Chiếc Tủ Chè Mất Tích
(Một câu chuyện thiếu nhi từ gần 60 năm trước...)

Chiếc Tủ Chè Mất Tích

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG MỘT
CÁI TỦ BÍ MẬT

❊ ❊ ❊

Đà Lạt, một buổi chiều thật êm. Ánh nắng vàng nhảy múa trên những ngọn thông rì rào trong gió. Dãy núi Lang Bian mờ nhạt xa xa. Da trời trong xanh, in hình trên mặt hồ Xuân Hương lăn tăn sóng gợn. Mọi hôm vào giờ này, Đà Lạt luôn luôn khoác lên mình chiếc áo mùa thu, với những ngọn gió lạnh se da thịt, cùng màn sương mỏng thấm dần từng thớ cỏ, ngọn cây. Nhưng không hiểu vì sao hôm nay trời lại đẹp như vậy! Trong khu vườn của Trường Trung học nội trú nữ Thiên Phước, ba cô gái đang ngồi trên cây cầu nhỏ, ríu rít chuyện trò. Dưới chân họ là mặt hồ bán nguyệt nhỏ bé, xinh tươi, lô nhô mấy ngọn giả sơn rêu phủ và những chú cá vàng óng ánh nhởn nhơ bơi lội. Hồ này là một trong rất nhiều cảnh đẹp trong vườn. Các nữ sinh cùng làm cho ngôi trường thân yêu mỗi ngày một đẹp hơn. Họ đã tự tay - với sự hướng dẫn của các vị giáo sư - vẽ kiểu cho những công trình kiến trúc trong vườn; theo đó, vườn được chia ra cho bảy cấp lớp, mỗi cấp phụ trách một khu đất. Các cô nữ sinh đua nhau đi tìm những giống hoa tươi đẹp về trồng trong khu đất của mình. Họ đào những chiếc hồ nhỏ, dựng hòn giả sơn, bắc cầu, thả cá vàng, làm chuồng nuôi chim, đặt ghế đá dưới những bóng cây râm mát, lót sỏi trên lối đi quanh vườn… thôi thì vô số sáng kiến mới lạ được đưa ra và thực hiện trong niềm vui và háo hức.

Chỉ sau mấy năm, khu vườn đẹp đẽ hẳn lên. Bước vào khuôn viên Trường Trung học nội trú nữ Thiên Phước, người ta có cảm tưởng như bước vào một khung cảnh tuyệt vời, ở ngoài mọi lo âu, vượt trên bao nỗi khó khăn, bon chen của cuộc sống.

Từ đó đến nay, bao lớp học sinh đã rời xa mái trường nhưng truyền thống nguyên thủy vẫn được giữ gìn và tiếp nối. Những cô học sinh trường Thiên Phước luôn luôn tìm mọi cách để bồi đắp và phát huy nơi chốn đã in dấu quãng thời gian tươi đẹp nhất của đời mình. Cho nên dù đã rời xa ngôi trường yêu dấu cả vài chục năm, dù đã lớn tuổi, trên vai chồng chất những trách nhiệm của cuộc sống, dù đang giữ địa vị cao trong xã hội, những cựu học sinh Thiên Phước vẫn luôn hướng về chốn cũ và sẵn sàng làm tất cả mọi việc mình có thể để giúp ích cho trường.

 Câu chuyện giữa ba cô thiếu nữ xoay quanh mẫu tin viết trên tờ bích báo của lớp 12A dán tại khu sinh hoạt hiệu đoàn. Theo mẫu tin này thì vào đầu niên học vừa qua, bà Trần thị Phương, trước khi qua đời, có để lại một chúc thư, trong đó bà viết như sau: “Tôi xin tặng cái tủ chè đời Gia Long cho Trường Trung học nữ Thiên Phước. Nếu trong vòng sáu tháng trường không đến nhận, cái tủ này sẽ thuộc về cháu gái của tôi là Nguyễn Thị Năm, hiện đang sống tại nhà tôi ở Sông Pha”. Cho đến nay - vẫn theo mẫu tin này - thời hạn sáu tháng kia sắp hết mà vẫn chưa ai biết cái tủ ấy hiện ở đâu.

Thu, cô gái tóc uốn cao, mắt đen và sáng, trông tinh nghịch nhất đám lên tiếng trước:

- Hai bồ ạ, tôi nghĩ rằng bà Phương nào đó muốn đùa dai trường mình cho vui đấy! Chứ bảo cho người ta cái tủ mà lúc đến nhà không thấy có ở đó. Hỏi người cháu giữ nhà cũng chẳng biết mô tê gì hết.

- Bậy nào! Bồ không biết bà Trần thị Phương là ai sao? Bà ấy là vị Hiệu Trưởng đầu tiên của trường mình đó. Bà đã trông coi ngôi trường trong suốt mười lăm năm; cho đến lúc bị yếu quá mới phải về nhà nghỉ đấy!

Cô gái vừa nói là Minh, một thiếu nữ mảnh mai, để tóc xõa, da trắng môi hồng. Minh nói xong thì cô bạn thứ ba hỏi ngay:

- Thế tại sao bà ấy không cho nhà trường biết chỗ cất cái tủ để mình đến lấy?

Minh quay sang Ngọc, nữ vô địch bóng bàn và nhảy xa của trường, chậm rãi:

- Đây là điều thắc mắc không riêng gì của mình mà còn của Ban Giám đốc nhà trường nữa đấy Ngọc ạ!

Thu vỗ vai bạn:

- Minh à, hình như hồi gần Noel vừa qua, nhà trường có cử ông Hồng đến Sông Pha để tìm xem chiếc tủ ở đâu phải không?

Minh chưa kịp trả lời thì Ngọc đã nhanh nhảu:

- Đúng rồi đó Minh. Ông Hồng, giáo sư cố vấn thể thao và là chồng của bà Liên đấy mà!

Minh gật đầu, mỉm cười: 

- Ông Hồng có đến gặp người cháu của bà Phương để hỏi thăm. Chính người này cũng chẳng biết bà ta để cái tủ ở đâu nữa. 

Thu tỏ ý nghi ngờ: 

- Hay là người cháu gái của bà Phương cố tình giấu cái tủ ấy đi, cho qua thời hạn sáu tháng để giữ làm của riêng? 

Minh đáp:

- Chính thầy Hồng cũng có ý nghi như vậy đó. Thầy ấy đã bỏ ra suốt bốn ngày để tìm khắp trong nhà, ngoài vườn cũng như ở nhà kho mà chẳng thấy tăm hơi gì hết!

Ngọc cười tinh nghịch:

- Theo tôi thì cái tủ cũ kỹ ấy có đáng gì đâu mà nhà trường phải mất công tìm kiếm như vậy?

Minh cũng cười theo:

- Đáng lắm chứ Ngọc. Hai bồ có biết không, hiện nay ở nước mình chỉ còn lại hai cái tủ chè cổ kính thời ấy mà thôi: Một cái là vật gia bảo của ông chủ tiệm bán đồ gỗ Thanh Huy ở đường Tự Do và cái kia là của bà Phương đó.

Thu hỏi vặn bạn: 

- Bồ đã thấy cái tủ ấy bao giờ chưa? 

Minh gật đầu:

- Trong kỳ nghỉ hè năm ngoái, khi tôi về thăm gia đình ở Sài gòn, ba tôi có dắt đi xem một buổi trưng bày đặc biệt của tiệm Thanh Huy đó…

Ngọc cướp lời Minh:

- Tiệm bán đồ cổ thì ngày nào mà chẳng phải trưng bày ra cho người ta xem, có gì là đặc biệt?

Minh ôn tồn giải thích:

- Khoan nào, tôi chưa nói hết mà. Buổi trưng bày hôm đó sở dĩ được coi là đặc biệt vì ông chủ tiệm cho chở cái tủ quý báu được lấy ở Ngân Hàng ra…

Thu và Ngọc cùng hét lên:

- Lấy ở Ngân Hàng ra?

- Đúng thế. Bởi vì ông chủ tiệm sợ để ở nhà, kẻ gian có thể đánh cắp. Cứ xem hôm trưng bày thì cũng đủ biết ông ta quý cái tủ là chừng nào. Hôm ấy người ta đến xem chật ních phòng trưng bày. Cảnh sát phải đến giữ trật tự ngoài cửa tiệm. Phía trong tiệm còn có một hàng rào dây ngăn không cho người xem sờ vào tủ nữa đó. Ba của Minh nói rằng ông chủ tiệm còn xin cảnh sát chìm trà trộn trong đám người đến coi để ngăn ngừa kẻ phá hoại…

Ngọc lại ngắt lời bạn:

- Quí dữ ta! Minh thử mô tả cái tủ ấy cho tụi nầy nghe coi nào.

Minh đưa tay lên vuốt tóc:

- Cái tủ đẹp kinh khủng hai bồ ạ. Tủ làm bằng một thứ gỗ quí chỉ tìm thấy ở vùng rừng núi Việt Bắc. Bốn chân và hai bên hông tủ được chạm trổ vô cùng tinh xảo. Mặt trước, phía ngoài cánh cửa trên và các ngăn kéo đều có những hình hoa lá, sơn thủy nạm bằng ốc xà cừ. Dưới ánh đèn, những gợn ốc lóng lánh chiếu ra màu sắc kỳ lạ lắm, không biết dùng lời nào để tả hết được.

Thu hỏi Minh:

- Thế Minh có biết lai lịch cái tủ ấy như thế nào không?

Minh nhìn bạn gật đầu:

- Theo lời Ba của Minh thì vào thời vua Gia Long, ở Huế có một người thợ vô cùng tài giỏi. Phải gọi ông ta là một nghệ nhân mới đúng. Bởi vì suốt đời, ông ta chỉ làm cái tủ quí báu đó mà thôi. Một cái để biếu ông Tôn Thất Mân là vị quan đương thời; cái kia thì tặng cụ Trần Phú, ông tổ bốn đời của bà Phương. Hai người này là ân nhân đã cứu giúp ông ta trong lúc nguy khốn. Cảm cái ơn ấy, ông ta đã bỏ ra suốt ba năm để tự tay hoàn thành hai cái tủ, đúng hơn là hai tác phẩm nghệ thuật tuyệt diệu, đem tặng hai người đã cứu giúp mình”.

Ngọc quay sang hỏi bạn:

- Thế hôm trưng bày cái tủ ấy, có nhiều người hỏi mua không?

Minh đáp:

- Có chứ. Tuy ông chủ tiệm không nói gì hết nhưng một người khách ngoại quốc đã đề nghị mua cái tủ ấy với giá 14 triệu đồng. Minh còn nghe nói rằng ông giám đốc Viện Bảo Tàng cũng có ý thuyết phục ông chủ tiệm để lại cái tủ ấy cho chính phủ, hầu trưng bày cho công chúng ngắm xem; nhưng ông ta không chịu đó.

Từ nãy đến giờ, Thu vẫn lặng lẽ theo dõi câu chuyện của bạn. Trầm ngâm một lúc khá lâu, cô mới chậm rãi đề nghị:

- Hai bồ ơi, tôi có ý định này không biết hai bồ có đồng ý không?

Minh và Ngọc nôn nóng hỏi:

- Bồ định làm gì, cứ nói đi xem nào.

Sau vài giây yên lặng, Thu nói:

- Ngày mai thi lục cá nguyệt xong, tụi mình sẽ được nghỉ một tuần. Hay là nhân dịp đó, ba đứa mình cùng đi tìm tông tích cái tủ xem sao. Biết đâu lại thấy?

Ngọc vỗ tay reo lên:

- Phải rồi đó, lâu quá rồi mình không có dịp trổ tài mạo hiểm. Bây giờ sẵn dịp, mình nên phiêu lưu một chuyến. Với lại nghe Minh tả cái tủ, tôi thấy mê quá đi, muốn tự mình đi kiếm để nhìn cho tận mắt.

Minh tiếp lời bạn:

- Tôi đồng ý với hai bồ. Nhưng chẳng hiểu bà Hiệu Trưởng có cho phép mình đi không?

Ngọc hăng hái:

- Bồ đừng lo, tôi sẽ trổ tài ăn nói để bà ấy bằng lòng cho tụi mình đi tìm cái tủ. Vả lại, mình làm việc ấy cho trường mà.

Thu kéo Minh và Ngọc đứng dậy:

- Được rồi, thế là xong. Sáng mai ba đứa mình thi rồi sẽ xuống phòng bà Hiệu Trưởng liền để thưa với bà ấy về việc này.

Ba cô nữ sinh lớp 12A của trường Thiên Phước thong thả bước về phía ngôi nhà dùng làm phòng ngủ và phòng ăn. Ánh nắng chiều đã dần dần phai nhạt. Hai bên lối đi, hàng Mimosa rung rinh theo cơn gió nhẹ những bụi hồng mỉm cười một lần nữa chào các cô trước khi đi ngủ.

Bà Hiệu Trưởng đang chăm chú ghi lời phê trên những tập học bạ xếp thành chồng cao trước mặt. Lúc ấy đã gần trưa, chuông tan học đã reo lên ba hồi dài. Tiếng ồn ào mừng rỡ của các cô học sinh từ mấy dãy lớp vọng lại như tiếng reo của đám trẻ thơ lúc sắp được chia quà. Không mừng rỡ sao được, thi xong có khác gì vừa trút được một gánh nặng. Một tuần lễ vui tươi đang chờ đợi các cô; người sẽ được cha mẹ đón về nhà chơi; người thì sắp tham dự cuộc du ngoạn Nha Trang và Hòn Yến do khối thể thao du lịch của trường tổ chức; người thì sung sướng vì có dịp nghỉ suốt bảy ngày: buổi sáng có quyền thức dậy trễ hoặc nằm suốt ngày trong tuần, trùm chăn ăn đậu phộng rang, đọc truyện, nghe nhạc, viết thư cho bạn ở xa…

Ba cô gái bước nhanh về phòng bà Hiệu Trưởng ở khu lầu đối diện. Cô nào cũng lo lắng không biết phải ăn nói như thế nào khi gặp bà ấy đây. Đến trước cửa phòng, Thu gõ nhẹ ba tiếng lên tấm chắn. Bà Hiệu Trưởng nói: “Cứ vào” và buông bút, mắt rời khỏi chồng học bạ, nhìn ra phía cửa chờ đợi.

Minh, Ngọc và Thu, cặp ôm trước ngực, rón rén bước vào, cùng lên tiếng chào:

- Thưa cô ạ!

Bà Hiệu Trưởng nhỏ nhẹ hỏi:

- Có việc gì thế các em?

Bạo dạn nhất đám, Ngọc nói trước:

- Thưa cô, chúng em muốn thưa chuyện với cô về cái tủ bà Phương để lại cho trường mình.

Khuôn mặt bà Hiệu Trưởng trở nên nghiêm nghị:

- Các em muốn nói gì về cái tủ ấy?

Minh đáp:

- Thưa cô, ba đứa em xin phép cô cho chúng em đi tìm cái tủ ấy.

Bà Hiệu Trưởng tròn xoe mắt:

- Đi tìm cái tủ à? Các em không biết là nhà trường có cử thầy Hồng đi tìm rồi sao?

Minh quay sang nhìn Thu, Thu thưa:

- Dạ chúng em có nghe nói rằng thầy Hồng đi tìm suốt bốn ngày mà chẳng thấy gì hết.

Bà Hiệu Trưởng gật đầu tỏ ý hài lòng:

- Biết thế rồi mà các em còn muốn đi nữa là thế nào?

Ngọc mạnh dạn trình bày:

- Thưa cô, chúng em nghĩ thầy Hồng không tìm thấy cái tủ là vì thầy ấy đi một mình. Nay nếu cô cho phép, chúng em đi ba đứa thì sẽ dễ dàng hành động hơn.

Bà Hiệu Trưởng lắc đầu, mỉm cười:

- Các em biết đó, bà Phương đã làm Hiệu Trưởng ở đây trong suốt mười lăm năm. Bà rất yêu quí ngôi trường. Nhưng mấy năm gần đây, cơn bệnh già đã khiến cho bà lắm lúc giống như người lãng trí. Vì thế tôi cho rằng rất có thể bà ấy đã tưởng tượng ra cái tủ ấy.

Minh nhìn bà Hiệu Trưởng:

- Nhưng thưa cô, bà ấy là dòng dõi của cụ Trần Phú, người được tặng cái tủ chè hồi thời vua Gia Long.

Bà Hiệu Trưởng chậm rãi:

- Có, tôi cũng biết vậy. Nhưng cả trăm năm rồi, biết đâu loạn lạc, chiến tranh đã khiến cho gia đình bà ấy không còn giữ được cái tủ ấy nữa? Cho nên tôi thấy các em có muốn đi tìm cái tủ ấy cũng vô ích mà thôi.

Thu cố nài nỉ:

- Thưa cô, chúng em được biết cái tủ ấy đáng giá hàng chục triệu đồng. Nếu trường mình tìm được thì sẽ có lợi không biết chừng nào. Vả lại chúng em tin rằng bà Phương thực sự có cái tủ ấy và muốn để lại cho trường mình.

Minh tiếp lời Thu:

- Thưa cô, xin cô cứ cho chúng em thử tìm một lần nữa. Dù tìm được hay không thì cũng là dịp cho chúng em thực hành những điều đã học ở trường về cách xử thế và óc suy luận, tìm tòi.

Bà Hiệu Trưởng vẫn còn ngần ngại:

- Nhưng mà các em là con gái. Tôi e rằng không tiện cho các em đi xa suốt mấy ngày như thế đâu.

Ngọc hăng hái:

- Thưa cô, xin cô đừng lo. Chúng em hứa sẽ rất cẩn thận trong suốt thời gian ở đó. Hơn nữa, từ đây đến Sông Pha chỉ có mấy chục cây thôi, chúng em sẽ cố về sớm.

Bà Hiệu Trưởng cuối cùng đành phải gật đầu:

- Thôi được, tôi cho phép các em đi đấy. Nhưng phải hết sức cẩn thận giữ mình nhé!

Ba cô nữ sinh cúi chào, cám ơn bà Hiệu Trưởng rồi quay ra, về phía nhà ăn. Ngọc giục hai bạn:

- Mau lên, kẻo nguội hết thức ăn rồi đó. Với lại mình phải ăn cho nhanh để rồi còn đi nữa chớ!

Phòng ăn có lác đác khoảng hơn mười cô nữa thôi. Thu, Ngọc và Minh đi lại quầy, mỗi người nhận một khay đã múc sẵn thức ăn và cơm. Ba cô đem khay lại một bàn trống, hối hả ăn cho xong. Sau đó, họ vội vàng tiến về khu cư xá giáo sư và nhân viên của trường. Minh nói:

-  Mau lên đi hai bồ. Coi chừng đến nơi, thầy Hồng nghỉ trưa rồi là phiền lắm đó.

Khi họ tiến đến nhà giáo sư Hồng, gia đình ông cũng vừa dùng xong bữa. Ông Hồng vui vẻ mời ba cô vào phòng khách:

- Vào đây các em. Có việc gì không?

Ngọc nhanh nhảu:

- Thưa thầy, chúng em vừa xin phép bà Hiệu Trưởng cho chúng em đi tìm cái tủ. Nay chúng em muốn hỏi thầy nhà bà Năm tại Sông Pha.

Thầy Hồng cười:

- Chà, ba cô sắp sửa trổ tài thám tử đó sao? Mấy tháng trước, tôi có đến đó nhưng lục lọi mãi suốt ba bốn buổi, từ trong nhà cho tới ngoài vườn; thậm chí cả trong chuồng gia súc phía sau nữa, mà cũng chẳng thấy bóng dáng cái tủ đâu cả. Lúc đầu tôi có nghi vợ chồng người cháu gái bà Phương giấu cái tủ. Nhưng rốt cuộc không có bằng cớ nào chứng tỏ họ làm việc đó hết.

Minh hỏi thầy Hồng:

- Thưa thầy, như vậy chẳng lẽ đành chịu mất cái tủ quí báu ấy sao?

Thầy Hồng ngập ngừng một lát rồi nói:

- Nói rằng chịu mất thì cũng hơi buồn đấy. Nhưng chỉ tiếc là bà Phương không để lại một dấu vết gì giúp cho mình tìm kiếm cái tủ ấy hết. Tuy nhiên, các em đã có ý định đi tìm, thử cố gắng một lần chót xem sao.

Thu cầm sẵn trên tay một tờ giấy; cô gái rút cây viết nguyên tử đưa cho thầy Hồng:

- Thưa thầy, chúng em định đi ngay chiều nay. Xin thầy vẽ bản đồ căn nhà đó cho chúng em.

Giáo sư Hồng nhận giấy và viết, vừa vẽ vừa nói:

- Sau khi xe đò chạy ngang Sông Pha chừng hai cây số, các em sẽ thấy một ngôi chùa ngay sườn núi bên trái. Vượt qua đó chừng 500m, các em sẽ gặp một cây cầu; sàn và thành cầu đều làm bằng sắt sơn màu đen. Hãy nói với tài xế cho các em xuống chỗ này. Bước qua lề đường bên trái, các em sẽ gặp một con đường mòn rộng vừa đủ cho một chiếc xe hơi đi. Ngay đầu con đường mòn này có một tấm bảng ghi ba chữ “Trại Thi Phương”. Các em cứ tiếp tục lần theo con đường mòn này thêm chừng một cây số nữa, nhớ đừng rẽ vào mấy đường nhỏ hai bên, là sẽ đến nơi ngay.

Ngọc thắc mắc:

- Thưa thầy căn nhà ấy có dấu vết gì đặc biệt không ạ?

Thầy Hồng tươi cười:

- Trong khu vực đó, chỉ có mỗi một tòa nhà hai tầng của bà Phương mà thôi. Dễ tìm lắm, các em đừng lo lạc đường.

Cám ơn và chào thầy Hồng xong, ba cô gái vội vã về phòng xếp quần áo và các vật dụng cần thiết vào xách tay. Riêng Minh, cô có đem thêm một cuốn Kinh Thánh bìa da mạ vàng khổ nhỏ mà ba má đã mua cho, sau kỳ trại thông công sinh viên học sinh Tin Lành vừa qua.

  Minh là con gái út của ông bà Đức, tín đồ thuộc Hội Thánh Sài Gòn. Tuy là gia đình con của tín đồ nhất là tín đồ sốt sắng như ông bà Đức - nhưng Minh có một cuộc sống tin kính không lấy gì tốt đẹp lắm trong mấy năm gần đây. Ngày Chúa Nhật, thay vì đi nhóm tại nhà thờ, cô thường tham dự vào những cuộc vui của bạn bè. Khi thì xem chiếu bóng, lúc thì dạo phố, vào quán nhạc cho hết giờ. Cuốn Kinh Thánh khổ lớn do chính tay ông Đức xếp vào vali cho Minh trước hôm cô lên Đà Lạt vẫn cứ nằm lẻ loi dưới đáy. Thói quen cầu nguyện do ba má tập cho thuở nhỏ cũng dần dần biến mất. Chính Minh cũng chẳng hiểu vì sao niềm tin kính mấy năm trước có thể biến đi một cách dễ dàng như vậy. Cô gái chợt thấy mình có quá nhiều thắc mắc về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, về những tín điều căn bản của Cơ Đốc Giáo. Những câu hỏi ấy, Minh chẳng biết thổ lộ với ai. Nói ra thì sợ người ta cười: Ai lại mang danh tín đồ mà còn đưa ra những thắc mắc sơ đẳng như vậy? Vì thế, nỗi nghi ngờ mỗi ngày một gậm nhấm thêm tâm hồn cô gái vừa lớn. Minh không thể nào tiếp tục cầu nguyện một cách dễ dàng như trước nữa. Có một cái gì thật nặng nề đè nặng lên người khiến cho Minh cảm thấy vô cùng ray rứt, mỗi khi mở miệng nói hai chữ “Lạy Chúa”. Với lòng nghi ngờ chưa được giải tỏa này còn mà dám thưa chuyện với Ngài sao?

Minh thường đặt câu hỏi ấy cho mình và dùng chính câu ấy làm một lý lẽ để tự trấn an mỗi khi thói quen cầu nguyện trở lại cáo trách nàng.

Chỉ mỗi khi về Sài gòn thăm nhà, Minh mới đi nhà thờ, họp gia đình lễ bái cùng với ba má. Nhưng những lúc ấy, cô làm thế là chỉ cốt cho ông bà Đức vui lòng mà thôi. Vì vậy, lòng cô trĩu nặng một nỗi buồn phiền không duyên cớ.

Nhưng sau kỳ trại thông công sinh viên học sinh Tin Lành vừa qua tổ chức tại Vũng Tàu, mọi sự đã thay đổi hẳn.

Đầu tiên, Minh đến trại chỉ với mục đích duy nhất là tìm vui mà thôi. Nàng dự hết những buổi tĩnh nguyện, học Kinh Thánh từng nhóm, thảo luận, nghe giảng… Nhưng tấm lòng vẫn chai lì, chống lại tiếng nhắc nhở của Đức Thánh Linh. Mãi cho đến buổi tối cuối cùng ở trại.

Hôm ấy, một buổi lửa trại được tổ chức giữa sân. Trong cái lành lạnh của trời đêm, chung quanh đống lửa, mọi người cùng hát với nhau những bài ca tuổi trẻ, thuật lại những ơn phước mình đã nhận được trong thời gian ở trại và sau cùng, nghe lời giảng dạy của một vị Mục sư trí sự đã được mời đến giảng đặc biệt cho các trại sinh. 

Minh ngồi bó gối, mơ màng nhìn đống lửa. Tiếng củi nổ lách tách, những bông hoa đỏ lấm tấm tung bay như một nắm Confetti mà người nào đó vừa rải trong ngày hội. Cô gái thầm nghĩ cuộc tranh chiến chống lại Đức Thánh Linh trong suốt sáu ngày qua đã kết thúc với chiến thắng về mình. Nhưng bất chợt, một câu nói của vị Mục sư vang lên bên tai nàng: “Các bạn đang sống với tâm hồn nặng trĩu, tại sao vậy?”

Minh bắt đầu chú ý lắng nghe. Lời nói của vị Mục sư thật ôn tồn, thân thiết như những lời khuyên bảo của một người cha thương yêu với bầy con lầm lỗi. Minh không ngờ những lời mộc mạc ấy lại là thanh gươm bén, xuyên thấu cõi lòng tưởng như chai đá của mình. Nước mắt ứa ra tự lúc nào, Minh chẳng hề hay biết. Chỉ biết rằng khi vị Mục sư trí sự kêu gọi những người trẻ dâng cuộc đời mình phục vụ Đức Chúa Trời, Minh đã cùng một số bạn bước ra. Tất cả cùng quỳ trên mặt đất, lớn tiếng cầu xin Chúa tẩy sạch mọi ô uế của nếp sống cũ và hứa nguyện dùng tuổi trẻ của mình để hầu việc Ngài hết lòng. 

Khi tiếng “A-men” vừa dứt, con mắt thuộc linh của Minh cũng được mở ra. Nàng nhìn bạn bè và cảnh vật chung quanh, thấy tất cả đều như được khoác lên một ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng của lẽ thật, của tình thương và hy vọng. Ánh sáng phát nguyên từ đồi Gô-gô-tha, nơi Chúa đã xả thân để gánh lấy nhưng vi phạm, làm lỗi, cứng cỏi, nghi ngờ của cô.

Kể từ buổi tối hôm ấy, cuộc sống của Minh thay đổi hẳn. Gánh nặng trong tâm hồn, những buồn phiền không duyên cớ khi trước đều biến mất. Lòng cô tràn ngập niềm vui thích. Minh muốn chia sẻ từng trải ấy cho mọi người cô gặp. Trước hết là ba mẹ nàng. Ông bà Đức đã cảm động đến rơi lệ khi nghe con thuật lại ơn phước kỳ diệu ấy. Việc đầu tiên ông làm là quỳ xuống cảm tạ Đức Chúa Trời và sau đó, đi mua cho Minh một quyển Kinh Thánh bìa da mạ vàng, có dây khóa để đánh dấu ngày con mình quyết định sống cho Cứu Chúa Giê-xu Christ.

Minh cũng định sẽ nói cho Thu và Ngọc biết về sự thay đổi lạ lùng của quyền phép Đức Chúa Trời trên đời sống mình. Nhưng tính nhút nhát đã nhiều phen ngăn cản cô thi hành ý định ấy, dù Thu và Ngọc là hai cô bạn chí thân ngay từ lúc mới bước vào nội trú.

Bộ ba Minh – Ngọc - Thu cùng học một lớp, cùng ở một phòng. Đi đâu, làm gì họ cũng có nhau. Không một cuộc vui nào mà người ta thấy vắng bóng bộ ba Tướng- Sĩ- Tượng này cả. Kể ra thì cái danh hiệu trên mà các bạn đặt cho cũng rất hợp với ba cô gái.

Thu lớn tuổi hơn hai bạn, lại khôn ngoan chín chắn hơn nên thường đóng vai chị hai. Minh học giỏi, thích đọc sách, ưa viết văn, nên cái “Kẻ sĩ” tỏ ra rất xứng đáng với cô. Còn Ngọc thì chẳng oan ức gì khi được thân tặng cái hỗn danh là “Tượng”. Thực vậy, vì vốn dân thể thao, lại là vô địch bóng bàn, nhảy xa, hơn nữa thân hình không lấy gì làm nhẹ nhàng cho lắm, nên Ngọc cũng vui vẻ khi nghe các bạn gọi mình bằng danh hiệu ấy.

Bộ ba này thỉnh thoảng cũng có cãi lẫy giận hờn, nhưng rồi chỉ một lúc là họ làm hòa với nhau ngay. Bản tính Minh vốn nhút nhát, nể bạn bè cho nên cô vẫn chưa tìm được một dịp nào thuận tiện để nói cho hai bạn nghe về sự kỳ diệu xảy đến với mình.

Minh đã sắp xếp trong óc những câu Kinh Thánh, những phần dẫn chứng và cách thức trình bày vấn đề mà cô muốn hai bạn hiểu thấu. Cô cũng cầu xin Đức Chúa Trời ban cho mình sự dạn dĩ để làm chứng về danh Ngài cho mọi người chung quanh. Nhưng từ khi có ý định cho tới lúc bắt đầu thực hiện ý định ấy cũng là cả một chặng đường gai góc. Minh e ngại cũng phải.

Thu có tài hùng biện, lý luận sắc bén, mỗi khi có xảy ra một cuộc tranh cãi nào thì gần như cô luôn luôn là kẻ thắng. Từ đầu năm, học thêm môn triết nên Thu đã chịu khó nghiên cứu rất kỹ các cuốn sách Tâm Lý, Luân Lý, Siêu Hình để luyện cho tài ăn nói của mình được vững vàng hơn. Cô gái lại hay có thói quen là bạ cái gì cũng đọc được hết. Vì thế, ai nói chuyện gì, Thu cũng biết. Từ chuyện cô đào này ly dị chồng, ông ca sĩ kia bỏ vợ, cho đến chuyện chính trị, tôn giáo… bất cứ lãnh vực gì, Thu cũng đều tỏ ra thông suốt. Đối với Thu, tôn giáo là một điều gì hết sức mơ hồ, chỉ thích hợp với ông già bà cả mà thôi. Do đó mỗi lần nghe nói về Kinh Thánh, thiên đàng, sự cứu rỗi… Thu đều nhún vai ra dấu không cần để ý tới.

Khác với Thu, Ngọc là cô gái ruột để ngoài da, bộp chộp nên thường phát ngôn bừa bãi. Nhưng được cái là Ngọc tuy nóng nảy, ăn nói cộc lốc nhưng rất tốt bụng đối với bạn bè.

Hồi tháng trước, khi Minh vừa từ trại thông công trở về một tuần, cô có dịp nói chuyện với hai bạn về sự thay đổi trong tâm hồn mình. Hôm ấy cũng là một buổi chiều. Cả ba vừa học bài xong, nên cùng đi dạo chơi trong lúc chờ bữa ăn tối. Dường như Thu và Ngọc cũng để ý thấy trong mấy ngày vừa qua, nơi bạn mình đã có một sự thay đổi lớn. Thu lên tiếng trước:

- Minh à, từ hôm đi trại về đến giờ, sao tụi tôi thấy bồ đổi khác quá vậy?

Minh ngần ngại một lúc lâu. Nàng bỗng đỏ mặt lên. Tính nhút nhát và cảm giác sợ hãi lại đến xâm chiếm nàng. Minh thầm cầu nguyện xin Đức Chúa Trời giúp đỡ mình.

Ngọc thấy Minh yên lặng nên hỏi lại:

- Có chuyện gì không? Nói cho tụi tôi biết với. À, hay tim bồ vương vấn hình bóng của ai rồi phải không?

Đúng lúc đó thì Tuyết từ xa đi tới nhập bọn. Tuyết học cùng lớp với Minh và hai bạn, nhưng bộ ba này không ưa Tuyết lắm vì cô ta hay nghe chuyện rồi đặt điều thêm để kể xấu bạn bè. Thấy Tuyết lân la lại muốn nghe chuyện, ý định của Minh bỗng tiêu tan. Nàng không còn đủ can đảm để nói ra bất cứ điều gì trước mặt Tuyết hết.

Thế là Minh đã bỏ lỡ mất một dịp tiện để thuật lại kinh nghiệm của mình cho Thu và Ngọc biết.

Đánh Máy: huytran
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »