Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 71 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Từ những cuốn sách đầu tiên

❊ ❊ ❊

Hiểu biết về sách thời cổ đại chỉ dựa vào các bằng chứng rời rạc. Tuy nhiên, việc đặt ra câu hỏi và cố gắng trả lời chúng sẽ giúp thay đổi các suy nghĩ cùng giả định ta đang có. Ví dụ, khi chỉ dựa trên các tài liệu cổ ít ỏi và khó tiếp cận, ta có thể đánh giá thế nào về việc kiểm soát hoặc hạn chế trong sản xuất sách và thông tin, và sách được tiếp nhận theo những cách nào? Ai là người kiểm soát việc sản xuất? Sách có vị trí như thế nào trong lịch sử nhân loại? Mối quan hệ giữa văn bản viết tay và dạng thông tin truyền khẩu đã thay đổi ra sao? Mọi người đã biết đọc biết viết như thế nào?

Nam nữ ở mọi thế hệ đã viết, khắc và in ấn các dấu hiệu và chữ viết lên nhiều đối tượng vật chất từ rất lâu trước khi tạo ra các cuốn sách làm bằng gỗ hoặc ngà, cuộn sách giấy papyrus, sách giấy da và các tờ giấy đính liền vào nhau. Hình thức bị chi phối bởi phép tắc chính tả, nghĩa là việc phát minh ra các hệ thống chữ viết mang lại các phương tiện giao tiếp được hình hóa trên vật liệu đa dạng. Xơ thực vật, da động vật, vải, vật liệu hữu cơ và các bề mặt khoáng chất khác lưu lại hàng loạt ký tự biểu thị ý nghĩa (biểu ý; ideogram) hay ký hiệu để biểu thị các âm thanh (biểu âm; phonogram) và biểu thị các từ ngữ (biểu từ; logogram).

Các cuộc khai quật khảo cổ tại thung lũng Hoàng Hà phía bắc Trung Quốc đã phát hiện ra hàng ngàn mảnh mai rùa 3.300 năm tuổi được khắc những lời chiêm bốc, các ghi chép của hoàng gia về hoạt động tế lễ, săn bắn và quản lý hành chính. Các mảnh mai rùa khác hơn 4.000 năm tuổi được tìm thấy tại Trung Quốc đã khắc những ký hiệu đại diện cho 11 biểu tượng riêng biệt. Nhận định như vậy đã gây ra nhiều tranh cãi và liên quan đến lĩnh vực lịch sử chữ viết nhiều hơn là lịch sử của sách, nhưng niên đại xác định trên đã đẩy những mai rùa cổ đại này lên ngang hàng với những hiện vật khắc thời Đồ đá như xương khắc ký hiệu và đồ tạo tác từ hang động Grotte de Thaïs miền nam nước Pháp, vốn có thể có niên đại tới 14.000 năm tuổi. Các mai rùa Trung Quốc được các nhà tiên tri khắc chữ để bói toán trong các lễ tế từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XII TCN, và hình thức này được gọi là giáp cốt thư (pyro-osteomantic books).

Các mai rùa này có lẽ được bảo tồn kỹ lưỡng để lưu giữ câu trả lời từ quỷ thần trong cái mà Eleanor Robson gọi là “một thư viện tra cứu về điềm báo và các hậu quả trong tương lai” [13]. Các mai rùa này có cùng niên đại với các văn bản sấm truyền khắc trên xương vai bò và mai rùa biển. Các hiện vật giáp cốt thư lưu giữ tại Thư viện Đại học Cambridge được ca tụng là “những văn bản viết bằng chữ Hán lâu đời nhất còn tồn tại”, ghi lại những câu hỏi tiên tri của triều đình nhà Thương (Shang; 商), triều đại từng cai trị Trung Nguyên từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XI TCN.

Các tự vị (grapheme), hay là đơn vị nhỏ nhất của một hệ thống chữ viết, bao gồm các chữ cái tiền cận đại, chữ tượng hình, chữ số, dấu câu và các ký hiệu riêng lẻ khác cũng như là, về nguyên tắc, các khuôn khắc và đúc rời chữ in (typography) trong in ấn. Ngành minh văn học* sẽ giúp làm sáng tỏ và phân loại các ý nghĩa của chúng theo bối cảnh thời gian và văn hóa, mặc dù nó thường thể hiện sự chống lại phương pháp phân tích văn bản lịch sử. Dù chữ viết bản địa đã và đang tiếp tục phát triển trong các nền văn hóa truyền khẩu chủ yếu vài thế kỷ gần đây, đáng chú ý là các khu vực Bắc Mỹ, châu Phi, Trung Á và Nam Á, song về cơ bản có bốn trung tâm xuất hiện chữ viết cổ và độc lập được xác định là nơi phát tích của các hệ thống chữ viết: Đó là Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc và Trung Mỹ thời Tiền Columbus. Có nhiều suy đoán về các ký hiệu và chữ viết trong các tài liệu nay đã thất truyền. Nhiều phát hiện lẻ tẻ phân bố ở Trung Đông và Trung Quốc gợi ý cho chúng ta về sự tồn tại của những truyền thống văn chương giàu có và phong phú thời cổ đại, khiến chúng ta nhận thức rõ hơn về tác động của sự mất mát đối với quá trình nhận thức sách cổ. Hệ quả không thể tránh khỏi là, những gì còn may mắn được lưu lại có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của chúng ta về nguồn gốc và các hình thức sớm nhất của sách trong lịch sử. Tuy vậy, khả năng biến dị hình thức của sách cũng khuyến khích chúng ta xem xét tính linh hoạt của hình thức sách - của các vật chứa được sử dụng để lưu lại thông tin, thần thoại, truyện kể và tín ngưỡng tôn giáo.

Những ghi chép bằng chữ tượng hình được lưu giữ tại thành phố Uruk thuộc nền văn minh Sumer cổ đại vào khoảng năm 3200 TCN thường được coi là những bộ sách đầu tiên trên thế giới. Có đến hàng nghìn tấm bảng đất sét phẳng dẹt in các ký hiệu và chữ viết biểu ý vẫn còn lại đến nay. Các ký tự hình nêm (cuneiform) ấn trên mặt đất sét này đã phát triển qua nhiều thế kỷ từ các viên đất sét (token) thời Đồ đá mới, dùng để tính toán của cải cũng như trao đổi hàng hóa và lao động. Khi số lượng các ngôn ngữ dùng chữ hình nêm tăng lên, những người ghi chép sổ sách ở thành Uruk và các thành thị khác bắt đầu thiết kế ra các bài tập chuẩn hóa dành cho các học viên, có nội dung gồm hàng trăm ký hiệu từ và số cùng hàng tá các hệ thống đo lường khác nhau, về mặt kỹ thuật, có thể nói rằng phương pháp ấn hoặc đục lỗ chữ hình nêm là hình thức in (ấn) vật lý đơn giản nhất (xem Hình 1).

Chữ hình nêm trên đất sét nung được tìm thấy ở Sippar (gần Baghdad, Iraq) khoảng năm 600-500 TCN

Hai ngàn năm trước khi chữ Latinh thống trị Đế quốc La Mã và châu Âu thời Trung cổ, chữ hình nêm đã trở thành một loại ngôn ngữ đóng vai trò “phương tiện giao lưu” phổ thông tồn tại và phát triển cùng với các ngôn ngữ và chữ viết bản địa. Giống như chữ Latinh, chữ hình nêm lan rộng khắp nơi, đến Trung Á, Bắc Phi, các lãnh thổ và hải đảo miền đông Địa Trung Hải, bao gồm cả đảo Síp. Đóng vai trò kết nối ngôn ngữ phổ thông và địa phương, các từ điển đa ngôn ngữ bằng chữ hình nêm phiên dịch các từ ngữ tiếng Sumer và Akkadia cùng các ngôn ngữ khác như tiếng Hittite, Hurri, Ai Cập, Ugarit và các ngôn ngữ Semite vùng Tây Bắc, báo hiệu sự khuếch tán của ngôn ngữ Aramaic*. Khi đi sâu hơn nghiên cứu về các sách cổ dạng này, các chuyên gia bắt đầu chấp nhận ý kiến cho rằng đã có một nền văn chương hình thành sớm tại đây. Chữ hình nêm vùng thung lũng sông Euphrates ghi lại các âm rất khác nhau của tiếng Sumer và tiếng Akkadia dùng trong hoạt động pháp lý, hành chính, trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng và các văn khắc hoàng gia. Các bảng đất sét ghi lại các chỉ dẫn, bộ luật, điềm báo, đơn thuốc và các bài giảng toán học dường như được dùng để hỗ trợ việc trang bị kiến thức, lễ nghi và hoạt động giải trí vốn thực hiện bằng lời nói. Chính sự cân bằng giữa hình thức trao đổi thông tin bằng lời và bằng văn bản này đã mê hoặc Harold Innes và ông đã thực hiện các công trình tiên phong trong ngành nghiên cứu giao tiếp và truyền thông (communications and media studies) trong những năm 1950, trong đó ông đề xuất một sự phân chia giữa các loại hình truyền thông “bền”, “gắn với yếu tố thời gian” - như bảng đất sét hoặc bảng đá - với các loại hình truyền thông “tạp”, “gắn với yếu tố không gian” như phát thanh, truyền hình và báo chí đại chúng hiện đại. [14]

Các văn khắc chữ tượng hình Ai Cập (hieroglyphic) được biết đến sớm nhất, có niên đại cùng thời với các hiện vật chữ tượng hình Sumer và chữ hình nêm, được khắc trên xương, ngà voi hay viết trên gốm sét. Được tìm thấy trong một nghĩa địa Ai Cập cổ đại tại di chỉ cư trú Abydos, các hiện vật di động cỏ nhất mang chữ tượng hình Ai Cập từng được biết đến này đặt ra nhiều câu hỏi về cách sử dụng và đọc chúng, đặc biệt xét đến sự phức tạp của hệ thống chữ viết này - một số học giả cho rằng nguyên nhân là để bảo vệ đặc quyền tri thức cho giới tinh hoa. Các hiện vật này và hàng chục hiện vật khác còn tồn tại cho ta thấy, văn hóa chữ viết đã xuất hiện, song đời sống vận động của nó thế nào thì đáng tiếc vẫn chưa được làm rõ. Vài hiện vật trong số chúng, khi gợi ý rằng đã có các ghi chép tính toán lịch pháp, nghi lễ tôn giáo hay cung đình, sẽ đem đến nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời - dù ta cũng biết rằng từ thiên niên kỷ II TCN, đã có nhiều chất liệu hỗ trợ việc ghi chép hơn. Cũng trong thời gian gần đây, có nhiều nhóm nghiên cứu đã tìm cách đơn giản hóa chữ tượng hình Ai Cập và truyền bá các bảng chữ cái mới, dễ áp dụng hơn với các ngôn ngữ khác nhau. Đến thế kỷ I, các bảng chữ cái mới đã thay thế các chữ viết hình nêm và chữ tượng hình của giới thượng lưu.

Loại hình chưa được giải mã là các hệ thống chữ tượng hình Crete và chữ Tuyến A (Linear A) nổi tiếng, xuất hiện lần đầu tiên trên các bảng đất sét ở đảo Crete (Hy Lạp) từ khoảng năm 1600 TCN. Hai thế kỷ sau, chúng được sử dụng trong các tài liệu hành chính của người Crete bằng ngôn ngữ Mycenae, một dạng Sơ khai của tiếng Hy Lạp, hiện được gọi là chữ Tuyến B (Linear B). Trên 5.500 bảng đất sét có chữ viết tượng hình đã được phát hiện ở các địa điểm Knossos, Pylos, Thebes và Mycenae, dù có lẽ chính trong giai đoạn này chúng đã phải cạnh tranh trước bước tiến của hệ thống chữ ký tự đơn giản hơn trên các phương tiện lưu trữ khác. Ostraka hay là các mảnh gốm có chữ được người Hy Lạp và Ai Cập cổ đại vạch lên hoặc viết lên bằng mực đã được sử dụng để ghi nháp, chép công thức và sổ sách kế toán ít nhất từ thời kỳ Tân Vương quốc trở đi.

Cách đó hàng ngàn dặm ở cùng thời đại này, các ký hiệu khắc trên đồ gốm được tìm thấy ở An Dương (Trung Quốc) đã cho thấy những sự hiểu biết về chiêm tinh, hành chính, lễ nghi hoàng gia và nhà nước. Lụa có lẽ đã được sử dụng làm chất liệu viết từ thế kỷ VII TCN. Trong khi đó, nhiều hiện vật sách thẻ tre và gỗ được phát hiện có niên đại sau đó khoảng hai thế kỷ, hầu hết được buộc với nhau như tấm mành thành các cuộn sách. Là một chất liệu dẻo dai, nhẹ mà cũng cứng cáp và bền bỉ, tre được chọn dùng làm sách trên hầu khắp Trung Quốc cổ đại, ngoại trừ miền bắc, nơi khí hậu không cho phép trồng được tre - và cũng bởi từ thế kỷ I, những người làm sách đã dùng cây liễu, dương, thông hoặc tì liễu để thay thế. Sách thẻ tre buộc bằng dây có thể cuộn hoặc gấp lớp, được cất trong hộp gỗ, thường được niêm phong bằng dấu đất sét ở đầu dây buộc. Các dây buộc thẻ tre thời Thương còn được thể hiện trong cách viết chữ “sách” (ce; 冊}). Trong những năm gần đây, các nhà khảo cổ học đã tìm được hàng ngàn sách thẻ tre và gỗ từ hàng trăm ngôi mộ cổ của các viên quan và học giả ở khắp các vùng miền của Trung Quốc. Lưu trữ rất nhiều văn bản khác nhau, nhiều cuốn sách vẫn ở trong tình trạng tuyệt hảo (xem Hình 2).

Một cuốn sách thẻ tre (concertina) của Trung Quốc chưa từng được biết đến: Bản sao thế kỷ XVIII của Binh pháp Tôn Tử (ra đời vào khoảng năm 544 - 496 TCN)

Cũng thú vị như các khám phá ra sách thẻ tre là việc khám phá hàng chục cuộn sách lụa trong cuộc khai quật một ngôi mộ có từ thế kỷ II TCN ở phía bắc của thành phố Trường Sa vào năm 1973*. Lụa nhẹ, bền dai, có khả năng chống thấm và linh động đã khiến nó được sử dụng để viết các bài văn và văn bản nhật dụng trong thời Hán. Những cuộn sách lụa ở Trường Sa bao gồm các bản sao Đạo Đức Kinh của Lão Tử ra đời từ thế kỷ IV TCN, một bộ sách Đạo giáo nổi tiếng khác của Trang Tử là Nam Hoa KinhChiến Quốc Sách, một bộ sử từ năm 475 TCN - tất cả các văn bản này đã giúp mở rộng các phiên bản hiện đang có thêm hàng ngàn chữ. Mặc dù có lợi thế như vậy, nhưng lụa vẫn là một vật liệu đắt tiền và người viết cũng gặp khó khăn khi muốn tẩy xóa các chữ viết sai. Do đó, giấy làm từ sợi cây gai dầu bắt đầu thay thế các thẻ tre nặng nề và lụa đắt tiền, và trong suốt sáu thế kỷ tiếp theo, đã trở thành vật liệu chủ yếu trong hoạt động sản xuất sách.

Những hiện vật giấy sớm nhất hiện còn, có lẽ được sử dụng để gói đồ chứ không phải để viết, là các mảnh giấy lấy từ một ngôi mộ ở Trường An, kinh đô của nhà Hán (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây), có niên đại khoảng năm 100 TCN. Tuy nhiên, được nhắc đến trong chính sử sáu thế kỷ sau đó là việc Thái Luân phát minh ra giấy vào năm 105 [15]. Thái Luân là một viên quan trong triều đình nhà Đông Hán được cho là đã trình tấu lên Hán Hòa Đế một phương pháp làm ra giấy. Lấy cảm hứng từ cách ong làm tổ, cách của ông sử dụng là lấy lớp trong vỏ cây dâu tằm và xơ cây gai dầu đem trộn với nước rồi giã nát*. Cuốn sách giấy lâu đời nhất còn sót lại là một bản sao kinh điển Phật giáo có tên Pháp cú thí dụ kinh được chép năm 256 (thời Tam Quốc), nhưng ít nhất một thế kỷ trước đó, chúng ta biết rằng các nhà sản xuất giấy tại Trung Quốc đã sử dụng các liềm seo dệt bằng gai chao đi chao lại trong các bể bột giấy để tạo từng tấm mỏng, sau đó trở thành giấy. Trong các thế kỷ sau, mây, rơm, đay và lanh đã được thêm vào để làm tăng độ bền và trang trí cho các tờ giấy.

Vào cuối thiên niên kỷ I, kỹ thuật in mộc bản đã cho phép các biến thể của chữ Hán phổ biến ở Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Sự truyền bá công nghệ làm giấy của Trung Quốc về phía tây cũng từng bước làm suy thoái nghề sản xuất giấy từ vỏ cây bản địa ở tiểu lục địa Ấn Độ. Sách vỏ cây dương và lá cọ, được sử dụng để ghi chép hầu như tất cả các kinh điển Phật giáo hay Hindu, đã xuất hiện ở Nam Á từ khoảng thế kỷ II TCN. Sao chép sách là công việc rất cần thiết bởi vật liệu này bị hủy hoại nhanh chóng trong khí hậu ẩm ướt, hay bởi vì chúng cũng thu hút các loài gặm nhấm và côn trùng như thu hút độc giả vậy. Bước tiến của công nghệ làm giấy tiếp tục mở rộng đến miền bắc Pakistan và sau đó là Afghanistan từ thế kỷ VI. Giấy làm bằng vỏ cây gai dầu chắc chắn đã thay thế vỏ cây dương và lá cọ ở thời điểm người Mughal xâm nhập Ấn Độ vào thế kỷ XIII*. Những cuốn sách được lưu hành rộng rãi, trong đó nhiều cuốn có nguồn gốc từ Baghdad, đã báo hiệu một kỷ nguyên mới của giao tiếp văn bản và nền văn hóa thành văn. Bảng đất sét vẫn tiếp tục được sử dụng và lưu trữ trong nhiều thế kỷ, với một giai đoạn hồi sinh dưới thời Đế chế Ba Tư vào khoảng năm 500 TCN, nhưng vật liệu này cũng đã đạt đến ngưỡng giới hạn công nghệ của nó. Kích thước khối của bảng đất sét hạn chế lượng thông tin viết được trên đó. Cồng kềnh và nặng, đất sét còn dễ bị gãy vỡ và không phải là vật liệu lý tưởng cho việc di chuyển đường dài.

Các mô tả hình ảnh và mẫu vật khảo cổ sớm nhất còn sót lại về các bảng sáp gỗ đến từ các thành phố hoàng gia Assyria vào thế kỷ VIII TCN. Chúng là tiền thân của loại bảng sáp tabula cevata thời Hy Lạp - La Mã. Để viết chữ, người ta sử dụng bút trâm bằng đồng hoặc sắt viết trên mặt bảng lõm đổ đầy sáp màu. Đuôi bút trâm bẹt cho phép là phẳng mặt sáp để tái sử dụng. Bảng có nhiều tấm làm bằng gỗ bạch dương (birch)* hay gỗ trăn (alder)* cũng rất phổ biến, được khâu lại với nhau hoặc được gấp và gắn với nhau bằng một cái kẹp. Một bức tranh tường phát hiện tại Pompeii mô tả một phụ nữ trẻ đang cầm một tập bảng sáp có bốn tấm gỗ, trong khi hiện vật những mảnh gỗ mỏng được phát hiện ở những vùng xa xôi của thế giới La Mã như tại Vindolanda ở miền bắc nước Anh có niên đại trước thời điểm xây dựng Bức tường Hadrian (khoảng năm 85-130). Một cuốn sổ nợ, tài liệu có niên đại xác định sớm nhất của nước Anh thời kỳ La Mã, năm 57, nằm trong số 400 bảng viết được tìm thấy gần đây trong một cuộc khai quật ở London, về sau, người La Mã đã thay thế giấy da bằng những tấm bảng gỗ tabula, tạo thành sổ viết hay membranae, một nguyên mẫu của sách có mặt gấp và đóng hiện đại.

Sách làm từ giấy cói (papyrus) đã từng phổ biến trong hơn ba thiên niên kỷ. Bằng chứng về giấy papyrus lâu đời nhất còn tồn tại cho đến nay thực ra là một cuộn giấy không có chữ viết tìm được trong một ngôi mộ cổ ở Memphis gần Cairo (Ai Cập) ngày nay, niên đại khoảng năm 2950 TCN. Còn bản giấy papyrus có chữ viết sớm nhất còn lại đến từ một vài thế kỷ sau đó, với ngôn từ và hình họa thể hiện nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Người Ai Cập sử dụng chữ viết tượng hình để thể hiện các danh xưng, chữ số, sự vật trên các vật phẩm và tượng đài thần linh và người cao quý. Hình thức văn bản đó tương phản với các văn bản trên giấy cói khác dùng cho công việc hành chính hàng ngày - đây là vấn đề đang ngày càng được các nghiên cứu chuyên môn quan tâm tới. Chẳng hạn, vào năm 2013, các nhà khai quật khảo cổ đã phát hiện tại di chỉ cảng Wadi el-Jarf bên bờ Biển Đỏ hàng trăm mảnh giấy papyrus, trong đó có nhiều ghi chép về hoạt động cấp phát lương thực cho người lao động. Chúng có niên đại vào khoảng năm 2550 TCN, và sau đó được tái sử dụng làm vật độn giữa các khối đá.

Giấy papyrus là vật liệu lưu giữ ngôn ngữ của nhiều dân tộc trong nhiều thế kỷ, trên thực tế kéo dài đến thiên niên kỷ I. Những tấm giấy papyrus sớm nhất còn tồn tại đến ngày nay đến từ Hy Lạp thế kỷ IV TCN. Giấy papyrus cũng được các thư lại Ai Cập sử dụng liên tục để ghi chép chữ tượng hình hay các hình thức chữ xuất hiện muộn hơn như chữ thảo Hieratic, hay chữ Demotic bình dân, bên cạnh chữ Aramaic vốn phổ biến hơn trong khu vực. Trong số những phát hiện quan trọng có 18 bản ghi chép trên giấy papyrus bằng chữ Hebrew, cùng với ghi chép bằng chữ Aramaic về việc buôn bán nô lệ từ giữa thế kỷ IV TCN, được phát hiện vào năm 1962 trong một hang động ở Wadi Dallyeh, ở khu vực Bờ Tây (Trung Đông) ngày nay. Các phát hiện này chứng minh những thay đổi to lớn trong cách các thư lại và người tiêu dùng sử dụng giấy papyrus qua từng thế kỷ. Theo truyền thống, giấy papyrus được cuộn theo chiều dài dao động từ khoảng 1,5 đến 6 mét, vốn đã rất cồng kềnh. Thế nhưng, người ta đã phát hiện ra những cuộn giấy có thể dài đến hơn 30 mét. Tuy vậy, từ thế kỷ I, nhiều nhà sản xuất và người sử dụng đã tạo ra những tập sổ bằng giấy papyrus được gập lại nhỏ gọn hơn, dễ vận chuyển hơn và dễ tra cứu hơn.

Vào thế kỷ V, nhu cầu sử dụng thoái trào và chất lượng giấy papyrus đã suy giảm. Tuy thế, việc sản xuất giấy vẫn tiếp tục sau cuộc xâm lược của người Hồi giáo vào lãnh thổ Ai Cập năm 639, và giấy papyrus vẫn được người Ả Rập ưa chuộng cho đến thế kỷ X là muộn nhất. Văn bản giấy papyrus Ai Cập cuối cùng được viết bằng tiếng Ả Rập tồn tại vào những năm 1080, khi giấy da và nghề làm giấy địa phương đã phát triển nhanh chóng. Giấy papyrus có nhược điểm là dễ bị hủy hoại trong môi trường ẩm ướt, trong khi chất liệu giấy da và giấy làm từ sợi lại ít chịu giới hạn về phương diện địa lý. Mặc dù cuộn giấy papyrus rất bền, việc đóng mở nó sẽ khiến giấy bị mài mòn. Để tránh bị bào mòn thì giấy cói chỉ được viết một mặt, nhưng điều này vẫn không hiệu quả vì nó khiến cho cuộn giấy trở nên cồng kềnh hơn và khó lưu trữ. Vì những lẽ trên nên dù sách giấy papyrus vẫn tồn tại, một số nhà sản xuất sách từ giữa thế kỷ I đã thử nghiệm việc gấp các tờ giấy da thành các tay sách tám trang (gọi là quire hay gathering), trước khi xếp và khâu chúng lại với nhau thành một cuốn sách codex.

Đến khoảng năm 300, các sách codex bằng giấy da đã trở thành hình thức sách thống trị khắp thế giới Địa Trung Hải, với Kinh Thánh là sản phẩm nổi bật nhất. Các độc giả Kitô giai đoạn Sơ kỳ ưa thích việc lật từng trang các cuốn codex để so sánh những lời chứng trong sách Phúc Âm hơn là dỡ từng cuộn giấy rườm rà và cồng kềnh ra để tra cứu. Khác với giấy da thô chưa thuộc ở giai đoạn trước đó, giấy da cuối thiên niên kỷ I, như loại giấy da thời Trung cổ, được làm sạch lông còn bám trên đó bằng cách ngâm trong nước vôi trước khi được lạng mỏng, làm căng và sấy khô, chà xát cho nhẵn mịn bằng đá bọt và cắt thành từng tấm. Giấy da trong một số cuốn Kinh Thánh xa xỉ giai đoạn Hậu kỳ cổ đại thậm chí được nhuộm màu tím, sau đó được những người chép sách viết lên bằng mực vàng hay bạc, như cuốn Codex Argenteus ra đời vào thế kỷ VI (xem Hình 3) hiện được bảo quản tại Uppsala (Thụy Điển) với 188 trong số 336 tờ sách (folio) gốc vẫn còn nguyên vẹn. Quá trình trang trí cũng diễn ra tương tự với những cuốn sách từ Hy Lạp cùng giai đoạn. Văn bản được viết bằng các chữ hoa đều đặn, rõ nét và có tính thẩm mỹ cao, chia thành nhiều cột và phản ánh các quy ước ngắt từ ngữ giai đoạn Hậu kỳ cổ đại.

Việc sách giấy papyrus chỉ bảo quản được ở những nơi có khí hậu khô ráo hơn đã minh họa cho mối quan hệ giữa khả năng tồn tại của sách thời cổ đại với điều kiện khí hậu. Thầy thuốc kiêm triết gia La Mã Galen đã xem xét vấn đề này qua một lá thư vừa được tìm lại trong một quyển thủ bản Hy Lạp độc đáo còn sót lại từ thế kỷ XV. Galen đổ lỗi cho môi trường tự nhiên của thành Rome đã gây ra thảm kịch lưu trữ, mà trong đó “giấy papyrus trở nên hoàn toàn vô dụng và thậm chí không thể dỡ ra được khi chúng phân hủy đến mức dính kết lại vào nhau. Đó là vì vùng này vừa lầy vừa trũng, lại còn rất oi bức vào mùa hè” [16]. Giấy da được làm từ da động vật đã nhanh chóng thay thế giấy papyrus làm chất liệu chính của sách codex. Làm giấy da đòi hỏi nỗ lực và chi phí lớn hơn trong quá trình sản xuất, nhưng có khả năng chống ẩm tốt hơn - và chúng thậm chí không dễ bị cháy. Các cuộn sách Biển Chết là một ví dụ. Có niên đại trong khoảng từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ I, bộ sưu tập này bao gồm một số cuộn giấy cói, nhưng hơn 85% trong số gần 1.000 cuộn giấy được làm từ da dê nuôi, bê non, dê núi và linh dương.

Ở miền bắc Ấn Độ, cuộn sách giấy (paper scrolls) được làm từ phần vỏ trong của cây bạch dương cũng như bông vải, chủ yếu được sử dụng làm các tài liệu hành chính, sách tử vi, niên giám và được cuộn lại để lưu trữ. Những mẫu vật sớm nhất được phát hiện cho đến nay là 13 cuộn sách vỏ cây bạch dương có niên đại khoảng thế kỷ I từ vương quốc Phật giáo Gandhara, nằm ở khu vực giữa Afghanistan và Pakistan ngày nay. Ở những nơi khác, các thợ chép sách Ấn Độ sử dụng lá bối đa la (talipot), một loài cọ bản địa ở miền đông, miền nam Ấn Độ và Sri Lanka. Các tấm lá bối được viết với bút trâm và mực sau khi luộc, phơi khô và đánh bóng. Hoạt động buôn bán lá bối phát triển rất sôi động, tập trung ở miền Nam Ấn. Trong đó, được nhắc đến nhiều nhất là các ghi chép về việc trồng cây đa la vì mục đích thương mại của nhà sư Trung Quốc Huyền Trang trong thời gian ông hành hương sang đất Phật vào thế kỷ VII.

Codex Argenteus, một thủ bản viết tay vào thế kỷ VI, ban đầu bao gồm cả bản dịch Kinh Thánh sang ngôn ngữ Gô-tích của Giám mục Ulfilas vào thế kỷ IV

Tuy nhiên, đến khoảng năm 1500, lá thốt nốt (palmyra) bắt đầu thay thế lá bối trở thành chất liệu của các thủ bản chép tay. Vì lá thốt nốt có độ bền cao hơn, các thợ chép sách dùng bút trâm sắt để khắc chữ. Người đọc sẽ quét lên các tấm lá này một miếng vải ngâm dầu và muội đèn, để lại mực bám vào các chữ được khắc. Dây được xâu qua các lỗ trên lá, làm thành những tập sách lá bối và lá thốt nốt có kích cỡ dài hẹp đặc trưng.

Rất nhiều tạo vật khác tìm được ở Trung Đông, vùng Địa Trung Hải và Ấn Độ cổ đại cũng như các vùng khác nhau của Trung Quốc, đang chờ có những phân tích ngữ cảnh (contextual analysis) đầy đủ hơn. Tuy nhiên, điều cuốn hút các nhà sử học nghiên cứu sách cổ hơn cả lại là những cuộc khai quật và giải mã các hệ thống chữ viết biểu tượng ở châu Mỹ thời Tiền Columbus đang diễn ra. Nhiều phát hiện mới đang làm lung lay các khái niệm hiện đại về sách và làm gia tăng mức độ phức tạp của tri thức vốn có về mối quan hệ giữa ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói, trong đó nhiều cuốn sách chứa đựng chữ tượng hình Aztec và Mixtec dường như không có sự kết nối với các hệ thống ngôn ngữ. Trong số các cụm văn bản viết khác nhau tại Trung Mỹ, chữ viết Maya khoảng hai thiên niên kỷ trước được giải mã rõ ràng nhất. Giải mã được ít hơn là chữ viết vùng Eo đất Tehuantepec (Isthmian) xuất hiện vào khoảng thế kỷ I, của nền văn minh Olmec và Zapotec vào thiên niên kỷ I TCN.

Ghi chép văn bản ở Trung Mỹ đã có lịch sử khoảng 3.000 năm, với một ví dụ là Phiến đá khắc Cascajal, được tìm thấy tại Veracruz (Mexico) vào năm 1999, có niên đại thuộc về nền văn minh Olmec khoảng năm 900 TCN. Tuy nhiên, khối lượng nặng đến 22kg* của nó lại quá kém di động nên không thể coi là một cuốn sách được. Dù vậy, văn bản chưa được giải mã gồm 62 ký tự và chữ tượng hình cách điệu của phiến đá gợi ý về sự tồn tại một nền văn hiến cổ đại ở Trung Mỹ, có các văn bản viết và bản rập khắc đá linh động hơn, nhưng cũng dễ hỏng hơn và không còn lưu lại đến nay. Tương tự như vậy, các ngôn ngữ và chữ viết tượng hình có niên đại muộn hơn trên hàng ngàn công trình xây dựng và đền đài của người Zototec, Mixtec, Aztec và Maya cũng gợi mở về sự tồn tại của các thư lại và họa sĩ, một số thậm chí có lưu lại danh xưng rõ ràng trong các “thẻ tên”. Hình tượng thư lại còn được khắc họa trên đồ gốm văn minh Maya thời kỳ cổ điển (khoảng năm 250 - 900). Ngoài ra, hình ảnh các khay mực làm bằng vỏ ốc xà cừ và mũ còn được khắc họa và trang trí bằng bút lông. Cuộc khai quật một thư xưởng tại Aguateca ở Guatemala năm 1993 và những phát hiện khác sau đó cho thấy có thể đã từng tồn tại một mạng lưới “nhà sản xuất sách”. Cùng với các minh văn, các nhà khảo cổ học còn thu được các chày nghiền bột màu và các khay mực bằng vỏ ốc. Tên của một người chủ quyền quý ghi trên một khay mực là bằng chứng quan trọng cho thấy các thư lại Maya có địa vị cao và có thể mang cả dòng dõi hoàng gia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều chưa được biết đến, nhất là mối liên hệ giữa truyền thống điêu khắc đền đài cổ xưa hơn với việc làm sách dễ đọc và linh động hơn.

Thật đáng ngạc nhiên và cũng thật thất vọng khi có rất ít sách vở thuộc các nền văn minh Mesoamerica còn tồn tại đến ngày nay, mà tất cả - chỉ khoảng 20 cuốn - đều có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI. Niên đại đã xác định cũng chỉ là tương đối. Một thủ bản của người Mixtec còn tồn tại, được gọi là Codex Cospi, có niên đại từ năm 1350 đến năm 1520 và bao gồm khoảng 20 trang sách dạng gấp bằng da dê (xem Hình 4). Một cuốn sách của người Maya hiện mang tên Codex Madrid được làm từ một dải vỏ cây vả dài gần 7 mét, chứa các tài liệu lịch pháp, thiên văn và tiên tri được 8 đến 9 vị thư lại khác nhau thu thập từ nhiều nguồn. Các nghiên cứu gần đây xác nhận rằng cuốn sách này, giống như rất nhiều cuốn sách tương tự khác còn tồn tại, chứa đựng một phả hệ lịch sử lâu dài và gợi ý rằng chúng đã được sao chép, bổ sung qua nhiều thế hệ. Sách cổ vùng Trung Mỹ cho thấy chúng là một phương tiện chuyển tải ký ức tập thể rất tinh vi, mà việc tạo lập và quyền tiếp cận chúng đến nay vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.

Ngày nay khi đã bị tách rời khỏi các không gian chức năng nguyên thủy, những cuốn sách này cũng là những ví dụ đáng chú ý cho thấy nhận thức về nội dung ý nghĩa của sách có thể bị gián đoạn qua thời gian, qua các giai đoạn khác nhau, lúc thì bị lãng quên, khi lại bị hiểu lầm và lúc khác thì được quan tâm trở lại ngày một nhiều. Con số rất ít những cuốn sách còn sót lại của văn minh Mesoamerica ở Trung Mỹ thời Tiền Columbus này hiện đang được lưu giữ trong các bộ sưu tập sách tại châu Âu, nơi chúng bị bỏ quên trong một thời gian dài cho đến khi được phát hiện lại vào thế kỷ XIX.

Codex Cospi, một thủ bản dạng tranh vẽ của nền văn minh Mesonamerican (khu vực Trung Mỹ) thời Tiền Columbus, được cho là bắt nguồn từ khu vực Puebla-Tlaxcala

Chắc chắn, những đồ tạo tác và những cuốn sách cổ như vậy không nên bị coi là “nguyên thủy”, mà nên được hiểu theo hướng giúp bổ khuyết và làm vững chắc thêm hiểu biết của chúng ta về vai trò của các hình thức đồ họa trong giao tiếp. Nghiên cứu về các hình thức sách cổ, vốn dường như kỳ lạ và bí ẩn đó, giúp ta biết cách giải mã những nỗ lực sâu rộng của con người trong suốt tiến trình lịch sử và trên mọi không gian địa lý. Những cuốn sách cổ này còn thách thức các giả định trong vài thế kỷ qua của chúng ta về tính hiệu quả, tính hiệu lực và bối cảnh lịch sử cụ thể của sách, đặc biệt, trong bối cảnh chúng đã bị dịch chuyển khỏi địa điểm ban đầu nơi chúng được làm ra, được đọc và được lưu giữ. Lấy ví dụ các nghiên cứu đang thực hiện về sách da thú của người Lakota ở vùng đồng bằng Bắc Mỹ. Được biết đến với tên gọi “lịch mùa đông” (winter counts), các bộ biên niên sử cộng đồng này được vẽ trên da trâu, da hươu và da bò mô tả hình ảnh sự kiện lâu đời nhất ở trung tâm, mở ra ngoài theo đường xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ cho đến sự kiện sớm nhất. Giống như sách cổ Trung Mỹ, hầu hết các tấm “lịch mùa đông” hiện nay không còn thuộc về các cộng đồng từng sở hữu chúng và nội dung hàm chứa thông tin về các sự kiện xảy ra cách đây nhiều thế kỷ. Có tới 100 tấm “lịch mùa đông” vẫn còn được lưu giữ trong các bảo tàng quốc gia và địa phương, với niên đại và chủ đề rất khác nhau.

Việc bị tách rời khỏi không gian bản địa cũng ảnh hưởng đến khả năng diễn giải dưới dạng thức của sách như các chuỗi hạt (beads strings) và chuỗi thắt nút (knotted strings) ở nhiều vùng khác nhau tại châu Mỹ. Chuỗi wampum (wampum beads) là chuỗi các vỏ sò hay vỏ ốc xâu thành dây đai đóng nhiều vai trò hơn là một đơn vị tiền tệ trao đổi của người bản địa Bắc Mỹ. Các cộng đồng người Mỹ bản địa cho rằng chuỗi wampum còn sử dụng để ghi chép và truyền đạt các truyện kể, các sự kiện lịch sử và giao ước, cũng như là làm quà biếu lễ. Germaine Warkentin, trong công trình tiên phong về lịch sử của sách Sơ kỳ, đã dựa trên kết quả các nghiên cứu về chuỗi wampum của mình chất để vấn lại khái niệm và gốc gác của sự “viết” và sự “đọc”. Bà cho rằng vấn đề quan trọng nhất là việc phân biệt xem các nền văn hóa có hay không có biểu hiện tính chất “sách vở” (bookishness). Ở đây tính chất “sách vở” được nhìn nhận trên phạm vi rất bao quát, kéo giãn và chồng lấn giữa văn tự dựa hên hình ảnh (biểu tượng ký hiệu tiền ngữ âm; semasiographic) với dựa trên ngữ âm (biểu thanh; phonographic), vốn bao gồm các hệ thống văn tự ngữ tố (logographic), âm tiết (syllabic) và ký tự (alphabetic) có giá trị bản địa [17]. Dù sao thì các nghiên cứu về chuỗi wampum đã hướng lịch sử của sách đến những trải nghiệm và hành vi văn hóa bao quát và sâu sắc hơn, đồng thời giúp đặt lại các câu hỏi nghiên cứu: Thế nào là sách, phả hệ, sự truyền bá và chức năng của chúng? Những người nào đã làm những gì với chúng, ở những thời điểm nào, bằng cách nào và tạo ra tác động gì? - Đó là những vấn đề được đề cập đến ở các chương sau trong cuốn sách này.

Cách xa hàng ngàn dặm về phía nam, các thư lại của nền văn minh Inca Nam Mỹ đã tạo ra hình thức ghi chép bằng dây thắt nút rất phức tạp, gọi là khipu trong tiếng Quechua, tiền thân của chúng đã xuất hiện từ thế kỷ VII hoặc thế kỷ VIII. Khoảng 600 hiện vật khipu còn lại đến ngày nay có niên đại từ khoảng năm 1400 đến 1530, một số thu thập được trong các cuộc khai quật khảo cổ, đặc biệt trong các ngôi mộ cổ. Giống như các mảnh gốm ostraka ở Hy Lạp và Ai Cập, khipu cũng xuất hiện trong thị trường buôn bán cổ vật bất hợp pháp. Dây khipu được bện từ sợi bông hoặc lông lạc đà và được nhuộm màu, dù đến nay người ta vẫn chưa hiểu hết được ý nghĩa của những màu sắc đó. Khoảng 80% những chuỗi văn bản khipu còn tồn tại (về cơ bản) ghi lại số liệu và các phép tính. Nhưng phần còn lại được cho là mang các ghi chép có tính tường thuật. Việc giải mã khipu mới chỉ ở mức cơ bản và vẫn chưa làm hài lòng các nhà nghiên cứu, nhưng chúng ta cũng có các bằng chứng hấp dẫn về việc sử dụng chúng qua tư liệu thời kỳ thuộc địa, và việc so sánh sự trùng khớp giữa các phân đoạn khipu khác nhau đang mời chào các nỗ lực diễn giải mới. Trong những năm đầu sau cuộc chinh phục của Tây Ban Nha ở Trung và Nam Mỹ, nhờ dễ di chuyển, có thể điều chỉnh được và thích hợp với nhiều cách sử dụng khác nhau, khipu từng được coi như chứng cứ được chấp nhận tại các tòa án thực dân, cho tới khi chúng không còn được sử dụng nữa vào giữa thế kỷ XVI. Các ghi chép còn lại về các nhân chứng và bị cáo đang đọc dây khipu của họ - thường không cần phải nhìn vì họ dùng ngón tay lướt qua các nút thắt. Một trong những chuỗi khipu dài nhất được biết đến gồm có 762 dây, dường như đã được sắp xếp theo lịch đại với 730 dây được nhóm lại thành 24 cụm, mỗi cụm gồm khoảng 30 dây.

Khi nghiên cứu những cuốn sách cổ như vậy, chúng ta phải biết rằng ngay từ “cổ” đã bao hàm trong đó một khoảng thời gian đằng đẵng; đã, đang và sẽ được khám phá lại và giải thích lại, thường là sau quá trình loại bỏ các tàn dư thực dân. Nhiều phát hiện quan trọng được bắt rễ từ làn sóng khai quật khảo cổ trong thế kỷ XIX, nhưng các kỹ thuật khai quật phục hồi điện tử gần đây đã tạo ra các kết quả tiến bộ hơn. Ví dụ từ việc đọc các văn bản đã bị đốt cháy và chôn vùi ở thành phố Herculaneum thời La Mã, đến việc giải mã chữ hình nêm Trung Đông và minh văn Trung Mỹ bằng phân tích kỹ thuật số, thao tác lắp ráp và so sánh. Những vấn đề này được thể hiện rõ trong trường hợp một hiện vật nổi tiếng là Codex Sinaiticus. Cuốn sách có niên đại từ giữa thế kỷ IV với 400 tấm giấy da còn lại đến ngày nay, là một trong những bộ Kinh Thánh tiếng Hy Lạp sớm nhất và hoàn chỉnh nhất. Được phát hiện lại tại Tu viện Thánh Catherine ở bán đảo Sinai (Ai Cập) vào năm 1844, cuốn codex này đã góp phần khơi dậy mối quan tâm đến sách cổ trong thế kỷ XIX. Nó cũng bị tách rời khỏi không gian bản địa và di chuyển đi rất xa, bị chia lẻ thành nhiều phần nằm rải rác trong các thư viện ở London, Leipzig và Saint Petersburg. Một số phần khác chưa từng được biết đến của cuốn sách cũng được phát hiện tại tu viện này vào năm 1975, chứng minh rằng chúng ta có thể đã làm thất tán, bỏ quên hoặc không nhận ra giá trị của những tài liệu quý giá đó. Một phiên bản kỹ thuật số được thiết lập nhờ sự hợp tác quốc tế đã giúp bổ khuyết nội dung văn bản, giúp người đọc so sánh hình ảnh các trang sách và kết cấu giấy da dưới các góc ánh sáng chính diện và chiếu nghiêng.

Sự mất mát của các sách mở đầu Kinh Cựu Ước trong bộ Codex Sinaiticus nhắc nhở chúng ta một lần nữa rằng, sự mất mát có ảnh hưởng đáng kể đến tri thức. Tương tự như việc khám phá trở lại các tri thức cổ đại trong thời Phục Hưng, việc tái phát lộ những văn bản như vậy sau nhiều thế kỷ bị lãng quên và che giấu chứng thực cho những lỗ hổng của các tri thức hiện có. Yêu cầu cấp bách phải phục hồi, cũng nhu các tranh luận về quyền sở hữu và quyền truy cập chúng cũng trở thành một phần trong lịch sử văn bản và giao tiếp. Trong khi đó, cơ hội có các khám phá mới tương tự ở một số nền văn hóa khác lại có vẻ xa vời. Ở Nam Á, sách từ vỏ cây bạch dương và lá cọ bị hủy hoại thường xuyên trong môi trường nóng ẩm của tiểu lục địa Ấn Độ. Dù một số thủ bản được sao chép lại định kỳ trước khi được tiêu hủy theo nghi thức, vẫn chỉ có rất ít bản thảo từ thời cổ đại ở Ấn Độ còn lưu giữ được đến ngày nay, có chăng chỉ còn lưu giữ được vài phần rời rạc, như trường hợp 13 cuộn sách từ thế kỷ I vốn chỉ là một phần nhỏ của kinh điển Phật giáo vùng Gandhara. Khả năng bảo quản hạn chế này khiến chúng ta thất vọng vì không hiểu biết được nhiều về quy mô của nền văn hóa sách thời cổ đại cũng như mối quan hệ giữa lưu hành văn bản và văn hóa truyền khẩu. Thay vì mô tả một con đường phát triển liên tục hay tuyến tính, lịch sử của sách bao hàm các mô tả đứt đoạn về sự chôn vùi và tái khám phá, vô minh và giác ngộ - hoặc giác ngộ thấu triệt. Nó luôn đón chào những tiếp cận lịch sử xã hội mang tính dài hạn (longue durée) của lịch sử thành tựu tri thức vốn phát triển không đều, bất định, luôn có khả năng xét lại và đánh giá lại những hiểu biết sẵn có.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »