Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
phạm vi lĩnh vực lịch sử của sách

❊ ❊ ❊

Khi đã được công nhận rộng rãi là một nỗ lực học thuật liên ngành, “lịch sử của sách” (the history of the book) chỉ chính thức bắt đầu đời sống hiện đại của nó vào những năm 1980. Tuy vậy, ta cũng cần chú ý rằng lĩnh vực tri thức này đã khởi nguồn từ nhiều thế kỷ trước. Cho đến ngày nay, “lịch sử của sách” hay rộng hơn là “lịch sử thư tịch” là nguồn cảm hứng cho nhiều nghiên cứu về hệ quả lịch sử của hoạt động tạo tác, phổ biến và tiếp nhận văn bản, xét trong tất cả các hình thức vật chất của chúng, ở khắp các xã hội cũng như thời đại lịch sử.

Nếu chia tách riêng lẻ từng vấn đề ra thì chúng không phải là những chủ đề nghiên cứu mới mẻ. Dù các học giả thuộc hàng loạt chuyên ngành khác nhau đang sử dụng danh xưng “lịch sử của sách” với tần suất lớn hơn nhằm mở ra các câu hỏi nghiên cứu hóc búa hơn về ý nghĩa và chức năng của sách trong lịch sử, thiết lập những quan điểm mới mẻ, đồng thời thúc đẩy một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành giúp mở rộng và xét lại các phương pháp và kết luận cũ. Về nhiều mặt, đề xuất cuối cùng này là khía cạnh hiệu quả nhất trong hoạt động nghiên cứu, khi nó kết hợp một đội ngũ rất đa dạng tham gia vào thảo luận và hợp tác nghiên cứu: các sử gia thuộc lĩnh vực văn hóa và xã hội, nhà nghiên cứu và phê bình văn học, người quan tâm đến lý thuyết và thực hành biên tập văn bản, nhà thư tịch, nhà nghiên cứu bản thảo (codicologist), nhà cổ văn tự học (palaeographer), nhà nghiên cứu văn khắc (epigrapher), nhà văn hiến học (philologist), các thủ thư quản lý các sưu tập tài liệu quý hiếm, đặc biệt là, các nhà bảo tồn sách, nhà ngôn ngữ học, dịch giả, các nhà nghiên cứu lịch sử của khoa học, lịch sử tư tưởng và nghệ thuật, nhà nhân học, khảo cổ học, chuyên gia truyền thông và nghiên cứu về truyền thông đồ họa. Bằng các phương pháp khác nhau, các nhà nghiên cứu này tham gia nghiên cứu văn bản như là các sản phẩm dưới dạng vật chất tạo ra bởi quá trình cộng tác trong thiết chế con người. Cùng với ngôn ngữ, những văn bản vật chất và thông tin mà chúng thể hiện là những công cụ sẵn có mạnh mẽ nhất để xây dựng nên lịch sử của ngành ngữ nghĩa học (a history of meanings).

Chúng ta cũng cần phải đánh giá phạm vi lịch sử của sách theo bề rộng thời gian. Đó là một lịch sử đã kéo dài 5.000 năm, không chỉ đơn giản là lịch sử về những thủ bản (codex) chép tay trên giấy hay chỉ là về sách in, đó là lịch sử về cách mà các cộng đồng người ở các khu vực khác nhau trên khắp thế giới, bằng những phương thức khác nhau, vì những lý do khác nhau và những kết quả rất khác nhau, đã đấu tranh để lưu giữ, lưu hành, thu nhận tri thức và thông tin. Việc cân bằng giữa các mục tiêu này, cùng các cân nhắc khác về thực tiễn, hoàn cảnh địa phương và tư tưởng, đã ảnh hưởng đến việc lựa chọn chất liệu cũng như hình thức để ghi chép, vận chuyển, đọc và bảo quản ít nhất là từ thiên niên kỷ IV TCN, niên đại sớm nhất của hiện vật còn tồn tại và được một số học giả công nhận là cuốn sách hoàn chỉnh đầu tiên. Tương tự, cuốn sách mà độc giả cầm trên tay sẽ cố gắng chứng minh rằng, các vận động trong lịch sử của sách có tính toàn cầu, với hàng loạt công trình và dự án nghiên cứu mới đang đóng góp cho nỗ lực mô tả lịch sử của sách ở châu Phi, Nam Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Á và Nam Á, bên cạnh các khu vực cổ điển trong nghiên cứu. Ta cũng sẽ hiểu thêm rằng, một động lực rõ ràng và đang phát triển trong những diễn ngôn về lịch sử của sách là nhằm vượt khỏi những giới hạn địa-chính trị mang tính quốc gia-dân tộc, đế quốc chủ nghĩa hoặc các yếu tố khác - vốn là các đơn vị nghiên cứu theo truyền thống và thực dụng nhất - để theo đuổi và khẳng định quan điểm của ngôn ngữ học, mỹ học, đại dương học và tinh thần hậu thực dân, đó là livres sans frontiers - sách không biên giới. Thậm chí, không rõ ràng lắm ta còn có livres sans lecteurs, tức là sách không độc giả, mô tả kinh nghiệm của con người với sách trong lịch sử có liên quan đến hoạt động nhận thức hoặc sử dụng sách, nhưng không liên quan đến hoạt động đọc sách.

Những động lực mới này đã đưa toàn bộ lịch sử của sách vào sự phát triển của chính khoa học lịch sử, vừa mang lại những đóng góp quyết định cho sự phát triển của nghiên cứu lịch sử giai cấp, dân tộc, giới và cảm xúc, vừa nhận thức lại lịch sử của tư tưởng, cách mạng, chính trị quốc gia và địa phương, đức tin và tôn giáo, của ngoại giao và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu bên trong và bên ngoài đối tượng là cuốn sách vốn có tính vật chất, cùng một khối lượng đáng kinh ngạc các nguồn dữ liệu ngoài văn bản sẽ hỗ trợ cho việc xây dựng các diễn ngôn lịch sử mới về hoạt động kiểm duyệt, bản quyền, khía cạnh kinh tế và địa lý của hoạt động xuất bản, mạng lưới phân phối, hoạt động sử dụng thư viện. Chúng cũng đóng góp cho hoạt động phân tích nguồn văn bản trong nghiên cứu các diễn ngôn lịch sử của sự đọc và tiếp nhận thông tin. Lịch sử của hoạt động sản xuất, lưu hành và truyền bá ảnh hưởng của sách giao thoa và thúc đẩy các nghiên cứu về diễn ngôn lịch sử của cách mạng, tư tưởng, niềm tin và thực hành tôn giáo, diễn ngôn lịch sử xã hội của tri thức, lịch sử của tính xã hội và hành vi cá nhân thân mật.

Từ đầu thập niên 1990, dựa trên một di sản đa dạng, hàng loạt chương trình học về lịch sử của sách, nhiều trung tâm nghiên cứu lịch sử của sách cũng như các dự án xuất bản nhiều kỳ đã bùng nổ ở Anh, Pháp, các nước châu Âu, Hoa Kỳ và khu vực Australasian (bao gồm Australia, New Zealand, New Guinea và các quần đảo cận kề trên Thái Bình Dương). Hầu hết những người tiên phong của ngành này, từ những năm 1980 đã hướng sự chú ý vào châu Âu và Bắc Mỹ trong kỷ nguyên in ấn*. Trong bài tiểu luận năm 1982 của mình mang tên What is the History of Books? (Thế nào là Lịch sử của thư tịch?), Robert Darnton đã đề xuất rằng: “Lĩnh vực này thậm chí có thể được gọi là lịch sử xã hội và văn hóa truyền thông bằng phương thức in ấn” [1]. Trong hơn một thập niên, các nhà nghiên cứu về thời kỳ Trung cổ và cổ ngữ học đã dựa trên các nghiên cứu trước đó để dẫn dắt nhiều dự án hợp tác xuất bản và nghiên cứu về lịch sử của sách ở quy mô lớn hơn, đa phần ở phạm vi quốc gia.

Việc xác lập tên gọi cho ngành học này có ý nghĩa to lớn. Lịch sử của sách vừa hưởng lợi lại vừa là nạn nhân của thái độ coi trọng hình thức trong thiết chế học thuật. Dù khái niệm “history of the book” có lẽ được dịch từ một khái niệm xuất hiện sớm hơn là “histoire du livre”, nhưng các truyền thống đa dạng trong nghiên cứu thư tịch học, văn học, sử học đã tác động đến sự phát triển của nghiên cứu lịch sử của sách tại các khu vực khác nhau trên thế giới. Việc hiểu thấu đáo cách truyền đạt ngữ nghĩa thông qua văn bản thuộc phạm vi nghiên cứu lịch sử của sự đọc, nhưng bản thân nó lại phụ thuộc vào nhiều phương pháp lý thuyết, các loại nguồn tư liệu cũng như quan điểm lý thuyết khác nhau.

Dù in ấn thống trị xuyên suốt lịch sử xuất bản sách, bản thân in ấn - gồm từ ngữ và hình ảnh - lại không phải là phương tiện giao tiếp đồ họa duy nhất từng được sử dụng để truyền tải thông tin. Văn bản còn có thể được khắc, ấn, ghi, viết, vẽ, dát, tạo khối hoặc in rập chữ, chạm khắc, in bản đúc, in thạch bản, hoặc sao chép ảnh ấn hay in kỹ thuật số v.v… Một ví dụ khác biệt đáng chú ý so với các diễn ngôn phổ biến về lịch sử của sách cuối thế kỷ XX là các nhà sử học nghiên cứu lịch sử tạo ra sách trong nhiều thế kỷ ở khu vực mà ngày nay bao gồm Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bangladesh và Sri Lanka đều có đối tượng nghiên cứu chính là lịch sử truyền bá các thủ bản chép tay. Việc tạo lập văn bản viết tay là hình thức văn bản duy nhất cho đến tận giữa thế kỷ XVI; và vẫn còn được ưa chuộng ở Nam Á cho đến đầu thế kỷ XIX, gần ba thế kỷ sau khi các nhà truyền giáo Cơ Đốc du nhập máy in chữ đúc rời vào miền Tây của Ấn Độ. Các văn bản cổ viết bằng chữ Phạn (Sanskrit) còn lưu giữ được có số lượng lớn hơn nhiều so với số lượng văn bản có độ tuổi tương đương viết bằng tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp.

Nhìn rộng hơn, dù các nhà sử học văn hóa và các nhà thư tịch học danh tiếng như Roger Chartier, Robert Darnton hay D. F. McKenzie đã công bố những nghiên cứu tiên phong về nhiều khía cạnh của lịch sử thư tịch từ những năm 1980 và 1990, giới nghiên cứu văn học mới tạo ra tác động thực sự đến sự phát triển của lĩnh vực này sau đó. Vào cuối thế kỷ XX, đối tượng và thao tác kỹ thuật trong phê bình văn học đã phân hóa thành nhiều nhánh. Khi các phương pháp tiếp cận lý thuyết mới phát triển trong nhiều khoa văn học trên khắp châu Âu và châu Mỹ, một số học giả vì phải từ bỏ nghiên cứu lý thuyết thuần túy đã kết nối khía cạnh nghiên cứu lịch sử của họ với lịch sử của sách. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một loạt cách tiếp cận mới với biên độ rộng lớn trong nghiên cứu văn học và phê bình văn bản cũng đóng góp vào nghiên cứu lịch sử quyền tác giả, lịch sử hoạt động xuất bản cũng như hoạt động tiếp nhận tri thức.

Ngoài khía cạnh nghiên cứu được mở rộng nhờ vào các văn bản kinh điển trong kho lưu trữ truyền thống, hoặc những gì trên thực tế vẫn hiện diện như là một “truyền thống lớn”, bản thân tính kinh điển vẫn thu hút được mối quan tâm rộng rãi. Một kinh điển văn học, và đặc biệt là những gì, theo cả hàm nghĩa tích cực lẫn tiêu cực, được gọi là “kinh điển phương Tây”, là tập hợp các trước tác, tác phẩm nghệ thuật và âm nhạc được thừa nhận phổ biến như là tác nhân lớn nhất trong việc định hình nền văn hóa. Lịch sử của sách hỗ trợ nhận diện và phân tích yếu tố “đại chúng”, “thiểu số”, “đặc thù thể loại” trong văn học, cùng với các ngành nghiên cứu về phụ nữ, giới, dị tính và tộc người. Những diễn ngôn lịch sử của sách phục hồi các yếu tố phi kinh điển, hay như nhà phê bình Margaret Cohen gọi bằng một hàm ý châm chọc là “những tác phẩm vĩ đại chưa được đọc” [2]. Việc nhiều khoa văn học giờ đây nhường chỗ cho các khoa Nghiên cứu Văn hóa, bao gồm cả nghiên cứu phim ảnh và truyền thông, đã và đang khuyến khích tạo thêm giao điểm mới với lý thuyết văn học, lý thuyết giới và văn chương của các ngôn ngữ ít quen thuộc, cũng như đổi mới góc nhìn của thế giới về những gì có thể dịch thuật và những gì không thể dịch thuật. Hệ quả của khuynh hướng học thuật này đã làm sống lại quan điểm lịch sử, đặc biệt là quan điểm lịch sử xã hội trong nghiên cứu văn học. Trong rất nhiều ví dụ nổi bật, Michael Warner và David Shields đã khéo léo diễn giải lại lịch sử của văn học, văn hóa và tri thức châu Mỹ thời kỳ lập quốc dựa trên các bằng chứng rất bao quát về cuộc bút chiến, xung đột và trao đổi được phản ánh qua tác phẩm in ấn, trong đó Shields “khám phá ra trong lịch sử của sách một sân khấu cho hoạt động xuất bản các bản viết tay” [3]. Nhờ kết quả của các nghiên cứu này mà lĩnh vực lịch sử của sách đã nhận được nhiều sự quan tâm và tiếp tục lan tỏa.

Trong những năm gần đây, một làn sóng khác trong nghiên cứu lịch sử của sách vận động theo hướng so sánh có chủ đích hơn, nhấn mạnh các điểm nhìn phi châu Âu, ngoại Bắc Mỹ và hậu thực dân. Các nghiên cứu lịch sử mới mẻ đề xuất những đối sánh ở góc độ toàn cầu theo các cách thức dù chưa hoàn thiện nhưng bất khả thi nếu không có nền tảng tích lũy chuyên sâu từ các nghiên cứu về lưu trữ và thư tịch địa phương cũng như quốc gia. Trong khi, trước mắt là những câu hỏi mới về quá trình tạo tác, lưu hành và tiếp nhận thư tịch xuyên lục địa, xuyên đại dương, hoặc câu hỏi về các sáng tạo được bản địa hóa và truyền tải tri thức phi tập trung. Lịch sử của sách ở mọi khu vực, mọi thời kỳ còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết về hoạt động xuất bản sách vì mục đích thương mại: Đầu tư in một cuốn sách như thế nào, một cá nhân hoặc cộng đồng đáp ứng chi phí nhân công ngành xuất bản và mua sách bằng cách nào và vì lý do gì, rồi điều gì giải thích các mức độ nhu cầu khác nhau?

Cuốn sách này xác định những ẩn số, những mẫu hình nghiên cứu khác nhau, từ đó chỉ ra những thách thức trong tương lai. Đặc biệt, các so sánh phương Tây và phi phương Tây sẽ kiểm nghiệm hiểu biết của chúng ta về sự giống và khác nhau giữa hoạt động xuất bản thương mại với hoạt động xuất bản phi thương mại; về hoạt động xuất bản của các tổ chức với hoạt động xuất bản tư nhân; về vai trò của hoạt động in ấn sách với ấn phẩm khác không phải sách, bằng phương pháp in hoạt bản, in mộc bản, in khắc lõm với các phương pháp khác; cùng các hệ quả có tính tương đối của hoạt động xuất bản, phát hành và thậm chí các thực hành đọc khác nhau. Lấy ví dụ, nghiên cứu về kỹ thuật in mộc bản ở châu Á làm đa dạng thêm diễn ngôn một chiều về lịch sử ngành in ấn châu Âu khi gợi ý rằng, kỹ thuật đúc chữ chì, sắp chữ, hiệu chỉnh và tháo chữ khỏi khuôn sau khi in không phải lúc nào cũng là kỹ thuật in ấn hiệu quả nhất xét về mặt kinh tế. [4]

Kết hợp lại với nhau, các diễn ngôn lịch sử của sách ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới góp phần tạo ra nhiều hệ thống tri thức học thuật mới mẻ, từ lịch sử hoạt động thu thập tin tức và báo chí quốc tế, đến lịch sử toàn cầu của từng công trình/tác phẩm cụ thể, hay lịch sử toàn cầu của chuyển giao công nghệ và tri thức. Lịch sử của sách giúp kiến tạo tri thức mới, xét lại, đã chỉ ra vấn đề và giúp đào sâu hơn các tự sự rộng lớn về thực hành, hành vi và tính chính danh, bao gồm các diễn ngôn lịch sử đa dạng về những cuộc lật đổ, cách mạng, cải cách và chinh phạt. Người ta dễ nhận ra các nghiên cứu về hoạt động tạo tác, lưu hành và tiếp nhận sách trong những khám phá gần đây về lịch sử nghi lễ, ngôn ngữ, khiếu hài hước và cảm xúc. Việc hiểu biết về sức mạnh mang tác động biến đổi của sách, đặc biệt là các văn bản in và viết tay bản địa đã có nhiều đóng góp trong cuộc tranh luận về sự kiến tạo truyền thống dân tộc, quá trình tưởng tượng các cộng đồng, quá trình tiếp xúc thực dân, nghiên cứu hậu thuộc địa và nghiên cứu yếu thế (subaltern).

Dù sao thì các tranh cãi và phê bình đã và vẫn luôn song hành với lịch sử của sách, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, mở ra nhiều cuộc tranh luận lôi cuốn xoay quanh vấn đề phương pháp luận và các giả định. Lịch sử học, dù vô thức hay cố ý, vẫn gắn trọng tâm vào một số các giá trị phổ biến. Bởi vậy nên nhiều nghiên cứu có ảnh hưởng về lịch sử của sách đã bị phê phán là lỗi thời, hoặc chỉ mô tả lịch sử theo góc nhìn mục đích luận*. Những nhà nghiên cứu lịch sử của hoạt động sản xuất và tiếp nhận sách cũng phản đối việc không xem xét áp dụng các phương pháp tự sự cấp tiến hơn. Họ lập luận rằng, một số công trình đã cố tình diễn giải lịch sử như một con đường phát triển không thể tránh khỏi dẫn đến thời hiện đại, cũng như cố ý cộng gộp tất cả những khác biệt cục bộ hoặc khác biệt quan trọng vào một tổng thể toàn cầu hóa. Một số học giả khác lại chỉ trích theo hướng ngược lại. Trong cuốn sách cuối cùng của mình mang tên Divine Art, Infernal Machine (Nghệ thuật thiêng liêng, Cỗ máy địa ngục), Elizabeth Eisenstein cảnh báo về “thái độ nghi hoặc dễ thấy khi bàn đến lịch sử công nghệ phương Tây. Thái độ lạc quan hân hoan quá độ cùng với tư tưởng về tiến bộ lịch sử và những quan điểm mang màu sắc chủ nghĩa Whig* về tiến trình vận động lịch sử đã trở nên lỗi thời” [5]. Tuy vậy, mối quan tâm tới hạn chế đối với sự phát triển đó sẽ được thảo luận trong phần tiếp theo của cuốn sách.

Nói thẳng thắn, với một số nhà quan sát, thậm chí một số người tham gia tranh luận, không phải tất cả các hoạt động nêu trên đều thuộc “sử học” chính thống. Và với một số người, chính việc chúng không phải là “sử học” mới là yếu tố quyết định. Sử học xem xét hồi cứu các trải nghiệm của con người trong quá khứ. Trong khi đó, một số nghiên cứu về lịch sử của sách lại có khả năng vượt qua cái ranh giới nghiêm ngặt đó của khoa học lịch sử, giống như cách nhiều nghiên cứu trong ngành “lịch sử của nghệ thuật” (history of art) hay kể cả “lịch sử của tư tưởng” (history of ideas) đã thực hiện: Tập trung vào câu hỏi nghiên cứu về vấn đề thẩm mỹ, vật chất hay triết học, hơn là chỉ tham gia nghiên cứu các hành vi và thái độ trong quá khứ. Trong các nghiên cứu liên quan nhiều đến lý thuyết phê phán (critical theory) và nghiên cứu biên tập (editorial scholarship), cũng như trong các điều tra cổ vật chi tiết về hoạt động sản xuất ghi chép và in ấn, rõ ràng chuyên ngành lịch sử của sách có nhiều hướng tiếp cận vốn không hoặc phần nhiều không phải là sử học. Mối quan tâm thuộc về sử học dường như không được đào sâu trong các phân tích về kết cấu sách, cùng các đặc điểm in ấn, ghép trang, chất liệu giấy và mực của chúng. Nhiều nghiên cứu về thủ bản (codicological studies) - chuyên ngành nghiên cứu các bản chép tay kết hợp cổ ngữ học và nghiên cứu bút tích - đã sử dụng các công nghệ mới để khám phá ra quá trình phát triển của phong cách và văn chương nhưng chỉ trong những bối cảnh lịch sử hạn chế.

Đồng thời, nhiều nghiên cứu lý luận phê bình văn học cũng có sự đan xen với các vấn đề được các nhà nghiên cứu lịch sử của sách quan tâm, đặc biệt trong các vấn đề về tác giả, hoạt động đọc, quá hình tạo lập văn bản của tác giả và độc giả. Thế nhưng tính chất liên ngành rõ nét này thường là đối tượng bị phê phán hay hiểu lầm. Một ví dụ, Gérard Genette là người phổ biến khái niệm cận văn bản (paratext), thường dùng để chỉ tổng thể nhan đề sách, bìa, lời cảm ơn, trang thông tin mở đầu, lời tựa, tờ cuối sách, thông tin cuối sách, chú thích và nhiều thành phần khác của sách vốn không nhất thiết do tác giả tạo ra. Genette tuyên bố rằng: “Ở đây, chúng ta đang giải quyết nghiên cứu đồng đại (synchronic) chứ không phải nghiên cứu lịch đại (diachronic) - đó là nỗ lực nhằm tạo ra một bức tranh tổng quát, không phải là một diễn ngôn lịch sử về cận văn bản” [6]. Ông cho rằng: “Việc định nghĩa đối tượng trước khi nghiên cứu sự vận động biến đổi của chúng là cách làm phù hợp”. Như Roger Chartier nhận xét, trong một nghiên cứu đặt ra câu hỏi về phương pháp tiếp cận phi sử luận như thế, thì “đây là một lời nhắc nhở hữu ích nếu chúng ta muốn tránh những cuộc cãi vã đi sai hướng, thường được tạo ra bởi các nhà sử học phản đối cách tiếp cận cấu trúc luận mà họ xem là sử học kém chất lượng” [7].

Các ví dụ chính về tiếp cận kết hợp liên ngành trong những ngày đầu ngành lịch sử của sách hiện đại là công trình L’Apparition du livre (Sự ra đời của sách) của Lucien Febvre, Henri-Jean Martin cùng các tiểu luận sau đó của Darnton, McKenzie, Chartier và các học giả khác. Qua các phương thức khác nhau, hướng tiếp cận của họ kết nối những điểm nhấn lý thuyết cũng như trắc lượng thư mục (bibliometrics) giữa các nghiên cứu của các học giả Pháp và châu Âu lục địa với truyền thống lâu đời về nghiên cứu thư tịch và kinh viện dựa trên các bộ sưu tập tư liệu của thế giới Anh-Mỹ. Tại các nước nói tiếng Anh, thống kê thư mục quốc gia và hồi cố kiểu Anh được đi kèm với các thư mục phân tích tỉ mỉ - sẽ được đề cập thêm trong chương 3 - có nội dung nhấn mạnh vào các điều kiện kinh tế và vật chất. Tất cả những nhà nghiên cứu đều chú ý nắm bắt hoàn cảnh lịch sử của hoạt động tạo tác, lưu chuyển và tiếp nhận văn bản. Có thể dẫn chứng từ việc đọc sâu các ghi chép của tu viện, cho đến việc tìm hiểu nghề nghiệp của thợ làm văn phòng phẩm, nhà in, biên tập viên, chủ sở hữu các tờ báo và tạp chí. Các nghiên cứu hướng vào nền kinh tế xuất bản, hoạt động của thị trường tác phẩm văn viết song hành với các nghiên cứu về chế độ bảo trợ và kiểm duyệt, tìm hiểu sự khác biệt giữa ấn phẩm thương mại với ấn phẩm tự xuất bản (tư nhân), sự đa dạng vô biên của các nhóm độc giả với trải nghiệm đọc.

Xem xét việc tiếng Anh sử dụng hai thuật ngữ, “history of the book” và “book history”, ta cần lưu ý đến sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này cũng như sự tương đồng với các hướng chuyên ngành lịch sử khác. “History of art” được định nghĩa là một ngành nghiên cứu về nghệ thuật, trong đó phân tích cách mà các “khuôn mẫu nhân quả” trong phong cách, biểu tượng và kỹ thuật ảnh hưởng ra sao đến sự phát triển nghệ thuật. Đối lập với nó, “art history” được định nghĩa là một ngành nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là lịch sử xã hội và văn hóa, trong đó các tác phẩm nghệ thuật là những bằng chứng vật thể giúp chúng ta hiểu về con người và các xã hội. Không phải tất cả các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật đều công nhận cách phân chia này, song nó giúp mang lại một sự phân chia song song trong nghiên cứu thư tịch: Giữa một bên là hướng nghiên cứu về sự phát triển kỹ thuật và cả ý nghĩa biểu tượng của sách như một đối tượng vật chất; với bên kia là các diễn ngôn lịch sử khác lấy sách làm bằng chứng để mô tả khái quát các sinh hoạt của con người trong quá khứ. Dù khác biệt trong cách nhấn mạnh chắc chắn tồn tại khi xây dựng ngành lịch sử về sách, nhưng nó không đồng nghĩa là có sự phân chia trong thực tiễn sử dụng hai thuật ngữ “history of the book” và “book history”. Thật vậy, với một số tác giả và những người ủng hộ, khá thất vọng là các thuật ngữ trên dường như luôn thay thế được cho nhau. Còn đối với một số người khác, thuật ngữ “book studies” (nghiên cứu về sách) dù khập khiễng, nhưng vẫn mở ra một lối thoát hữu ích ra khỏi các đường biên nhiều vấn đề chằng chéo của thuật ngữ “book history”.

Nếu coi các học giả nói tiếng Anh đã bất cẩn hoặc không nhất quán khi xây dựng thuật ngữ, thì các đồng nghiệp người Đức của họ cũng có chung điểm yếu khi sử dụng thuật ngữ “Geschichte des Buchwesens” hoán đổi thường xuyên và ngẫu nhiên với thuật ngữ “Buchgeschichte”. Thuật ngữ “Buchwissenschaft” cũng được tách riêng để chỉ chung các “nghiên cứu về sách”. Thế nhưng sự phân biệt này không tồn tại ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Pháp và Ý, khi mọi nghiên cứu lịch sử về sách đều được dùng trong một thuật ngữ đơn nhất như “histoire du livre” hay “storia del libro”. Với tiếng Tây Ban Nha, thuật ngữ “historia del libro” có “sách” cũng dùng ở số ít và thường có thêm yếu tố “sự đọc” - “y de la lectura” - tương tự tiếng Pháp và tiếng Ý. Mặt khác, “história dos livros” trong tiếng Bồ Đào Nha lại có “sách” dùng ở số nhiều. Một điều rất trùng hợp và cũng xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ khác là việc các thuật ngữ “book history” và “history of the book” tồn tại chung với các thuật ngữ khác trong các ngành lịch sử phân tích hình họa và thư mục. Chúng bao gồm lịch sử của xuất bản phẩm và hoạt động xuất bản, lịch sử của ấn phẩm in và hoạt động in ấn, thậm chí rộng hơn nữa là lịch sử thư viện và lịch sử hoạt động đọc. Một số cách phân biệt này, như chúng ta sẽ thấy sau đây, tuân theo các mô hình phân nhánh và đại diện cho các bộ phận cấu thành trong nghiên cứu lịch sử về sách (book history) hoặc chu trình sản xuất và phát hành. Nhưng một số khác biệt, trong số đó có truyền thống riêng, lại thường do các tạp chí chuyên ngành hoặc trung tâm nghiên cứu đóng góp. Rõ ràng, việc xây dựng thuật ngữ bao quát như vậy thường gây ra sự chồng chéo các phạm trù, đồng thời đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tận dụng tri thức của các chuyên ngành khác nằm ngoài trọng tâm nghiên cứu của mình.

Sôi động hơn nữa là việc chất vấn cách sử dụng thuật ngữ cho “lịch sử của sách” ở Trung Quốc, nơi những năm gần đây, mối quan tâm đến hướng nghiên cứu lịch sử của sách với phương pháp “phương Tây” đang gia tăng cùng các nỗ lực mới trong nghiên cứu so sánh, các hướng tiếp cận khác nhằm vào lịch sử của hoạt động sản xuất sách tại Trung Quốc cũng như tác động xã hội của quá trình đó [8]. Một số học giả nghiên cứu lịch sử thư tịch Trung Quốc như Paul Pelliot, Thomas F. Carter và Trương Tú Dân (Zhang Xiumin 张秀民) có sử dụng các nghiên cứu hoạt động in ấn ở châu Âu. Ngược lại, Febvre và Martin đã chứng minh họ có những hiểu biết nhất định về lịch sử của sách tại Trung Quốc. Tuy nhiên, các phương pháp mới và nghiên cứu mới đều hưởng lợi từ chính truyền thống nghiên cứu văn bản Trung Quốc. Ví dụ, từ ghép chữ Hán 書籍 (shuji; thư tịch) được sử dụng để dịch khái niệm “book” trong nghiên cứu các diễn ngôn lịch sử châu Âu và châu Mỹ. Khái niệm này còn có thể bao quát để mô tả được cả, ví dụ, các giấy tờ có chữ viết tay hoặc chữ in không được đóng thành quyển [9]. Cụ thể hơn, ít nhất từ thời Tống (960 - 1279), từ 版本 (banben; bản bổn) đã được sử dụng để định nghĩa các phiên bản (thường là sách in) khác nhau của một văn bản có nội dung cốt lõi không thay đổi. Về mặt từ nguyên học, thuật ngữ này liên hệ tới một hình thức khảo cứu thư tịch vốn rất được coi trọng, nhất là vì người ta cần phải có các đặc quyền mới có thể tiếp cận những cuốn sách quý hiếm và tiếp thu kiến thức bí truyền từ chúng - cũng như giá trị trao đổi vô cùng lớn mà chúng có. Chúng ta sẽ bàn nhiều hơn về thư tịch học so sánh, nhưng chính sự tồn tại các khái niệm mô tả sách và văn hóa coi trọng sách ở Đông Á đã làm nổi bật một nhận thức về sách rất khác so với lịch sử của sách phương Tây. Rõ ràng là, cảm thức về sự khác biệt, trong sự cân bằng giữa các giá trị vật chất và ý thức hệ với mối quan tâm đến giá trị tinh thần cùng tính thiêng liêng trong một thế giới tri thức hiện đại, phần lớn đã không bị lay chuyển bởi các vấn đề tôn giáo và hiện sinh.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »