Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
sơ kỳ lịch sử của sách
các diễn ngôn sơ khởi về lịch sử của sách

❊ ❊ ❊

Nhận thức về hoạt động sản xuất và tiếp nhận sách đã bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử. Vào thế kỷ I, Pliny “Già” sau khi được nhìn thấy các cuộn sách 200 năm tuổi viết trên giấy cói papyrus đã rút ra kết luận rằng giấy papyrus “quyết định sự bất tử của con người” [1]. Cho đến thời điểm đó, giấy papyrus đã trở thành chất liệu để viết phổ biến trong suốt 3.000 năm.

Từ ngữ có vai trò quan trọng khi viết về lịch sử truyền thông bằng hình họa. Bản thân từ tiếng Anh để chỉ giấy - “paper” (papier trong tiếng Pháp và tiếng Đức) có gốc từ tiếng Latinh papyrus và tiếng Hy Lạp πάπυρος; (papuros) chỉ giấy cói papyrus. Được cho là bắt nguồn từ tên thành phố Byblos xứ Phoenicia, từ tiếng Hy Lạp βύβλος (bublos) trở thành biblos trong tiếng Latinh với nghĩa chỉ một cuộn giấy cói papyrus, sau này tiếp tục được dùng để chỉ các sách codex và Kinh Thánh (Bible). Nhiều thuật ngữ thư tịch học khác cũng có nguồn gốc từ thời cổ đại. Từ “chart” (biểu đồ) có gốc từ tiếng Latinh charta, khái niệm mà theo Pliny được dùng để chỉ một cuộn giấy papyrus không quá 20 tờ hay có tổng chiều dài trên 4,5 mét. Với từ library (thư viện), Pháp quan Cassiodorus* đã giải thích vào khoảng năm 537-538 rằng: “Thời cổ đại người ta gọi tên sách cổ là liber; cho đến nay chúng ta vẫn gọi vỏ cây gỗ mới xẻ là liber” [2].

Nghiên cứu sâu hơn về từ ngữ đem đến nhiều phát hiện thú vị hơn nữa. Các từ như biblos, volumliber đều có nghĩa là “sách” theo nghĩa là một phần của một tác phẩm, trong trường hợp tác phẩm đó quá dài để viết vừa một cuộn giấy papyrus. Các “sách” trong Kinh Thánh do đó được hiểu là các phần của một cuốn Kinh Thánh đầy đủ. Mặt khác, từ tiếng Latinh explicare - nghĩa là “mở ra” - trước kia dùng để chỉ hành động mở cuộn giấy cói papyrus để đọc. Hay từ codex có gốc dùng để gọi tên các tập bảng sáp, vì người ta hình dung chúng trông giống như các tấm gỗ (“caudex” trong tiếng Latinh nghĩa là “thân cây”). Cách dùng từ này hẳn đã xuất hiện từ thời nhà thơ La Mã Martial (40-104). Cùng cách liên hệ này, ta có từ liber trong tiếng La tinh có nghĩa ban đầu là “vỏ cây”. Những nhận xét như vậy cuốn hút chúng tôi vào việc thành lập một bảng niên đại cho các hình thức thư tịch. Ví dụ, vào khoảng năm 84-86, khi hình thức sách cuộn vẫn còn phổ biến, Martial đã nhận xét rằng, hình thức sách tập codex bằng giấy da tiện lợi hơn cho di chuyển và sắp xếp. Một số cuộn sách khi đó được mở và đọc theo chiều dọc (giống như cách đọc văn bản “cuộn xuống” trên máy tính hiện đại), nhưng phổ biến hơn là các cuộn sách mở theo chiều ngang, chia văn bản thành từng cột giống như các sách codex về sau này. Cũng cần lưu ý rằng, mô tả đầy đủ sớm nhất về một cuộn sách là của nhà thơ Catullus* khi ông phản biện một nhà thơ khác về việc ông này, thay vì viết trên một tấm giấy phẳng được tẩy sạch lại viết trên một cuộn carta regia có hai tay cầm bằng ngà, bọc trong giấy da màu đỏ và buộc bằng dây thun đỏ.[3]

Khoảng 200 năm sau, học giả pháp lý Ulpian nhận xét rằng hình thức sách quyển codex đã được chấp nhận rộng rãi. Ông cũng dự đoán rằng trong tương lai người ta sẽ nhớ về giấy papyrus như những kỷ niệm xưa cũ, thậm chí với cảm xúc lãng mạn lưu luyến. Giống như Cassiodorus viết vào năm 537, khi ông cho rằng giấy papyrus có địa vị xứng đáng không thể vượt qua trong việc lưu giữ những tư tưởng vĩ đại:

“Xưa kia, danh ngôn của các bậc trí giả và tư tưởng của tổ tiên chúng ta từng không thể lưu lại được. Vì thời đó người ta làm sao mà có thể ghi chép lại mau lẹ câu văn khi vỏ cây thô cứng làm cho ngòi bút không thể đặt xuống dễ dàng?… vẻ đẹp cuốn hút của giấy… bề mặt trắng ngần mở ra khoảng trống mênh mông cho điều hay ý đẹp; giấy luôn luôn hỗ trợ ta mọi nơi mọi lúc; thật mềm mại để có thể cuộn lại với nhau mà khi mở ra sẽ trải thành dải rất dài. Các đoạn giấy nối không một nếp gợn, các mảng giấy luôn liền mạch; giấy mang màu tuyết trắng của vỏ cây non xanh, mặt giấy viết nhận dòng mực đen làm trang sức; trên đó, những con chữ thăng hoa… nơi lời văn được gìn giữ trong an toàn, được lắng nghe mãi mãi, chẳng bao giờ đổi thay” [4].

Các cuộn sách có thể được xếp đứng trong capsa, hay “hộp sách”, hoặc xếp theo chiều ngang trên kệ hay trong các hốc tủ. Hầu hết các tác phẩm gồm nhiều hơn một cuộn giấy đi với nhau, trong khi chủ nhân và các thủ thư cổ đại thường cất các cuộn sách có giá trị trong rương hay bọc chúng trong các ống da có buộc dây. Các hạn chế vật lý như chiều dài cuộn giấy và số cuộn giấy có thể buộc cùng nhau thành bó thường sẽ quyết định cách thức sắp xếp thư tịch, nhưng cũng gây ra nhiều chỉ trích. Các thẻ ghi nhan đề thường bị đặt sai chỗ, rồi việc trích dẫn từ các cuộn sách giấy papyrus bộc lộ nhiều khó khăn và thường kém chính xác.

Các thảo luận nói trên - về hình thức và vật liệu làm sách cùng quá trình các sách codex dần được ưa chuộng thay thế cho sách cuộn - luôn đi cùng với nhận thức về các rủi ro trong quá trình bảo quản sách. Trong một lá thư mới được phát hiện, Galen* mô tả vụ cháy thành Rome xảy ra vào năm 192 đã ảnh hưởng như thế nào đến các cuốn sách và chủ sở hữu chúng: “Khi những cuốn sách của nhà ngữ pháp Philides bị tiêu hủy trong cơn hỏa hoạn, ông ta trở nên tiều tụy và chết vì chán nản cùng nỗi đau khổ. Không chỉ thế, suốt một thời gian dài, người ta đi khắp nơi trong trang phục màu đen - trông ốm yếu và nhợt nhạt như người chịu tang vậy” [5]. Tuy nhiên, điểm nhìn từ châu Âu này đã phủ bóng lên các mô tả và đánh giá cổ xưa hơn về hoạt động sản xuất cùng vai trò chức năng của sách. Cho đến thời điểm này, khi trả lời câu hỏi “Lịch sử của sách là gì?”, chúng tôi đã tạm gác lại các thảo luận về in ấn một cách có chủ ý, không chỉ nhằm mục đích nhấn mạnh chiều dài và chiều sâu lịch sử của sách trước khi có phát minh nghề in, mà còn nhấn mạnh sự phong phú - nhưng thường bị coi nhẹ trong so sánh với châu Âu - của lịch sử thư tịch ở châu Á. Như đã nói ở trên, dù chúng ta vẫn cần có nhiều nghiên cứu hơn về lịch sử của sách làm từ lụa và tre, nhưng ta biết rằng phát minh nghề in ở Đông Á đã có trước phát minh kỹ thuật in hoạt bản ở châu Âu khoảng 800 năm. In ấn được cho là xuất hiện lần đầu ở Trung Quốc từ khoảng năm 636 và chắc chắn từ sau năm 868. Do đó sẽ hữu lý khi cho rằng, có một diễn ngôn lịch sử về sách đã phát triển từ sớm, bất kể tồn tại những khác biệt trong điểm nhìn hay nguồn cảm hứng.

Như nhiều học giả ở châu Âu và Bắc Mỹ đã nhắc nhở chúng ta - gần đây nhất là Cynthia Brokaw, Peter Kornicki và Joseph McDermott - rất nhiều công nghệ trong văn hóa sách toàn cầu có nguồn gốc từ Trung Quốc và Đông Á. Giống như trường hợp chữ hình nêm Assyria hàng thế kỷ trước, hay là chữ Aramaic và chữ Sanskrit phát triển từ chữ cổ Brahmi ở Nam Á, Hán tự Cổ điển đã được dùng như một lingua franca* của Đông Á trong vòng trên dưới hai thiên niên kỷ. Giống như vai trò của chữ Sanskrit đối với việc ghi chép tri thức và các văn bản nhà nước, Hán tự được sử dụng ở cả Triều Tiên lẫn Nhật Bản làm ngôn ngữ của triều đình, của các nam giới quý tộc và sĩ phu, trong đó các kinh điển Trung Quốc được tôn kính nhất mực và xem như khuôn thước chuẩn mực về đạo đức và chính trị [6]. Giới tính cũng là một yếu tố không thể bỏ qua. Như ở Triều Tiên cho đến trước năm 1800, chỉ có nam giới viết văn bằng chữ Hán, trong khi nữ giới chỉ được viết bằng chữ Hàn.

Việc trích dẫn kinh điển văn học Trung Hoa cũng được công nhận rộng khắp như là mẫu mực văn chương, do đó, các thành thị tại Đông Á đầu thời kỳ Trung đại đã chấp nhận sử dụng một hệ văn tự tương đối thống nhất và các hình thức văn bản tương đồng. Hoạt động viết, phân phối các thủ bản và bản sao không chỉ xuất hiện trước kỹ thuật in ấn mà còn tiếp tục song hành cùng sự hình thành và phát triển của nghề in. Tuy nhiên, từ thế kỷ VII, các nghệ nhân Trung Quốc, sau đó là Triều Tiên và Nhật Bản đã phát minh ra nhiều kỹ thuật mới dựa trên các công nghệ in khác nhau: khắc in thủ công các ký tự, in mộc bản và in hoạt bản [với khuôn] làm từ đất nung, gỗ và kim loại. Các cách thức in ấn này tỏ ra phù hợp với các đặc trưng của hệ thống các văn tự châu Á, tương tự như kỹ thuật in hoạt bản phù hợp với các văn tự sử dụng bảng chữ cái đơn giản hơn.

Trên thực tế, kỹ thuật in mộc bản chứ không phải là kỹ thuật in hoạt bản kim loại mới là kỹ thuật in thống trị ở Đông Á cho đến đầu thế kỷ XX. Ngay cả ở Triều Tiên, dù kỹ thuật in chữ kim loại rời đã được triều đình phát triển, thì in mộc bản vẫn là kỹ thuật được sử dụng phổ biến hơn cả. Tại Trung Quốc thời Trung đại, kỹ thuật in mộc bản vẫn có khả năng hỗ trợ cho một giai đoạn phát triển mạnh của ngành xuất bản. Cho đến giai đoạn Sơ kỳ cận đại thì in ấn đã trở thành hình thức sản xuất sách chủ yếu và đã có ảnh hưởng rất lớn đến các diễn ngôn lịch sử của sách ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Ấn bản phẩm đầu tiên ở Nhật Bản sử dụng một loại hình in mộc bản ( 木版画; mokuhanga) có kết nối mật thiết đến tín ngưỡng, tình cảm cùng lời cầu nguyện.

Mặc dù chưa có các nghiên cứu toàn diện, có vẻ như sự phức tạp của hoạt động sản xuất và tiếp nhận sách ở châu Á thời Cổ trung đại không thúc đẩy các nỗ lực xây dựng các diễn ngôn lịch sử về ngành sản xuất sách và những tác động của nó. Từ những gì chúng ta đã biết, có lẽ chúng ta cũng không nên đánh giá quá cao sự phát triển của nghiên cứu về sách ở châu Á cổ đại - thậm chí còn hơn cả với trường hợp châu Âu. Ngay cả vào giữa kỷ nguyên cách mạng in ấn đầu tiên, tại Trung Quốc, rất ít người tự viết ra lịch sử thư tịch của chính mình. Điều này cũng đúng với trường hợp Triều Tiên, nơi mà các nghệ nhân cung đình đã thử nghiệm in chữ đúc rời từ đầu thế kỷ XIII. Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy rằng, cũng giống như châu Âu thời Phục Hưng và sau Cải cách Tôn giáo, công nghệ mới luôn được đánh giá cao và thường gắn với các tư tưởng tiến bộ. Các vị vua đầu triều Joseon (vương triều Triều Tiên; 1392 -1910) đã nhanh chóng nhận ra giá trị của kỹ thuật in ấn trong hành chính và quản trị nhà nước. Một chỉ dụ năm 1403 của vua Taejong* giải thích: “Vương triều muốn thịnh trị thì sách vở càng phải được đọc nhiều… Mong muốn của ta là đúc được chữ in bằng đồng để in được càng nhiều sách càng tốt và để sách được cung cấp thật rộng rãi trong thiên hạ”. Ý thức về tri thức cũng nảy nở. Các học giả Trung Quốc từ thời cổ đại đã quan tâm đến việc phân loại sách, và tới thế kỷ I, Lưu Hâm* 劉歆 đã tạo ra hệ thống biên mục đầu tiên, về sau, nhiều học giả Trung Quốc tham gia vào việc đối chiếu các ấn bản và xây dựng ra các nguyên tắc phê bình văn bản, đặc biệt từ thế kỷ XI và thế kỷ XII khi sách in bắt đầu trở nên phổ biến hơn. Kể cả như vậy thì người Trung Quốc và người Nhật Bản cũng chưa thực sự tỏ ra quan tâm đến lịch sử thư tịch và do đó không phát triển ngành này cho đến tận cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.

Các bộ biên niên sử và văn học châu Âu thời Trung cổ cung cấp cho chúng ta các tư liệu đa dạng về hoạt động sản xuất và sử dụng sách, bao gồm các tranh minh họa việc đọc, cầm giữ, lưu trữ sách và trên hết là trong hệ thống biểu tượng của các tranh vẽ và tranh tường tôn giáo. Các minh họa này - nhiều trong số đó nằm trong chính các cuốn sách - là các chứng cứ có giá trị về hoạt động sản xuất, lưu hành và đọc sách. Các nhà sử học và nhà nghiên cứu văn học thời hiện đại trong quá trình định vị hình thức biểu hiện và ý nghĩa của sách giai đoạn Tiền Cận đại đã làm việc nhiều với các tranh minh họa như bức vẽ Ezra* trong Codex Amiatinus vào thế kỷ VII. Là thủ bản Kinh Thánh sớm nhất còn lưu giữ được gần như hoàn chỉnh bằng tiếng Latinh Vulgate, chân dung Ezra trong sách có lẽ chính là của chủ nhân Cassiodorus đang ngồi trước giá sách của ông ở tu viện Vivarium. Rất lâu sau, ta được chiêm ngưỡng một bức tranh minh họa có tên Lady Hagiography (Nữ thần Thánh tích học) đang đứng trước các cuốn sách để mở trên giá sách trong một bản sao Anh ngữ vào giữa thế kỷ XV của cuốn Le Pèlerinage de l’homme (Chuyến hành hương của đời người) mà tác giả là Guillaume de Guileville. Những bức vẽ như thế này đã thúc đẩy tích cực các tranh luận về lịch sử vật chất và văn hóa của sách. Tuy nhiên, việc tạo ra và sử dụng các tranh ảnh như vậy ở thời đại của chúng cũng - theo những cách có lẽ vẫn chưa được công nhận hoàn toàn - góp phần vào các nghiên cứu về bản chất và lịch sử của “sách”.

Bỏ qua các nhận xét về công nghệ mới cùng các khả năng của chúng, chúng ta có thể phóng đại mối quan tâm đến sách và in ấn ở châu Âu trong giai đoạn Sơ kỳ cận đại. Việc phát minh ra kỹ thuật in hoạt bản bắt đầu ở châu Âu vào những năm 1450 với vai trò của Johannes Gutenberg đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử, làm nền tảng cho các cuộc cách mạng tư tưởng, khoa học, tôn giáo và chính trị - như đánh giá rõ ràng của các nhà sử học sau này. Nhưng như Thomas Hobbes* lập luận trong phần mở đầu cuốn Leviathan phát hành năm 1651, “Phát minh ra In ấn, dù tài nghệ đấy, nhưng so với phát minh ra Chữ cái [mà ông đùa là của Cadmus]*, thì vẫn còn kém lắm”. Sự mập mờ và bí ẩn về phát minh kỹ thuật in ấn đã tạo ra rất nhiều các huyền thoại thời cận đại và các tranh chấp, sẽ là vấn đề được thảo luận sau. Ta có thể nói rằng, các tranh chấp đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay với nhiều giả thuyết mới, đôi khi vô căn cứ nhằm lý giải quá trình sáng tạo ra chữ in đúc trong thế kỷ XV cùng các tuyên bố mang nặng tính chính trị về địa điểm đầu tiên khai sinh ra kỹ thuật này. Những khám phá gần đây về kỹ thuật và nghề in dọc theo Con đường tơ lụa đã củng cố giả thuyết về sự chuyển giao công nghệ, đặc biệt với lập luận của Thomas F. Carter vào năm 1925 cho rằng, châu Âu đã tiếp xúc và ca ngợi kỹ thuật in của Trung Quốc từ rất sớm. Những lập luận như vậy, cùng với những giả thuyết đầy tính khiêu khích và rốt cục không có tính thuyết phục của Timothy H. Barrett, đã khuyến khích các học giả Trung Quốc, Hàn Quốc khẳng định rằng kỹ thuật in chữ rời của họ đã giúp khai sinh ra kỹ thuật tại châu Âu và thế giới ngày nay. Thực tế cho đến nay, các bằng chứng văn bản duy nhất cho thấy nhận thức của người châu Âu về in ấn ở Đông Á trước thời Gutenberg chỉ xuất hiện trong 8 ghi chép từ sau năm 1253 của các nhà lữ hành, tất cả đều không thấy mô tả gì về quy trình kỹ thuật in, dù một số có nhắc đến việc in tiền giấy của người Mông Cổ và người Trung Hoa [7]. Ghi chép đầu tiên về việc người châu Âu biết đến sách in ở Trung Quốc là vào năm 1513, khi Quốc vương Bồ Đào Nha tặng một cuốn sách in chữ Hán cho Giáo hoàng.

Bất chấp nhiều bất đồng, các nhà nghiên cứu về lịch sử Sơ kỳ của sách đã khôi phục lại một mạng lưới những ý tưởng và sự kiện quan trọng mà các nhà sử học khác có thể chưa dành nhiều sự chú ý. Thực tế là một thế kỷ trước Thomas Hobbes, chỉ một vài cá nhân có địa vị mới có khả năng theo đuổi niềm đam mê với thư tịch, và nhờ họ mà chúng ta mới giữ được các thủ bản và các tác phẩm văn học cổ. Với trường hợp nước Anh, René Wellek* đã sớm thừa nhận các thành tựu văn học và thư tịch học của John Bale khi ông tham gia cùng John Leland* trong các chuyến hành trình thu thập sách từ hàng loạt tu viện những năm 1540. Bộ sách Illustrium majoris Britanniae scriptorium summarium (Danh mục các nhà văn lừng danh của Vương quốc Anh) ra đời năm 1548 và A Regystre of the Names of Englysh Wryters (Danh mục tên các tác gia Anh) ra đời năm 1549 của Bale là các bộ thư mục tiền thân cho thư viện ảo ngày nay. Bale trở nên nổi tiếng trong giới nghiên cứu thư tịch và cùng với Leland, ngày càng được nhiều nhà sưu tầm sách nhiệt huyết tôn vinh - nhờ việc ông thể hiện sự coi trọng thư tịch vượt xa vai trò một chủ sở hữu đơn thuần. Bale đã lên án thói tham lam của thầy tu “đã kết liễu các thư viện cùng những cuốn sách của chúng ta”*, đồng thời cũng phê phán những kẻ phá hủy các tu viện vì đã coi sách vở chỉ là “những món hàng”. Ngay từ thời điểm đó, Bale đã cho ta thấy cách giá trị thị trường có thể làm giảm giá trị văn hóa của sách như thế nào [8].

Thế kỷ của Hobbes cũng đem đến nhiều thay đổi trong cách đánh giá sách. Nhiều tác gia cho ta thấy biểu hiện ý thức đến lịch sử của sách cũng như đến các thách thức và cơ hội đi với nó. Cụ thể, xuất hiện các cuộc tranh luận (vẫn tiếp tục đến ngày nay) để phản ứng trước tình trạng “quá tải thông tin”, hay hiện tượng sản xuất thừa hay việc các ấn phẩm dễ dãi vẫn được xuất bản để đáp ứng nhu cầu thị trường đang ngày càng bị thương mại hóa. Nhiều tiếng nói nghiêm khắc đã cảnh báo chống lại thói si mê sưu tầm sách đang thành trào lưu. Theo chân các nhân chứng thời Trung cổ như Vincent xứ Beauvais (khoảng 1190-1264) và Richard de Bury - tác giả cuốn sách Philobiblon vào đầu thế kỷ XIV kêu gọi các giáo sĩ theo đuổi việc học tập và yêu mến sách - Ann Blair đã lập luận rằng, “sách với số lượng lớn” vẫn liên tục làm chúng ta kinh ngạc và bối rối, cũng như khiến nhiều tác giả phải tự suy ngẫm cách định nghĩa thế nào là một học giả chân chính. Liên quan tới trích dẫn về vấn đề này còn có Lời nói đầu trong cuốn Bibliotheca Universalis năm 1545 của Conrad Gesner, một nỗ lực quy mô lớn để biên mục mọi đầu sách với hơn 10.000 đầu sách được liệt kê ngay trong ấn bản đầu tiên. Gesner đã cảnh báo về “sự phong phú đến mức hỗn loạn và có hại của sách vở” mà các vị vua và các học giả phải tìm cách khắc phục.

Cuộc tranh luận khi đi theo những lo lắng về sự thừa thãi sách vở đã dẫn đến việc cải tiến thêm nhiều cách đọc và sử dụng sách khác nhau, phát triển các công cụ mới để hỗ trợ học tập và ghi chép, hay thậm chí cả phương pháp mới để cắt lược văn bản. Sự bất bình trước nạn sưu tầm sách quá độ cũng phản ánh tâm trạng lo lắng việc sách ngày càng ít được sử dụng trong khi số lượng sách ngày càng tăng. Nhưng chúng cũng cho thấy một diễn ngôn lịch sử về sách phổ biến đương thời. Rất nhanh sau giai đoạn phát triển tăng vọt của hoạt động sản xuất và buôn bán sách vào nửa cuối thế kỷ XVII, những phát ngôn xoay quanh cơn bão xuất bản này đã xuất hiện trên các tờ báo, tạp chí và thư từ khắp châu Âu. Bản thân là một thủ thư nổi tiếng, Gottfried Leibniz* đại diện cho tâm trạng của thời đại ông với đề xuất rằng, để kiềm chế “khối lượng sách khủng khiếp” này thì nên cấm những cuốn sách xấu trước khi chúng được in ra và rằng, vua Pháp Louis XIV nên đặt ra một danh sách các đầu sách chính thống dựa theo khuyến nghị của các chuyên gia được chỉ định. [9]

Những tiếng nói phản đối như vậy chỉ bắt đầu sử dụng khái niệm “chứng cuồng sách” (bibliomania) từ đầu thế kỷ XVIII. Việc sử dụng từ này ở Anh - ban đầu là “bibliomanie” - xuất hiện sớm nhất từ năm 1719 khi Myles Davies viết trên tờ tin tức Athenae britannicae của ông rằng, một Ngài Menschen, khi đó là biên tập viên cho Thủ thư của Quốc vương Đan Mạch, “đã tuyên bố phản đối những kẻ mắc phải chứng cuồng sách, vì họ giữ quá nhiều sách: Đó là những kẻ sẽ không bao giờ đọc chúng, cũng như không cho bất kỳ ai khác được đọc”. Việc trao đổi này cũng chia rõ sự khác biệt giữa chứng cuồng các ấn phẩm mới - dòng thác lũ các đầu sách mới - với thị trường buôn bán trao đổi sách cổ đang lớn mạnh. Các nhà sưu tầm sách vẫn tiếp tục hoạt động bất chấp các cảnh báo khắp châu Âu chống lại việc mua và đọc sách bừa bãi. Động lực để sưu tầm sách thì muôn hình vạn trạng. Người sưu tập sách có nhiều lý do từ mưu cầu tri thức, sở thích riêng, vì mong muốn cải thiện bản thân và cộng đồng, nhu cầu giải quyết một vấn đề thực tiễn hay là để giải trí. Chúng có thể kết hợp với các hoàn cảnh khác như nhu cầu thể hiện uy tín, địa vị, niềm tự hào gia đình hay mong muốn bảo tồn và truyền lại bộ sưu tập cho người thân hoặc cho tổ chức hay cộng đồng mà người sưu tập sách yêu mến.

Nghiên cứu của David McMullen về lịch sử trí thức và thể chế Trung Quốc thời Trung đại cho ta biết rằng, nhiều người Trung Quốc từ thời Đường (618 - 907) đã lên tiếng phàn nàn vì có quá nhiều sách, nhưng vấn đề này dường như chỉ trở nên đậm nét hơn vào những năm cuối thời Minh (1368 - 1644), theo cách nào đó cộng hưởng với phương Tây cùng thời kỳ. Peter Burke đã chỉ ra sự tương đồng khi đối sánh việc biên soạn các bộ bách khoa toàn thư* ở Trung Quốc và châu Âu nhằm đáp ứng nhu cầu độc giả đại chúng đối phó với sự phát triển nóng của ngành in trong thế kỷ XVI [10]. Như lời bạt của một trong những bộ bách khoa toàn thư nổi tiếng thời Minh viết năm 1599 đã đặt câu hỏi, “sách vở bây giờ nhiều vô cùng như biển nước, người ta làm sao mà đọc hết được?” trước khi đề xuất lời giải bằng cách cô đọng tất cả thông tin một người cần biết trong một bộ sách 43 cuốn [11]. Nghiên cứu của Joseph McDermott về Trung Quốc thời sơ kỳ cận đại cũng cho thấy hiện tượng tương đồng với lịch sử châu Âu của Arm Blair, với nhiều ví dụ như của học giả Đường Thuận Chi 唐順之 (1507 - 1560), người Thường Châu (hạ lưu sông Dương Tử) phàn nàn rằng, sách vở viết và in giờ có quá nhiều. Vào cái thời mà ngay cả một tên bán thịt có tiền cũng có thể in được cáo phó đàng hoàng, một người cùng thời với họ Đường là Chúc Doãn Minh 祝允明 người Tô Châu thậm chí còn nói thẳng rằng, vì có quá nhiều sách vở tràn lan nên phải đốt bớt đi. Phải lưu ý là việc chúng ta biết nhiều hơn đến không gian hạ lưu châu thổ sông Dương Tử và nền văn hóa bác học của vùng này là nhờ vào các nghiên cứu thực hiện trên phạm vi địa phương. Và do đó, để phân biệt với các nghiên cứu phác thảo trước đây, các xu hướng nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh rằng chúng ta vẫn chưa có đủ khả năng để sử dụng các kết luận này bao quát cho toàn bộ Trung Quốc.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »