Truyện Kể Danh Nhân Lịch Sử Trung Quốc

Lượt đọc: 1983 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Ban Siêu Đầu Bút Tòng Nhung. Lão Đang Ích Tráng. Vương Mãng Cải Chế. Chiêu Quân Xuất Tái. Trương Khiên Thông Tây Vực. Vệ Thanh Và Hoắc Khứ Bệnh. Phi Tướng Quân Lý Quảng. Lã Hậu Chi Loạn. Tiêu Tào Lưỡng Tướng Quốc. Bá Vương Biệt Cơ. Tiêu Hà Đêm Trăng Đuổi Hàn Tín. Hồng Môn Yến Kinh Hồn Bạt Vía. Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Trần Thắng Và Ngô Quảng Dựng Cờ Khởi Nghĩa. Tần Thủy Hoàng Thống Nhất Trung Nguyên. Kinh Kha Thích Tần Vương. Kỳ Hóa Khả Cư. Tín Lăng Quân Thiết Phù Cứu Triệu. Mao Toại Tự Tiến. Triệu Quát Chỉ Thượng Đàm Binh. Hoàn Bích Quy Triệu. Khuất Nguyên Ái Quốc Đầu Giang. Trương Nghi, Liên Hoành Tán Liên Minh. Mạnh Thường Quân Dưỡng Khách. Triệu Vũ Linh Vương, Hồ Phục, Kỵ Xạ. Tôn Tẫn - Bàng Quyên Đấu Trí. Thương Ương Nam Môn Lập Mộc. Tam Gia Phân Tấn. Phạm Lãi Và Văn Chủng. Câu Tiễn Nếm Mật Nằm Gai. Khổng Tử Chu Du Liệt Quốc. Ngũ Tử Tư Quy Báo Sở Vương Thù. Sở Trang Vương Nhất Minh Kinh Nhân. Tần Mục Công Tranh Bá. Công Tử Trọng Nhĩ Lưu Vong. Tống Tương Công Ngu Xuẩn. Tề Hằng Công Cửu Hợp Chư Hầu. Quản Bào Chi Giao. Phong Hỏa Hí Chư Hầu. Quốc Nhân Bạo Loạn. Chu Công Phụ Thành Vương. Chu Vũ Vương Phạt Trụ. Chu Văn Vương Phỏng Hiền. Sự Tàn Bạo Vô Đạo Của Vua Trụ. Đệ Nhất Hiền Tướng Y Doãn. Hạ Kiệt Và Thương Thang. Đại Vũ Trị Thủy. Nghiêu Thuấn Nhường Ngôi. Hoàng Đế Chiến Suy Vưu. Hòa Thượng Làm Nguyên Soái. Thành Cát Tư Hãn. Lưu Thủ Đan Tâm Chiếu Hãn Thanh. Tên Giặc Bán Nước Tần Cối. Nhạc Phi Tinh Trung Báo Quốc. Nỗi Nhục Năm Tịnh Khang. Đại Văn Hào Tô Thức. Tư Mã Quang Và "Tư Trị Thông Giám". Vương An Thạch Hiến Pháp. Phạm Trọng Yêm Tâm Ưu Thiên Hạ. Khấu Chuẩn Chống Giặc Liêu. Lý Hậu Chủ Vong Quốc. Bối Tửu Thích Binh Quyền. Trần Kiều Binh Biến. Xung Thiên Đại Tướng Quân Hoàng Sào. Kiêu Tướng Quách Tử Nghi. Dương Quý Phi Thảm Tử Mã Nguy Dịch. An Sử Chi Loạn. Tiên Thơ Và Thánh Thơ. Lý Lâm Phố Khẩu Mật Tâm Xà. Diêu Sùng Và Tống Cảnh. Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên. Sông Chan Can Pu Và Công Chúa Văn Thành. Huyền Trang Tây Du Thỉnh Kinh. Ngụy Chinh - Tấm Gương Của Đế Vương. Quyết Chiến Huyền Võ Môn. Tần Vương Lý Thế Dân. Lý Mật Ngưu Giác Quải Thư. Tùy Thang Vương Du Ngoạn Giang Đô. Trần Hậu Chủ Vong Quốc. Hiếu Văn Đế Cải Chế. Nhà Khoa Học Cổ Đại Tổ Xung Chi. Trận Đánh Phì Thủy. Vương Mãnh Bắt Rận Bàn Việc Thiên Hạ. Vương, Mã Cộng Thiên Hạ. Bát Vương Chi Loạn. "Văn Kê Khởi Vũ, Trung Lưu Kích Tiếp". Thạch Sùng Và Vương Khải So Giàu. Dương Hỗ, Đỗ Dự Diệt Ngô. Tam Quốc Quy Tấn. Cúc Cung Tận Tụy, Tử Nhi Hậu Kỷ. Bảy Lần Bắt Mạnh Hoạch. Trận Xích Bích. Ba Lần Đến Lều Tranh. Trận Chiến Quan Độ. Mượn Danh Thiên Tử Ra Lệnh Cho Thiên Hạ. Vương Doãn Khéo Diệt Đổng Trác. Đổng Trác Chuyên Quyền. Hoàng Cân Quân Khởi Nghĩa (Khởi Nghĩa Khăn Vàng). Sự Kiện "đảng Cố".
Tiến »
Tiên Thơ Và Thánh Thơ.

❊ ❊ ❊

Lý Bạch và Đỗ Phủ là hai thi hào kiệt xuất và vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc. Họ chịu khó học hỏi và hấp thu tinh hoa của các bậc tiền bối, hòa nhập linh cảm của mình, sáng tạo nên vần thơ có phong cách hết sức độc đáo. Họ viết được khá nhiều tác phẩm thơ ca ưu tú, được người đời sau ngâm vịnh và truyền tụng trong hàng nghìn năm nay, đây là những áng thơ quý báu nhất trong kho tàng văn học Trung Quốc.

Lý Bạch, tự Thái Bạch, quê ở Thành Kỷ - Lũng Tây, ông ôm ấp chí lớn muốn đạt thành tựu về mặt chính trị, nhưng ông là người sống không gặp thời, có tài không biết dùng vào đâu, cũng chẳng có cơ hội nào để ông trổ tài năng của mình trên chính trường. Nhưng về mặt văn học thì ông lại là một nhà thơ tầm cỡ đầy tài năng. Có thể nói ông là một nhà thơ lãng mạn vĩ đại nhất tiếp sau Khuất Nguyên.

"Lý Bạch đẩu tựu thi bách thiên". Qua đó có thể thấy tính cách của ông rất hào phóng. Thơ của ông phóng khoáng, bay bổng và lưu loát, ông yêu non sông tổ quốc và nâng niu ca ngợi nó bằng cả bầu nhiệt huyết của mình. Khi đứng trước dòng sông Hoàng Hà đang cuồn cuộn chảy về xuôi, ông liền thốt lên rằng: "Chàng không thấy, nước sông Hoàng Hà trên trời xuống, tuôn ra biển đâu còn trở lại". Khi nhìn con đường vào đất Thục quanh co hiểm trở, ông buột miệng ngâm rằng: "Thục đạo chi nan, Nan vu thượng thanh thiên".

Bằng sức tưởng tượng của mình, ông đã miêu tả núi Thiên Lao trong ảo mộng, khiến nó trải hiện ra một vẻ đẹp hùng vĩ của tiên cảnh trần gian, qua đó cũng biểu hiện được khát vọng và sự theo đuổi của ông đối với tự do và chân lý. Với thủ pháp khác nhau, ông còn mô tả những người phụ nữ với hình tượng rất khác nhau, thổ lộ những ước mơ và nguyện vọng của họ, ca ngợi tâm hồn đẹp đẽ và trong trắng của họ, ông đồng cảnh sâu sắc với các tầng lớp phụ nữ bị xã hội phong kiến đè nén và bức hại. Thơ của ông có tiết tấu hài hòa trôi chảy, tình cảm chân thực hào phóng, ngôn ngữ sinh động khoáng đạt. Ví như câu: "Thanh thủy xuất phù dung. Thiên nhiên khứ điêu sức ".

Ông mượn thơ để bày tỏ quan điểm và nỗi bất bình của mình đối với xã hội, trong thơ ông cũng chứa đựng sự yêu ghét rất mạnh mẽ, ông chế giễu sự mục nát và đen tối của xã hội với câu: "Lạc bút kinh phong vũ, Thi thành khấp quỷ thần".

Do không thực hiện được ý chí của mình, nên trong thơ ông cũng đã thể hiện phần nào sự tiêu cực như câu: " Chung cổ soạn ngọc bất túc quý. Đãn nguyện trường túy bất nguyện tỉnh ".

Đỗ Phủ, tự Tử Mỹ, sinh tại huyện Củng- Hà Nam, xuất thân gia đình quan lại. Thời vua Đường Huyền Tông là thời kỳ Lý Lâm Phố và Dương Quốc Trung lộng quyền trong triều, do địa vị xã hội thấp hèn và trải qua sự rèn đúc của cuộc đời nghèo khổ, Đỗ Phủ đã thấy rõ bộ mặt bất công của xã hội, trong thơ ông đã dũng cảm vạch trần sự tàn bạo và cuộc sống xa xỉ của tầng lớp thống trị, đồng thời cũng nhen nhóm trong ông một tấm lòng yêu tổ quốc và đồng tình với cảnh ngộ cơ hàn của nhân dân. "Chu môn tửu nhục thối. Lộ hữu đông tử cốt", đây quả là một sự so sánh rất mạnh mẽ, đã phản ánh sâu sắc tình trạng xã hội xấu xa thời bấy giờ. Thơ của Đỗ Phủ đã ký tải sự hưng suy biến đổi của triều đại, được gọi là Sử Thi. "Binh xa hành" là một bài thơ chính trị phản đối sự hiếu chiến của triều nhà Đường, cũng là bài thơ sớm nhất của Đỗ Phủ lột tả về cuộc sống khổ cực của nhân dân. Còn bài "Thạch hào lại" thì thông qua việc cưỡng bức trưng binh, khiến thân nhân cốt nhục ly tán, nhân dân bị tan cửa nát nhà, đã phản ánh được nỗi thống khổ của nhân dân trong thời kỳ "An Sử chi loạn".

Năm 744 công nguyên, Lý Bạch 44 tuổi được Đường Minh Hoàng tặng vàng rồi cho về quê, ông rời Tràng An lên đường về Đông đô Lạc Dương, vừa vặn lúc này Đỗ Phủ cũng đang chu du tại Lạc Dương, hai nhà thơ vĩ đại này không hẹn mà gặp nhau thật là ý trời sai khiến. Nhà thơ Văn Nhất Đa đã ví cuộc tương ngộ này là một lần va chạm giữa mặt trời và mặt trăng. Hai người thấy nhau như gặp lại bạn cũ. Năm đó họ cùng nhau du ngoạn nước Lương và nước Tống. Năm sau, hai người lại du ngoạn nước Tề và nước Lỗ. Đỗ Phủ viết rằng: "Dư diệc đông mông khách, Liên quân như đệ huynh, Túy miên thu cộng bị, Huề thủ nhật đồng du". Tuy về sau hai người không còn gặp lại nhau nhưng lần gặp mặt của hai nhà văn học tầm cỡ này tại Lạc Dương, đã trở thành một giai thoại trong lịch sử Trung Quốc.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mot Sach đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2024

« Lùi
Ban Siêu Đầu Bút Tòng Nhung. Lão Đang Ích Tráng. Vương Mãng Cải Chế. Chiêu Quân Xuất Tái. Trương Khiên Thông Tây Vực. Vệ Thanh Và Hoắc Khứ Bệnh. Phi Tướng Quân Lý Quảng. Lã Hậu Chi Loạn. Tiêu Tào Lưỡng Tướng Quốc. Bá Vương Biệt Cơ. Tiêu Hà Đêm Trăng Đuổi Hàn Tín. Hồng Môn Yến Kinh Hồn Bạt Vía. Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Trần Thắng Và Ngô Quảng Dựng Cờ Khởi Nghĩa. Tần Thủy Hoàng Thống Nhất Trung Nguyên. Kinh Kha Thích Tần Vương. Kỳ Hóa Khả Cư. Tín Lăng Quân Thiết Phù Cứu Triệu. Mao Toại Tự Tiến. Triệu Quát Chỉ Thượng Đàm Binh. Hoàn Bích Quy Triệu. Khuất Nguyên Ái Quốc Đầu Giang. Trương Nghi, Liên Hoành Tán Liên Minh. Mạnh Thường Quân Dưỡng Khách. Triệu Vũ Linh Vương, Hồ Phục, Kỵ Xạ. Tôn Tẫn - Bàng Quyên Đấu Trí. Thương Ương Nam Môn Lập Mộc. Tam Gia Phân Tấn. Phạm Lãi Và Văn Chủng. Câu Tiễn Nếm Mật Nằm Gai. Khổng Tử Chu Du Liệt Quốc. Ngũ Tử Tư Quy Báo Sở Vương Thù. Sở Trang Vương Nhất Minh Kinh Nhân. Tần Mục Công Tranh Bá. Công Tử Trọng Nhĩ Lưu Vong. Tống Tương Công Ngu Xuẩn. Tề Hằng Công Cửu Hợp Chư Hầu. Quản Bào Chi Giao. Phong Hỏa Hí Chư Hầu. Quốc Nhân Bạo Loạn. Chu Công Phụ Thành Vương. Chu Vũ Vương Phạt Trụ. Chu Văn Vương Phỏng Hiền. Sự Tàn Bạo Vô Đạo Của Vua Trụ. Đệ Nhất Hiền Tướng Y Doãn. Hạ Kiệt Và Thương Thang. Đại Vũ Trị Thủy. Nghiêu Thuấn Nhường Ngôi. Hoàng Đế Chiến Suy Vưu. Hòa Thượng Làm Nguyên Soái. Thành Cát Tư Hãn. Lưu Thủ Đan Tâm Chiếu Hãn Thanh. Tên Giặc Bán Nước Tần Cối. Nhạc Phi Tinh Trung Báo Quốc. Nỗi Nhục Năm Tịnh Khang. Đại Văn Hào Tô Thức. Tư Mã Quang Và "Tư Trị Thông Giám". Vương An Thạch Hiến Pháp. Phạm Trọng Yêm Tâm Ưu Thiên Hạ. Khấu Chuẩn Chống Giặc Liêu. Lý Hậu Chủ Vong Quốc. Bối Tửu Thích Binh Quyền. Trần Kiều Binh Biến. Xung Thiên Đại Tướng Quân Hoàng Sào. Kiêu Tướng Quách Tử Nghi. Dương Quý Phi Thảm Tử Mã Nguy Dịch. An Sử Chi Loạn. Tiên Thơ Và Thánh Thơ. Lý Lâm Phố Khẩu Mật Tâm Xà. Diêu Sùng Và Tống Cảnh. Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên. Sông Chan Can Pu Và Công Chúa Văn Thành. Huyền Trang Tây Du Thỉnh Kinh. Ngụy Chinh - Tấm Gương Của Đế Vương. Quyết Chiến Huyền Võ Môn. Tần Vương Lý Thế Dân. Lý Mật Ngưu Giác Quải Thư. Tùy Thang Vương Du Ngoạn Giang Đô. Trần Hậu Chủ Vong Quốc. Hiếu Văn Đế Cải Chế. Nhà Khoa Học Cổ Đại Tổ Xung Chi. Trận Đánh Phì Thủy. Vương Mãnh Bắt Rận Bàn Việc Thiên Hạ. Vương, Mã Cộng Thiên Hạ. Bát Vương Chi Loạn. "Văn Kê Khởi Vũ, Trung Lưu Kích Tiếp". Thạch Sùng Và Vương Khải So Giàu. Dương Hỗ, Đỗ Dự Diệt Ngô. Tam Quốc Quy Tấn. Cúc Cung Tận Tụy, Tử Nhi Hậu Kỷ. Bảy Lần Bắt Mạnh Hoạch. Trận Xích Bích. Ba Lần Đến Lều Tranh. Trận Chiến Quan Độ. Mượn Danh Thiên Tử Ra Lệnh Cho Thiên Hạ. Vương Doãn Khéo Diệt Đổng Trác. Đổng Trác Chuyên Quyền. Hoàng Cân Quân Khởi Nghĩa (Khởi Nghĩa Khăn Vàng). Sự Kiện "đảng Cố".
Tiến »