Dịch giả: Võ Văn Lượng

Lịch Sử Những Kẻ Sát Thủ

Lượt đọc: 83 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 2 -
Phát hiện sát thủ

❊ ❊ ❊

 'Theo ngôn ngữ của họ thì Lão nhân được gọi là ALOADIN, ông ta cho vây kín một vùng thung lũng giữa 2 quả núi, rồi biến nó thành một khu vườn, to nhất và đẹp nhất từ trước đến nay, trồng đầy các loại cây ăn quả. Trong vườn, cơ man nào lầu các thanh lịch nhất mà ta có thể tưởng tượng được, tất cả đều được dát vàng và sơn phết cực kỳ đẹp. Trong vườn có những con suối nhỏ, đầy rượu, sữa và nước chảy tự do; và rất nhiều phụ nữ và gái đẹp tuyệt trần có thể chơi tất cả các nhạc cụ và hát (sic) những bài ca du dương và nhảy múa làm say lòng người. Bởi vì Lão nhân muốn làm cho các đệ tử tin rằng đó là cõi Thiên đàng thực sự cho nên ngài đã làm theo đúng như lời Mahomet miêu tả cảnh Thiên đàng, tức là, một khu vườn đẹp có những đường ống dẫn rượu, sữa, nước và mật, cùng các phụ nữ yêu kiều sẵn sàng chìu chuộng khách được mời. Và chắc hẳn là người Saracens ở các vùng này đều tin rằng nơi đó là Thiên đàng đích thực.

   'Không ai được phép bước vào khu vườn trừ kẻ nào được Lão nhân có ý định sử dụng làm ASHISHIN. Ngay lối vào của khu vườn chỉ có một lối duy nhất án ngữ một pháo đài rất kiên cố đủ sức chống trả mọi cuộc tấn công. Lão nhân cho nuôi dưỡng trong cung điện của mình một nhóm thanh niên địa phương tuổi từ 12 đến 20, huấn luyện cho họ cách chiến đấu, và Lão nhân kể cho họ nghe các câu chuyện về Thiên đàng như đấng Mahomet đã từng kể, và họ tin vào ông ta cũng như người Saracens tin vào Mahomet. Sau đó, cứ mỗi lượt ông ta dẫn vào khu vườn từ 4 đến 6 hoặc 10 người, cho họ uống một loại thuốc làm cho họ ngủ sâu rồi cho khiêng họ vào bên trong. Khi thức dậy, họ thấy mình nằm trong khu vườn..

   'Do khi thức dậy, họ thấy mình đang ở một nơi rất quyến rũ, họ tin ngay rằng đây chính là Thiên đàng. Và rồi các thiếu nữ đến vuốt ve chìu lòng họ, cho họ làm những gì mà đám thanh niên này muốn, và chính bản thân họ không bao giờ nghĩ đến việc rời bỏ nơi khoái lạc này.

'Giờ thì vị Quân vương mà chúng ta gọi là Lão nhân dựng nên một triều đình quí phái và hoành tráng, đã làm cho đám thanh niên rừng rú, ngây thơ kia tin một cách chắc chắn rằng chính ông ta là một đấng tiên tri vĩ đại. Và khi ông ta muốn đưa một trong đám Ashashin kia đi làm bất cứ nhiệm vụ gì, ông ta chỉ cần chế một liều thuốc uống mà tôi vừa nói tới, cho một trong những thanh niên được đem vào trong vườn uống, và rồi cho mang anh ta vào Cung điện của mình. Khi thanh niên này tỉnh dậy, anh ta thấy mình đã nằm trong lâu đài và không còn được ở trên Thiên đàng nữa; việc này khiến cho anh ta thắc mắc. Sau đó anh ta được đưa vào diện kiến Lão nhân, đầy thành kính cúi lạy trước mặt ông ta, tin rằng bản thân mình đã được gặp vị tiên tri đích thực. Đấng Quân vương lúc đó sẽ hỏi chàng thanh niên từ đâu mà tới, và chàng trai sẽ trả lời là mình đến từ Thiên đàng! và điều đó hoàn toàn đúng với những gì mà Mahomet đã mô tả trong sách Luật. Điều này dĩ nhiên sẽ làm cho những người đứng gần và những ai chưa được cho vào, hết sức ước ao được đi vào chốn đó.

   'Vì thế khi Lão nhân muốn giết bất cứ một Quân vương nào, ông ta sẽ bảo với thanh niên đó: "Ngươi hãy đi giết người này; khi nào ngươi trở về các thiên thần của ta sẽ đưa ngươi đến cõi Thiên đàng. Còn nếu như ngươi chết, thì ta nhất quyết cũng sai các thiên thần mang ngươi về Thiên đàng". Bằng cách đó ông ta làm cho họ tin; và không có mệnh lệnh nào của ông ta mà họ chần chừ không thực hiện, bởi vì họ hết sức mong ước được quay trở lại Thiên đàng của ông ta. Qua đó, Lão nhân sai người đi hành thích những kẻ nào mà ông ta muốn thanh toán. Cũng bằng cách này mà ông ta làm cho tất cả các Lãnh chúa khác đều hết sức lo sợ, buộc phải cống nộp để giữ tình hòa hiếu.

   'Tôi nói thêm là Lão nhân cũng còn một số tay chân, hành sử rập khuôn ông ta. Một trong những kẻ này đã được phái tới vùng Damascus, một tên khác thì sang vùng Curdistan’.

Khi đề cập tới những người Ismaili tại Ba-tư là các sát thủ, và người cầm đầu của họ là Lão nhân, Marco Polo - hoặc người chép lời của ông ta - sử dụng các từ chuyên môn quen thuộc tại châu Âu. Tuy nhiên, những từ này có nguồn gốc từ Syria, chứ không phải từ Ba-tư. Các nguồn tài liệu tiếng Ả-rập và Ba-tư chứng minh rõ ràng rằng Sát thủ "Assassin" là một tên gọi địa phương, chỉ dùng cho nhóm Ismaili tại Syria, và chưa bao giờ dùng cho các nhóm tại Ba-tư hoặc tại bất cứ nước nào khác. Tước hiệu "Sơn trung lão nhân" cũng là tiếng Syria. Thường thì người thuộc nhóm Ismaili gọi thủ lãnh của họ là Lão nhân hoặc trưởng lão, theo tiếng Ả-rập là Shaykh hoặc tiếng Ba tư là Pir, một từ thông dụng để chứng tỏ sự kính trọng của người đạo Hồi. Tuy nhiên, cách gọi riêng "Sơn trung Lão nhân" dường như chỉ được sử dụng tại Syria, và có lẽ chỉ có các Thập tự binh dùng mà thôi, bởi vì chưa hề thấy trong bất cứ văn bản tiếng Ả-rập nào vào thời đó.

Dần dà các chi nhánh Ismaili ở Syria và Ba-tư đều được gọi chung bằng những từ này. Lời mô tả của Marco Polo, khoảng nửa thế kỷ sau lại được Odoric xứ Pordenone bổ sung bằng những chi tiết tương tự, đã làm cho sự tưởng tượng của châu Âu về các Sát thủ xứ Syria càng sâu đậm hơn. Các câu chuyện về thiên đàng, việc các đệ tử liều thân nhảy từ trên cao xuống đất, tài khéo léo vượt bực của các sát thủ trong việc ngụy trang và giết người, và hành tung đầy bí ẩn của thủ lãnh, Sơn trung Lão nhân, đã đi vào các lãnh vực văn chương châu Âu, từ lịch sử, du ký đến thi ca, tiểu thuyết và huyền thoại nữa.

Họ cũng đi vào chính trị nữa. Từ rất sớm người ta đã phát hiện ra bàn tay của Sơn trung Lão nhân trong các vụ mưu sát chính trị hoặc thậm chí các âm mưu ám sát tại châu Âu. Vào năm 1158, khi Frederick Barbarossa đang vây hãm thành Milan, một "sát thủ" bị tóm trong doanh trại của ông ta; vào năm 1195, khi vua Richard Tim sư tử đang ở tại Chinon, không ít hơn 15 tên được gọi là sát thủ bị bắt, và khai rằng họ vốn do vua nước Pháp gởi tới để giết vua Richard. Chẳng bao lâu, những lời tố cáo như thế xảy ra luôn, và có vô số các vua chúa hoặc người đứng đầu bị tố cáo là bắt tay với Lão nhân, và hoặc nhờ đến bàn tay của ông này để thanh toán kẻ thù của mình. Không mấy nỗi nghi ngờ những lời tố cáo này vô căn cứ. Thủ lãnh của các tay sát thủ, tại Ba tư hoặc tại Syria, không hề quan tâm đến các âm mưu của Tây Âu; người Âu không cần đến người ngoài giúp sức trong các phi vụ ám toán của họ. Đến thế kỷ thứ 14, từ sát thủ (assassin) có nghĩa là thích khách, kẻ giết người (murder), và không còn nói lên bất cứ mối liên hệ gì với chi phái mà từ này phát sinh.

Tuy nhiên chi phái này vẫn tiếp tục gây sự chú ý. Một cuộc điều tra mang tính học thuật về nguồn gốc của chi phái này do Denis Lebey de Batilly công bố tại Lyons năm 1603 là cố gắng đầu tiên của châu Âu về mặt này. Lưu ý đến năm công bố. Nền đạo đức lệch lạc vào thời Phục hưng đã phục hồi phương cách ám sát như là một công cụ chính trị; còn các cuộc chiến tranh vì tôn giáo thì lại đưa ám sát lên tầm cao của lòng mộ đạo. Sự xuất hiện của các vương triều mới trong đó một người có thể quyết định thể chế chính trị và tôn giáo của một quốc gia, đã chấp nhận ám sát là một vũ khí hữu hiệu. Các bậc vua chúa và hàng trưởng giáo đều rất muốn thuê các sát thủ để loại bỏ các đối thủ chính trị hoặc tôn giáo của mình - và các nhà lý thuyết sẵn sàng đưa ra các lý lẽ để biện hộ cho cái logic bạo lực trần trụi kia được mang vỏ bọc của một hệ tư tưởng đứng đắn.

Mục đích của Lebey de Batilly khá khiêm tốn; nhằm giải thích ý nghĩa lịch sử thực sự của từ này, vốn đã trở thành thông dụng tại nước Pháp. Nghiên cứu của ông ta chỉ dựa vào các tài liệu Cơ đốc giáo, và như thế cũng không đi quá xa với những gì đã được biết tại châu Âu vào thế kỷ 13. Nhưng dù không có bằng chứng mới thì vẫn có những kiến giải mới. Điều này dễ dàng thấy qua việc William xứ Nassau bị bắn do sát thủ được vua Tây ban nha mướn, vua Henri III của nước Pháp bị một thầy tu dòng Dominicain đâm chết và nữ hoàng Elisabeth của nước Anh phải chật vật lắm mới thoát khỏi bàn tay các sát thủ cuồng tín.

Bước tiến quan trọng đầu tiên thực sự nhằm làm rõ tính kỳ bí của các nguồn gốc và lý lịch của Sát thủ được thực hiện vào đầu thời Khai sáng. Việc này xảy ra vào năm 1697, năm xuất bản bộ sách đồ sộ Thư viện phương đông (Bibliothèque orientale) của Bartholomé d’Herbelot, là một công trình tiên phong chứa đựng phần lớn những gì mà giới học thuật đông phương học ở châu Âu vào thời đó có thể trình bày được về lịch sử, tôn giáo và văn chương Hồi giáo. Đây là lần đầu mà một học giả phương tây có đầu óc tìm tòi và không bị giáo điều ràng buộc, đã sử dụng đến các nguồn tài liệu Hồi giáo - mà hồi đó rất ít được biết đến ở châu Âu - và thử đặt vị trí của các sát thủ gốc Ba-tư và Syrian vào bối cảnh lớn của lịch sử tôn giáo Hồi giáo. Ông này chứng minh rằng, các sát thủ thuộc nhóm Ismaili, là một nhóm li khai lớn, và nhóm này là một nhánh của phái Shi’a tranh chấp với phái Sunni gây một sự chia rẽ tôn giáo lớn trong Hồi giáo. Những người đứng đầu nhóm Ismaili xưng danh là Imam, tức là hậu duệ của Isma’il ibn Ja’far, thuộc dòng dõi Fatima con gái và Ali con rể của đấng tiên tri Muhammad. Trong thế kỷ 18, những nhà đông phương học và sử gia khác căn cứ vào chủ đề này, sau đó bổ sung một số chi tiết mới về lịch sử, tín niệm và các mối liên hệ giữa các sát thủ và chi phái gốc, phái Ismaili. Một số tác giả thử giải thích nguồn gốc của từ Sát thủ (Assassin) - một từ thường được cho là có nguồn gốc Ả-rập, nhưng lại chưa được chứng minh trong bất cứ một văn bản tiếng Ả-rập nào. Người ta cũng đưa ra nhiều từ nguyên, nhưng không có từ nào mang tính thuyết phục.

Đến đầu thế kỷ 19, một lần nữa người ta nhắc lại các sát thủ. Cách mạng Pháp và giai đoạn tiếp theo đã làm công chúng quan tâm về âm mưu và ám sát; công cuộc viễn chinh của Bonaparte sang Ai cập và Syria đã đem lại những mối tiếp xúc mới, gần gụi hơn với phương đông Hồi giáo, và nhiều cơ hội mới để nghiên cứu Hồi giáo. Sau một vài cố gắng của một số tác giả ít tiếng tăm nhằm thỏa mãn mối quan tâm của công chúng, thì Silvestre de Sacy, học giả chuyên về Ả-rập lớn nhất thời đó, mới chú ý đến chủ đề này, và vào ngày 19 tháng 5 năm 1809, ông ta đã đọc trước Học Viện nước Pháp (Institut de France) một ký sự về triều đại của các Sát thủ và về từ nguyên học của tên này.

Thiên ký sự của Silvestre de Sacy đánh dấu một bước ngoặt trong việc nghiên cứu về các sát thủ. Ngoài loạt tài liệu có nguồn gốc từ phương đông được các học giả trước đó sử dụng, ông này còn có khả năng khai thác một vựng tập phong phú các bản chép tay tiếng Ả-rập tại Thư viện Quốc gia (Bibliotheque nationale) ở Paris, gồm nhiều tài liệu sử biên niên Ả-rập quan trọng về các đợt Thập tự chinh mà các học giả phương Tây chưa hề biết đến; phần phân tích các nguồn tài liệu của ông này hoàn toàn vựơt hẳn những nỗ lực của các tác giả châu Âu trước đó. Phần quan trọng nhất của thiên ký sự là phần kết luận như đinh đóng cột của ông ta về vấn đề gây nhiều thắc mắc đó là nguồn gốc của từ "Assassin – Sát thủ". Sau khi xem xét và bỏ đi những thuyết trước, ông ta đi đến kết luận là từ này đi từ gốc Ả-rập ḥashīsh, và cho rằng những biến thể Assassini, Assissini, Heyssisini và v.v... trong các nguồn tài liệu lấy từ các đợt Thập tự chinh đều phát xuất từ 2 hình thức Ả-rập là ḥashīshī và ḥashshāsh (với số nhiều thông dụng là ḥashīshiyyīn và ḥashshāshīn). Để khẳng định điều này, ông ta còn viện dẫn nhiều văn bản tiếng Ả-rập trong đó các đồng đảng của họ được gọi là ḥashīshī, nhưng không có nguồn nào gọi họ là ḥashshāsh. Kể từ đó, các tài liệu bổ sung mới phát hiện đều khẳng định hình thức ḥashīshī - nhưng cho tới nay, chưa có tài liệu nào gọi nhóm Ismaili là ḥashshāsh cả. Như thế dường như ta phải bỏ đi phần giải thích của Silvestre de Sacy, và tất cả các biến thể châu Âu đi từ gốc Ả-rập là ḥashīshī và dạng số nhiều là ḥashīshiyyīn. 

Ngoài phần từ nguyên, phần duyệt lại còn bàn đến ý nghĩa của từ này. Nguyên thủy của ḥashīsh trong tiếng Ả-rập có nghĩa là cỏ, hoặc nói rõ hơn là cỏ khô. Về sau, từ này chỉ dùng để gọi cây gai dầu Ấn độ (hemp) với tên khoa học là cannabis sativa mà các tác dụng gây nghiện đã được người Hồi giáo biết đến từ thời Trung cổ. Ḥashshāsh là một từ mới hơn, thường được dùng với nghĩa là người sử dụng hashish. Tuy không thừa nhận ý kiến do nhiều tác giả muộn hơn đưa ra là sở dĩ Assassin được gọi như thế vì họ là người nghiện, nhưng Silvestre de Sacy lại giải thích rằng sở dĩ có tên này vì các thủ lãnh của giáo phái sử dụng hashish một cách kín đáo, nhằm tạo cho các môn đồ cái cảm giác được dự vào cõi thiên đàng đang chờ họ sau khi thực hiện thành công nhiệm vụ được giao phó. Cách giải thích của de Sacy dựa theo câu chuyện của Marco Polo, và một số nguồn tin từ phương đông và phương tây khác về những khu vườn địa đàng bí mật nơi mà các tín đồ được đưa vào sau khi đã bị phục thuốc cho mê muội.

Dù rằng câu chuyện này đã có từ lâu và được lưu hành rộng rãi, nhưng hầu như không hề có thật. Vào thời đó, người ta đã biết sử dụng và biết các tác dụng của hashish, và cũng chẳng có gì là bí mật; còn việc các giáo phái có sử dụng thuốc hay không thì nhóm Ismaili hoặc các tác giả nghiêm túc phái Sunni cũng đều cho rằng không có. Ngay cả đến cái tên ḥashīshī cũng chỉ là từ gọi địa phương ở Syria, và có lẽ đây là một từ để chỉ sự lạm dụng phổ thông. Nóí trắng ra là từ cái tên này mới đẻ ra câu chuyện chứ không phải ngược lại. Trong nhiều lời giải thích hiện có, nhất là đối với các nhà quan sát phương tây, người ta đem những câu chuyện như thế để giải thích hợp lý cho một hành vi mà cách giải thích khác không làm được.

Tập ký sự của Silvestre de Sacy mở đường cho một loạt những nghiên cứu sâu hơn về chủ đề trên. Chắc chắn trong thể loại này được đọc nhiều nhất là bộ Lịch sử các sát thủ của Joseph von Hammer, nhà Đông phương học người Áo, được xuất bản bằng tiếng Đức tại Stuggart vào năm 1818 và các bản dịch tiếng Pháp và tiếng Anh vào những năm 1833 và 1835. Bộ sử của Hammer, mặc dù dựa trên các nguồn tài liệu phương đông, chỉ mang tính hướng dẫn vào thời đó – là một lời cảnh báo chống lại "cái ảnh hưởng nguy hại của các hội kín … và… chống lại sự bán rẻ tôn giáo một cách tệ hại cho những tham vọng vô hạn đáng kinh sợ". Đối với ông này, các sát thủ chỉ là tập hợp "của một lũ lừa bịp và tiếm danh, núp dưới bộ mặt tín ngưỡng khổ hạnh và những lời răn dạy nghiêm khắc, đã làm ô danh mọi tôn giáo và đạo đức; đám sát thủ này, mà các lưỡi dao găm của họ đã sát hại vua chúa của nhiều nước, họ đều rất hùng mạnh, bởi vì chỉ trong vòng 3 thế kỷ, mọi người đều khiếp sợ họ, cho đến khi đám vô lại này suy tàn cùng với chế độ Caliph, chế độ nắm giữ quyền lực thế tục và tinh thần, mà ngay từ đầu họ đã thề sẽ xóa sổ, và khi chế độ này sụp đổ thì họ cũng tiêu ma luôn". Sợ rằng người đọc có thể bỏ qua điểm này, Hammer đem so sánh các Sát thủ với các Tu sĩ dòng đền Thánh (Templars), dòng Tên (Jesuits), nhóm Illuminati, nhóm Tam điểm, và nhóm chủ trương giết vua của Quốc ước hội nước Pháp (French National Convention). "Cũng như tại phương tây, các tổ chức cách mạng thoát thai từ Hội Tam điểm, còn tại phương đông, các sát thủ cũng bắt nguồn từ phái Ismaili. Chính sự điên rồ của các nhà khai sáng - những người cho rằng chỉ bằng lời thuyết giảng, họ có thể giải phóng các quốc gia ra khỏi bàn tay chăm sóc của các bậc quân vương, và ra khỏi sự chăn dắt của một tôn giáo thực tiễn – đã có những biểu hiện khủng khiếp nhất trong Cách mạng Pháp, cũng như tại châu Á, dưới thời Hassan II".

Quyển sách của Hammer đã tạo nên một ảnh hưởng đáng kể, và trong vòng một thế kỷ rưỡi là nguồn tài liệu chính xây dựng hình ảnh các sát thủ đối với người Âu. Trong khi đó, có nhiều công trình nghiên cứu bác học hơn được tiến hành, nhất là tại Pháp, nhằm khám phá, biên dịch và sử dụng các văn bản có liên quan đến lịch sử của giáo phái Ismaili tại Syria và Ba tư. Trong số những công trình quan trọng nhất có tài liệu của 2 sử gia người Ba-tư - Juvayni và Rasid al-Din - sống vào thời kỳ Mongol; là 2 người tiếp cận được các tài liệu về nhóm Ismaili tại pháo đài Alamut, và nhờ họ ta biết được những thông tin đầu tiên về lãnh địa Ismaili tại miền bắc Ba-tư.

Một bước tiến quan trọng đạt được là sự xuất hiện một dạng tài liệu mới. Việc sử dụng các công trình của người Hồi giáo - chủ yếu là từ phái Sunni - đã bổ sung rất nhiều kiến thức đã có từ các nguồn tài liệu Châu Âu thời Trung cổ; dù rằng có chứa nhiều thông tin hơn so với các sử gia biên niên và du khách châu Âu, tất cả đều tỏ ra thù nghịch với giáo lý và mục tiêu của nhóm Ismaili. Đây là lần đầu tiên người ta có được những thông tin phản ánh trực tiếp quan điểm của chính người trong nhóm Ismaili. Vào thế kỷ 18, các nhà du hành ghi nhận là vẫn còn nhóm Ismaili sống tại một vài làng ở miền trung Syria. Vào năm 1810, viên tổng lãnh sự Pháp tại Aleppo là Rousseau, được Silvestre de Sacy khuyến khích, đã xuất bản một công trình mô tả nhóm Ismaili tại Syria vào thời đó có kèm theo các cứ liệu địa lý, lịch sử và tôn giáo. Nguồn tài liệu này không có xuất xứ nhưng dường như được lấy tại địa phương qua lời truyền miệng. Chính Silvestre de Sacy cũng bổ sung một số chú giải. Rousseau là người châu Âu đầu tiên tiếp cận với những người cung cấp tin tại chỗ như thế, lần đầu tiên đã đem về châu Âu những mẫu thông tin nhỏ do chính nhóm Ismaili cung cấp. Năm 1818, ông này cho xuất bản các đoạn trích từ một quyển sách về nhóm Ismaili lấy được tại Maysaf, một trong những trung tâm Ismaili chính tại Syria. Mặc dù quyển sách này không chứa nhiều sử liệu, nhưng nó cũng cho ta biết một phần về các học thuyết tôn giáo của giáo phái này. Những văn bản khác cũng được đưa về Paris, một số về sau được xuất bản. Trong suốt thế kỷ 19, một vài du khách người Âu, Mỹ có đến thăm các làng mạc của nhóm Ismaili tại Syria, và thông báo vắn tắt về cảnh điêu tàn cùng với dân cư tại những nơi này.

Không có mấy thông tin từ Ba tư là nơi vẫn còn giữ được các phế tích của lâu đài Alamut. Vào năm 1833, trên tờ Tạp chí của Hội Địa lý Hoàng gia (Journal of the Royal Geographical Society), một sĩ quan người Anh, Đại tá W. Monteith cho biết ông ta đã đến tận nơi, đi vào thung lũng Alamut nhưng không tìm được lâu đài. Một sĩ quan khác, trung tá Justin Sheil, đi đến nơi và gởi báo cáo cho tạp chí trên vào năm 1838. Vài năm sau, một sĩ quan người Anh thứ 3 là Stewart, đến thăm lâu đài, rồi gần một thế kỷ sau nữa người ta mới tổ chức thám hiểm lại lâu đài Alamut.

Nhưng ở đây, ngoài sự suy tàn ra vẫn còn nhiều cái khác gợi nhớ đến cái vĩ đại đã từng có của giáo phái Ismaili tại Ba tư. Vào năm 1811, Lãnh sự Rousseau tại Aleppo, trong chuyến du hành tới Ba tư, đã tìm hiểu về nhóm Ismaili và lấy làm ngạc nhiên khi biết rằng vẫn còn nhiều người tại nước này tỏ lòng trung thành với một Imam thuộc dòng dõi của Ismail. Imam này tên là Shah Khalilullah, và ông ta sống tại làng Kehk, gần Qumm, nửa đường giữa Tehran và Isfahan. Rousseau nói thêm rằng "Shah Khalilullah được các tín đồ sùng kính như một vị thần, những người này cho rằng ông ta có thể làm được các phép lạ, ông ta rất giàu nhờ phần tài sản cúng tặng của tín đồ và luôn được tâng bốc bằng tước hiệu đầy hoa mỹ là Caliph. Mãi về phía Ấn độ cũng có nhóm Ismaili, từ những nơi rất xa phía sông Ấn và sông Hằng họ thường xuyên đến Kehk để được vị Imam ban phước lành sau khi đã thu nhận những món lễ vật hào phóng, đầy lòng mộ đạo do họ mang tới".

Năm 1825, một nhà du hành người Anh tên là J.B. Fraser, khẳng định là nhóm Ismaili vẫn còn tồn tại tại Ba tư, và vẫn tiếp tục trung thành đối với thủ lãnh mặc dù họ không còn thực hiện việc ám sát theo mệnh lệnh của ông ta nữa: "ngay đến bây giờ, người này vẫn còn nhận được tôn kính một cách mù quáng của những người còn sống sót, dù rằng nhiệt tình của họ không còn mang tính cách sâu đậm và tuyệt đối như lúc trước". Tại Ấn độ cũng có những tín đồ của giáo phái này, đó là những người trung thành hết mức đối với ông thánh của họ. "Thủ lãnh cũ của họ, Shah Khalilullah đã bị ám sát tại Yazd vài năm trước đó (đúng ra vào năm 1817) khi quân phiến loạn nổi dậy chống lại quan chủ thành. Về thẩm quyền tôn giáo, ông ta được một trong những người con hội đủ những điều kiện tương tự theo qui định của giáo phái đứng lên kế tục".

Sưu tầm: Huy Tran
Nguồn: vietsciences
Được bạn: Thanh Vân đưa lên
vào ngày: 25 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »