Ngày thứ tư, 24 tháng 7 năm 1968, tức là ngày 29 tháng 6 năm Mậu Thân, một ngày đã khắc sâu vào trí nhớ và trái tim Hồng, không bao giờ có thể quên được, và cũng không được phép quên...
Buổi sáng hôm ấy, Hồng còn ở Quảng Bình trong một cánh rừng rậm ven đường Hai mươi mốt. Hồng và năm cô thanh niên xung phong của C552 ngồi trú mưa trong chiếc lán tạm dột nát. Các cô chờ ô tô đến để chất gỗ làm nắp hầm lên xe, đưa về Ngã Ba Đồng Lộc - Hà Tĩnh.
Cơn mưa rừng mùa hạ dai dẳng, trút nước xuống ào ạt. Gió thổi tạt mưa vào tận giữa lán. Mấy vuông vải nhựa căng lên không đủ kín người. Cả sáu chị em đều ướt sũng... Ai cũng mong cho ô tô đến sớm, để được về Đồng Lộc ngay.
Hồng được điều ngay về đây làm nhiệm vụ khai thác gỗ làm nắp hầm cho khu vực Ngã Ba Đồng Lộc từ hồi tháng tư. Nơi khai thác gỗ nằm trong phạm vi C4 của Tổng đội 53 ở. Nơi đây mưa lắm, vắt nhiều. Vắt cắn thâm cả người. Muỗi đói bay cả đàn. Ăn uống kham khổ vì xa đơn vị. Máy bay địch nhòm ngó, đánh phá luôn... Những ngày đầu, lòng bàn tay Hồng bị phồng rộp, vì cầm cán dao chặt gỗ suốt ngày. Tay rát như phải bỏng. Mồ hôi thấm vào những nốt phồng giập vỡ xót như sát muối...
Những khó khăn như vậy, Hồng vượt qua được khá dễ dàng. Nhưng cái đáng sợ hơn cả lại là nỗi nhớ nhà, nhớ bạn cùng đơn vị... Mọi người đều bảo nhau là cố gắng chặt cho đủ ba mươi mét khối gỗ. Đó là chỉ tiêu giao cho A552 (gồm mười một đại biểu của mười một A trong C552) phải phấn đấu đạt được. Đó cũng là cái mốc định ngày về đơn vị. Cứ nghĩ đến những chiếc hầm ở Đồng Lộc chưa có nắp che chắn cẩn thận, Hồng lại bồn chồn lo lắng. Hổng chỉ mong tiểu đội của mình hoàn thành sớm khối lượng gỗ được giao, để cho đơn vị ở Đồng Lộc sớm có nắp hầm.
Ngày hôm nay, khối lượng gỗ đã làm xong và mọi người đang ngồi chờ đợi xe vào lấy gỗ. Trời vẫn mưa như trút nước lên đầu Hồng. Chẳng biết ở Đồng Lộc có mưa như thế này không?
☆ ☆ ☆
Ở Ngã Ba Đồng Lộc trời vẫn nắng gay gắt.
Gió Lào nóng hầm hập, cứ xoáy mãi, xoáy mãi những đám bụi đất đỏ cuốn lên cao rồi tung xuống. Bụi rơi như rây bột đổ trên đầu, lên cổ mọi người.
A5 làm việc cạnh cầu Dương Tài nơi xa nhất của đoạn đường do C552 phụ trách. Họ đang đào hầm. Tiểu đội trưởng cho năm đội viên đi vác gỗ về lát hầm.
A8 - toàn nam giới - đang sửa lại đường và làm hầm ở chân Mũi Mác, gần Ngã Ba Đồng Lộc cũ.
Còn A4 của Tần làm ngay ở Ngã Ba Đồng Lộc mới. Các cô đang lấp hố bom vừa lẹm gặm mặt đường.
Anh lái xe xích ủi xuống hố bom từng mảng đất lớn. Tần và chị em san đất cho đều. Đất và mảnh bom lẫn lộn. Những chiếc đầm giơ cao, nện mạnh xuống, nén đất lại. Cứ đầm xong hai lượt, xe ủi lại dồn đất xuống một lớp nữa. Các cô khẩn trương san đất ra, rồi lại hối hả đầm. Tiếng đầm đất thình thịch mạnh và nhanh.
Tiếng máy xe xích vẫn giòn giã nổ đều. Thỉnh thoảng có quả bom từ trường hay bom chậm nổ bị phá hủy, bùng lên một tiếng rồi im lặng. Những người làm việc ở nơi bom đạn này, biết nơi đây được ghi dấu đỏ trên bản đồ đường bay của giặc lái Mỹ. Ngã ba này không thể sơ tán đi đâu được. Nó cứ nằm đây thi gan cùng với quân thù.
Tần và các bạn biết rất rõ điều đó. Nhưng không ai chịu để con đường phải tắc nghẽn. Họ hiểu những chuyến hàng qua đây sẽ đi đến đâu. Họ biết những viên đạn chở qua con đường này sẽ dội bão lửa xuống những nơi nào... Vì vậy, họ sẵn sàng đổ mồ hôi và đổ máu cho mạch máu giao thông giữa hậu phương và tiền tuyến lớn luôn luôn thông suốt...
Những giọt mồ hôi thi nhau đọng trên lông mày, trên sống mũi, trên gò má các cô gái sửa đường. Áo cô nào cũng ướt đẫm mồ hôi. Họ nhường nhau ngụm nước cuối cùng. Nắng như hun lửa trên Đồng Lộc. Mặt cô nào cũng đỏ bừng.
Tần bảo:
– Hay ta nghỉ mươi phút?
Hợi nói ngay:
– Khi nào tàu bay đến, ta nấp rồi nghỉ một thể.
Có tiếng cười khe khẽ khi thấy Hường cứ dồn Nhỏ nhích lại gần về phía chiếc xe xích. Các cô vẫn mê mải làm...
Chẳng mấy lúc, hố bom lấp xong. Chiếc xe xích đảo đi đảo lại trên đoạn đường, sửa cho mặt đất chặt thêm.
Tần vừa bảo chị em thu gọn đồ nghề để đến chỗ khác thì máy bay địch ào tới. Lần này, chúng lao bom thẳng vào chỗ ngã ba mới. Bom nổ ngất trời. Đất lại chuyển rung. Khói bụi mù mịt. Trời đất tối sầm lại... Tiếng đạn cao xạ nổ rất đanh. Khói đạn bủa vây rất chụm trên trời.
Anh lái xe xích vẫn đứng nép vào phía bên này chiếc xe. Mấy cô A4 nhảy ùa xuống ba hố bom ven đường. Những hố bom mới khô khốc.
Mảnh bom réo ù ù trên đầu. Đất cát văng tung tóe, rơi rào rào. Bụi trùm kín người.
A4 lại thoát trận bom nữa.
Tần đứng thẳng lên, thấy loạt bom không chạm vào mặt đường, còn cách độ một trăm rưỡi mét. Tần nhanh chóng thu quân. Cô nói:
– Việc ở đây đã xong. Bây giờ ta làm hầm.
Tần, Cúc, Xuân Vĩnh Lộc, Hường sơn ca vẫy chào anh lái xe xích:
– Bầy tui đi...
Anh lái xe lấm như trâu đầm tươi cười, nói to:
– Chiều ni mệt ghê. Các o cẩn thận đó. Mai ta gặp nhau bên bờ hố bom... Bên bờ hố bom nhé...
Anh nhảy lên buồng lái. Chiếc xe xích lại nổ máy giòn tan, đều đều vui vẻ.
Hợi khẽ bấm Nhỏ:
– Mi chào anh xe xích đi.
Nhỏ thẹn, đấm vào vai Hợi, nhìn thật nhanh về anh lái xe xích rồi rảo bước theo Tần. Hợi cười với anh ta:
– Hắn chào anh đó. Mai ta lại gặp nhau... bên bờ hố bom phải không anh?
Anh lái xe xích thoáng trông thấy cái nhìn của Nhỏ. Anh cho xe đi.
Lần này chiếc xe xích rẽ về một lối khác.
☆ ☆ ☆
– Pin! Pin!
Hồng ngồi trong lán trú mưa, chợt nghe tiếng còi xe quen thuộc vang lên phía bìa rừng. Cả lán nhộn nhịp hẳn lên.
– Xe đến rồi.
– Được về rồi.
– Đội mưa mà làm gỗ bay ơi.
Hồng nhận ra chiếc xe vẫn chở đất “Biên Hòa” quen thuộc đang đi chậm dần, rồi đỗ hẳn. Chiếc xe gài đầy lá ngụy trang. Cửa kính ô tô rạn vỡ nhiều đường. Chắn bùn, cửa xe, thùng xe đều bị méo mó, sây sát.
Anh lái xe ngó đầu ra hỏi Hồng:
– Mần đống gỗ ni?
Hồng gật đầu:
– Dạ.
Chiếc xe nổ máy lăn bánh đi. Hồng đứng dậy ngay. Anh lái xe cười:
– Quay xe một chút mà.
Chiếc xe quay đầu ra phía cửa rừng. Trời vẫn mưa to. Hồng toan hò chị em ra bốc gỗ dưới trời mưa, thì anh lái xe nhảy xuống đất, chạy vào trong lán. Anh bị quây ngay vào giữa vòng các cô thanh niên xung phong. Một cô níu tay anh khẩn khoản:
– Anh nói cho bọn em nghe tình hình bên ngoài rừng đi anh...
– Anh kể chuyện Đồng Lộc đi anh...
– Còn sớm. Chờ tạnh mưa ta làm. Anh kể chuyện đi.
Anh bật lửa, châm thuốc hít một hơi dài:
– Tối nay về tha hồ nghe chuyện Đồng Lộc ở nhà. Bữa ni có chuyện vừa nghe được ở trong tê. Nhưng có o nào ở A4 C552 không?
Hồng hơi chột dạ, vội thưa:
– Dạ, em đây.
– O biết anh Vĩnh người yêu o Xuân không?
– Dạ. Biết. Anh Vĩnh người Thạch Hà!
– Đúng đó.
Anh lái xe yên, lặng không muốn nói nữa. Anh hút thuốc liên miên. Không khí trong lán bỗng nghiêm trang hẳn lên. Hồng cảm thấy điều đó, nhưng Hồng vẫn nói:
– Anh cứ kể đi. Xuân Vĩnh Lộc không có mặt ở đây.
Anh lái xe yên lặng, hút hết điếu thuốc, rồi anh kể:
– Cách đây ít lâu, có đoàn xe bị đánh chặn đầu ở phía trong tê. Một chiếc bốc cháy. Bên dưới chiếc xe ấy, còn quả bom chưa nổ. Vì thế cả đoàn xe đi sau không vượt qua được chỗ nguy hiểm đó. Anh Vĩnh cùng với anh Tình và một đồng chí quân mới định đánh hộc phá, mở một bên vách núi, lấy lối cho đoàn xe len qua... Nhưng vừa châm lửa, bộc phá chưa kịp nổ, quả bom dưới hầm chiếc xe đang cháy dở bỗng nổ trước... Cả đoàn xe đi qua an toàn. Anh Tình bị thương nặng, còn đồng chí quân mới và anh Vĩnh hy sinh. Anh Vĩnh nằm ngay bên xác chiếc xe cháy, trong túi còn lá thư dài của o Xuân vừa gửi tới. Nghe anh em nói, anh Vĩnh chờ bức thư này lâu lắm rồi. Khi nhận thư Xuân, anh xem ngay. Và ngay đêm đó, anh viết thư trả lời o Xuân... Nhưng vừa gửi thư đi hôm trước, thì hôm sau...
Anh lái xe không kể tiếp được nữa...
Hồng bàng hoàng cắn môi yên lặng. Bên ngoài cơn mưa đã ngớt. Gió nhẹ đi.
Trời hửng nắng dần... Hôm nay Xuân Vĩnh Lộc đang làm gì? Liệu Xuân đã nhận được lá thư cuối cùng của anh Vĩnh hay chưa? Khi biết tin này, Xuân sẽ đau đớn ra sao? Hồng mong Xuân Vĩnh Lộc chưa biết chuyện này. Hồng sẽ nói sự thật với chị Tần để chị dần dần nói với Xuân...
Hồng nao nao trong người và bỗng dưng trào nước mắt thương Xuân, mặc dù Hồng chưa được biết Xuân nhiều. Hồng đứng dậy quay mặt đi, bước nhanh về phía đống gỗ. Hồng vác gỗ chất lên xe. Chị em trong lán đều ra bốc gỗ.
Không ai nói một lời nào nữa.
Cơn mưa tạnh hẳn.
Đống gỗ vơi dần. Thùng xe lèn chặt những khối gỗ. Mấy cô thanh niên xung phong C534 rủ nhau ra tiễn Hồng. Một cô dặn dò Hồng:
– Về Đồng Lộc phải cẩn thận. Nó đánh ác liệt lắm đó.
Hồng gật đầu:
– Tới nơi, mình sẽ viết thư vào ngay cho các đồng chí yên tâm.
Mỗi người một ba lô xốc lên vai, chạy ra ô tô. Hồng nhường hai bạn gái lên buồng lái ngồi. Hồng cùng ba cô khác đứng sau thùng xe chất đầy gỗ.
Quả thật là không an toàn, nhưng biết làm sao hơn được?
Xe bắt đầu chuyển bánh.
Lúc ấy là hai giờ chiều ngày hai mươi bốn tháng bảy. Hồng và các bạn vẫy chào những người bạn C534 đang tiễn mình, và vẫy chào tạm biệt cả cánh rừng mà mình đã từng ở đó một thời gian...
Khi xe rẽ ngoặt ra đường lớn, Hồng mới chợt nhớ ra: Vì vội về, Hồng bỏ quên mất bó lá nón, cuộn dây mây định làm quà cho chị em ở nhà. Cái món dây mây phơi quần áo thật tuyệt, chẳng bao giờ lo hoen gỉ và nhăn nhúm. May quá bó đũa làm bằng thân cây cau rừng, rất cứng và rất bóng Hồng để sẵn trong ba lô vẫn còn đây.
Ngày mai... Không, chỉ đêm nay thôi, Hồng sẽ được gặp chị em A4. Mọi người sẽ chạy ùa ra đón Hồng, và Hồng sẽ tặng mỗi người một đôi đũa mới bằng gỗ thân cây cau rừng, càng dùng lâu, càng lên nước. Hồng đã chuốt từng đôi một bóng đẹp. Bữa cơm sáng mai, chị em sẽ dùng đũa mới. Trong lúc ăn cơm, Hồng sẽ kể cho các bạn nghe về những ngày lấy gỗ, những đêm mưa rừng...
Xe vẫn mải miết đi, nhưng Đồng Lộc hãy còn xa lắm...
... Ở Đồng Lộc, Võ Thị Tần đưa chị em vượt cẩu Truông Kén rồi đi nhanh tới chỗ cần phải đào thêm hầm. A8 vẫy chào họ. Mười cô tươi cười chào lại.
Rạng giơ mũ lên vẫy. Các cô khác ngả nón quạt mồ hôi.
Ở đây, ngay chân núi Mũi Mác, chỉ mới có một đoạn hầm thẳng ven đường.
A5 mới vừa đào hôm qua, nhưng chưa có gỗ làm nắp.
Tần ngồi xuống bên chiếc hầm nói:
– Bây giờ giải lao đã. Mình canh tàu bay cho...
Các cô xúm lại quanh Nhỏ, bắt đầu trêu:
– Cái miệng anh tươi đó.
– Đôi mắt được lắm.
– Anh lái xe xích giỏi tuyệt!
– Ồ, mà khỏe ghê.
– Được đó...
– Y như anh lái xe xích mà nó vẫn mơ.
Nhỏ đỏ chín mặt. Từ trước tới giờ, Nhỏ vẫn hay trêu chị em. Bây giờ ai cũng xúm vào, trêu lại Nhỏ. Nhỏ vừa thích, vừa ngượng. Thấy các bạn cứ tán mãi, Nhỏ đành liều:
– Ờ, được đó. Nhưng nhỡ anh ấy có chị rồi thì sao?
Chị em A4 cười ngả nghiêng. Nhỏ không giấu lòng mình được rồi. Tần quan sát bầu trời, nhưng vẫn nghe hết chuyện, Tần mỉm cười:
– Mi không lo. Anh ta chưa có “chị” đâu.
Chị em lại cười vang lên. Nhỏ cười trừ, đánh bài lảng... Chờ mọi người cười xong, Tần bảo Hường sơn ca:
– Đang giải lao, Sơn Ca hát đi cho vui.
Hường đứng dậy ngay. Cô đứng trên mô đất cao, tỳ tay lên đuôi cán xẻng, nhìn về Ngã Ba Đồng Lộc hát bài “Ngọn đèn đứng gác”.
Hường là con liệt sĩ. Ông Trần Đông - cha Hường, là vệ quốc quân hy sinh năm 1953 ở mặt trận. Khi ông hy sinh, Hường mới hai tuổi, mẹ Hường đang có mang em Lý. Năm em Lý lên hai và Hường tròn năm tuổi, mẹ đi lấy chồng. Hai chị em Hường ở với bà ngoại và cậu mợ, tại xóm Đông Quế, thị xã Hà Tĩnh.
Tuy sống thiếu tình cảm bố mẹ, nhưng được bà và cậu mợ yêu thương rất mực nên tính tình Hường vẫn hồn nhiên vui vẻ. Cô lại có giọng hát hay. Hồi mới đến Phú Lộc, Hường được bổ sung vào tiều đội 4. Thấy Hường nhỏ người, Tần hơi ngại, chỉ sợ tiều thư thị xã không chịu được gian khổ, lại xin về thì gay go lắm. Nhưng khi nhận bàn giao quân, Tần biết Hường đã từng chiến đấu ở tự vệ Thị đội Hà Tĩnh, cô rất mừng. Biết Hường hát hay có tiếng ở thị xã, Tần càng mừng hơn.
Ngay trong buổi giới thiệu đội viên mới, Hường tỏ ra bạo dạn, quen nếp sống tập thể. Khi Tần nói: “Nghe tin đồng chí Hường hát hay lắm, hát mừng ngày về tiểu đội một bài đi”. Hường ngạc nhiên, nhưng đứng dậy nói ngay: “Em chỉ hay hát, chứ hát không hay đâu. Em xin hát tặng các chị một bài...”. Thế rồi Hường hát bài “Cô gái mở đường”. Mọi người sửng sốt trước giọng hát hay và nhiệt tình của cô. Từ đó, tiếng hát của Hường trở thành nhu cầu tình cảm hàng ngày của tiểu đội. Chị em gọi Hường là “sơn ca”. Tiếng hát của Hường vút lên cao, rồi bay ra xa... Bài hát này Hường hay hát trong những đêm làm đường, nay đã thành kỷ niệm của cả tiểu đội. Bây giờ giữa ban ngày, lại hát về “Ngọn đèn đứng gác”, mọi người vẫn thấy xúc động, vì hiểu rằng mỗi người ở đây đều là một “ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt, như những tâm hồn không bao giờ tắt...”.
Khi Hường hát đến câu “Như cả nước với miền Nam đêm nào cũng thức” thì bản thân Hường cũng nghẹn ngào. Phải cố gắng lắm, Hường mới hát tiếp được. Bụi đất đỏ bám trên bộ quần áo đen của Hường. Trên khuôn mặt trái xoan, má Hường đỏ dậy, đôi mắt sáng long lanh. Đôi môi đỏ tươi vẫn thoáng nụ cười.
Bài hát dừng lại, và Hường không thể hát tiếp được lần thứ hai. Chị em vỗ tay, tràn đầy xúc động, Tần vẫn nhìn lên trời trông chừng... Thấy Hường không hát tiếp được nữa, Tần nói:
– Hát tập thể bài “Bước chân trên dải Trường Sơn”. Sơn ca bắt giọng đi.
Hường nhìn chị em, rồi vào bài ngay.
Cả tiểu đội 4 say sưa hát theo Hường bài hát tập thể trầm hùng, tha thiết mà chị em thích nhất. Tiếng hát của mười cô gái trẻ cất lên giữa Đồng Lộc nghe thật thiết tha...
“Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình...”.
Mười cô gái thanh niên xung phong đều nghĩ về những người anh, người bạn và người thân đang vượt Trường Sơn đi đánh Mỹ. Họ hình dung ra những chặng đường hành quân trong ấy... Tất cả đều xúc cảm chân thành. Khi hát đến câu cuối cùng, mọi người đều nhìn nhau, rồi hát lại câu đó hai ba lần cho đến khi nhỏ dần và mất hẳn.
“Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình...”.
Tần vẫn ngước nhìn trời. Bầu trời vẫn trong xanh, một màu xanh thăm thẳm. Màu xanh của trái tro chín già.
Dứt tiếng hát, Tần cho chị em làm thêm hai hầm nữa. Cúc nhận đào cái hố tròn, vì khó làm hơn. Cúc bảo:
– Hố ni dành cho “Thủ trưởng” Tần chỉ huy.
Xuân Đức Tân cùng Hợi và Xanh bắt đầu đào chiếc hầm mới. Tần, Xuân Vĩnh Lộc, Nhỏ, Rạng và Hường sơn ca tiếp tục đào sâu thêm chiếc hầm lớn của A5 để lại.
Đất sỏi rất cứng. Phải lấy xà beng xỉa và bẩy mới lên. Bổ thẳng cánh cuốc chim chỉ ngập lưỡi cuốc được dăm phân. Có chỗ lưỡi cuốc nẩy lên, như cuốc phải đá.
Mặt trời đã xế trên đỉnh Mũi Mác, nhưng nắng còn gắt. Gió Lào vẫn nóng như rang. Đứng trong lòng đất đào hầm, thật ngột ngạt, oi bức. Mồ hôi vã ra, dán chặt lưng áo. Bụi đất đỏ vẫn rây trên đầu, lên lưng mọi người. Nước trong bi đông đã hết. Lúc này Tần mới đưa bi đông của mình ra. Mỗi cô chỉ nhấp một ngụm. Rồi Tần lại cất đi.
Nắng, khát nước, mệt mỏi, nóng, bụi...
Tần ngừng tay cuốc, gạt mồ hôi trán, nói vọng sang hai chiếc hầm bên:
– Giải lao mười phút.
Hường nũng nịu:
– Ả Tần kéo em với.
Tần đưa tay cho Hường nắm lấy, rồi kéo Hường lên.
Chị em ngồi quanh miệng hầm. Xuân Vĩnh Lộc đưa tay lên tìm lá thư cài trên mái tóc. Xuân lưỡng lự một thoáng, rồi không lấy thư xuống đọc nữa. Xuân nhìn về phía Ngã Ba Đồng Lộc mới... Ở phía trong đó có anh. Em đã nhận được thư anh rồi. Em mong lúc được về nhà ngồi một mình để đọc thư anh...
Tần tranh thủ vơ một nắm cây thanh hao lấm đầy bụi đỏ bên cạnh chỗ đào hầm. Tần lấy dao tước đôi chiếc lạt buộc bó xẻng ra, quấn nắm thanh hao thành bó chổi.
Lúc ấy năm cô A5 vác gỗ lát hầm về ngang qua chỗ A4 ngồi nghỉ. Hai bên vẫy chào nhau. Một cô A5 lên tiếng:
– Ta nghỉ luôn đây cho vui, hè!
Tần nói ngay:
– Hầm chưa xong. Ra gần cửa cống kia mà nghỉ, yên tâm hơn.
Mấy cô A5 vác gỗ đi.
Họ vừa tới gần cái cống, bỗng nhiên bầu trời như bị xé toang ra. Bầy phản lực Mỹ xộc tới.
Tiếng đạn cao xạ nổ rất đanh. Những đốm khói trắng vụt nở hoa bông trên nền trời xanh ngăn ngắt. Nhìn theo những đốm khói bông ấy, mọi người thấy ngay được đường bay quỷ quyệt của bầy giặc trời.
Năm cô A5 chạy kịp ngay vào cái cống ngang đường. Các cô A4 cũng nhảy xuống những chiếc hầm đang đào dở.
Trong khoảnh khắc, chỉ còn nghe tiếng máy bay giặc gầm thét trên đầu.
Tiếng đạn cao xạ nổ sát sàn sạt...
Tần xuống hầm sau cùng. Tần nói to, giọng vẫn đanh:
– Nó đánh đó. Bom nổ xong, nhớ nhìn lên... Thấy đất đá rơi, bình tĩnh mà tránh...
Tiếng của Tần vang đi xa...
Bốn chiếc F4 và hai chiếc A6A bị đạn pháo bủa vây riết quá, vội vòng ra phía sau Mũi Mác... Một tốp khác lướt phía sau. Cả tiểu đội nhìn theo hướng Tần và Hường theo dõi. Tất cả quay về phía đường Mười Lăm. Tốp F4 và A6A từ phía sau Mũi Mác ập tới, cắt bom rồi tháo chạy. Một chùm bom, rồi lại một chùm bom... Một quả bom đen trùi trũi như mũi tên lao thẳng xuống nơi Tần và đồng đội ngồi, trong những chiếc hầm chưa có nắp đang làm dở chiều nay.
Cột khói bom và bụi đỏ bùng lên sát đường Mười Lăm, ngay cạnh nơi A8 làm. Cột khói, đất đá thành bụi dâng lên cao, cao mãi... Các đội viên của Võ Thị Tần đều không ngờ và không kịp nhìn lên để tránh đất đá rơi trên đầu.
Bầu trời tối sầm lại.
“Lúc ấy, là mười sáu giờ bốn mươi phút, chiều hai mươi bốn tháng bảy, năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám...”.
Cùng lúc ấy, Nguyễn Thế Linh - Đại đội trưởng C552 - ở trên đài quan sát, thấy bom rơi đúng vào nơi A4 làm. Anh lặng người, rồi bất chấp máy bay địch còn quanh quẩn trên đầu, chạy thật nhanh xuống đường Mười Lăm.
Trần Triện - A trưởng A8 - vừa dứt tiếng bom nổ sát bên A mình, vùng dậy. Thấy A8 an toàn, anh vội nhìn sang chỗ A4.
Ở đó, chỉ có bụi đất đỏ và khói bom mù mịt. Anh chạy sang ngay.
Năm cô gái A5 thấy ngớt tiếng bom, cũng ra khỏi cống nhô lên mặt đường.
Khói bom ở nơi A4 làm đã loãng, nhưng chẳng thấy còn ai. Họ chỉ thấy anh Trần Triện ngơ ngác nhìn nơi bom vừa nổ. Anh không còn thấy một ai.
Tuyệt nhiên không thấy người nào! Chỉ còn một chiếc nón rách bươm, nằm chơ vơ trên mặt đường Mười Lăm.
Anh vẫn tin là A4 đi ẩn ở đâu rồi. Anh bắc loa tay gào thật to:
– A4 mô rồi?
Chỉ có tiếng vang của núi Mũi Mác nhắc lại.
– Tần ơi!
Vẫn chỉ có tiếng vang của núi vọng về.
Anh gọi mấy câu nữa. Vẫn im lặng. Anh chạy xô đến cửa cống gần nhất. Cống rộng thênh thang, không một bóng người! Anh định chạy sang cửa cống gần A8, chợt thấy năm cô gái nhô lên. Anh mừng quá toan reo, nhưng nụ cười trên môi anh vụt tắt. Đó là năm cô gái A5. Anh kêu lên:
– Các đồng chí ơi! A4 bị bom vùi hết rồi.
Cái tin đau đớn bất ngờ này lan đi rất nhanh. Dương Minh Châu làm ở gần cầu Dương Tài vội cầm xẻng chạy như lao đi. Bảy đội viên A5 cũng chạy theo Châu luôn.
Nguyễn Thế Linh đến bên bờ hố bom cùng với Trần Triện. Anh em A8 cũng đến đông đủ.
Nguyễn Thế Linh nói lạc cả tiếng:
– Ta đào bới thật nhanh vào. May ra còn sống ai chăng?
Thấy những nhát cuốc, nhát xẻng hối hả bập xuống phá quanh bờ hố bom, anh sốt ruột kêu lên:
– Ta đào bới nhanh, nhưng cẩn thận. Lỡ cuốc vào đồng chí mình đó.
Đất bên bờ hố bom lật lên, dày quá. Cỏ cây xung quanh cháy xém hết. Địa hình lạ hẳn đi. Mấy cô A5 hôm qua đào chiếc hầm chính ở đây, lại vừa qua đây xong, nhưng vẫn không chỉ rõ được cái hầm ấy ở chỗ nào. Chỉ áng chừng thôi. Cô nào cũng khóc. Những tiếng khóc nghẹn ngào, cố nén lại, càng nức nở...
Nguyễn Thế Linh kêu to lên:
– Các đồng chí đừng khóc nữa. Nếu thương đồng chí mình, hãy đào cho nhanh, cho cẩn thận vào.
Những tiếng khóc được nén lại. Chỉ còn những giọt nước mắt lăn trên gò má.
Anh lái xe xích và hai anh công binh phá bom, cùng với mấy anh bộ đội pháo cao xạ, mỗi người một xẻng hốt hoảng chạy tới.
Trên trời, tiếng máy bay vẫn còn quanh quẩn đâu đây.
Bóng dãy núi Mũi Mác đổ xuống mặt đường Mười Lăm im lặng, kéo dài...
☆ ☆ ☆
Đúng vào lúc đó, xe chở gỗ của Hồng vào đến đất Hương Khê, Hà Tĩnh. Sau gần một giờ phải ngừng lại, vì máy bay địch lượn vòng qua đầu mình, mọi người nhảy vội lên ô tô, để về Đồng Lộc. Lúc bấy giờ, Hồng không hề hay biết là đồng đội thân yêu của mình đã bị bom vùi... Hồng chỉ vui sướng vì sắp được về gặp chị em sau những ngày xa cách. Để khỏi sốt ruột, Hồng mở ba lô lấy bó đũa xem lại. Mười sáu đôi thẳng tắp, thanh thanh, nhẵn bóng, đều chằn chặn...
Các bạn Hồng phấn khởi quá cùng nhau hát bài ca đang được mọi người ưa thích lúc bấy giờ: “Bước chân trên dải Trường Sơn”. Hồng cũng muốn hát theo, nhưng trong lòng còn canh cánh về tin anh Vĩnh hy sinh. Không biết nói với Xuân Vĩnh Lộc như thế nào đây?... Hồng chỉ ngồi nghe các bạn hát... “Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình”.
Nắng dịu rồi. Gió thổi mạnh ngược chiều xe. Tiếng hát bay bay trở lại đằng sau...
☆ ☆ ☆
Ở xóm Mai Long trong nhà bác Ý, cũng vào lúc này Nguyễn Thị Xuân - Đức Hồng và Bùi Thị Tịnh - vừa lấy cơm về cho chị em A4.
Hai cô bày thức ăn, đặt bát đĩa chỉnh tề trên bàn, rồi lấy tờ báo che mâm lại.
Mặt trời đã khuất về phía bên kia dãy Mũi Mác.
Bầu trời phía tây sau dải núi Trà Lĩnh đỏ rực lên như đám cháy lớn.
Xuân Đức Hồng tựa cửa chờ các bạn về ăn cơm. Cô đói lắm rồi nhưng thích chờ. Để khỏi sốt ruột, Xuân đi gánh nước giếng về tắm. Tắm giặt xong, vẫn không thấy ai về.
Tịnh nhìn Xuân. Hai người nhìn nhau lặng lẽ. Mấy soong cơm đã nguội...
☆ ☆ ☆
Ngôi sao Hôm mọc trên nền trời phía Tây chỉ còn thoi thóp sáng hồng. Hy vọng cứu sống Võ Thị Tần và đồng đội thật mong manh. Mọi người ra sức đào bới một giờ, vẫn chưa gặp dấu vết nào tỏ ra chị em A4 còn nằm lại đây.
Một cô nói trong nước mắt:
– Hay cả A4 bị bom “đánh đáo” giữa vòng?
Vài người nói khẽ:
– Có lẽ thế.
Họ chia nhau đi tìm. Chỉ cần thấy một mảnh xương thịt đồng đội văng ra, là có thể kết luận ngay được. Nhưng tuyệt nhiên không chút dấu vết khả nghi nào.
Mọi người xôn xao vì đào mãi chẳng thấy, chợt “cộc” một tiếng, chiếc đòn cáng tải thương của A4 đây rồi.
Anh em vội vã quây lại đào khu vực có dấu vết mới. Hết sức hối hả và gượng nhẹ. Gỡ ra được chiếc cáng, rồi đến túi thuốc cấp cứu.
Đúng lúc này anh Trần Triện lật nhát cuốc đầu tiên tìm thấy cửa hầm. Mấy hòn đất sụt xuống. Một mái tóc đen hiện ra. Mấy anh gượng nhẹ moi đất lên. Dương Minh Châu xông vào thấy Võ Thị Tần vẫn ngồi ở tư thế nhìn máy bay, một tay vịn vách hầm, một tay chống đầu gối.
Minh Châu vội xốc nách Võ Thị Tần đưa lên. Chân tay Tần còn đang mềm nhưng tim ngừng đập hẳn, mặt tím ngắt.
Các đồng chí ở bên ngoài lần lượt ngả mũ, nón... Thế là hết! Võ Thị Tần ở ngay ngoài cửa hầm còn vậy. Các đồng chí ở bên trong thì sống làm sao? Minh Châu cắn răng lại, xốc nách tiếp đồng chí thứ hai đang cúi đầu sát vách hầm. Châu thấy chiếc phong bì màu hồng cài trên mái tóc còn nguyên. Đuôi tóc có băng vải đỏ như máu tươi. Minh Châu buột miệng van lên:
– Xuân ơi! Xuân ơi...
Đúng là Xuân Vĩnh Lộc. Châu nâng cằm Xuân lên. Hai dòng máu nhỏ trong mũi Xuân từ từ ứa ra. Đôi mắt Xuân vẫn mở, nhưng đờ dại. Châu vuốt mắt cho Xuân, rồi cắn chặt răng bế Xuân lên...
Cứ thế, lần lượt từng người một, Minh Châu và mọi người nghiến răng nín khóc, đưa được Nguyễn Thị Nhỏ. Võ Thị Hà, Trần Thị Rạng, Trần Thị Hường ra khỏi chiếc hầm lớn nhất.
Họ kính cẩn, nâng niu đặt thi hài những đồng chí vừa hy sinh nằm thẳng một hàng ngang trên bãi cỏ ven đường...
Ngay sau đó, chiếc hầm thứ hai cũng tìm thấy.
Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi, Hà Thị Xanh được hối hả đưa lên. Ba người ở hầm này nông, đất phủ một lớp mỏng, người hãy còn mềm và ấm... Mấy người vội làm hô hấp nhân tạo, nhưng không thể nào cứu vãn được nữa. Muộn quá rồi.
Chỉ còn có Hồ Thị Cúc vẫn chưa tìm thấy. Anh chị em tiếp tục đào. Có người cho rằng: “Cúc ở trong vòng hố bom rồi”. Nhưng Nguyễn Thế Linh vẫn cho đào tiếp. Anh nói:
– Chúng ta phải tìm bằng được thi hài liệt sĩ Hồ Thị Cúc mới về.
Dương Minh Châu cùng với vài đồng chí khác lấy khăn choàng ngụy trang phủ lên mặt cho các đồng chí nằm đây, sau khi cẩn thận vuốt mắt từng người...
Những đôi mắt ấy không bao giờ còn được thấy những người thân yêu và đồng đội của mình. Không bao giờ còn được thấy những con đường thân thuộc, dòng sông trong xanh - dù là sông Cụt, sông La hay sông Ngàn Phố hoặc là Ngàn Sâu...
Những đôi mắt ấy không bao giờ còn được thấy lũy tre làng, hàng cây tro, nếp nhà tranh, và những cánh đồng xanh ở nơi mình được sinh ra và lớn lên... Những đôi mắt ấy từ nay không còn thấy nữa: bốn mùa hoa quả thay nhau nở rộ, chín đều. Không còn thấy được nền trời xanh ngăn ngắt một màu. “Ở trên tầng mây xanh ấy là một trần mây tím mênh mông...”. “Trần mây tím ấy chính là tầng ô-dôn bao bọc quanh trái đất, để lặng lẽ bảo vệ từ xa mọi sự sống ở trên đời này, đặc biệt trong đó có CON NGƯỜI”. Nhưng mấy ai biết được và tôn vinh “trần mây tím” ấy cho xứng đáng với công ơn thầm lặng của nó... hết đời này qua đời khác, hết thế hệ này sang thế hệ khác... Để nhắc nhở hậu thế luôn luôn ghi nhớ công ơn của các liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc, nên chăng chúng ta hãy trồng những cây Bằng Lăng nở đầy hoa tím ở từng nơi họ đã hy sinh; để từ xa, hoặc từ trên cao mọi người đều thấy rõ...
Anh lái xe xích đứng lặng trước thi hài chín cô gái chiều hôm nay vừa tặng bó hoa mua cho anh. Bây giờ các cô đã nằm xuống, ngay trên mảnh đất các cô vừa cất cao tiếng hát. Cô gái cầm hoa trao cho anh, có cái nhìn vừa thẹn thùng vừa trong sáng. Cái nhìn ấy làm lòng anh xao động. Giờ đây, cô gái anh chưa hề biết tên, nhưng sẽ làm anh nhớ mãi kia, vẫn nằm trong hàng ngũ cùng đồng đội của mình. Bộ quần áo thanh niên xung phong còn mới, chưa nhàu hết nếp gấp.
Anh rất muốn ở lại,để cùng tìm thấy bằng được thi hài liệt sĩ thứ mười. Nhưng anh phải đi ngay. Đoạn đường vừa bị địch đánh phá nát. Đang chờ đợi anh...
Lúc chia tay ban chiều anh còn hẹn: “Mai ta lại gặp nhau bên bờ hố bom...”. Và các cô cũng nhắc lại lời hẹn ấy một cách vui vẻ, hồn nhiên, tin tưởng.
Nhưng, bây giờ anh đi, các cô nằm lặng im trên đất đỏ. Không ai còn nói với anh nữa. Chỉ còn ngôi sao Hôm lặng lẽ nhìn theo từng bước anh đi...
Anh lái xe xích không về nhà ăn cơm như thường lệ. Anh đến bên chiếc máy ủi đất. Bó hoa mua còn dặt trong buồng lái, nhưng cánh hoa đã héo rồi.
Hoa càng héo, trông lại càng tím thẫm trong bóng chiều sập tối.
Anh cho xe xích mở máy hết tốc độ. Tiếng nổ đanh, giòn, rạo rực vang lên như lời chào vĩnh biệt những người vừa ngã xuống.
Bánh xe nghiến lên mặt đường ken két. Hai hàm răng anh cũng nghiến chặt. Đôi mắt anh nhìn trân trân về phía trước nhận đường. Anh phụ lái mặc áo lót trắng, làm tiêu sống dẫn đường cho anh đi tới bờ một hố bom nằm chắn ngang đường. Anh hạ lưỡi thép gạt đất xuống. Xe xích từ từ đẩy những mảng đất lớn còn khét mùi thuốc nổ xuống dưới hố bom sâu hoắm...
Trong lúc đó, ở ven đường Mười Lăm, các chiến sĩ thanh niên xung phong đang tổ chức việc mang thi hài liệt sĩ về bên xóm Mai Long.
☆ ☆ ☆
Nửa đêm hôm đó, tại chỉ huy sở tiền phương của lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh - ở xã Thạch Liên - Thạch Hà, ven đường số Một - không ai bình tâm được vì cái tin mười cô thanh niên xung phong A4 - C552 đã hy sinh cùng một lúc chiều nay. Chuông điện thoại réo liên hồi...
– A lô! Ban chỉ huy tổng đội 55 đây. Chúng tôi đã tìm thấy được thi hài chín liệt sĩ. Chỉ còn một mình o Cúc chưa tìm thấy... Xin cho được mai táng gấp!
Đồng chí Trần Quang Đạt - trưởng ban đảm bảo giao thông tỉnh - nghiêm giọng, hỏi:
– Đã có đủ mười cỗ áo quan chưa?
– Dạ, chưa ạ!
– Thế thì không thể được. Phải cho người ra ngay thị trấn Can Lộc lấy cho bằng được đủ số áo quan, rồi tổ chức mai táng trọng thể. Thường vụ đã bàn rồi. Chính đồng chí Nguyễn Xuân Linh đã chỉ thị thế.
Anh Đạt đặt máy xuống, rồi gọi ra thị trấn Can Lộc:
– A lô! Tôi, Đạt đây. Số áo quan dự trữ còn bao nhiêu chiếc?... Chỉ có thế thôi à? Các anh phải bằng mọi cách ngay trong đêm nay làm cho xong mười chiếc quan tài để sớm mai Tổng đội 55 cho người đến lấy. Xong việc, báo cáo trực tiếp cho tôi ngay.
Đặt máy điện thoại xuống, anh Đạt ngồi lặng đi trong giây lát. Giọt nước mắt hiếm hoi lặng lẽ ứa ra trong khóe mắt anh...
... Xe chở gỗ của Hồng về đến Đồng Lộc trời đã tối mịt. Chiếc xe đột ngột dừng lại ở ven đường một nơi xa lạ. Hồng tưởng xe hỏng, vội hỏi đồng chí lái xe:
– Xe làm sao vậy?
– Tới rồi... Chỗ ở mới của các o đó.
– Rứa à?
Mọi người rời xe, xuống mặt đường. Anh lái xe bấm còi gọi. Những tiếng “pin, pin” quen thuộc kéo dài, vang lên.
Mọi lần, chỉ cần tiếng còi xe cất lên, một hai phút sau đã có người đon đả ra đón hàng. Không hiểu sao bây giờ lại yên ắng thế?
Mọi người còn đang ngơ ngác trước cảnh trời đêm ở đoạn đường chưa quen biết, chợt thấy một bóng người vội vã đi từ phía Đồng Lộc về. Hồng nhận ra dáng đi anh Cứ ở tiểu đội công binh của C552. Lúc anh tới gần, Hồng mừng quýnh lên:
– Anh Cứ ơi! A4 nhà em mô rồi?
Anh Cứ khựng người lại, nhìn Hồng không trả lời được. Anh nói với đồng chí lái xe:
– Hãy giấu xe đi, anh.
Rồi anh bảo Hồng và các bạn:
– Bây giờ, các o cho gỗ xuống, rồi thu dọn lấy thôi. C ta không còn người ở nhà nữa. Ra Đồng Lộc hết rồi.
Hồng ngạc nhên, lo lắng:
– A4 nhà em mô rồi?
Anh Cứ nhìn đi chỗ khác, trả lời Hồng:
– A4 hy sinh tất cả rồi.
Hồng không tin lời anh nói. Hồng không tin tai mình. Hồng hỏi lại:
– Anh nói sao?
– A4 hy sinh hết cả rồi.
– Trời!
Hồng chỉ kêu lên một tiếng thế, rồi khóc òa lên. Năm người bạn cùng đi cũng trào nước mắt. Anh Cứ vội vàng an ủi Hồng:
– Hy sinh mười. Chỉ còn năm người ở nhà, và o nữa thôi.
Hồng cố nén tiếng khóc, hỏi anh:
– Hy sinh bao giờ anh, chôn ở mô rồi?
– Mới hy sinh lúc đào hầm chiều ni. Đang còn để kia, chưa khâm liệm xong.
Hồng bàng hoàng cả người, tưởng mình ở trong một giấc mơ đau đớn. Hồng cầm chặt bó đũa cau rừng run lên, đi theo anh Cứ. Đến nơi, Hồng thấy một đám đông người đang vây quanh dãy thi hài đặt nằm trên bãi cỏ, ven đường hàng tỉnh thứ Hai.
Bó đũa trên tay Hồng buột rơi tung tóe xuống gần dãy chân nằm im lặng...
Hồng bủn rủn chân tay, nhận ra ngay được từng người một, mặc dù thi hài nào cũng phủ kín mặt rồi. Chỉ có ba thi hài vừa liệm vải trắng toát, là phải hỏi. Đó là Võ Thị Hà, Nguyễn Thị Xuân và Võ Thị Tần.
Đến lúc này, Hồng mới tin là các bạn mình hy sinh thật rồi. Hồng cắn răng lại, cố ghìm tiếng khóc. Nhưng những tiếng nức nở cứ dâng lên, dồn lên đau đớn tim Hồng... Hồng lặng người đi, mắt trân trân nhìn vào những người bạn thân thiết đang nằm đó bất động...
Các anh an ủi Hồng về nhà, cùng chị em còn lại gói ghém tư trang cho các đồng chí đã hy sinh...
Hồng vẫn yên lặng. Không biết lúc bấy giờ hai người bạn gái nào đã đeo hộ Hồng ba lô, và dìu Hồng về đến xóm Mai Long...
Vừa thấy Hồng về, Tịnh và Xuân Đức Hồng đang ngồi ôm lấy nhau òa lên khóc. Chị em ôm lấy nhau. Tịnh dìu Hồng ngồi xuống giường, nói là Lan, Hường và Nhị còn đang ở Nga Lộc chưa về.
Hồng không thể nào ngờ được ngày về với chị em lại là ngày đau đớn đến thế này!
Chẳng lẽ nào... từ nay về sau, không ai còn nhắc đến cái tên A4 thân yêu nữa? Không. Không thể thế được. Cái tên A4 của Hồng không thể để cho giặc Mỹ xóa đi được. Nó còn phải sống và sống mãi. Nó còn phải làm tiếp phần việc của những người vừa ngã xuống hôm nay...
Vừa lúc ấy anh Linh đến. Đứng trước mấy cô thanh niên xung phong còn lại của A4, anh nói:
– Phiên hiệu A4 là niềm tự hào của tất cả chúng ta. Không thể nào để cho kẻ thù có thể dùng bom đạn xóa đi được. Vì vậy, tôi đề nghị các đồng chí hãy biến đau thương thành sức mạnh, phát huy vai trò đội viên cũ của mình trong tiểu đội mới để phấn đấu cho A4 mới đạt được những bước tiến vẻ vang, giữ được danh hiệu đơn vị đầu đàn như trước đây... Có như vậy, chúng ta mới thật lòng thương yêu và tôn trọng các đồng chí của mình vừa hy sinh. Các đồng chí có đồng ý với tôi như vậy không?
Mấy cô đều gật đầu và nín khóc.
Cái tin đau đớn: mười cô thanh niên xung phong tiểu đội Võ Thị Tần hy sinh cùng một lúc ở Ngã Ba Đồng Lộc được loan đi rất nhanh và rất xa... Các đơn vị bộ đội, công binh, công an nhân dân, thanh niên xung phong và giao thông chủ lực tỉnh... đều biết tin này. Những khẩu hiệu bướm dán trên mũ, nón, dán trên thành xe, trên lá chắn thép của mỗi khẩu pháo đều ghi hai dòng chữ đậm:
QUYẾT ĐÁNH VÀ QUYẾT THẮNG
TRẢ THÙ CHO A VÕ THỊ TẦN
Tổ nào, đơn vị nào cũng cố gắng làm hết sức mình, để cho đường qua Ngã Ba Đồng Lộc lại thông suốt...
Sáu nữ đội viên còn lại của tiểu đội 4 lập tức được bổ sung thêm và thành lập tiểu đội 4 mới.
Vào lúc đường sắp thông xe, mọi người nhận được tin tìm thấy thi hài liệt sĩ Hồ Thị Cúc - còn nguyên vẹn - trong chiếc hố cá nhân.
Nhiều người biết chiều tối hôm nay sẽ hạ huyệt cho Cúc, và làm lễ truy điệu cho mười cô gái Đồng Lộc ở sân kho.
Trong những cánh rừng thưa, dưới bóng cây tro còn sát lại, anh em lái xe sơ tán đang chờ đợi giờ lên đường...
Bỗng ba phát súng trường nổ đanh, giòn. Đó là hiệu lệnh báo thông đường. Thế là đến hôm nay, đường lại nối liền cho những chiếc xe qua...
Ba tiếng súng trường hiệu lệnh vẳng đến tai A4 mới. Các cô vừa làm việc xong, đang thu dọn nhanh để về dự lễ hạ huyệt cho Hồ Thị Cúc.
Nguyễn Thị Hợi - A trưởng mới của A4 - dẫn đầu chị em. Lê Thị Hồng vừa được cử làm A phó, thay Hồ Thị Cúc đi sau cùng...
Nhiều người khác làm việc xong, cũng tìm đến phần mộ của mười cô gái thanh niên xung phong, nay được mang tên là mười cô gái Đồng Lộc. Mỗi người đều muốn có mặt vào giờ phút trang nghiêm vĩnh biệt các cô.
Mỗi người từ một ngả đường khác nhau đều dồn về cùng một chỗ. Đó là nghĩa trang riêng của các cô ở ngay chân núi Trọ Voi, gần giáp với đồi Ngang.
Phần mộ của các cô đặt ngay nơi hàng ngày A4 cùng các A khác đi về qua đó. Chính là nơi Võ Thị Tần và các bạn tránh máy bay lần đầu tiên trên đường ra Đồng Lộc giữa ban ngày, hôm hai mươi bốn tháng bảy vừa rồi. Chính ở nơi Xuân Vĩnh Lộc tranh thủ hái bó hoa mua, rồi sau đưa cho Nhỏ đem tặng anh lái xe xích chiều hôm ấy...
Võ Thị Tần và đồng đội yên nghỉ trong các nấm mồ mới đắp theo hình những chiếc xe tăng nho nhỏ. Những nấm mộ hai tầng mới nguyên xếp liền bên nhau thành một hàng thẳng tắp. Mộ chí bằng gỗ khắc tên liệt sĩ, từ phải sang trái: Võ Thị Tần - Dương Thị Xuân - Hà Thị Xanh - Nguyễn Thị Nhỏ - Võ Thị Hà - Trần Thị Rạng - Nguyễn Thị Xuân - Trần Thị Hường. Ngôi mộ thứ chín là mộ Võ Thị Hợi ở hàng trước mặt ngôi mộ Trần Thị Hường. Bên phải mộ Võ Thị Hợi, ngay trước mặt mộ Nguyễn Thị Xuân là chiếc huyệt đào sẵn cho liệt sĩ Hồ Thị Cúc.
Mọi người chỉ còn chờ A4 mới đi làm về.
A4 mới đã về. Các cô đi theo hàng một, mỗi người vác hai ba thứ dụng cụ đi tới.
Những tốp người đang phân tán ở bên ngoài lặng lẽ tập trung trước hàng mộ mới. Họ thấy Nguyễn Thị Hợi và chị em để dụng cụ mũ nón ở bên ngoài, rồi xếp hàng một đi vào.
Mười sáu cô gái trẻ, mặt trang nghiêm đầy xúc động, bước vào nghĩa trang, đi qua trước mặt những người đang đứng đợi ở bên ngoài. Các cô đều cố nén những giọt nước mắt.
A4 mới dàn thành hàng ngay thẳng tắp, mặt nhìn về phía những ngôi mộ mới.
Nghĩa trang hoàn toàn yên lặng. Chỉ có mùi trầm hương, hương hoa chạc chìu... Chỉ có tiếng gió reo dữ dội trên đỉnh đồi Ngang.
Mặt trời khuất hẳn sau dãy Mũi Mác. Nền trời phía Tây chỉ còn lại chút ráng đỏ thẫm. Ngôi sao Hôm đang sà xuống gần đỉnh Mũi Mác, như để chứng kiến thật rõ cảnh đau thương này, để ghi nhớ đời đời mối hận thù này. Ngôi sao Hôm rưng rưng như giọt nước mắt. Giọt nước mắt không bao giờ rơi xuống nữa. Nó ngưng đọng như một giọt nước thép mới ra lò.
Nguyễn Thế Linh cầm mười tờ quyết tâm thư của mười tiểu đội trong C552. Những quyết tâm thư tập thể viết sau khi A Võ Thị Tần hy sinh, thề quyết tâm giữ vững vị trí chiến đấu, quyết tâm trả mối thù này. Họ xin sẵn sàng làm bất cứ việc gì trên giao, làm thật tốt để xứng đáng với những người vừa hi sinh cho sự sống của con đường...
Mọi người cắn răng lại. Im lặng hoàn toàn. Chỉ có tiếng gió reo và tiếng bánh xe lăn nườm nượp trên đường. Những tiếng còi xe vang vang trên Đồng Lộc. Những tiếng trái tim đang thổn thức...
Hàng trăm chuyến xe ra, vào đang lần lượt chờ phiên nhau, đi qua Đồng Lộc trong đêm hôm nay. Những chiếc xe tải phủ bạt kín mít nặng nề, được ưu tiên vào Đồng Lộc sớm nhất. Xe đi từng tốp một, không kéo dài hàng dây. Những chiếc xe ngụy trang um tùm như những bụi cây lớn trên đường, theo nhau ra, vào Đồng Lộc.
Bụi đất đỏ cuốn mờ dọc con đường ven chân núi Trọ Voi ở bên kia nghĩa trang mười cô gái Đồng Lộc...
Ba hôm trước đây, mảnh đất này chỉ là vạt đồi hoang. Từ hôm nay, đây sẽ là nơi yên nghỉ, nơi giữ gìn mười cuộc đời đã sống trọn vẹn hết mình, mặc dù các cô đều chỉ mới ở lứa tuổi hai mươi...
Từ hôm nay, mảnh đất này sẽ là nơi viếng thăm của những người hiểu biết Đồng Lộc, kính yêu Đồng Lộc và biết ơn Đồng Lộc - Điện Biên Phủ của thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc nước ta vào những năm sáu mươi ở thế kỷ hai mươi...
Xung quanh phần mộ tập thể mới là những bụi mua đang nở đầy hoa tím. Những cánh hoa về chiều tím sẫm lại. Một vài chiếc nụ vừa hé. Đàng sau phần mộ chung, là mấy khóm hoa chạc chìu điểm nhiều bông trắng rung rinh, đang nhè nhẹ dâng hương...
1970 - 1977