Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hướng tới Thư mục học

❊ ❊ ❊

Cùng với quá trình tan rã, tái phân phối các kho tàng sách cổ sau sự giải thể của các tu viện tại Anh và chiến tranh tôn giáo tại lục địa châu Âu, sự phát triển của thị trường đại chúng dành cho sách in đã giúp mở ra một thời đại mới cho việc sưu tầm và sở hữu các thủ bản cũng như sách in cổ. Nghiên cứu có tính kỹ thuật và chính xác về lịch sử của sách - và đặc biệt là hoạt động in ấn - bắt đầu được phát triển từ các ấn phẩm xuất hiện rải rác trong thế kỷ XVII, từ các sách hướng dẫn sưu tầm và sắp xếp sách cho đến các sách chỉ dẫn nghề in hay các nhóm tác phẩm mô tả những ngành nghề khác. Có thể lấy ví dụ trường hợp của Hieronymus Homschuch (1573 - 1616) là một thợ sửa bản in và phối kiểm bản thảo ở Leipzig. Tại đây ông đã xuất bản cuốn Orthotypographia bằng tiếng Latinh vào năm 1608, là tập sách hướng dẫn kỹ thuật đầu tiên về nghề in. Là công cụ hỗ trợ cho những người sửa bản in khác, bản dịch tiếng Đức do Tobias Heidenreich thực hiện ra đời năm 1634 và được tái bản nhiều lần cho đến tận năm 1744. Cuốn sách có tính chất chỉ nam này bao gồm bảng các dấu sửa bài cho người biên tập, chỉ dẫn các cách bình trang và chọn mẫu chữ in - bản dịch tiếng Đức thậm chí còn in thêm các bài thơ ca ngợi nghề in ấn. Như Anthony Grafton đã nhận xét, bản thân các tranh khắc của Moses Thym đi kèm với bản in đầu tiên của Hornschuch đã xây dựng một mô tả hấp dẫn về hoạt động của một nhà in. Một cuốn sách chỉ nam khác là Advis của Gabriel Naudé* xuất bản tại Pháp năm 1627, được John Evelyn dịch sang tiếng Anh vào năm 1661, biên soạn dựa trên kinh nghiệm trong thời gian ông làm công việc sắp xếp cho thư viện Chánh án Tòa Tối cao Paris, trước khi trở thành thủ thư cho Hồng y Mazarin. Trong sách, Naudé bài bác việc đóng sách lộng lẫy vì ông cho rằng thật phù phiếm khi chỉ đánh giá sách qua trang bìa, nhưng quan trọng hơn, ông đưa ra các lời khuyên nên phân chia sách theo từng chủ đề riêng biệt và xây dựng các bộ danh mục tác giả. Nhiều bình luận khác cũng xuất hiện một cách tình cờ trong các tác phẩm lớn hơn. Ở Anh, một áp phích (broadside) của Richard Atkyns năm 1660, The original and growth of printing (Khởi nguyên và sự phát triển của nghề in) được bổ sung thêm một bài viết ca ngợi sự ra đời của kỹ thuật in ấn vào năm 1664, dù trong trường hợp này, tác giả viết để thỉnh cầu sự tự do khỏi kiểm soát của phường hội.

Riêng tại Anh thì cái “bí kíp và nghệ thuật” in ấn vẫn còn mang ít nhiều tính bí ẩn trong phần lớn thế kỷ XVII, bất chấp sự hiện diện của in ấn đang ngày một rõ nét trong cả xã hội cũng như trong cả trí tưởng tượng trong và sau Nội chiến Anh. Kết quả, như Henry Woudhuysen gợi ý, là việc ta cần phải xem xét tính mới và mức độ phổ biến của bộ sách Mechanick Exercises của Joseph Moxon. Tập thứ hai của bộ sách này, xuất bản thành 24 số trải dài từ năm 1683 đến năm 1684 đã đưa ra một ghi chép chi tiết chưa từng có về kỹ thuật cắt chữ, đúc khuôn chữ và in ấn [12]. Thường được nêu ra như một hướng dẫn in ấn sớm và đầy đủ nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào, bộ Mechanick Exercises còn bao gồm bảng danh sách các dấu sửa bài đầu tiên bằng tiếng Anh cùng 28 trang của Dictionary Alphabetically explaining the bstruse Words and Phrases that are used in Typography (Từ điển xếp theo bảng chữ cái về các Thuật ngữ và Cụm từ khó sử dụng trong nghề in). Theo lời giới thiệu cho lần tái bản gần đây của hai biên tập viên là Herbert Davis và Harry Carter thì, Moxon “viết lại các tri thức khi nó đã trở thành thực hành truyền thống” [13], và như Woudhuysen tán dương thì, các phần khác nhau trong bộ sách của Moxon đã được trích dẫn gần 600 lần trong phiên bản điện tử của Oxford English Dictionary (Từ điển tiếng Anh Oxford). Mechanick Exercises là nguồn tài liệu đầu tiên sử dụng 36 khái niệm, như frisket, kern, rounce, smoot hay unplanished, và hơn thế nữa là gần 200 trường hợp từ sử dụng lần đầu tiên theo nghĩa chuyên ngành in ấn như canon, fount, lower caseshank. Cuốn sách của Moxon cũng bao gồm các minh họa chi tiết về quy trình làm sách, với phần mở đầu in hai tranh chân dung “cổ” của Laurens Costers* và Johannes Gutenberg - mặc dù trang in chân dung này thường bị mất trong nhiều bản sao còn tồn tại đến ngày nay do bị lấy ra để trưng bày trong các album của những người yêu quý sách (bibliophile).

Một nguyên nhân giải thích cho sự quan tâm hứng thú đến như vậy là việc cái gọi là “bí ẩn” về nghề in có liên quan mật thiết đến nguồn gốc của ngành in ấn - và do đó cái gọi là “lịch sử” bị đặt ngang với mâu thuẫn tranh chấp, ngang với việc tạo lập và phá bỏ các huyền thoại. Các tranh luận nổ ra để giải quyết câu hỏi từ đâu và ai đã sáng tạo ra nghề in ở lục địa châu Âu và ở Anh: Đó là Gutenberg ở Mainz hay Coster ở Haarlem? Đó là William Coxton ở Westminster, Wynkyn xứ Worde hay Frederick Corsellis, một trong những thợ cả của Gutenberg, ở Oxford? Năm 1572, Tổng Giám mục Matthew Parker, người đã có công giải cứu rất nhiều thủ bản từ các tu viện cũ kĩ, cũng đặt ra mối nghi ngờ về vấn đề ai là người đầu tiên giới thiệu kỹ thuật in ấn vào châu Âu, vốn theo ông mới chỉ bắt đầu từ khoảng năm 1461. Trong vòng 20 năm sau đó, nhiều bản danh sách các thợ in vùng lục địa nổi tiếng ví như là tổ nghề in được lưu truyền khắp châu Âu. Những lời ca ngợi dành cho các nhân vật như Johann Froben, Christophe Plantin, Nicolas Jenson, Aldus Manutius, Lucantonio, Bernardo Giunti, Jodocus Badius, Johannes Oporinus, Robert và Henri Estienne và Franciscus Raphelengius được theo sau bởi tập hợp rất nhiều tranh chân dung tưởng tượng được khắc và sưu tầm rộng rãi trong thế kỷ XVII. Các tư liệu phổ thông về Gutenberg có thể được tính từ thời điểm xuất hiện ghi chép của Polydore Vergil (1470?-1555). Ông là tác giả câu chuyện về “Cuthenbergus”, được mô tả là một hiệp sĩ đã “tìm ra kỹ thuật in” và mực in. Theo Vergil, “Cuthenbergus” đã giải thích về tầm quan trọng của nghề thủ công này như sau: “Một người đàn ông có thể in ra số sách trong một ngày nhiều hơn hẳn so với một người có thể chép trong nhiều năm” (chép theo bản tóm tắt sách Vergil của Thomas Langley ra đời năm 1546). Khoảng một thế kỷ sau, Hieronymus Cardanus đã thốt lên lời ca ngợi đầu tiên dành cho sự khai sinh của kỷ nguyên hiện đại thông qua ba phát minh rồi sẽ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần - thuốc súng, la bàn và in ấn.

Ở lục địa châu Âu, như Jacqueline Glomski mô tả, một nhà say mê sách là Bernhard von Mallinckrodt đã cho xuất bản một tập sách vào năm 1639 có tên De ortu et Progressu artis typographicae (Về sự nổi lên và tiến bộ của nghề in ấn) mà để kỷ niệm cái ông cho là dấu mốc hai thế kỷ sau sự kiện phát minh kỹ thuật in hoạt bản [14]. Mục đích của Von Mallinckrodt là để bảo vệ việc coi Gutenberg là “ông tổ nghề in” chống lại những người ủng hộ Laurens Coster như Marcus Zuerius Boxhorn. Cuộc tranh luận này vẫn sẽ tiếp tục sau đó hơn hai thế kỷ. Từ Strasbourg, vào năm 1760, Jean-Daniel Schoepfl trong cuốn Vindiciae typographicae đã chính thức chứng thực vị trí lịch sử của Gutenberg nhờ vào các bản sao giấy tờ xử án khi Gutenberg sống ở thành phố này vào năm 1436. Hầu hết các tài liệu này đã bị mất sau vụ cháy thư viện thành Strasbourg vào năm 1870, khiến cho ngày nay chúng chỉ được biết đến qua trích đoạn trong sách của Schoepflin. Dù vậy, đến năm 1794, bác sĩ người Anh Thomas Cogan khi viết về thành phố Mainz trong tập du ký The Rhine (Sông Ranh) vẫn tuyên bố ủng hộ Coster người Hà Lan chứ không phải Gutenberg người địa phương cho phát minh kỹ thuật đúc chữ rời. Một lý do khác để ông ủng hộ Coster là vì theo ông người Anh đã “đánh cắp nghề in ấn này từ Hà Lan vào khoảng năm 1460” [15]. Trên thực tế thì việc là một người ủng hộ Coster hay Corsellis trong thế kỷ XVIII cũng gần giống như việc một người ủng hộ Bá tước Oxford trong các tranh cãi gần đây về tác giả thật sự của các vở kịch Shakespeare. Đây là một ví dụ chứng minh rằng tính thiếu minh xác vẫn luôn đi liền với bất kỳ diễn ngôn lịch sử nào về in ấn và xuất bản được viết ra. Nhưng tình hình này đã sớm thay đổi. Năm 1841, nhà văn người Anh Isaac D’Israeli vào lúc cuối đời đã đặt câu hỏi: “Tại sao một chuyện đơn giản như phát minh kỹ thuật in lại biến thành một trường thiên tiểu thuyết như vậy?”, mặc dầu ông cũng nhận thấy rằng có “vài khả năng là kỹ thuật này bắt nguồn từ Trung Quốc” [16].

Tuy nhiên, có thể nói rằng nghề in ấn và xuất bản đã vượt qua các rào cản ngôn ngữ và tộc người để tích lũy một lịch sử chung. John Fell và các đồng nghiệp của ông ở Oxford trong thập niên 1670 đã viết về “bộ phận cơ học trong in ấn” [17] - khi đó sự quan tâm đã hướng đến các loại máy móc trong quy trình làm sách. Bộ mẫu in tiếng Anh hoàn chỉnh đầu tiên còn tồn tại là bộ mẫu của Moxon năm 1669 được Samuel Pepys* sưu tầm. Những người yêu sách khác còn sưu tập các nhãn sách và tranh khắc chân dung các thợ in. Trong khi đó, sự phát triển mạnh của hoạt động sản xuất, lưu hành và mua bán sách trong thế kỷ XVIII còn khiến người ta quan tâm nhiều hơn nữa đến các ấn phẩm phụ đi kèm như danh mục hay các tờ in mẫu. Cuốn sách được viết vào khoảng năm 1680 của Alonso Victor de Paredes về lịch sử và chỉ dẫn cho thợ sắp chữ, Institución y origen del arte de la imprenta y reglas generales para los componedores, dường như chỉ được in một bản duy nhất “para que mi serviesse de memoria” (“để tôi tự giữ làm kỷ niệm”). Năm 1721, Johann Hemrich Gottfried Emesti xuất bản cuốn sách hướng dẫn thợ in được nhiều lời khen ngợi là Die woì eingerichtete Buchdruckerei. Tập sách này dù nhấn mạnh nhiều nhất vào vấn đề ngôn ngữ và bố cục, cũng bao gồm một bộ tiểu sử và chân dung của các thợ in châu Âu nổi tiếng cùng một vở kịch năm 1677 của Johann Rist về nghề in ấn, Depositio cornuti typographic!. Năm 1722, Johan Olaf Alnander đã xuất bản cuốn cẩm nang về nghề in ở Thụy Điển, Historia artis typographicae in Svecia, và một cuốn cẩm nang khác là La Science pratique de l’imprímérie: Contenant des Trés-faciles pour se Perfectionner dans cet Art của Martin-Dominique xuất bản vào năm 1723 là tiền thân của hàng chục cuốn sách chỉ dẫn về nghề in xuất bản ở châu Âu trong khoảng 100 năm tiếp theo.

Với nhận thức lịch sử rõ nét hơn, năm 1745, Joseph Ames*đã phát hành Catalogue of English printers, from the year 1471 to 1600; most of them at London (Danh mục các thợ in Anh từ năm 1471 đến 1600; trong đó hầu hết sống ở London), qua đó cho thấy nhu cầu xây dựng một biên niên sử cho ngành in. Các bài viết tiếng Anh đầu tiên về lịch sử nghề in xuất hiện với hình minh họa đi kèm trong số đầu tiên của Universal Magazine năm 1747. Tuy vậy, chúng đã bị lu mờ bởi các bài viết và tranh khắc trong bộ Encyclopedic (Bách khoa Toàn thư)* nổi tiếng hơn và được tái bản thường xuyên hơn của Diderot và d’Alembert (1751-1772). Tranh khắc Pháp có thể kể đến Imprimerie en lettres, cùng các tranh minh họa cảnh thợ in và thợ sắp chữ làm việc trong nhà in, tranh cũng tả quá trình làm giấy và hoạt động liên quan. Trong những năm này, Pierre Simon Fournier xuất bản công trình còn dang dở Manuel typographique của ông (1764-1766), được David Pankow mô tả là “một trong những dấu mốc của lịch sử in ấn, không chỉ bởi cuốn sách cung cấp thông tin chi tiết về kỹ thuật và thực hành đúc chữ in mà bởi vì nó đã giới thiệu khái niệm về hệ thống điểm (point-system; hệ thống đo trong ngành in) cho cộng đồng in ấn” [18]. Đáng chú ý là Fournier chưa từng đọc hay đề cập đến Moxon. Việc xây dựng diễn ngôn lịch sử về sách giới hạn trong không gian quốc gia như thế này không có gì mới mẻ.

Tốc độ xuất bản gia tăng khắp châu Âu cũng làm dấy lên mối lo ngại về chứng cuồng sách cũng như báo động về sự suy đồi đạo đức và kích động bạo loạn gây ra bởi hoạt động in ấn không bị kiểm soát. Vấn đề này đã trở thành chủ đề cho các bài tiểu luận, thư từ, các bản đánh giá bao quát hơn về lịch sử và sự phát triển của nghề in ấn và xuất bản sách. Có thể kể đến tập sách tổng hợp Typographical Antiquities: Being an Historical Account of Printing in England (Thuật in ấn cổ xưa: Một ghi chép về lịch sử nghề in ở Anh) của Ames xuất hiện năm 1749. Nội dung cuốn sách chủ yếu bao gồm chân dung của các tổ nghề in nổi tiếng tại Anh, trong đó giới thiệu chuyện kể vắn tắt về sự nghiệp của họ. Bản tổng hợp của Ames sau đó được William Herbert bổ sung từ năm 1785 đến 1790, nối tiếp bởi Thomas Frognall Dibdin, một nhà sưu tầm sách lớn kiêm nhà thư tịch học thời kỳ đầu, trong khoảng từ năm 1810 đến 1819. Tập sách là một trong nhiều tác phẩm châu Âu giai đoạn giữa và cuối thế kỷ XVIII bàn về kỹ thuật in ấn Sơ kỳ. Cuốn The History of Printing in America (Lịch sử ngành in ở Hoa Kỳ) của thợ in kiêm nhà ái quốc Isaiah Thomas xuất hiện năm 1810. Ấn bản lần thứ hai của cuốn sách phát hành năm 1874, bao gồm một danh mục các ấn phẩm của Hoa Kỳ trước năm 1776 và một bản tiểu sử về Thomas do cháu trai ông viết. Một tập sách chi tiết hơn mang tên Manuale tipografico do Giambattista Bodoni biên soạn được xuất bản sau khi ông mất tại Parma vào năm 1818, chín năm trước cuốn Typographia của Thomas Curson Hansard. Các sách lịch sử và sách có tính chất chỉ nam như trên đã khuyến khích nghiên cứu về ngành xuất bản sách trong quá khứ tại thời điểm ngành này đang có bước ngoặt phát triển, nhưng trọng tâm khảo cứu khi đó vẫn thiên về in ấn chứ chưa mở rộng ra các thủ bản chép tay hoặc xuất bản nói chung, tập trung mô tả vai trò các cá nhân thay vì các hệ thống tổ chức, và không mấy có những khảo sát xuyên biên giới.

Bối cảnh chính trị có ảnh hưởng rất lớn. Ames biên soạn bộ lịch sử ngành in của ông để tôn vinh “giai đoạn khi nước Anh rũ mình khỏi những tín điều mê muội và bước lên ngai vàng tự do, nơi đến nay Người vẫn ngự trị” [19] dù thực tế phần lớn trong số các thợ in sớm nhất tại Anh là người nước ngoài. Tương tự, một bản cáo phó trên báo in năm 1778 đã ca ngợi thợ đúc chữ tiên phong William Caslon bằng những lời lẽ như: “Nước Đại Anh mang ơn những tiến bộ trong thuật đúc chữ mà nó đã hưởng lợi nhiều hơn tất cả các quốc gia khác trên hoàn cầu; một kỹ thuật hiển nhiên và cơ bản là rất quan trọng đối với một quốc gia vốn coi nền tự do báo chí là bản sắc vĩ đại và quang vinh của mình” [20]. Chúng ta sẽ bàn thêm ở chương tiếp theo về những diễn ngôn lịch sử thư tịch trong hoạt động in ấn và mua bán sách, vốn đã phát triển từ đầu thế kỷ XIX. Nhưng ta có thể nói ngay rằng, những nhận xét như trên đã đóng góp vào sự trưởng thành của tri thức học thuật và đại chúng về vai trò đóng góp của sách - chủ yếu là sách in ở châu Âu và Bắc Mỹ - cho các diễn ngôn về văn minh, đức tin, trí tuệ, khoa học và tiến bộ.

Các câu lạc bộ sưu tầm sách, một hệ quả của hiện tượng cuồng sách, nổi tiếng nhất có thể kể đến là Câu lạc bộ Roxburghe, thành lập vào tháng 6 năm 1812 sau buổi tiệc tối do Dibdin tổ chức vào đêm trước cuộc bán đấu giá thư viện nổi tiếng của Công tước Roxburghe. Một cuốn sách của thư viện này là bản in cuốn Decameron của Giovanni Boccaccio thuộc sở hữu của gia tộc Valdarfer năm 1471, khi đó được bán với mức giá kỷ lục 2.260 bảng, mức giá lớn không thể vượt qua cho đến khi Bernard Quaritch trả 4.950 bảng vào năm 1884 cho bản in năm 1459 của cuốn Thánh vịnh Mainz Psalter. Trong cùng năm đó, chủ nhà in người New York kiêm nhà sưu tập sách Robert Hoe và 8 người đam mê sách khác thành lập ra Câu lạc bộ Grolier, đặt theo tên một người yêu sách danh tiếng người Pháp thế kỷ XVI. Như Kristian Jensen lập luận, sự coi trọng của xã hội đối với sách cùng sự nổi lên của hoạt động mua bán sách cổ và sách hiếm đã tạo ra một thị trường đa dạng về mặt xã hội, trong đó các cuốn sách có giá trị không chỉ là nguồn thông tin văn bản mà còn là một dạng hàng hóa mang giá trị lịch sử giúp định hình lịch sử quốc gia-dân tộc.[21]

Vai trò mang tính dân tộc chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa của sách và tạp chí định kỳ, cũng như của các tác giả và nhà báo viết ra chúng, tiếp tục được củng cố bằng kỹ thuật in thạch bản (lithography) được phát minh năm 1796; và thông qua các thử nghiệm mới trong kỹ thuật in ấn, sắp chữ và làm giấy. Ở Đông Á và Ấn Độ, các công nghệ in ấn mới đã biến đổi hoạt động sản xuất sách về mặt vật lý - và cả nhận thức về thư tịch. Nhiều nhà in và người bán sách bấy giờ đã có thể khai thác truyền thống lịch sử xuất bản sách. Một ấn phẩm mang tính bước ngoặt ở Anh, và vẫn còn được tái bản cho đến ngày nay, là 9 tập bộ sách The Literary Anecdotes of the Eighteenth Century (Các giai thoại văn học thế kỷ XVIII) xuất bản năm 1812-1815 của John Nichols, bắt đầu từ hồi ký của thợ in William Bowyer năm 1782, và bộ Illustrations of the Literary History of the Eighteenth Century (Minh họa Lịch sử văn học thế kỷ XVIII) cũng của Nichols, xuất bản lần đầu năm 1817. Charles Henry Timperley, một thợ in kiêm nhà văn vùng Manchester, đã tổ chức một bài giảng đại chúng về kỹ thuật in ấn. Năm 1838, sau khi xuất bản một tập thơ về nghề in, Timperley cho xuất bản tiếp một cẩm nang in ấn. Một năm sau đó, cuốn Dictionary of Printers and Printing, With the Progress of Literature, Ancient and Modern (Từ điển về các Thợ in và Nghề in ấn, cùng sự tiến bộ của văn chương, Xưa và nay) của ông ra đời, sau này được tái bản vào năm 1842 kèm một tập cẩm nang dưới tên Encyclopaedia of Literary and Typographical Anecdote (Bách khoa toàn thư Giai thoại Văn học và In ấn). Năm 1845, Henry Stevens (sinh năm 1819 ở Vermont, Hoa Kỳ), đã đến London, nơi ông sưu tầm các sách cổ của Hoa Kỳ (Americana) cho Bảo tàng Anh, nhiều thư viện tại Hoa Kỳ và xuất bản cuốn American Bibliographer (Nhà thư tịch Hoa Kỳ), cùng thời điểm với người đồng hương William F. Poole (sinh năm 1821) là nhà tiên phong trong việc lập chỉ mục ấn phẩm định kỳ.

Mức độ quan tâm của đại chúng với hoạt động này có thể được đo lường qua việc xuất bản các hồi ký của những người bán sách vào giữa thế kỷ XIX, hay các chuyên luận về chủ đề sưu tập sách và lịch sử - và đặc biệt thông qua việc khơi lại mối quan tâm về Caxton cùng những nhân vật tiên phong trong lịch sử ngành in. Như David McKitterick nhận xét, khi dịp kỷ niệm 400 năm người thợ in này đặt chân đến Westminster (London) trùng với thời điểm chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy ở Anh, thì “ngay cả Caxton cũng khó mà trốn thoát” [22]. Một trong số các bức tranh do Daniel Maclise khắc vào khoảng thập niên 1830 đã thể hiện cảnh Caxton dâng một bản in mẫu lên vua Anh Edward IV và hoàng gia. Khung cảnh lãng mạn, thuần hòa này từng được ưa chuộng đến mức nó được khắc lại nhiều lần mỗi dịp kỷ niệm Caxton vào các năm 1858 và 1877. Ở thời điểm đó đã có gần 25.000 khách đến dự triển lãm về Caxton tại South Kensington (Anh Quốc). Caxton đã trở thành một nhân vật biểu tượng của Đế quốc Anh, với các cuộc triển lãm kỷ niệm khác về ông được tổ chức tại nhiều thành phố khác nhau, được đưa tin hay dẫn lại trên các tờ báo và ấn phẩm mà người ta tìm đọc khắp đế quốc “nơi mặt trời không bao giờ lặn”*.

Những cuộc triển lãm này xuất hiện khoảng 16 năm sau khi William Blades cho ra mắt cuốn tiểu sử đậm chất anh hùng về Caxton và một khảo cứu đột phá về sự nghiệp in ấn của ông [23]. Dù Blades xem Ames và Dibdin là các nguồn tư liệu không khả tín, ông lại ca ngợi bộ sách của Moxon là bản chỉ dẫn sớm nhất về kỹ thuật in đúc chữ. Trong năm kỷ niệm Caxton, Henry Bradshaw khi xem xét lại tiểu sử Caxton đã mô tả ông không chỉ là một thợ in có đầu óc thực tiễn và một sử gia, mà còn là một con người thấm nhuần lòng tự tôn dân tộc. Năm 1885, “như một bài thực hành kỹ thuật in quang bản thạch (photo-lithography), Blades cho dịch in một vở kịch năm 1677 của Rist về nghề in, bổ sung nó vào bộ sưu tập các sách vở cổ, dù chỉ là tưởng tượng, tiêu biểu cho dân tộc tính. Đi cùng với đó, việc phủ nhận các bộ biên niên sử cũ cũng trở nên phổ biến. Vào năm 1896, William Blades trong cuốn The Enemies of Books (Kẻ thù của Sách) đã tố cáo Ames là một “kẻ báng bổ sách” (biblioclast) vì đã tạo ra một “bảo tàng chứa toàn các trang bìa [bị xé rời]” lưu trữ ở Thư viện Anh. Nhiều nhà văn, nghệ sĩ và kiến trúc sư khác thời Victoria đã tỏ ra là những kẻ lão luyện trong việc phát minh ra các truyền thống và lèo lái diễn ngôn lịch sử để phục vụ lợi ích quốc gia-dân tộc và ý niệm tiến bộ. Như chúng ta sẽ thấy, đây là đặc điểm nổi bật trong các diễn ngôn lịch sử về hoạt động sản xuất sách.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »