Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 160 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 5
hồi thứ tư

“Đại úy ạ!” Don Luis nói. “Anh đã phạm tới hai sai lầm nghiêm trọng. Thứ nhất, anh không báo trước cho tôi biết Grégoire là phụ nữ. Thứ hai...”

Nhưng Don Luis thấy viên sĩ quan suy sụp quá nên chẳng đọc nốt bản cáo trạng ấy. Anh ta đặt tay lên vai Patrice Belval và nói: “Thôi nào Đại úy! Đừng tự trách mình nữa. Tình hình không đến nỗi tệ như anh nghĩ đâu.”

Patrice thì thào: “Coralie đã nhảy qua cửa sổ xuống sông để trốn khỏi tay lão già kia.”

Don Luis nhún vai. “Coralie của anh vẫn còn sống. Cô ấy nằm trong tay Siméon, nhưng vẫn còn sống.”

“Làm sao ông biết được điều đó? Vả lại, ở trong tay lão quỷ dữ ấy, cô ấy có khác nào đã chết đâu? Bản thân điều đó chẳng phải đã bao gồm toàn bộ những kinh hoàng của cái chết rồi hay sao? Có gì khác nhau đâu cơ chứ?”

“Điều đó có nghĩa là cái chết đang vờn quanh cô ấy, nhưng cũng có nghĩa là sự sống giành phần thắng nếu chúng ta có mặt kịp thời. Và chúng ta sẽ có mặt kịp lúc!”

“Ông có manh mối gì sao?”

“Thế anh nghĩ tôi phải bó tay chịu trận chắc? Và nửa tiếng đồng hồ không đủ cho một tay lõi đời như tôi làm sáng tỏ những bí ẩn trong cái cabin này hay sao?”

“Vậy ta mau đi thôi.” Patrice gào lên. Anh đã sẵn sàng xung trận. “Mau đến chỗ kẻ thù.”

“Chưa đâu.” Don Luis vừa tiếp tục tìm kiếm xung quanh vừa nói. “Nghe tôi này. Tôi sẽ nói cho anh những gì tôi biết, và tôi sẽ nói rất ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề luôn, không làm anh rối với những suy luận của mình, thậm chí cũng không nhắc tới những chi tiết nhỏ mà tôi coi là bằng chứng. Chỉ có sự thật trần trụi, thế thôi. Là thế này...”

“Vâng?”

“Mẹ Coralie đến điểm hẹn vào lúc chín giờ. Siméon và mụ đồng bọn của lão đã chờ sẵn ở đó. Chúng bắt trói và bịt miệng cô ấy rồi đưa cô ấy đến đây. Trong mắt chúng, đây vẫn là nơi ẩn náu an toàn, vì khi ấy, chúng biết chắc chắn anh và tôi chưa phát hiện ra cái bẫy. Tuy nhiên, chúng chỉ coi đây là chỗ tạm thời để dùng trong đêm mà thôi, và Siméon để Coralie lại cho mụ đồng bọn canh chừng, còn mình ra ngoài, đi tìm một chỗ giam giữ khác chắc chắn hơn, một nhà tù thực sự. Nhưng may thay - và tôi phải tự hào về điều ấy - Ya-Bon ngồi canh ở ngay địa điểm này. Ya-Bon, khuất mình trong bóng tối, ngồi trên băng ghế tôi chỉ định và tập trung cao độ theo dõi mọi động tĩnh ở đây. Chắc chắn cậu ta đã thấy chúng băng qua bờ kè và nhận ra dáng đi của Siméon từ xa.

Ngay tức khắc, Ya-Bon đuổi theo. Cậu ta nhảy lên boong sà lan và tới được đây cùng lúc với hai kẻ bắt cóc, trước khi chúng kịp đóng cửa lại. Bốn người cùng ở trong căn phòng chật hẹp này, xung quanh là bóng đêm mịt mùng, ắt xảy ra một cuộc vật lộn dữ dội. Tôi biết rõ Ya-Bon của mình mà. Trong những tình huống như thế này, cậu ta kinh khủng lắm. Nhưng thật không may, kẻ bị cậu ta siết chặt trong bàn tay tàn nhẫn, không biết thương xót là gì của mình lại không phải Siméon, mà là người phụ nữ kia. Siméon lợi dụng luôn cơ hội này. Lão nhất quyết không chịu nhả Coralie ra. Lão vác cô ấy lên và chạy lên cầu thang, ném cô ấy xuống sàn boong rồi quay lại khóa trái cửa, giam hai đối thủ đang vật lộn trong cabin lại.”

“Ông nghĩ như vậy ư? Ông cho rằng chính Ya-Bon đã giết người phụ nữ này chứ không phải là Siméon sao?”

“Tôi chắc chắn điều đó. Nếu không còn bằng chứng nào khác, hãy xem vết gãy ở thanh quản này đi; đây là dấu hiệu đặc trưng của Ya-Bon đó. Tôi chỉ không hiểu một điều: Tại sao khi đã hạ được đối thủ, Ya-Bon không húc vai phá cửa mà đuổi theo Siméon? Tôi đồ rằng cậu ta đã bị thương và không còn đủ sức để làm được việc đó. Tôi cũng đồ rằng người phụ nữ kia không chết ngay lập tức và đã khai ra những điều bất lợi cho Siméon, kẻ đã bỏ mặc thay vì bảo vệ mụ ta. Tuy nhiên, Ya-Bon đã phá vỡ kính cửa sổ...”

“Để nhảy xuống sông Seine khi đã bị thương và chỉ có một cánh tay ư?” Patrice gạt đi.

“Không hề! Có một cái gờ chạy dọc theo cửa sổ. Cậu ta có thể đặt vừa chân lên đó và chạy ra theo lối ấy.”

“Cứ cho là như vậy đi. Nhưng thế thì cậu ta vẫn chậm chân hơn từ mười đến hai mươi phút.”

“Chẳng sao cả. Nhỡ trước khi chết, người phụ nữ kia vẫn kịp tiết lộ cho cậu ta biết chỗ Siméon ẩn náu thì sao?”

“Làm sao chúng ta biết được?”

“Tôi vẫn đang cố tìm trong lúc nói chuyện với anh đây, Đại úy thân mến ạ... Và tôi vừa phát hiện ra rồi đây.”

“Ở đây ư?”

“Vừa mới tức thì, và tôi mong đợi không ít ở Ya-Bon đâu. Người phụ nữ kia đã chỉ cho cậu ta một chỗ nào đó trong cabin - đây, hẳn là chiếc ngăn kéo đang mở toang này rồi trong đó có một tấm danh thiếp ghi địa chỉ. Ya-Bon đã lấy tấm danh thiếp đó và cài nó lên tấm rèm đằng kia để báo cho tôi. Tôi nhìn thấy nó từ ban nãy; nhưng mãi đến giờ, tôi mới thấy chiếc đinh ghim đính trên danh thiếp để giữ cho nó cố định. Đó là một chiếc ghim bằng vàng mà chính tay tôi đã gắn lên ngực Ya-Bon: huân chương của Maroc.”

“Thế địa chỉ ấy là gì?”

“Amédée Vacherot, số 18 đường Guimard. Đường Guimard ở ngay gần đây thôi, nên chắc chắn, lão ta sẽ đến đó.”

Họ lập tức đi ra, bỏ lại xác người đàn bà đã chết. Theo lời Don Luis nói, ấy là việc của cảnh sát.

Lúc đi ngang qua xưởng đóng tàu Berthou, họ liếc vào gian phòng nhỏ nơi công nhân để dụng cụ, và Don Luis nhận xét: “Cái thang mất rồi kìa. Chúng ta phải nhớ lấy chi tiết này. Vậy là Siméon đã tới đây, và bản thân lão cũng đã bắt đầu phạm sai lầm rồi đấy.”

Ô tô đưa họ đến đường Guimard, một con phố nhỏ ở khu Passy. Ngôi nhà ở số 18 là một ngôi nhà lớn cũ kĩ, được xây từ rất lâu rồi, nay được phân thành những căn hộ nhỏ để cho thuê. Họ bấm chuông gọi cửa. Lúc ấy là hai giờ sáng.

Mãi một lúc lâu sau mới thấy cổng mở; và, lúc họ đi ngang qua cửa bảo vệ, người gác cổng mới thò cổ ra hỏi: “Ai đó?”

“Chúng tôi cần gặp ông Amédée Vacherot có việc gấp.”

“Tôi đây.”

“Là ông à?”

“Vâng, là tôi, nhân viên gác cổng. Nhưng có việc gì thế?”

“Lệnh ở trên Sở Cảnh sát đưa xuống.” Don Luis vừa nói vừa chìa một chiếc huy hiệu ra.

Họ bước vào trong chòi gác cổng.

Amédée Vacherot là một ông lão nhỏ thó, vẻ rất lương thiện, có bộ ria mép trắng như cước, trông cứ như một thầy tư tế.

“Hãy trả lời rõ ràng các câu hỏi của tôi.” Don Luis ra lệnh bằng một giọng cứng rắn. “Và đừng có quanh co, hiểu chưa? Chúng tôi đang tìm ông Siméon Diodokis.”

Người gác cổng lập tức hốt hoảng.

“Để hại ông ấy sao?” Ông ta kêu lên. “Nếu là để làm hại ông ấy, các người hỏi tôi cũng chẳng có ích gì đâu. Tôi thà bị hành hạ cho chết từ từ còn hơn làm hại đến ông Siméon tốt bụng ấy.”

Don Luis đổi sang giọng dịu dàng: “Hại ông ấy ư? Ngược lại là đằng khác, chúng tôi tìm Siméon để giúp ông ấy, để cứu ông ấy khỏi một mối nguy lớn.”

“Một mối nguy lớn ư?” Ông Vacherot kêu lên. “Ồ, thế thì tôi chẳng ngạc nhiên cho lắm! Tôi chưa từng thấy ông ấy bị kích động mạnh đến thế bao giờ.”

“Vậy là ông ấy đã đến đây à?”

“Vâng, quãng sau nửa đêm một chút.”

“Giờ ông ấy vẫn còn ở đây chứ?”

“Không, ông ấy lại đi mất rồi.”

Patrice không giấu nổi thất vọng. Anh hỏi: “Thế ông ấy có để lại ai ở đây không?”

“Không, nhưng ông ấy định đem một người đến.”

“Một quý bà phải không?”

Ông Vacherot lưỡng lự.

... “Chúng tôi biết...” Don Luis tiếp tục. “. Ông Siméon Diodokis đang cố gắng tìm một nơi an toàn để đưa quý bà mà mình nhất mực tôn trọng tới ẩn náu.”

“Ông có thể cho tôi biết tên của quý bà đó không?” Người gác cổng vẫn hết sức cảnh giác, hỏi dò.

“Tất nhiên rồi. Bà Essarès, bà quả phụ của ông chủ nhà băng mà ông Siméon từng làm thư ký. Bà Essarès đang bị truy lùng; ông ấy bảo vệ bà ấy trước kẻ thù; và bản thân chúng tôi cũng muốn giúp hai người họ, đồng thời, chặn đứng tội ác và tóm được toàn bộ băng đảng tội phạm. Chúng tôi nhất quyết phải yêu cầu ông…”

“Ồ, ra là vậy.” Ông Vacherot giờ đã hoàn toàn vững dạ. “Tôi biết ông Siméon Diodokis đã nhiều năm rồi. Ông ấy vẫn luôn đối xử rất tốt với tôi từ hồi tôi còn làm thợ cho một chủ trại hòm; ông ấy cho tôi vay tiền; giúp tôi có được chỗ làm này và thường đến đây chơi, trò chuyện với tôi về đủ thứ...”

“Ví dụ như mối quan hệ của ông ấy với Essarès Bey à?” Don Luis tỏ vẻ hờ hững, hỏi. “Hay về các kế hoạch liên quan tới Patrice Belval của ông ta?”

Người gác cổng lại ngập ngừng một lúc, mãi sau mới nói: “Về đủ thứ. Ông Siméon ấy đúng là một người tuyệt vời nhất trên đời. Ông ấy đã làm rất nhiều điều tốt đẹp, và từng thuê tôi thay ông ấy hoàn thành những việc từ thiện của mình. Mới ban nãy thôi, ông ấy còn liều cả thân mình để cứu bà Essarès...”

“Một điều nữa thôi. Từ khi Essarès Bey mất, trừ hôm nay, ông có gặp ông ấy lúc nào nữa không?”

“Không, đây là lần đầu tiên. Ông ấy đến đây trước lúc chuông đồng hồ điểm một giờ một chút. Ông ấy vừa thở dốc vừa nghe ngóng tiếng động ngoài đường. “Có người đuổi theo tôi.” Ông ấy nói với tôi như vậy. “Có người đuổi theo tôi... Tôi thề...” “Nhưng là ai mới được?” Tôi hỏi. “Anh không biết hắn đâu.” Ông ấy đáp. “Hắn chỉ có một tay, nhưng có thể vặn cổ anh như vặn cổ gà.” Rồi ông ấy im bặt. Mãi một lúc sau, ông ấy mới nói tiếp, nhưng nói nhỏ lắm, tôi phải căng tai lên hết cỡ mới nghe được: “Nghe này, anh đi đằng này với tôi, chúng ta đi tìm một phụ nữ, bà Essarès. Chúng muốn giết bà ấy. Tôi đã giấu bà ấy rất kĩ rồi, nhưng bà ấy bị ngất. Chúng ta phải tới đưa bà ấy đi... Mà thôi, để tôi đi một mình. Tôi xoay xở được. Nhưng, tôi muốn biết, phòng của tôi ở đây vẫn trống chứ?...” À, để tôi nói rõ hơn, ông Siméon có thuê một căn phòng ở đây, từ hồi ông ấy buộc phải ẩn mình. Thỉnh thoảng, ông ấy quay trở lại đây, và ông ấy vẫn giữ căn phòng này để phòng khi cần thiết, vì đó là một căn phòng tách biệt hẳn với những căn phòng khác.”

“Rồi sau đó ông ta làm gì?” Patrice sốt ruột hỏi.

“Sau đó à? Ông ấy bỏ đi.”

“Nhưng tại sao đến giờ ông ta vẫn chưa quay lại?”

“Thú thật, tôi cũng thấy điều đó đáng lo lắm! Có thể kẻ bám theo ông Siméon đã tấn công ông ấy rồi chăng? Hay có chuyện gì xảy ra với quý bà ấy rồi?”

“Ông nói sao? Có chuyện gì xảy ra với bà ấy nghĩa là sao?”

“Tôi sợ có chuyện không hay xảy ra. Lúc ông ấy chỉ cho tôi đường phải đi để tới cứu bà ấy, ông ấy đã nói: “Mau! Chúng ta phải khẩn trương lên mới được. Tôi đã phải vùi bà Essarès xuống một cái hố để cứu bà ấy. Để bà ấy dưới đó hai, ba tiếng còn được. Nhưng để lâu hơn, bà ấy sẽ chết ngạt... thiếu không khí...”.”

Patrice nhào luôn vào người ông lão. Anh không giữ được bình tĩnh nữa. Nghĩ đến Coralie vẫn đang còn yếu, không chút sức lực, giờ lại bị giấu vào một chỗ nào không ai biết và sắp chết đến nơi, anh phát điên lên.

“Nói mau!” Anh thét lớn. “Ông phải nói ngay lập tức! Ông phải nói ngay cô ấy đang ở đâu. Ồ, đừng tưởng các người lừa được bọn tôi! Cô ấy ở đâu? Ông biết rõ chỗ cô ấy! Lão đã nói cho ông biết!”

Anh nắm lấy hai vai ông lão Vacherot và lắc thật lực, rồi lại trút hết cơn thịnh nộ điên cuồng không bút nào tả nổi của mình vào mặt ông ta.

Don Luis thì trái lại, cười giễu cợt.

“Hay lắm, Đại úy!” Anh ta nói. “Hay quá đi thôi! Phải khen anh thế nào cho vừa? Anh tiến bộ quá cơ, rõ là hợp tác với tôi có khác! Bây giờ thì ông Vacherot đây dễ sẽ lên núi đao, xuống biển lửa vì chúng ta đấy!”

“Hãy đợi đấy! Ông cứ chống mắt lên mà xem tôi có bắt lão khai được không!” Patrice thét lớn.

“Vô ích thôi, thưa ông.” Người gác cổng nói, giọng rất kiên quyết và điềm tĩnh. “Các ông đã lừa tôi. Các ông chính là kẻ thù của ông Siméon. Tôi sẽ không nói thêm bất kỳ một lời nào nữa với các ông đâu.”

“Lão không nói? Lão dám không nói à?”

Patrice nộ khí xung thiên, và trong cơn giận lên đến cực điểm, anh rút súng ra và gí vào đầu ông lão. “Tôi đếm đến ba. Đến lúc đó, nếu lão vẫn không chịu nói, lão sẽ biết Đại úy Patrice Belval này là người thế nào!”

Người gác cổng giật mình. Nhìn mặt ông lão, hình như đã có một điều gì xảy ra làm thay đổi toàn bộ tình hình hiện tại.

“Đại úy Belval! Anh vừa nói gì? Anh là Đại úy Belval sao?”

“Ái chà! Cái tên đó khiến lão phải suy nghĩ lại hả, lão già?”

“Anh thực sự là Đại úy Belval? Patrice Belval?”

“Xin hân hạnh phục vụ! Và hai giây nữa, nếu lão không chịu nói...”

“Patrice Belval! Anh là Patrice Belval và anh coi mình là kẻ thù của ông Siméon sao? Không, không thể thế được! Sao kia? Anh muốn...”

“Tôi muốn hạ lão ta như hạ một con chó ghẻ! Phải, lão già vô lại Siméon của lão, và cả lão nữa, lão đồng phạm khốn kiếp ạ! Quả là một cặp khốn nạn! Sao? Lão đã quyết chưa?”

“Trời cao đất dày ơi, vô phúc quá!” Ông lão gác cổng thở hắt ra. “Vô phúc quá! Anh không biết mình đang làm gì đâu... Giết ông Siméon ư? Anh? Anh định giết ông ấy ư? Trời cao đất dày ơi, anh tuyệt đối không được làm như thế!”

“Tại sao lại không? Nói mau, lão già ngu độn kia!”

“Anh, giết ông Siméon sao? Anh, Patrice? Anh, Đại úy Belval sao? Anh sao?”

“Sao trăng cái gì? Mẹ kiếp! Nói mau! Tại sao lại không?”

“Chuyện là...”

“Chuyện gì?”

“Vì...”

“Vì cái gì hả? Có nói ngay không, lão già khốn kiếp này? Vì cái gì?”

“Anh, Patrice sao? Giết ông Siméon sao?”

“Sao sao cái gì? Nói mau! Trời ạ! Nói mau!”

Ông lão gác cổng im bặt mất mấy giây, rồi thì thào đáp: “Anh là con trai ông ấy.”

Toàn bộ cơn điên của Patrice, nỗi khổ não khi nghĩ tới cảnh Coralie đã lọt vào tay Siméon hoặc đang nằm chờ chết trong một cái hố nào đó, cơn đau xé lòng, nỗi kinh hoàng của anh, tất thảy bỗng nhường chỗ cho một cơn vui quái dị bất ngờ xồ đến, bộc lộ qua một tràng cười lớn.

“Con trai của Siméon! Ông nói cái quái gì thế? Ha ha ha! Buồn cười thật đấy! Chao ôi! Trí tưởng tượng của ông phong phú thật. Để cứu bạn, ông còn viện được một lý do trời ơi đất hỡi thế này cơ! Lão già chết tiệt! Hay chưa! Hợp lý chưa! “Không được giết người này, đó là cha anh đấy!” Chao ôi? Lão già Siméon thối tha đó sao? Siméon Diodokis, cha của Đại úy Patrice Belval! Tôi đến vỡ bụng vì cười mất thôi!”

Don Luis nãy giờ vẫn lẳng lặng đứng nghe toàn bộ câu chuyện. Anh ta ra hiệu cho Patrice và nói: “Đại úy, anh cho phép tôi làm sáng tỏ việc này chứ? Chỉ mất vài phút thôi, và điều này chắc chắn không làm ta chậm trễ đâu, ngược lại là đằng khác.”

Và, không chờ câu trả lời của anh chàng sĩ quan nóng vội, Don Luis quay sang ông lão, chậm rãi nói: “Chúng ta hãy giải thích rõ ràng mọi việc với nhau nhé, thưa ông Vacherot. Đây là chuyện tối quan trọng. Chỉ cần nói thẳng vào trọng điểm và đừng lôi những lời thừa thãi vào. Hơn nữa, từ nãy đến giờ, ông cũng đã nói quá nhiều, nhưng điều cần nói lại vẫn chưa đâu vào đâu. Siméon Diodokis không phải là tên thật vị ân nhân của ông, đúng chứ?”

“Đúng vậy!”

“Ông ấy tên là Armand Belval; và người tình của ông ấy gọi ông ấy là Patrice Belval, đúng không?”

“Đúng, là tên con trai ông ấy.”

“Tuy nhiên, ông Armand Belval từng là nạn nhân của một vụ giết người với người tình của ông ấy, mẹ của Coralie Essarès?”

“Đúng, nhưng mẹ của Coralie Essarès đã chết; còn ông ấy thì không.”

“Chuyện xảy ra vào ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895.”

“Đúng, ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895.”

Patrice kéo tay Don Luis.

“Đi thôi!” Anh quýnh quáng, nói líu ríu. “Coralie sắp nguy đến nơi rồi. Lão súc sinh đã chôn cô ấy. Chỉ duy nhất điều đó là quan trọng thôi.”

Don Luis hỏi: “Lão súc sinh? Anh không tin đó là cha mình sao?”

“Ông điên rồi!”

“Thế nhưng, Đại ủy ạ, anh đang run kìa...”

“Có thể... có thể... nhưng đó là vì Coralie... Tôi thậm chí còn không nghe được lão già này nói những gì! Đúng là một cơn ác mộng, từng lời lão ta nói đều là ác mộng! Hãy bắt lão câm đi! Bắt lão câm ngay đi! Đáng lẽ tôi phải bẻ cổ lão từ đầu!”

Anh ngồi phịch xuống một chiếc ghế, chống hai khuỷu tay lên bàn và đưa hai tay ôm đầu. Những giây phút đó thực sự rất kinh hoàng, và không một tai họa nào có thể khiến người ta chấn động đến cực độ như vậy.

Don Luis nhìn anh đầy thương cảm, rồi lại quay sang ông Vacherot và nói: “Ông Vacherot, xin hãy giải thích rõ. Ngắn gọn hết mức có thể, được chứ? Không cần đi vào chi tiết. Chúng ta sẽ nói tới những chi tiết sau. Như vậy, ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895...”

“Ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895, một công chứng viên đi cùng với một cảnh binh đến chỗ ông chủ tôi, ở ngay gần đây, đặt đóng gấp hai cỗ áo quan. Toàn bộ xưởng mộc chúng tôi liền hì hục làm không ngơi tay cho kịp đơn hàng. Đến mười giờ tối, ông chủ, một thợ bạn và tôi đưa áo quan đến một ngôi nhà nhỏ trên đường Raynouard.”

“Tôi biết rồi. Kể tiếp đi.”

“Ở đó có hai người chết. Người ta bọc thi hài trong vải liệm và đặt vào trong quan tài. Rồi, đến mười một giờ, ông chủ và người thợ kia ra về, để tôi ở lại đó với một bà xơ. Lúc đó, chỉ còn việc đóng đinh vào nắp áo quan nữa mà thôi. Chà, đúng lúc đó, bà xơ, suốt từ đầu buổi vẫn trông thi hài và cầu kinh, bắt đầu thiu thiu ngủ, và một chuyện đã xảy ra... Ôi! Chuyện ấy làm tôi dựng hết cả tóc gáy, ngài ạ. Cả đời này tôi không bao giờ quên được... Chân tôi bủn rủn, người run bần bật vì khiếp hãi... Thưa ngài, xác người đàn ông bắt đầu động đậy. Người đàn ông vẫn còn sống!”

Don Luis hỏi: “Vậy là lúc đó ông chưa biết gì về vụ giết người à? Ông không biết gì về việc đã xảy ra?”

“Vâng, lúc ấy, người ta chỉ nói với chúng tôi rằng họ đã tự tử bằng khí ga... Hơn nữa, phải mất nhiều giờ, người đàn ông mới tỉnh lại hoàn toàn. Ông ấy như bị đầu độc vậy.”

“Nhưng tại sao ông không báo cho bà xơ biết?”

“Tôi không nói được gì. Lúc đó, tôi chết sững vì khiếp hãi. Tôi chỉ biết nhìn người ấy từ từ sống lại, dần dần tỉnh lại, và cuối cùng là mở mắt ra. Câu đầu tiên ông ấy nói là: “Cô ấy đi rồi, phải không?” Rồi ông ấy lại lập tức nói ngay: “Đừng nói chuyện này với ai hết. Bí mật tuyệt đối. Cứ để người ta nghĩ rằng tôi đã chết rồi, như thế tốt hơn.” Và không hiểu sao tôi lại đồng ý ngay. Phép lạ đó khiến cho tôi mất hết lý trí... Tôi vâng lời ông ấy như một đứa trẻ... Cuối cùng, ông ấy đứng dậy. Ông ấy cúi xuống bên cỗ áo quan kia, kéo tấm liệm ra và hôn lên gương mặt của người phụ nữ đã chết, thì thầm: “Anh sẽ trả thù cho em. Anh sẽ dành trọn cuộc đời này để trả thù cho em, và để thực hiện ước nguyện của em: Đưa các con của chúng ta lại bên nhau. Anh không đi theo em là vì chúng, vì Patrice và Coralie. Vĩnh biệt em!” Rồi ông ấy nói với tôi: “Xin hãy giúp tôi.” Thế rồi, chúng tôi nâng người đã khuất ra khỏi áo quan và đưa bà ấy sang căn phòng nhỏ bên cạnh. Sau đó, chúng tôi ra vườn, bê mấy tảng đá lớn bỏ vào áo quan thay cho hai xác chết. Xong việc, tôi đóng đinh hai chiếc áo quan, gọi bà xơ dậy rồi ra về. Còn người đàn ông nọ trốn vào căn phòng nhỏ với người phụ nữ đã mất. Sáng hôm sau, mấy người làm dịch vụ mai táng đến đưa hai cỗ áo quan đi.”

Patrice đã buông hai tay ra, quay gương mặt méo xệch của mình về phía Don Luis và người gác cổng. Ánh mắt phờ phạc của anh dừng lại nơi ông lão, anh khó khăn lắm mới nói được nên lời.

“Còn những ngôi mộ thì sao?” Anh hỏi. “Những dòng chữ trên bia mộ ghi rõ cả hai người quá cố đều an nghỉ ở đó, gần căn nhà nơi xảy ra vụ giết người cơ mà? Cái nghĩa trang ấy là sao?”

“Armand Belval muốn vậy. Hồi đó, tôi sống trên một gác xép trong tòa nhà này, nơi chúng ta đang đứng đây. Tôi đã thuê cho ông ấy một căn hộ để ông ấy bí mật nương náu dưới cái tên Siméon Diodokis, bởi lẽ Armand Belval trên giấy tờ đã chết, và ông ấy đã ở đây suốt mấy tháng trời, không hề ra ngoài. Rồi, dưới cái tên mới, và qua trung gian là tôi, ông ấy mua lại căn nhà của mình trên đường Raynouard. Rồi, từng chút một, chúng tôi cùng nhau đào hai huyệt mộ, một cho Coralie và một cho chính ông ấy. Phải, một huyệt cho chính ông ấy, bởi vì, tôi xin nhắc lại, đó là điều ông ấy muốn. Patrice và Coralie đều đã chết. Dường như với ông ấy, làm như vậy, ông ấy sẽ không chia xa người mình yêu. Thú thật, có lẽ nỗi tuyệt vọng trong lòng quá lớn đã khiến tinh thần ông ấy hơi thiếu ổn định, nhưng một chút thôi, và chỉ ở những gì liên quan đến kỷ niệm với người phụ nữ đã mất vào ngày Mười bốn tháng Tư năm 1895, và sự tận hiến của ông ấy dành cho bà ấy. Ông ấy viết tên mình và tên bà ấy khắp nơi: trên bia mộ, trên tường, trên cây và trên thành những bồn hoa. Đó là tên của anh và Coralie Essarès... Lúc nào ông ấy cũng chỉ nghĩ đến việc trả thù tên sát nhân, về con trai mình và con gái người phụ nữ quá cố... Đúng vậy đấy, trong đầu ông ấy chỉ có những điều ấy mà thôi. Xin hãy tin tôi!”

Patrice giơ hai bàn tay co quắp và quay gương mặt quẫn trí của mình về phía ông lão gác cổng.

“Bằng chứng!” Anh nghèn nghẹt dằn mạnh từng tiếng. “Đưa bằng chứng đây cho tôi! Ngay lập tức! Lúc này, có một người đang sắp chết vì ý định tàn ác của lão khốn ấy đấy! Một sinh mạng đang sắp tắt đấy! Mau đưa tôi bằng chứng

“Không phải sợ đâu.” Ông Vacherot nói. “Người bạn của tôi chỉ có một ý định là cứu người phụ nữ đó, chứ không phải giết cô ta...”

“Lão đã nhử bọn tôi, cô ấy và tôi, vào trong căn nhà đó để giết cả hai, giống như cha mẹ chúng tôi đã bị giết ngày trước.”

“Ông ấy chỉ tìm cách đưa hai người lại bên nhau thôi.”

“Phải, trong cõi chết.

“Trong cuộc sống. Anh là con trai yêu quý của ông ấy. Ông ấy luôn kể với tôi về anh với niềm tự hào to lớn.”

“Lão là một tên vô lại, một con quái vật!” Viên Đại úy quát lớn.

“Ông ấy là người tốt nhất trên đời, thưa anh, và đó là cha của anh.”

Patrice chồm dậy, nổi khùng vì lời xúc phạm đó.

“Bằng chứng!” Anh gầm lên. “Mau đưa bằng chứng ra! Tôi cấm lão nói thêm một lời nào trước khi chứng minh được đó là sự thật không thể chối cãi!”

Ông lão không rời khỏi chỗ ngồi. Ông chỉ với tay ra phía một bàn giấy có ngăn kéo bằng gỗ gụ đã cũ, hạ nắp xuống, và ấn vào một cái lò xo để kéo một ngăn kéo bàn ra. Rồi ông đưa ra một tập giấy. “Anh biết nét chữ của cha mình mà, phải không, Đại úy? Chắc anh vẫn còn giữ những lá thư ông ấy gửi cho anh hồi anh còn đang đi học ở Anh. Đây, anh đọc những bức thư mà ông ấy viết cho tôi đi. Anh sẽ thấy tên mình được nhắc đến hàng trăm lần, tên con trai ông ấy; và anh sẽ thấy cả tên của cô Coralie mà ông ấy định cưới cho anh. Toàn bộ cuộc đời anh - việc học tập của anh, những chuyến đi của anh, cả

công việc của anh nữa - toàn bộ đều được kể hết trong thư. Anh cũng sẽ thấy những bức ảnh của mình mà ông ấy đã nhờ người ta chụp trộm, cả những bức ảnh của Coralie hồi ông ấy đến Salonique nữa. Trên hết, anh sẽ thấy lòng căm thù của ông ấy với Essarès Bey, kẻ ông ấy làm thư ký cho, và cả những kế hoạch trả thù, lòng kiên nhẫn và sự bền bỉ của ông ấy nữa. Anh cũng sẽ thấy nỗi tuyệt vọng của cha mình khi biết tin Essarès làm đám cưới với Coralie, và ngay sau đó là niềm sung sướng khi ông ấy nghĩ sự trả thù của mình sẽ đau đớn gấp bội khi ông ấy đưa được con trai mình đến với vợ của Essarès.”

Vừa nói, ông lão vừa chuyển dần cho Patrice từng bức thư một. Chỉ mới liếc qua, anh đã nhận ra ngay nét chữ của cha mình. Anh ngồi xuống, ngấu nghiến đọc những dòng có tên mình được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Ông Vacherot nhìn anh chăm chú. “Anh còn nghi ngờ gì nữa không, Đại úy?”

Viên Đại úy ghì mạnh đôi nắm tay siết chặt lên hai bên thái dương.

“Tôi đã nhìn thấy bộ mặt của ông ta...” Anh nhấn mạnh. “... Phía trên ô cửa kính trên trần của căn nhà mà ông ta giam chúng tôi... Ông ta hả hê nhìn chúng tôi chết dần, với vẻ mặt bừng bừng lửa hận... Ông ta còn căm thù chúng tôi hơn cả Essarès...”

“Nhầm rồi! Chắc chắn là ảo giác!” Ông lão phản đối. “Hoặc một cơn điên.” Patrice lẩm bẩm.

Rồi anh đấm mạnh xuống bàn, cảm xúc của anh bất ngờ thay đổi.

“Không đúng! Không đúng!” Anh kêu lên. “Người này không phải là cha tôi. Không! Một kẻ khốn nạn như vậy không thể là cha tôi được!...”

Anh quay cuồng bước trong chòi gác nhỏ xíu và dừng lại trước mặt Don Luis. Anh dằn từng tiếng: “Ta đi thôi. Không thì tôi cũng sẽ phát điên lên mất. Một cơn ác mộng không còn từ nào khác chuẩn hơn, một cơn ác mộng mà trong đó mọi thứ đều đảo lộn và đầu óc cũng bị lật úp xuống. Ta đi thôi... Coralie đang gặp nguy hiểm... Chỉ có điều đó mới quan trọng.”

Người gác cổng lắc đầu. “Tôi sợ rằng

“Ông sợ cái gì?” Patrice lại gầm lên.

“Tôi sợ rằng người bạn tội nghiệp của tôi đã bị kẻ bám theo ông ấy đuổi kịp... mà như thế, làm sao ông ấy cứu bà Essarès được? Ông ấy nói với tôi ở chỗ đó, người phụ nữ tội nghiệp kia khó mà thở được.”

“Khó mà thở được...” Patrice lặp lại những lời đó như một cái máy. “Coralie nguy rồi... Coralie...”

Anh bám vào tay Don Luis, loạng choạng bước ra khỏi chòi gác như một người say.

“Cô ấy thế là... hết rồi, phải không?” Anh khóc.

“Không đâu!” Don Luis nói. “Siméon cũng đang phát sốt lên như anh vậy. Lão đã tiến gần đến cái kết bi thảm của mình rồi. Lão đang run lên vì sợ hãi và không kiểm soát được lời nói của mình. Tin tôi đi, Coralie của anh không gặp nguy hiểm tức thời đâu. Chúng ta vẫn còn vài giờ để hành động.”

“Ông chắc chứ?”

“Chắc như đinh đóng cột!”

“Nhưng Ya-Bon...”

“Sao?”

“Ngộ nhỡ Ya-Bon đã tóm được ông ta thật thì sao?”

“Tôi đã ra lệnh cho Ya-Bon không được giết lão. Vì thế, dù chuyện gì xảy ra đi nữa, Siméon vẫn sẽ sống. Đó là điều tuyệt vời đấy. Miễn Siméon còn sống, ta không phải sợ điều gì cả. Lão sẽ không để mặc cho Coralie chết đâu.”

“Sao lại không? Ông ta hận cô ấy đến thế cơ mà? Sao lại không chứ? Ông ta thực ra là người thế nào vậy? Ông ta đã từng dành trọn đời mình cho tình yêu, cho chúng tôi; thế rồi bất thình lình, tình yêu thương ấy lại biến thành thù hận.”

Anh siết chặt cánh tay Don Luis và hỏi, giọng lạc hẳn đi: “Ông có tin đó là cha tôi không?”

“Nghe này... ta không thể phủ định ở đây đã có vài sự trùng hợp...”

“Tôi xin ông” Patrice ngắt lời. “Đừng vòng vo... Hãy nói thẳng một câu. Ông có tin không? Chỉ thế thôi!”

Don Luis đáp: “Siméon Diodokis là cha của anh, Đại úy ạ.”

“A!!! Đừng! Đừng! Ông im đi! Kinh khủng quá! Chúa ơi, con đang chìm sâu trong bóng tối!”

“Trái lại là đằng khác.” Don Luis nói. “Bóng tối bắt đầu tan đi một chút rồi, và thú thật, cuộc nói chuyện vừa rồi của chúng ta với ông Vacherot đã soi cho tôi một chút ánh sáng.”

“Thật ư?...”

Nhưng trong cái đầu đang phát sốt của Patrice lúc này, những ý nghĩ lộn xộn cứ xô đẩy nhau.

Đột nhiên, anh đứng khựng lại. “Siméon có khi đã quay lại chòi gác cổng rồi đấy! Mà chúng ta không còn ở đó. Có khi ông ta đã đem Coralie về đó rồi!”

“Không có đâu.” Don Luis khẳng định chắc nịch. “Nếu có đem thì lão đã đem về từ trước rồi. Không, chúng ta phải đi tìm lão.”

“Nhưng tìm ở đâu?”

“Ơ kìa! Ở chỗ cuộc chiến đã diễn ra chứ ở đâu... chỗ giấu vàng. Mọi hành động của kẻ thù đều xoay quanh chỗ vàng đó; và anh có thể yên tâm rằng, ngay cả khi rút lui, lão cũng không đi xa khỏi nó đâu. Bên cạnh đó, ta cũng biết rằng lão không đi đâu xa khỏi xưởng đóng tàu Berthou.”

Patrice không nói thêm lời nào nữa, anh để yên cho Don Luis dẫn mình đi. Đột nhiên, Don Luis kêu lên: “Anh có nghe thấy không?”

“Có, một tiếng súng nổ.”

Lúc bấy giờ, họ đang chuẩn bị rẽ vào đường Raynouard. Những ngôi nhà cao tầng ở đây khiến họ không xác định được địa điểm chính xác nơi phát ra tiếng súng nhưng dường như, nó vang lên từ nhà của Essarès hoặc khu vực sát đó. Patrice lo lắng. “Có phải là Ya-Bon không?”

“Tôi e là vậy.” Don Luis đáp. “Và vì Ya-Bon sẽ không bắn, nên rất có thể đã có kẻ bắn cậu ta... Ôi, lạy Chúa tôi, nếu cậu Ya-Bon khốn khổ của tôi có mệnh hệ nào...!”

“Ngộ nhỡ là bắn cô ấy, bắn Coralie thì sao?” Patrice nức nở.

Don Luis bật cười. “Ôi trời, Đại úy thân yêu của tôi ơi! Tôi suýt thấy hối hận khi dính vào vụ này rồi đấy! Trước khi tôi đến, anh cũng sắc sảo và sáng suốt lắm cơ mà! Việc quái gì Siméon phải bắn Coralie của anh khi cô ấy đã nằm trong tay lão cơ chứ?”

Họ bước vội hơn. Lúc đi ngang qua nhà Essarès, họ thấy tất cả đều yên ắng. Họ tiếp tục đi cho đến lúc gặp con ngõ nhỏ. Họ rẽ vào đó.

Patrice cầm chìa khóa, nhưng cửa ngách dẫn vào khu vườn có căn nhà nhỏ đã bị cài then ở bên trong.

“A ha!” Don Luis nói. “Thế chứng tỏ chúng ta đã đi đúng đường rồi đấy. Hẹn gặp lại anh trên bờ kè nhé, Đại úy. Tôi xuống bến Berthou để kiểm tra lại một chút.”

Chỉ mấy phút sau, những tia sáng yếu ớt của buổi bình minh nhợt nhạt đã bắt đầu len vào giữa bóng đêm. Trên bờ kè và cầu tàu vẫn vắng vẻ như thường.

Don Luis không thấy có gì đặc biệt trong xưởng đóng tàu Berthou; nhưng khi anh ta quay lên bờ kè phía trên, Patrice chỉ cho anh ta thấy trên lề con đường bao quanh khu vườn có căn nhà nhỏ, có một chiếc thang nằm ở cuối đường. Don Luis nhận ra đó là chiếc thang đã biến mất khỏi gian để dụng cụ trong xưởng đóng tàu. Ngay lập tức, với khả năng suy luận tuyệt vời, vốn là một trong những tài năng tuyệt đỉnh của anh ta, anh ta giải thích luôn: “Siméon có chìa khóa vườn, do đó, chắc chắn Ya-Bon đã lấy chiếc thang dưới xưởng để trèo vào trong. Vậy là cậu ta đã thấy Siméon nấp trong đó sau khi đi thăm ông bạn Vacherot về và sau khi tới bắt Coralie. Câu hỏi đặt ra lúc này là: Siméon đã đưa được Coralie về chưa, hay đã bỏ đi trước khi đón cô ấy? Tôi không biết. Nhưng, dù là trường hợp nào...”

Anh ta cúi người xuống sát đất, quan sát vỉa hè và nói tiếp: “Dù là trường hợp nào, có một điều chắc chắn: Ya-Bon đã biết nơi những túi vàng được cất giấu, rất có thể, Coralie của anh đang bị giam ở đó, và cũng rất có thể - nếu thế thì nguy quá - cô ấy vẫn còn ở đó, nếu kẻ thù lo cho an toàn của bản thân mà không kịp đưa cô ấy ra.”

“Ông chắc chứ?”

“Nhìn này, Đại úy, Ya-Bon luôn mang theo một mẩu phấn trong túi. Do không biết viết, trừ những chữ có trong tên tôi ra, cậu ta đã vạch hai đường thẳng và cùng với đường thẳng ở chân bức tường này, chúng tạo thành một hình tam giác... tam giác vàng.”

Don Luis đứng thẳng người dậy.

“Chỉ dẫn sơ sài quá. Nhưng Ya-Bon luôn tin rằng tôi là một pháp sư. Cậu ta luôn tin chắc tôi sẽ tìm được đến đây và ba dòng kẻ này là đủ cho tôi giải quyết mọi việc. Ôi, Ya-Bon tội nghiệp!”

“Nhưng…” Patrice phản đối. “Nói như ông thì những điều này phải xảy ra trước khi chúng ta về tới Paris, tức là khoảng nửa đêm hoặc một giờ sáng.”

“Đúng!”

“Còn tiếng súng mà chúng ta vừa nghe thấy ban nãy lại xảy ra sau đó khoảng bốn đến năm tiếng rồi!”

“Về điểm này thì tôi không dám chắc. Có thể phỏng đoán rằng Siméon đã nấp ở đâu đó trong bóng tối. Đến khi trời mờ sáng, không nghe thấy động tĩnh gì của Ya-Bon và cũng đã thấy bình tĩnh hơn, lão mới đánh liều đi ra ngoài. Ya-Bon, suốt cả đêm vẫn luôn lặng lẽ theo dõi lão, lúc này mới nhảy vào.”

“Vậy là ông cho rằng…”

“Tôi cho rằng đã xảy ra một cuộc chiến, Ya-Bon đã bị thương và Siméon...”

“Siméon đã chạy trốn sao?”

“Hoặc đã bị giết. Mấy phút nữa, chúng ta sẽ biết ngay thôi.” Don Luis dựng thang lên, bắc vào hàng song sắt trên đỉnh tường. Anh ta đỡ cho Patrice trèo lên trước. Rồi, sau khi đến lượt mình trèo qua được hàng chấn song, Don Luis kéo thang lên, ném nó vào trong vườn và quan sát thật kĩ xung quanh. Cuối cùng, họ rẽ đám cỏ cao và những bụi rậm, tiến về phía căn nhà.

Ánh sáng ban ngày bừng lên nhanh chóng, vạn vật trở nên rõ nét hơn. Hai người đi vòng quanh ngôi nhà. Khi thấy khoảng sân trước nhà, Don Luis, bấy giờ đang dẫn đường, mới quay lại với Patrice và nói: “Tôi không hề nhầm.”

Và, ngay lập tức, anh ta chạy vội lên phía trước.

Ngay trước cửa ra vào ngoài sảnh, hai địch thủ nằm dưới đất, quấn chặt lấy nhau. Trên đầu Ya-Bon là một vết thương vô cùng khủng khiếp, máu từ đó xối xả tuôn ra, dính đầy mặt. Tay phải anh ta siết chặt lấy cổ Siméon.

Don Luis lập tức nhận ra Ya-Bon đã chết. Nhưng Siméon Diodokis vẫn còn sống.

« Lùi
Tiến »