Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 69 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Định nghĩa lại về sách

❊ ❊ ❊

Một “cuốn sách” là gì khi hình thức của sách đã biến đổi từ những cuộn giấy (scrolls) dài thời cổ đại đến những bản viết tay dạng xếp (concertina codices) ở Trung Mỹ hay các sách viết trên lá cọ ở Nam Á? Đặc biệt ở Nam Mỹ và châu Phi, hiểu biết của chúng ta về hình thức sách thời sơ kỳ phải chống lại kiểu thái độ phân biệt có xu hướng phủ nhận các thành tựu trí tuệ, chính trị và kỹ thuật của các cộng đồng bản địa. Khái niệm “sách”, được viết và sao chép bằng nhiều cách khác nhau, với nhiều hình thức thể hiện ngôn từ phong phú từ văn xuôi, thơ ca cho đến kịch, từ điển, đề mục tra cứu, ấn phẩm định kỳ, báo in và không loại trừ cả sách bỏ túi pamphlet*, tất cả đều được giới nghiên cứu lịch sử của sách đưa vào tập hợp của sách.

Thêm vào đó, khác với các định nghĩa phổ biến trên Internet cho rằng sách có hình thức giới hạn bởi mực, các tấm giấy, tấm da và các chất liệu khác; được viết tay, in ấn, minh họa hoặc bỏ trống; và “được đóng/buộc/dán để mở được về một phía”; chắc chắn định nghĩa về sách không chỉ là đơn giản như vậy. Vậy thì những đặc trưng nào cho phép chúng ta quy xét một đối tượng vật chất là một cuốn sách? Đâu là điểm chung giữa một tấm đất sét và một máy tính bảng kỹ thuật số? Nếu ta cho rằng giấy làm từ da động vật (như vellum làm từ da bê), vải tơ tằm hay vải từ xơ thực vật (như cây papyrus, cây gai dầu) cũng nằm trong định nghĩa về “sách”, thì ta cũng nên chấp nhận vỏ cây, lá cây, da động vật chưa được xử lý, đất sét và đất nung cũng là thành phần tạo nên một cuốn sách. Nhiều loại cổ vật trêu ngươi định nghĩa cố hữu của chúng ta - như là Khipus (hay quipus), loại văn bản tạo lập từ nút thắt dây thừng của người Inca vùng núi Andes, xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ X, hay sớm hơn là các hiện vật gốm và hệ thống chứa đựng ghi chép phức tạp của người Maya và người Olmec. Các hình thức trên đặt ra một thách thức lớn hơn với định nghĩa về sách và các vật liệu làm nên sách, rằng sách cũng bao chứa luôn các phương tiện ghi chép và phổ biến thông tin có thể di động, bền, dễ sao chép và dễ đọc (bao gồm cả tiếp thụ và truyền đạt thông tin). Khi xem xét chức năng và mục đích của sách, liệu sự có mặt hay vắng mặt của “ấn loát” trong “ấn phẩm” có tính chất quyết định? Và khi đứng trước các hình thức in ấn thông thường với in ấn có kết hợp chữ viết và hình minh họa gia tăng độ phức tạp, làm sao để chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa bao quát nhất về sách? Chúng ta có bao gồm trong đó các bản đồ và bản nhạc, tranh gấp đính kèm*, các tranh ảnh và minh họa rời đi cùng? Còn với báo chí, ấn phẩm định kỳ và tạp chí, với tất cả sự hiện diện vật lý tràn ngập và phổ biến toàn cầu của nó thì sao? Dù từ lâu vẫn được coi là một phần cơ bản trong nghiên cứu lịch sử của sách, nhưng các ấn phẩm in kiểu tờ đơn này, có khi chỉ là các áp phích, vé, hợp đồng thương mại hay thỏa thuận pháp lý, có nên được tính gộp là “sách” hay không? Còn các mẫu chữ thêu tay* vốn phổ biến như các bài tập trên lớp vậy, hay chữ in trên bao tải hoặc các vật chứa khác thì sao?

Câu trả lời cho hầu hết những ai quan tâm đến lịch sử của sách là có. Lý do là, dù đối tượng tìm hiểu có là những chi tiết trong hoạt động biên tập văn bản hay là bối cảnh văn hóa hay chính trị của các hình thức “sách” cổ xưa lạ lẫm đi nữa, thì mối quan tâm chính vẫn là về một trong những phương thức truyền thông, về hoạt động sáng tạo và truyền bá rộng rãi các ý nghĩa thông qua những dạng thức (form) hình họa, đọc được, di động được, và có thể sao chép được. Dù được làm bằng đất sét, da hoặc vải xơ tự nhiên, hoặc được kích hoạt bởi màn hình kỹ thuật số, bộ xử lý trung tâm, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên hoặc thẻ đồ họa, sách vẫn có tính chất là một vật di động. Sách có thể di chuyển trên khoảng cách rất ngắn hoặc rất dài và phục vụ con người ở các mức độ khác nhau, như những phương tiện truyền tải tri thức, thông tin và giải trí có độ bền. Cách định nghĩa nhấn mạnh vào tính di động như vậy có thể giúp ta loại trừ các áp phích dán tường và chữ khắc trên các thực thể bất động. Nhưng vẫn có một mối liên hệ không thể phủ nhận giữa các văn bản kiểu này với sách, đặc biệt là khi ta có thể tạo ra một cuốn sách từ rất nhiều các vật nhỏ bé vốn không phải là sách. Những nội dung và “văn bản” nằm trong sách vẫn có thể tái tạo và có khả năng chia sẻ, lưu trữ và bảo tồn, ngay cả khi các nhà xuất bản và các độc giả sau này khó hiểu hoặc thậm chí không thể hiểu được ý nghĩa của chúng.

Những so sánh như vậy đặt ra câu hỏi về cách định nghĩa thế nào là một “văn bản” (text) trong mối liên hệ với hình thức vật chất và cách thức truyền tải của nó, đến các tham số của các yếu tố thiết kế của nó. Trong đó, liệu yếu tố văn bản là chất liệu lưu trữ hệ thống biểu ý quan trọng hơn, hay chúng ta nên chú ý nhiều hơn đến các câu hỏi về tính di động hoặc về khả năng bảo lưu và đọc lại? Việc đọc, hiển nhiên là nền tảng của các trao đổi văn hóa biểu hiện bằng lịch sử của sách, có một diễn ngôn lịch sử riêng và đồng thời kế thừa vô số thách thức về nhận thức luận, phương pháp luận, luận giải và lưu trữ. Genette đã tiếp nối Philippe Lejeune khi ông mô tả paratext là “một vùng rìa của văn bản in mà trong thực tế kiểm soát toàn bộ hoạt động đọc văn bản của độc giả” [10]. Khi đánh giá các ảnh hưởng của hoạt động đọc, ông tiếp tục phân chia paratext, dựa trên hình thức sách phương Tây hiện đại, thành nội văn bản (peritext) hay nhan đề, đề tựa, lời nói đầu, lời tựa của tác giả, nhận xét sơ bộ, hệ thống ghi chú và minh họa, tất cả vốn nằm trong chính cuốn sách; và ngoại văn bản (epitext) là những gì nằm bên ngoài cuốn sách, bao gồm thư từ, nhật ký, nhật trình và các bài phỏng vấn liên quan.

Lịch sử của việc đọc hàm chứa rất nhiều vấn đề phức tạp. Đó là bởi hành động đọc không được ghi chép lại khi diễn ra - ít ai chịu viết ra những gì họ làm. Một số độc giả ghi chú hoặc ký họa bên lề, một số người thuật lại hoạt động đọc của họ với người khác hoặc ghi trong nhật ký đọc, nhưng bằng chứng về thực hành đọc, hay tác động chính xác của văn bản đối với cá nhân tiếp nhận về cơ bản là hạn chế. Lịch sử của các loại hình đọc và các loại hình văn học bao hàm việc xem xét các động lực, kinh nghiệm, kỹ năng, năng khiếu, vị thế và kết quả. Thế nhưng lịch sử thực hành đọc trong hoạt động tiếp nhận văn bản cũng có thể tách khỏi lịch sử tương tác với sách, trong đó đối tượng vật chất có thể đã được thu thập, hiển thị hay sử dụng cho các lý do tượng trưng, suy tư, thẩm mỹ, tinh thần, tình cảm, tình dục, bệnh lý hay các lý do khác. Trong những trường hợp nhất định và ở những địa điểm rất khác nhau, việc sở hữu sách không nhất thiết đi cùng việc đọc thông thường.

Do đó, một đóng góp đặc biệt của lịch sử của sách là ở sự đánh giá lại xem điều gì làm nên một văn bản, và ở việc tham gia một cách hiệu quả vào quá trình chất vấn tư liệu giúp định nghĩa thế nào là một cuốn sách. Ý nghĩa nội dung mà văn bản truyền tải đặc biệt chịu ảnh hưởng bởi hình thức vật chất của cuốn sách, và hiển nhiên, như D.F. McKenzie đã lập luận trong quá trình khám phá “xã hội học văn bản”, hình thức trên thực tế đem đến (effect) ý nghĩa [11]. Việc người ta thường xuyên đọc sai động từ này thành “ảnh hưởng” (affect) bản thân nó cũng liên quan đến việc nhìn nhận các thay đổi hình thức văn bản cũng như các điều kiện cho việc đọc và tiếp nhận văn bản đó. Độc giả sách in biết rằng, dù đọc “cùng một cuốn sách” như các độc giả khác, việc đọc của họ vẫn có khác biệt rất lớn so với việc đọc những bản sách chép tay. Sự thay đổi các hệ định giá trị trong thời đại của chúng ta cũng mang lại những hiểu biết về mối quan hệ giữa hình thức của sách với các dấu hiệu truyền tải qua nó, và trong nó đã thay đổi và được mô tả khác nhau như thế nào ở mỗi thời đại khác nhau. Ví dụ, một “văn bản” ngày nay mang ý nghĩa mới là việc gửi tin nhắn “văn bản”, cũng giống như hoạt động xử lý văn bản và nhắn tin văn bản toàn cầu đã làm trẻ hóa và tái định hình danh từ “phông chữ”. Vào 30 năm trước, phông chữ in (font hay fount) chỉ là một khái niệm người ta buộc phải giải thích cho những người mới học ngành in ấn - nhưng giờ đây, nhờ việc sử dụng quá phổ biến, khái niệm này lại đang thúc bách sự giải thích cẩn thận hơn nữa từ các nhà sử học nghiên cứu lịch sử của sách [12].

Quá trình xét lại hình thức vật chất của sách thường có tính tiến bộ, có tác động hình thành nên ý nghĩa mới. Các bản in mới được thiết kế lại, in lại và đóng gói lại, có thể được dịch, bổ sung phụ chú mới hay hình ảnh đi kèm, và được truyền bá rộng rãi hơn. Tất cả chúng góp phần tái tạo văn bản trong các không gian mới có tính liên quốc gia, thậm chí toàn cầu, qua nhiều thế kỷ và ở các bối cảnh văn hóa rất khác nhau. Ở mỗi cấp độ, sự can thiệp của nhà sản xuất, nhà xuất bản hay các biên tập viên có thể tạo ra nhiều mối quan hệ thời gian-cụ thể giữa các loại văn bản, tác phẩm của cùng tác giả hoặc các tác giả tương tự hay các cộng đồng sách và độc giả khác. Nhưng ta cũng có thể nhận biết lịch sử ở một cấp độ rộng lớn hơn - đó là lịch sử văn hóa của một tác phẩm duy nhất qua không gian và thời gian. Đó là vấn đề được Roger Chartier phỏng đoán như là “tiểu sử của cuốn sách”, và tương tự, James Secord đã quan sát rằng các cuốn sách không có cuộc sống riêng hoàn toàn độc lập với chức năng sử dụng của chúng. Dù có là “tiểu sử” hay không, các nghiên cứu như phê bình của Isabel Hofmeyr với tác phẩm Pilgrim’s Progress (Con đường của người hành hương) của tác giả John Bunyan, sau khi được dịch và phổ biến khắp thế giới - đặc biệt tới châu Phi - đã phát triển các diễn ngôn lịch sử theo thời gian và không gian của tác phẩm gốc. Lịch sử của sách bồi đắp hiểu biết của chúng ta về quá khứ bằng các diễn ngôn lịch sử vi mô (micro-histories) khi nó nghiên cứu sâu hơn các văn bản cụ thể và hoạt động tiếp nhận chúng, thường theo những hướng rất cụ thể. Đồng thời, bằng việc theo dõi lịch sử xuất bản và lưu hành từng văn bản theo cách chi tiết nhất có thể, góc nhìn lịch sử cũng mở rộng, bao hàm cả những tác động lâu dài và sâu rộng của tư tưởng tác giả dưới điểm nhìn lịch sử toàn cầu.

Như thường được lưu ý, khái niệm “text” có gốc tiếng La tinh là texere, nghĩa là “dệt”. Do đó “văn bản” có thể hiểu là một hành động dệt có chủ đích của tác giả, hay của những can thiệp sau đó, và nó để ngỏ cho người tiếp nhận tự rút ra các cách diễn giải khác nhau, bất chấp các thay đổi về hình thức. Bằng việc coi thư mục học (bibliography) là “xã hội học văn bản” (sociology of texts), D.F. McKenzie khuyến khích ta suy nghĩ về văn bản như là phương tiện trao đổi ý nghĩa. Việc biên tập văn bản và tạo ra các ấn bản ủy quyền, hiểu như là bản sao đầy đủ và sát nhất với ý tưởng ban đầu của tác giả, đã củng cố sự phát triển của nhiều nghiên cứu thư tịch. Thế nhưng, ở nửa sau của thế kỷ XX, nhiều học giả đã thay đổi hoàn toàn bản chất của nghiên cứu thư tịch văn bản khi mở rộng hơn việc tìm hiểu, khảo xét quá trình cộng tác và diễn trình lịch sử của việc xuất bản, cũng như quá trình tiếp nhận văn bản vốn luôn biến đổi và bất định của các độc giả văn bản đó. Ý tưởng cũng có thể được chuyển tẳi bằng các hình thức vật lý vô cùng đa dạng, từ một chiếc vé nhỏ chỉ độ một ngón tay cho đến một bức áp phích cao hơn ngôi nhà. Việc thể hiện các con chữ của một văn bản viết có thể được sắp đặt, thay thế và được gán ý nghĩa cụ thể thông qua việc chèn hình ảnh và phân bổ không gian. Để tạo lập không gian mỗi trang, mỗi phân đoạn hay các thành phần khác của một cuốn sách, người ta có thể bổ sung vào trang đó, phân đoạn đó, thành phần đó rất nhiều thành tố cận văn bản (paratext), bao gồm bảng chỉ mục (index) để hỗ trợ tra cứu, cước chú (footnotes) và hậu chú (endnotes) để cung cấp nguồn trích dẫn/tham khảo, bìa áo và quảng cáo in kèm. Và bất kể kích thước, hình dạng của sách như thế nào, hay chúng có được đóng gáy không, tất cả các văn bản trong đó sẽ “không ổn định” vì việc diễn giải chúng sau cùng vẫn nằm ở phía người tiếp nhận. Độc giả luôn diễn giải văn bản qua các bộ lọc, điều khiển của các mối quan tâm vật chất và hoàn cảnh văn hóa quanh mình.

Đối với hầu hết các nhà chuyên môn về lịch sử của sách, chính tính biến dị và tính ngẫu nhiên văn hóa của hình thức văn bản vừa là thách thức vừa là niềm vui trong nghiên cứu của họ. Hướng nghiên cứu so sánh đang phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực lịch sử của sách thời gian gần đây, từ việc phân tích ngữ âm của người Maya, đến việc khảo sát các hình thức khác nhau của kinh điển Phật giáo (sutra), từ sách lá cọ của người Sinhala* đến mộc bản (block prints) hay cuộn thangkha ở Tây Tạng và Mông Cổ. Nhiều văn bản khắc họa một vị Phật trên chất liệu vải bông hoặc vải lụa, sử dụng với mục đích truyền dạy và thờ phụng. Nghiên cứu mới về lịch sử của sách rất mạnh dạn, kích thích tranh luận và tập hợp, trong số hàng trăm dự án khác nhau, khảo sát về mối quan hệ giữa các kỹ thuật in mộc bản ở Thổ Nhĩ Kỳ và Nga, việc in ấn trên vải bố ở châu Âu và các “văn bản” thương mại rất khác thường làm từ những khối gỗ lớn khắc nổi để tạo ra dấu ấn, gọi là mộc bản vải gói (tillet blocks). Còn có cả những nghiên cứu về các bài tụng kinh và nghi lễ đi kèm với tranh cầu an ở Nhật Bản, như các tranh in khắc gỗ hoso-e’ 細絵 cầu mong chống lại bệnh dịch và tai ương, hay tranh mô tip cá nheo namazu-e 納馬祖 (ナマズ工)* cầu chống động đất được in sau trận động đất Edo năm 1855.

Roland Barthes trong tuyển tập rất có ảnh hưởng Image, Music, Text (Hình ảnh, Âm nhạc, Văn bản) xuất bản bằng tiếng Anh năm 1977, đã lập luận rằng trong khi một “tác phẩm” văn học có thể “cầm trên tay”, một “văn bản” thì “nằm trong ngôn ngữ” và “chỉ tồn tại trong sự vận động của một ngôn ngữ”*. Tuy nhiên, ngày nay khi đọc lại Barthes, chúng ta có thể mở rộng các ví dụ vượt ra ngoài các nguồn tư liệu châu Âu và châu Mỹ cận hiện đại. Chúng ta có thể lấy ví dụ về hình thức sáng tạo văn bản trong các sách codex và da hươu ghi lại các phép tính toán học và phép tính lịch đại, các ký ức tập thể về nhân danh, địa danh của cư dân nền văn minh Mesoamerican và Aztec. Ở đây cũng vậy, văn bản là cấu trúc ngôn ngữ, nằm trong nhưng cũng được giải phóng khỏi “tác phẩm”, hay toàn bộ sản phẩm. Trên khắp thế giới và trong các xã hội từ thượng cổ đến hiện đại, các cấu trúc ngôn ngữ cực kỳ đa dạng lưu trữ các dấu hiệu truyền đạt ý nghĩa và cho phép chúng ta diễn giải.

Những nan đề định nghĩa như vậy có thể phức tạp hóa công việc nghiên cứu các lĩnh vực lịch sử khác, nhưng riêng với lịch sử của sách, sự không xác định về mặt phạm vi vật chất cùng phương pháp luận trong định nghĩa này giúp tạo ra một phẩm chất đặc biệt trong nghiên cứu - thậm chí là mang lại lợi thế. Dù vậy, các nhà sử học vẫn sẽ tiếp tục tranh luận về giá trị lý luận sử học của một số khía cạnh trong lịch sử thư tịch, dường như đang phân biệt và xé lẻ việc nghiên cứu phân tích các hành động và hành vi con người, đồng thời các nhà nghiên cứu văn học sẽ tiếp tục đặt câu hỏi về ý nghĩa lý luận văn học của một số khía cạnh trong lịch sử của sách vốn thất bại trong việc chứng minh tính đặc thù lịch sử của các hình thức vật chất có ảnh hưởng thế nào đến ý nghĩa văn bản.

Như vậy thì lĩnh vực lịch sử của sách đã khẳng định sự khác biệt so với ngành nghiên cứu biên tập văn bản (textual editorial studies), với thư mục học lịch sử, thư mục học mô tả và thư mục học phân tích truyền thống, dù không phủ nhận các lĩnh vực đó cũng là các chuyên ngành cơ bản và vẫn là các thành phần học thuật quan trọng. Ví dụ, phân tích thư mục thực hành là phương pháp kết hợp chặt chẽ kiến thức kỹ thuật với học thuật, cần thiết cho không chỉ sự hiểu biết về tính vật chất mà còn cả hiểu biết tính phức tạp ngữ cảnh của đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, dù đi kèm nguy cơ tạo ra những giả định sai lầm và thành tựu học thuật kiểu “đốt cháy giai đoạn”, các tiến bộ lý thuyết mới đã mang tới những vấn đề trí tuệ mới mẻ và đầy tham vọng, khiến cho lịch sử của sách trở thành lĩnh vực nhiều tiềm năng và cơ hội cho thảo luận cũng như nghiên cứu. Làm thế nào và tại sao một số cộng đồng, tổ chức và cá nhân nhất định lại hỗ trợ cho những người sao chép, nhà in và nhà xuất bản chuyên nghiệp, mà đôi khi sự hỗ trợ đó không tương xứng với trình độ học vấn của cộng đồng mình? Những vai trò chính trị, tôn giáo và xã hội nào được gán cho sách - và liệu những vai trò này có liên quan thế nào đến hoạt động sử dụng và tiếp thu sách - vốn không chỉ là phương tiện truyền thông mà còn là vật chứa, nguồn phát, bộ điều khiển và bộ kiểm duyệt ký ức? Ở đâu, bằng cách nào và tại sao các cá nhân, cộng đồng, tổ chức, nhà nước lại đầu tư vào các bộ sưu tập sách?

Thật vậy, điều gì giúp phân biệt giữa người sưu tập với người sở hữu sách, trong khi người sở hữu sách thường, nhưng không phải lúc nào cũng là người sưu tập sách, trong khi người sưu tập sách lại luôn là người sở hữu sách? Các câu hỏi này là sự kết hợp giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực dụng, trong đó các cuốn sách thuộc mọi thể loại và hình thức đều được trân trọng ở giá trị lưu giữ các kiến thức, văn hóa, tâm linh, cũng như các nguyên tắc và thủ tục được chấp nhận rộng rãi trong đời sống nghề nghiệp, đời sống xã hội và chính trị. Cũng như, ghi chép lại những quan điểm có tính chất lật đổ và cách mạng vốn luôn tìm cách làm suy yếu các hệ thống đó.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »