Hasan–i Sabbah sinh ra tại Qumm, một trong những trung tâm định cư Ả-rập tại Ba tư và là một căn cứ của phái Shi’a 12 Imam. Bố ông, là tín đồ của giáo phái này, gốc vùng Kufa (Iraq), nhưng có người lại nói rằng ông vốn là dân xứ Yemen - và kỳ dị hơn nữa, là hậu duệ của các vua dòng Himyaritic ở miền đông bán đảo Ả-rập. Không biết rõ ngày sinh, nhưng có lẽ vào khoảng giữa thế kỷ 11. Khi còn bé, cha ông dời đến Rayy – là Tehran ngày nay - và chính tại đây Hasan theo đuổi sự nghiệp học tập về tôn giáo của mình. Rayy từ lâu đã là một trung tâm hoạt động của các da’i kể từ thế kỷ thứ 9, và cũng không mấy chốc Hasan bắt đầu cảm nhận ảnh hưởng của các vị này. Trong một đoạn tiểu sử được các sử gia về sau gìn giữ, ông ta tự kể như sau:
'Hồi còn bé, khi được 7 tuổi, ta thích học nhiều thứ, và muốn trở thành một nhà nghiên cứu tôn giáo; đến 17 tuổi ta tìm tòi và khao khát kiến thức, nhưng vẫn trung thành với giáo lý phái 12 Imam của tổ tiên.
‘Một ngày nọ, ta gặp một đồng đạo (Rafiq, theo cách gọi của các tín đồ Ismaili) tên là Amira Zarrab, ông này đôi lúc diễn giải giáo lý của các Caliph Ai cập... như những người khác trước ông ta đã từng làm...
‘Chưa bao giờ ta nghi ngờ hoặc thay đổi về đức tin của ta đối với Hồi giáo; ta luôn tin rằng có một Thượng đế luôn sống động, kiên trì, đầy quyền lực, nghe hết, thấy hết, một đấng tiên tri và một Imam, những điều được phép, những điều cấm, thiên đàng và địa ngục, lời răn dạy và sự cấm đoán. Ta cho rằng tôn giáo và giáo lý bao gồm những điều mà mọi người nói chung và người theo phái Shi’a nói riêng, đều có và trong đầu ta chưa bao giờ có ý nghĩ là phải tìm sự thật ngoài Hồi giáo. Ta nghĩ rằng các giáo lý của Hồi giáo chính là triết học (một từ bị người mộ đạo lạm dụng), và người cai trị là một người làm ra triết lý.
‘Amira Zarrab là một người tốt tính. Khi chuyện trò với ta lần đầu, ông ta nói: “Người Ismaili nói như thế này, thế này”. Ta bảo: “Này ông bạn, đừng nói theo lời của họ, bởi vì họ là những người bị ruồng bỏ, những điều họ nói đều chống lại tôn giáo”. Bọn ta thảo luận, tranh cãi, ông ta bác bỏ và làm cho ta mất lòng tin. Ta không thừa nhận điều này với ông ta, nhưng trong lòng ta có sự chuyển biến mạnh... Amira nói với ta “khi suy nghĩ những lời tôi nói trước khi ngủ, bạn sẽ thấy những điều tôi nói là đúng”.’
Sau này, Hasan và người hướng dẫn chia tay nhau, nhưng chàng thanh niên tiếp tục sự tìm kiếm của mình, và khi đọc các sách của phái Ismaili, chàng ta tìm được một số điều thuyết phục được mình, còn một số điều khác lại làm cho anh ta thất vọng. Một cơn bệnh nặng đã làm cho ông ta thay đổi hoàn toàn. “Ta nghĩ: chắc chắn đây là niềm tin thực sự, và bởi vì ta quá sợ cho nên ta không tìm ra điều này. Nay số mạng của ta sắp hết, và ta sẽ chết mà không đạt được chân lý”.
Hasan đã không chết, và khi hồi phục, ông ta đi tìm một đạo sư Ismaili khác, để hoàn tất việc học hỏi. Bước kế tiếp của ông ta là lập thệ trung thành với Imam dòng Fatimid; người đứng ra làm lễ là một thầy truyền đạo được phép của Abd al-Malik Ibn Attash, là thủ lãnh của sứ đoàn truyền đạo (da’wa) Ismaili tại miền tây Ba tư và Iraq. Chẳng bao lâu sau đó, vào tháng 5-6 năm 1072, đích thân thủ lãnh đến thăm Rayy, và gặp kẻ tân tòng. Ông này chấp nhận Hasan và cử ông ta tham gia đoàn da’wa, ra lệnh cho Hasan đến Cairo và có mặt tại triều đình Caliph - tức là trình diện trước cơ quan đầu não.
Thực ra, nhiều năm sau đó Hasan mới tới Ai cập. Có một câu chuyện liên quan đến nhiều tác giả người Ba tư, và được Edward Fitzgerald giới thiệu cho độc giả châu Âu trong lời nói đầu cho bản dịch tập thơ Rubaiyat, ngụ ý đưa ra một thông tin về các biến cố khiến Hasan phải ra đi. Theo câu chuyện này, thì Hasan-i Sabbah, nhà thơ Omar Khayyam, và vizier Nizam al-Mulk đều là bạn, học cùng một sư phụ. Họ cam kết là trong ba người ai thành công sớm thì sẽ giúp đỡ hai bạn kia. Nizam al-Mulk sau này trở thành vizier của Sultan, và khi đó hai người bạn nhắc đến lời cam kết xưa. Cả hai được đề nghị giữ chức thủ hiến (governorship), nhưng cả hai đều từ chối vì nhiều lý do khác nhau. Omar Khayyam ghét những trách nhiệm ở công đường, chỉ muốn nhận một khoản trợ cấp để hưởng thú nhàn hạ; Hasan lại không muốn chết đời làm một viên chức tỉnh lẻ, muốn tìm chức quan cao tại triều đình. Với mong muốn này, chẳng bao lâu Hasan dòm ngó chức vizier và trở thành đối thủ của chính Nizam. Vì thế, vị vizier lập mưu để làm giảm uy tín của Hasan trước mặt Sultan. Xấu hổ và đầy căm giận, Hasan bỏ trốn sang Ai cập để tìm cách báo thù.
Câu chuyện có một số điểm nghịch lý. Nizam al-Mulk sinh ra muộn nhất cũng vào năm 1020 và bị giết năm 1092. Omar Khayyam sinh vào năm 1048 và chết vào năm 1131. Còn ngày sinh của Hasan thì không rõ, nhưng chết vào năm 1124. Những năm tháng như thế khó có thể làm cho ba nhân vật trở nên bạn đồng học được, và nhiều tác giả hiện nay đều coi như đây là một câu chuyện được thêm thắt. Có một số sử gia đưa ra một cách giải thích khác về việc ra đi của Hasan, theo những người này thì Hasan va chạm với giới cầm quyền tại Rayy, họ tố cáo Hasan một mặt đã che chở cho các điệp viên người Ai cập và một mặt lại chính là một tay kích động nguy hiểm. Để tránh bị bắt, Hasan trốn ra khỏi thành phố, và sau nhiều gian nan mới tới được Ai cập.
Theo tiểu sử, Hasan rời Rayy vào năm 1076 và đi đến Isfahan. Từ đây, ông ta ngược lên hướng bắc đến Azerbayjan, rồi từ đó đến Mayyfariqin, tại đây ông ta bị vị Qadi đuổi ra khỏi thành phố vì khăng khăng cho rằng chỉ có Imam mới có quyền giải thích về tôn giáo, tức là gạt bỏ thẩm quyền của các thầy giảng (Ulema) dòng Sunni. Tiếp tục đi về miền Lưỡng hà và Syria, Hasan đến được Damascus, tại đây ông ta mới biết là không thể đến Ai- cập bằng đường bộ vì hiện có tranh chấp quân sự. Vì thế, ông ta quay về phía tây ra phía biển và từ Beirut đáp thuyền đi về hướng nam, đi từ Palestine đến Ai cập. Hasan đến Cairo vào ngày 30 tháng 8 năm 1078, được các quan chức cao cấp triều đình Fatimid đón tiếp.
Hasan-i Sabbah lưu lại Ai cập khoảng ba năm, lúc đầu tại Cairo, sau đó đến Alexandria. Theo một số tài liệu, ông ta xung đột với Badr al-Jamali, chỉ huy quân sự ở đây, bởi vì Hasan ủng hộ Nizar, cho nên bị bắt giam và sau đó bị trục xuất khỏi Ai cập. Lý do gán cho cuộc xung đột chắc hẳn chỉ là tô vẽ thêm, bởi vì sự tranh cãi về việc ly khai lúc này chưa xảy ra, nhưng sự va chạm giữa một nhà cách mạng sôi nổi và một tay độc tài quân sự là điều chắc chắn.
Từ Ai cập, Hasan bị tống khứ sang Bắc Phi, nhưng chiếc tàu của người Frank chở khách lại bị đắm, và ông ta được cứu sống, rồi được mang sang Syria. Vượt qua Aleppo và Baghdad, Hasan đến được Isfahan vào ngày 10 tháng 6 năm 1081. Trong vòng 9 năm sau đó, ông ta xuôi ngược khắp xứ Ba tư thực hiện nhiệm vụ do da’wa giao. Trong một đoạn tiểu sử, ông ta kể lại những hành trình đó như sau: “Từ nơi đó (tức là từ Isfahan), ta đi đến Kerman và Yazid, và thực hiện việc giảng đạo tại đây một thời gian”. Từ miền trung Iran, Hasan trở về Isfahan, và rồi quay về phương nam, trú ba tháng tại Khuzistan, là nơi ông ta đã từng đến trên đường quay về từ Ai cập.
Hasan bắt đầu chú ý nhiều đến vùng phía bắc xa xôi của Ba tư - tức là những tỉnh Gilan và Mazandran quanh Lý hải, và nhất là vùng núi Daylam. Những vùng đất này, nằm về phía bắc của dãy núi bao quanh bình nguyên Ba tư rộng lớn, có hình thể khác hẳn với những phần còn lại của đất nước Ba tư, là nơi cư trú của một nhóm người độc lập, gan góc, ưa đánh nhau; từ lâu đã bị người Iran vùng đồng bằng cho là người không cùng chủng tộc, rất đáng sợ. Từ thời xa xưa, các nhà lãnh đạo Iran chưa bao giờ kiểm soát họ thực sự, và ngay đến dòng Sasanid cũng nhận thấy cần thiết phải lập ra các pháo đài vùng biên địa để phòng thủ chống sự xâm lấn của họ. Những người Ả-rập chinh phục Iran có đi xa hơn một chút. Người ta nói rằng khi lãnh tụ người Ả-rập tên là al-Hajjaj sắp tấn công vùng Daylam, ông này cho mang ra một tấm bản đồ, trong đó ghi rõ núi non, thung lũng và các đèo, rồi chỉ cho sứ giả người Daylam, bảo họ nên đầu hàng trước khi ông ta mang quân đến tấn công và tàn phá xứ sở của họ. Nhóm người Daylam nhìn vào bản đồ, và nói: “đúng là bọn họ báo cho ngài biết rõ về đất nước chúng tôi, nhưng tấm bản đồ này không chỉ ra được các chiến binh bảo vệ vùng rừng núi và các đèo. Ngài sẽ biết đến họ nếu ngài muốn thử”. Về sau, Daylam theo đạo Hồi - do sự thâm nhập hòa bình hơn là do chinh phục.
Tuy là người quy phục đạo Hồi muộn, nhưng người Daylam lại là những người đầu tiên khẳng định tính cá biệt trong tôn giáo này - về mặt chính trị, qua sự xuất hiện của các triều đại độc lập, về mặt tôn giáo, qua sự nhìn nhận những tín điều không chính thống. Từ cuối thế kỷ thứ 8 trở đi, khi các con cháu của Ali, trốn tránh sự săn lùng của dòng Abbasid, đã tìm được nơi trú ngụ và che chở ở đây, thì Daylam đã trở thành một trung tâm hoạt động của phái Shi’a, hết lòng bảo vệ nền độc lập của họ chống lại các Caliph ở Baghdad và các lãnh đạo phái Sunni. Trong suốt thế kỷ thứ 10, qua họ Buyid, người Daylam thậm chí còn xây dựng được thế lực hầu như khắp xứ Ba tư và Iraq, và có lúc các Caliph còn nằm trong tay của họ nữa. Sự xuất hiện của người Seljuq đã kết liễu sự cai trị của người Daylam và Shi’a trong đế quốc, và tạo khó khăn cho chính người Daylam.
Chính từ những người phương bắc này - chủ yếu theo phái Shi’a và đã bị phái Ismaili tuyên truyền xâm nhập từ lâu – mà Hasan-i Sabbah ra sức nhắm tới. Đối với nhóm dân hiếu chiến và bất mãn sống tại vùng rừng núi các tỉnh Daylam và Mazarandan, thì những tín điều quá hiếu chiến của ông ta quả là có sức khêu gợi mạnh mẽ. Tránh không ghé qua các đô thị, Hasan len lỏi qua các sa mạc từ Khuzistan đến miền đông Mazarandan và cuối cùng đóng đô tại Damghan trong vòng ba năm. Từ căn cứ này, ông ta cử các da’i đến làm việc với các nhóm dân miền núi, và chính ông ta cũng di chuyển không hề mệt mỏi đến những nơi ấy để giúp đỡ và hướng dẫn họ. Chẳng bao lâu các hoạt động của ông ta đến tai vizier, vị này ra lệnh cho chính quyền tại Rayy phải bắt lấy ông ta. Nhưng họ không làm được. Tránh Rayy, ông ta cứ theo đường núi đến Qazvin, là căn cứ thuận lợi nhất để tiến hành một chiến dịch tại Daylam.
Trong suốt các chuyến du hành bất tận, Hasan không những chỉ bận tâm tới việc làm sao đưa được nhiều tín đồ theo chính nghĩa, mà còn chú ý tìm kiếm một kiểu căn cứ địa mới – không phải chỉ là một điểm hẹn lén lút tại thành phố lúc nào cũng có nguy cơ bị phát hiện và đánh phá nhưng phải là một căn cứ xa xôi, không thể đến được, từ đó có thể ra tay phát động cuộc chiến chống lại đế quốc Seljuq mà không hề sợ bị trừng phạt. Cuối cùng, ông ta tìm ra pháo đài Alamut được xây trên đỉnh một núi đá, nằm sâu trong rặng Elburz, án ngữ một vùng thung lũng khép kín nhưng trồng trọt được, thung lũng này dài chừng 30 dặm, chỗ rộng nhất đến ba dặm. Nằm chót vót trên mỏm đá 6000 bộ (khoảng 1800 m) so với mực nước biển, lâu đài chỉ có thể đến được qua một con đường hẹp, dốc và ngoằn ngoèo. Muốn tới được mỏm đá phải qua một hẻm núi hẹp tạo bởi dòng sông Alamut, với những vách đá thẳng đứng, và đôi khi chồm ra lơ lửng như mái nhà.
Người ta nói rằng lâu đài này vốn do một trong những vị vua của người Daylam xây nên. Một ngày nọ khi đi ra ngoài săn bắn, con chim đại bàng được dạy để săn của nhà vua được thả ra và đậu trên mỏm đá. Nhà vua thấy được giá trị chiến lược của vị trí và lập tức cho xây trên đó một lâu đài đặt tên là Aluh Amut, theo tiếng Daylam có nghĩa là lời dạy của chim đại bàng. Còn những người khác thì dịch nghĩa Alamut là tổ đại bàng dù ít tính thuyết phục hơn. Lâu đài này được một ông vua dòng Alid xây lại vào năm 860, và khi Hasan đến thì lâu đài được Sultan dòng Seljuq giao lại cho một ông vua dòng Alid tên là Mihdi cai quản.
Việc đánh chiếm lâu đài Alamut được chuẩn bị cẩn thận. Từ Damghan, Hasan phái các da’i đến làm việc tại các làng mạc chung quanh lâu đài Alamut. Rồi “từ Qazvin, ta phái thêm một thầy da’i đến lâu đài Alamut...Trong lâu đài Alamut đã có một số người được thầy da’i này cải đạo và họ cũng cố gắng cải đạo cho Alid. Ông này giả bộ theo ý họ nhưng sau đó lại lập mưu đuổi tất cả những kẻ cải đạo xuống núi và đóng kín mọi cửa nẻo của lâu đài và cho họ biết lâu đài là tài sản của Sultan. Sau nhiều lần thương thảo, Alid cho họ quay trở lại nhưng từ đó họ không thèm nghe lệnh buộc phải xuống núi của ông ta nữa”.
Sau khi các đồ đệ vào lâu đài, Hasan rời Qazvin đến vùng phụ cận Alamut, nhưng vẫn lánh mặt trong một thời gian. Rồi vào ngày thứ 4, ngày 4 tháng 9 năm 1090, ông ta được bí mật đưa vào lâu đài. Ông ta sống dấu mặt ở đây một thời gian, nhưng rồi cuối cùng cũng lộ ra danh tính. Chủ nhân cũ của lâu đài nhận biết sự việc đang xảy ra nhưng không thể làm gì để chận đứng hoặc thay đổi được. Hasan cho phép ông ta ra đi, và theo một truyện kể do các nhà chép biên niên người Ba tư ghi lại, thì Hasan đưa cho ông ta một hối phiếu 3000 đồng dinar vàng, coi như là tiền mua lâu đài.
Hasan–i Sabbah giờ đây trở thành chủ nhân của lâu đài Alamut. Từ khi lọt vào lâu đài cho đến lúc chết 35 năm sau, ông ta chưa bao giờ rời khỏi đỉnh núi, và có hai lần ra khỏi ngôi nhà ông ta ở nhưng cả hai lần đều chỉ đi lên mái nhà. Rashid al-Din kể lại: “Cho đến khi chết, ông ta chỉ ở suốt trong nhà; mải mê đọc sách, viết các bài giảng truyền đạo, xử lý công việc trong lãnh địa, và sống một cuộc đời khổ hạnh, đạm bạc, đầy lòng mộ đạo”.
Lúc đầu, ông ta lo hai nhiệm vụ - truyền đạo và chiếm lĩnh thêm nhiều lâu đài. Từ Alamut, ông ta gửi các sứ giả và gián điệp đi khắp nơi, nhằm hoàn thành hai mục đích đó. Mục tiêu trước mắt là kiểm soát cho được vùng phụ cận chung quanh căn cứ địa, đó là thị trấn Rudbar nằm dọc bờ sông Shah Rud. Trong vùng thung lũng núi non heo hút nhưng phì nhiêu này, lối sống cũ vẫn tồn tại, không hề bị ảnh hưởng bởi những đổi thay đang xảy ra ở tận phương nam. Thực ra Rudbar không phải một thị trấn thực sự, cũng không có một thẩm quyền quân sự hoặc chính trị nào đặt trên cơ sở thị trấn cả. Dân chúng sống trong các làng mạc, và tuân phục giới hào trưởng địa phương sống trong lâu đài. Chính từ các làng mạc và dân chúng ở đây mà nhóm Ismaili tìm ra chỗ dựa. Juvayni kể lại: “Hasan tìm đủ mọi cách để chiếm được các vùng kế cận Alamut. Nơi nào có thể được thì ông ta chiêu dụ bằng mánh lới tuyên truyền, nơi nào không theo lời phủ dụ thì ông ta tàn sát, cướp bóc, cưỡng đoạt, gây đổ máu và chiến tranh để chiếm lấy. Nơi nào có lâu đài thì ông ta đánh chiếm, và khi thấy có mỏm núi nào phù hợp, ông ta cho xây lâu đài trên đó”. Một thành công quan trọng khi tiến chiếm lâu đài Lamasar vào năm 1096 hoặc 1102. Kiya Burzugumid dẫn binh lính chiếm lâu đài này rồi trụ lại ở đó 20 năm. Nằm ở một vị trí chiến lược trên một mỏm đá tròn trông xuống sông Shah Rud, lâu đài này khẳng định quyền lực của nhóm Ismaili trên toàn vùng Rudbar.
Xa mãi về phía đông nam là vùng núi non khô cằn xứ Quhistan, gần biên giới ngày nay giữa Ba tư và Afghanistan. Dân chúng vùng này sống rải rác thành những nhóm khu trú trong các ốc đảo chung quanh tứ phía chỉ toàn là sa mạc muối rộng lớn, thuộc bình nguyên trung tâm. Vào những năm đầu của đạo Hồi, vùng này là một trong những nơi trú ẩn của Bái hỏa giáo (Zoroastra); khi chuyển sang đạo Hồi, nó trở thành một cứ điểm của nhóm Shi’a và những kẻ bất tuân tôn giáo khác, và sau này là nhóm Ismaili. Vào năm 1091-1092, Hasan cử một nhà truyền đạo đến Quhistan để vận động và mở rộng sự ủng hộ của nhóm Ismaili. Ông ta chọn ngay Husayn Qa’ini là một thầy da’i có năng lực đã từng tham gia việc cải đạo tại Alamut và ông ta cũng là người gốc Quhistan. Ông này hoàn thành nhiệm vụ tức tốc. Dân chúng Quhistan đang rên siết dưới ách cai trị của triều đại Seljuq; người ta đồn rằng một viên sĩ quan người Seljuq hống hách tại đây đã làm vấn đề thêm phức tạp khi đòi cưới người em gái của một thủ lãnh người địa phương rất được kính trọng, làm cho ông này phải bỏ trốn sang hàng ngũ Ismaili. Những gì xảy ra tại Quhistan còn hơn là một cuộc nổi dậy bí mật, không những chỉ là việc chiếm lĩnh các lâu đài; người ta cho rằng đó là một cuộc nổi dậy của quần chúng, một phong trào đòi độc lập khỏi sự thống trị quân sự của ngoại bang. Tại nhiều nơi trong tỉnh, người Ismaili công khai nổi dậy, chiếm quyền kiểm soát nhiều thị trấn lớn – Zuzan, Qa’in, Tabas, Tun và nhiều nơi khác. Tại miền đông Quhistan, cũng như tại Rudbar, họ đã thành công tạo dựng nên một một cái gì đó giống như một vùng lãnh thổ quốc gia.
Các khu vực miền núi tạo nên những lợi thế rõ rệt đối với chiến lược bành trướng của phái Ismaili. Một vùng khác cũng giống như thế nằm tại miền Tây nam Ba tư, nằm giữa Khuzistan và Fars. Tại đây cũng có những điều kiện cần thiết cho sự thành công - một vùng đầy những khó khăn, dân chúng phản nghịch và bất mãn, dân tại đây có truyền thống rất trung thành với nhóm Shi’a và Ismaili. Lãnh tụ phái Ismaili tại vùng này là Abu Hamza, vốn là thợ giầy vùng Arrajan, đã từng đến Ai cập rồi quay về trong vai trò thầy giảng da’i dòng Fatimid. Ông này chiếm lấy hai lâu đài, cách Arrajan vài dặm, và lấy đó làm căn cứ cho các hoạt động về sau.
Trong lúc một số người truyền đạo Ismaili chiếm đoạt và củng cố các vị trí quyền lực tại những cứ địa xa xôi, thì những người khác đi tuyên truyền giảng đạo tại các trung tâm chính của phái chính thống Sunni và do triều đại Seljuq cầm quyền. Chính họ là người gây những cuộc đổ máu đầu tiên giữa các bộ hạ Ismaili và nhà cầm quyền triều Seljuq. Vụ xung đột đầu tiên, thậm chí có lẽ trước khi chiếm được lâu đài Alamut, xảy ra tại một thị trấn nhỏ Sava, nằm ở bình nguyên phía bắc không xa Rayy và Qumm. Viên cảnh sát trưởng bắt được một nhóm 18 người Ismaili vì tụ tập riêng để cầu nguyện. Do đây là lần họp hội đầu tiên, cho nên sau khi tra xét họ được thả. Sau đó họ cố cải đạo một thầy rao (muezzin) gốc Sava, và sống tại Isfahan. Ông này cự tuyệt lời chiêu mộ của họ, thế là nhóm Ismaili, do sợ ông ta tố cáo, bèn giết đi. Sử gia Ả-rập tên là Ibn al-Athir cho biết ông ta là nạn nhân đầu tiên bị họ hạ thủ. Tin tức về vụ mưu sát này đến tai vị vizier Nizam al-Mulk, ông này đích thân ra lệnh hành hình kẻ cầm đầu. Người bị kết tội tên là Tahir làm nghề thợ mộc, con của một thầy giảng từng giữ nhiều chức vụ tôn giáo và đã bị một nhóm côn đồ tại Kerman treo cổ vì nghi ngờ thuộc nhóm Ismaili. Tahir bị hành hình, và để răn đe, xác ông ta bị kéo lê khắp chợ. Theo Ibn al-Athir, thì ông này là người Ismaili đầu tiên bị hành quyết.
Vào năm 1092, triều đại Seljuq bắt đầu đưa các biện pháp quân sự đối phó với sự đe dọa của nhóm Ismaili. Malikshak, vị Sutan vĩ đại, hoặc chúa tể tối cao của dòng Seljuq, phái hai cánh quân, một để chống Alamut, một để chống Quhistan. Cả hai đều bị đẩy lùi, cánh thứ nhất là do sự giúp đỡ của dân chúng có cảm tình tại Rudbar và từ Qazvin. Juvayni nêu ra một tài liệu của người Ismaili về chiến thắng này như sau: “Sultan Malikshah, vào đầu năm 495/1092 phái một vị emir (tiểu vương) tên là Arslantash đến để đánh đuổi và diệt tận gốc Hasan–i Sabbah và đồng bọn. Vị emir này đến được Alamut vào ngày một tháng Jumada năm đó (tháng 6-7 năm 1092). Vào thời điểm này, trên Alamut, Hasan-i Sabbah chỉ có vỏn vẹn 60-70 bộ hạ; và không có nhiều lương thực. Họ sống dè sẻn và cố gắng cầm cự với đám quân lính bao vây. Rồi trong đám da’i của Hasan có người tên là Dihdar Bu-Ali, vốn từ Zuvara và Ardistan tới, cư trú tại Qazvin, nơi có một số người là tín đồ cải giáo của ông ta; cũng giống như tại thị trấn Talaqan và Khu-i Bara và thị trấn Rayy, có nhiều người tin vào lời tuyên truyền của Sabbah, tất cả đều trông cậy vào con người có hộ khẩu tại Qazvin. Hasan-i Sabbah bèn nhờ Bu-Ali giúp đỡ, và ông ta khuấy động đám dân tại Kuh-i Bara và Talaqan và mấy nơi khác từ Qazvin gởi khí giới và quân cụ đến. Có khoảng 300 người đến để trợ giúp cho Hasan–i Sabbah. Họ lũ lượt vào lâu đài Alamut và rồi với sự giúp đỡ của quân lính đồn trú và sự hỗ trợ của một số người tại Rudbar cùng với đồng đảng ở bên ngoài lâu đài, vào một đêm cuối tháng Sha’ban của năm đó (tháng 9-10 năm 1092), họ đánh úp quân đội của Arslantash. Như có phép màu, quân đội tháo chạy, bỏ lâu đài Alamut và quay về với Malikshah”. Việc bao vây trung tâm Ismaili tại Quhistan bị hủy bỏ khi có tin Sultan từ trần vào tháng 11 năm 1092.
Trong khi đó nhóm Ismaili đã đạt được thành công lớn đầu tiên trong ngón nghề mang tên của họ - đó là ngón nghề ám sát. Con mồi được chọn là chính vị vizier đầy quyền lực, người đã ra sức “nặn cho hết bọc ung nhọt dấy loạn và cắt bỏ vết nhơ ứ trệ” khiến ông ta trở thành kẻ thù nguy hiểm nhất của họ. Hasan-i Sabbah đưa ra một kế hoạch tỉ mỉ. Rashid al-Din kể lại, theo nguồn tài liệu Ismaili và của ông ta dĩ nhiên có chỉnh sửa, ‘Vị đạo sư của chúng ta đặt ra chông, bẫy cốt để bắt và giết cho cho được con thịt béo như Nizam al–Mulk, nhằm lấy tiếng và tạo uy danh. Với trò lừa gạt và ma mãnh những điều không có thực, đầy những mưu chước xảo quyệt làm cho mụ mị đầu óc, ông ta đã dựng nên nền tảng tổ chức fidā'ī, và ông ta bảo “ai trong các anh sẽ thanh toán kẻ ác Nizam al-Mulk Tusi?” Một người tên là Bu Tahir Arrani đặt tay lên ngực tuân phục và, bằng cách chọn con đường lầm lạc mà ông ta mong sẽ đạt được ơn phước ở đời sau, vào một đêm của ngày thứ 6, ngày 12 tháng Ramadan năm 485 (nhằm ngày 16 tháng 10 năm 1092), tại thị trấn Nihavand nơi có vũ đài Sahna, dưới bộ dạng một tu sĩ phái Sufi, Arrani đến gần chiếc kiệu khiêng Nizam al-Mulk từ nơi thiết triều về lều hậu cung, và rút dao đâm ông này một nhát. Với nhát đâm này, Arrani trở thành kẻ tử đạo. Nizam al-Mulk là người đầu tiên bị đám fida’i giết. Vị Đạo sư của chúng ta đã rất đúng khi dạy, “việc giết tên nanh ác này là bước khởi đầu để đến cảnh cực lạc”.’
Đây là bước đầu của một loạt dài nhiều đợt đột kích như thế, theo đường lối chiến tranh khủng bố có tính toán, đã gieo những cái chết bất ngờ cho nhiều vua chúa, tướng lãnh, thống đốc và thậm chí cả các nhà thần học, là những người đã tố cáo các giáo thuyết của phái Ismaili và cho phép đàn áp những ai rao giảng các giáo thuyết này. Một trong những đối thủ mộ đạo này tuyên bố: “Giết bọn họ còn hợp pháp hơn là uống nước mưa. Các Sultan và vua chúa có nhiệm vụ khống chế và giết bọn chúng, và giữ cho mặt đất thanh sạch không bị bọn chúng làm bẩn. Không được quyền liên minh hoặc liên kết với chúng, không được ăn thịt do chúng giết, không được có quan hệ hôn nhân với chúng. Làm đổ máu một tên theo tà giáo còn đáng tưởng thưởng hơn là giết 70 tên vô đạo Hy lạp”.
Đối với nạn nhân, thì những sát thủ chỉ là bọn cuồng tín tội đồ, nhúng tay vào âm mưu giết người, chống lại tôn giáo và xã hội. Còn đối với nhóm Ismaili, họ là nhóm người ưu tú trong cuộc chiến chống lại kẻ thù của Imam; việc đánh đổ bọn áp bức và thoán đoạt đó là bằng chứng chính yếu chứng minh đức tin và lòng trung thành của họ, họ sẽ được hưởng cảnh cực lạc tức thời và miên viễn. Bản thân nhóm Ismaili dùng từ fidā'ī, có nghĩa là người mộ đạo, để chỉ những tên sát nhân thực sự, và ngày nay người ta còn tìm được một bài thơ của nhóm Ismaili khá thú vị ca tụng lòng can đảm, sự trung thành và lòng mộ đạo quên mình của họ. Trong các sử biên niên của nhóm Ismaili địa phương tại Alamut được Rashid al-Din và Kashani trích dẫn, có một danh sách vinh danh ghi những cuộc ám sát, nêu rõ tên nạn nhân và tên của các đồ tể sùng đạo.
Về hình thức, Ismaili là một tổ chức bí mật, có một hệ thống các lời thề và lễ nhập đạo và một trật tự các thứ bậc và bí quyết nhận ra nhau. Các bí mật được giữ rất chặt, cho nên các thông tin về họ đều manh mún và rối mù. Các nhà luận chiến phái chính thống mô tả nhóm Ismaili như những tay theo chủ nghĩa hư vô đầy mưu chước chuyên lừa dối những kẻ u mê, làm cho họ biến chất qua nhiều giai đoạn tiếp nhau, cuối cùng là họ rất đỗi kinh hoàng khi biết rằng mình không giữ được niềm tin nữa. Các tác giả nhóm Ismaili coi giáo phái này là những người gìn giữ những bí mật thiêng liêng, mà người có lòng tin chỉ biết được sau một quá trình dài chuẩn bị và học hỏi, được ghi nhận qua các đợt khai tâm. Danh từ được sử dụng thường xuyên nhất để chỉ cách tổ chức của giáo phái là da’wa (da’vat theo tiếng Ba tư), có nghĩa là truyền đạo hoặc thuyết giáo; thành viên là da’i hoặc nhà truyền giáo - nghĩa bóng là những người triệu tập tín đồ, hình thành một tầng lớp giống như tu sĩ được thụ phong. Theo những tài liệu của nhóm Ismaili sau này, thì thầy giảng, thầy giáo và người biết kinh sách được chia ra làm nhiều nhóm cao và thấp. Dưới những bậc này là các mustajībs, nghĩa bóng là những người đáp trả (respondent), là bậc thấp nhất của những người nhập đạo; trên các bậc này là các hujja (tiếng Ba tư là hujjar) là bậc Chứng ngộ (Proof), tức là da’i trưởng lão. Từ jazīra, hòn đảo, được dùng để chỉ thẩm quyền lãnh thổ hoặc một nhóm dân mà vị da’i cai quản. Cũng giống như các phe phái và dòng tu Hồi giáo, nhóm Ismaili cũng thường gọi người đứng đầu của họ về mặt tôn giáo là Trưởng lão - tiếng Ả-rập là Shaykh hoặc tiếng Ba tư là Pir. Một từ thường được các thành viên của giáo phái sử dụng là rafiq - đồng đạo.
Vào năm 1094, nhóm Ismaili đối mặt với một khủng hoảng lớn. Vị Caliph dòng Fatimid là al-Mustansir, là Imam vào thời điểm đó và là người đứng đầu tín đồ, từ trần tại Cairo, nhưng không chỉ rõ người kế vị. Nhóm Ismaili tại Ba-tư không chịu thừa nhận kẻ kế vị của ông này lên ngôi tại Ai cập, và tuyên bố rằng họ chỉ tin vào người thừa kế chính đáng là Nizar, người con trưởng của ông đã bị hất cẳng. Cho đến lần phân tách này, thì tổ chức tại Ba tư, ít nhất trên danh nghĩa, nằm dưới thẩm quyền tối thượng của vị Imam và Thủ lãnh Da’i tại Cairo. Hasan–i Sabbah đã từng là thành viên của nhóm, ban đầu là cấp phó, sau đó là người kế vị của 'Abd al-Malik ibn Attāsh. Lần này thì tuyệt giao hoàn toàn, và từ đó trở đi, nhóm Ismaili ở Ba-tư không còn nhận được sự hỗ trợ cũng như chịu sự kiểm soát của các ông chủ cũ tại Cairo nữa.