"Được rồi. Xin hỏi bây giờ chúng ta có thể về nhà được chưa?"

Hai người lần lượt lên xe ngồi yên, đều cảm thấy hơi thở nặng nề, đầu óc choáng váng, chân tay run rẩy, giống như một cặp vợ chồng già đã mệt mỏi. Anh khởi động máy, rồi cẩn thận lái xe ra đường, rẽ vào con đường nhỏ dẫn đến Revolution Hill, rồi chạy trên con đường nhựa gồ ghề của Revolution Road.

Hai năm trước, lần đầu tiên họ đến Revolution Hill cũng đi trên con đường này. Lúc đó họ ngồi trên xe của bà Helen Givings, người môi giới bất động sản. Khi trò chuyện qua điện thoại, bà tỏ ra rất lịch sự nhưng nói năng thận trọng. Bà Givings từng giao dịch với rất nhiều người thành phố, phát hiện họ luôn thích lãng phí thời gian của bà, báo cho bà những mức giá thấp không thể chốt đơn, nhưng bà lại có thiện cảm với hai người họ, như sau này bà kể với chồng mình: ngay từ khoảnh khắc hai người bước xuống tàu, bà đã biết họ là kiểu vợ chồng đáng tin cậy, ngay cả khi họ không thể trả giá cao. "Họ rất đáng yêu. Người vợ có ngoại hình và khí chất rất cuốn hút, và tôi nghĩ người chồng chắc chắn làm công việc gì đó rất ghê gớm ở thành phố. Cậu ấy có thái độ tốt với mọi người, không nói nhiều. Thật đấy, giao dịch với những người như họ rất thoải mái." Ngay từ đầu, bà Givings đã hiểu rõ ngôi nhà họ muốn có chút đặc biệt, một nhà kho hoặc nhà xe đã cải tạo, hoặc một quán trọ cũ nát. Theo những gì bà biết, những thứ họ yêu cầu từ lâu đã không còn. Nhưng bà vẫn khuyên họ đừng nản lòng, bà biết một nơi họ có thể sẽ thích.

"Tất nhiên tôi biết vị trí con đường này hơi kỳ cục," bà Givings vừa lái xe từ quốc lộ 12 xuống vừa giải thích. Ánh mắt bà di chuyển giữa mặt đường và gương mặt tập trung của vợ chồng Frank, "Các bạn có thể để ý thấy, ở đây chủ yếu là những ngôi nhà xây bằng vật liệu xỉ và xe tải nhỏ, những người sống ở đây phần lớn là thợ đường ống, thợ mộc và những người bản địa khác. Nhưng dần dần," nói đến đây, bà nghiêm túc giơ tay phải lên trước kính chắn gió, chỉ về phía trước, chiếc vòng tay kim loại trên cổ tay va vào vô lăng tạo ra vài tiếng lách cách, "dần dần, con đường sẽ kéo dài đến một khu phát triển khá kỳ lạ, chúng tôi gọi là Revolution Hill. Những ngôi nhà ở đó to mà vô dụng, màu sắc gây khó chịu, và giá nhà cũng đắt một cách vô lý. Tôi không biết tại sao lại như vậy. Nhưng ngôi nhà tôi sắp đưa các bạn đi xem không liên quan gì đến những thứ này. Nó được xây dựng bởi một công ty xây dựng khá tốt ở đây ngay sau chiến tranh, trước khi những ngôi nhà xấu xí này xuất hiện. Nhà không lớn, nhưng rất đáng yêu, môi trường xung quanh cũng rất tốt. Cấu trúc đơn giản, đường nét sạch sẽ không rườm rà, bãi cỏ được chăm sóc rất tốt, rất phù hợp cho trẻ em. Ngôi nhà nằm ngay khúc cua tiếp theo, các bạn xem, tình trạng đường ở khu vực này cũng tốt hơn rồi, đúng không? Bây giờ các bạn sắp nhìn thấy nó rồi — ngay ở đó. Thấy ngôi nhà nhỏ màu trắng đó không? Rất đáng yêu phải không? Nhìn nó tự tại trên sườn đồi nhỏ kìa."

"Ừm, đúng là vậy." April đáp lại. Hình dáng ngôi nhà dần lộ ra từ những bụi sồi rậm rạp. Nhà không lớn, là cấu trúc gỗ, đứng trên nền bê tông. Giữa nhà có một cửa sổ lớn, nhìn từ xa giống như một tấm gương đen khổng lồ. "Ừm, em thấy ngôi nhà này đúng là rất dễ thương, anh thấy sao, cưng? Nhưng tất nhiên, ở đây cũng có một cửa sổ sát đất lớn. Em nghĩ chúng ta đi đâu cũng không thoát khỏi cửa sổ sát đất đâu."

"Anh cũng nghĩ vậy," Frank tiếp lời, "nhưng anh nghĩ một cửa sổ sát đất sẽ không phá hủy đời sống riêng tư của chúng ta đâu."

"Ồ, nếu vậy thì tốt quá," bà Givings cười lớn. Bà Givings áp sát lại gần, như muốn truyền cho họ sự an toàn và tin tưởng, bà đi cùng họ trên mặt đất trống trải, vừa quan sát vừa bình luận. Ngôi nhà này cho họ rất nhiều không gian tưởng tượng. Ghế sofa đặt ở đây, bàn lớn đặt ở kia, tủ sách có thể dựa vào cửa sổ sát đất để che chắn sự riêng tư của chủ nhà. Mặc dù cấu trúc phòng khách quá đối xứng, nhưng chỉ cần sắp xếp đồ nội thất khéo léo thì sẽ không thấy quê mùa. Hơn nữa, nhìn từ góc độ khác, đối xứng cũng có lợi — tất cả các góc đều là góc vuông tiêu chuẩn, tất cả sàn nhà đều được lát phẳng phiu chắc chắn, tất cả các cánh cửa đều được lắp đặt đúng vị trí, khi đóng mở đều không xảy ra bất kỳ sự cọ xát nào. Khi hai người nắm lấy tay nắm cửa, họ đã bắt đầu coi đây là nhà của mình. Khi tham quan phòng tắm được trang trí hoàn hảo, họ tưởng tượng cảm giác ngâm mình trong bồn nước nóng, con cái họ có thể chạy chân trần trên hành lang, ở đây không có nấm mốc, vụn rác, cát bụi hay gián. Ngôi nhà này có rất nhiều không gian tưởng tượng. Sự hỗn loạn tích tụ trong cuộc sống của họ có thể được loại bỏ ở đây. Họ có thể nghỉ ngơi dưỡng sức trong ngôi nhà này, giữa những hàng cây này. Ngay cả khi cần chút thời gian, sống trong một ngôi nhà rộng rãi sáng sủa, sạch sẽ yên tĩnh như vậy, còn điều gì có thể khiến tâm trí bất an chứ?

Bây giờ, lái xe trong bóng tối, ngôi nhà ngày càng gần họ hơn. Ánh đèn từ nhà bếp và nhà xe tỏa ra dễ chịu. Vai và cằm của họ căng cứng, lộ ra vẻ nhẫn nhịn thô bạo. April đi trước, đùng đùng đi qua nhà bếp, dừng lại trước tủ lạnh để giữ thăng bằng, rồi bật đèn. Cả phòng khách lập tức sáng bừng lên. Ngay khoảnh khắc đèn bật sáng, dường như mọi thứ trong nhà đều đang trôi nổi, lắc lư, đợi đến khi ảo giác này biến mất, phòng khách vẫn có cảm giác không ổn định. Sofa ở đây, bàn lớn ở kia, nhưng dường như đổi chỗ cho nhau sẽ hợp lý hơn; những kệ sách đầy ắp quả thực làm cho cửa sổ sát đất lớn bớt chướng mắt, nhưng nhìn thế nào cũng giống thư viện công cộng; cách sắp xếp đồ nội thất khác phần nào làm giảm bớt sự gò bó và đơ cứng của không gian, nhưng cũng không mang lại cho ngôi nhà một hương vị khác. Những chiếc ghế, bàn cà phê, đèn sàn đặt khắp nơi trông giống như những món đồ tạm thời tập hợp tại sàn đấu giá chờ người mua. Chưa đầy sáu tháng trước, họ miễn cưỡng tạo ra một hốc tường ở góc này để đặt tivi. ("Tại sao không? Lắp tivi không phải vì con cái sao? Hơn nữa, việc không có tivi để thể hiện mình thanh cao là điều rất ngu ngốc.") Bây giờ thảm ở khu vực này đã mòn cũ, trên đệm có vết lõm, gạt tàn cũng đầy, chỉ có góc phòng khách này là còn chút hơi thở của con người.

Bảo mẫu, bà Lundquist, đang ngủ quên trên ghế sofa. Nghe tiếng động, bà giật mình tỉnh giấc rồi ngồi dậy, xuất hiện trong tầm mắt của hai người. Bà nheo mắt, vừa vén lại mái tóc xõa, vừa cố nặn ra một nụ cười. Hai hàm răng giả va vào nhau tạo ra những tiếng động ngắn ngủi.

"Mẹ!" Một giọng nói trong trẻo vang lên từ phía phòng ngủ của trẻ con, đó là Jennifer, cô con gái sáu tuổi của họ. "Mẹ, buổi diễn hôm nay rất tuyệt phải không?"

Khi Frank đưa bà Lundquist về nhà, anh đã rẽ nhầm hướng hai lần. Bà Lundquist nắm chặt cửa xe và bảng điều khiển, gương mặt giữ nụ cười để che giấu sự hoảng sợ trong lòng. Bà tưởng Frank say rượu. Sau đó trên đường lái xe trở về một mình, Frank một tay giữ vô lăng, một tay che miệng. Anh muốn truy hồi lại toàn bộ quá trình cãi vã, nhưng chẳng có ích gì. Anh không nói rõ mình đang phẫn nộ hay có chút hối hận, anh muốn được tha thứ, hay muốn có khả năng tha thứ cho đối phương. Do hét lớn, cổ họng anh còn hơi khô khàn, tay cũng vì đấm vào mui xe mà đau nhức. Đoạn này anh nhớ rất rõ. Những đoạn khác chỉ nhớ lại lúc hạ màn cô đứng trên sân khấu với đôi vai nhô cao, trên mặt mang theo nụ cười giả tạo, yếu đuối. Nghĩ đến đây, Frank dịu lại. Anh cảm thấy tội lỗi. A, cả đêm tranh cãi này! Anh phải nắm chặt vô lăng, vì ánh đèn đường mờ ảo, lắc lư trước mắt.

Căn nhà tối tăm. Khi anh lái xe dọc theo con đường trên núi, nhìn thấy căn nhà trong bóng tối hỗn độn giữa bầu trời và những hàng cây, chỉ liên tưởng đến cái chết. Sau khi vào cửa, anh nhanh chóng đi qua nhà bếp và phòng khách, rón rén đi qua phòng con cái, rồi vào phòng ngủ, nhẹ nhàng đóng cửa lại.

"April, em nghe anh nói này." Anh vừa nói khẽ vừa cởi áo khoác ngoài, rồi nhẹ nhàng ngồi xuống mép giường, tạo ra một tư thế hối lỗi điển hình. "Làm ơn nghe anh nói, anh sẽ không chạm vào em đâu. Anh chỉ muốn nói, anh — ngoài câu xin lỗi ra, anh thực sự chẳng còn gì để nói cả."

Đây là một cuộc cãi vã nghiêm trọng, có thể kéo dài vài ngày. Nhưng ít nhất họ đã trở lại căn phòng yên tĩnh này, chỉ có hai người họ ở bên nhau, thay vì hét lớn trên đường cao tốc. Ít nhất toàn bộ sự việc đã bước vào giai đoạn thứ hai — khoảng lặng sau cuộc cãi vã dữ dội. Theo kinh nghiệm trước đây, dù vô lý đến đâu, điều này cuối cùng sẽ dẫn đến hòa giải. Bây giờ cô sẽ không mặc kệ mà chạy khỏi anh, còn anh cũng sẽ không còn giận dữ bốc hỏa nữa. Cả hai đều quá mệt mỏi. Khi họ mới cưới, anh cảm thấy chiến tranh lạnh còn khó chịu hơn là chỉ trích nhục mạ nhau. Lần nào anh cũng nghĩ, chắc chắn sẽ không có cách nào tử tế để giải thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan. Tuy nhiên, luôn có cách giải quyết — dù tử tế hay không tử tế, đó là anh xin lỗi trước, rồi chờ đợi, đồng thời không suy nghĩ quá nhiều. Tình thế bây giờ đối với anh thật quen thuộc, giống như đang mặc một chiếc áo cũ không vừa vặn lắm nhưng lại rất thoải mái. Anh có thể mặc nó một cách dễ dàng, thoải mái, không cần để ý đến ý nguyện và thể diện của bản thân.

"Tôi không hiểu rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, nhưng dù sao đi nữa, hãy tin anh, April, anh..." Anh chìa tay ra, rồi phát hiện phía bên kia giường trống không. Vừa nãy anh vẫn đang nói chuyện với đống chăn phồng lên, bên dưới không phải là April, mà là một xấp ga trải giường cùng một chiếc gối.

"April?"

Anh kinh hãi chạy tới phòng tắm, rồi đến phòng khách.

"Xin anh đừng lại gần đây." Cô nói. Cô đang nằm trên chiếc ghế sofa mà bà Lundquist từng ngủ, trên người đắp một tấm chăn.

"Nghe anh nói thôi, chỉ một phút thôi. Anh sẽ không đụng vào em đâu, anh chỉ muốn nói là anh rất xin lỗi."

"Vậy thì tốt quá rồi. Bây giờ anh có thể để tôi ở một mình được không?"

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »