Người đàn ông với thân hình vạm vỡ ấy mang trên mình hàng chục vết thương, máu vẫn đang rỉ ra. Thế nhưng, dáng vẻ người ấy vẫn toát lên sự hùng dũng, một khí chất cô tịch, bi tráng cuồn cuộn tỏa ra.
"Đây là cảnh Bá Vương tự vẫn bên sông Ô Giang."
Đôi mắt Tô Cửu lóe lên một tia tinh quang, không kìm được mà thốt lên kinh ngạc.
Bá Vương là ai?
Trong lịch sử Hoa Hạ, có lẽ có rất nhiều hoàng đế mà người đời không nhớ tới, nhưng có một danh nhân lịch sử mà ai cũng phải khắc ghi, cũng giống như cách người ta nhớ đến Tào Tháo, đó chính là Bá Vương Hạng Vũ, một vị cái thế anh hùng đời đời ngưỡng mộ.
Năm 202 trước Công nguyên, Hàn Tín bày thế trận Thập diện mai phục, vây khốn Hạng Vũ tại Cai Hạ. Quân của Hạng Vũ ít, lương thực cũng sắp cạn. Ông muốn dẫn một đội quân phá vòng vây thoát ra ngoài. Thế nhưng, quân Hán và chư hầu đã bao vây quân Sở lớp lớp trùng điệp. Hạng Vũ đánh lui lớp này, lớp khác lại tràn tới; vừa chém giết thoát ra một vòng, lại thấy thêm một vòng nữa; nơi này chưa thoát được, nơi kia quân Hán đã ập tới vây quanh.
Hạng Vũ không thể phá vòng vây, đành phải quay về đại doanh ở Cai Hạ, dặn dò tướng sĩ cẩn thận phòng thủ, chuẩn bị chờ cơ hội xuất chiến.
Đêm hôm đó, Hạng Vũ vào doanh trướng, mày nhíu chặt không buông. Bên cạnh ông có người thiếp yêu tên là Ngu Cơ, thấy ông buồn bã không vui, liền ở bên cạnh rót rượu giải sầu.
Đến canh hai, chỉ nghe tiếng gió tây thổi vù vù, trong tiếng gió còn xen lẫn tiếng hát. Hạng Vũ lắng tai nghe kỹ, tiếng hát truyền ra từ phía doanh trại quân Hán, toàn là những khúc hát của người Sở, người hát cũng thật đông.
Hạng Vũ nghe thấy bốn phía đâu đâu cũng là tiếng hát quân Sở, không khỏi ngẩn người. Ông thất thần nói: "Chẳng lẽ Lưu Bang đã chiếm được Tây Sở rồi sao? Tại sao trong doanh trại quân Hán lại có nhiều người Sở đến thế?"
Hạng Vũ không thể chịu đựng thêm được nữa, liền ngâm lên một khúc ca bi tráng:
"Lực bạt sơn hề khí cái thế,
Thời bất lợi hề chuy bất thệ.
Chuy bất thệ hề khả nại hà,
Ngu hề Ngu hề nại nhược hà?"
Khúc ca này có nghĩa là: "Sức mạnh có thể nhổ bật cả núi, khí phách có thể áp đảo anh hùng thiên hạ, thời vận không may. Ngựa Ô Truy không chịu chạy. Ngựa không chịu chạy thì biết làm sao đây? Ngu Cơ ơi Ngu Cơ, ta biết làm sao với nàng đây?"
Hạng Vũ hát đi hát lại mấy lần, Ngu Cơ cũng hát theo. Bá Vương vừa hát vừa không kìm được rơi lệ. Các tùy tùng bên cạnh cũng đau lòng đến mức không ngẩng đầu lên nổi.
Đêm đó, Hạng Vũ cưỡi ngựa Ô Truy, dẫn theo tám trăm tử đệ binh phá vòng vây quân Hán, ngựa không dừng vó lao đi. Đến lúc trời tờ mờ sáng, quân Hán mới phát hiện Hạng Vũ đã thoát vây, vội vàng phái năm nghìn kỵ binh đuổi theo sát nút. Hạng Vũ chạy một mạch, đến khi vượt qua sông Hoài, người đi theo chỉ còn lại hơn một trăm. Chạy thêm một đoạn nữa thì lạc đường.
Hạng Vũ đến một ngã ba, nhìn thấy một người nông dân, liền hỏi đường đến Bành Thành. Người nông dân đó biết ông là Bá Vương, không muốn chỉ đường, liền lừa ông rằng: "Đi về phía bên trái."
Hạng Vũ cùng hơn một trăm người chạy về phía bên trái, càng chạy càng thấy không ổn, đến cuối cùng chỉ thấy phía trước là một vùng đầm lầy, đến đường đi cũng không còn. Hạng Vũ lúc này mới biết mình bị lừa, vội vàng quay đầu ngựa, vừa thoát khỏi vùng đầm lầy đó thì quân Hán đã đuổi tới nơi.
Hạng Vũ lại chạy về hướng Đông Nam. Trên đường đi, binh sĩ tùy tùng người chết người bị thương. Đến Đông Thành, kiểm lại nhân số, chỉ còn lại hai mươi tám kỵ binh. Thế nhưng, hàng nghìn quân Hán đuổi theo đã vây kín xung quanh.
Hạng Vũ liệu rằng không thể thoát thân, nhưng ông vẫn không chịu khuất phục, nói với các binh sĩ đi theo mình: "Ta khởi binh từ đó đến nay đã tám năm, trải qua hơn bảy mươi trận chiến, chưa từng thua một trận nào, mới có thể trở thành bá vương thiên hạ. Hôm nay bị vây ở đây, đây là trời muốn diệt ta, chứ không phải ta không đánh lại họ!"
Ông chia hai mươi tám người còn lại thành bốn đội, bảo với họ: "Hãy xem ta chém một viên đại tướng của chúng, các ngươi có thể chia làm bốn hướng mà chạy. Mọi người tập hợp dưới chân núi phía Đông."
Nói đoạn, ông gầm lên một tiếng, lao về phía quân Hán. Quân Hán không chống đỡ nổi, tán loạn bỏ chạy, ngay tại chỗ đã bị Hạng Vũ giết chết một viên tướng Hán.
Hạng Vũ đến dưới chân núi phía Đông, bốn đội quân kia cũng đã tề tựu. Hạng Vũ lại chia họ thành ba đội, trấn giữ ba nơi. Quân Hán cũng chia quân làm ba đường, bao vây quân Sở. Hạng Vũ xông pha qua lại, lại giết thêm một viên Đô úy và vài trăm binh sĩ quân Hán. Cuối cùng, ông tập hợp ba đội quân lại, điểm lại nhân số, hai mươi tám kỵ binh chỉ tổn thất hai người.
Hạng Vũ hỏi thuộc hạ: "Các ngươi thấy thế nào?"
Thuộc hạ đều đáp: "Đại vương nói không sai chút nào."
Hạng Vũ phá vòng vây quân Hán, dẫn theo hai mươi sáu người chạy thẳng về phía Nam, đến sông Ô Giang (nay là phía Đông Bắc huyện Hòa, tỉnh An Huy). Vừa lúc đó, đình trưởng bến Ô Giang có một chiếc thuyền nhỏ đang đỗ bên bờ.
Đình trưởng khuyên Hạng Vũ mau chóng vượt sông, nói: "Giang Đông tuy nhỏ, nhưng vẫn có hơn một nghìn dặm đất, hàng chục vạn dân. Đại vương qua sông, vẫn có thể xưng vương ở đó."
Hạng Vũ cười khổ nói: "Ta khởi binh ở quận Cối Kê, dẫn theo tám nghìn tử đệ vượt sông. Đến nay không một ai trở về được, chỉ còn mình ta trở về Giang Đông. Dẫu cho phụ lão Giang Đông có thương xót, tôn ta làm vương, ta còn mặt mũi nào để gặp lại họ nữa."
Ông tặng ngựa Ô Truy cho đình trưởng, cũng bảo các binh sĩ đều xuống ngựa. Ông cùng hai mươi sáu binh sĩ đều cầm đoản đao, giáp lá cà với quân Hán đuổi tới. Họ giết được vài trăm quân Hán, quân Sở cũng từng người ngã xuống. Hạng Vũ bị hơn chục vết thương, cuối cùng rút kiếm tự sát bên bờ sông Ô Giang.
Cảnh tượng mà Tô Cửu nhìn thấy, chính là điển tích Bá Vương tự vẫn bên sông Ô Giang.
Ảo ảnh do "Kính hoa thủy nguyệt" hiện ra trước mắt chính là điển tích này.
Tô Cửu nheo mắt, lặng lẽ nhìn mọi chuyện từ từ diễn ra, cho đến tận cùng, Hạng Vũ tự sát, quỳ gục bên bờ sông Ô Giang.
Ảo ảnh "Kính hoa thủy nguyệt" mới kết thúc.
Khung cảnh xung quanh lại trở về trạng thái ban đầu, tấm bia đá khổng lồ sừng sững trước mặt, bốn chữ "Cái thế anh hùng" tỏa sáng chói lòa như một ngọn đèn lớn.
Tô Cửu thở dài đầy cảm thán, trong lòng thoáng chấn động, lẩm bẩm tự nói:
"Cái thế anh hùng, quả thực đúng là như vậy."
Cảm thán một lúc, Tô Cửu mới hoàn hồn.
Những nghi vấn trong lòng cũng bắt đầu nảy sinh.
Bá Vương là ai? Đó chính là vị chiến tướng nghìn năm có một!
Một đời Hạng Vũ, kẻ có sức mạnh nhổ bật núi non, khí phách áp đảo cái thế.
Việc ông chết bên sông Ô Giang là không sai, thế nhưng, tại sao mộ phần của ông lại xuất hiện ở Âm gian?
Hơn nữa, trên tấm bia mộ này lại có mật thuật "Kính hoa thủy nguyệt"?
Tô Cửu hiểu rõ, Hạng Vũ này chỉ là một tu sĩ, không phải phong thủy sư, sức chiến đấu vô cùng kinh người, nhưng mộ bia của ông lại có sự tồn tại của mật thuật "Kính hoa thủy nguyệt".
Phải biết rằng, muốn thi triển mật thuật "Kính hoa thủy nguyệt", ít nhất phải đạt đến cảnh giới Phong thủy Quốc sư.
Nếu có một vị Phong thủy Quốc sư hỗ trợ, Hạng Vũ không thể nào thất bại được.
Hơn nữa, theo ghi chép trong lịch sử, bên cạnh Hạng Vũ cũng không có bất kỳ ai có khả năng là Quốc sư.
Tất cả những điều này, Tô Cửu cảm thấy có chút quỷ dị.
Chẳng lẽ là... (Còn tiếp)