Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Lượt đọc: 852 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 14 -

Tôi tỉnh dậy, trời đã tối om. Tôi thấy mình ở trong nhà kho, đầu tựa vào chiếc máy hút bụi, phía trên là mấy tấm áo khoác, sau lưng là giày và ủng. Tôi đứng dậy, đi ra hành lang. Ông cụ Maroc đang ngáy to, và khi đi qua phòng ông, tôi thấy chiếc đồng hồ bằng đồng đang treo trên tay nắm cửa. Tôi lại gần nhìn những đường khắc hoa lá trên phần nắp, và mặt đồng hồ khảm xà cừ, mặt dưới khắc hai chữ AL. Kim đồng hồ đã dừng ở bốn giờ. Cửa phòng Diomande mở toang. Cậu cũng đang ngủ, chăn đắp qua loa trên người. Tôi khẽ bước vào căn phòng tối, đặt tay lên lưng cậu, nghĩ rằng sẽ cảm nhận được đôi cánh ấy, cảm nhận được những cục u gồ lên trên làn da sậm màu, vậy nhưng tôi lại thấy những đường hằn trên làn da thô ráp, những vết sẹo lồi to chạy dọc xương dẹt như những vết sẹo bỏng. Nước mắt tôi trào lên nhưng tôi cố kìm lại. Tôi nghĩ về cậu thanh niên đang nằm ngủ ấy, bao ước mơ và hy vọng như vậy.

Cậu bỗng thở dài và xoay người. “Mẹ ơi,” cậu nói mơ.

“Tôi là Nuri,” tôi thì thầm. “Cửa phòng cậu mở, chăn bị rơi, tôi nghĩ có khi cậu thấy lạnh.”

Tôi kéo chăn lên, tém chăn cho cậu như cho một đứa trẻ. Cậu lại lầm bầm nói mơ mấy câu rồi ngủ thiếp đi.

Tôi xuống nhà, mở cánh cửa kính và bước vào khoảng sân ngập ánh trăng. Chiếc đèn cảm ứng bật sáng. Con ong kia đang ngủ trên một bông bồ công anh. Tôi khẽ vuốt nó, thật khẽ vì sợ làm phiền nó. Tôi không ngờ nó đã sống sót được trong khu vườn này, biến khu vườn này thành nhà của nó. Tôi ngắm nó ngủ giữa những bông hoa với cốc nước đường của nó đặt bên cạnh. Nó đã học được cách sống khi thiếu đi đôi cánh.

Tôi biết Mohammed sẽ không đến nữa. Tôi hiểu chính tôi là người đã tạo ra thằng bé. Nhưng khi gió bỗng thổi tới lao xao vòm lá và hơi lạnh trong không khí thấm vào da thịt, tôi tưởng tượng dáng vẻ bé nhỏ ấy đứng giữa những bóng cây trong vườn. Ký ức về thằng bé sẽ sống mãi, như thể bằng cách nào đó, ở góc khuất xa trong trái tim tôi, thằng bé đã có một cuộc đời riêng, một sinh mệnh riêng. Và nghĩ đến đây, tôi nhận ra, đó là Sami, là hình ảnh của con luôn tràn ngập trong tâm trí tôi. Tôi nhớ mình đưa con đi ngủ, trong căn phòng lát gạch xanh đó, ngồi bên giường đọc cho con nghe cuốn truyện tôi mua được ở khu chợ. Hai mắt con sáng bừng, đầy hào hứng. Tôi vừa đọc vừa dịch cho con nghe, từ tiếng Anh sang tiếng Ả Rập.

“Ai lại đi xây một ngôi nhà bằng rơm chứ?” Thằng bé cười vui vẻ. “Con thì con sẽ dùng thép, loại thép cứng nhất thế giới, cái loại mà họ làm tàu vũ trụ ấy bố!” Sami của tôi thích ngắm sao và kể chuyện như thế.

Chiếc đèn cảm ứng đã tắt. Tôi ngồi trong bóng tối và ngước nhìn trời đêm. Giờ đây tôi chỉ còn lại ký ức. Gió thổi tới đem theo hương của biển. Lá trên cây xào xạc và tôi lại gặp con lần nữa, trong tâm trí mình, Sami đang chơi dưới cái cây trong khu vườn, trong ngôi nhà bên sườn đồi, đặt mấy con giun vào thùng xe của chiếc xe tải đồ chơi để con kéo chúng đi.

“Con đang làm gì thế Sami?” Tôi nói với con. “Con định đưa các bạn ấy đi đâu?”

“Các bạn ấy không có chân bố ơi, con đang giúp các bạn ấy mà. Con sẽ đưa các bạn ấy tới tận mặt trăng!”

Mặt trăng đêm nay sáng tròn vành vạnh trên trời đêm xanh thẳm.

Tôi quay về phòng. Afra đang ngủ, hai tay úp lại kê sát mái đầu. Trên chiếc bàn bên tủ đầu giường là một bức tranh khác. Tôi cầm lên xem và lồng ngực bỗng nghẹn lại. Em vẽ cây anh đào dưới sân kia, với cành lá khẳng khiu và những cánh hoa màu hồng phớt. Màu đã đúng, đường nét và dáng vẻ đã bớt lộn xộn. Trời sáng và xanh cùng mấy gợn mây và đàn chim trắng. Nhưng bên dưới tán cây là một hình phác mờ xám, gần như không thể nhìn rõ: những đường nét mềm mại vẽ dáng vẻ của một cậu bé, nét chì mỏng và nhanh khiến cậu bé trông thật sống động hoạt bát. Cậu là một phần của thế giới này nhưng không hẳn còn ở lại trong nó nữa. Có một nét đỏ mờ trên chiếc áo của cậu bé, chỗ Afra đã bắt đầu tô màu đỏ nhưng rồi dừng lại. Dù chỉ là một hình ảnh hư ảo, cậu bé vẫn rõ ràng với tôi. Gương mặt của cậu bé đang hướng lên bầu trời.

Tôi lên giường nằm bên em, nhìn em nằm nghiêng về phía tôi, đường nét cơ thể mềm mại khiến tôi nhớ tới vẻ lung linh của những tòa nhà dưới nắng sớm. Tôi vươn tay chạm vào em, lần đầu tiên sau bấy lâu. Cánh tay em, vòng eo em. Tôi chạm khẽ như thể em là tấm kính mong manh nhất, có thể vỡ vụn dưới tay tôi bất cứ lúc nào; và dù ngủ say, em vẫn vô thức thở dài và ghé sát vào lồng ngực tôi. Tôi bỗng nhận ra mình đã từng rất sợ chạm vào em.

Mặt trời ló dạng. Khuôn mặt em dưới ánh sáng ban mai thật xinh đẹp. Đôi mắt với đường mi thanh tú, chiếc cằm nhỏ nhắn, mái tóc đen buông dài, cần cổ mảnh mai, làn da mềm mại. Nhưng rồi tôi nghĩ tới cảnh gã ta ở trên người em, cưỡng ép em. Ánh mắt em khi ấy, nỗi sợ hãi và tiếng thét câm lặng của em khi ấy, bàn tay bịt miệng em khi ấy. Tôi nghĩ tới chiếc chìa khóa tôi đã để quên trên bàn ở căn hộ của gã. Tôi nghĩ tới việc mình cứ tiếp tục lái xe đi khắp Athens mà không chịu quay lại. Tôi run rẩy. Tôi vùng vẫy, cố đẩy nó ra khỏi đầu. Tôi nhận ra mình đã quên mất rằng tôi yêu em biết bao. Cơ thể em đây, khuôn mặt em đây, làn da em đây, vết thương trên má em nữa, chúng đều như những con đường. Những con đường dẫn tới trái tim em. Những con đường chúng tôi đã chọn.

“Afra,” tôi thì thầm.

Em thở dài, khẽ mở mắt ra.

“Anh xin lỗi.”

“Vì chuyện gì?”

“Anh xin lỗi, anh đã để quên chiếc chìa khóa.”

Em không nói gì, chỉ vòng tay ôm lấy tôi, để tôi ngửi thấy hương hoa hồng quen thuộc, để tôi biết em đang khóc trong vòng tay mình.

Tôi khẽ dịch người về sau để nhìn em, nỗi buồn và kỷ niệm, tình yêu và mất mát, tất cả đều đang tràn ngập trong đôi mắt em. Tôi hôn lên những giọt nước mắt của em, nếm chúng, nuốt chúng, nhận lấy tất cả những gì em đã nhìn thấy bằng đôi mắt ấy.

“Anh đã quên mất chúng ta,” em nói.

“Anh biết.”

Tôi hôn lên khuôn mặt em, hôn từng đường nét, từng vết sẹo, hôn mọi điều em đã nhìn thấy, đã mang theo, đã cảm nhận. Tôi gối đầu lên bụng em, em đặt tay lên đầu tôi và vuốt tóc tôi.

“Có lẽ chúng ta có thể có một đứa con nữa,” tôi nói, “một ngày nào đó. Chúng không phải Sami, nhưng chúng ta sẽ kể cho các con nghe mọi điều về anh nó.”

“Anh sẽ không quên con chứ?” Em nói.

Em im lặng. Tôi cảm nhận được cả nhịp tim của em.

“Em có nhớ con thích chơi trong vườn đến thế nào không?” Tôi nói.

“Tất nhiên em nhớ chứ.”

“Rồi con thích để giun vào cái xe tải đồ chơi và thực sự tin rằng lũ giun sẽ đi đâu đó?”

Em bật cười, tôi cũng cười theo. Tôi nghe tiếng cười của em vang lên từ trái tim, lanh lảnh như tiếng những đồng xu đang rơi.

“Lúc anh mua cho con tấm bản đồ thế giới, thằng bé lấy mấy viên đá và giả vờ đó là một gia đình, rồi đưa họ đi khỏi Syria. Con đã xem anh Mustafa và anh lên kế hoạch hành trình đi toàn cầu.”

“Và thằng bé còn không biết làm thế nào để đưa mấy viên đá đó qua vùng nước. Khổ, sao cứ sợ nước mãi thế không biết,” em nói.

“Nó còn sợ phải cúi xuống gội đầu nữa ấy chứ,” tôi đáp.

“Cứ đến giờ anh sắp đi làm về là thằng bé lại chạy ra cửa sổ ngóng đợi anh…” Mấy tiếng cuối cùng nhỏ dần, em thở khe khẽ, ngủ thiếp đi. Thế giới của em dịu lại, êm đềm như nước.

***

Ngày hôm sau, trời vừa sáng, chuông cửa đã reo. Không có ai ra mở cửa, tiếng chuông càng inh ỏi. Một lúc sau, tôi nghe tiếng bước chân trên chiếu nghỉ, tiếng bước chân của ông lão Maroc. Ông cụ dừng lại ở đầu cầu thang rồi mới đi xuống, ván sàn cọt kẹt theo từng bước đi. Cửa mở ra, tiếng nói chuyện lao xao. Giọng đàn ông trầm thấp. Tôi ra đầu cầu thang, nghe thấy tên mình, cả họ và tên, to và rõ.

“Nuri Ibrahim. Tôi đến gặp Nuri Ibrahim.”

Vẫn mặc đồ ngủ và còn chưa kịp đi dép, tôi chạy xuống nhà. Đang đứng đằng kia, giữa ánh nắng buổi sớm rực rỡ tưng bừng, là anh tôi, Mustafa. Một loạt hình ảnh lướt nhanh trước mắt tôi: ngôi nhà ở trên núi của cha anh, những miếng bánh mì nóng hổi được ông của anh phết mật ong, con đường dẫn vào rừng nơi bầy ong lấy mật hoa, bàn thờ mẹ anh trong nhà cùng nụ cuời rạng rỡ của bà, chúng tôi đứng giữa vườn ong cho chúng bay quanh mình, gương mặt buồn bã và cơ thể tiều tụy của cha tôi, mẹ tôi cùng chiếc quạt lụa đỏ – nhân duyên là điều kỳ diệu khiến hai cuộc đời giao nhau – vườn ong của chúng tôi trải rộng mênh mông dưới ánh mặt trời, những người công nhân đang đốt tổ, những bữa ăn trong lán trại… Tất cả chớp nhoáng cuồn cuộn trước mắt tôi như thể tôi chỉ còn một hơi thở cuối cùng.

“Nuri,” anh chỉ gọi vậy, giọng đã run rẩy. Và đến lúc đó, không thể kìm nén được nữa, tôi bật khóc. Tôi nghĩ chắc mình sẽ cứ khóc mãi, và tôi cảm thấy anh Mustafa đang bước về phía tôi, đặt tay lên vai tôi. Một cái bóp vai thật chặt. Anh ôm chầm lấy tôi, mang theo mùi hương của một nơi chốn xa lạ.

“Anh biết em sẽ tới. Anh biết em sẽ tới.”

Rồi anh buông tôi ra, bước lùi lại và qua tầm nhìn đã mờ đi vì nước mắt của mình, tôi cũng thấy anh rơm rớm. Nước da anh đã xanh hơn, gương mặt già hơn, nếp nhăn quanh mắt và miệng đã sâu hơn, tóc đã bạc hơn. Hai anh em tôi đứng đó, tơi tả vì biến động cuộc đời, cuối cùng cũng được đoàn tụ nơi tha hương. Ông lão Maroc đứng bên cạnh chúng tôi, quan sát cảnh này. Giờ tôi mới để ý đến ông. Ánh mắt ông buồn bã, hai bàn tay cứ đan vào nhau như thể ông không biết làm gì khác.

“Cậu uống cốc trà nhé?” Ông nói bằng tiếng Ả Rập. “Cậu từ đâu đến đây? Chắc cậu phải đi một quãng đường dài rồi.”

“Cháu đi từ Yorkshire,” anh tôi đáp, “mạn phía bắc bác ạ. Cháu bắt chuyến xe đêm, nhưng cũng không hề gì, cháu từng đi quãng đường xa hơn thế nhiều.”

Tôi dẫn anh Mustafa vào phòng khách. Chúng tôi ngồi yên lặng một hồi. Mustafa ngồi trên ghế bành, tôi ngồi trên xô pha. Anh nhìn ra khu vườn, rồi quay lại nhìn tôi. Anh định nói gì đó, nhưng cuối cùng lại im lặng, tới khi cả hai chúng tôi cùng nói.

“Em thế nào rồi, Nuri? Em sẽ đến chỗ anh chứ, phải không?” Anh lo lắng hỏi tôi.

“Vâng, tất nhiên rồi anh.”

“Anh không thể làm một mình được. Việc này không giống trước.”

“Nếu em đã đến được đây, thì em cũng sẽ đến được Yorkshire,” tôi trấn an anh.

“Em biết chuyện khi nào? Chuyện em thấy mình không ổn ấy. Em đã viết trong thư cho anh như vậy.”

Đúng lúc đó, phía cầu thang truyền tới tiếng bước chân. Afra đến, đứng bất động ở ngưỡng cửa. Đôi mắt anh Mustafa sáng lên, anh đứng dậy, đầu tiên là cầm lấy tay em và sau đó ôm lấy em thật lâu. Tôi nghe tiếng em khẽ thở phào nhẹ nhõm, như thể Mustafa đến đã nhấc đi một tảng đá trong trái tim em.

Hôm nay trời ấm, nên chúng tôi cùng nhau ra sân.

“Em thấy được sắc xanh của cây rồi,” Afra nói, hai mắt cũng cười. “Đằng kia,” em chỉ vào đám cây thạch nam bên hàng rào. “Em thấy màu hồng loáng thoáng nữa. Nhiều lúc hình ảnh cũng rõ hơn nhiều.”

Mustafa rất mừng. Tôi chỉ không sao phản ứng giống anh được. Ông lão Maroc đem trà ra và Mustafa kể cho chúng tôi nghe về bầy ong của anh.

“Afra,” anh nói. “Em sẽ thích ở đó. Dahab và Aya đều đang đợi em. Có rất nhiều hoa, thạch nam và oải hương trồng thành từng cánh đồng. Lũ ong cũng lấy mật từ vườn nhà, ruộng và những khoảnh đất dọc đường tàu. Em phải thấy chúng rực rỡ thế nào. Anh sẽ dẫn em đi, khi trời ấm lên, và anh sẽ chỉ cho em lối bay của những con ong. Và bọn anh còn tìm được một cửa hàng bán bánh halva[14] và baklava nữa!” Vẫn giọng nói đầy niềm vui trẻ thơ ấy, nhưng tôi vẫn nhận ra đâu đó sự tuyệt vọng. Tôi hiểu anh chứ. Thực ra điều anh đang muốn nói là: Câu chuyện đến hồi kết rồi, trái tim sẽ không thể chịu đựng thêm bất kỳ mất mát nào nữa.

Anh châm một điếu thuốc, vừa hút vừa kể chúng tôi nghe về những nhóm anh hướng dẫn, những học trò của anh, và hiệp hội của những người nuôi ong.

“Em đến thì Nuri sẽ giúp anh với mấy nhóm anh đang hướng dẫn. Bọn anh sẽ tách đàn và gây đàn mới.” Anh vừa nói vừa liếc nhìn sang tôi, tay phác ra bức tranh anh vừa kể. Anh muốn cho tôi điều gì đó để hy vọng, tôi biết. Mustafa luôn cho tôi hy vọng.

Tôi đứng sát cánh cửa kính, cách xa họ một chút, quan sát hai người và nghĩ về cậu bé chưa từng tồn tại kia, cậu bé lấp đi khoảng trống Sami để lại. Đôi khi chúng ta tự tạo được những ảo ảnh thật kỳ diệu. Có như vậy, chúng ta mới không bị lạc trong bóng tối.

“Sẽ có một ngày,” tôi nghe Mustafa nói, “sẽ có một ngày chúng ta trở lại Aleppo, xây lại vườn ong và hồi sinh bầy ong.”

Gương mặt của Afra đưa tôi về với thực tại. Em đứng giữa khoảnh vườn nhỏ xíu này như em đã đứng cạnh Mustafa trong sân nhà chúng tôi ở Aleppo. Đôi mắt em dâng đầy nỗi buồn và hy vọng, bóng tối và ánh sáng.

Em đang tìm kiếm gì đó. Giữa những bông hoa anh đào đang nở rộ, ba con chim đầu rìu đậu trên cùng một cành, ngó nghiêng xung quanh trong bộ lông lộng lẫy, chiếc mỏ đặc trưng và đôi cánh vằn của nó. Chúng cũng từ phía đông mà bay qua biển rộng tới tá túc ở đây.

“Anh thấy chúng không?” Tôi nghe em nói. “Chúng tới tìm chúng ta kìa.”

Chúng tôi cùng lúc ngước nhìn. Ba chú chim liền sải cánh và bay tới mảng trời vẹn nguyên cao rộng.

« Lùi
Tiến »