Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 171 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 9
fiat lux[19]!

Tối ngày hôm ấy, Patrice đi dạo trên bờ kè Passy. Lúc đó mới gần sáu giờ chiều. Thi thoảng mới có một chiếc xe điện hay vài chiếc xe tải chạy ngang qua. Trên bờ kè có rất ít người đi tản bộ. Patrice gần như chỉ có một mình.

Suốt từ sáng đến giờ, anh vẫn chưa gặp Don Luis Perenna. Anh chỉ nhận được một dòng tin nhắn của Don Luis, nhờ anh đưa thi hài Ya-Bon về nhà Essarès và hẹn gặp anh trên bờ kè phía trên xưởng đóng tàu Berthou.

Đã sắp đến giờ hẹn và Patrice nóng lòng muốn gặp Don Luis ngay. Cuối cùng, qua cuộc gặp này, anh sẽ được biết sự thật. Bản thân anh đã đoán được phần nào sự thật đó, nhưng vẫn còn đó không ít bí mật chưa sáng tỏ và hàng bao nhiêu khúc mắc chưa được tháo gỡ. Tấn thảm kịch đã đến hồi kết. Bức màn nhung đã hạ xuống bằng cái chết của tên phản diện. Mọi chuyện đều đã yên: Chẳng còn gì để phải lo sợ nữa, chẳng còn cạm bẫy nào bày ra cho họ. Kẻ thù kinh khủng kia đã bị hạ gục. Nhưng Patrice vẫn thấy sốt ruột vô cùng khi đợi chờ giây phút ánh sáng tự do và tràn ngập chiếu sáng tấn thảm kịch.

“Chỉ vài lời thôi.” Anh tự nhủ. “Chỉ vài lời của con người phi thường tên là Arsène Lupin ấy, mọi bí ẩn sẽ được làm sáng tỏ. Với ông ấy, chuyện này thật quá đơn giản. Độ một giờ nữa, ông ấy sẽ lên đường.”

Rồi Patrice tự hỏi: “Liệu ông ấy có mang theo bí mật về chỗ giấu vàng biến mất cùng mình không nhỉ? Ông ấy có chịu giúp mình giải đáp bí mật tam giác vàng hay không? Và ông ấy giữ vàng cho bản thân bằng cách nào được nhỉ? Ông ấy làm cách nào để chuyển số vàng đó đi?”

Một chiếc ô tô từ phía quảng trường Trocadéro chạy đến. Xe từ từ đi chậm lại và dừng sát lề đường. Chắc đó là Don Luis, Patrice nghĩ. Nhưng ngạc nhiên chưa, Patrice nhận ra người đang mở cửa xe và vừa tiến về phía anh, vừa chìa tay ra cho anh lại là ngài Desmalions.

“Chà, chào Đại úy, anh khỏe chứ? Tôi cũng đúng hẹn đấy nhỉ? Nhưng này, anh lại bị thương ở đầu nữa đấy à?”

“Vâng, nhưng không nghiêm trọng gì đâu.” Patrice trả lời. “Nhưng ngài đang nói về cuộc hẹn nào thế ạ?”

“Ơ kìa! Tất nhiên là cuộc hẹn giữa anh và tôi rồi!”

“Tôi có hẹn ngài đâu ạ.”

“Sao?” Ngài Desmalions kêu lên. “Thế nghĩa là thế nào? Đây, người ta chuyển lời nhắn này đến Sở Cảnh sát cho tôi mà. Để tôi đọc anh nghe: “Thay mặt Đại úy Belval, xin thông báo với ngài Desmalions: Chuyện về tam giác vàng đã được giải quyết. Một nghìn tám túi vàng đang ở trong tay Đại úy. Xin ngài vui lòng đến bờ kè Passy lúc sáu giờ, với đầy đủ thẩm quyền cấp chính phủ để chấp nhận các điều kiện giao nộp vàng. Nếu ngài mang theo khoảng hai mươi cảnh sát tinh nhuệ, lại điều một nửa quân số đứng canh ở trước nhà Essarès, và một nửa canh ở phía còn lại, mỗi bên đều cách nhà một trăm mét, ắt sẽ rất có ích.” Đó! Anh nghe rõ cả rồi chứ?”

“Vâng, hoàn toàn rõ.” Patrice nói. “Nhưng tôi chưa bao giờ gửi ngài tin nhắn này cả.”

“Vậy thì ai gửi chứ?”

“Của một người đặc biệt phi thường, người đã giải tất cả những bí ẩn kia chỉ như chơi trò giải đố của trẻ nhỏ và chắc chắn, người ấy cũng sẽ có mặt ở đây để mang lời giải đến cho ngài.”

“Người ấy tên là gì?”

“Tôi không nói được.”

“Ái chà! Tôi không biết đấy. Rất khó giữ bí mật trong thời buổi chiến tranh thế này mà!”

“Trái lại, rất dễ đấy, thưa ngài.” Một giọng nói vang lên sau lưng ngài Desmalions. “Ngài chỉ cần quyết giữ là được thôi.”

Ngài Desmalions và Patrice cùng quay lại. Họ thấy một quý ông mặc chiếc áo khoác đen, dài, giống kiểu áo của những thầy tu dòng Levi, lại có cổ áo cao ôm sát cổ, làm người đó trông giống như một giáo sĩ ở Anh.

“Đây là người bạn mà tôi đã nói với ngài.” Patrice nói, dẫu lúc này, anh vẫn chưa nhận ra những đường nét quen thuộc của Don Luis. “Ông ấy đã cứu tôi hai lần, và cứu cả vị hôn thể của tôi nữa. Tôi xin đảm bảo cho ông ấy trên mọi phương diện.”

Ngài Desmalions cúi người chào; và Don Luis liền nói ngay, giọng rất nhẹ: “Thưa ngài, thời gian của ngài rất quý báu, và của tôi cũng vậy, vì tôi phải rời Paris ngay tối nay, và rời nước Pháp vào ngày mai. Tôi sẽ giải thích rất ngắn gọn thôi. Ngài cũng đã nắm được những điểm chính của tấn thảm kịch vừa kết thúc sáng nay nên tôi không đi sâu vào chi tiết nữa. Patrice sẽ kể lại đầy đủ cho ngài nghe sau. Vả lại, với năng lực chuyên môn và óc nhạy bén bẩm sinh, ngài chắc chắn sẽ dễ dàng làm sáng tỏ những điều còn khuất sau màn sương bí ẩn. Do đó, tôi sẽ chỉ nhắc lại những điểm cần thiết. Đầu tiên, anh bạn Ya-Bon tội nghiệp của chúng ta đã mất. Vâng, anh ấy đã mất đêm qua, sau khi dũng cảm chiến đấu chống lại kẻ thù. Chưa hết, ngài sẽ còn tìm thấy ba xác chết khác nữa: xác của Grégoire - tên thật là bà Mosgranem - trên chiếc sà lan đằng kia, xác ông Vacherot nằm trong một góc nào đó ở dãy căn hộ tại số 18 đường Guimard, và cuối cùng là xác của Siméon Diodokis, trong phòng khám tư của bác sĩ Géradec trên đại lộ Montmorency.”

“Xác của già Siméon ư?” Ngài Desmalions kinh ngạc hỏi.

“Già Siméon đó đã tự tử. Đại úy Belval sẽ cho ngài biết chi tiết về con người này và thân phận thực sự của ông ta sau, tôi tin rằng rồi ngài sẽ đồng ý với tôi một điều là tốt nhất, nên im chuyện này đi. Nhưng, như tôi đã nói, chúng ta sẽ không đi vào những việc thế này. Dưới góc nhìn của ngài, đó chỉ là những chi tiết vặt vãnh và là chuyện đã rồi mà thôi. Điều ngài quan tâm hơn tất thảy, và ngài cũng rất lịch sự khi chỉ bận tâm đến riêng điều ấy, là vấn đề về vàng đúng không nhỉ?”

“Đúng thế!”

“Ngài có dẫn quân theo chứ?”

“Có! Nhưng để làm gì vậy? Chỗ giấu vàng vẫn sẽ y nguyên như cũ, thậm chí, sau khi ông tiết lộ cho tôi, những người khác cũng không thể biết được kia mà?”

“Dĩ nhiên là thế; nhưng khi số người biết bí mật này tăng thêm, bí mật sẽ có thể không giữ được nữa. Nhưng dù sao đi nữa...” Don Luis nhấn mạnh câu này. “Dù sao đi nữa, đó là một trong hai điều kiện của tôi.”

Ngài Desmalions cười. “Ông cũng thấy rồi đấy, chúng tôi đã chấp nhận điều kiện đó. Người của chúng tôi đang canh ở đúng chỗ mà ông yêu cầu. Vậy điều kiện còn lại là gì, thưa ông?”

“Điều kiện này quan trọng hơn nhiều, thưa ngài, quan trọng tới nỗi tôi e rằng quyền hạn của ngài hiện giờ vẫn không đủ.”

“Xin cứ nói, rồi chúng ta sẽ cùng xem xét.”

“Tốt lắm!”

Và Don Luis, giọng phớt tỉnh như không, cứ như đang kể một câu chuyện hết sức bình thường, không có gì hệ trọng, thản nhiên đưa ra một lời đề nghị đáng giật mình: “Thưa ngài, cách đây hai tháng, nhờ những mối quan hệ cá nhân ở vùng Cận Đông, cũng như sức ảnh hưởng của mình trong một vài giới nhất định ở Ottoman, tôi đã thuyết phục được những người đang nắm quyền ở Thổ Nhĩ Kỳ chấp nhận một nền hòa bình riêng biệt. Vấn đề chỉ đơn giản nằm ở vài trăm triệu đóng góp mà thôi. Tôi đã chuyển lời đề nghị này tới phe Hiệp ước nhưng bị từ chối, dĩ nhiên không phải vì lý do tài chính mà là vì những lý do chính trị không thuộc quyền phán xét của tôi. Tôi không muốn phải chịu thêm một thất bại ngoại giao nào như thế nữa. Tôi đã hỏng mất cuộc đàm phán đầu tiên, tôi nhất định sẽ không để hỏng thêm lần thứ hai. Vì thế, tôi buộc phải thận trọng”

Don Luis ngừng lại một chút, ngài Desmalions không hề chen ngang vì quá choáng. Rồi Don Luis lại nói tiếp, giọng nghiêm túc hơn: “Ngài cũng đã biết rồi đấy, trong khoảng thời gian này, tháng Tư năm 1915, đang diễn ra các hội nghị giữa phe Hiệp ước và những cường quốc châu Âu còn lại mà tới giờ phút này hiện vẫn còn giữ thái độ trung lập. Những hội nghị ấy rồi sẽ thành công, sẽ thành công vì tương lai của cường quốc nọ đòi hỏi điều đó và vì lòng dân cũng đang sôi sục. Trong hàng loạt vấn đề đang tồn tại, nan giải nhất là một vấn đề có khả năng xóa bỏ những bất đồng chính kiến. Ý tôi muốn nói đến vấn đề tiền bạc. Cường quốc nọ muốn vay của chúng ta ba trăm triệu franc - bằng vàng, đồng thời cũng nói rõ lời từ chối từ phía chúng ta hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyết định vốn đã được đưa ra và không thể thu hồi. Chà, hiện giờ tôi lại có trong tay ba trăm triệu franc - bằng vàng, tôi là chủ nhân và được toàn quyền sử dụng số tiền đó; và tôi muốn cho những người bạn mới này của chúng ta vay. Đó là điều kiện thứ hai, và thực ra, là điều kiện duy nhất của tôi.”

Ngài Desmalions sững người. Chuyện này nghĩa là thế nào? Con người lạ lùng đang muốn sắp xếp các vấn đề quốc tế nghiêm trọng nhất và đưa ra những giải pháp mang tính cá nhân hòng đặt dấu chấm hết cho cuộc xung đột thế giới lớn nhất kia là ai?

“Nhưng, thưa ông!” Ngài nói. “Đây là những việc hoàn toàn nằm ngoài phạm vi xử lý của chúng ta; những việc này còn phải được thẩm tra và quyết định bởi những người khác, chứ không phải chúng ta.”

“Ai cũng có quyền được chi tiền của mình vào những việc mà mình thấy phù hợp.”

Ngài Desmalions tỏ vẻ âu sầu. “Thưa ông, xin hãy nghĩ lại. Chính ông cũng bảo rằng cường quốc đó chỉ coi đây là vấn đề thứ yếu thôi mà.”

“Đúng vậy, nhưng chỉ riêng vấn đề đó thôi cũng sẽ làm hiệp ước chậm lại vài ngày.”

“Chà, chỉ vài ngày thôi chắc cũng không có gì khác biệt cả.”

“Có đấy, chỉ vài giờ thôi sẽ tạo ra khác biệt đấy, thưa ngài.”

“Nhưng tại sao?”

“Tại vì một lý do mà ngài không hề biết và cũng không một ai ở đây biết, ngoại trừ tôi và một vài người ở cách đây hơn hai nghìn bảy trăm cây số.”

“Lý do gì?”

“Quân Nga đã hết đạn dược.”

Ngài Desmalions nhún vai tỏ vẻ thiếu kiên nhẫn. Toàn bộ chuyện này là sao đây, truyện kể trước giờ đi ngủ chắc?

Don Luis nhắc lại: “Quân Nga đã hết sạch đạn dược. Ở nơi mà tôi nói, đang có một trận chiến khốc liệt diễn ra, và chỉ vài giờ nữa thôi sẽ có kết quả. Tiền tuyến Nga sẽ bị chọc thủng, quân đội Nga sẽ phải rút lui... Họ sẽ rút đến đâu? Có trời mới biết! Dĩ nhiên, sự việc không thể tránh khỏi này chắc chắn sẽ chẳng gây ảnh hưởng gì đến mong muốn của cường quốc mà chúng ta đang nhắc đến. Tuy nhiên, trong đất nước ấy có một đảng đối lập rất mạnh và bạo lực. Ngài có biết mình sẽ đặt vào tay họ món vũ khí lợi hại như thế nào khi chậm trễ ký hiệp ước không? Ngài đang gây khó khăn cho các cấp lãnh đạo và những người chỉ huy cuộc chiến đấy! Đó sẽ là một sai lầm không thể tha thứ được! Tôi muốn đất nước chúng ta tránh được sai lầm ấy. Chính vì lẽ đó, tôi mới đưa ra điều kiện này.”

Ngài Desmalions xem chừng bối rối lắm. Ngài xua tay và lắc đầu quầy quậy, miệng lắp bắp: “Không được, không thể được. Một điều kiện như thế sẽ không bao giờ được chấp nhận đâu. Cần có thời gian, cần phải đàm phán...”

“Chỉ cần năm... hoặc sáu phút là tối đa thôi!”

“Thôi nào, thưa ông, ông nói toàn những chuyện...”

“Những chuyện tôi biết rõ hơn ai hết, một tình huống rõ ràng, một mối nguy hiểm rất thật, hoàn toàn có thể xoay chuyển được chỉ trong nháy mắt.”

“Nhưng không thể, thưa ngài, không thể được! Chúng ta đang gặp khó khăn...”

“Khó khăn gì?”

“Thì...” Ngài Desmalions kêu lên. “Đủ loại khó khăn, và hàng nghìn trở ngại không thể vượt qua...”

Chợt có người đặt tay lên cánh tay ngài Desmalions. Người ấy đã đến gần họ được một lúc và nghe hết bài phát biểu nho nhỏ của Don Luis. Người ấy bước xuống từ một chiếc xe ô tô đỗ ở đằng xa, sự có mặt của ông ta khiến Patrice kinh ngạc vô cùng, nhưng cả ngài Desmalions lẫn Don Luis Perenna đều không lấy gì làm lạ. Người ấy đã luống tuổi, nét mặt đầy vẻ ưu tư mà cũng đầy quyền lực.

Ông ta nói: “Desmalions thân mến, tôi thấy rằng góc nhìn của anh trước vấn đề này chưa được đúng cho lắm.”

“Tôi cũng nghĩ thế, thưa ngài Thủ tướng.” Don Luis nói. “Ồ, anh biết tôi ư?” Người mới đến hỏi.

“Ngài Bộ trưởng Valenglay, có phải không ạ? Tôi từng có vinh dự được ngài tiếp đón hồi vài năm trước, khi ngài còn là thủ tướng.”

“Ồ, phải rồi, tôi nghĩ chắc mình đã nhớ ra... nhưng không được rõ lắm..”

“Xin ngài đừng cố nhớ lại làm gì. Chúng ta không cần phải bận tâm về chuyện đã qua. Quan trọng là giờ đây ngài đồng thuận với tôi.”

“Tôi không rõ mình có đồng thuận với anh không, nhưng tôi thấy việc ấy cũng không có gì quan trọng. Và đó cũng là điều tôi muốn nói với anh, Desmalions thân mến ạ. Vấn đề không phải ở chỗ anh có cần bàn luận về đề xuất của quý ông này hay không. Trong trường hợp này, không có thương lượng gì cả. Thương lượng chỉ hình thành khi mỗi bên liên quan đều mang đến một thứ gì đó. Còn ở đây, chúng ta hoàn toàn chẳng mang đến một thứ nào hết, trong khi quý ông đây lại mang đến tất cả và nói: “Các ông muốn ba trăm triệu franc bằng vàng không? Nếu muốn, các ông cứ làm thế này, thế này với chỗ tiền ấy. Nếu không, xin chào tạm biệt!” Tình hình chính xác là như vậy, phải không, anh Desmalions?”

“Vâng, thưa ngài!”

“Nếu vậy, liệu anh có thể không cần anh bạn này của chúng ta không? Anh có thể tìm ra nơi chỗ vàng kia được cất giấu mà không cần anh ta giúp đỡ không? Anh không thấy anh ta đã giúp anh làm được việc đó dễ dàng hơn khi dẫn anh đến thẳng chỗ cất giấu và gần như đã chỉ cho anh chính xác địa điểm rồi hay sao? Như vậy đã đủ chưa? Anh còn hy vọng khám phá điều bí mật mà mình đã loay hoay tìm kiếm suốt mấy tháng qua nữa sao?”

Ngài Desmalions rất thẳng thắn. Ngài trả lời không chút do dự: “Không, thưa ngài! Tôi không còn hy vọng nào nữa.”

“Vậy?...”

Rồi quay về phía Don Luis, ngài Valenglay hỏi: “Còn anh, anh bạn, anh đã nói đến lời cuối cùng rồi phải không?”

“Lời cuối cùng rồi ạ.”

“Vậy là nếu chúng tôi từ chối thì... Xin chào tạm biệt, phải không?”

“Ngài nói rất chính xác, thưa ngài.”

“Còn nếu chúng tôi chấp nhận, vàng sẽ được giao ngay lập tức chứ?”

“Ngay lập tức!”

“Chúng tôi chấp nhận.”

Lời chấp thuận rất rõ ràng và dứt khoát! Vừa nói, ngài Valenglay vừa làm một cử chỉ quả quyết, như muốn nhấn mạnh hơn tuyên bố của mình.

Và sau khi ngừng lời một chút, ngài nhắc lại: “Chúng tôi chấp nhận. Ngài Đại sứ sẽ nhận được chỉ thị ngay tối nay.”

“Ngài hứa với tôi chứ, thưa ngài?”

“Tôi xin hứa danh dự.”

“Nếu vậy, đôi bên đều đồng thuận.”

“Đôi bên đồng thuận. Vậy giờ...”

Những lời vừa rồi, đôi bên trao đổi rất nhanh. Từ lúc ngài cựu Thủ tướng Valenglay xuất hiện cho tới lúc đôi bên thống nhất với nhau chỉ mất chưa đến năm phút. Bây giờ, Don Luis chỉ còn mỗi một việc là giữ lời hứa. Không trốn chạy. Không nói gì. Chỉ có sự thật. Và chứng cứ.

Quả là một thời khắc trọng đại. Bốn người đàn ông đứng cạnh nhau, như những người quen biết vô tình gặp nhau trên đường đi dạo và tụm lại tán gẫu một chút. Ngài Valenglay, một tay vịn lên lan can, mặt quay về phía sông Seine, một tay cứ nhấc gậy lên rồi lại hạ gậy xuống, chọc vào một đống cát. Patrice và ngài Desmalions đứng lặng, mặt cả hai đều có chút căng thẳng.

Don Luis phá lên cười. “Thưa ngài, ngài đừng nghĩ rằng tôi sẽ làm vàng trồi từ dưới đất lên bằng một cây đũa thần hay chỉ cho ngài một cái hang chất đầy những túi vàng. Tôi luôn cho rằng mấy chữ “Tam giác vàng” đã dắt người ta đi sai hướng, vì chúng gợi lên một điều gì thần bí và dị thường. Nhưng không theo tôi, đó đơn giản chỉ là không gian chứa vàng, một không gian có hình tam giác mà thôi. Tam giác vàng chỉ là những túi vàng xếp thành hình tam giác, nơi cất giấu có hình tam giác. Sự thật vì thế đơn giản hơn những gì ta nghĩ rất nhiều, và có thể sẽ khiến ngài thất vọng đấy, thưa ngài.”

“Tôi không thất vọng chút nào đâu.” Ngài Valenglay đáp. “Nếu như anh đặt một nghìn tám túi vàng ngay trước mặt tôi.”

“Ngài đang đứng trước một nghìn tám túi vàng đấy, thưa ngài.”

“Sao? Tôi đang đứng trước cái gì cơ? Ý anh là sao?”

“Là chính xác như những lời tôi vừa mới nói đó. Trừ phi ngài sờ tận tay vào mấy túi vàng, không thì khó lòng gần hơn được nữa.”

Dẫu vốn là người giỏi tự chủ, ngài Valenglay vẫn không giấu nổi kinh ngạc. “Không phải anh có ý nói tôi đang bước trên đống vàng và chúng ta chỉ cần cạy gạch lát lên hoặc dỡ lan can này ra là xong đấy chứ?”

“Như thế vẫn là có vật cản cần phải gỡ bỏ, thưa ngài, còn đằng này, không có bất kỳ một vật cản nào ngăn giữa ngài với mục tiêu ngài tìm kiếm!”

“Không có bất kỳ vật cản nào!”

“Không, thưa ngài, bởi vì ngài chỉ cần cử động một chút là đã chạm được đến mấy túi vàng ấy rồi.”

“Chỉ cần cử động một chút!” Ngài Valenglay nhắc lại lời của Don Luis như một cái máy.

“Tôi nói “cử động một chút” nghĩa là cử động mà không cần phải ráng sức, gần như chẳng phải nhúc nhích gì nhiều, ví như chọc gậy vào nước, hoặc là...”

“Hoặc là gì?”

“Chà, hoặc là một đống cát.”

Ngài Valenglay sững người, không nói nên lời, vai hơi rung vì một cơn rùng mình khe khẽ. Ngài không cử động theo lời Don Luis. Ngài không cần làm thế. Ngài đã hiểu.

Những người khác cũng lặng thinh, sửng sốt vì sự thật lạ lùng và đơn giản đến không ngờ vừa thình lình lóe lên như một ánh chớp. Và, giữa bầu không khí im lặng tuyệt đối, hoàn toàn không bị một lời phản đối hay vẻ nghi ngờ nào phá vỡ, Don Luis lại nhẹ nhàng lên tiếng: “Thưa ngài, nếu ngài có chút hồ nghi nào - mà tôi thấy ngài không hề có - xin hãy ấn cây gậy xuống….. Ồ, không cần sâu lắm đâu, nhiều lắm là năm mươi xentimét thôi. Rồi ngài sẽ thấy có vật rắn chặn cây gậy lại, không thể ấn sâu thêm được nữa. Đó là những túi vàng. Hẳn phải có một nghìn tám túi dưới đó; và ngài cũng thấy đấy, đống vàng này chẳng lớn tẹo nào. Một cân vàng sẽ tương đương với ba nghìn một trăm franc - xin thứ lỗi cho chi tiết kỹ thuật lặt vặt này, nhưng chúng rất cần thiết. Như vậy, theo tính toán của tôi, một túi chứa xấp xỉ năm mươi cân vàng, hay một trăm năm mươi lăm nghìn franc được xếp thành những cọc một nghìn franc sẽ không to cho lắm. Xếp túi nọ chồng lên túi kia, sẽ tạo thành một khối có tổng thể tích khoảng mười một mét khối rưỡi, không hơn. Nếu xếp những túi này thành một hình kim tự tháp, ngài sẽ có cạnh đáy dài gần ba mét, hay ba mét rưỡi, nếu tính cả khoảng hở giữa những cọc tiền. Kim tự tháp đó sẽ cao gần bằng một bức tường. Nếu phủ lên toàn bộ đống vàng đó một lớp cát, ngài sẽ có đống cát nằm ngay trước mặt đây...”

Don Luis lại ngừng một lúc, rồi mới nói tiếp: “Và đống cát này đã nằm ở đây từ hàng tháng nay rồi, thưa ngài. Chẳng những không một ai trong số những người tìm kiếm chúng ngờ đến, mà cả người đi đường cũng khó lòng phát hiện ra, dù là vô tình. Nghĩ mà xem, một đống cát! Người ta đi tìm ở dưới hầm, tìm ở những chỗ nào giống cái hang, cái động; tìm ở những nơi như hốc, như hổ, giếng, cống, những chỗ ngầm đào sâu dưới đất. Nhưng còn đống cát? Ai lại nghĩ đến việc đi khoét một cái lỗ trong đống cát để xem bên trong có gì cơ chứ? Mấy chú chó chỉ đánh hơi ở rìa, các em nhỏ chơi đùa và nghịch cát ở bên cạnh, vài kẻ lang thang tới ngả lưng và đánh giấc. Mưa làm mềm cát, nắng hong cát rắn lại, tuyết sơn cho cát một màu trắng xóa; nhưng tất cả chỉ xảy ra trên bề mặt, ở phần phơi ra ngoài. Còn bên trong điều bí ẩn không sao dò được vẫn ngự trị, kho báu vẫn không suy suyển, không ai biết đến. Trên đời này làm gì còn chỗ cất giấu nào tốt hơn trong lòng một đống cát ở một nơi công cộng. Kẻ nghĩ ra ý tưởng giấu ba trăm triệu franc tiền vàng ở đó quả thật rất đáng gờm, thưa ngài.”

Ngài Valenglay chăm chú nghe Don Luis giải thích, không hề ngắt lời. Khi Don Luis nói xong, ngài gật đầu hai, ba lần gì đó rồi nói: “Đúng vậy, một kẻ rất đáng gờm. Nhưng núi cao còn có núi cao hơn.”

“Tôi không nghĩ thế đâu.”

“Có chứ, ngọn núi cao hơn đó chính là người đã đoán ra trong lòng đống cát giấu ba trăm triệu franc. Người đó đúng là một bậc thầy, một người mà tất cả chúng tôi phải cúi mình ngưỡng mộ.”

Nghe lời khen tặng, Don Luis nhấc mũ lên tỏ ý cảm ơn. Ngài Valenglay chìa tay ra. “Tôi thật không biết có phần thưởng nào xứng đáng để trao cho anh vì những gì anh đã làm cho tổ quốc.”

“Tôi không đòi hỏi phần thưởng đâu.” Don Luis nói.

“Vâng, thưa anh, nhưng tôi rất mong anh nhận lời cảm ơn từ những người mà tiếng nói có trọng lượng hơn tôi.”

“Điều đó có thật sự cần thiết không ạ, thưa ngài?”

“Có chứ! Tôi có thể thú nhận điều này không? Tôi rất tò mò muốn biết anh đã làm thế nào để khám phá ra bí mật đó. Liệu anh có thể dành cho chúng tôi một giờ đồng hồ trên Bộ không?”

“Tôi rất tiếc, thưa ngài, nhưng mười lăm phút nữa, tôi phải đi rồi.”

“Ồ, không! Không! Anh không thể cứ thế mà đi như vậy được!” Ngài Valenglay nói, giọng như ra lệnh.

“Tại sao vậy, thưa ngài?”

“Chà, tại vì chúng tôi không biết tên anh hay bất cứ điều gì về anh cả.”

“Điều đó có gì quan trọng đâu!”

“Trong thời bình thì có thể. Nhưng trong thời chiến, điều đó không thể chấp nhận được.”

“Vậy, thưa ngài, ngài sẽ coi trường hợp của tôi là một ngoại lệ chứ?”

“Một ngoại lệ sao?”

“Xin ngài hãy coi đó là phần thưởng dành cho tôi, ngài có từ chối không ạ?”

“Đây là điều duy nhất chúng tôi buộc phải từ chối. Hơn nữa, anh không được yêu cầu điều đó. Một công dân tốt như anh ắt cũng hiểu có những điều mà công dân bắt buộc phải tuân theo.”

“Tôi hiểu rất rõ ngài muốn nói đến những yêu cầu gì. Nhưng không may là...”

“Không may gì cơ?”

“Tôi lại không có thói quen tuân theo chúng.”

Có chút thách thức trong giọng Don Luis.

Ngài Valenglay làm như không để ý mà chỉ cười và nói: “Thế là thói quen xấu đấy, thưa anh. Anh phải bỏ thói quen ấy đi thôi. Ngài Desmalions đây sẽ giúp đỡ anh, phải không Desmalions thân mến? Anh hãy sắp xếp với quý anh đây nhé. Một giờ nữa, trên Bộ. Thế nhé! Tôi dựa cả vào anh đấy. Nếu không... Thôi, chào anh bạn. Tôi chờ anh đấy.”

Và, sau khi cúi chào thật trịnh trọng, ngài Valenglay hí hửng khua chiếc gậy một vòng, rồi quay ra xe ô tô, ngài Desmalions cũng đi theo để tiễn.

“Ái chà chà! Đúng là ông già gân!” Don Luis cười khùng khục. “Ông ấy cũng đáo để ra phết! Chớp mắt một cái, ông ấy nhận ngay ba trăm triệu đồng vàng, ký một hiệp ước lịch sử và ký luôn lệnh bắt giữ Arsène Lupin.”

“Ý ông là sao?” Patrice giật mình đánh thót và kêu lên. “Lệnh bắt ông ư?”

“Chà, ông ấy yêu cầu tôi trình diện trước ông ấy, bắt tôi xuất trình giấy tờ, nghe là biết chuyện gì sẽ xảy đến mà.”

“Nhưng như thể thì vô lý quá!”

“Làm thế là đúng luật đấy, Đại úy thân mến ạ. Chúng ta phải nhượng bộ thôi.”

“Nhưng…”

“Đại úy ạ, hãy tin tôi, những chuyện vặt vãnh này không làm lòng mãn nguyện vì đã cống hiến cho đất nước của tôi giảm đi chút nào đâu. Tôi muốn làm được gì đó cho nước Pháp trong lúc xảy ra chiến sự như thế này, và tôi muốn tận dụng tối đa quỹ thời gian mà mình có để phụng sự cho đất nước trong lúc nghỉ ngơi. Giờ tôi đã làm được. Và tôi vẫn còn một phần thưởng khác: bốn triệu franc. Số tiền này thực ra vốn thuộc về Coralie, nhưng tôi biết Coralie của anh là người rất tự trọng, tôi tin cô ấy không muốn động vào nó.”

“Tôi đảm bảo điều ấy.”

“Cảm ơn! Và anh có thể tin chắc một điều: Món quà sẽ được dùng vào việc có ích, và không một xu nào được sử dụng vào bất kỳ một mục đích nào khác ngoài việc làm cho đất nước giàu mạnh và giành chiến thắng. Mọi chuyện bây giờ đều đã sắp xếp ổn thỏa. Tôi còn vài phút dành cho anh. Hãy tận dụng triệt để! Ngài Desmalions chắc lúc này đang tập hợp quân của mình. Để họ hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng hơn và cũng để tránh xảy ra bê bối, chúng ta hãy đi xuống chỗ bờ kè thấp dưới kia, gần mép sông, ngay trước đống cát luôn. Như thế, sẽ tiện cho ngài ấy tóm cổ tôi hơn.”

Nói rồi, hai người họ cùng đi bộ xuống bờ sông, vừa đi, Patrice vừa nói: “Vài phút thôi cũng quý rồi, nhưng trước tiên, cho tôi xin lỗi...”

“Về điều gì? Vì đã phản bội tôi một chút và nhốt tôi trong nhà xưởng đó ư? Anh còn muốn thế nào nữa? Lúc đó, anh phải bảo vệ Mẹ Coralie còn gì! Hay anh xin lỗi vì trót nghi ngờ tôi, sợ tôi giữ lấy số vàng khi tìm ra được chúng? Anh đâu làm gì khác được? Làm sao có thể nghĩ Arsène Lupin chẳng thèm đếm xỉa đến ba trăm triệu franc vàng được kia chứ?”

“Được rồi, được rồi, vậy tôi không xin lỗi nữa.” Patrice phá lên cười và nói. “Nhưng xin đội ơn ông!”

“Đội ơn cái gì chứ? Vì tôi đã cứu mạng anh và Coralie ư? Ôi dào! Đừng cảm ơn, đội ơn gì ở đây hết! Đối với tôi, đấy chỉ là môn thể thao yêu thích gọi là “Cứu người” mà thôi!”

Patrice nắm lấy tay Don Luis và siết chặt. Rồi, cố giấu nỗi xúc động, anh nói: “Vậy tôi cũng sẽ không cảm ơn ông nữa. Tôi sẽ không nói chính ông đã rũ sạch cơn ác mộng kinh hoàng nhất khỏi tôi khi cho tôi biết mình không phải là con trai của tên ác quỷ đó, và đã lột trần thân phận thật của lão cho tôi. Tôi sẽ không nói rằng mình đang vô cùng hạnh phúc, rằng cuộc sống tươi đẹp đang mở ra trước mắt tôi, cùng Coralie được tự do yêu tôi. Không, không nói đến những chuyện ấy nữa! Nhưng tôi phải thú thật với ông, hạnh phúc của tôi vẫn còn một chút - biết nói thế nào nhỉ? - một chút mờ mịt, một chút e dè chăng? Tôi không còn nghi ngờ gì nữa; dẫu vậy, tôi vẫn chưa thực sự tỏ tường sự thật, và chừng nào còn chưa hiểu rõ, chừng đó tôi vẫn còn chút âu lo. Vậy, xin ông hãy nói... hãy giải thích giúp tôi... tôi muốn biết...”

“Nhưng sự thật đã rất rõ ràng rồi mà!” Don Luis kêu lên. “Những sự thật phức tạp nhất lúc nào cũng là những sự thật đơn giản nhất. Nghe này, anh vẫn chưa hiểu gì thật sao? Hãy xét lại vấn đề nhé! Suốt mười mấy năm ròng Siméon Diodokis đối xử với anh như một người bạn tuyệt vời, tận tụy vì anh đến mức hy sinh, nói tóm lại, như một người cha. Ông không hề có ý nghĩ nào khác - nếu không tính ý định trả thù ông hằng nung nấu - ngoài việc xây dựng hạnh phúc cho anh và Coralie. Ông muốn đưa hai người về bên nhau. Ông lưu giữ ảnh của hai người. Ông âm thầm theo sát cuộc đời của hai người. Ông gần như luôn giữ mối dây liên lạc với anh. Ông gửi cho anh chìa khóa và chuẩn bị cho anh chứng kiến cảnh xảy ra ở nhà Essarès hôm đó. Thế mà, bất thình lình, ông thay đổi hoàn toàn! Ông trở thành kẻ thù không đội trời chung với anh và trong đầu lúc nào cũng nung nấu độc một ý định: giết chết anh và Coralie. Điều gì đã xảy ra giữa hai trạng thái tinh thần đó vậy? Chỉ có một việc, thế thôi! Hay nói đúng hơn là một ngày: Đêm ngày mùng Ba, rạng sáng ngày mùng Bốn tháng Tư, và tấn thảm kịch diễn ra đêm hôm đó và sáng hôm sau trong nhà của Essarès. Trước ngày hôm đó, anh là con trai của Siméon Diodokis. Sau ngày hôm đó, anh là kẻ thù không đội trời chung của Siméon Diodokis. Từ những dữ kiện đó, anh có sáng tỏ được gì không? Còn với tôi, toàn bộ các phát hiện của tôi đều xuất phát từ những điểm mà tôi đã nhìn ra ngay từ đầu ấy!”

Patrice gật đầu, không đáp. Anh có hiểu, nhưng câu đố vẫn còn phần bí mật khó lòng hiểu thấu.

“Ngồi xuống đây nào..” Don Luis nói. “... Ngay trên đống cát đặc biệt của chúng ta và nghe nhé. Chưa đến mười phút đâu.”

Họ đang đứng ở xưởng đóng tàu Berthou. Ngày đang bắt đầu tàn và bờ phía bên kia sông chìm dần vào bóng tối. Chiếc sà lan biếng nhác tròng trành bên mép bờ kè.

Don Luis nói tiếp: “Vào cái đêm anh nấp trên gác lửng trong thư phòng và chứng kiến thảm kịch ở nhà Essarès, anh thấy có hai người đàn ông bị đồng bọn của mình trói lại: Essarès và Siméon Diodokis. Cả hai nay đều đã chết. Một trong hai người đó là cha anh. Giờ chúng ta nói về người đầu tiên nhé. Địa vị của Essarès Bey tối hôm đó rất đáng bị lên án. Sau khi nhân danh một quốc gia phương Đông, rõ ràng là do quân Đức xúi giục, bòn rút vàng của đất nước chúng ta, lão định xoáy luôn số tiền dư trong hàng tỷ franc thu được. Con tàu Belle-Hélène nhận được pháo hiệu, bèn đến thả neo ở cạnh xưởng đóng tàu Berthou. Việc vận chuyển vàng từ đống cát lên tàu dự tính sẽ tiến hành vào đêm đó. Mọi việc đang suôn sẻ, bỗng bất ngờ, lũ đồng bọn - do được Siméon báo trước - phá cửa xông vào nhà Essarès.

Do đó, mới xảy ra cảnh tra tấn kia, Đại tá Fakhi chết, v.v... Rồi Essarès phát hiện ra đồng bọn đã biết âm mưu đánh cắp vàng của lão và Đại tá Fakhi đã tố giác lão với cảnh sát. Lão bị dồn vào thế bí. Lão phải làm sao đây? Bỏ trốn ư? Nhưng giữa lúc chiến tranh, bỏ trốn là điều gần như không thể. Hơn nữa, bỏ trốn đồng nghĩa với mất vàng mất cả Coralie - lão không bao giờ chấp nhận điều đó! Vậy phải làm sao? Phải biến mất. Biến mất, không ai trông thấy nữa, nhưng thực ra vẫn còn sờ sờ ở đây, ngay nơi chiến địa, gần đống vàng và gần Coralie. Và đêm đến chính là lúc lão thực hiện mưu đồ. Chuyện Essarès thế cũng nhiều rồi. Bây giờ, ta nói đến người thứ hai, Siméon Diodokis.”

Don Luis dừng lại để lấy hơi. Patrice chăm chú lắng nghe, cứ như mỗi lời nói kia đều mang ánh sáng đến để soi rõ sự thật đang ẩn trong màn đêm dày đặc.

“Người mà chúng ta vẫn gọi là già Siméon ấy, chính là cha anh, Armand Belval. Đúng là cha ruột của anh, anh không nghi ngờ gì điều này, đúng không? Ông Armand Belval và mẹ của Coralie trước đây từng là nạn nhân của Essarès. Thời gian vừa rồi cũng là thời điểm quan trọng trong đời ông. Ông đã gần đạt được mục tiêu của mình. Ông đã tố giác và giao kẻ thù của mình, Essarès, vào tay Đại tá Fakhi và đồng bọn. Ông đã thành công trong việc đưa anh và Coralie lại gần nhau. Chính ông là người gửi cho anh chiếc chìa khóa mở cửa ngách trong vườn nhà Essarès. Ông đang hy vọng vài ngày nữa, mọi chuyện sẽ kết thúc đúng như ông hằng mong ước. Nhưng, sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, ông nhận thấy nguy hiểm đã cận kề - tôi không rõ có dấu hiệu nào báo trước hay không; và chắc chắn, ông đã nhìn ra âm mưu của Essarès. Thế là, câu hỏi này nảy ra trong đầu ông: Phải làm sao bây giờ? Phải báo cho anh biết! Đúng, phải gọi điện báo cho anh ngay, không được chậm trễ. Vì thời gian quá gấp, nguy hiểm đã tới rất gần. Essarès đang theo dõi và săn đuổi người lão chọn làm nạn nhân lần thứ hai. Anh có thể hình dung được chuyện xảy ra khi đó: Có thể ông cụ Siméon đã linh cảm mình bị rình rập nên đã tự nhốt mình trong thư viện. Ông cuống quýt tự hỏi: Liệu có thể gọi được cho anh ngay không? Liệu anh có ở đó không? Dù thế nào thì ông cụ cũng đã gọi điện báo cho anh. Lúc cha anh gọi được cho anh, Essarès đang phá cửa phòng, ông thở gấp và hét qua điện thoại: “Patrice đấy à? Đã nhận được chìa khóa và bức thư chưa? Không có bức thư sao? Kinh khủng quá! Vậy thì anh không biết...” Thế rồi, anh nghe thấy một tiếng thét khản đặc, tiếng cự cãi, tiếng lùng bùng đứt quãng ở đầu dây bên kia. Rồi người bên kia bíu chặt lấy ống nói và anh chỉ nghe được những tiếng thở hắt, không rõ lời: “Patrice... mặt dây chuyền thạch anh tím... ta rất muốn... Patrice... Coralie...” Rồi một tiếng kêu thất thanh... tiếng kêu yếu dần, yếu dần... rồi im bặt. Và thế là hết. Cha anh đã chết, bị giết. Lần này, Essarès, khi trước từng thất bại, nay đã trả được mối thù với địch thủ ngày xưa.”

Don Luis ngừng lời. Qua lời kể đầy cảm xúc của Don Luis, tấn thảm kịch như được tái diễn ngay trước mắt người con trai. Patrice lòng đau như cắt, khẽ kêu lên: “Cha... cha ơi... người cha bất hạnh của con!”

“Đúng vậy, người ấy chính là cha anh.” Don Luis nói tiếp. “Lúc đó là bảy giờ mười chín phút sáng, đúng như anh đã ghi lại. Vài phút sau, vì nóng lòng muốn làm sáng tỏ vụ việc, anh gọi điện lại và lần này, Essarès nhấc máy, thi thể cha anh nằm ngay dưới chân lão.”

“Lão già khốn nạn! Vậy là cha tôi, lúc đó, chúng ta đã không tìm thấy và không thể tìm thấy...”

“Đã bị Essarès hóa trang, làm biến dạng và biến thành xác của lão. Thế đấy, Đại úy ạ, toàn bộ bí ẩn nằm cả ở đấy. Già Siméon đã chết bị biến thành Essarès Bey, trong khi Essarès thật cải trang thành Siméon Diodokis và sống dưới thân phận Siméon Diodokis.”

“Vâng!” Patrice thì thầm. “Tôi hiểu, tôi đã hiểu..”

Và Don Luis lại nói: “Về mối quan hệ giữa họ, tôi hoàn toàn không biết. Liệu trước đó, Essarès có biết già Siméon chính là địch thủ cũ của lão, Armand Belval, người tình của mẹ ruột Coralie, là người ngày xưa đã thoát chết hay không? Liệu lão có biết già Siméon là cha anh hay không? Những câu hỏi này, tôi không thể giải đáp, mà chúng cũng không quan trọng. Nhưng tôi cho rằng vụ án này không phải bột phát, không đột ngột mà xảy ra. Tôi tin chắc rằng Essarès, từ lâu đã quan sát và nhận ra những nét tương đồng trong vóc dáng và khuôn mặt giữa già Siméon và lão, nên đã âm thầm chuẩn bị để sẵn sàng thế vào chỗ già Siméon khi tình thế bắt buộc lão phải ẩn mình. Thật quá dễ! Siméon Diodokis đội tóc giả và không có râu. Ngược lại, Essarès bị hói và có râu. Lão cạo râu, phá hủy phần mặt của Siméon để không ai nhận dạng được, rồi ném phần râu đã cạo đó vào phần đầu bị hủy của nạn nhân trong họng lò; lão đổi quần áo với nạn nhân, đội tóc giả, đeo cặp kính vàng và quấn chiếc khăn to sụ của Siméon lên, che đi nửa mặt. Thế là xong phần cải trang!”

Patrice ngẫm nghĩ một hồi. Rồi anh thắc mắc: “Vâng, đó là những gì xảy ra lúc bảy giờ mười chín phút sáng. Nhưng còn chuyện xảy ra lúc mười hai giờ hai mươi ba phút thì sao?”

“Không, chẳng có gì xảy ra cả.”

“Nhưng… chiếc đồng hồ bị rơi xuống đất chỉ mười hai giờ hai mươi ba phút...”

“Tôi đã bảo với anh rồi, chẳng có gì xảy ra cả đâu. Lão ta chỉ đơn giản muốn đánh lạc hướng điều tra mà thôi. Trước hết, lão phải nghĩ cách để tránh bị người ta buộc tội Siméon mới - điều chắc chắn sẽ xảy ra - chứ!”

“Buộc tội gì mới được?”

“Buộc tội gì à? Tội giết Essarès Bey chứ tội gì! Mới sáng sớm, người nhà đã phát hiện ra xác chết. Ai là hung thủ giết người? Người ta sẽ nghi ngờ ông cụ thư ký Siméon đầu tiên. Cảnh sát sẽ thẩm vấn và bắt giữ Siméon mới. Và dưới lớp mặt nạ kia, người ta sẽ phát hiện ra đó không phải là Siméon mà là Essarès. Không được! Lão bắt buộc phải tự do và có đầy đủ tiện nghi trong tay mới dễ bề hành động được. Vì thế, lão cố giấu vụ án mạng suốt cả buổi sáng và không cho ai vào thư phòng. Lão đến gõ cửa phòng vợ ba lần để Coralie nghĩ rằng lão, Essarès, vẫn còn sống suốt buổi sáng hôm đó

Rồi, khi Coralie ra ngoài, lão mới làm bộ lớn giọng ra lệnh cho Siméon, tức là ra lệnh cho chính mình, đưa cô đến bệnh viện ở đường Champs-Élysées. Thế là, bà Essarès đinh ninh rằng mình đã đi ra ngoài cùng già Siméon, để chồng - khi đó vẫn còn sống - ở nhà một mình; nhưng trên thực tế, cô đã để thi thể của già Siméon lại một mình trong khu nhà trống và ra ngoài cùng lão chồng xảo quyệt.

Rồi chuyện gì xảy ra tiếp theo? Đúng như lão khốn kia tính toán: Lúc một giờ chiều, cảnh sát, theo lời tố giác của Đại tá Fakhi, đã đến nhà và chỉ tìm thấy một xác chết. Xác của ai? Điều này có gì phải do dự mà không khẳng định? Những người hầu nhận ngay ra ông chủ của mình; và, khi phu nhân Essarès quay về, cô xác nhận rằng thi thể đang nằm trên sàn, ngay trước lò sưởi mà đêm qua chồng cô bị tra tấn chính là lão ta. Già Siméon - hay chính Essarès - cũng khẳng định thân phận của xác chết như thế. Bản thân anh cũng bị mắc lừa. Thế là trò lừa của lão thành công mỹ mãn!”

“Phải rồi, mọi chuyện đã diễn ra như vậy. Hoàn toàn hợp lý.” Patrice gục gặc đầu và nói.

“Đúng thế! Trò lừa của lão đã thành công mỹ mãn.” Don Luis nhắc lại. “Không một ai phát hiện ra. Trong phòng, chỉ có ngọn lửa cháy trong lò. Đã thế, không phải bức thư Essarès đang viết dở còn nằm ở trên bàn cũng là một bằng chứng hay sao? Bức thư gửi cho vợ lão, nhắn rằng lão sắp ra đi, được đề rõ thời gian: trưa ngày mùng Bốn tháng Tư - có vẻ thuyết phục ra phết! Trò lừa của lão xuất sắc đến độ những manh mối đúng ra đã có thể vạch trần chân tướng lại trở thành che đậy tội ác. Ví dụ như việc cha anh luôn mang theo cuốn album nhỏ xíu trong túi khâu phía bên trong áo lót chẳng hạn. Essarès không phát hiện ra cuốn album đó và không lấy nó đi. Chà, thế mà khi bên pháp y tìm thấy cuốn album, mọi người lại chấp nhận điều vô lý này: Essarès Bey giữ cuốn album cất đầy ảnh vợ mình và ảnh Đại úy Belval bên người! Chưa hết, khi người ta tìm thấy trong tay người chết, tức cha anh, một mặt dây chuyền bằng thạch anh tím có tấm ảnh mới nhất của hai người và tờ giấy vo viên có ghi mấy điều về tam giác vàng, họ lập tức kết luận rằng Essarès Bey đã đánh cắp mặt dây chuyền thạch anh và tờ giấy nọ, và nắm chặt chúng trong tay lúc chết! Vậy là rõ ràng quá rồi: Essarès Bey bị sát hại, xác người nằm lù lù ngay trước mặt cảnh sát đây! Còn gì phải thắc mắc nữa đâu. Và thế là Siméon đã làm chủ được tình thế. Essarès Bey đã chết, hoan hô Siméon!”

Don Luis phá lên cười sảng khoái. Anh ta thấy vụ việc đó rất nực cười, và anh ta khoái trá trước những gì mình cho là sáng kiến tội lỗi, là hung thần.

“Vậy đó.” Anh ta tiếp tục. “Essarès, ẩn mình dưới chiếc mặt nạ không ai nhìn thấu, bắt đầu thực hiện mưu đồ của mình. Cái ngày lão nghe được lời tâm sự của anh với Coralie, lão đã nổi cơn cuồng nộ khi thấy anh cúi xuống bên vợ lão và đã nổ súng. Nhưng khi việc không thành, lão vội vàng chạy trốn và diễn một vở hài kịch rất tinh vi ở ngay cái cửa ngách trong vườn, lão làm bộ kêu cứu, lão ném chiếc chìa khóa qua tường tạo hiện trường giả rồi cố tình ngã xuống đất để bị thương gần chết, làm như mình bị bóp cổ - phải, bị kẻ thù bắn nhưng vết thương nguy đến tính mạng lại do bị bóp cổ! Nực cười thật! Màn kịch kết thúc bằng màn giả điên cực kỳ ngọt của lão!”

“Nhưng lão giả điên nhằm mục đích gì?”

“Mục đích gì à? Còn gì nữa? Để được yên thân, để không bị thẩm vấn hay bị nghi ngờ chứ còn gì nữa! Khi ai cũng cho rằng lão bị điên, lão có thể yên tâm mà câm lặng và không bị ai để ý. Nếu không, chỉ cần nói ra một câu thôi, bà Essarès sẽ có thể nhận ra giọng của lão, cho dù lão có giả giọng tài tình đến đâu. Kể từ lúc đó trở đi, lão là người điên. Lão trở thành một người không phải chịu trách nhiệm trước bất cứ điều gì. Lão tự do đi lại bất cứ đâu lão muốn. Lão điên mà! Và cơn điên giả vờ đó của lão đã cho phép lão dắt anh đến chỗ mấy tên đồng bọn và bắt giữ chúng, mà anh lại chẳng hề mảy may nghi ngờ liệu lão điên kia có làm thế vì lợi ích riêng của lão hay không. Lão ta điên mà! Một lão điên khốn khổ, vô hại, và có ai muốn quấy rầy những kẻ đáng thương như thế cơ chứ!

Thế là từ đó trở đi, lão chỉ còn hai địch thủ cần trừ khử: Coralie và anh, Đại úy của tôi ạ. Với lão, việc này dễ như trở bàn tay. Tôi đồ rằng lão đã lấy được cuốn nhật ký của cha anh. Dù thế nào đi nữa, lão cũng đã nắm được lịch trình của anh. Rồi từ đó, lão biết luôn câu chuyện về những ngôi mộ; và lão cũng biết ngày Mười bốn tháng Tư, anh và Mẹ Coralie sẽ đi thăm mộ. Bên cạnh đó, lão cũng dùng thủ đoạn để thúc cho anh phải đi, vì lão đã bày sẵn một âm mưu. Lão chuẩn bị tấn công người con trai và người con gái, tức Patrice và Coralie của ngày hôm nay, cũng giống như khi xưa đã bày mưu sát hại cha và mẹ của họ. Lão đã thành công bước đầu. Nhưng thành công chỉ dừng lại tại đó nhờ Ya-Bon đáng thương của chúng ta nảy ra một ý tưởng và cũng nhờ ý tưởng đó mà một địch thủ mới là tôi, bước vào vòng đấu... Nhưng có lẽ tôi không cần phải nói tiếp nữa. Phần còn lại anh cũng biết rõ rồi. Anh cũng biết rõ, y như tôi, chỉ trong vòng hai mươi tư giờ đồng hồ, kẻ thủ ác bẩn thỉu đó đã thực hiện không biết bao nhiêu điều tàn độc: Bỏ mặc cho đồng bọn Grégoire, hay đúng hơn là người tình của lão - Mosgranem - chết ngạt, và vùi Coralie của anh dưới đống cát, giết chết Ya-Bon, nhốt tôi trong xưởng - hoặc lão nghĩ lão đã nhốt được tôi - chôn sống anh trong hầm mộ do cha anh đào và đến thủ tiêu Vacherot, người gác cổng. Đó, Đại úy Belval, bây giờ anh còn cho rằng tôi nên ngăn lão - lão cáo già khốn kiếp đến lúc cùng đường còn cố giả làm cha anh - khỏi tự tử nữa không?”

“Ông có lý.” Patrice nói. “Từ đầu đến cuối, ông đều có lý. Bây giờ, tôi đã hiểu cả rồi, hiểu toàn bộ câu chuyện, cả tổng thể lẫn từng chi tiết. Chỉ còn một điều này nữa thôi: tam giác vàng. Ông đã làm cách nào để tìm ra sự thật? Điều gì đã dẫn ông đến chỗ đống cát đó và nhờ vậy, ông đã có thể cứu được Coralie khỏi cái chết kinh hoàng?”

“Ồ, điều này còn đơn giản hơn nữa.” Don Luis đáp. “Và tôi còn không để ý khi ánh sáng chiếu đến sự thật nữa cơ! Tôi chỉ cần nói vài từ thôi, anh sẽ hiểu ngay. Nhưng trước hết, chúng ta phải chạy ra xa một chút đã. Ngài Desmalions và người của mình chuẩn bị tới quấy rầy chúng ta rồi.”

Quả thật, cảnh sát đã tập kết ở cả hai lối vào xưởng đóng tàu Berthou. Ngài Desmalions đang ra chỉ thị. Ngài rõ ràng đang mô tả cho họ về Don Luis và chuẩn bị áp tới gần anh ta. “Chúng ta hãy lên trên chiếc sà lan kia đi.” Don Luis nói.

“Tôi còn để vài giấy tờ quan trọng trên đó.”

Patrice đi theo. Đối diện với cabin nơi Grégoire nằm chết, có một cabin khác, cũng dùng chung một cầu thang với cabin kia. Trong đó có một cái bàn và một chiếc ghế.

“Đây, Đại úy.” Don Luis mở ngăn kéo bàn và lấy ra một bức thư đã được gắn xi. “Đây là bức thư tôi định nhờ anh... nhưng thôi, đừng nói gì kẻo phí thời gian. Tôi chỉ có từng đó thời gian để thỏa mãn trí tò mò của anh mà thôi. Các quý ông đáng mến của chúng ta đang đến gần hơn rồi kìa. Chà, chỉ còn mỗi chuyện tam giác vàng thôi nhỉ? Ta vào vấn đề luôn kẻo trễ.”

Anh ta lắng tai nghe ngóng xung quanh xem chuyện gì đang xảy ra bên ngoài. Patrice nhanh chóng hiểu ngay vì sao anh ta lại có vẻ chăm chú như vậy. Rồi vẫn căng tai nghe ngóng bên ngoài, anh ta nói tiếp: “Tam giác vàng nhỉ? Có những chuyện mà chúng ta giải quyết được hoàn toàn nhờ tình cờ mà không phải dụng tâm dụng sức. Chúng ta được dẫn thẳng đến chìa khóa giúp mở cửa bí mật nhờ những sự kiện ngoại cảnh, trong đó, ta vô tình chọn sự kiện này, chúng ta mò mẫm, kiểm tra cái nọ, gạt bỏ cái kia và đột nhiên, chúng ta nhìn thấy mục tiêu hằng tìm kiếm... Buổi sáng hôm đó, sau khi nhử được anh vào trong hầm mộ và nhốt anh dưới đó, Essarès quay lại chỗ tôi. Chắc mẩm tôi bị nhốt trong xưởng, lão mở khóa ga rồi ung dung đi ra bờ kè phía bên trên xưởng đóng tàu Berthou. Tới đó, lão hơi do dự; và sự do dự của lão cho tôi một manh mối quý giá. Chắc chắn, khi đó lão đang nghĩ đến việc kéo Coralie ra khỏi đống cát. Có người đi qua và lão lảng ra chỗ khác. Biết lão đi đâu, tôi mới quay lại giúp anh, tôi báo cho các bạn của anh lúc bấy giờ đang ở trong nhà của Essarès và nhờ họ đến cứu anh. Rồi tôi quay lại đây. Thực ra, toàn bộ chuỗi sự việc vừa diễn ra đó bắt buộc tôi phải quay lại. Giả sử vàng không có ở trong ống dẫn, và con tàu Belle-Hélène chưa chở vàng đi được, chắc chắn các túi vàng phải ở một nơi xa khu vườn, ngoài đường ống và vì thế, chúng phải ở đâu đó gần đây. Tôi đã lục tìm trên chiếc sà lan chúng ta đang đứng đây, nhưng tôi không mong tìm ra vàng mà chỉ hy vọng sẽ tìm được vài thông tin bất ngờ nào đó, và thú thật, tôi còn mong tìm được bốn triệu franc mà Grégoire đang giữ nữa. Rồi, khi bắt đầu lùng sục trên sà lan, dù không thể tìm được những cái mình định tìm, câu chuyện kỳ quặc Bức thư bị đánh cắp của Edgar Allan Poe [20] cứ lởn vởn mãi trong đầu tôi. Anh nhớ câu chuyện về tài liệu ngoại giao bị đánh cắp và người ta đã biết nó bị giấu trong một căn phòng cụ thể chứ? Cảnh sát lục lọi khắp mọi ngóc ngách trong căn phòng, thậm chí còn cạy cả ván sàn lên mà chẳng tìm được gì hết. Nhưng khi thám tử Dupin đến, ông ta lập tức đi thẳng tới một cái giỏ đựng đồ lặt vặt treo trên tường và lấy ra một mẩu giấy cũ, nhàu nhĩ. Đó chính là tài liệu mọi người đang tìm kiếm. Thế là, tôi cũng tự động làm theo y như thế. Tôi tìm ở những chỗ mà chẳng ai nghĩ tới, ở nơi người ta không coi là chỗ thích hợp để cất đồ vì chúng thực sự quá dễ phát hiện. Vậy là tôi nảy ra ý lật thử mấy trang trong bốn tập danh bạ cũ mèm xếp thành một hàng trên giá kia. Bốn triệu franc kẹp trong đó. Và thế là tôi đã biết tất cả những gì mình muốn biết!”

“Biết gì ạ?”

“Biết tính khí của Essarès, thói quen, tài trí của lão và quan điểm của lão về một nơi cất giấu tốt. Chúng ta suy nghĩ phức tạp quá, chúng ta nhìn ra quá xa và quá sâu nên đã tự làm khó mình. Chúng ta phải đơn giản hóa vấn đề đi, chỉ nên nhìn ở bên ngoài, ở bề mặt thôi. Ngoài ra, tôi còn dựa vào hai manh mối nữa. Tôi để ý thấy trên các thanh ngang của cái thang mà Ya-Bon hẳn đã lấy được ở đây có dính vài hạt cát. Và tôi nhớ Ya-Bon đã dùng phấn vẽ một hình tam giác lên vỉa hè, và hình tam giác đó chỉ có hai cạnh, cạnh thứ ba là chân tường. Tại sao lại có chi tiết này? Tại sao không lấy phấn vẽ luôn cạnh thứ ba? Cậu ấy chừa lại cạnh thứ ba phải chăng có ý muốn ám chỉ vàng được cất giấu dưới chân một bức tường? Thế là tôi châm một điểu thuốc, lên trên boong sà lan kia ngồi, nhìn xung quanh và tự nhủ: “Này Lupin bé nhỏ, năm phút thôi đấy nhé!” Tôi tự gọi mình là “Lupin bé nhỏ” chỉ đơn giản vì tôi không đừng được thôi. Đến khi hút được một phần tư điếu thuốc, tôi đã nghĩ ra rồi!”

“Ông đã tìm ra sự thật?”

“Đúng vậy! Tôi cũng không biết giữa hàng loạt manh mối mà mình có, manh mối nào đã khơi lên ánh sáng cho mình. Nhưng hẳn phải là tất cả những manh mối đó, cùng một lúc. Đó là một chuỗi hoạt động tâm lý khá phức tạp, giống như thí nghiệm hóa học vậy. Ý tưởng đúng đột ngột thành hình nhờ những phản ứng và những kết hợp bí ẩn giữa các nguyên tố có sẵn. Và rồi, tôi luôn mang trong mình một nguyên tắc đạo đức thuộc về trực giác, một động lực đặc biệt bắt buộc tôi phải tìm ra nơi cất giấu: Mẹ Coralie đang ở đó!

Tôi biết chắc chắn một điều, nếu tôi thất bại, nếu tôi tiếp tục yếu mềm và do dự, Coralie sẽ chết. Một thiếu phụ đang ở ngoài kia, chỉ trong vòng bán kính vài chục mét. Tôi phải tìm được nàng và tôi đã tìm được nàng. Tia lửa được nhen lên. Những nguyên tố kết hợp với nhau. Và tôi chạy thẳng một mạch đến chỗ đống cát.

Lập tức, tôi thấy những dấu chân, và ở gần đỉnh đống cát, có vết chân giẫm mạnh rất rõ. Tôi bắt đầu bới. Lúc chạm vào cái túi đầu tiên, tôi sung sướng vô cùng. Nhưng không có thời gian để mà đắc ý nữa. Tôi vội vàng lôi mấy túi khác lên. Coralie ở đó, bất tỉnh nhân sự. Không có gì ngăn giữa cô ấy với đống cát đang dần dần vùi lấp cô ấy, chôn kín cô ấy, làm cô ấy nghẹt thở. Không cần phải kể thêm nữa, đúng không? Xưởng đóng tàu vẫn luôn hoang vắng như thường lệ. Tôi kéo cô ấy ra. Tôi bắt một chiếc taxi. Đầu tiên, tôi đưa Mẹ Coralie về nhà. Rồi tôi để mắt tới Essarès, tới lão gác cổng Vacherot; và, khi tôi phát hiện ra âm mưu của kẻ thù, tôi đến phòng khám thương lượng với bác sĩ Géradec. Cuối cùng, tôi chở anh đến phòng khám trên đại lộ Montmorency và ra lệnh đưa cả Coralie đến đó! Chuyện là thế đấy, Đại úy ạ. Tất cả chừng đó việc đều xong xuôi trong vòng ba tiếng đồng hồ. Khi xe của bác sĩ chở tôi quay lại phòng khám, vừa đúng lúc Essarès cũng tới để chữa vết thương. Vậy là tôi tóm được lão.”

Don Luis ngừng lời.

Chẳng cần nói thêm một lời nào nữa. Một người đã giúp người kia quá nhiều và người còn lại cũng biết không gì có thể đền đáp được ơn nghĩa đó. Anh cũng biết mình sẽ chẳng bao giờ có cơ hội bày tỏ lòng biết ơn của mình. Đó là điều bất khả thi vì Don Luis là một trang kiệt xuất. Không một ai có thể trả ơn anh ta khi với tài trí của mình, những việc như dời non lấp bể đối với anh ta vốn dễ như trở bàn tay.

Patrice một lần nữa siết chặt tay Don Luis, không nói lời nào. Don Luis đón nhận tấm chân tình trong cách biểu đạt không lời đó và nói: “Nếu người ta có bàn tán về Arsène Lupin trước mặt anh, hãy bảo vệ anh ta nhé, Đại úy! Anh ta xứng đáng được như vậy mà!”

Rồi anh ta cười phá lên và nói: “Buồn cười thật, đến tuổi này rồi tôi mới thấy coi trọng danh tiếng của mình. Quỷ già lại hóa nhà sư, Đại úy ạ.”

Anh ta lại lắng tai nghe ngóng. “Đại úy ạ, đến giờ chia tay rồi. Gửi lòng trân trọng của tôi đến Mẹ Coralie nhé! Có thể nói, tôi chưa từng biết Coralie và cô ấy sẽ không biết gì về tôi. Như vậy sẽ tốt hơn. Tạm biệt, Đại úy! Nếu lúc nào đó anh cần đến tôi, dù là bất cứ việc gì, như vạch mặt một tên vô lại, cứu giúp một người lương thiện, hay cần giải mã một bí ẩn nào đó, đừng ngần ngại, hãy báo với tôi. Tôi sẽ có cách để anh luôn có địa chỉ của tôi để viết thư cho tôi. Một lần nữa, tạm biệt!”

“Chúng ta đã đến lúc phải từ biệt rồi sao?”

“Phải, tôi nghe thấy tiếng ngài Desmalions rồi. Anh sẽ bằng lòng đến chỗ ngài ấy và đưa ngài ấy đến đây chứ?”

Patrice chần chừ. Tại sao Don Luis lại bảo anh ra gặp ngài Desmalions? Liệu làm như vậy anh sẽ giúp được gì cho Don Luis chăng?

Nghĩ vậy, anh chạy lên cầu thang.

Rồi có một chuyện xảy ra, một điều gì đó rất nhanh và khó giải thích, một điều mà Patrice không bao giờ hiểu được. Điều đó giống như một bước ngoặt bất ngờ xảy đến với cuộc phiêu lưu dài ngày và tăm tối.

Patrice gặp ngài Desmalions trên boong sà lan.

“Bạn của anh có đây không?” Ngài thẩm phán hỏi.

“Có! Nhưng tôi phải hỏi câu này trước đã: Ngài không định....”

“Đừng lo! Chúng tôi không làm gì hại đến ông ấy đâu.”

Câu trả lời đã quá rõ ràng, viên Đại úy không biết phải nói gì thêm nữa. Ngài Desmalions đi trước, Patrice theo sau. Họ trèo xuống cầu thang.

“Đây!” Patrice nói. “Tôi vẫn để cửa cabin mở.”

Anh đẩy cửa ra. Nhưng Don Luis không còn ngồi trong cabin nữa.

Ngài thẩm phán lập tức tra hỏi xung quanh nhưng chẳng ai thấy anh ta đi ra, kể cả những cảnh sát đứng canh trên bờ lẫn những người đã băng qua cầu tàu. Patrice nói: “Nếu ngài có thời gian kiểm tra toàn bộ chiếc sà lan này, chắc ngài sẽ thấy nó bị làm giả đấy.”

“Vậy là ông bạn của anh đã trốn qua một cửa sập nào đó hay bơi đi mất à?” Ngài Desmalions hỏi.

“Chắc là vậy.” Patrice cười phá lên và nói. “Có khi ông ấy trốn đi bằng tàu ngầm nữa ấy chứ!”

“Tàu ngầm ở sông Seine này á?”

“Sao lại không chứ? Tôi không tin một người tài trí và quyết đoán như thế lại có giới hạn đâu.”

Nhưng điều khiến ngài Desmalions chết sững lại là bức thư ngài thấy đã đặt sẵn ở trên bàn. Bức thư đó ghi đích danh người nhận là ngài, chính là bức thư mà Don Luis Perenna đã lấy trong ngăn kéo ra và để ở đấy ngay từ đầu buổi, khi nói chuyện với Patrice Belval.

“Vậy là ông ấy biết tôi sẽ xuống đây sao? Ông ấy biết trước, thậm chí còn trước khi chúng ta gặp nhau, rằng tôi sẽ yêu cầu ông ấy hoàn thiện một vài thủ tục ư?”

Bức thư viết những dòng sau:

“Kính gửi ngài,

Xin ngài thứ lỗi cho tôi vì đã bỏ đi và mong ngài tin rằng về phần tôi, tôi hiểu rất rõ nguyên nhân vì sao ngài phải đến đây. Vị thế của tôi thực sự không phải là một trường hợp thường gặp, và ngài có quyền yêu cầu tôi giải thích. Một ngày nào đó, tôi sẽ giải thích cho ngài được rõ. Rồi ngài sẽ thấy, nếu tôi phụng sự nước Pháp theo cách của mình, đó không phải cách gì xấu xa cả, và đất nước của tôi sẽ phải ghi ơn tôi vì những công lao to lớn của mình, tôi xin được phép đánh bạo nói như thế, vì tôi quả thật đã đóng góp rất nhiều cho đất nước, ngay cả trong chiến tranh. Một ngày nào đó, khi có dịp tái ngộ, tôi rất mong ngài nói lời cảm ơn tôi, thưa ngài. Lúc đó, ngài sẽ là Giám đốc Sở Cảnh sát - tôi biết rõ tham vọng thầm kín của ngài mà. Thậm chí, có khi tôi cũng sẽ tự ứng cử vào một vị trí mà mình thấy xứng đảng cũng nên. Tôi sẽ nỗ lực đi theo hướng đó ngay từ bây giờ, không chút chậm trễ.

Tôi có vinh dự đó...”

Ngài Desmalions im lặng một lúc lâu.

“Một con người kỳ lạ!” Cuối cùng, ngài cũng lên tiếng. “Nếu ông ấy muốn, chúng tôi sẽ giao những việc lớn lao cho ông ấy làm. Ngài Valenglay đã giao cho tôi nhiệm vụ nói những lời đó với ông ấy!”

“Ngài có thể chắc chắn một điều này.” Patrice nói. “Những việc ông ấy thực sự đang làm lúc này còn lớn lao hơn nữa.”

Và anh nói thêm: “Một con người kỳ lạ, đúng là như vậy. Thậm chí còn kỳ lạ hơn, mạnh hơn và phi thường hơn ngài tưởng tượng rất nhiều. Nếu mỗi nước đồng minh của chúng ta có khoảng ba hay bốn người như ông ấy phục vụ, chắc chắn chiến tranh sẽ không kéo dài quá sáu tháng đâu.”

Ngài Desmalions thì thầm: “Tôi cũng tin như thế. Chỉ có điều, những người như thế thường đơn độc, sống tách biệt, họ chỉ làm theo ý mình, không bao giờ chịu chấp nhận dưới quyền ai và không chịu tuân theo một luật lệ nào cả. Để tôi kể anh nghe: Họ cũng giống một tay lừng danh nọ. Cách đây vài năm, tay ấy đã buộc một Hoàng đế Đức phải hạ cố vào tận xà lim để thăm và phóng thích cho mình... rồi sau đó, do cuộc tình bi thảm, tay ấy đã lao mình từ vách đá dựng đứng ở Capri xuống biển.”

“Ai vậy?”

“Ồ, chắc chắn anh cũng biết... Đó là Lupin... Arsène Lupin.”

HẾT

« Lùi
Tiến »