Năm 1978, truyện ký “Đài hoa tím” của Nghiêm Văn Tân được Nhà xuất bản Phụ nữ in lần thứ nhất. Đây là tác phẩm bao quát nhất, chân thực nhất và cũng là sớm nhất viết về mười cô gái thanh niên xung phong hy sinh ở Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng.
Năm 2005, Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản với tên mới là “Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc” gồm phần một “Đài hoa tím” và phần hai bổ sung Vĩ thanh “Đêm” và “Ngày” viết năm 2004 - sau gần 30 năm tác giả trở lại chốn xưa.
Nghiêm Văn Tân sinh năm 1939 tại Hà Nội trong một gia đình viên chức bình dị. Lớn lên, ông đã từng trải qua nhiều nghề: thợ đo đạc, thợ xây dựng, thợ lò cao, thợ lò thép và làm báo. Vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước, ông làm việc ở Khu Gang thép Thái Nguyên suốt 17 năm. Ông từng là học viên khóa 3 (1968-1969) trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ Hội nhà văn Việt Nam, bạn học của các nhà văn, nhà thơ: Liên Nam, Hông Nhu, Nguyễn Trí Huân, Bùi Công Hoan, Sĩ Hồng, Nghiêm Đa Văn, Nguyễn Phan Hách, Phạm Đức,... Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa phóng viên và tác giả Nghiêm Văn Tân.
Phóng viên: Ông sinh trưởng trong một gia đình trí thức, quý trọng học vấn, yêu thích văn chương, hoàn toàn có thể ở lại Hà Nội để đi học đại học rồi đi làm như mọi người khác. Vì sao ông lại rời Hà Nội ra đi làm đủ các nghề khó nhọc nhất trong suốt 17 năm trời ở Khu Gang thép Thái Nguyên?
Nghiêm Văn Tân: Tôi may mắn được sinh ra trong một gia đình họ Nghiêm đức hạnh, có đủ điều kiện cho tôi phát triển về mọi mặt lâu dài một cách bình thường. Nhưng xu thế thời đại ở Việt Nam vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước đã khiến tôi có một quyết định ngược đời là rời Hà Nội để đi làm thợ. Chỉ có làm thợ mới rũ bỏ được bản chất giai cấp tiểu tư sản của mình. Chỉ có làm thợ mới phù hợp với lời dạy của nhà văn Lỗ Tấn: “Mạch máu thì phun ra máu, còn mạch nước chỉ phun ra nước lã mà thôi”.
Phóng viên: Vì duyên cớ gì ông lại chọn đề tài mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc để làm tác phẩm trụ cột của đời mình? Đề tài đó rất khó viết. Ngay con trai, con rể của Hà Tĩnh hoặc cán bộ ở Hà Tĩnh lâu năm cũng còn khó viết, huống chi ông là một người xa lạ.
Nghiêm Văn Tân: Điều này tôi chủ ý không nói đến trong vĩ thanh “Đêm” và “Ngày”, nhưng nhiều người đã hỏi tôi như anh, cho nên tôi đành phải trả lời vậy, vì nó rất riêng tư.. Mẹ sinh ra tôi là bà Ngô Thị Cầu (1914-1942). Bà mất rất sớm khi mới hai mươi tám tuổi. Lúc ấy tôi mới lên bốn, khăn tang dài hơn người... Còn sót lại một mình, tôi lớn lên trong sự yêu thương và đùm bọc của cha, mẹ già và anh em cùng cha khác mẹ, nhưng tôi vẫn đau đáu xót xa cho cuộc đời của mẹ tôi. Tôi được nghe cha tôi kể nhiều huyền thoại về mẹ mình, tôi lại càng thương tiếc hơn. Thế là từ tấm bé, tôi đặc biệt quan tâm đến những người phụ nữ chết trẻ. Cuối tháng 7 - 1968, khi nghe đài, xem báo thấy tin mười cô thanh niên xung phong đã hy sinh ở Ngã Ba Đồng Lộc - Hà Tĩnh, tôi bị ám ảnh rất mạnh. Nỗi ám ảnh do cái chết vì đất nước, ám ảnh do các cô còn rất trẻ... Thế là, như một sự sắp đặt của duyên phận, tôi đi học trường viết văn trẻ, rồi vào Hà Tĩnh như anh đã biết... Tôi công nhận đề tài này rất khó đối với tôi. Khi tôi vào Hà Tĩnh thì mọi việc đã an bài: Các cô đã nằm dưới mộ, bạn bè còn sống ở phân tán. Gia đình mười cô lại rất xa nhau. Các cô cùng hy sinh vì một trái bom, một ngày, một giờ định mệnh. Viết như thế nào đây, trong khi tôi chưa có một chút vốn sống nào về miền đất anh hùng này? Đã thế lại phải viết thật, không được hư cấu như tiểu thuyết. Thế nhưng, vì tình yêu thiêng liêng đối với mẹ tôi, tình yêu sâu sắc đối với các cô Đồng Lộc, tôi đã hoàn thành công việc khó khăn trong mười năm, đúng theo hạn định của cha tôi.
Phóng viên: Phải chăng cha ông rất hy vọng ở con mình, và đã giúp ông nhiều về mặt tinh thần để tác phẩm đến được với bạn đọc?
Nghiêm Văn Tân: Cha tôi là ông Nghiêm Văn Hòe (1011-1981) có một chút Tây học, một ít Nho học. Hồi làm văn phòng ở Sở học chính Đông Dương và sau này ở trường Albert Sarraut, có làm thơ và viết văn nghiệp dư, bút danh Thanh Thủy, cùng thời với nhà thơ Tú Mỡ và nhà văn Bùi Huy Phồn. Ông có để lại bài thơ “Cá mẹ dạy cá con” trong sách giáo khoa thời bấy giờ, nhưng ông không đi vào sáng tác, chỉ nghiên cứu tác phẩm văn học thế giới và trong nước bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Ông dẫn tôi đi theo con đường văn học một cách rất tự nhiên. Những lúc đèo xe đạp đưa tôi đi chơi, ông dạy tôi học thuộc lòng những bài ca dao đẹp, những câu tục ngữ hay, những đoạn hay của Truyện Kiều... Khi lớn lên, ông cho tôi đọc các loại truyện mà ông có hay mượn được, rồi bắt tôi tóm tắt nói chủ đề chính, bình luận về các nhân vật, nói về những chi tiết hay, tình huống đẹp... Cứ thế, lớn lên tôi yêu văn học lúc nào không biết.
Tháng 10-1959, bố tôi buộc lòng phải để tôi thoát ly gia đình, một mình đi vào nông trường Đồng Giao làm công nhân đo đạc để thực hiện hoài bão của mình. Trước khi tàu chuyển bánh, ông chỉ dặn tôi mỗi một điều: “Con hết sức cẩn trọng trong mọi việc. Nói ít nghe nhiều. Hãy giữ danh dự cho dòng họ Nghiêm. Cẩn thận trong quan hệ với phụ nữ. Đồng tiền phải lương thiện và phân minh”. Chỉ có ba mươi sáu chữ ấy thôi nhưng nó đã đi theo tôi trong suốt cuộc đời. Ông là người cha yêu quý, người thầy tuyệt vời đã dắt tôi đi từ thành công này đến thành công khác. Quyển “Đài hoa tím”, nếu không có ông động viên, chỉ bảo tôi đến nơi đến chốn, thì có lẽ nó đi theo một hướng khác, hoặc không bao giờ xuất hiện.
Phóng viên: Có ý kiến cho rằng ông là tác giả đầu tiên khai thác tài liệu, viết và có tác phẩm sớm nhất về mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc. Có đúng vậy không?
Nghiêm Văn Tân: Riêng về thể truyện ký, thì đúng là như vậy. Trước đó, cũng có một số bài báo ngắn, một số bài thơ, nhưng không nhiều lắm.
Phóng viên: Ông có thể nói tóm tắt quá trình đi thực tế, sưu tầm tài liệu và lao động trên trang bản thảo được không?
Nghiêm Văn Tân: Tôi đã nói khả đầy đủ trong phần “Đêm” của Vĩ thanh “Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc” rồi. Tôi chỉ xin lưu ý một điều là mười năm của tuổi thanh xuân đẹp nhất cuộc đời, tôi đã để cho việc hoàn thành “Đài hoa tím”. Với thời gian đó tôi có thể học xong hai bằng đại học, nhưng tôi không hề nuối tiếc.
Phóng viên: Ông xác định thể loại cho tác phẩm của mình là truyện ký. Đúng là truyện mà vẫn là ký. Có vẻ nghiêng về truyện, nhưng không hư cấu con người và sự việc. Truyện ông có chất văn, nhiều hình ảnh, giàu trữ tình, có tâm hồn tác giả thấm đẫm từng trang. Tại sao ông chọn cách viết này?
Nghiêm Văn Tân: Trước hết là nội dung quyết định hình thức. Toàn bộ sự việc và các câu chuyện đã buộc tôi phải viết như vậy. Chỉ có viết như vậy mới có thể chuyển tải được tình cảm và ý tưởng của mình trên từng trang tác phẩm. Tôi còn phải nhờ đến thủ pháp điện ảnh để dàn dựng cho tác phẩm sinh động hơn. Phần “Đài hoa tím” viết từ ngày xưa, đến phần Vĩ thanh “Đêm” và “Ngày” vừa viết xong, cũng như vậy. Riêng phần “Ngày” của Vĩ thanh, tôi đã mạnh dạn tiểu thuyết hóa thể ký để sáng tạo một không gian tương lai, tuy nhiên các sự kiện đều có thật.
Phóng viên: Hẳn ông đã được biết đến hầu hết những tác phẩm cùng viết về đề tài này. Có cả một bộ phim truyện nhựa nữa. Ông có những ý kiến gì về những tác phẩm ấy?
Nghiêm Văn Tân: Tôi yêu Ngã Ba Đồng Lộc từ trong tâm khảm cho nên tất cả những tác phẩm viết về Ngã Ba Đồng Lộc tôi đều đọc và xem rất kỹ. Tôi biết ơn những người đã cùng với tôi tôn vinh mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc. Việc phán xét những tác phẩm ấy xin để cho công chúng độc giả quyết định. Có điều, tôi không thể chấp nhận tác phẩm vì muốn đời thường hóa các anh hùng mà lại hạ thấp họ bằng những chi tiết như: can tội hủ hóa, có chửa phải bị kỷ luật đi chăn bò, hoặc lái xe tải hèn nhát khi máy bay địch đến mà lại rất thô bạo khi tán tỉnh các cô thanh niên xung phong,... Theo tôi, khi viết về những người đã hy sinh cho Tổ quốc, chỉ nên viết những mặt tốt đẹp nhất của họ.
Phóng viên: Sau 27 năm, “Đài hoa tím” được tái bản và bổ sung phần hai thành “Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc”. Giữa Nhà xuất bản và tác giả đã có sự kết hợp với nhau như thế nào?
Nghiêm Văn Tân: Nhà xuất bản Phụ nữ và tôi quen biết nhau từ những năm 60 của thế kỷ trước. Cái thế hệ lãnh đạo và biên tập viên của Nhà xuất bản coi tôi như người nhà. “Đài hoa tím” chậm tái bản là do tôi gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, thay đổi địa chỉ mấy lần, và không đến Nhà xuất bản. Năm 2003, tôi chủ động đến Nhà xuất bản và tôi được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để viết tiếp vĩ thanh. Thế là truyện ký “Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc” đã ra đời. Tôi chỉ hơi tiếc là số lượng xuất bản còn ít.
Phóng viên: Ông còn giữ liên hệ với các gia đình ở Đồng Lộc nữa hay không?
Nghiêm Văn Tân: Có chứ! Anh ruột của liệt sĩ Trần Thị Rạng là Trần Đình Vân từ Đắc Lắc đã ra đây; em ruột của liệt sĩ Võ Thị Tần là Võ Xuân Tửu cũng từ Hải Phòng lên đây. Cô Dương Minh Châu, bạn thân của liệt sĩ Nguyễn Thị Xuân ở Vĩnh Lộc cũng đã ra đây... Vừa rồi, con gái của cô Lê Thị Hồng lấy chồng ở Hà Nội, tôi cũng được mời đến dự. Các cháu của các cô liệt sĩ, học ở Hà Nội rất đông, có đến thăm tôi. Vừa rồi, có cháu còn nhớ tặng tôi hoa nhân ngày sinh nhật. Rất cảm động!
Phóng viên: Gần 40 năm trước ông đã là học viên khóa 3 trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ. Nhiều bạn học, bạn viết của ông ngày ấy nay đã thành danh. Ông cũng có tác phẩm được in từ năm 1975, rồi sau đó là “Đài hoa Tím” năm 1978 và nay là “Mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc”. Tại sao bẵng đi nhiều năm ông không viết? Ông không có ý định tập trung nhiều tâm sức và thời gian cho văn chương sao? Và vào Hội nhà văn nữa chứ?
Nghiêm Văn Tân: Cha tôi đã nói lời của thánh nhân: “Trí nhân vô kỷ, thánh nhân vô công, thần nhân vô danh” và còn nói: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”. Những người có danh sớm quá, nếu không biết giữ mình thì sẽ sớm hư hỏng. Chỉ những người có danh sau khi chết, mới là mãi mãi... Tôi tin lời cha tôi nói là đúng. Việc vào Hội nhà văn, tôi cũng đã nghĩ đến, nhưng nay không viết được gì nữa thì vào để làm gì? Điều cuối cùng tôi muốn nói ở bài phỏng vấn này là: “Những gì đất nước ta đã có hôm nay là do bao nhiêu người đã hy sinh xương máu qua nhiều thế hệ, như mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc. Hãy sống xứng đáng với họ”.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông. Kính chúc ông sức khỏe, hạnh phúc, có nhiều niềm vui!
PHẠM ĐÌNH ÂN