10 Cô Gái Ngã Ba Đồng Lộc

Lượt đọc: 728 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VĨ THANH: Đêm

Chỉ sáng mai thôi, tôi sẽ được đi vào Hà Tĩnh, thăm Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng, thăm các gia đình liệt sĩ và đồng đội của Mười Cô... Một chuyến đi đặc biệt, tôi đã chờ đợi hơn hai mươi năm nay, bây giờ sắp đến! Mặc dù đã kiểm tra rất kỹ các vật dụng và quà tặng mang theo trong chuyến đi này, nhưng tôi vẫn phấp phỏng, vì sợ thiếu hụt do ngoài dự kiến...

Tất cả sẵn sàng để lên đường, nhưng sao tôi không ngủ được dễ dàng như mọi ngày? Đồng hồ báo thức đã để chuông; lại còn nhờ tổng đài Điện thoại báo thức hộ cho đúng giờ... Nhưng sao tôi vẫn thấy bồn chồn, thấp thỏm? Những kỷ niệm xưa lần lượt hiện về - rõ mồn một - như một cuốn phim tài liệu quay nhanh...

☆ ☆ ☆

Ba mươi lăm năm về trước... vào dịp đầu mùa đông năm 1968, lớp viết văn trẻ - khóa 3 - của Hội Nhà văn Việt Nam khai mạc tại trụ sở Hội ở 65 Nguyễn Du - Hà Nội. Học viên khóa 3 nhiều người có tên tuổi, như nhà thơ Liên Nam, Hồng Nhu, Nguyễn Trí Huân, Bùi Công Bính, Sỹ Hồng, Nghiêm Đa Văn, Nguyễn Phan Hách... Duy chỉ có tôi - thợ trước lò Lò cao Khu Gang thép Thái Nguyên - vào lớp học gần như tay trắng, không ai biết đến...

Sau sáu tháng được nghe các nhà văn, nhà thơ bậc thầy là Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi... trao đổi kinh nghiệm sáng tác và tâm sự cả lớp học - khoảng ba mươi người - chia nhau đi thực tế để viết bài “tốt nghiệp”.

Tôi chọn đi theo đoàn vào Hà Tĩnh. Vì muốn được đặt chân đến một vùng địa linh, nhân kiệt, có 99 ngọn Hồng Lĩnh, có dòng sông La êm đềm của thi hào Nguyễn Du... Đặc biệt có những tấm gương thật đẹp như: chín cô gái bắn rơi máy bay Mỹ ở xã Kỳ Phương, mười cô thanh niên xung phong cùng một lúc hy sinh ở Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng...

Đoàn chúng tôi chỉ có mấy người, theo anh Tám - nguyên là giáo viên dạy văn ở Hà Tĩnh đưa đi. Anh nào cũng mang theo chiếc xe đạp còm, ba lô quả mướp, ít tiền, ít tem gạo, nhưng tràn đầy niêm tin và nhiệt tình sáng tác - hăm hở lên đường...

Hồi ấy, xe lửa chỉ chạy ban đêm vào tới Vinh. Thành phố Vinh khi ấy chỉ còn là một đống gạch vụn và nhiều hố bom đang lấp dở. Những mảnh tường còn sót lại đều có các khẩu hiệu: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Không có gì quý hơn độc lập - tự do”.

Đạp xe đến đất Hà Tĩnh, đi dọc theo đường số 1 vào thị xã chỉ hơn 50km mà có đến 20 chiếc cầu lớn, nhỏ. Cứ khi nào thấy hai bên đường xuất hiện nhiều hố bom là lại sắp đến cầu! Cầu nào cũng bị bom đánh tan nát nhiều lần, làm lại nhiều lần... Quanh khu vực cầu hầu như không có màu xanh, vì chi chít hố bom...

Tại BH60 ở Thạch Hà - bí danh nơi sơ tán của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hồi chống Mỹ - đoàn chúng tôi được các đồng chí lãnh đạo tỉnh nhiệt tình đón tiếp và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi tìm hiểu tình hình Hà Tĩnh, gặp gỡ các điển hình tiên tiến nhất của Hà Tĩnh trong mấy năm qua...

Chúng tôi được tỉnh mời lên xã Sơn Bằng ở huyện Hương Sơn dự hội nghị Hai giỏi, nghe các điển hình sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi báo cáo thành tích. Lần đầu tiên tôi gặp La Thị Tám ở đây, khi đó chưa được phong danh hiệu anh hùng... Tôi lắng nghe tất cả, ghi chép rất nhiều.

Nghiêm Đa Văn - người bạn cùng họ, cùng là học viên đi thực tế với tôi - thấy tôi hỏi nhiều, ghi chép nhiều, liền nói:

– Ông định viết tiểu thuyết đấy à? Sau chuyến đi này, người ta chỉ cần ông viết được một bài thơ, một bút ký hay một truyện ngắn đăng trên báo là quý lắm rồi. Cần gì phải vất vả thế?

Tôi chỉ cười, im lặng. So với nhiều người cùng lớp học, tôi còn kém xa về số lượng, chất lượng tác phẩm, về sự nổi tiếng - chỉ mới có một truyện ngắn “Gạch men màu trắng” in trong tập truyện cùng tên của nhiều tác giả ở Nhà xuất bản Lao Động năm 1963 - được in lại trong tập Lò cao số 1 của Khu Gang thép Thái Nguyên năm 1964, và bút ký “Ánh lửa từ lò cao” in chung với anh Xuân Cang, chị Lê Minh trong tập ký cùng tên ở Nhà xuất bản Dân tộc Việt Bắc năm 1968. Và cả hai tiểu phẩm viết thời ấy, tôi đều lấy bút danh là Đồng Tâm, một cái tên không ai để ý đến bao giờ.

Thời gian đi thực tế ở Hà Tĩnh trôi qua rất nhanh; nhưng tôi tham lam, ôm đồm hai tập thể mình yêu quý, nên không biết viết cái nào trước. Vừa nhờ nhà thơ Vũ Duy Thông - hồi ấy là phóng viên Việt Nam thông tấn xã thường trú tại Hà Tĩnh - đưa ra thăm Ngã Ba Đồng Lộc, nơi mười cô liệt sĩ thanh niên xung phong mới được chôn cất; ngày hôm sau đã xin bám xe theo Bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh Nguyễn Xuân Linh đi vào Kỳ Anh, để đến cho bằng được xã Kỳ Phương...

Tới những ngày cuối cùng ở Hà Tĩnh - đợt đầu tiên này, tôi chỉ kịp ghi tên và địa chỉ những người có liên quan đến Ngã Ba Đồng Lộc, để sau này làm tiếp được thuận lợi và nhanh chóng hơn, đã phải đạp xe quay ra Vinh, về Hà Nội.

Đến Hà Nội, tôi tranh thủ tạt về nhà - hồi ấy đang ở ngõ Lê Văn Hưu 2 - thăm bố mẹ, anh và các em mình. Sau khi hỏi, biết tình hình cặn kẽ chuyến đi Hà Tĩnh vừa qua, cha tôi căn dặn:

– Bằng giá nào, con cũng phải viết cho xong hai chuyện đó. Nếu viết theo thể loại chuyện bịa - hay tiểu thuyết - con chưa đủ sức. Nếu viết theo hồi ký con phải thật cẩn thận. Đặc biệt là các cô liệt sĩ ở Ngã Ba Đồng Lộc con phải viết thật nghiêm túc, thật chính xác, không được phép sai lầm... Vì đó sẽ là một trong những tấm gương của lịch sử để lại cho đời sau chiêm ngưỡng. Chậm mà chắc, còn hơn là dục tốc bất đạt!

Toát mồ hôi hột, tôi đạp xe lên đường về khu Gang thép Thái Nguyên.

Tôi được điều về Phòng Thông tin văn hóa làm phóng viên đài truyền thanh Gang thép - trong lúc lò cao ngừng sản xuất vì bị bom Mỹ đánh trúng. Ở đây, lãnh đạo Phòng và Đài tạo mọi điều kiện cho tôi làm việc và viết.

Trước hết tôi viết về chín cô gái Kỳ Phương. Tôi ghép việc trực chiến máy bay của chín cô gái Kỳ Phương với việc nhân giống bèo hoa dâu của o Nhữ Thị Thanh Xuân. Và ghép luôn cả việc đúc các mảnh bom thành lưỡi cày - cũng ở Kỳ Anh - để thành một câu chuyện vừa sản xuất vừa chiến đấu, có cả nông dân và công nhân...

Tôi viết một mạch cho xong bản thảo lần thứ nhất tạm đặt tên là “Gái làng tro” - sau này tập truyện ấy lấy tên “Gương xanh”, do Nhà xuất bản Phụ nữ in năm 1975 và tái bản năm 1977. Cũng vào dịp ấy, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã đi xa... Cả nước đau thương vô hạn. Tôi xin lãnh đạo Phòng cho được vào Hà Tĩnh để hoàn chỉnh bản thảo, đồng thời cũng là dịp để tìm hiều thêm về các cô ở Ngã Ba Đồng Lộc. Đây mới là đề tài tôi quan tâm nhất.

Lãnh đạo Gang thép lại tạo mọi điều kiện cho tôi đi vào Hà Tĩnh lần thứ hai. Phải nhấn mạnh vì nếu không có chuyến đi này thì mãi mãi không bao giờ có truyện ký “Đài hoa tím”.

Xin tạm ứng trước hai tháng lương, mười lăm cân tem gạo, sửa chữa xe đạp lại cho thật tốt, mang theo một chiếc xăm dự trữ, địa bàn và bản đồ Hà Tĩnh, đặc biệt là chiếc máy ảnh loại tốt của Nguyễn Anh Bình - Trưởng đoàn truyền thanh Gang thép - tôi tạm biệt gia đình và bạn bè, lên đường về Hà Nội.

Tới Hà Nội, tôi đến ngay nhà anh Ngọc Quỳnh - hồi ấy chưa là Nghệ sỹ Nhân dân - ở xưởng phim Tài liệu thời sự Việt Nam. Tôi xin anh hai cuốn phim đen trắng để mang đi Hà Tĩnh.

Dọc đường vào Hà Tĩnh, đến đâu tôi cũng thấy bàn thờ Bác Hồ - được lập nên ở những nơi trang trọng nhất - nghi ngút khói hương...

Trong không khí thiêng liêng ấy, tôi đến BH60 Hà Tĩnh. Sau những thủ tục cần thiết, tôi được anh Tô Vinh - trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh - xếp cho một gian nhà hầm nửa nổi, nửa chìm để ở và làm việc. Người đánh máy rất giỏi của văn phòng - là anh Át - được phân công giúp tôi hoàn chỉnh bản thảo “Gương xanh”.

Sau khi đưa những trang bản thảo cuối cùng của tập “Gương xanh” cho anh Át đánh máy nốt, tôi hối hả lên đường ra Ngã Ba Đồng Lộc.

Hồi ấy, giặc Mỹ tuyên bố ném bom hạn chế: ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nhưng với tấm bản đồ nhỏ - tỷ lệ 1/400.000 - tôi biết được: vĩ độ cực Bắc của Hà Tĩnh ở Cửa Hội - Nghi Xuân là 18048’28”; vĩ độ cực Nam của Hà Tĩnh ở Kỳ Lạc - Kỳ Anh là 17054’00”. Như vậy, chúng nó có thể ném bom bất cứ lúc nào - khi chúng cần và muốn. Biết thế, tôi sẵn sàng chịu trận...

Ngoài chiếc xe đạp ra, tôi chỉ mang theo chiếc máy ảnh Pratika Nova B - mượn của anh Bình, mới lắp sẵn phim - là tài sản đáng giá nhất. Ở Đồng Lộc - hồi ấy không lo bị trấn lột, mà chỉ lo bom nổ chậm, bom từ trường của Mỹ còn sót lại.

Nếu chẳng may... có làm sao, thì cứ coi như ra mặt trận. Trong thẻ đoàn viên - lúc nào cũng mang theo người - tôi kẹp sẵn một mảnh giấy nhỏ, trên đó ghi: Họ và tên - Địa chỉ - nhóm máu - khi hy sinh báo tin cho ai, ở đâu... Mẩu giấy này, tôi có từ ngày 29-4-1966. Tôi nhớ, vì ngày đó máy bay Mỹ bắt đầu ném bom vào khu Gang thép Thái Nguyên - ngày ta bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 1.000.

Thợ lò cao chúng tôi có số hiệu như pháo thủ cao xạ. Khi có còi báo động, ngày lẻ, các số lẻ ở lại lò cao, ngày chẵn, các số chẵn ở lại, để ra gang cho bằng được - khi lò cao bị đánh phá, phải làm thế nào để cứu lấy nồi lò cao khỏi bị gang đông đặc. Vì vậy, chúng tôi khá dạn dày bom đạn. Dạn dày thế, nhưng trên đường ra Ngã Ba Đồng Lộc, tôi ngỡ ngàng nhìn quang cảnh hai bên đường, ruộng đồng, làng xóm... mới rùng mình thấy hết sự tàn khốc của bom đạn giặc Mỹ đã gieo xuống nơi đây. Sự sống và cái chết giằng co nhau từng bước một. Ranh giới giữa cái anh hùng và sự hèn nhát chỉ trong gang tấc.

Nơi tôi đến đầu tiên là mộ mười cô liệt sĩ mới chôn tạm ở chân đồi Trọ Voi. Những nấm mồ hình xe tăng - mới xanh cỏ, xếp hàng ngay ngắn. Một hàng rào tạm làm bằng tre bao quanh, ước lệ sự ngăn cách với bên ngoài.

Tôi im lặng đứng rất lâu trước các nấm mồ liệt sĩ. Nấm mộ nào cũng có mộ chí nhỏ làm bằng gỗ, ghi rõ họ, tên, tuổi, quê quán, đều có cùng một ngày hy sinh: 24-7-1968. Chỉ có thế thôi.

Dưới mỗi nấm mồ là một con người, là một cuộc đời, là những khổ đau và hạnh phúc, là ước mơ và chờ đợi, là bao nhiêu mối quan hệ với nhiều người còn đang sống ở trên cõi đời này... Tôi chưa biết gì hết!

Tôi phải tìm hiểu về từng người một, từng gia đình một... để có thể phác họa đôi nét chân dung đủ mười liệt sĩ khi còn sống; giúp cho mọi người sau này khi đến thăm mộ mười cô có thể hình dung ra vài nét cơ bản nhất về từng cô đang yên nghỉ dưới mồ.

Tôi mở ống kính máy ảnh ra, lấy góc độ và cự ly, chụp một số kiểu ảnh về khu mộ mười cô. Những tấm ảnh này sẽ ghi lại trung thực nhất nơi mười cô yên nghỉ lúc ban đầu. Tôi vẽ sơ đồ khu mộ rồi ghi tên từng cô vào từng ô một.

Năm cô người Đức Thọ, ba cô ở Can Lộc, một ở Hương Sơn, một ở Thạch Hà.

Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc nhiều tuổi nhất, đều sinh năm 1944, bằng tuổi em gái tôi. Võ Thị Hà ít tuổi nhất - sinh năm 1951, bằng tuổi em trai út tôi. Các cô đã hy sinh - vì sự sống của con đường chiến lược qua Ngã Ba Đồng Lộc này - hơn một năm rồi. Còn các em tôi, ba đứa đang ở ba trường Đại học...

Giọt nước mắt trào ra ở khóe mắt tôi. Một nỗi hàm ơn sâu sắc pha lẫn sự kính trọng cao cả. Một niềm tiếc thương vô hạn xen lẫn sự xót xa khôn cùng. Tôi thầm hứa với các em đang yên nghỉ dưới mồ:

– Anh sẽ cố gắng hết sức mình, để ghi lại một phần nào tấm gương hy sinh anh dũng của các em, để lại cho đời sau. Các em khôn thiêng hãy phù hộ cho anh làm được việc này, để anh có dịp đền ơn các em, đền ơn các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc.

Ngay lúc đó, một cơn gió lang thang tình cờ bay qua khu mộ mười cô. Gió rất thơm. Hương thơm của khói hương thoang thoảng đâu đây. Hương thơm của hoa chạc chìu man mác, xa xăm, dìu dịu, mơ hồ...

Bên cạnh khu mộ có hai tấm bia to. Một tấm bia ghi tóm tắt thành tích chung của “Đồng Lộc kiên cường bất khuất”, và một tấm bia dựng ngay bên bờ hố bom - nơi mười cô đã hy sinh - ghi tóm tắt tiểu sử mười cô.

Tôi chụp ảnh hai tấm bia đó, và ghi lại nội dung trên các tấm bia, để phòng xa sau này... Ai ngờ, sự phòng xa đó có ích. Năm 1972 giặc Mỹ ném bom trở lại Đồng Lộc, và các tấm bia không còn nữa. Bây giờ, tôi xin công bố nguyên văn:

Tấm bia thứ nhất:

“ĐỒNG LỘC KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT”

Ngã Ba Đồng Lộc là một điểm địch đánh phá tàn khốc nhất của giai đoạn ném bom hạn chế. Trong 4 năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta (1964-1968) chúng đã dội xuống đây 37.000 quả bom các loại, gây một tội ác tầy trời đối với nhân dân ta.

Ngã Ba Đồng Lộc nơi giằng co hết sức ác liệt giữa ta với địch. Các lực lượng thanh niên xung phong, bộ đội, công an nhân dân, giao thông vận tải và toàn thể nhân dân địa phương đã kiên trì chiến đấu và chiến thắng oanh liệt, bảo đảm cho đường ta vẫn thông, xe ta vẫn chạy...

Ngã Ba Đồng Lộc nơi xuất hiện nhiều tấm gương sáng: Tiểu đội Võ Thị Tần (mười cô gái thanh niên xung phong), Tổ máy húc: Uông Xuân Lý, Tiểu đội quan sát La Thị Tám với biết bao nhiêu hình ảnh kiên cường bất khuất đã ghi tại đây những trang sử vàng sáng chói của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Ngày 31-9-1969

Ty văn hóa Hà Tĩnh.

Tấm bia thứ hai:

16 giờ 40 phút ngày 24.7.1968, mười cô gái thanh niên xung phong thuộc tổng đội 55 P18 đã hy sinh anh dũng trên mảnh đất này trong lúc đào công sự chuẩn bị cho đồng đội chiến đấu.

1. Võ Thị Tần - 22 tuổi - Đảng viên - quê ở xã Thiên Lộc. Ba năm liền chiến sĩ thi đua.

2. Hồ Thị Cúc - 21 tuổi - Đảng viên - quê ở xã Sơn Bằng. Ba năm liền lao động tiến tiến.

3. Võ Thị Hợi - 20 tuổi - Đoàn viên - quê ở xã Thiên Lộc. Ba năm liền lao động tiến tiến.

4. Nguyễn Thị Xuân - 20 tuổi - Đoàn viên - quê ở xã Vĩnh Lộc. Ba năm liền lao động tiến tiến.

5. Dương Thị Xuân - 19 tuổi - Đoàn viên - quê ở xã Đức Tân. Lao động xuất sắc.

6. Trần Thị Rạng - 19 tuổi - quê ở xã Đức Vĩnh. Lao động xuất sắc.

7. Hồ Thị Xanh - 18 tuổi - Đoàn viên - quê ở xã Đức Hòa. Lao động xuất sắc.

8. Nguyễn Thị Nhỏ - 19 tuổi - Đoàn viên - Quê ở xã Đức Long.

Tấm bia này chỉ mới ghi dở dang đến người thứ 8 là Nguyễn Thị Nhỏ - còn Trần Thị Hường và Võ Thị Hà chưa kịp ghi vào đây - tuổi các cô chưa thật chính xác. Sau này tôi mới được biết: Hà Thị Xanh không phải họ Hồ, Nguyễn Thị Nhỏ quê ở Đức Lạng, chứ không phải Đức Long như bia đã ghi...

Đó là toàn bộ tư liệu chính thức, ban đầu về mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc mà tôi có trong tay...

Chuông đồng hồ báo thức reo vang cùng một lúc với chuông điện thoại gọi đúng giờ... Tôi nhỏm dậy ngay, vì có ngủ được chút nào đâu. Trời đã sáng rồi!

Tôi sách chiếc cặp da to và túi quà ra cổng. Chú xe ôm hẹn từ chiều hôm qua đã có mặt, chờ tôi...

☆ ☆ ☆

Đúng bảy giờ sáng thứ hai 13 tháng 10 năm 2003, tôi có mặt tại điểm hẹn của Đoàn đi Hà Tĩnh. Đó là cổng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở 36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.

Chiếc xe du lịch 12 chỗ ngồi màu sữa ngà của Nhà xuất bản Phụ nữ đã chờ sẵn.

Xe chuyển bánh lúc 7 giờ 15 phút, đi thẳng ra đường Lê Duẩn, vào Hà Tĩnh.

Thu Hà cho biết đã liên hệ với các chị ở Tỉnh Hội Phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh từ trước, mọi việc đã sẵn sàng. Còn tôi, đã viết thư cho anh Nguyễn Thế Linh - C trưởng C552 - về chuyến đi này; đồng thời cũng có thư cho văn phòng Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh nhờ tìm hộ o Đức ở Thanh niên xung phong C552 trước đây. Tìm được o Đức, tôi sẽ đến được nhà liệt sĩ Trần Thị Hường, ngay trong buổi tối hôm nay...

Tôi thấy lòng mình thanh thản và vui sướng khi được đi trên chiếc “xe tình nghĩa” này. “Tình nghĩa” là bởi vì đối với một cộng tác viên đã lâu năm lắm rồi, không viết gì nữa cho Nhà xuất bản, nhưng vẫn được mời đi thực tế tiếp, để chuẩn bị tái bản cho một cuốn sách cũ đã in gần ba chục năm trời. Trong thời gian chuẩn bị cho chuyến đi này, thấy tôi băn khoăn về việc tốn kém quá, cô Quỳnh Giao - Giám đốc Nhà xuất bản Phụ nữ - đã nói:

– Anh yên tâm. Việc này... không thể tính bằng tiền được. Vì mười liệt sĩ ở Ngã Ba Đồng Lộc, chúng ta sẵn sàng làm mọi việc cần thiết. Vả lại, anh cũng cao tuổi rồi, đi một mình sao được?

Tôi im lặng, xúc động vì tình nghĩa của Nhà xuất bản đối với Mười Cô và đối với riêng tôi...

Cả đêm tôi không ngủ được, nhưng vẫn không thấy mỏi mệt chút nào. Xe tốt, đường tốt, đi êm như ru... Tôi định tranh thủ chợp mắt một chút để lấy sức làm việc trong mấy ngày tới. Nhưng, tôi không tài nào ngủ được nữa. Những kỷ niệm hơn ba mươi năm về trước đã ùa về trong tâm trí đêm hôm qua, lại tiếp tục...

☆ ☆ ☆

Sau buổi làm việc đầu tiên với Đại đội trưởng C552 Nguyễn Thế Linh - ở chính quê hương anh, xóm Mai Long, xã Xuân Lộc - tôi được làm quen với đồng đội của mười liệt sĩ.

Trước hết, tôi tìm gặp những người có mặt tại nơi và trong lúc các cô hy sinh để nhớ và ghi chép thật đầy đủ, chi tiết, trung thực sự kiện đau thương này. Phần lớn là các cô ở A8 và A5 - C552.

Mỗi người một ý, một chi tiết, gợi mở cho nhau, liên kết với nhau để dựng lại giờ phút làm nên lịch sử của Mười Cô. Những giọt nước mắt lặng lẽ trào ra trên khóe mắt của người kể và những người nghe. Những khoảnh khắc lặng yên, ngắt quãng của sự kìm nén tiếng nức nở tự trong lòng người kể - phần lớn là các cô mới ngoài hai mươi tuổi...

Cứ thế, từ cái chết của Mười Cô, tôi mở rộng dần ra các mối quan hệ và thân phận của Mười Cô. Ai thân với liệt sĩ nào kể về liệt sĩ ấy; càng chi tiết, càng riêng tư càng tốt. Dương Minh Châu ở A5 - cùng quê và rất thân với Nguyễn Thị Xuân ở Vĩnh Lộc - kể cho tôi nghe mối tình đầy sóng gió, bi thảm của “Xuân Vĩnh Lộc” và anh công binh phá bom Dương Thanh Vĩnh ở Thạch Hà. Chỉ riêng mối tình này, có thể viết thành tiểu thuyết hay và dài, nhưng tôi chỉ viết điểm xuyết trong tập ký này vài nét chấm phá đơn sơ...

Tiểu đội của Võ Thị Tần có mười sáu người. Ngoài mười cô hy sinh một lúc ở Ngã Ba Đồng Lộc, còn lại sáu người. Đó là Lê Thị Lan, Trần Thị Nhị và Nguyễn Thị Hường ngày hôm đó đi lĩnh dụng cụ cho đại đội ở Nga Lộc. Nguyễn Thị Xuân (Đức Hồng) và Bùi Thị Tịnh làm việc ở nhà ăn. Lê Thị Hồng đi làm nắp hầm ở Quảng Bình đang trên đường về Đồng Lộc... Tôi tranh thủ gặp những người còn lại để hỏi chuyện về những người đã hy sinh. Phần lớn các cô chỉ nhớ những nét khái quát về tính cách, sinh hoạt của bạn mình. Những chuyện vui với nhau thì nhớ lâu. Còn về cuộc đời và thân phận của từng người đã hy sinh thì mờ mịt, hoặc chưa rõ ràng, còn nhiều ẩn số... Muốn biết tường tận từng người, phải đến từng gia đình liệt sĩ để thăm hỏi, tìm hiểu. Nhưng tôi không có điều kiện và thời gian...

Trước hết, tôi không phải là nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp được phân công viết về Mười Cô. Tôi chỉ là một người thợ Lò Cao đi viết nghiệp dư tự chọn lấy đề tài này. Quỹ thời gian rất hạn hẹp.

Ngày giã từ Ngã Ba Đồng Lộc lần thứ nhất đã đến. Tôi bùi ngùi chia tay các bạn thanh niên xung phong A4, A5 và A8 của C552 như chia tay với những người thân. Một mình ra nghĩa trang Mười Cô để thắp hương tạm biệt. Trước những nấm mồ bình dị và yên lặng của Mười Cô, tôi cảm thấy mình bất lực, kém cỏi và có lỗi vô cùng... Hoàng hôn tím nhạt mờ sương khói. Yên lặng đến tận cùng. Cô đơn đến tột cùng. Nước mắt lưng tròng, tôi bước chân đi...

☆ ☆ ☆

Về đến Hà Nội, tồi trình bày ngay với cha tôi toàn bộ chuyến đi Hà Tĩnh lần này. Đề tài thì rộng lớn, nhưng lực bất tòng tâm...

Ông nhìn như xoáy vào mắt tôi, rồi nói:

– Con muốn trồng cây ăn quả, hay trồng cây rau ngắn ngày? Không bao giờ được phép ăn xổi ở thì với những người đã hy sinh cả cuộc đời cho Tổ quốc. Đây là món nợ thiêng liêng mà con phải trả cho các cô Đồng Lộc. Bố hạn cho con... trong vòng mười năm phải xong!

Tôi lẳng lặng lên đường về Khu Gang thép Thái Nguyên.

Thế là từ ngày hôm ấy, tôi bắt đầu rà soát lại tất cả những tư liệu mà mình có về Mười Cô Đồng Lộc. Và cay đắng nhận ra rằng mình chưa có được bao nhiêu! Ngoài giờ làm việc và những bổn phận phải làm khác, tôi tìm gặp những người Hà Tĩnh có mặt ở Khu Gang thép lúc đó, để làm quen, tìm hiểu phong tục tập quán của từng vùng. Tôi chú ý nhất đến những người quê ở Can Lộc, Đức Thọ, Hương Sơn, Thạch Hà... Tôi tìm đọc tất cả những trang viết về Hà Tĩnh thời đó có ở Thư viện Gang thép, thư viện thành phố Thái Nguyên. Càng đọc, càng thất vọng, càng thấy mình còn ít vốn sống quá!

Tôi định bỏ cuộc. Về lý, không ai chê trách được tôi. Nhưng về tình...? Tôi còn phải trở lại Đồng Lộc, còn phải thường xuyên gặp mặt cha tôi ở Hà Nội... Tấm lòng tôi không cho phép!

Thế là, từ năm ấy - 1970 - tôi để dành những ngày phép năm ít ỏi cho những chuyến đi Hà Tĩnh, tìm hiểu thêm tình hình và gia cảnh Mười Cô. Những chuyến đi không chính thức hồi đó, chỉ mình tôi biết mục đích, và một mình thực hiện.

Đến gia đình nào, tôi cũng tự giới thiệu mình là đồng đội cũ của con em gia đình, nhân có việc đi qua tranh thủ rẽ vào thăm. Tôi không dám nói sự thật (là tìm hiểu gia cảnh để viết về Mười Cô), vì lý do không viết được thì có tội với gia đình liệt sĩ biết chừng nào! Cứ thế, tôi lắng nghe, gợi hỏi và quan sát; ghi nhớ vào lòng, không được phép ghi chép vào sổ tay như thường lệ nữa!

Gia đình nào cùng muốn tôi ở lại để ăn cơm, nhưng tôi đều từ chối, vì còn phải đi gấp mấy nơi nữa. Sau đó, tôi ra quán đầu làng, ăn tạm củ khoai, củ sắn, rồi ghi vội những số liệu, chi tiết, tên người vào sổ tay, kẻo quên mất...

Cứ thế, năm này qua năm khác, tôi như con ong hút mật cần cù, lặng lẽ, nên gom góp được một số tư liệu về Mười Cô Đồng Lộc. Tôi quyết định viết bản thảo lần thứ nhất vào cuối năm 1973. Tôi chọn đường dây chính là mối tình của Xuân Vĩnh Lộc và anh công binh Dương Thanh Vĩnh quê ở Thạch Hà. Các cô liệt lĩ khác chỉ làm nền cho hai nhân vật này. Viết trong ba tháng xong. Tôi hí hửng mang gần một trăm trang bản thảo về Hà Nội để cha tôi đọc và đánh máy dùm. Ông đọc một đêm xong, gọi tôi lên, bảo:

– Con viết như này là chưa được, chưa công bằng! Bao nhiêu đơn vị, bao nhiêu con người dũng cảm mới làm nên Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng. Thế mà chỉ có một cặp tình nhân là nổi bật lên! Con phải viết lại từ đầu. Làm sao toát ra được: đó là những cô gái bình thường, nhưng là một tập thể kiên cường, bất khuất. Hy sinh, nhưng lại trở thành bất tử!...

Tôi công nhận là cha tôi nói rất đúng, nhưng sức mình có hạn. Vả lại, tôi cũng muốn nhanh chóng được in một cái gì đó, để bạn bè biết rằng mình đã “tốt nghiệp” Lớp viết văn trẻ - khóa 3 của Hội Nhà văn. Cha tôi cười độ lượng.

– Con nghĩ thế, cũng được; nhưng như vậy chỉ là vì mình. Con hãy nghĩ vì những tấm gương hy sinh của Mười Cô Đồng Lộc mà làm việc!

Thế là tôi lại lủi thủi ôm tập bản thảo không thành về Khu Gang thép Thái Nguyên.

Tôi bố cục lại, sắp xếp lại các nhân vật của mình trong tập truyện ký này; và nhận ngay ra rằng mình còn thiếu nhiều mảng vốn sống quá. Lại phải đi tiếp thôi!

Kỳ nghỉ phép năm 1974, tôi để dành cho việc tìm hiểu các đơn vị hợp thành tác chiến ở Ngã Ba Đồng Lộc vào mùa hè năm 1968. Hồi ấy, chưa giải phóng miền Nam, nhiều chuyện còn phải giữ bí mật. Những người trong cuộc hồi 1968 đang ở chiến trường B. Những người mới đến lại không biết, hoặc không muốn nói cho một anh viết văn nghiệp dư “vô danh, tiểu tốt” như tôi. “Danh không chính, ngôn không thuận”. Với một chút tư liệu có thêm không đáng kể, tôi lầm lũi về Khu Gang thép Thái Nguyên như một kẻ chiến bại.

Đúng vào thời điểm ấy, nhiều sóng gió đến với cuộc đời tôi. Năm 1972, Mỹ ném bom trở lại miền Bắc. Mẹ các cháu sinh thêm con gái. Mấy mẹ con được chuyển vùng về Hà Nội. Một mình tôi ở lại Khu Gang thép Thái Nguyên trong căn nhà lá đơn sơ - mới chuyển từ Gia Sàng về xóm Bình Dân ở chân đồi xưởng Gang - để lấy chỗ cho Nhà máy Luyện Cán Thép Gia Sàng đang xây dựng. Tôi cố thu xếp thời gian để viết bản thảo lần thứ nhất về Đồng Lộc - năm 1973 - nhưng coi như thất bại. Đợt đi lấy tài liệu bổ sung năm 1974 cũng không thành công. Đã thế, sau chuyến đi này tôi được tuyển lên nhà máy Luyện Cán Thép Gia Sàng để học nghề Luyện thép Lò Thổi đỉnh. Tôi không làm việc ở Đài truyền thanh Gang thép nữa. Cơ hội và điều kiện làm văn nghệ coi như chấm dứt.

Tôi tập trung vào việc học kỹ thuật Luyện thép, quy trình, quy phạm kỹ thuật điều khiển lò thổi đỉnh... sao cho bằng các bạn được cử đi học tại Cộng Hòa Dân Chủ Đức, không còn thời gian nghĩ đến việc viết tiếp về Mười Cô Đồng Lộc nữa.

Trong không khí cả nhà máy mới đang chuẩn bị đi vào sản xuất, tôi nhận được thư của chị Nguyễn Thị Hồng - cán bộ biên tập ở Nhà xuất bản Phụ nữ. Chị mong tôi về Hà Nội để bàn về việc sửa lại tập truyện vừa “Gương xanh” đã xếp hàng ở Nhà xuất bản từ cuối năm 1969, bây giờ mới được để mắt tới.

Tôi lưỡng lự mất mấy ngày, rồi cũng về Hà Nội. Chị Hồng nói với tôi: “Anh nên sửa cái kết thúc để nhân vật chính không chết. Chết thì buồn quá! Nếu sửa được thì “Gương xanh” sẽ in trong năm 1975”. Tôi đồng ý sửa, để cho người yêu của o Thanh chết thay thôi. Quả nhiên, sau ngày giải phóng miền Nam - cũng là ngày khánh thành Nhà máy Luyện cán Thép Gia Sàng - “Gương xanh” được xuất bản lần thứ nhất tại Hà Nội. Tên tác giả theo tên khai sinh, như ý muốn của cha tôi. Tên là Đồng Tâm bị bãi bỏ.

Coi như tôi phải làm lại từ đầu.

Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, xưởng Luyện Thép Gia Sàng như bước vào những ngày lễ hội. Tôi sung sướng được làm việc với các chuyên gia Cộng Hòa Dân Chủ Đức trong buồng điều khiển lò thồi đỉnh. Sau nhiều năm đứng trước ánh lửa lò cao, sau nhiều năm bom đạn, bây giờ tôi mới được luyện thép. Đứng trước ánh lửa từ lò luyện thép - do mình điều khiển - tôi thật sự hạnh phúc.

Tôi làm việc hết mình, nhiệt tình và say mê công việc mới đến nỗi không dứt ra được để viết vào lúc nào. Các chuyên gia bạn yêu quý tôi về tính chính xác và sự cẩn trọng trong công việc. Lãnh đạo nhà máy đưa tôi lên làm Thư ký công đoàn phân xưởng thép - Đó là chức danh lớn nhất trong cả cuộc đời tôi!

Vào thời điểm ấy, đồng chí Đỗ Phú Hoan - tổng biên tập tạp chí Quản lý lao động của Bộ Lao Động lên thăm nhà máy. Ông xem ra thép và thấy tôi trong buồng điều khiển lò thổi đỉnh. Chẳng hiểu vì sao, anh lại hỏi anh Tô Tôn Quyền - lúc đó là xưởng trưởng xưởng luyện thép về tôi. Ông đợi ra thép xong, tôi nghỉ tay, mới gặp và nói:

– Tôi biết anh là một người thợ lò thép giỏi, có văn hóa, viết văn được. Anh có muốn về Hà Nội, làm phóng viên của báo tôi không?

Thấy tôi ngần ngại, ông nói tiếp:

– Chúng tôi muốn tăng cường đội ngũ công nhân như anh, trong lực lượng phóng viên của chúng tôi. Nếu anh đồng ý, chúng tôi sẽ làm việc với lãnh đạo Gang Thép. Anh không phải làm đơn xin đi đâu.

Tôi cười, khiêm tốn trả lời;

– Rất cám ơn sự quan tâm và nhã ý của anh. Nhưng việc tôi đi hay không, lại là do tổ chức quyết định. Hơn nữa, tôi chưa học nghề làm báo bao giờ...

Ông Hoan về Hà Nội. Tôi vẫn ngày ngày ra lò luyện thép làm việc, coi như câu chuyện thoáng qua, không bận tâm đến nữa. Nhưng, chỉ nửa tháng sau, anh Phạm Quang Thùy - trưởng phòng Lao động tiền lương của Công ty Gang thép Thái Nguyên - xuống Nhà máy Luyện Cán Thép Gia Sàng làm việc với lãnh đạo nhà máy, sau đó gặp tôi, anh nói:

– Lãnh đạo công ty và nhà máy đồng ý cho Đồng Tâm về Hà Nội làm báo, nhưng phải đào tạo người thay thế ngay. Càng sớm, càng tốt.

Bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời tôi đã đến một cách đột ngột và lạ lùng, như thế. Tôi tức tốc về Hà Nội xin ý kiến cha tôi. Ông lặng đi rất lâu, rồi thận trọng nói:

– Thời hạn cho con mười năm để viết về Mười Cô sắp hết rồi. Con phải cố lên... Đây là thời cơ được ăn cả, ngã về không. Con phải hết mình...

Tôi trở về Thái Nguyên với quyết tâm đào tạo người thay thế mình thật tốt, thật nhanh chóng, để còn có thời gian làm việc trả nợ Mười Cô.

Tháng 3 năm 1976, đào tạo được người thay thế điều khiển lò thổi đỉnh, tôi tranh thủ vế Hà Nội làm giấy giới thiệu là cộng tác viên của Nhà xuất bản Phụ Nữ, đi Hà Tĩnh lấy tư liệu về Mười Cô ở Đồng Lộc để viết tiếp.

Lần này, danh chính, ngôn thuận nên có nhiều thuận lợi hơn. Hà Tĩnh sát nhập với tỉnh Nghệ An thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Tôi vào Vinh tìm gặp lãnh đạo tỉnh mới. May sao, Phó chủ tịch tỉnh Nghệ Tĩnh lúc đó lại là anh Trần Quang Đạt, tôi đã từng gặp gỡ và làm việc ở Hà Tĩnh hơn tám năm về trước. Anh còn nhớ tôi, nên nhiệt tình giúp đỡ các tư liệu về hồi tháng 7 năm 1968 ở góc độ người lãnh đạo bảo đảm giao thông trong chiến tranh ở Hà Tĩnh. Những tư liệu trước đây tôi không thể nào có được. Sau đó, anh viết giấy giới thiệu cho tôi xuống các địa phương mà tôi cần đến. Giấy giới thiệu do chính anh Đạt viết và ký tên, đã giúp tôi vượt qua mọi thủ tục rườm rà; để nhanh chóng đến với các gia đình liệt sĩ. Đến gia đình nào, tôi cũng xin lỗi về việc trước đây đã không thể nói thật dự định của mình - vì sợ việc không thành - xin các gia đình lượng thứ. Gia đình nào cũng châm chước bỏ qua, và còn nói:

– Cái tâm của anh từ Hà Nội vào thăm gia đình chúng tôi là quý lắm rồi. Khôn ngoan chẳng lọ thật thà. Giá anh cứ nói thật dự định của anh từ hồi ấy, có phải chúng tôi đã cung cấp đầy đủ hơn các sự việc anh cần biết rồi không?

Có cô em của một liệt sĩ còn thẹn thùng nói:

– Thấy anh nói tiếng Bắc, bọn em cứ đoán già đoán non: “Biết đâu anh ấy yêu chị mình từ trước lúc hy sinh, nên bây giờ về thăm gia đình”... và cứ tiếc cho chị mãi...

Cả nhà cười ầm lên. Ngay sau đó, tôi như người trong nhà, hỏi chuyện thoải mái, ghi chép thật tỉ mỉ, đàng hoàng; không còn cấn cái như trước nữa.

Chuyến đi vào Hà Tĩnh lần này tôi cũng mang theo máy ảnh để chụp cho các gia đình liệt sĩ làm kỷ niệm. Gia đình liệt sĩ Hồ Thị Cúc ở Sơn Bằng - Hương Sơn tôi chụp nhiều nhất. Một phần vì thương cô Cúc - hoàn cảnh éo le nhất trong Mười Cô đã hy sinh. Một phần vì nhiều người đã không hiểu hết cảnh đời cô, nên đã chưa viết thật đúng về cô.

Ngày cuối cùng trước khi rời Hà Tĩnh về Hà Nội, tôi đến thăm mộ Mười Cô an táng tại nghĩa trang Liệt sĩ xã Thiên Lộc - Can Lộc. Những ngôi mộ được xây bằng đá xám, xếp hàng bên nhau, trên nền đất cao hơn một chút so với các mộ liệt sĩ khác. Lần lượt thắp hương cho từng ngôi mộ một, tôi đọc từng dòng chữ khắc trên mộ chí, và thân phận của từng người lần lượt hiện ra trong trái tim tôi. Các cô không còn xa lạ như lần đầu tiên tôi đến thăm khu mộ Mười Cô ở chân đôi Trọ Voi - gần Ngã Ba Đồng Lộc - cuối năm 1969. Mười Cô như đang đứng xếp hàng ngay ngắn trước mặt tôi, đang mỉm cười khích lệ tôi, và chờ đợi kết quả tốt lành mà mọi người mong muốn...

Tháng 9 năm 1976 tôi rời Khu Gang thép Thái nguyên về làm phóng viên tập san Quản lý lao động ở Hà Nội.

☆ ☆ ☆

Tôi cất tiếng khóc trào đời vào lúc nửa đêm thứ năm ngày 8 tháng 12 năm 1938 tại nhà A5 Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Cô đỡ người Pháp sau đó nói ngay với cha tôi: “Thằng bé này khóc to và thảm thiết lắm”. Cha tôi sợ tái người đi, và không dám khai sinh ngay cho tôi. Tròn bốn năm và năm ngày sau đó, mẹ tôi đột ngột từ trần, khi mới vừa 28 tuổi. Trước giỗ đầu mẹ tôi một ngày, em trai tôi cũng ra đi...

Tôi lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc của cha và mẹ già - một người mẹ phúc hậu và hiền lành nhất mực. Tôi học hành các cấp phổ thông ở Hà Nội. Không đường ngang ngõ tắt nào ở Hà Nội mà tôi không biết đến... Tháng 10 năm 1959, tốt nghiệp lớp 10 xong, tôi tình nguyện vào Nông trường Đồng Giao - Ninh Bình, làm công nhân đo đạc. Tháng 8 năm 1960, tôi về Khu Gang thép Thái Nguyên làm thợ xây dựng, thợ lò cao, rồi làm thợ luyện thép ở đó; Cho đến khi về Hà Nội làm báo vào tháng 9 năm 1976, vừa tròn 17 năm...

Tôi tranh thủ mọi thời gian có được để viết truyện ký về Mười Cô Đồng Lộc. Hồi ấy, hầu như ai cũng nghèo. Tôi phải xin Vũ Duy thông các bản tin của Việt Nam thông tấn xã đã quá hạn để viết bản thảo vào mặt sau. Viết được trang nào, cha tôi đánh máy cho trang ấy. Cuối năm 1977, tôi viết xong bản thảo “Đài hoa tím”. Vũ Duy Thông đưa tôi lên Việt Trì để thăm họa sĩ - nhà thơ Hoàng Hữu, và nhờ vẽ hộ bìa sách. Khi đó, Hoàng Hữu vừa qua một trận mổ tim, tôi rất thương, không dám nhờ nữa. Nhưng Hoàng Hữu bảo: “Thích nhất là được vẽ bìa sách cho bạn bè. Mình sẽ làm cho Tân”.

Hoàng Hữu bảo tôi tóm tắt nội dung truyện ký, rồi nói: “Cấu tứ thì lâu. Còn vẽ thì nhanh thôi. Khi nào xong, mình sẽ mang về cho Tân”.

Chúng tôi về Hà Nội với tâm trạng đầy phấp phỏng, lo cho sức khỏe của Hoàng Hữu hơn là việc nghĩ đến cái bìa sách sẽ ra sao...

Tôi trân trọng mang bản thảo “Đài hoa tím” đến Nhà xuất bản Phụ nữ, giao cho chị Nguyễn Thị Hồng. Một tuần sau, Hồng đề nghị với tôi:

– Gần mười năm nay, ai cũng nghĩ là Mười Cô đều chưa chồng. Nay anh viết rất rõ là cô Cúc từng có chồng rồi... Liệu khi sách in ra, có ảnh hưởng gì không?

Tôi nói ngay:

– Trước hết, đó là sự thật, không thể thay đổi được. Không nên thi vị hóa cái chết của Mười Cô mà nói sai sự thật đi. Vả lại, người từng có chồng, cái chết còn đau đớn hơn các cô chưa có chồng. Sao lại phải né tránh sự thật này? Nếu đây là tiểu thuyết, tôi sẵn sàng thay đổi ngay. Nhưng, đây là truyện ký về một đơn vị anh hùng...

Cuối cùng, Hồng cũng đồng ý với tôi cứ để nguyên sự thật này trong “Đài hoa tím”.

Đúng vào lúc sắp sửa đưa bản thảo vào nhà in, đích thân Hoàng Hữu mặt bạc đi, cười đôn hậu, mang bìa sách xuống. Bìa đẹp, chuyển tải được nội dung và giản dị. Nhà xuất bản và tác giả đều tâm đắc. Vũ Duy Thông còn nói đùa: “Khéo không bìa lại đẹp hơn sách đấy!”. Mọi người đều cười vui, nhưng riêng tôi vẫn thấy còn áy náy... Hạn mười năm đã hết rồi. Thôi, đành vậy! Tôi cám ơn Hoàng Hữu, rồi chia tay anh. Đâu có biết đó là lần cuối cùng gặp nhau!

“Đài hoa tím” in xong vào đầu tháng 10 năm 1978, để chào mừng Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 5. Sách in đẹp, với số lượng 11.200 cuốn. Nhà xuất bản Phụ nữ có lời giới thiệu trân trọng ở hai trang đầu truyện ký, làm tôi xúc động. Tôi mang tập sách in đầu tiên nhận được về tặng cha tôi. Ông ứa nước mắt, tay hơi run run khi cầm cuốn sách mỏng manh của tôi, nói:

– Giá như mẹ con còn sống... Cứ để đây cho bố đọc. Bằng cách nào con cũng phải mang vào biếu mỗi gia đình liệt sĩ một cuốn sách này, để cảm ơn họ. Nhờ có các gia đình liệt sĩ giúp đỡ tận tình nên con mới viết được thế này...

Trong một chuyến đi công tác vào Vinh, tôi mang theo hơn mười cuốn sách mới in xong, để làm quà tặng. Thời gian làm báo rất hạn hẹp, nên tôi chỉ kịp tặng anh Trần Quang Đạt và nhờ anh cho người chuyển hộ mười cuốn tới các gia đình liệt sĩ ở Hà Tĩnh. Anh Đạt vui vẻ nhận lời. Tôi tin là sách sẽ đến đúng các địa chỉ đã ghi, yên tâm về Hà Nội....

Năm, tháng qua đi... Chiến tranh biên giới 1979, tôi lên Cao Bằng, làm phóng viên mặt trận, rồi không làm báo nữa, chuyển về Nhà Văn hóa Trung ương thuộc Bộ Văn Hóa. Tôi vừa làm việc, vừa học tại chức chuyên ngành Văn ở trường Đại học Tổng Hợp. Năm 1981, cha tôi từ trần. 1983, mẹ già tôi cũng ra đi. 1985, bảo vệ luận văn tốt nghiệp đại học. 1990, nghỉ hưu và ly hôn. 1991, lập gia đình mới, làm lại từ đầu. 1997, sinh con gái út. 2000, chuyển nhà lần thứ tư về phố Quán Thánh - nơi ở hiện nay, không biết có phải là lần cuối cùng không!

Bằng chừng ấy sự kiện đã đến với cuộc đời tôi, sau hơn hai mươi năm “Đài hoa tím” ra đời, tôi không còn điều kiện và thời gian để đi thăm Hà Tĩnh nữa. Không một chữ, không một lời nào - dù là chê bai - đáp lại từ phía Hà Tĩnh về cuốn sách của tôi. Cũng có thể vì tôi không ghi địa chỉ ở trong sách! Cũng có thể vì tôi thay đổi địa chỉ quá nhiều lần... Cũng có thể vì sách của tôi không có giá trị gì, nên mọi người cho qua, không cần nhắc tới nữa? Tôi buồn lắm, mặc dầu lương tâm tôi thanh thản, vì đã cố gắng hết mình, phần nào đã trả nợ được Mười Cô.

Mỗi lần đọc báo, nghe đài, xem tivi thấy có tin gì về Hà Tĩnh - nhất là về Ngã Ba Đồng Lộc - tôi vẫn quan tâm như trước, coi như chuyện buồn, vui của quê hương mình. Nhưng, riêng tôi vẫn có mặc cảm của một người con bị làng xóm bỏ rơi...

☆ ☆ ☆

Xe dừng lại rất đột ngột.

Tôi mở choàng mắt, và hiểu ngay: Xe mình bị bắn tốc độ. Lúc ấy là 15 giờ 10 phút, tại thị trấn Hồng Lĩnh, bắc Hà Tĩnh.

Hai cảnh sát giao thông tiến lại gần xe, chào anh Đễ rồi làm thủ tục xem giấy tờ xe. Trong lúc Đễ làm việc với cảnh sát, tôi thầm nghĩ: “Chuyến đi này là vì Mười Cô Đồng Lộc. Chẳng nhẽ mới vào đến đây đã bị rắc rối thế này sao?”.

Đễ quay lại nói với Thu Hà:

– Các anh ấy bảo phải nộp phạt, bấm một lỗ vào bằng lái xe, rồi xe mới được đi! Nếu không, xe sẽ bị giữ lại... Chờ giải quyết.

Thu Hà rất bình tĩnh, cầm một số giấy tờ đến chỗ hai anh cảnh sát giao thông, nhẹ nhàng nói:

– Chúng tôi ở Nhà xuất bản Phụ nữ, vào đây để làm cuốn sách về Mười Cô gái Ngã Ba Đồng Lộc. Chiều nay phải làm việc với lãnh đạo tỉnh, nên có hơi vội. Mong anh thông cảm.

– Thôi, các anh, chị đi đi, kẻo muộn. Anh lái xe nhớ rút kinh nghiệm nhé! - Anh cảnh sát nói, sau khi đã xem một số giấy tờ Thu Hà đưa ra.

Đường quốc lộ 1A vô cùng đẹp đẽ, bằng phẳng, rộng rãi. Hai bên là rừng cây xanh thẫm, hoặc ruộng đồng xanh tốt. Chiếc cầu nào cũng đẹp, cũng vững bền. Không còn dấu tích chiến tranh phá hoại ngày xưa. Tôi nhìn ngắm say sưa và cảm động, như đứa con xa nhà hơn hai mươi năm, nay mới được trở về quê hương mình. Tôi thầm cảm ơn Mười Cô đã kịp thời “giải vây” cho chúng tôi đúng lúc. Chắc cái tâm của chúng tôi đã động đến Mười Cô...

16 giờ chúng tôi đến thị xã Hà Tĩnh.

Tôi ngỡ ngàng trước quang cảnh thị xã đẹp đẽ và hiện đại. Những con đường rộng rãi, văn minh.

Đoàn chúng tôi đến Tỉnh Hội Phụ nữ trước.

Không có thông tin về cô Đức vì Văn phòng Tỉnh Đoàn chưa nhận được thư tôi gửi vào, tôi rất buồn, hụt hẫng đến lạ. Chính Đức đưa cho tôi hai tấm ảnh nhỏ, chụp một số liệt sĩ khi còn sống ngày mới vào Thanh niên xung phong. Tôi cho làm lại ảnh bằng kỹ thuật số, phóng to ra để dễ dàng nhận diện từng người. Bây giờ, không gặp Đức, ai là người nhận diện các liệt sĩ cho tôi? Ai là người đưa tôi đến gia đình liệt sĩ Trần Thị Hường? Tôi cũng muốn biết chuyện chồng con của Đức bây giờ ra sao...

Nhưng, chịu rồi! Trong bữa tiệc tiếp đoàn chúng tôi lúc 18 giờ, chị Liên ở Tỉnh Hội Phụ nữ cho biết: Gia đình liệt sĩ Trần Thị Hường vào ở Huế hơn mười năm nay. Còn cô Đức, chính chị Huệ ở C555 cũ cũng không biết Đức đang ở nơi nào!

21 giờ, tôi gọi điện cho Linh và hẹn sáng mai gặp nhau ở Đồng Lộc.

Ngoài trời đang mưa... Ngày mai có tạnh không?

☆ ☆ ☆

Đã lâu lắm rồi tôi mới được ngủ một đêm tại thị xã Hà Tĩnh. Lần này nệm ấm giường êm, lại có cả điều hòa nhiệt độ mát rười rượi, nhưng sao khó ngủ thế? Bên ngoài mưa tầm tã. Thỉnh thoảng đâu đây lại văng vẳng tiếng ếch kêu. Nếu không có ánh đèn đường hắt vào cửa sổ thường xuyên, tôi cứ ngỡ như mình đang ở một xóm làng nào xa lắm...

7 giờ. Cả đoàn ăn nhẹ tại khách sạn, rồi lên đường. Xe chuyển bánh ra quốc lộ 1A đi về phía Vinh. Qua cầu Cày, cầu Cúc, Cầu Nga và cầu Sim rồi rẽ trái vào Đồng Lộc. Hơn ba mươi năm tôi mới trở lại con đường này... thanh bình, đẹp đẽ và êm đềm quá!

Xe qua cầu Chợ Vực, rồi chạy thẳng ra Ngã Ba Đồng Lộc.

Từ xa, chúng tôi nhìn thấy TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG cao vút giữa ngàn cây xanh rì, thăm thẳm. Không phải tượng đài trong phim ảnh tôi đã từng xem. Tượng đài thật đó. Uy nghi và thanh thoát quá! Tới Ngã Ba Đồng Lộc, xe đi chậm hẳn lại. Mọi người đều thấy chính giữa ngã ba là CỘT BIỂU TƯỢNG LƯU NIỆM CỦA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI. Ba ngôi sao chỉ ba hướng đường hội tụ: Khe Giao, Ba Giang và Lạc Thiện. Nằm gần đối diện với cột biểu tượng này, cạnh chân đồi Trọ Voi là Nhà bia, phía ngoài vành khu di tích.

Xe ôtô rẽ trái vào khu di tích, dừng lại trước cổng vào nhà Ban quản lý khu. Lúc ấy là 8 giờ 15. Trời vẫn đang mưa...

Chúng tôi lên nhà khách khu Di tích, ngồi đợi. Cô Đặng Thị Yến - Phó ban quản lý khu di tích - ra đón tiếp chúng tôi rất niềm nở. “À, ra đây là cô gái thứ Mười một - như người ta vẫn nói đây”. Tôi nghĩ thế, và lặng lẽ nhìn Yến. Một phụ nữ trẻ, linh hoạt, tháo vát, nhiệt tình và giàu nội tâm. Vì được Tỉnh Hội Phụ nữ đặt vấn đề trước, nên Yến trình bày ngay với Đoàn chúng tôi về tình hình gia đình Mười liệt sĩ Thanh niên xung phong A4-C552. Chỉ nghe Yến nói, cũng biết là cô đã vào thăm các gia đình liệt sĩ nhiều lần, gần như người nhà của họ. Qua Yến, tôi được biết: Chỉ có gia đình liệt sĩ Trần Thị Rạng là đã chuyển đi xa, còn các gia đình khác, vẫn ở nơi cũ, nếu cần, Yến sẽ đưa đi.

Yến vừa cho người vào xã Xuân Lộc, xóm Mai Long để mời anh Linh ra Đồng Lộc gặp đoàn chúng tôi, Tuy hẹn anh Linh từ hôm qua - qua điện thoại ở Thị xã - nhưng vì trời mưa to quá, nên tôi không dám chắc sẽ gặp được anh. Khi thấy anh Linh, tôi mừng quá. Chúng tôi nhận ra nhau ngay, mặc dù già đi nhiều rồi, biến đổi khác nhiều rồi. Nếu không có thư và điện hẹn trước, không gặp nhau tại Ngã Ba Đồng Lộc thì chưa chắc đã được thế!

Chúng tôi ôm lấy nhau, mừng mừng, tủi tủi... Gặp nhau khi còn rất trẻ, chỉ mới trong ngoài ba mươi, nay đã thành ông nội cả, ngoài sáu mươi tuổi rồi! Chúng tôi nhìn nhau trong đáy mắt, không biết nói chuyện gì trước, chuyện gì sau. Khoảng cách thời gian hơn ba mươi năm đằng đẵng như bị xóa đi... Tôi tặng Linh một phiên bản “Đài hoa tím” năm xưa; đưa cho Linh xem những tấm ảnh chụp ở Đồng Lộc hồi 1969, trong đó có ảnh hai anh em. Tôi tặng Linh tấm ảnh này để làm kỷ niệm một thời...

Chúng tôi theo Yến đi tham quan KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NGÃ BA ĐỒNG LỘC VÀ THANH NIÊN XUNG PHONG TOÀN QUỐC dưới trời mưa. Tôi đi bên Linh và đoàn của mình với cảm giác vui - buồn lẫn lộn. Từ dưới đường lên đội Trọ Voi khoảng 50m, qua mấy dãy tam cấp dài là NHÀ BIA TƯỞNG NIỆM THANH NIÊN XUNG PHONG TOÀN QUỐC.

Nhà bia này được Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đầu tư xây dựng năm 1998, khắc tên 1950 anh hùng, liệt sĩ thanh niên xung phong cả nước, và các anh hùng liệt sĩ hy sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc.

Chính giữa Nhà bia là một lư hương bằng đá rất lớn, lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Mặt chính diện của Nhà bia khắc hai dòng chữ to, nổi bật:

ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN

CÁC ANH HÙNG LIỆT SỸ

Dưới hai dòng chữ đỏ này, là danh sách các anh hùng, liệt sĩ hy sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc, gồm họ và tên, quê quán, năm sinh. Hai bên mặt chính diện là danh sách các liệt sĩ thanh niên xung phong hy sinh trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Chúng tôi kính cẩn thắp hương, đứng mặc niệm một phút trước Bia tưởng niệm. Chúng tôi tin Nhà bia này sẽ lưu danh các liệt sĩ đến muôn đời, để các thế hệ hôm nay và mai sau tôn vinh, chiêm ngưỡng, tự hào.

Chúng tôi đi ngang khu mộ của Mười Cô, chỉ cách nhà bia hơn ba chục mét, cũng ở trên đồi Trọ Voi.

Ngay bên cạnh đường, phía ngoài khu mộ Mười Cô. Là dấu tích hố bom ngày xưa đã vùi lấp Mười Cô. Tôi nói là dấu tích, vì nó chỉ còn là một vũng đất nhỏ, nông choèn, chứ không sâu hoắm, to và rộng như ngày xưa tôi đứng ở dưới đáy hố bom này chụp ảnh tấm Bia tưởng niệm Mười Cô. Xung quanh hố bom là những chân hương đỏ cắm chi chít. Hương của khách từ các nơi đến thăm khu mộ.

Chúng tôi bước lên một khoảng sân rộng lát gạch đỏ, rồi đến bảy bậc thềm rất dài, qua chiếu nghỉ lại đến bảy bậc thềm nữa, rồi mới đến khoảng sân trước tấm bia Tổ quốc ghi công tưởng niệm Mười Cô. Tấm bia này được đặt chính giữa một bức tường hộp có mái che bia lợp ngói đỏ, có bệ đặt đồ lễ. Một lư hương bằng đá đen rất to ngay trước bệ bia để mọi người thắp hương.

Chúng tôi lấy đồ lễ mang từ Hà Nội vào, kính cẩn đặt lên bệ. Ngoài hoa quả, bánh kẹo còn có gói ô mai mơ chua ngọt mua ở phố Hàng Đường.

Mười nấm mộ bằng đá trắng, xếp thành hai hàng. Hàng trước bốn, hàng sau sáu. Xung quanh khu mộ là tường bao rất trang nhã. Ảnh các liệt sĩ gắn trên mộ trí đều là ảnh màu tráng men, mới tinh. Tối hôm qua, ở trụ sở Tỉnh Hội có chị còn băn khoăn là ảnh các liệt sĩ cũ quá, cần phải thay bằng ảnh màu. Có một đoàn khách ở miền Nam ra, kịp làm việc này, chưa được một tuần.

Đã hơn ba lần đứng trước ba khu mộ của Mười Cô, tôi có nhiều cảm xúc khác nhau. Ở khu mộ thứ nhất - chôn tạm - chỉ là những nấm đất bình thường, như những nấm mộ khác, nhưng tôi đau đớn hơn nhiều, vì chưa biết được thân phận của Mười Cô, vì các cô mới mất, còn nguyên xương thịt ở dưới đó. Ở khu mộ tại nghĩa trang liệt sĩ xã Thiên Lộc, Can Lộc, gần dãy núi Hồng Lĩnh, sau khi cải táng, được xây bằng đá đen, uy nghi và trầm mặc - trên một nền đất riêng cao hơn một bậc giữa các mộ liệt sĩ khác - nhưng tôi vẫn có cảm nghĩ là không ổn, chưa tương xứng với Mười Cô, và có phần nào xa lạ, mặc dù thân phận của Mười Cô tôi đã rõ hơn nhiều... Lần này, trước khu mộ riêng vĩnh cửu, đồ sộ và hoành tráng này, tôi cảm động sâu sắc về sự tri ân của nhân dân ta đối với Mười Cô. Một không gian nên thơ và hùng vĩ, bao bọc lấy một biểu tượng anh hùng của một thời anh hùng. Mười liệt sĩ thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc nay đã là MƯỜI CÔ TIÊN TRẺ MÃI. Thời gian càng lùi xa, các Cô càng linh thiêng hơn, thần thánh hơn, nhiều huyền thoại hơn. Các cô đã trở thành bất tử. Nỗi buồn, thương và nhớ tiếc của tôi đối với Mười Cô cũng nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn trước. Cũng có thể vì thời gian đã trôi qua hơn ba mươi năm rồi... Sự từng trải của bản thân với những nỗi đau ly biệt ngập tràn quá khứ... Sự đền đáp xứng đáng của những người đương thời đối với sự hy sinh oanh liệt của Mười Cô, làm lòng tôi nguôi đi. Tôi cũng cố gắng hết sức mình để trả món nợ tinh thần và tình cảm đối với Mười Cô hơn hai mươi năm về trước... Dùng chiếc khăn tay mới tinh, tôi vừa lau từng mộ chí, lau từng tấm ảnh vừa thầm thì: “Anh đã về thăm các em đây. Các em được như thế này là anh mừng rồi, yên tâm rồi. Các em hãy tha thứ cho anh về việc không có mặt trong những lần cải táng, chuyển mộ. Không một ai báo tin cho anh cả! Thế nào, Xuân Vĩnh Lộc. Em đã gặp anh Vĩnh Thạch Hà chưa? Còn Cúc, em đã gặp người chồng bất hạnh ở dưới sông Ngàn Phố chưa? Anh mong tất cả các em đừng bao giờ gặp lại những nỗi đau trên trần thế nữa. Các em là những Cô Tiên bay đi khắp các phương trời, để giúp đỡ những đồng đội còn sống, nhưng đang gặp nhiều khốn khó, những người thân đang gặp khó khăn... Các em giúp đỡ những người không quen biết, nhưng yêu thương, trân trọng các em... Mong các em được yên nghỉ đời đời và hòa bình mãi mãi”.

Tôi cất khăn tay vào túi áo, đứng rất lâu trước những nấm mộ đang nghi ngút khói hương. Ai đã để ở mỗi nấm mộ một tấm gương soi, một chiếc lược xinh, vài ba quả bồ kết. Hoa và hoa. Hoa tươi dưới trời mưa lây phây. Cả mười ngôi mộ đều nhìn về phía có tượng đài Chiến thắng, sau lưng là dãy núi Mũi Mác. Tôi đặt chiếc địa bàn đo hướng mộ Mười Cô. Chính Đông Bắc. Phương Cấn theo La bàn Dịch học. Cấn là phi cung của tuổi Mậu Dần (1938). Tôi lặng người đi vì sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Trời vẫn mưa. Thu Hà cầm gói ô mai đến trước dấu vết hố bom, vung xuống đó một nắm như để mời Mười Cô.

Chúng tôi vào Nhà truyền thống Thanh niên xung phong toàn quốc. Gian chính diện có tượng Bác Hồ, đồng chí Trần Phú và cụm tượng bộ đội, thanh niên xung phong. Trong ba gian nhà lớn trưng bày 110 hiện vật gốc, 145 hiện vật được phục chế, bao gồm đồ đạc sinh hoạt, dụng cụ chiến đấu của thanh niên xung phong: xe bò, xe cút kít, xắc cốt, ống nhòm... 12 ảnh gốc chụp cảnh trong giờ chiến đấu, cảnh đời thường và cảnh ca hát của thanh niên xung phong. Trong số năm vạn thanh niên xung phong nổi bật lên có các tấm gương của Mười Cô Đồng Lộc A4-C552, 12 cô gái hy sinh ở Truông Bồn, 13 cô thanh niên xung phong hy sinh tại Núi Nhồi - Thanh Hóa; 12 nam nữ thanh niên hy sinh tại Ga Gôi - Nam Hà; 8 nữ thanh niên xung phong hy sinh trên đường Quyết Thắng... và nhiều tấm gương tiểu biểu khác.

Tuy cán bộ và nhân viên quản lý khu di tích đã cố gắng rất nhiều để có được Phòng truyền thống Thanh niên xung phong như bây giờ, nhưng tôi vẫn cảm thấy thiếu vắng một cái gì đó, còn phải bổ sung tiếp.

Vì thời gian có hạn, chúng tôi đi sang Phòng truyền thống Ngã Ba Đồng Lộc - nằm cạnh Nhà truyền thống Thanh niên xung phong toàn quốc - thành một khối liên hoàn, và được gọi chung là Bảo tàng Đồng Lộc.

Ở đây, tôi và Nguyễn Thế Linh bàn với nhau về từng tấm ảnh liệt sĩ A4 treo trang trọng trên tường, để xem ai giống nhất, và ai chưa thật giống. Tôi đưa cho Linh xem hai tấm ảnh ngày một số liệt sĩ mới tập trung vào Thanh niên xung phong, xem ai còn, ai mất. Người đã mất tên là gì, đứng ở đâu... Linh xem rất lâu, nhưng cuối cùng không thể nhận ra ai, vì từ khi ảnh chụp đến nay đã là 36 năm trôi qua rồi... Linh nói:

– Lúc còn sống, không có việc gì thì không ai để ý kỹ đến ai. Đến khi mất rồi, thì bao nhiêu việc dồn đến phải giải quyết cho cả đại đội, nên tôi không thể nhớ hết từng người một. Anh phải hỏi cô nào ở A4 cũ còn sống sót, thì may ra mới biết được.

Tôi nói, giọng đầy nuối tiếc:

– Tôi đã tìm cô Đức ở thị xã, nhưng tôi không thấy tăm hơi đâu cả. Còn cô Hồng ở Vinh, mấy hôm nữa ra đó tôi sẽ tìm. Địa chỉ không có, liệu có tìm được không?

☆ ☆ ☆

Đoàn chúng tôi lại trở lên nhà khách của Ban Quản lý khu di tích Đồng Lộc, để chuẩn bị đi tiếp. Ở đây, Yến tặng tôi và Thu Hà hai tập sách giới thiệu Khu di tích lịch sử Ngã Ba Đồng Lộc và Thanh niên xung phong toàn quốc, mang tên NGÃ BA ĐỒNG LỘC - NGÃ BA ANH HÙNG. Tập sách này in đẹp, khổ 18 x 26 dày 52 trang giấy trắng, ảnh lên rõ nét và màu rất thực. Tôi trân trọng lật giở từng trang, xem lướt từ đầu đến cuối. Tư liệu hấp dẫn đáng tin cậy. Đặc biệt từ trang 34 trở đi, viết về Mười Cô gái Ngã Ba Đồng Lộc - Mười đóa hoa bất tử, tôi chú ý đặc biệt. Tôi nhận ra ngay lá thư của Võ Thị Tần báo cáo lên trên về việc anh lái xe dũng cảm hy sinh vì đồng đội. Thảo nào, có nhà báo đã căn cứ vào đây để làm kết thúc cho bài báo của mình, có lý của nó. Tiếp sau đó, phần tóm tắt các tiểu sử của Mười Cô, phần lớn đều trích nguyên văn trong “Đài hoa tím” in năm 1978 của tôi. Thế là “Đài hoa tím” không chết, không bị lãng quên như tôi đã tưởng. Nó vẫn là căn cứ tin cậy để người đời sau tham khảo chi tiết về cuộc đời Mười Cô. Tôi vui mừng nói điều này với Thu Hà và quay sang hỏi Yến:

– Em dựa vào “Đài hoa tím” để viết phần này, sao em không báo cho anh một lời, để anh yên tâm?

Yến cười rất tươi:

– Đã ba lần về Hà Nội vào Báo Phụ nữ tìm anh, nhưng không ai biết anh ở đâu! Em cứ tưởng anh đã chống gậy rồi, hay đang ở Hưng Yên cơ! Ai ngờ còn được gặp anh!

Cả đoàn cùng cười vui vẻ. Tôi nhờ Yến chuyển gói quà tinh thần của tôi cho gia đình Xuân Vĩnh Lộc, chuyển hộ tấm ảnh mẹ của Dương Minh Châu cũng ở Vĩnh Lộc - là bạn thân của Xuân Vĩnh Lộc hồi xưa. Yến vui vẻ nhận lời, và bảo:

– Trời mưa thế này, xe ôtô to vào nhà Hà Thị Xanh rất khó. Để em mang vào sau cũng được.

Thu Hà cũng gửi quà và tiền của Nhà xuất bản biếu mẹ liệt sĩ Xanh, cùng với quà của tôi đưa cho Yến một thể.

Chúng tôi ra xe để đi Thiên Lộc, thăm ra đình Võ Thị Tần và Võ Thị Hợi. Yến đi cùng với chúng tôi để dẫn đường.

Lúc ấy là 11 giờ. Trời vẫn lất phất mưa.

Xe đi qua cầu tối - còn có tên là cầu Dương Tài - đi thẳng ra ngã ba Khiêm Ích. Ngày trước, đạp xe từ Ngã Ba Đồng Lộc ra ngã ba này sao cảm thấy lâu thế. Bây giờ, vèo một thoáng là tới.

Nếu rẽ trái, đi Lạc Thiện, rồi đi Đức Thọ. Rẽ phải ra Nghèn, đường số Một. Bưu điện Đồng Lộc đóng ngay ở Ngã ba này. Xe chúng tôi rẽ phải ra Nghèn, để đi Thiên Lộc. Xe qua cầu Dị, rồi phóng ra đường số Một. Trên xe, tôi và Yến trao đổi với nhau về việc xây dựng bảo tàng Đồng Lộc.

Yến là con liệt sĩ, ở Nghệ An. Ngay sau khi tốt nghiệp khoa Bảo Tàng - Trường Văn hóa nghệ thuật năm 1977, Yến được phân công về huyện Can Lộc để làm việc. Tại Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng, Yến thấy mình có bao nhiêu việc phải làm và cần làm để xây dựng một bảo tàng cho xứng đáng với tầm vóc của nó. Năm 1978, Yến đọc các tài liệu, sách, báo đã viết về Ngã Ba Đồng Lộc từ trước đến nay, rồi sàng lọc lấy sự thật lịch sử, đi tìm nhân chứng lịch sử, sưu tầm các hiện vật quý giá có ý nghĩa bảo tàng... Yến tích lũy các thành quả thu thập được, năm này qua năm khác; cùng với các đồng chí lãnh đạo Huyện và Tỉnh động viên các lực lượng có liên quan ở Ngã Ba Đồng Lộc để sưu tầm tài liệu, hiện vật cần thiết. Cứ thế, kiến tha lâu cũng đầy tổ, hơn hai mươi năm sau Bảo tàng Đồng Lộc cấp Huyện ra đời...

Gia đình riêng của Yến ở ngay ngã ba Nghèn, có ba mặt con phải chăm sóc.

Trong khi phải đi đây đi đó nhiều để làm việc có hiệu quả, Yến vẫn thu xếp tốt mọi việc. Rồi Bảo tàng Đồng Lộc được nâng lên thành cấp Quốc gia. Biết bao nhiêu việc phải làm gấp rút nhưng thật chỉn chu, chính xác; Yến đều vượt qua được bằng tấm lòng yêu Đồng Lộc, yêu nghề một cách say sưa. Yến bám trụ ở Ngã Ba Đồng Lộc gần trọn tuổi thanh xuân, trở thành cô gái thứ Mười một như người ta vẫn nói, để góp phần tôn vinh và chăm sóc khu mộ của Mười Cô.

☆ ☆ ☆

Đường vào xã Thiên Lộc cũng thay đổi nhiều, nhưng không đến nỗi không thể nhận ra. Tôi thầm đoán xem lối rẽ vào nhà Võ Thị Tần ở đâu, đang ngờ ngợ thì Yến bảo dừng xe lại. Đây rồi! Ngõ vào nhà Tần ngập nước vì trời mưa. Tôi lội cả giầy xuống nước, đi vào trước. Tới ngã ba nhỏ, tôi dừng lại, đang lưỡng lự thì Yến rẽ vào nhà Tần. Tôi đi theo vào căn nhà đã sửa sang lại - sau năm 1976 - nên tôi không nhận ra ngay.

Bọ Cung còn sống. Bọ đang ngồi trong nhà, trông không khác xưa mấy. Chỉ có điều là chậm chạp hơn, không còn tinh nhanh như hồi trước. Bọ Cung không nhận ra tôi, cũng phải, vì đã hơn hai mươi năm rồi không gặp lại. Cụ bà thì đã mất.

Chị Đặng Thị Hồng - vợ anh Võ Nhân Tửu, em trai Tần - đã thay mặt gia đình tiếp chúng tôi rất niềm nở. Các cháu quây quần xung quanh nghe người lớn nói chuyện. Ảnh Võ Thị Tần trên ban thờ như đang mỉm cười nhìn chúng tôi. Bằng Tổ quốc ghi công của Tần để ngay bên cạnh. Tôi nghĩ đến tấm ảnh Tần ở Bảo tàng Đồng Lộc - to hơn, giống y như thế này - xếp hàng cùng đồng đội... Mười nấm mồ trắng toát đá hoa cương trong nghĩa trang liệt sĩ thiêng liêng... Các em đã được đền đáp xứng đáng, yên giấc ngàn thu. Còn gia đình các em sau đó như thế nào, đó là việc của những người còn sống - những người được hưởng thành quả của bao nhiêu liệt sĩ, anh hùng đã hy sinh, để lại cho đến mai sau... Rất may là chúng tôi còn được gặp cụ thân sinh ra liệt sĩ Võ Thị Tần tại nhà, và trao tận tay cho cụ chút quà thơm thảo của chúng tôi. Chị Hồng cho biết là bọ mới đi viện về, vì bị ngã gãy tay, giờ đã gần trở lại bình thường. Anh Tửu đang công tác ở Hải Phòng. Anh đã đọc rất kỹ “Đài hoa tím” tôi gửi tặng gia đình năm 1978, và theo chị Hồng nói thì anh Tửu rất phục tác giả đã viết được đúng về chị mình như thế. Không có gì vui sướng hơn, khi chính tác giả được nghe những lời khen chân thật đó. Thế là tôi hoàn toàn yên tâm về việc các tập sách đã đến được các gia đình liệt sĩ. Công lao này, thuộc về anh Trần Quang Đạt. Tôi rất biết ơn anh... chúng tôi hỏi thăm chi tiết về gia đình chị Hồng, và được biết: Anh Tửu sinh năm 1948, làm việc trong ngành hàng hải ở Hải Phòng, còn bốn năm nữa là nghỉ hưu. Chị Hồng sinh năm 1953, dâu trưởng của bọ Cung, quán xuyến tất cả mọi việc đồng áng, nội trợ, đối nội, đối ngoại trong gia đình. Anh chị có năm người con: bốn trai, một gái. Cháu trai đầu lòng là Võ Nhân Hiển sinh năm 1976, làm việc trong ngành hàng hải của bố đã được hai năm. Cháu Võ Nhân Đạt sinh năm 1980, đang học ở Học viện Kỹ thuật quân sự. Cháu Võ Nhân Lưu sinh năm 1982, đang học ở Đại học Giao thông. Cháu Võ Nhân Hoài sinh năm 1986, đang học lớp 12; và cháu gái duy nhất Võ Thị Trang sinh năm 1990, đang học lớp 8.

Nhìn thấy các cháu vui vẻ, nhanh nhẹn, xinh xẻo quây quần bên chị Hồng và biết một số một số cháu đã có công ăn việc làm, đang được học hành đến nơi đến chốn, chúng tôi rất yên tâm về tương lai của các cháu. Tôi nói với chị Hồng:

– Cái vốn quý nhất anh chị để dành cho các cháu là sự học hành đến nơi đến chốn. Tôi tin là các cháu sẽ thành đạt, xứng đáng là cháu của bác Võ Thị Tần, con ngoan của anh chị... Mong lần sau đến đây, tôi vẫn còn gặp bọ Cung!

☆ ☆ ☆

Chia tay với gia đình Võ Thị Tần, chúng tôi sang nhà Võ Thị Hợi. Nhà Hợi vẫn ở gần một nhà thờ họ nào đó, không thay đổi mấy.

Tiếp đón chúng tôi là anh Võ Xuân Vĩnh - sinh năm 1958, em trai của Võ Thị Hợi. Hiện nay, anh Vĩnh là Phó chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp, đại biểu Hội đồng nhân dân xã. Vĩnh chăm lo sản xuất và công tác, cùng với vợ là Võ Thị Lộc - sinh năm 1959. Họ có với nhau hai con trai và ba con gái. Cháu gái lớn nhất đã lấy chồng, và có con. Một cháu đang ở nhà sản xuất, còn ba cháu đang đi học. Gia đình tùng tiệm đủ ăn.

Tôi nhìn thấy ảnh của mẹ Võ Thị Hợi đặt trên ban thờ. Ảnh bà rất giống với hồi xưa tôi gặp và chụp ảnh. Tôi làm sẵn một tấm ảnh thờ theo phim đen trắng, và tặng Vĩnh. Bà đã mất năm 1990. Tôi tặng gia đình một số ảnh chụp hồi năm 1976, trong đó có nhiều người còn ít tuổi, bây giờ không thể nhận ra ai... Ảnh thờ của Võ Thị Hợi giống hệt như ảnh trong Bảo tàng Đồng Lộc. Trước đây, tôi xin gia đình Hợi được một tấm ảnh nhỏ, rất giống Hợi. Tôi đã làm ảnh to hơn, để cho vào tập ảnh của Mười Cô sau này. Tôi đưa cho Vĩnh xem, và em công nhận là giống hơn cả ảnh đang thờ.

Chúng tôi xin phép gia đình Vĩnh được đi tiếp. Trước khi chia tay, Vĩnh còn kịp giúi vào tay chúng tôi một chai rượu do nhà nấu lấy.

☆ ☆ ☆

Trong lúc ngồi nghỉ ở phòng khách Ban quản lý khu di tích, Yến cho chúng tôi xem các phim tư liệu về Ngã Ba Đồng Lộc. Xúc động nhất là phim tài liệu “Hương bồ kết” của đạo diễn Trần Minh Đại. Tôi xem một lần trên truyền hình rồi, nhưng nay xem lại ngay tại Ngã Ba Đồng Lộc, sau khi vừa ở nhà Võ Thị Tần và Võ Thị Hợi ra... cảm xúc mạnh mẽ hơn. Tôi thấy trên phim con đường mình mới đi qua lúc nãy, những con người mình vừa gặp xong. Qua phim, tôi được gặp Võ Nhân Tửu và vợ chồng anh Nguyễn Đức Hồng - người yêu cũ của Võ Thị Tần, cô Nguyễn Thị Xanh em ruột của Xuân Vĩnh Lộc... là những người tôi chưa được gặp bao giờ. Riêng hình ảnh mẹ Võ Thị Hà xuất hiện thường xuyên trong im lặng làm tôi xúc động nhất. Trước hết, vì Mẹ quá già so với hồi tôi được gặp và chụp ảnh Mẹ trên bờ sông La, cạnh nhà thờ đạo đổ nát... Mẹ còn sống, và lúc nào cũng hy vọng em Hà trở về... Tôi thương Mẹ quá. Mẹ già, như chuối chín cây, không biết thế nào... Chỉ lát nữa thôi, chúng tôi sẽ đến thăm mẹ, được nói chuyện với mẹ và các em của Hà...

Bắt đầu là cầu Tùng Cóc - nổi tiếng một thời - rồi đến cầu Mường Tề, qua hai chiếc cầu đang sửa chữa rồi đến cầu Kênh N19, cầu Chợ Giấy. Tới ngã ba Lạc Thiện gặp đường 8A rồi lại qua cầu Đăng Quan. Đi qua cầu Đôi 1, cầu Đôi 2 là đến thị trấn Đức Thọ. Từ xa xa, chúng tôi thấy những ngôi nhà nhiều tầng, liền sát bên nhau, như một thành phố nhỏ. Nhiều lần đi tàu Bắc Nam vào Huế, vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi chỉ đi qua Đức Thọ khoảng 15 phút bằng xe lửa, nên không biết đường ngang ngõ tắt của Đức Thọ giờ thay đổi như thế nào. Lần này, tôi đến Đức Thọ theo đường bộ, nên có dịp để chiêm ngưỡng sự thay đổi sâu sắc của thị trấn ven sông La này... Đường có rộng hơn trước. Nhà cửa san sát bên nhau theo từng phố một. Các cửa hàng buôn bán nhiều mặt hàng, từ thông thường đến cao cấp, phục vụ đủ loại yêu cầu của nhân dân thị trấn và các xã lân cận. Không có một dấu vết gì của thời kỳ chiến tranh phá hoại để lại. Nhân dân đã hàn gắn tất cả và to đẹp hơn.

Xe đi về phía nhà thờ Đức Thọ, ở đó có nhà mẹ Võ Thị Hà. Tôi cảm động khi nhìn nhà thờ được xây dựng lại hoàn toàn, trên sông La. Tôi không thể xác định được mình đã đứng chỗ nào để chụp ảnh cho mẹ hồi năm 1976. Tất cả thay đổi hết rồi, chỉ có lối rẽ vào nhà Hà là vẫn thế.

Chúng tôi dừng xe ven đê sông La, đi bộ vào nhà Hà.

Nhà Võ Thị Hà thay đổi nhiều, không còn như xưa nữa. Cả nhà trở thành một cửa hàng bán tiểu sành, và các đồ sành sứ khác. Nhìn những chiếc tiểu sành xếp hàng dài, chồng lên nhau, tôi thoáng rùng mình. Hàng ngày nhìn những chiếc tiểu sành này, mẹ có cảm thấy được gần gũi với Hà hơn không, hay lại không nguôi thương nhớ con gái? Mẹ Hà đang ngồi im lặng trong nhà. Mẹ ngồi hơi còng xuống, hai bàn tay đan vào nhau, mắt nhìn ra xa, hai dòng lệ chảy xuôi. Chiến tranh qua đi lâu rồi. Con gái mẹ hy sinh hơn ba mươi năm rồi... Nhưng nước mắt của mẹ không ngừng chảy, hết năm này qua năm khác. Mẹ còn sống ngày nào, mẹ còn khóc con ngày ấy; khóc cho đến khi nào nhắm mắt xuôi tay... Nhìn những giọt nước mắt của mẹ lăn trên cặp má nhăn nheo, chúng tôi không cầm lòng được, vì thương mẹ, thương và cảm phục những người mẹ Việt Nam đã có chồng con hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc.

Võ Tây Sơn - em trai Hà - thay mặt gia đình tiếp chúng tôi rất niềm nở.

Trên Hà có chị Hợi - sinh năm 1947 - đang cùng chồng con ở Nha Trang. Võ Văn Nam - em trai Hà, sinh năm 1954, đi bộ đội, đã nghỉ hưu, cùng vợ và hai con trai ở chỗ khác. Võ Trọng Lâm - em trai út của cả nhà, sinh năm 1964, đi bộ đội, mới bị bệnh mất năm 2002, chỉ kịp có một người con gái... Cậu út này có ảnh chụp cùng gia đình năm 1976. Sơn chỉ cho tôi xem tấm ảnh ngày xưa tôi đã gửi vào cho gia đình. Sơn còn nhớ nhà tôi ở Ngõ Lê Văn Hưu 2, Hà Nội nhưng chưa có dịp nào ra thăm được...

Võ Tây Sơn sinh năm 1959, hiện đang làm việc ở Công an huyện Đức Thọ. Sức khỏe Sơn không được tốt lắm. Vợ chồng Sơn cũng có hai con trai đang đi học. Vợ Sơn trông nom cửa hàng tại nhà, nên cũng tạm đủ ăn... Suốt cuộc viếng thăm hầu như chỉ có chúng tôi hỏi và con trai mẹ trả lời, còn mẹ chỉ ngồi lặng lẽ vậy. Hình như trong trí nhớ của mẹ chỉ còn hình ảnh cô bé Hà 17 tuổi còi cọc nhưng lúc nào cũng ríu rít như chim, thương mẹ lắm nhưng xa đơn vị hai ngày đã thấy nhớ, thấy lo cho đồng đội...

– Mong mẹ giữ gìn sức khỏe, để lần sau vào đây, con còn được nói chuyện với mẹ... - Tôi nắm bàn tay nhăn nheo gầy guộc của mẹ, nói.

Mẹ lại lặng lẽ tiễn chúng tôi ra cổng, mắt nhìn với về phía Ngã Ba Đồng Lộc, nơi con gái mẹ đang yên nghỉ cùng đồng đội.

☆ ☆ ☆

Nhà chị Miên của Nhỏ ở gần nhà Sơn. Chúng tôi đến trước ngôi nhà một tầng, có giàn cây chanh leo ở phía ngoài sân, gọi cửa. Chị Miên ra, đang ngỡ ngàng trước những người xa lạ, thì Sơn giới thiệu ngay chúng tôi với chị.

Trong trí nhớ của tôi và trong tấm ảnh còn lưu lại, chị Miên là một trong những người vất vả nhất trong các gia đình liệt sĩ. Vừa nuôi con, vừa nuôi em, vì bố bỏ đi lấy vợ khác, mẹ mất sớm. Chồng đi bộ đội, thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Khi có cháu trai đầu lòng được ít lâu, thì chồng chị mất. Chị ở vậy nuôi con và nuôi em. Năm 1967, Nhỏ vào Thanh niên xung phong. Ở nhà mẹ góa, con côi, chị Miên lại phải đi bước nữa. Năm 1976, tôi gặp lại chị ở Đức Lạng, chụp ảnh bốn mẹ con nheo nhóc đứng bên nhau... Sao bây giờ nhà vắng thế?

Như biết được ý nghĩ của tôi, chị Miên cười:

– Các cháu đi vắng hết rồi. Cháu Thảo sinh năm dì Nhỏ mất, giờ đã có hai con. Chồng cháu làm công nhân. Còn hai cháu trai... Cháu Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1971 và cháu Nguyễn Mạnh Cường sinh năm 1974 đều đi làm công nhân. Riêng cháu Cường làm cầu cảng, lấy vợ và có con trai rồi. Em thành bà nội, bà ngoại rồi.

– Chúc mừng chị. Thế còn cháu đầu của chị... Cái thằng ăn mất quả trứng luộc của dì Nhỏ hôm lên đường đi Thanh niên xung phong ấy, nó đâu rồi?

– Anh nhớ giỏi thật đấy! Đó là cháu Khoa, cháu sinh năm 1963. Bây giờ cháu đang làm ở Viện kiểm sát huyện Hương Khê. Cháu cũng có gia đình riêng rồi...

Tôi tặng lại chị Miên tấm ảnh bốn mẹ con chụp năm 1976 và tranh thủ hỏi thêm về năm sinh của chị, nhất là của Nhỏ, để khẳng định lần cuối trong tư liệu của mình. Chị Miên nói:

– Tôi sinh năm 1940. Còn dì Nhỏ - nếu còn sống - năm nay cũng được 59 tuổi.

Tôi biết, chị nói theo tuổi ta. Nghĩa là Nhỏ sinh năm 1945.

Đoàn chúng tôi từ giã gia đình chị Miên vào lúc 17 giờ. Khi đi qua sân, qua giàn chanh leo sai trĩu quả, tôi vui mừng vì cuộc đời chị Miên đã khác xa xưa. Chị trồng cây, đã đến ngày hái quả...

Lên đến bờ sông La, nơi xe ô tô đậu, thật lòng tôi muốn sang sông, để thăm gia đình Xuân “Đức Tân”. Tôi muốn biết hiện nay gia đình Xuân như thế nào? Các em và các cháu ra sao. Xuân rất đông các em: Dung, Kiều, Nam, Hà và Vân... Cây vú sữa Xuân trồng trước khi đi thanh niên xung phong, hồi năm 1976 tôi vào, thấy cây rất xanh tươi, nhưng không ra quả. Bây giờ, liệu có quả hay chưa? Tôi chụp khá nhiều ảnh ở nhà Xuân, có đầy đủ các em Xuân và cha mẹ. Nếu không vào hôm nay, thì lúc nào đưa cho các em được? Nếu tôi đi một mình như trước, thì chắc chắn đã sang sông rồi. Nhưng, lần này lại đi cả đoàn...

Trời đã xế chiều. Trong lòng tôi ngổn ngang trăm mối tơ vương. Tôi muốn ở lại một đêm tại Ngã Ba Đồng Lộc, để thăm nhà Linh, thăm nhà Xuân Vĩnh Lộc, thăm nhà Dương Minh Châu... Nhưng, chắc chắn Thu Hà không muốn tôi ở lại một mình. Nếu cả đoàn ở lại, thì không có chỗ nào tạm nghỉ được.

Xe theo đường cũ về thị xã Hà Tĩnh. Tượng đài chiến thắng cao vút trong bóng chiều chập choạng ở Ngã Ba Đồng Lộc, đứng nhìn theo mãi chúng tôi...

☆ ☆ ☆

Sau một đêm nghỉ tại khách sạn Bình Minh, thị xã Hà Tĩnh, chúng tôi chuẩn bị lên đường đi Hương Sơn, đến thăm gia đình liệt sĩ Hồ Thị Cúc ở Sơn Bằng.

Xe tới thị trấn Nghèn, chúng tôi lại theo đường ra ngã ba Khiêm Ích, gặp đường 15A, đi Lạc Thiện; gặp đường 8A, đi qua bên ngoài thị trấn Đức Thọ, rồi tiến thẳng về phía phà Linh Cảm.

Phà Linh Cảm cũng một thời bị giặc Mỹ ném bom ác liệt, để ngăn chặn nút giao thông thủy - bộ của ta. Ở đây, cũng có nhiều cỗ quan tài dự trữ, sẵn sàng đáp ứng kết quả của những lần truy điệu sống trước khi đi phá bom nổ chậm, từ trường...

Bến phà Linh Cảm nay không còn nữa. Thay thế vào đó là một cây cầu rất đẹp và vững chãi, bắc qua sông Ngàn Phố trong xanh... Nhờ cây cầu này, mà theo đường 8A có thể đi thẳng một mạch sang nước bạn Lào; trở thành một trong những tuyến đường đẹp nhất nước ta. Cũng bắt đầu từ cây cầu này, chúng tôi vào đất Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Mới ngày nào, chúng tôi đi họp hội nghị Hai giỏi ở Sơn Bằng, Hương Sơn... Thế mà nay đã 35 năm trôi qua rồi! Sông Ngàn Phố không bao giờ ngừng chảy, và thời gian cứ trôi đi... Năm 1969, 1976, tôi về Sơn Bằng một mình bằng xe đạp. Năm nay, đi với cả đoàn về đây bằng ô tô. Hoàn cảnh khác xa nhau, nhưng tình cảm vẫn như ngày trước: bùi ngùi thương tiếc Hồ Thị Cúc - người con gái khổ nhất trong tiểu đội anh hùng...

Sông Ngàn Phố mùa này nước cạn, trông hiền lành, nên thơ là thế, vậy mà mùa nước lũ vừa qua, sống Ngàn Phố nổi giận vô cớ, tràn qua nhiều xóm làng ven sông, gây ra bao nhiêu tai họa...

Qua cầu Sơn Trà, cầu Nầm rồi đến cầu Sơn Bằng.

Chúng tôi đến Phố Châu - thị trấn của huyện Hương Sơn - vào lúc 10 giờ.

Theo hướng dẫn của Yến, tôi đi tìm Hồ Thị Hải - là em con chú ruột của Hồ Thị Cúc, tại bệnh viện Hương Sơn. Hải là y sĩ khoa Ngoại. Vì được Yến báo bằng điện thoại trước, nên Hải không ngạc nhiên trước sự có mặt của chúng tôi. Cô y sỹ trẻ trung, thanh mảnh, duyên dáng mời chúng tôi về nhà riêng ở khối 7 - thị trấn Phố Châu. Ở đây, Hải cho biết là không gặp o Loan được, vì o đi vắng. Hải mời chúng tôi về thăm cha mình - là ông Hồ Văn Dũng, chú ruột Cúc. Hiện ông đang ở xóm 2, xã Sơn Hồng - Hương Sơn, gần biên giới Việt - Lào. Anh cả Hải là Hồ Trường Thanh cũng đang ở cùng cha, mẹ.

Những lần trước, tôi chỉ gặp o Loan và người thân của Cúc ở Sơn Bằng, chưa bao giờ được gặp chú thím ruột của Cúc - là những người nuôi Cúc lớn lên, gả chồng cho Cúc... Tôi rất muốn đi, nhưng ngại đường xa, làm cả đoàn vất vả theo, Thu Hà nói:

– Ta đi thôi, vì đã đến đây rồi. Chiều hoặc tối ra Vinh vẫn kịp.

Thế là chúng tôi lên xe ngay. Hải cử cô cháu gái là Hồ Thị Thủy - con lớn nhất của anh Thanh, đưa đoàn về Sơn Hồng.

Cháu Hồ Thị Thủy lấy chồng làm lái xe, có một con trai. Gương mặt đôn hậu và thanh thoát, nhưng có mấy vết sẹo bỏng to ở tay... làm tôi liên tưởng đến những vết sẹo bỏng của Hồ Thị Cúc năm xưa. Sao lại có sự trùng hợp đến lạ lùng như thế?

Đường 8A đi gần như ven sông Ngàn Phố thanh bình. Mặt trời đã lên cao.

Xe càng đi, càng vào vùng có nhiều rừng cây xanh và đồi, núi. Qua cầu Phố Châu đến cầu Kè, cầu Tấn, cầu Sến, cầu Hà Tân. Qua cầu Nam Nhe, đến cầu Sài Phố, rồi đến cầu Mãn Châu là đến xã Sơn Hồng. Xe chúng tôi thận trọng đi trên con đường nhỏ được đắp bằng đất đỏ, đến trước một trang trại nhỏ thì dừng lại.

Anh Hồ Trường Thanh ra đón chúng tôi vào trang trại.

Chúng tôi bước vào một vườn cây ăn quả đủ loại. Trong vườn, có ngôi nhà ba gian rộng rãi, thoáng mát. Anh Thanh trông vẫn còn ra dáng một người lính từng xông pha trận mạc, dung dị tiếp chúng tôi. Anh giới thiệu đoàn chúng tôi với ông Hồ Văn Dũng và mẹ mình. Chúng tôi thấy ông Dũng mắt đã kém lắm rồi, và bà Dũng cử động rất khó khăn, nhưng các cụ nói chuyện còn minh mẫn lắm.

Câu chuyện xoay quanh cuộc đời Hồ Thị Cúc từ khi còn nhỏ. Ông Dũng rất nhớ ngày ông bà nội và bố Cúc mất, mẹ Cúc đi lấy chồng. Cúc lớn lên như thế nào, rồi Cúc lấy chồng ra sao... Tất thảy đều trùng khớp với những gì tôi biết qua o Loan kể trước đây, và viết lại rất dè dặt trong “Đài hoa tím”. Tôi thở phào, nhẹ nhõm vì thấy mình không phải đính chính gì về cuộc đời Cúc nữa. Tôi chủ động hỏi về cuộc đời anh Thanh, và gia đình anh hiện nay. Anh cho biết gia đình anh có bảy anh em. Anh là con trai cả, dưới anh còn có ba cậu em trai và ba cô em gái. Cô Hải là út, sinh năm 1965, năm chị Cúc lên đường đi thanh niên xung phong. Gia đình anh có hai con gái, hai con trai. Cháu Thủy là con gái lớn nhất, đã có chồng và con trai. Cháu gái út học lớp 12, sắp thi vào đại học. Anh mở một xưởng gỗ tại trang trại, để làm kế sinh nhai, đồng thời cũng giải quyết việc làm cho một số cháu ở gần nhà. Kinh tế ổn định.

Tôi ngỏ ý muốn sang thăm xưởng gỗ của anh Thanh. Anh dẫn tôi đi ngang qua một vườn cây, tới một chiếc máy cưa to chạy bằng điện ở góc vườn. Một mái tranh lợp tạm che mưa, nắng cho cỗ máy. Những thanh gỗ xẻ đều tăm tắp xếp hàng, chồng đống lên nhau. Mùn cưa trắng, hồng, vàng trải đầy mặt đất. Ngay bên cạnh xưởng gỗ là một con suối nhỏ đang mùa nước cạn. Những hòn sỏi to, đủ loại hình thù, màu nâu, xám phơi mình hai bên bờ và dưới lòng suối trong veo. Tôi hiểu, gỗ đến từ con suối này, và gỗ thành phẩm ra đường ô tô trước cổng nhà anh.

Vốn là dân công nghiệp, tôi hình dung ra các mối quan hệ của anh Thanh từ đầu vào, đến đầu ra sản phẩm. Quy trình thu gom vận chuyển nguyên liệu, chế biến ra thành phẩm, tiêu thụ có hiệu quả các thành phẩm đó... Không hề đơn giản chút nào. Tôi thầm cảm phục một người lính từ mặt trận trở về, đã làm nên cơ nghiệp của mình như thế. Tôi mong anh Thanh thành đạt hơn, thu hút được nhiều lao động hơn nữa.

Anh Thanh mời đoàn chúng tôi ở lại ăn cơm trưa với gia đình. Cháu Thủy và chị Thanh làm cơm xong từ lúc nãy. Cả nhà ngồi vào mâm cơm thịnh soạn, trong không khí đầm ấm của một gia đình xa nhau, lâu ngày mới gặp.

Sát biên giới Việt - Lào, tôi ăn một bữa cơm trưa như thế.

Cơm nước xong, tôi mới dè dặt hỏi anh Thanh:

– Bàn thờ chị Cúc đặt ở chỗ nào?

– Nhà em không có ảnh chị Cúc, nên không lập được bàn thờ...

– Tôi sẽ biếu gia đình ta một tấm ảnh thờ của Cúc. Anh nghĩ sao?

– Thế thì... tốt quá. Rất cám ơn anh.

Tôi lấy ngay một tấm ảnh Hồ Thị Cúc - do Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam chụp lại của Bảo tàng Đồng Lộc - mang từ Hà Nội vào, đưa ngay cho cháu Thủy, để cháu có ảnh gốc mang về Phố Châu phóng to ra.

Sau khi chào chú thím của Cúc, hẹn còn gặp lại, chúng tôi chia tay với gia đình anh Thanh, để về Phố Châu rồi ra Vinh.

Anh Thanh tặng đoàn chúng tôi hai chai mật ong rừng và một bọc quýt vườn nhà. Anh xúc động nói:

– Gặp nhau bất ngờ và vội quá... không kịp chuẩn bị gì. Gọi là có chút quà... cây nhà, lá vườn. Mong gặp lại lần sau...

Xe chúng tôi rời khỏi xã Sơn Hồng lúc 14 giờ 30 phút. Cháu Thủy theo xe về Phố Châu với tấm ảnh bác Hồ Thị Cúc.

Tôi rất tiếc là không gặp được o Loan và một số người thân của Cúc ở Sơn Bằng - trước đây đã có lần được gặp. Nhưng thôi, đành vậy, để dịp khác. Chúng tôi còn phải ra Vinh, với bao nhiêu việc đang chờ...

Chia tay gia đình Hải lúc 15 giờ 30, chúng tôi vội vã về Vinh.

Xe lại qua cầu Linh Cảm, về ngã ba Lạc Thiện, rẽ trái về Bãi Vọt theo đường 8A; qua cầu Đức Trung, cầu Đò Trai nổi tiếng một thời, cầu Đức Thuận rồi ra đường số Một... Tôi băn khoăn, tự hỏi: “Các nhân chứng sống của Ngã Ba Đồng Lộc đang còn ở Vinh, hay đã đi rồi?”.

Qua cầu Đôi, cầu Mới, cầu Mây, cầu Rong, cầu Giằng và cầu Bản là đến cầu Bến Thủy. Chiếc cầu cao, to lừng lững bắc qua hai bờ sông Lam - một thời gian dài trước đây là một bến phà nổi tiếng về bom đạn và anh hùng - hôm nay đón đoàn chúng tôi từ Ngã Ba Đồng Lộc trở về. Bên này cầu là Hà Tĩnh. Bên kia cầu là thành phố Vinh của tỉnh Nghệ An. Xe qua cầu nườm nượp vì đang giờ tan tầm.

Thành phố Vinh đã thay đổi hoàn toàn so với trước đây tôi biết trong chiến tranh. Đường phố được mở rộng nhiều lần. Nhà cửa san sát hai bên đường, đều xây từ hai tầng trở lên, không thua gì Hà Nội. Cửa hàng đều to và đẹp, bán đủ loại mặt hàng cần thiết cho cuộc sống xã hội đang đà lên cao.

Qua bên núi Quyết, chúng tôi tới ngã ba quen thuộc đầu tiên. Ở đó, đã sừng sững một tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đứng nhìn về phía sông Lam. Quảng trường rộng lớn, uy nghi và đẹp quá.

Ở Vinh, chúng tôi sẽ gặp những nhân chứng sống của Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng. Việc này, Thu Hà đã liên lạc trước với Tỉnh Hội rồi, nhưng còn cô Lê Thị Hồng ở A4 cũ vẫn không có tin tức gì. Tôi sốt ruột quá, vì bao nhiêu năm nay không gặp được Hồng. Đã không tìm thấy cô Đức ở thị xã Hà Tĩnh rồi. Còn Hồng, gia đình em đang ở đâu?

Với tâm trạng ấy, tôi ngồi dự bữa cơm chiều ở khách sạn do Tỉnh Hội Phụ nữ chiêu đãi. Trong bữa ăn, chị Phó Chủ tịch Hội có gợi ý cho tôi viết về tấm gương mười hai cô gái ở Truông Bồn. Tôi rất cảm động về niềm tin cậy của chị đối với tôi, nhưng lực bất tòng tâm, tôi đành phải thoái thác:

– Bao nhiêu năm trôi qua rồi... Không khí chính trị và mạch đập thời đại đã khác trước. Bao nhiêu gia đình, bao nhiêu mối quan hệ của mười hai cô gái Truông Bồn, mười hai cuộc đời dang dở... tôi không còn đủ sức và thời gian để làm tốt việc này nữa. Xin các chị hãy tìm anh chị em văn nghệ trẻ ở địa phương - có nhiều tâm huyết - nhờ làm việc này. Tôi tin là họ sẽ làm được và làm tốt hơn tôi...

Phải từ chối một vinh dự là điều rất khó khăn đối với bản thân mình; nhưng tôi không thể nào làm khác được.

Cả đêm hôm ấy, gần như tôi không ngủ nổi, vì những cuộc gặp gỡ mấy ngày qua ở Đồng Lộc, Đức Thọ và Hương Sơn. Tôi phải viết như thế nào đây - sau hơn hai mươi năm không viết nữa?

Thành phố Vinh trong đêm yên tĩnh quá. Tượng Bác Hồ ngoài quảng trường vẫn đang nhìn về phía sông Lam...

☆ ☆ ☆

Sáng ngày cuối cùng ở Vinh, theo lịch làm việc, đoàn chúng tôi đến thăm anh Trần Quang Đạt trước. Hồi chưa có chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh là Trưởng ty Thủy lợi Hà Tĩnh, người chủ trì xây dựng hồ Kẻ Gỗ sau này. Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, anh là trưởng Ban chỉ huy Đảm bảo giao thông tỉnh Hà Tĩnh, là nhân chứng lịch sử hiếm hoi còn sót lại - có tầm chiến lược - của thời kỳ oanh liệt đó. Sau này, anh làm Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh cho đến khi hòa bình lập lại. Từ tháng 4 năm 1976, anh là Phó Chủ tịch tỉnh Nghệ Tĩnh cho đến lúc nghỉ hưu. Anh Đạt quê ở Thanh Làng, Đức Thanh, Đức Thọ, Hà Tĩnh; là người giúp đỡ anh em làm văn nghệ về thâm nhập thực tế ở Hà Tĩnh rất chân tình và hiệu quả. Anh giúp đỡ tôi rất nhiều trong những năm tìm hiểu và viết về Mười cô Đồng Lộc.

Nhà anh Đạt nằm khiêm tốn trong một đường phố nhỏ, không có gì nổi bật lên hơn so với hàng xóm, láng giềng. Nhà một ông Phó Chủ tịch tỉnh lớn như Nghệ An, sau khi nghỉ hưu chỉ có vậy thôi. Tự nhiên, tôi thấy yên tâm, vì biết anh vẫn không khác thời chiến tranh là mấy...

Quả đúng như vậy. Tôi nhận ra anh ngay, mặc dù gần ba mươi năm xa cách không gặp lại nhau. Anh già hơn và tóc bạc nhiều hơn... Sau vài câu giới thiệu, anh hồ hởi, như với người bạn cũ xa lâu, bây giờ mới gặp lại...

Anh tâm sự, những ngày mới có chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, tỉnh đã cho làm những con đường tránh số 21, 22, 28, 29... để nếu quốc lộ 1 bị tắc, vẫn còn có đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Chiều dài những con đường đó bằng tám mươi năm thực dân Pháp đã làm đường ở Hà Tĩnh... Rồi đến việc ghép phà thành cầu phao, cả thế giới không ai làm. Nếu nối cứng phải có thiết bị hiện đại và đắt tiền. Ta không có nối cứng thì nối mềm vậy! Nhân nói chuyện cầu phao, anh Đạt say sưa kể về huyền thoại làng Hạ Lội, nay là xã Tiến Lộc thuộc huyện Can Lộc. Trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, trên 4km quốc lộ chạy qua xã Tiến Lộc có ba chiếc cầu lớn: Cầu Già, cầu Cổ Ngựa và cống Thượng Gia; có đến ba bến phà dã chiến vượt Ba Nái, sông Nghèn... Mỹ điên cuồng ném ở đây trên 20.000 quả bom các loại và 1600 quả tên lửa... Bình quân mỗi đầu người dân xã Tiến Lộc phải nhận 5, 7 quả bom và 4,5 quả tên lửa. Ở tọa độ lửa ấy, hai mươi ngày sau khi các cô thanh niên xung phong - A4 hy sinh, nhân dân xã Tiến Lộc tự nguyện dỡ 130 nóc nhà để lấp hố bom và làm đường tránh cho hàng ngàn xe chở đạn đang bị tắc ở núi Hồng Lĩnh vào miền Nam kịp thời. Một sự trùng hợp huyền thoại: trong các đoàn xe đi qua Tiến Lộc ngày ấy có 130 chiếc xe chở xăng của bộ đội ta. Chính vì vậy, từ ngày đó, làng Hạ Lội còn có tên là K130. Năm 1994, xã Tiến Lộc được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt nam.

Anh Đạt rơm rớm nước mắt khi kể lại đêm 24 tháng 7 năm 1968, anh đang trực ở sở chỉ huy - đặt tại xã Quang Lộc - Can Lộc - thì có điện thoại báo tin mười cô A4 hy sinh, cô Cúc chưa tìm thấy xác! Cả sở chỉ huy lặng đi. Chưa ai kịp nói gì thì đơn vị báo tin là hết cả quan tài rồi, xin phép lãnh đạo cho được bó các thi hài bằng ni lông để chôn cất như ở ngoài mặt trận. Anh Nguyễn Xuân Linh lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy, nói như gào lên: “Không thể được! Phải làm lễ an táng cho trọng thể. Phải đợi áo quan về, khâm liệm cẩn thận đã”. Nói xong, anh chỉ thị phải điều động mười cỗ áo quan trong kho dự trữ ở huyện Can Lộc về. Anh Đạt thực hiện ngay, và thấy anh Linh quay lưng lại, vai rung lên, lấy khăn thấm nước mắt...

Tôi rất xúc động khi nghe anh Đạt kể chuyện này. Trước đây, tôi chưa hề biết đến, nên “Đài hoa tím” in lần đầu không thể có đoạn này được. Anh Đạt nói tiếp:

– Sau ngày các cô A4 hy sinh, không có một ai ở Đồng Lộc bỏ đi hoặc đào ngũ cả. Chúng nó còn đánh hai trận ác liệt nữa. Ở Eo Út, C555 hy sinh nhiều, nhưng không một ai dao động. Tấm gương hy sinh của Mười Cô Đồng Lộc đã động viên mọi người ngay từ ngày đó tiến lên, cho đến ngày toàn thắng...

Anh Đạt bịn rịn chia tay chúng tôi ở cổng ngôi nhà bình dị. Còn tôi, kính trọng và quý mến anh hơn, vì anh vẫn như ngày nào bám trụ ở Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng...

☆ ☆ ☆

Xe chuyển bánh lúc 10 giờ 30 phút. Trên xe, Thu Hà thông báo cho tôi biết đã nhờ Tỉnh Hội Phụ nữ và nhà báo Lưu Quý Kỳ tìm Hồng A4 trước, nhưng cho đến hôm nay, đến cả hai nơi đều không phải. Một cô Hồng ở Nhà trẻ Hoa Sen ngày trước là công binh. Còn cô Hồng khác cũng trạc tuổi ấy, nhưng không phải Hồng A4. Bây giờ, chỉ còn một cách cuối cùng là đến nhà anh Đặng Thắng Châu - trưởng ban liên lạc Thanh niên xung phong Nghệ An, may ra thì tìm được.

Trên đường đến nhà anh Châu, tôi vẫn tin tưởng là sẽ gặp Hồng ngay hôm nay, không hiểu vì sao. Nhà anh Châu ở Bảo tàng Nghệ An nơi tôi đã đến nhiều lần, nhưng không biết anh ở phòng nào. Căn phòng tiếp khách của anh cũng đơn sơ như ở nhà anh Đạt. Tôi chú ý đến tấm bằng ghi nhận bốn mươi năm tuổi Đảng của anh. Tôi đọc: Đặng Thắng Châu - Cẩm Quan - Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh; vào Đảng ngày 5-5-1960... và một số giấy khen khác treo trên tường. Trông anh già rồi, nhưng đi lại vẫn còn nhanh nhẹn lắm.

Thu Hồng ở Tỉnh Hội Phụ nữ giới thiệu chúng tôi xong, tôi vào đề luôn:

– Chúng tôi đang tìm cô Lê Thị Hồng, sinh năm 1949 quê ở Đức Lạc - Đức Thọ - Hà Tĩnh. Ngày xưa, cô ấy ở A4 - C552 - P18. Hiện giờ cô ấy đang ở đâu. Anh có biết không?

Anh Châu mỉm cười:

– Cô Hồng Đức Lạc chứ gì! Tôi biết! vợ chồng cô ấy đang ở xóm Quang Trung, xã Vinh Tân, thành phố Vinh. Hiện giờ cô ấy đang bán hoa quả ở chợ Vinh. Để tôi gọi điện hỏi xem sao...

Tôi nói ngay:

– Đúng cô ấy rồi. Anh cứ báo tin là chúng tôi sẽ đến nhà cô Hồng ngay bây giờ. Xin anh dẫn đường cho chúng tôi!

Xe đi vòng vo một lúc thì đến nhà Lê Thị Hồng. Gia đình cô ở một xóm ngoại thành Vinh, chưa phải phố phường, nên không sầm uất như tôi nghĩ.

Vợ chồng Hồng và cháu trai đang đợi ở trước sân nhà. Tôi nhận ra Hồng ngay, mặc dù một phần tư thế kỷ trôi qua, anh em không có dịp gặp nhau.

Hồng chào tôi:

– Anh Đồng Tâm!

Tôi bất ngờ, vì Hồng còn nhớ tên gọi của tôi hồi đang còn ở trên Khu Gang thép Thái Nguyên, và hồi đi vào Hà Tĩnh... Tên trên bìa sách nên không ai nhớ đến cũng phải!

Căn phòng khách đơn sơ. Tôi ngồi xuống ghế, lặng lẽ nhìn em... Vẫn cô Hồng ngày xưa khi tôi mới gặp năm 1969. Khi ấy Hồng tròn hai mươi tuổi, là tiểu đội phó A4 mới, thay thế A4 cũ đã hy sinh gần hết. Bây giờ, trước mặt tôi, Hồng là một người vợ hiền của anh bộ đội phục viên Nguyễn Xuân Hồng - một thời là pháo binh phòng không 12 ly 7 và 14 ly 5 - quê ở Tùng Ảnh - Đức Thọ, gần quê Đức Lạc, nhà Hồng. Hồng tròn 54 tuổi... là mẹ của bốn đứa con, hai gái hai trai đã lớn khôn và trưởng thành rồi. Em có già hơn, đẫy người hơn trước, nhưng cái nhìn và nụ cười của em vẫn thế.

Tôi chủ động hỏi Hồng về 25 năm đã trôi qua... Hồng cho biết: Em đi thanh niên xung phong từ năm 1967 đến năm 1972. 1967 đến 1969 ở Đồng Lộc. 1970 vào Đèo Ngang. Ở đó, em được kết nạp vào Đảng lớp Hồ Chí Minh ngày 3-2-1970. Một năm sau lại ra Can Lộc ở Nghèn và Chợ Củi. Năm 1972, Hồng được Ủy ban Tỉnh cho đi học lớp Văn thư lưu trữ, rồi về làm việc ở Ban Miền Tây tỉnh Hà Tĩnh, làm giao liên và đón tiếp các bạn Lào. Thời gian này, Hồng gặp bố các cháu, hồi ấy mới ra quân, đang làm việc ở Đoàn xe vận tải thương nghiệp Hà Tĩnh. Hai người yêu nhau. Đến tháng 11 năm 1973, hai cơ quan tổ chức đám cưới cho ở quê nhà. Năm 1974, sinh cháu gái Nguyễn Thị Hiền; hiện cháu đang làm việc tại khách sạn Thanh Lịch - thành phố Vinh. Hồi bé tí cháu đã phải xa mẹ, ở Tùng Ảnh với bà nội. Khi ấy, chú ruột Nguyễn Chí Thanh vẫn còn đang ở nhà, cùng bà chăm sóc cháu.

Năm 1976, tôi vào Đức Phong tìm vợ chồng em, nhưng không gặp, chỉ kịp chụp tấm ảnh bà nội đang bế cháu Hiền trong lòng.

Tháng 4 năm 1976, sát nhập hai tỉnh làm một thành Nghệ Tĩnh, Hồng sinh cháu gái thứ hai là Nguyễn Thị Hòa. Hiện nay, học đại học xong, cháu Hòa đang làm dự án cho Canada ở Hà Nội. Hồi sinh cháu Hòa được ba tháng, Hồng vào làm ở ngành thương nghiệp, ở Ngã ba Tuần - cách thị trấn Quỳnh Lưu 20 km. Hai năm sau ra thị trấn Cầu Giát bán hàng, với một nách hai con nhỏ. Năm 1978, Hồng sinh cháu trai Nguyễn Xuân Quỳnh, nay cháu đã tốt nghiệp đại học Thương Mại, nhưng chưa xin được việc làm. Năm 1981, Hồng về Vinh để học lớp Mậu dịch viên một năm. Lại phải đưa ba con về nhà, nhờ bà và chú trông nom, dạy dỗ giúp. Năm 1982 học xong, Hồng được điều về Vinh làm việc. Mãi đến năm này, Hồng mới có hộ khẩu chính thức ở thành phố Vinh. Năm 1983, Hồng sinh cháu trai út, đặt tên là Nguyễn Xuân Ngọc; hiện cháu đang đi bộ đội, đóng quân ở Nha Trang. Tất cả bốn con, chưa ai có gia đình riêng. Vợ chồng Hồng còn nặng gánh lắm.

Đến năm 1991, lại tách ra làm hai tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh. Các cơ quan giảm biên chế. Hồng nghỉ hưu luôn, chỉ được tính 23 năm công tác; mỗi tháng được 50 ngàn lương hưu. Năm 1993, chồng cô - anh Xuân Hồng cũng về hưu luôn. Hai vợ chồng Hồng xin địa phương được một cái ao ở xóm Quang Trung, xã Vinh Tân, để lấp đi, làm chỗ định cư lâu dài cho các cháu. Hai vợ chồng gom góp tiền thuê lấp ao thành thổ cư. Hiện nay, diện tích nhà và đất trồng cây của vợ chồng Hồng cũng được 200 mét vuông. Thế là mãn nguyện lắm rồi.

Tôi hỏi Hồng về việc sinh hoạt Đảng ra sao. Hồng đau khổ nói:

– Hồ sơ Đảng viên của em hồi ở cơ quan cũ - Công ty kinh doanh Tổng hợp - bị thất lạc rồi. Các vị lãnh đạo thay đổi luôn, nên không biết ai đã đốt hồ sơ của em đi. Bây giờ trắng tay, không biết sinh hoạt vào đâu.

Tôi không thể nào an ủi Hồng trong tình huống này được, đành im lặng. Vợ chồng Hồng mời đoàn chúng tôi ở lại ăn bữa cơm trưa. Tôi mang album ảnh gần hai chục chiếc chụp Hồng và đồng đội hồi 1969 ở Đồng Lộc, nói:

– Khi nào em có dịp gặp lại Đức và Tịnh cùng các bạn khác hồi ấy, em cho các bạn xem những tấm ảnh này để nhớ về kỷ niệm một thời. Em cho anh gửi lời hỏi thăm gia đình các bạn ấy. Sẽ có ngày còn gặp nhau ở Ngã Ba Đồng Lộc...

Hồng cảm động, nâng niu từng tấm ảnh, rồi cất đi. Cháu Quỳnh vồ ngay lấy phiên bản “Đài hoa tím” tranh thủ đọc. Tôi nói:

– Cháu bắt đầu đọc từ chương 8, trang 148 trở đi, sẽ thấy mẹ cháu hồi ấy như thế nào...

Buổi chiều chúng tôi lại tìm gặp một nhân chứng lịch sử nữa - anh Nguyễn Tiến Chương, nguyên Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh những năm kháng chiến chống Mỹ. Nhà anh Nguyễn Tiến Chương ở khối Trung Hòa, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, một khu nhà vườn yên tĩnh ở sâu trong một con hẻm. Nổi bật lên trước căn nhà một tầng bình dị là hai cây mẫu đơn hoa vàng rực rỡ. Tôi chợt nhớ hai câu thơ:

“Hoa mẫu đơn là hoa phú quý

Hễ làm trai có chí thì nên...”.

Tôi xúc động đến lặng người, khi thấy anh Chương ra đón chúng tôi. Gương mặt anh vẫn thế. Dáng người hơi thấp nhỏ, khiêm nhường của anh vẫn thế. Đôi mắt tinh anh và đằm thắm tình người nhìn tôi hơi ngỡ ngàng. Tôi chào anh, và tự giới thiệu ngay về mình. Anh siết chặt tay tôi, mỉm cười:

– Lâu quá rồi! Hơn ba chục năm, giờ mới gặp lại nhau!

Trong lúc anh pha cà phê tiếp chúng tôi, tôi thấy trên bàn làm việc anh đang dở ra tập tài liệu bằng tiếng Pháp, viết về sức khỏe của người già; bên cạnh là bản dịch ra tiếng Việt. Chữ anh viết rất đẹp và chân phương. Một cán bộ lãnh đạo, một trí thức chân chính, khi nghỉ hưu còn làm việc như thế này, không kính nể sao được?

Sau những lời thăm hỏi, tôi chỉ xin hỏi anh một câu:

– Em vừa qua Ngã Ba Đồng Lộc thăm mộ Mười Cô về. Em xin ý kiến nhận xét của anh về khu tưởng niệm này như thế nào?

Anh Chương ngẫm nghĩ một lát, rồi nói:

– Mọi cái đều tốt đẹp. Nhưng, tôi thấy cái hố bom đã làm Mười Cô hy sinh, bây giờ nông quá. Giá như, có cách nào khôi phục được hình dạng hố bom như lúc ban đầu. Dùng kỹ thuật hiện đại gia cố bờ hố bom sao cho không sạt lở - bằng đá hoa cương chẳng hạn - chứa nước trong vắt đầy hố bom... Như thế sẽ phù hợp với khu tưởng niệm này hơn.

Tôi tán thành ý tưởng này của anh ngay, và hỏi thêm về những binh chủng hợp thành đã làm nên Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng, nên tưởng niệm như thế nào. Anh Chương nói ngay:

– Cần phải có Khu tưởng niệm của Trung đoàn pháo 210, vì 147 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Đồng Lộc, họ đã hy sinh 122 người, bị thương nặng gần 260 người... Việc làm khu tưởng niệm này còn liên quan đến Bộ Quốc phòng, Binh chủng Phòng không nữa chứ. Đâu phải chỉ một mình Đoàn Thanh niên lo liệu mà đã sợ không có đủ kinh phí? Vấn đề là làm khu di tích ấy ở đâu? Làm như thế nào cho xứng đáng với đơn vị anh hùng này, và những ai có trách nhiệm làm khu di tích này? Tôi nói như vậy là vì lẽ công bằng... Khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc đã đi vào lịch sử, hằng năm có biết bao du khách đến thăm viếng. Phải biến nơi đây thành một trong những biểu tượng sống động nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam cho các thế hệ mai sau... để cho các du khách quốc tế hiểu thêm về Việt Nam đã sống và chiến đấu như thế nào, để có ngày hôm nay hạnh phúc, hòa bình... Chính chúng ta hiểu rõ về hòa bình, cần phải có hòa bình hơn ai hết.

Chúng tôi im lặng nghe anh nói những lời tâm huyết như nhắn gửi lại cho các thế hệ mai sau. Hóa ra trong thâm tâm, tuy nghỉ hưu rồi, nhưng anh vẫn còn băn khoăn về những việc chưa làm được...

Khi nói chuyện về vua phá bom Vương Đình Nhỏ ở Ngã Ba Đồng Lộc năm xưa, cho đến tận bây giờ - sau khi chết - anh vẫn chưa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Anh Chương rơm rớm nước mắt:

– Trước đây, lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh cũng đã đề nghị lên trên phong tặng danh hiệu Anh hùng cho Vương Đình Nhỏ rồi nhưng mắc mớ vì đâu, chúng tôi không kiểm tra thật kỹ lưỡng để gỡ vướng mắc này... Đến bây giờ truy tặng danh hiệu Anh hùng cho anh Nhỏ vẫn còn chưa muộn. Nếu anh Vương Đình Nhỏ không được phong tặng danh hiệu Anh hùng nữa, thì khi chết tôi không nhắm mắt được.

Tôi và Thu Hà đều lặng đi khi nghe anh Chương nói tha thiết chí tình như vậy. Tôi biết tấm lòng anh luôn luôn trân trọng những gì tốt đẹp nhất đã trải qua anh và anh cảm thấy mình phải có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ nó.

Chúng tôi về khách sạn vào lúc hơn 5 giờ chiều. Dư âm của cuộc gặp mặt với anh Chương chiều nay vẫn còn xáo trộn trong trái tim tôi. Trước đây, trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh vừa là Chủ tịch tỉnh, vừa là trưởng Ban chỉ huy đảm bảo giao thông của Khu IV. Anh vô cùng bận rộn, vì bao nhiêu trọng trách trên vai. Hầu như anh suốt ngày thường trực cùng với anh Đạt ở sở chỉ huy tiền phương của tỉnh đặt tại xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Bận rộn như thế nhưng bao giờ anh cũng dành cho các nhà báo, nhà văn những thời khắc hiếm hoi để được gặp anh, xin anh những ý kiến quý báu chỉ đạo cho bài viết của mình. Anh chỉ nói về những điển hình tiên tiến nhất ở Hà Tĩnh. Còn về bản thân anh không nói gì. Đã nhiều lần tôi gợi ý hỏi về anh, nhưng anh né tránh rất khéo, dành thời gian hiếm hoi nói về đồng đội, về nhân dân Hà Tĩnh. Tôi rất ân hận, vì cho đến giờ phút này, sau hơn ba mươi năm trời đằng đẵng xa nhau mới được gặp lại, tôi vẫn không biết kỹ về gia đình anh. Đó là một thiếu sót không thể tha thứ được. Mong ngày gặp lại anh sau này, tôi sẽ sửa chữa được sai lầm đó.

Tôi đang hệ thống các tư liệu vừa thu thập được trong ngày làm việc cuối cùng ở đây, thì được lễ tân khách sạn báo tin có khách. Hai vợ chồng cô Hồng đến khách sạn tìm tôi.

Chỉ có ba anh em nói chuyện với nhau, nên chúng tôi có thể đi sâu vào những mảnh đời riêng đầy tâm sự. Tôi nói tóm tắt cuộc đời mình hơn hai mươi năm qua cho vợ chồng Hồng nghe, đưa địa chỉ và số điện thoại nơi ở hiện nay, để nếu có dịp ra Hà Nội thì báo cho tôi biết, tôi sẽ đến đón về thăm nhà. Tôi cũng hỏi địa chỉ, số điện thoại của cháu Hòa đang ở Hà Nội, để chủ động tìm gặp cháu. Tôi muốn các thế hệ con cháu chúng mình phải xích lại gần nhau hơn, để sau này về Đồng Lộc gặp nhau, không còn xa lạ nữa... Vợ chồng Hồng đều mong muốn như vậy, và hẹn gặp lại tôi ở Hà Nội.

Vợ chồng Hồng về rồi, tôi thao thức mãi không ngủ được. Nhưng đến khi thiếp đi, tôi lại chìm vào một giấc mơ kỳ lạ chưa bao giờ có trong đời...

« Lùi
Tiến »