Người tình của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 4860 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
img
img

Hẳn là, thế hệ sau... sẽ làm được những việc mà chúng ta chưa làm được, đúng không?

Tuần dài ảm đạm trôi qua. Những kẻ theo dõi tôi vẫn bám theo hết sức kín đáo, và tôi vẫn tỏ ra lơ đãng. Kỳ học mới bắt đầu, tôi bị cuốn vào guồng học đến nỗi quên mất việc mình tự tách ra như thế này chỉ đơn thuần là diễn kịch. Tôi thường thức giấc lúc nửa đêm, trên giường hoặc trên ghế, ngỡ như mình vừa nghe thấy hai tiếng gõ cửa khẽ khàng, nhưng không bao giờ chuyện đó xảy ra. Tôi bị cuốn theo một mớ bòng bong những từ, những con số và những ký hiệu hóa học; hở ra phút nào rảnh rỗi là tôi lại ở lì trong thư viện Bodleian. Kỳ lạ thay, tôi không còn gặp cơn ác mộng kia nữa.

Mùa xuân đến, ban đầu còn ngập ngừng, sau đó trở nên ào ạt và gấp gáp. Đây là mùa xuân đầu tiên tự do sau bốn năm tiếng súng rền vang qua Kênh đào, một mùa xuân khao khát đổi thay sau những ngày đông lạnh lẽo.

Bốn năm chết chóc đã qua đi, sự sống bắt đầu ồ ạt bừng dậy. Cả nước Anh sảng khoái đắm mình dưới nắng trời. Tôi nhận ra chẳng ai trong trường đại học, ngoại trừ tôi và những người lính vẫn còn choáng váng sau khi trở về từ chiến trường, động tay vào bất cứ việc gì nữa. Thế là ngay cả tôi cũng phải tham gia một buổi dã ngoại lên đồi Boar và một chuyến chèo thuyền từ thượng lưu xuống cảng Meadow. Nhưng hầu hết thời gian, tôi lờ đi những lời dụ dỗ của mấy đứa bạn cũ và những cô bạn hàng xóm để vùi đầu vào bài vở.

Trở lại từ Sussex, tôi gặp một rắc rối đó là không biết giấu cái phong bì mà Holmes đưa cho ở đâu. Tôi không còn tin tưởng vào sự an toàn của căn phòng này nữa, và càng không muốn lúc nào cũng phải kè kè mang nó bên người. Cuối cùng tôi quyết định nơi an toàn nhất để giấu nó là đằng sau những quyển sách bị che khuất ở ngay góc phòng nơi tôi thường ngồi đọc sách mỗi khi đến Bodleian. Điều đó thật nguy hiểm, nhưng việc mua một cái két sắt hay đến một ngân hàng nào đó một cách đều đặn đến mức đáng nghi thì kẻ thù sẽ biết ngay rằng tôi đang cố giấu giếm điều gì đó. Đây là sự mạo hiểm an toàn nhất mà tôi đang cố thử. Xét cho cùng, người ngoài không thể tự tiện ra vào thư viện, nên những kẻ bám theo tôi luôn phải đợi tôi nhiều tiếng đồng hồ bên ngoài. Hơn nữa, cả nơi giấu đồ lẫn bàn đọc của tôi đều ở những góc tối mờ, và từ vị trí đó, tôi có thể dễ dàng quan sát những ai đang tiến lại. Trong mấy tuần liền tôi đã miệt mài nghiên cứu dãy số La Mã bí ẩn kia. Cũng như Holmes, tôi đủ hiểu về kẻ thù của mình để có thể chắc chắn đây là một lời nhắn, và, cũng như Holmes, tôi chưa tìm ra đáp án. Nhưng tôi tin rằng tâm trí vẫn có một khả năng đặc biệt để tiếp tục đương đầu với khó khăn, và một lúc nào đó, tiếng “Eureka!” sẽ bật ra, huyền bí như thể Lời Chúa.

Tôi học hành cật lực, đêm đó tôi gần thức trắng. Tôi lên giảng đường từ sáng sớm, nhanh chóng hoàn thành bài luận, và hai lần lôi cái phong bì ảnh ra xem. Viền những bức ảnh đã mòn hết, tôi cầm từng bức lên và quan sát dãy số vô nghĩa cho đến khi đầu tôi muốn nổ tung. Tôi thậm chí còn xoay ngược những tấm ảnh lại trong hai mươi phút, với hy vọng sẽ khơi gợi ra được điều gì đó, nhưng vẫn chẳng thấy gì. Tất cả những gì xảy ra là tôi càng ngày càng trở nên cáu kỉnh khi cứ phải lấy giấy che lên mấy tấm ảnh mỗi khi có ai đó đi qua.

Chiều muộn, người người lũ lượt đi qua bàn tôi để ra về, và sau khi phải che tấm ảnh đi tới bảy lần trong vòng chưa đầy một tiếng thì tôi muốn phát điên lên. Tôi không muốn quan tâm xem những vết rạch đáng nguyền rủa ấy có ý nghĩa hay không nữa, tôi đang phung phí từng giờ phút quý giá ở đây chỉ vì một rắc rối lúc nào cũng ám ảnh trong đầu. Tôi nhét những tấm ảnh đó vào chỗ giấu, rồi hiên ngang ra khỏi thư viện. Thậm chí chẳng thèm quan tâm xem những kẻ theo dõi sẽ nghĩ gì, tôi thấy chán ghét chính bản thân mình. Kệ cho bọn chúng thắc mắc đi. Có thể ở đó chẳng có tên chết tiệt nào cả. Có thể Holmes đã phát điên thật, và tất cả chỉ là một trong những mánh lới của ông ấy. Một “bài kiểm tra” nữa.

Về đến phòng trọ tôi đã bình tĩnh hơn, nhưng khi bắt gặp ánh nhìn quở trách của cái bàn học ở góc phòng thì tôi không thể chịu đựng thêm nữa. Nghe thấy tiếng đi lại của cô bạn hàng xóm trong phòng bên, tôi bèn ra ngoài hành lang.

“Dot à?” tôi gọi to. Cô ấy xuất hiện ngay trước cửa phòng.

“Ô, chào cậu, Mary. Dùng trà nhé?”

“Ô không, cám ơn cậu. Cậu có việc gì cấp bách tối nay không?”

“Tớ định 'ôm’ ngài Dante đấy, nhưng tớ sẽ sướng phát điên lên nếu có lý do để hoãn. Có chuyện gì thế?”

“Ôi tớ thấy chán ngấy rồi, tớ không thể ngốn thêm bất kỳ quyển sách nào nữa, và tớ nghĩ là...”

“Cậu ư? Chán ngấy sách ư?” Dorothy tròn mắt ngạc nhiên khiến tôi phá lên cười.

“Đúng vậy, Mary Russell ăn đi ăn lại một món cũng phải biết chán chứ. Tớ đang định ăn tối ở Trout rồi đi nghe buổi biểu diễn đàn clavecin của một người bạn cùng giảng đường với tớ đấy. Cậu có muốn đi không?”

“Khi nào đi?”

“Nửa tiếng nữa, ok không?”

"Khoảng bốn mươi lăm phút nữa nhé.”

“Được rồi. Tớ sẽ gọi taxi.”

Chúng tôi đã có một bữa tối thú vị. Dorothy đã tìm được một cậu bạn để chơi cùng, và chúng tôi cùng đến buổi biểu diễn. Đó là một buổi diễn ngẫu hứng, phần lớn là nhạc của Bach với những giai điệu du dương êm ái, nhất là khi bản nhạc được chơi bằng đàn clavecin. Sự cân xứng và thanh cao của thứ âm nhạc bậc thầy cùng một ly

sâm-panh được phục vụ tận nơi khiến tâm trạng của tôi ổn hơn, và tôi thấy mình thức dậy trên giường trước nửa đêm - một chuyện hiếm khi xảy ra trong vài tháng qua.

Lúc đó chắc khoảng ba giờ sáng, tôi giật mình tỉnh dậy, tim đập thình thịch, thở dốc như thể vừa mới chạy hết tốc lực lên cầu thang. Tôi vừa mới mơ, nhưng không phải là cơn ác mộng đó, mà lần này là sự trộn lẫn giữa thực tế với những hình ảnh tưởng tượng. Một khuôn mặt lờ mờ nham hiểm nhìn tôi từ sau giá sách, mái tóc màu vàng lấp ló, bàn tay nhăn nhúm giơ lên cái ống điếu bằng đất sét. “Mày thì biết cái quái gì chứ!” Kẻ đó cười gằn bằng cả giọng nam và giọng nữ, rồi phá lên một tràng cười khủng khiếp. Bàn tay xương xẩu của gã (hay ả) siết chặt cái tẩu, và tôi nhận ra đó của Holmes, rồi vỡ ra.

Những mảnh vỡ của cái tẩu rơi lả tả xuống sàn. Tôi nhìn đăm đăm tuyệt vọng rồi quỳ xuống nhặt chúng lên, với hy vọng mong manh là sẽ gắn lại chúng được với nhau. Khi tôi đang sờ soạng tìm kiếm thì đột nhiên ai đó chộp lấy tay tôi, tôi đứng phắt dậy, khiếp sợ khi nhìn thấy một cái bóng lờ mờ chỗ giá sách. Đó là khu để sách lịch sử, tất cả đều là sách viết về vua Henry VIII.

Tôi dò dẫm thắp đèn và tìm cặp kính rồi nằm nghỉ cho đến khi những giọt mồ hôi lạnh toát khô hẳn và trống ngực không còn đánh nữa. Nằm mãi mà không ngủ được, tôi với cái áo choàng và đi pha một tách trà.

Tôi ngồi đó một lúc lâu để hít hà tách trà nghi ngút khói và suy nghĩ về cơn ác mộng. Thật hiếm khi tôi mơ những giấc mơ kiểu này - từ khi gia đình tôi gặp nạn,

ngoài cơn ác mộng kia, tôi không nhớ mình còn gặp cơn ác mộng nào khác. Chuyện này có nghĩa gì vậy? Một số chi tiết rất rõ ràng, nhưng một số thì mờ ảo. Chẳng hạn như, tại sao kẻ tóc vàng núp sau tủ sách lại là nửa nam nửa nữ, khi mà tôi luôn mặc định rằng kẻ thù của mình là một ả đàn bà? Cái tẩu thuốc bị vỡ thì là một chi tiết dễ hiểu, nó phản ánh nỗi lo lắng gần như phát điên của tôi về Holmes, và những giá sách, chúng là một phần trong cuộc sống của tôi, hiếm khi nào tôi không nghĩ hay mơ về chúng. Nhưng tại sao lại là những quyển sách về lịch sử? Tôi chẳng có niềm đam mê lớn lao nào dành cho lịch sử, và môn lịch sử nước Anh ở trường tôi học khá là bập bõm. Vua Henry đang làm cái quái gì trước mắt tôi thế nhỉ? Cái lão già gớm ghiếc bẩn thỉu với vô số các bà vợ ấy, tất cả bọn họ đã hy sinh thân mình vì khao khát có được mụn con trai của lão, như thể đó là lỗi của chính bọn họ chứ không phải vì căn bệnh giang mai của lão vậy. Và tại sao Holmes lại sụp đổ dưới chân lão vua ghét đàn bà ấy, trước tiếng cười nửa nam nửa nữ đang vọng lại kia? Tôi thở dài trong căn phòng yên ắng và vớ lấy mấy quyển sách của mình. Nếu như tôi phải dậy lúc ba giờ sáng, thì tôi phải làm được việc gì đó cho bõ công, dù là Henry VIII hay không. Tôi quay trở lại với đám bài vở, nhưng cả sáng hôm đó cơn ác mộng cứ lởn vởn trong đầu, và tôi cứ ngây người ra nhìn chằm chằm vào khoảng tường trước mặt. Henry VIII. Là sao nhỉ?

Đầu giờ chiều, tôi ra ngoài uống cà phê và ăn trưa ở một khu chợ có mái che. Sau đó, tôi đi bộ ngược lên phố

Tôi để kịp giờ học buổi chiều, và được một quãng, tôi nhận thấy bước chân mình dần chậm lại. Tôi dừng lại. Henry VIII. Khi mù mờ về điều gì đó, hãy đến thư viện. Tôi mượn mấy quyển sách về triều đại đó, nhưng chẳng tìm thấy hình ảnh nào tương tự như trong giấc mơ, và việc chầm chậm đọc lướt từng trang sách cũng không khiến tôi nảy thêm ý tưởng gì trong đầu. Vô vọng, tôi lấy những bức ảnh Holmes đưa cho trải trên mặt bàn trước mặt, và cuối cùng, tôi đã khám phá ra cái điều bao lâu nay vẫn chìm sâu trong bí ẩn.

Holmes và tôi từng bàn luận về khả năng dãy số đó có thể là một mật mã dùng số để thay thế cho chữ cái, ví dụ như số 1 có thể được đọc thành chữ A, số 2 có thể được đọc thành chữ B, và dãy số 3-1-2 có thể là CAB. Việc dịch từ dãy số sang chữ cái thường vô cùng phức tạp: một thông điệp dài có thể tiềm ẩn những cái bẫy tinh vi, còn một cụm từ ngắn thì buộc ta phải tìm ra “chìa khóa”. Nếu chìa khóa là một thứ không hề liên quan, ví như đó là một từ trong một trang sách nào đó, thì việc giải mã thông điệp gần như là điều không thể.

Trong trường hợp này, những con số không phải là số Ả Rập mà lại là số La Mã, và vì giữa chúng không hề có khoảng trống hay dấu cách nên tôi phải đoán xem có phải chúng bao gồm đúng hai mươi lăm con số riêng biệt hay không, hay chỉ có bảy, hay là một số nào đấy giữa bảy và hai mươi lăm. Holmes và tôi đều bó tay trước rắc rối này.

Tôi phải tự đặt ra một vài giả định cơ bản để có thể giải được bài toán khó này. Trước tiên, tôi đặt giả thiết rằng ả đã cố tình để lại những vết rạch đó để chúng tôi có thể nhìn thấy, và rốt cuộc hiểu được rằng đó không chỉ là một mánh khóe nhằm khiến chúng tôi phát điên lên với những manh mối trêu ngươi chẳng dẫn đến đâu. Thứ hai, tôi buộc phải tin rằng chìa khóa của nó đang nằm ngay trước mũi tôi, đợi tôi khám phá. Thứ ba, một khi chìa khóa được tìm ra, nó sẽ khai thông mọi uẩn khúc một cách dễ dàng và nhanh chóng nhất. Nếu như nó không giải đáp được điều gì, thì tôi sẽ chẳng ngại ngần mà kết luận rằng đó không phải là chìa khóa đúng và bắt đầu lại từ đầu. Ví dụ, khi giải mã dãy số La Mã XVIIIXIIIIXXV, tôi đã phải bền bỉ thử tất cả những khả năng khác nhau để tìm ra dãy số Ả Rập tương đương 18-13-1-25, sau đó chuyển sang các chữ cái R-M-A-Y, rồi cuối cùng sắp xếp chúng lại thành MARY. Đúng, khi chìa khóa đã được tra vào ổ thì mọi chuyện sẽ không còn quá khó khăn nữa. Tôi chắc chắn về điều đó.

Nếu như tôi đúng, thì chìa khóa ấy đã từng thoáng hiện đâu đó trong giấc mơ của tôi. Henry VIII chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả, nhưng VIII, hay... hệ bát phân lại là một gợi ý rất quan trọng. Nếu như con người được sinh ra chỉ với ba ngón tay đối diện với ngón cái trên một bàn tay thay vì bốn ngón thì chúng ta sẽ chỉ đếm được đến tám, thay vì đến mười. Số 1 đi với số 0 sẽ là số 8, 11 sẽ là cách chúng ta viết số 9, và 20 sẽ ứng với số 16 trong hệ thập phân. Tôi viết chúng lên một mảnh giấy - hai mươi sáu chữ số đầu tiên trong hệ bát phân - và bên dưới là bảng chữ cái.

1 2 3 4 5 6 7 10 11 12 13 14 15 16 17 20 21 22 23 24 25 26 27 30 31 32

ABCDEFGHIJKLMNOPQRSTUVWXYZ

Tôi vẫn gặp rắc rối với việc tách dãy số La Mã thành từng con số riêng biệt mà những chữ cái tương đương với chúng hẳn sẽ nói lên được điều gì đó. Mặc dù đã thuộc chúng nằm lòng, hết xuôi rồi lại ngược, tôi vẫn viết chúng ra:

XVXVIIXXIIXIIXXIIXXIVXXXI

Hai mươi lăm số, nếu chỉ gồm các số 1, 5 và 10. Nếu đối chiếu thẳng ra, tôi được một dãy toàn những chữ A, E và H - chẳng có nghĩa gì cả.

Tôi bắt đầu với mười chữ số đầu tiên, XVXVIIXXII. Chữ I cuối cùng sẽ được tách ra ghép với chữ X tiếp theo để tạo thành số 9, nhưng tôi chỉ dự định như vậy thôi. XVXVI, hay 10-5-10-5-1, sẽ được dịch ra thành H-E-H-E-A. Dãy chữ cái này, trừ trường hợp ả muốn cho chúng tôi biết ả đang cười giễu chúng tôi, thì chẳng còn ý nghĩa gì nữa. X-V-XVII - 10, 5,17, tôi sẽ được HEO, có vẻ khá nhất trong những dãy chữ mà tôi vừa tìm ra. Những con số lớn hơn cho ra những chữ cái đa dạng hơn trong bảng chữ cái. Tôi cố gắng tách ra những con số lớn nhất có thể trong dãy hai mươi lăm con số, và chúng được chia thành 15, 17, 22, 12, 22, 24, 31. Đối chiếu với hệ thập phân, tôi sẽ có OQVLVX. Số 31 là một rắc rối nhỏ bởi vì chỉ có 26 chữ cái mà thôi. Tuy nhiên,

Tuy nhiên, đối chiếu với hệ bát phân, tôi sẽ có M-O-R-J-R- T-Y. Phải mất một lúc tôi mới nhận thức được những gì mình đang nhìn thấy. Ngòi bút chì của tôi đặt lên tờ giấy, chầm chậm vạch ra con số 12, rồi được thay bằng 11-1. Và đây rồi. MORIARTY.

Moriarty không thể nào là người gây ra những chuyện này. Vị giáo sư toán học trở thành kẻ phạm tội bậc thầy đã chết dưới bàn tay của Sherlock Holmes khi bị rơi xuống một thác nước hùng vĩ ở Thụy Sĩ gần ba mươi năm trước. Vậy tại sao tên ông ấy lại ở đây? Có phải kẻ thù muốn chúng tôi biết rằng những hành động khủng bố mà chúng gây ra là để trả thù cho cái chết của Moriarty? Sau gần ba thập kỷ? Hay là chúng muốn ngầm so sánh vụ này với vụ án giữa Holmes và Moriarty? Tôi không biết mình đã ngồi đó trong bao lâu, khi ngoài kia ánh nắng nhạt dần, thì cuối cùng một giọng nói mơ hồ vang lên trong tôi, và tôi nghe thấy chính mình đang trò chuyện với Holmes trong phòng vào cái đêm mọi chuyện mới bắt đầu. “Cháu đang học đến lý thuyết về hệ bát phân. Trợ giáo môn Toán của cháu và cháu đang cùng giải mấy bài toán được một người quen cũ của ông viết ra đấy.” Và giọng Holmes thì thầm bên tai tôi: “Giáo sư Moriarty...”

Trợ giáo môn Toán của tôi. Cô ấy không phải là chủ nhân của những sợi tóc vàng mà chúng tôi đã tìm thấy trong cái xe đó - tóc cô ấy màu tối pha nâu nhẹ. Tuy nhiên, cô ấy đã đưa cho tôi những bài toán về hệ bát phân của giáo sư Moriarty đúng cái ngày vụ nổ bom diễn ra, và giờ thì tôi hiểu ra rằng, ba ngày sau đó, cô ấy đã rạch những đường mật mã chính xác trên ghế ngồi của chúng tôi trong xe ngựa. Trợ giáo môn Toán của tôi, cô Patricia Donleavy, cũng là người đã nghỉ dạy vì bị ốm chính vào thời điểm đó. Trợ giáo môn Toán của tôi, một người phụ nữ mạnh mẽ, một trí tuệ khôn ngoan khéo léo tuyệt vời, một trong những giáo viên mà tôi luôn ngưỡng mộ, người đã dạy dỗ tôi, động viên tôi, người mà tôi đã kể mọi chuyện trong cuộc sống, về cuộc đời tôi, và về cả Holmes nữa. “Một Moriarty khác,” Holmes đã từng nhận xét vậy, và chính cô ấy cũng xác nhận điều đó. Tôi gạt ý nghĩ đó đi. Trợ giáo môn Toán.

Tôi lơ đễnh ngước lên xem ai đang đứng ngay cạnh bàn mình, cái bàn đang ngổn ngang những bức ảnh, những phép tính và những ký tự dịch. Đó là một trong những viên thủ thư già, trông ông ấy có vẻ thích thú và dường như đang muốn tôi nhận ra ông.

“Xin lỗi, cô Russell, nhưng thư viện đến giờ đóng cửa rồi.”

“Dạ? Chúa ơi, ông Douglas, cháu mải học quá. Cháu sẽ ra khỏi đây ngay.”

“Không cần phải vội, thưa cô. Tôi sẽ dọn dẹp thư viện một chút, nhưng tôi muốn báo cho cô biết trước khi cô mọc rễ ở đây. Khi nào cô xuống, tôi sẽ mở cửa cho cô.”

Tôi đang vội vàng nhét đám giấy tờ vào phong bì thì đột nhiên một ý nghĩ không mấy hay ho vụt qua đầu. Có bao nhiêu người đã liếc nhìn lên mặt bàn của tôi suốt buổi tối nay? Trước đó, tôi đã cẩn thận giấu những bức ảnh, nhưng không hiểu sao tôi lại mê mải với công việc của một thám tử toán học đến nỗi không hề biết có ai đi ngang qua như thế. Có vẻ như tôi nhớ được hai cậu sinh viên năm nhất đang đi tìm sách và một vị linh mục già, vị này đã ho và hỉ mũi rất to, nhưng liệu còn ai khác không? Tôi hy vọng là không.

Ông Douglas tiễn tôi ra khỏi thư viện với câu chúc vui vẻ: “Buổi tối tốt lành, thưa cô,” rồi khóa cửa lại sau lưng tôi. Sân thư viện tối om, không một bóng người ngoại trừ bức tượng của Thomas Bodley, và tôi rảo bước qua cánh cổng vòm ra đường Broad. Ngoài đường có vẻ đông đúc và sáng sủa hơn. Tôi bước về ngôi nhà trọ, trong đầu miên man suy nghĩ. Phải làm gì tiếp theo đây? Gọi điện cho Holmes, và hy vọng là không có ai nghe trộm? Hay gửi cho ông ấy một bức điện được mã hóa? Tôi muốn tìm ra một ý tưởng nào đó thật nhanh, ngay lúc này, một lời nhắn mà Holmes có thể đọc nhưng Patricia Donleavy thì không. Nếu tôi đến chỗ ông ấy, liệu tôi có thể qua mặt được những kẻ theo dõi mình không? Chỉ cần tôi manh động lúc này, dù là nhỏ thôi, cũng sẽ khiến Holmes gặp nguy hiểm. Và Donleavy đang ở đâu chứ? Làm thế nào để tìm được cô ta, và làm thế nào để đưa cô ta vào bẫy?

Giữa dòng suy nghĩ miên man, tôi chợt đứng chết lặng vì một cảm giác rất không bình thường. Vì điều gì vậy? Vì đường phố đông đúc ư? Không, bây giờ nó chẳng còn đông mấy. Ý tưởng gọi điện thoại ư? Không, khoan đã, khoan đã nào. Không còn đông mấy? Những kẻ bám theo tôi! Những kẻ bám theo tôi đâu rồi? Ngay lập tức tôi nhận ra rằng mình đã không còn bị bám theo từ khi rời khỏi thư viện, và ngay lập tức tôi biết rằng thế

nghĩa là chúng đang cao chạy xa bay khỏi tôi. Tôi kéo mạnh mũ xuống đầu và guồng chân chạy.

Bác Thomas hoảng hốt nhìn lên khi tôi vừa mở toang cánh cửa phòng bác ấy vừa hổn hển:

“Bác Thomas, gọi điện cho Holmes giúp cháu với, cháu cần nói chuyện với ông ấy ngay bây giờ, việc khẩn cấp lắm ạ.” Thật mừng vì bác ấy đã không cố làm ra vẻ không hề biết đến người chủ không được thừa nhận ấy - bác ấy chỉ nhìn mặt tôi rồi với ngay lấy cái điện thoại.

Tôi đứng đó, căng thẳng gõ ngón tay lên cái bàn bên cạnh, chỉ muốn hét lên vì sốt ruột. Cuộc gọi đã được kết nối, đã có tín hiệu từ tổng đài, rồi nét mặt bác Thomas chết lặng.

“Tôi hiểu,” bác ấy nói, “cảm ơn.” Bác ấy treo ống nghe lên và nhìn tôi.

“Hình như đường dây điện thoại bị nghẽn ở phía đó của Eastbourne,” bác ấy nói. “Có vẻ như có một vụ tai nạn trên đường. Tôi có thể giúp được gì cho cô không?”

“Có đấy ạ. Bác có thể đến khu gara và bảo họ lấy xe ra cho cháu. Cháu sẽ đến đó trong ít phút nữa.” Với một sự nhanh nhẹn đáng ngạc nhiên, bác Thomas lao ra ngoài cửa, còn tôi chạy hết tốc lực lên cầu thang. Tôi đã lăm lăm cầm chìa khóa trong tay trước khi lên đến bậc cầu thang cuối cùng, rồi vội vàng tra chìa vào ổ. Tôi sững lại. Ở ngay chính giữa cái nắm cửa bằng đồng thau sáng loáng là một vết bùn đen sì, lấm lem.

“Holmes?” tôi thì thào, “Holmes?” và mở tung cánh cửa ra.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của laurie r. king