

Công cuộc chiến đấu đã có nhiều triển vọng, nhưng cũng đầy rẫy những gian nan và hiểm nguy. Dường như nó được tính toán bởi một trí tuệ xuất chúng, đến mức có thể đoán biết hầu hết những ý muốn của chúng ta.
“Thật mừng vì không xuất hiện thêm quả bom nào ở đây nữa, Russell. Nếu không cháu đã tan xác rồi.” Đó là vị linh mục già mà tôi nhớ đã gặp trong thư viện, ông ta đang ngồi trên cái ghế của tôi và nhìn tôi đầy chê trách qua vành kính.
“Ôi Chúa ơi, Holmes, gặp lại ông cháu mừng quá!!! Vậy là chúng ta được nói chuyện với nhau rồi. Holmes, cháu biết ả là ai, nhưng cháu tưởng ả đã tóm được ông rồi, những kẻ theo dõi cháu đã biến mất còn điện thoại nhà ông thì không liên lạc được, cháu đang lên đây để lấy khẩu súng rồi lái xe về Sussex, nhưng lại gặp ông ngay đây, và...”
Holmes chặn lại những lời ầm ĩ ngớ ngẩn của tôi.
“Tốt lắm, Russell, ta thật sung sướng khi thấy cháu có vẻ thở phào khi thấy ta còn sống, nhưng cháu có thể giải thích rõ hơn được không, nhất là về vụ điện thoại và những kẻ bám theo ấy?” Holmes đưa tay lên vuốt lại bộ râu trong khi tôi cúi xuống nhặt một cái lông mày rơi trên sàn nhà đưa cho ông ấy.
“Chiều nay, khi cháu đang học ở Bodley...”
“Ôi vì Chúa, Russell, đừng có dài dòng một cách ngớ ngẩn như vậy. Hay sự vắng mặt của ta đã làm não cháu nhũn ra rồi?”
“Ồ vâng, tất nhiên là ông đã ở đó. Nhưng tại sao lúc đó ông không cho cháu biết?”
“Trong bộ dạng thế này, và cháu lại hét toáng lên giữa những phòng thư viện thiêng liêng ư? Ta đoán có thể cháu muốn đến đó ngồi học, nên đã đến trước và ngồi đợi cháu. Ta thấy cháu đang mải mê làm gì đó, bèn hỉ mũi rất to - cháu có nhớ không - nhưng hình như cháu không để ý. Thế là ta rời đi. Lúc ấy cháu đang tìm gì thế? Ta biết là cháu làm việc với những con số La Mã, nhưng vì đứng quá xa nên ta không thể đoán được cháu đã tìm ra những gì.”
“Vâng, Holmes, đó là một mật mã. Nhưng chúng là những con số La Mã trong hệ bát phân, chứ không phải hệ thập phân. Cả dãy số có nghĩa là Moriarty. Ông có nhớ ai đã bắt cháu đọc tài liệu về hệ bát phân chỉ ba ngày trước khi vụ nổ bom xảy ra không?”
“Ta nhớ chứ, đó là trợ giáo môn Toán của cháu. Nhưng làm thế nào mà...”
“Đúng vậy ạ, thậm chí cô ta còn nói cho cháu nghe về những bài toán của Moriarty, tất nhiên là không nói thẳng ra, chỉ ngẫu nhiên bảo rằng cô ta thấy có mấy chỗ khó hiểu trong quyển sách...”
“À, ta hiểu rồi. Đúng, dĩ nhiên rồi.”
“Cái gì dĩ nhiên ạ?”
“Trợ giáo môn Toán của cháu là phụ nữ.”
“Ông không biết ạ? Cháu tưởng đã kể với ông rồi? Nhưng tóc cô ta không phải màu vàng, thế nên...”
“Bây giờ cô ta ở đâu? Có lẽ ta nên tận hưởng việc tóm gọn ả đàn bà này, chứ không nên phí phạm phần đời còn lại của mình chỉ để né tránh những quả bom và ra vẻ ghét cay ghét đắng mỗi khi phải nhắc đến cái tên của cháu nữa.”
“Ồ, vâng. Hôm nay cô ta đã thu hồi lại người của mình trong khi cháu còn đang ở thư viện. Có thể cô ta đoán được cháu đang làm gì, hoặc có thể cô ta đã quyết định ra tay trước, nhưng đường dây điện thoại về làng bị nghẽn, vậy nên cháu cho rằng...”
“Cháu nghĩ như vậy là đúng, Russell, và thế có nghĩa là chúng ta phải chuồn khỏi đây ngay lập tức. Cháu thay mấy bộ quần áo tiện dụng hơn được không? Chúng ta sẽ gặp nhiều gian nan phía trước đấy.”
Tôi lao vào căn phòng bên cạnh. Chỉ chưa đầy hai phút sau, tôi đã khoác vào bộ đồ của một cậu trai, và trong ba mươi giây tiếp theo tôi đã xỏ kịp đôi giày ống, với lấy khẩu súng và nhét đầy đạn vào trong túi quần.
Hai chúng tôi chạy xuống cầu thang, tiếng giày vang lên lộp cộp. Một cô gái vốn mắc chứng nghi bệnh sống ở tầng dưới vừa mới bước ra khỏi buồng tắm thì đúng lúc chúng tôi chạy đến. Cô ấy hét lên và giữ chặt vạt áo choàng trước ngực.
“Đàn ông! Có hai gã đàn ông trong hành lang!”
“Ôi vì Chúa, Di, em đây mà!” Tôi luống cuống kêu lên.
Cô ấy nhoài người qua cầu thang cùng vài người nữa vừa chạy ra nhìn theo chúng tôi. “Mary đấy à? Nhưng đi cùng em là ai thế?”
“Một người bạn cũ của gia đình em.”
“Nhưng đó là một người đàn ông!”
“Em biết mà.”
“Nhưng nam giới đâu có được phép lên đây!” Tiếng phản đối của họ nhỏ dần phía trên chúng tôi.
“Russell, ta phải mượn điện thoại của ông Thomas... À, ông ấy đây rồi, xin lỗi ông, Thomas.”
“Vâng, có chuyện gì vậy thưa quý ông? Cô Russell, quý ông đây là ai vậy? Ông cần gì ạ? À, điện thoại ấy không được dùng tự tiện đâu thưa ông...”
“Bác Thomas, xe của cháu xong xuôi chưa?” Tôi xen ngang trong khi Holmes đang chờ điện thoại kết nối.
“Sao ạ? À, vâng thưa cô, họ nói sẽ đánh xe ra ngoài này cho cô. Cô Russell, quý ông đây là ai thế?”
“Một người bạn của gia đình cháu, bác Thomas ạ. Ôi trời, cháu nghe thấy tiếng Dianne trên đầu cầu thang. Bác có nghĩ mình nên đi xem chị ấy cần giúp đỡ gì không ạ? Bác biết chị ấy hay căng thẳng thế nào mà. Không, Thomas, bác lên giúp chị ấy đi; cháu sẽ đưa ông khách kia ra ngoài. Ông ấy là bạn của bố mẹ cháu. Bạn từ xa xưa lắm rồi. Vâng. Tạm biệt bác, bác Thomas, đêm nay cháu sẽ không về đâu.”
“Hoặc có thể sẽ là đêm mai nữa,” nói rồi Holmes kêu to. “Đi thôi nào, Russell.”
Chiếc xe đã khởi động sẵn và đỗ sát bên lề đường, nhân viên của gara vội bước ra khỏi xe khi nhìn thấy chúng tôi, nhưng anh ta chợt dừng lại, một tay đặt lên cánh cửa.
“Có phải cô không vậy, cô Russell?”
“Vâng, tôi đây Hugh, cảm ơn anh vô cùng, tạm biệt.” Anh ta nhăn nhó khi tôi đạp phanh khiến bánh xe kêu rít lên, nhưng xét cho cùng, đó có phải xe của anh ta đâu. Holmes thì còn hơn cả nhăn nhó từ khi chúng tôi chưa ra khỏi Oxford, nhưng tôi chẳng đâm vào ai cả, chỉ quệt nhẹ vào một chiếc xe ngựa. Đây cũng không phải là xe của ông ấy, mà đàn ông thì biết gì về lái xe cơ chứ?
Khi cho chiếc Morris chạy chậm lại trên con đường hẹp tối thui, tôi quay sang phía Holmes.
“Rốt cuộc thì ông đang làm gì ở đây vậy, Holmes?”
“Russell, cháu có nghĩ... chạy xe với tốc độ như thế này là phù hợp với con đường này và với... cẩn thận có con bò kìa... với tình thế này không?”
“Được rồi, cháu có thể chạy nhanh hơn nữa, nếu ông muốn. Cái xe chịu được mà”
“Không, ý ta không phải vậy.”
“Vậy thì... Ô, tất nhiên rồi, ông muốn đi đường khác. Được thôi ạ. Ông với ra đằng sau đi, có một tập bản đồ ở trong cái túi màu đen ấy. Trong túi còn có một chiếc đèn pin nữa. Holmes, lông mày của ông lại vừa rơi ra kìa.”
“Nó không rơi mới là lạ,” ông ấy vừa càu nhàu vừa gỡ nốt đồ cải trang ra.
“Ông hóa trang thành linh mục giống y chang, đạo mạo lắm. Bây giờ, tập bản đồ này trải dài từ Oxford xuống Eastbourne. Khoảng vài dặm nữa sẽ có một điểm dừng và chúng ta sẽ tiếp tục quành theo con đường bên trái. Đó là một con đường trong nông trại, ông có nhìn thấy không?”
Holmes tuyên bố rằng chuyến hành trình xuyên đêm này sẽ làm ông tổn thọ mất, nhưng tôi lại thấy khá là phấn khích khi được phóng như bay trên đường quê không một ánh đèn với người đàn ông mà tôi không thể công khai nói chuyện thoải mái đến mấy tháng trời. Tuy nhiên, Holmes dường như chẳng tìm thấy nhiều chuyện để nói. Rồi, đến một đoạn tôi cố lách giữa một chiếc xe ngựa chở đầy cỏ khô với một bức tường đá khiến một mảng sơn xe bị tróc ra, thì Holmes trở nên im lặng bất thường. Vài phút sau, tôi bèn hỏi xem ông ấy có ổn không.
“Russell, nếu như cháu quyết định tham gia cuộc đua Grand Prix thì hãy nhờ bác sĩ Watson làm hoa tiêu dẫn đường nhé. Đó là nghề của ông ấy đấy.”
“Sao ông cứ nghi ngờ về khả năng lái xe của cháu thế nhỉ?”
“Không phải thế, Russell, ta không nghi ngờ một chút nào về khả năng lái xe của cháu. Ta chỉ bận tâm đến đầu kia của cuộc hành trình. Ví dụ như, điểm đến của chúng ta là gì?”
“Và chúng ta sẽ tìm kiếm thứ gì khi đến đó?”
“Đúng, nhưng điều ấy thì chưa cần phải bận tâm ngay lúc này đâu. Russell, cháu có nhìn thấy cái cây ở phía sau kia không?”
“Có ạ, một cây sồi già.”
“Ta hy vọng nó vẫn còn nguyên vẹn,” Holmes lẩm bẩm. Tôi phì cười. Còn ông ấy lại nhăn nhó.
Cuối cùng, chúng tôi cũng băng qua được hết các con đường và tiến thẳng về nhà. Tôi liếc nhìn Holmes trong ánh trăng mờ ảo.
“Ông có định nói cho cháu biết ông đến Oxford bằng cách nào không, và kế hoạch của ông trong mấy tiếng sắp tới là gì?”
“Russell, ta thực sự nghĩ là cháu nên cho cỗ máy này chạy chậm lại. Chúng ta không biết khi nào mình sẽ đi qua khu vực có lũ tay sai của ả, và cũng không hề muốn thu hút sự chú ý của chúng. Chúng vẫn tưởng cháu đang ở Oxford còn ta thì đang yên chí ngủ say.”
Để làm Holmes hài lòng, tôi cho xe chạy chậm hơn. Những hàng rào cây và cổng trang trại vun vút lùi lại phía sau, vẫn còn quá sớm để các bác nông dân bắt đầu một ngày làm việc mới.
“Ta đã đi tàu đến Oxford, một phương tiện đi lại muôn thuở, và thoải mái hơn rất nhiều so với việc ngồi trên chiếc xe đua của cháu.”
“Holmes, nó chỉ là một chiếc Morris thôi.”
“Sau đêm nay chắc nhà sản xuất sẽ chẳng còn nhận ra điều đó đâu. Dù sao đi nữa, ta cũng rất tiếc phải thông báo cho cháu rằng tình trạng ngài Sherlock Holmes đang trở nên vô cùng tồi tệ. Có vẻ như tuần trước ông ta đã ngu ngốc để mình bị nhiễm lạnh, và ngay lập tức chứng viêm phổi đã khiến ông ta phải nằm bẹp trên giường. Ông ta nhất quyết không đến bệnh viện; y tá ở đây sẽ khiến ông ta nghẹt thở mất. Bác sĩ đến khám cho ông ta đều đặn và luôn tỏ ra chán nản mỗi khi ra về. Russell à, cháu có biết phải khó khăn thế nào mới tìm được một chuyên gia vừa có thể nói dối, lại vừa có thể diễn kịch không? Cảm ơn Chúa vì sự quảng giao của Mycroft.”
“Vậy sao ông tránh mặt được bác sĩ Watson?”
“Ông ấy đã đến thăm ta một lần, vào tuần trước. Ta phải mất hai tiếng đồng hồ đóng kịch để thuyết phục ông ấy, thậm chí còn không cho ông ấy kiểm tra tình hình sức khỏe của ta. Nếu ông ấy nhảy vọt ra khỏi ngôi nhà tranh của ta, cháu có tưởng tượng được cái bẫy mà chúng ta kỳ công giăng ra sẽ bị ảnh hưởng thế nào không? Người đàn ông này không biết nói dối hay đóng kịch. Cứ để ông ấy ẩn mình như cũ đi.”
“Tội nghiệp bác John. Rồi chúng ta sẽ phải giải thích rất nhiều khi tất cả những chuyện này kết thúc.”
“Ông ấy luôn là người vô cùng rộng lượng. Thôi, tiếp tục câu chuyện nhé. Ta đã nghĩ căn bệnh trầm trọng của ta sẽ tạo thêm áp lực với ả, buộc ả phải động thủ. Ta định nói với cháu chuyện này khi cháu nhận được lá thư hàng tuần của bà Hudson vào hôm nay - hoặc ngày mai - và trở về Sussex thăm ta, nhưng mọi chuyện bắt đầu diễn biến nhanh hơn ta tiên liệu, thế nên ta quyết định đến Oxford để bàn bạc với cháu.”
“Chuyện gì đã xảy ra vậy ạ?”
“Cháu nhớ những kẻ theo dõi ta từ phía sườn đồi chứ? Chúng đã trở nên vô cùng bất cần khi để lộ ánh sáng phản chiếu từ mấy cặp kính và những đốm sáng của tàu thuốc trong đêm. Tháng trước Mycroft đã gửi cho ta một cặp kính viễn vọng cực nét, thế nên hầu hết thời gian ta mải mê sau tấm rèm cửa, theo dõi lại những kẻ đang theo dõi mình. Ngày nào cũng có từng ấy động tĩnh, luôn luôn là những kẻ đó, trong khoảng thời gian đó. Nhưng thật bất ngờ, vào tối Chủ nhật, khi ta đang quan sát thì tất cả bọn chúng đều biến mất. Một tên lạ hoắc đi lên từ phía sau đồi, bọn chúng nói gì đó với nhau vài phút rồi rời đi và bỏ lại đống đồ. Ta nhờ Will lên đó quan sát rồi mang tất cả những gì có thể tìm được về đây cho ta. Will đã nghỉ làm rồi, nhưng hồi ở đây ông ấy là người giỏi nhất, và khi ông ấy không muốn bị ai nhìn thấy thì một con diều hâu cũng không thể phát hiện ra ông ấy.
Hai tiếng sau Will quay lại với một bao đựng đầy những đồ bỏ đi, lúc đó trời đã tối. Những miếng vỏ pho mát, một chiếc ủng cũ, vài vỏ gói bánh quy, và một chai rượu. Ta mang chúng vào phòng thí nghiệm, và đoán xem ta đã tìm thấy gì? Pho mát Oxford, bùn Oxford trên cái ủng cũ, và vỏ gói bánh quy cũng được mua từ một cửa hàng ở Oxford. Ta hút hai điếu thuốc rồi quyết định sẽ nằm trên giường cả đêm trong khi chờ đợi chuyến tàu sáng hôm sau. À, nhân thể, vị bác sĩ đó đã đưa ra những chẩn đoán sáng sủa hơn, ta không cần đến cô y tá trực đêm nữa, và người ta lại có thể nghe thấy tiếng vĩ cầm của ta cất lên sau rèm cửa vào mỗi buổi chiều. Cháu biết đấy, Russell, trong tất cả những điều thần kỳ của kỹ thuật hiện đại thì ta thấy cái máy hát là thứ hữu ích nhất. À,” ông ấy nói thêm, “bà Hudson cũng tham gia trò chơi này đấy.”
“Ông không thể duy trì được trò chơi nếu không có bà ấy, đúng không? Bà ấy diễn xuất thế nào ạ?”
“Bà ấy hoàn toàn hào hứng tham gia và chứng tỏ mình là một nữ diễn viên xuất sắc, thật ngạc nhiên. Phụ nữ luôn khiến ta phải ngạc nhiên.”
“Cháu hiểu rồi. Tiếp theo sẽ là gì ạ?”
“Tất cả các dấu hiệu đều cho thấy mọi thứ sẽ nhanh chóng đến hồi kết thúc. Cháu không định phản đối đấy chứ, Russell?”
“Không hề.”
“Hơn nữa, linh tính mách bảo ta rằng ả muốn đối mặt ta một cách trực tiếp. Sự thật ả đã không rót đạn pháo vào nhà ta hay làm nhiễm độc giếng nước của ta chứng tỏ cái mạng ta chưa hẳn là thứ mà ả muốn. Ta đã đối phó với tâm lý tội phạm trong suốt bốn mươi năm qua, và ta chắc chắn một điều rằng ả sẽ sắp xếp một cuộc hẹn để có cơ hội hả hê trước sự yếu thế của ta cùng vinh quang chiến thắng của ả. Một khúc mắc duy nhất, đó là ả sẽ tìm đến ta, hay là sẽ sai người mang ta đến gặp ả?”
“Đó chưa hẳn là khúc mắc duy nhất đâu Holmes. Cháu nghĩ câu hỏi từ phía chúng ta còn quan trọng hơn: Chúng ta sẽ gặp ả, hay là không gặp?”
“Không, Russell thân mến. Ta chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc phải gặp ả. Ta chính là mồi nhử, nhớ không? Chúng ta chỉ cần phải quyết định việc làm thế nào để xác định vị trí của cháu một cách nhanh nhất, nhằm tạo cơ hội tốt nhất cho cháu hành động. Ta phải thừa nhận rằng,” ông ấy trầm ngâm, “ta khá là nóng lòng muốn gặp kẻ thù đặc biệt này.”
Tôi phanh gấp để tránh một người bán hàng rong, rồi lại tiếp tục lái xe.
“Holmes này, nếu như cháu không hiểu rõ sự tình thì cháu đã nghĩ ông bắt đầu mê đắm Patricia Donleavy rồi. Không, ông không cần trả lời cháu đâu. Cháu sẽ ghi nhớ điều đó chỉ khi nào cháu muốn thu hút sự chú ý của ông, còn lại thì lúc nào cháu cũng muốn làm cho ông nổi cáu.”
“Russell, lẽ ra ta không bao giờ nên nghĩ...”
“Không sao đâu, Holmes, không sao mà. Thật sự, Holmes ạ, lúc nào ông cũng là người cộng sự đáng ghét nhất. Ông làm ơn nói tiếp về kế hoạch được không? Trong hai phút nữa chúng ta sẽ có mặt ở nông trang nhà cháu và ông vẫn chưa hề nói cho cháu biết về kế hoạch của chiến dịch này.”
“Ô, được thôi. Lúc nãy ta đã gọi điện cho Mycroft và nhờ ông ấy cử vài người thận trọng nhất đến khu vực đó sau khi trời tối. Đêm qua có rất nhiều người đi lại quanh ngôi nhà của ta, điều đó đã giúp cho quý cô Donleavy của cháu có cơ hội để di chuyển, nhưng hôm nay, bác sĩ chữa trị cho ta sẽ thông báo rằng ta đang hồi phục và cần yên tĩnh. Bà Hudson sẽ đi ngủ sớm, trong căn phòng của bà ấy ở đầu hồi, còn chúng ta sẽ nằm đợi. Ta tin là người quản lý của cháu, Patrick, đáng tin cậy chứ?”
“Hoàn toàn đáng tin cậy ạ. Chúng ta sẽ để xe ở khu chuồng ngựa và đi bộ đến nhà ông bằng lối qua các khu đồi trọc. Ông cũng nghĩ thế, đúng không?”
“Cháu biết rõ phương pháp của ta mà, Russell. À, đến nơi rồi.”
Tôi lái xe qua cổng và tiếp tục tiến thẳng lên khu chuồng ngựa cũ kỹ nằm khá tách biệt bên đường lớn. Holmes bước xuống xe trước rồi chạy qua mở cửa cho tôi. Khi chúng tôi đẩy mấy kiện cỏ khô ra để nhét cái xe vào ngay ngắn giữa những ngăn chuồng ngựa, Vicky cùng các thành viên trong gia đình nó cứ nhìn chăm chăm vào vị khách không mời lạ hoắc đó một cách hết sức tò mò.
“Cháu sẽ đi báo với bác Patrick là cái xe ở đây, để bác ấy đóng chặt các lối ra vào. Cháu chỉ đi vài phút thôi.”
Tôi lẻn vào nhà bác Patrick và trèo lên cầu thang để lên phòng bác ấy. Tôi khẽ gọi bác, với lối gọi đặc trưng để bác ấy không tưởng nhầm tôi là trộm. Bác ấy đang ngủ say như chết, nhưng cuối cùng tôi cũng đánh thức được.
“Bác Patrick, vì Chúa, bác Patrick, chuồng ngựa có cháy thì bác cũng cứ ngủ thế này à?”
“Cái gì? Chuồng ngựa à? cháy á? Tôi đến ngay đây. Mà ai vậy? Tillie phải không?”
“Không, không, bác Patrick, không có đám cháy nào cả, bác không phải ngồi dậy đâu, là cháu đây, Mary đây.”
“Cô Mary? Có chuyện gì vậy? Để tôi thắp đèn lên đã.”
“Không phải thắp đèn đâu, bác Patrick. Bác cũng đừng ngồi dậy.” Dưới ánh trăng tôi có thể nhận ra bác ấy đang cởi trần, và tôi không hề muốn nhìn thấy bộ dạng này của bác ấy. “Cháu chỉ muốn cho bác biết rằng cháu vừa giấu cái xe hơi, ở khu chuồng ngựa. Đừng để ai nhìn thấy nó, không ai biết cháu đang ở đây là điều vô cùng quan trọng, ngay cả cô cháu. Bác giúp cháu nhé, bác Patrick?”
“Chắc chắn rồi, nhưng cô sẽ ở đâu?”
“Cháu sẽ ở nhà ông Holmes.”
“Cô gặp rắc rối gì phải không cô Mary? Tôi có thể giúp được gì?”
“Nếu như có việc cần nhờ đến bác, cháu sẽ báo. Bác chỉ cần đừng để ai nhìn thấy chiếc xe của cháu. Giờ thì bác ngủ tiếp đi. Cháu xin lỗi vì đã đánh thức bác nhé.”
“Chúc cô may mắn, thưa cô.”
“Cám ơn bác, bác Patrick.” Holmes vẫn đang đợi tôi ở bên ngoài, chúng tôi lặng lẽ băng qua những khu đồi tối om, không có chút động tĩnh ngoại trừ những con cú đêm và lũ cáo.
Đây không phải là lần đầu tiên tôi lần theo lối đi này trong đêm, hơn nữa còn có ánh trăng chiếu sáng mấy dặm đường dài. Điều làm tôi lo lắng là sự ẩn dật lâu ngày có thể sẽ khiến thể trạng sắt đá của Holmes suy yếu, nhưng có lẽ tôi không cần lo về điều đó. Chính tôi mới là người thở hổn hển khi leo lên những đỉnh đồi, sau những ngày ngồi lì trong thư viện.
Trong đêm tối, tiếng động sẽ vọng xa hơn, thế nên chúng tôi chỉ dám nói thì thào và hầu như rất kiệm lời. Đã gần đến ngôi nhà tranh của Holmes. Trăng đã lặn, và đó là khoảng thời gian tối nhất trước khi những ngôi sao biến mất. Chúng tôi đứng bên rìa một vườn cây ăn quả sau nhà, và Holmes tiến lại gần thì thì thầm vào tai tôi.
“Chúng ta sẽ đi một vòng quanh đây và vào nhà qua lối cửa sau, sau đó đi thẳng lên phòng thí nghiệm. Chúng ta có thể thắp một ngọn nến trong đó, sẽ không ai phát hiện ra đâu. Hãy nhớ ẩn mình trong bóng tối và đừng quên là luôn có người theo dõi quanh đây đấy.”
Ông ấy lẩn đi sau khi cảm nhận được cái gật đầu đồng ý của tôi. Năm phút sau, tiếng khóa lách cách khe khẽ và cánh cửa nhè nhẹ mở, tôi đứng bên ngoài ngôi nhà tối om và hít thở bầu không khí thoảng mùi thuốc lá, mùi hóa chất cùng mùi những miếng bánh nhân thịt ngọt ngào - hương vị đặc trưng của mái ấm và bình yên.
“Đi nào, Russell, không phải cháu đang bị lạc đấy chứ?” Holmes khẽ gọi tôi. Tôi gạt sang bên những cảm xúc bâng quơ rồi nối gót ông ấy leo lên những bậc thang mòn vẹt và vòng qua một góc nhà, không cần ánh nến, cho đến khi tay tôi cảm nhận được khoảng trống của một ô cửa để ngỏ và bước vào trong. Luồng không khí chuyển động khi Holmes đóng cánh cửa lại.
“Russell, đứng yên đó, đợi ta thắp nến đã. Ta đã thay đổi vị trí một số thứ sau lần cuối cùng cháu ở đây.” Một que diêm cháy bùng lên và rọi sáng khuôn mặt nghiêng nghiêng của ông ấy đang cúi xuống cây đèn cũ.
“Cháu nhận ra mùi thơm của bánh nhân thịt,” tôi nói, giũ mạnh cái áo khoác rồi treo nó lên mắc áo trên cánh cửa. "Cháu rất vui vì bà Hudson cũng tin rằng ông đang dần phục hồi.” Tôi quay lại, và bắt gặp gương mặt Holmes. Holmes đang đăm đăm nhìn qua ngọn đèn về phía góc tối, và dù ông ấy có nhìn thấy cái gì thì khuôn mặt ông ấy cũng đang tràn ngập nỗi khiếp đảm, tuyệt vọng và thất bại. Ông ấy hoàn toàn bất động trong tư thế hơi cúi người xuống để đặt cái đèn lên mặt bàn. Tôi bước hai bước thật nhanh về phía trước để nhìn bao quát khu vực giá sách, và ngay đó, án ngữ trước tầm mắt tôi là vòng tròn của một họng súng đang chĩa thẳng về phía tôi. Tôi nhìn Holmes và chứng kiến một nỗi sợ hãi mà lần đầu tiên trong đời tôi thấy nó xuất hiện trong ánh mắt ông ấy.
“Xin chào, ngài Holmes,” một giọng nói quen thuộc cất lên. “Chào cô Russell.”
Holmes từ từ đứng thẳng người dậy, trông ông kinh hoàng và hoàn toàn kiệt sức, và khi ông cất tiếng trả lời, giọng ông lạc hẳn đi.
“Donleavy.”