Người ta tìm ra được câu trả lời trong hai nguyên tắc - trong giáo thuyết Taqiyya, sự che dấu của những niềm tin thực sự của một người khi gặp nguy hiểm, và theo một quan niệm cũ của phái Ismaili về các thời kỳ đan xen giữa che dấu và biểu lộ. Những nguyên tắc này tương ứng với các giai đoạn đối phó với giáo luật bên ngoài và chân lý bên trong, mỗi thời kỳ như thế được một Imam khai cơ mang đến một sứ mệnh mới. Một tài liệu Ismaili vào thế kỷ 13 cho biết: “Thời kỳ của mỗi tiên tri rao giảng những hình thức bên ngoài của luật thánh được gọi là thời kỳ che dấu, và thời kỳ của mỗi Qā’im, người sở hữu những chân lý bên trong các giáo luật của các đấng tiên tri, thì được gọi là qiyāma (sự Sống lại)”. Một giai đoạn che dấu mới bắt đầu vào năm 1210, khi Jalal al-Din Hasan lên cầm quyền. Lần này không phải chính các vị Imam ẩn thân như trong các giai đoạn che dấu trước, mà chính là họ che dấu nhiệm vụ thực sự của họ. Khi chân lý bên trong bị che dấu, thì sự chấp nhận hình thức tuân thủ giáo luật bên ngoài như thế nào cũng không hề quan trọng.
Khi Jalal al-Din chết, người con trai độc nhất mới 9 tuổi tên là Ala al-Din Muhammad kế vị. Trong một thời gian khá dài vị vizier của Jalal al-Din là thủ lãnh thực tế của lâu đài Alamut, và dường như ông này duy trì một đường lối hòa hoãn với thế giới Sunni. Tuy nhiên, có một phản ứng đang bắt đầu nhen nhúm. Tại các lãnh địa Ismaili, luật thánh không còn được tôn trọng, và thậm chí còn có báo cáo cho biết là bị ngăn cản cố ý. Juvayni và các sử gia người Ba- tư cho rằng vị Imam mới tạo nên những thay đổi trên: “Hiện giờ, Ala al-Din chỉ là một đứa trẻ, không chút học vấn, bởi vì theo niềm tin sai lạc của họ… thì Imam về cơ bản là Imam, dù có là một đứa trẻ nằm trong nôi, hoặc một thanh niên, hoặc một người lớn, và bất cứ cái gì vị này nói hay làm... thảy đều đúng cả... Cho nên, bất cứ đường lối nào mà Ala al-Din chọn, không phàm nhân nào được phép phản đối, và... việc quản lý công việc lại do đàn bà quyết định, các nền móng mà người cha ra công xây đắp giờ bị đạp đổ... nhưng ai đã từng chấp nhận luật Shari’a và Hồi giáo do sợ người cha nhưng trong lòng dạ xấu xa và đầu óc đen tối của họ vẫn còn tin tưởng vào tín điều độc ác của ông nội ông ta... khi thấy rằng không ai ngăn trở họ phạm vào những tội lỗi bị cấm... họ lại quay về với cái Dị giáo... và... khôi phục quyền lực...Những người còn lại…, những người chấp nhận Hồi giáo vì lòng tin... lấy làm hoảng sợ... và... lại phải che dấu sự thực họ là các giáo đồ Hồi giáo....
"Sau khi cậu bé này cầm quyền được 5 hoặc 6 năm... thì mắc bệnh trầm uất... Không ai dám làm trái ý... người ta giấu đi tất cả các báo cáo trong và ngoài lãnh địa... không có một cố vấn nào dám thốt một lời trước mặt cậu ta… Cậu ta để mặc cho việc trộm cắp, trấn lột và cướp bóc xảy ra hàng ngày trong lãnh địa của mình; và cho rằng mình có thể bỏ qua cho cách hành xử này bằng những lời giả dối và ban tặng tiền bạc. Và khi tất cả sự việc vượt quá giới hạn, thì cả cuộc đời, vợ con, nhà cửa, lãnh địa và tài sản đều bị cuốn hút vào cơn điên loạn và mất trí này”.
Mặc dù với những khó khăn trên, vẫn còn các thủ lãnh có năng lực để lèo lái công việc của giáo phái, và trong thời gian Ala al-Din cầm quyền có nhiều hoạt động trí thức và chính trị. Một trong những nhiệm vụ - và vinh quang - được thừa nhận của một thủ lãnh Hồi giáo là vai trò bảo trợ khoa học và học thuật, và các Imam phái Ismaili không hề lạc hậu chút nào về mặt này. Thư viện của lâu đài Alamut nổi danh - ngay cả Juvayni là người đố kỵ mạnh cũng phải thừa nhận là mình có quan tâm đến thư viện này – và trong giai đoạn đó, thư viện cũng lôi cuốn được một số học giả từ bên ngoài. Đứng đầu trong nhóm là Nasir al-Din Tusi (1201-74) - triết gia, nhà thần học và chiêm tinh gia - đã từng lưu lại ở đây nhiều năm trời. Vào thời gian đó, ông theo nhóm Ismaili và thực tế đã viết ra một số tác phẩm mà đến nay vẫn còn được coi là cặn kẽ về phái Ismaili. Về sau, ông ta xưng mình thuộc phái thờ 12 Imam, tức là phái có chút ít sự gắn kết với phái Ismaili. Vẫn còn chưa rõ phái nào có liên quan đến taqiyya (sự che dấu), phái mà ông ta trung thành, hoặc cả hai.
Trong những năm đầu dưới sự cai trị của Ala al-Din, tình hình tại Iran thuận lợi cho sự bành trướng của nhóm Ismaili. Đế quốc Khorazm đã bị xé nát khi quân Mông cổ xâm lăng, và trong lúc vị vua cuối cùng của đế quốc này, Sultan Jahal al-Din, cố gắng vô vọng nhằm phục hưng đất nước tơi tả của mình, thì người Ismaili đã thành công trong việc mở rộng lãnh thổ của họ. Cũng trong khoảng thời gian này, họ chiếm lấy thành phố Damghan, gần pháo đài Girdkuh, và công khai muốn chiếm lấy thành Rayy, nơi mà người Khorazm đã ra lệnh tàn sát các da’i phái Ismaili vào năm 1222.
Năm 1227, Sultan Jalal al-Din buộc nhóm Ismaili phải chấp nhận một cuộc hưu binh và đem cống nạp để đổi thành phố Damghan. Trước đó không lâu, một sĩ quan Khorazm là Orkhan đã bị họ ám sát để trả đũa cho cuộc đột kích vào trang trại của người Ismaili tại Quhistan. Nasawi, người chép tiểu sử của Jalal al–Din, vua Shah xứ Khorazm, vẽ ra một bức tranh sinh động như thế này: ‘ba tên fidā'ī xông vào tấn công Orkhan và giết ông này ở ngoại thành. Sau đó chúng tiến vào thành phố, tay cầm dao, lớn tiếng hô tên Ala al-Din, cho tới khi chúng đến cổng dinh của vị vizier Sharaf al-Mulk. Họ xộc vào công đường, nhưng không tìm thấy ông này, bởi vì đúng lúc đó ông ta đang ở tại lâu đài của Sultan. Họ làm bị thương một lao công rồi chạy vụt ra ngoài, hô hào tập hợp và khoe khoang thắng lợi. Từ trên các mái nhà, dân chúng hè nhau ném đá giết chết bọn họ. Còn chút hơi tàn, họ gắng hô to: “Chúng ta xả thân vì chúa công Ala al-Din”.’
Chính vào thời điểm này, Badr al-Din Ahmad, đặc sứ của Alamut, đang trên đường đi gặp Sultan. Khi nghe được những sự cố, đương nhiên là ông ta có phần nào e ngại về buổi tiếp kiến, cho nên ông ta viết thư cho vị vizier xin ý kiến là có nên tiếp tục chuyến đi hoặc quay về. Vị vizier, do sợ bản thân của mình bị liên lụy, nên hồ hởi tiếp đặc sứ của nhóm Ismaili, hy vọng rằng sự có mặt của ông này sẽ bảo đảm cho mình khỏi phải chịu cái số phận đáng sợ và các chết kinh hãi đã xảy ra cho Orkhan. Vì thế, ông ta giục viên đặc sứ đến gặp mình và hứa làm tất cả để giúp hoàn thành sứ mạng.
Rồi hai người đi cùng nhau, vị vizier cố hết sức để lấy lòng ông khách đáng gờm này. Tuy nhiên, tình bạn của họ bị ngăn trở vì một sự cố không may. ‘Khi đến đồng bằng Serat, trong một giây phút buông thả do say vì uống nhiều, Badr al-Din nói: “Ngay tại nơi này, trong đám lính tráng của ngài cũng có fidā'ī của chúng tôi, từ lâu họ đã chui vào hàng ngũ của ngài, người thì giữ ngựa, người thì phục vụ cho viên thị quan chính (pursuivant) của Sultan”. Sharaf al-Mulk cố nài đưa họ ra mắt và tặng ông này một chiếc khăn coi như dấu hiệu bảo đảm an toàn (safe-conduct). Thế là, Badr al-Din Ahmad gọi 5 tên fidā'ī tới, và khi đến, một tên người Ấn trong bọn nói với Sharaf al- Mulk một cách xấc xược: “Đúng ra là tôi đã giết ngài vào ngày giờ này tại chỗ này chỗ nọ; nhưng tôi không làm vì chưa nhận lệnh phải xử trí ngài”. Khi Sharaf al -Mulk nghe những lời trên, ông ta cởi phắt áo choàng ra, chỉ mặc áo sơ mi, rồi ngồi ngay trước mặt họ và nói: “Vì cớ gì? Ala al-Din muốn gì ở ta? Ta có tội lỗi hoặc thiếu sót gì mà ông ta muốn uống máu ta? Ta chỉ là nô lệ của Ala al–Din, cũng như là nô lệ của Sultan, đang ở trước mặt các ngươi đây. Muốn làm gì ta thì cứ làm”. Sultan rất lấy làm tức giận khi biết được sự hèn yếu của Sharaf al-Mulk, lập tức truyền lệnh cho ông ta phải đem 5 tên fidā'ī ra thiêu sống. Vị vizier xin tha cho chúng, nhưng vô ích, đành phải thực hiện lệnh của Sultan: Ngay ở cửa lều một đống lửa to được nhóm lên, và 5 tên kia bị quăng vào lửa. Khi bị thiêu, chúng cứ gào: “Bọn ta xả thân vì chúa công Ala al-Din”, cho tới chết hẳn, xác cháy thành tro, bay tung theo gió.’ Để chắc ăn, Sultan xử tử luôn viên thị quan chính vì tội tắc trách.
Chính mắt Nasawi chứng kiến kết cuộc. ‘Một ngày nọ, khi tôi đang ở chỗ Sharaf al-Mulk tại Bardha’a, có một đặc sứ tên là Salah al-Din từ Alamut tìm đến và nói: “Ngài đã thiêu chết 5 fidā'ī của chúng tôi. Nếu muốn yên ổn, ngài phải trả món nợ máu 10.000 đồng dinar cho mỗi người”. Những lời này làm cho Sharaf al-Mulk kinh hãi đến mức tê liệt suy nghĩ và hành động. Ông ta tiếp đãi viên đặc sứ trọng hậu, biếu nhiều quà tặng và chiêu đãi tươm tất, rồi lệnh cho tôi viết một công văn, trong đó giảm bớt 10.000 dinar từ khoản cống nạp hàng năm là 30.000 dinar mà họ có nhiệm vụ nộp vào kho của Sultan. Sharaf al-Mulk đóng ấn vào văn kiện’.
Thỏa hiệp giữa Khorazmmshah và nhóm Ismaili tỏ ra không mấy tác dụng. Những vụ cãi cọ linh tinh với Sultan Jalal al-Din vẫn tiếp tục xảy ra, trong khi đó nhóm Ismaili cứ quan hệ thân thiện với hai kẻ thù chính của người Khorazm – đó là Caliph ở phía Tây và bọn Mông cổ ở phía Đông. Vào năm 1228, nhà ngoại giao Ismaili là Nadr al-Din vượt sông Oxus đi về hướng đông tới triều đình Mông-cổ; một thương đoàn người Ismaili trẩy hướng tây gồm 70 người bị người Khorazm chặn lại và tàn sát vì có một đặc sứ Mông cổ cùng đi với họ để đến Anatolia. Sự hục hặc giữa nhóm Ismaili và người Khorazm còn tiếp tục trong nhiều năm, có lúc được thổi bùng lên qua các vụ giao tranh, ám sát hoặc thương thuyết.
Nasawi có lần được cử theo một sứ đoàn đến Alamut để đòi thanh toán đủ số cống nạp phải nộp cho Damghan. Ông này mô tả nhiệm vụ của mình với đôi chút hài lòng: ‘Ala al-Din biệt đãi tôi so với những đặc sứ khác của Sultan, tiếp đãi hết sức trọng thị và hào phóng. Ngài đối xử tử tế, và hai lần tặng tôi quà và áo bào. Ngài bảo: “Ngươi là người đáng kính. Rộng rãi với một con người như thế không bao giờ phí phạm”. Giá trị của những thứ ban cho tôi, tính bằng tiền mặt và hàng hóa, gần đến 3000 đồng dinar, gồm có hai áo bào, một chiếc là áo choàng satanh, một mũ trùm đầu, một mũ dạ và áo choàng không tay, một chiếc áo có lót satanh và chiếc kia lót nhiễu Trung quốc; hai thắt lưng giá 200 đồng dinar, 70 mảnh vải; hai con ngựa với yên cương và núm yên ngựa; 1000 đồng dinar vàng, 4 con ngựa có tấm phủ lưng; một đàn lạc đà xứ Bactria; và 30 áo bào cho đám tùy tùng’. Nói không ngoa, rõ ràng là chúa công Alamut đã được thế giới này cống nạp khá nhiều món ngon vật tốt.
Việc tranh chấp với Khorazmshah không phải là điều quan tâm duy nhất của nhóm Ismaili. Ở gần thì họ giở trò đánh đấm với các thủ lãnh ở Gilan, nơi mà không thể nào cải thiện được mối quan hệ vì đã giết vô cớ mấy công nương xứ Gilan sau cái chết của Jalal al-Din Hasan; có lúc nhóm Ismaili chiếm thêm một số đất đai của xứ Gilan, gần Tarim. Ngược lại, mối giao hảo với các cựu thù tại Qazvin lại tương đối êm ắng. Có một chuyện khá ngạc nhiên, là Ala al-Din Muhammad lại là một đệ tử thuần thành của một vị Shaykh tại Qazvin; mỗi năm tặng cho ông này một khoản gồm 500 đồng dinar vàng để cho vị này chi dụng thức ăn, thức uống. Khi người dân Qazvin trách cứ vị Shayk đã sống bằng tiền của kẻ dị giáo, ông này trả lời: “Nếu Đấng Imam cho rằng hợp pháp khi lấy máu và tiền của bọn dị giáo; thì lại càng hợp pháp gấp đôi khi bọn chúng tự nguyện cống nạp”. Ala al-Din cho dân chúng thành Qazvin biết sở dĩ ông ta không đụng đến thành này là vì có vị Shaykh ở đó. “Nếu không vì vị này, ta sẽ biến Qazvin thành tro bụi rồi bỏ vào thúng để mang về Alamut”.
Tuy đứng ra gây chiến tranh, đột kích, ám sát, nhưng nhóm Ismaili không quên mục đích hàng đầu của họ là giảng đạo và cải đạo, và cũng vào thời điểm đó họ đạt được một trong những thành công quan trọng khi cấy được tín ngưỡng của họ vào vùng đất Ấn độ. Nhiều thế hệ qua, giáo lý cũ của nhóm Ismaili theo Musta’l đã cắm chắc rễ tại Ấn độ nhất là vùng bờ biển Gujerati; giờ đây một phái bộ truyền giáo từ Iran triển khai “giáo lý mới” của phái Nizari vào tiểu lục địa Ấn độ, nơi sẽ trở thành một trung tâm chính của phái này.
Juvayni và các sử gia dòng Sunni Ba tư khác đã đưa ra một bức tranh rất thù nghịch về Ala al-Din Muhammad, dưới hình ảnh một người nát rượu dễ bị những cơn sầu chán và giận dữ. Trong những năm cuối đời, ông ta lại hục hặc với người con cả là Rukn al-Din Khurshah, vốn đã được ông ta chỉ định làm Imam từ khi còn rất bé. Về sau, ông ta tìm cách hủy bỏ sự chỉ định này và cử một người con trai khác, nhưng nhóm Ismaili “dựa theo giáo lý, từ chối công nhận điều này và cho rằng chỉ có lần chỉ định đầu tiên mới có giá trị”.
Sự hục hặc giữa cha và con đưa đến cảnh khủng hoảng vào năm 1255. Vào năm này, ‘cơn điên của Ala al-Din trở nên nặng hơn và… căm ghét đối với Rukn al–Din nhiều hơn... Rukn al–Din cảm thấy mạng sống của mình không an toàn... và vì vậy ông ta tính chuyện bỏ trốn, chạy đến các lâu đài ở Syria, tìm cách chiếm lấy một cái, nếu không được thì chiếm lấy Alamut, Maymundiz và một vài lâu đài khác tại Rudbar, nơi có nhiều kho tàng và đá quý... rồi khởi loạn... Phần lớn các quan chức thuộc lãnh địa của Ala al-Din đều ái ngại cho người con, bởi vì không biết điều gì sẽ xảy ra cho cái mạng của người này.
‘Rukn al-Din đưa ra một lập luận như sau để thăm dò. Ông ta cho rằng “do tính tình hiểm ác của cha ta nên quân đội Mông cổ mới có ý tấn công lãnh địa, còn cha ta thì chẳng quan tâm đến cái gì cả. Ta sẽ ly khai và cử sứ giả gặp Hoàng đế trên mặt đất (Hãn Mông cổ) và đến yết kiến tại triều đình để xin thần phục và bày tỏ lòng trung thành. Và từ rày về sau, ta sẽ không cho phép bất cứ kẻ nào trong lãnh địa của ta được phạm một hành động sai trái [và để bảo đảm ] cho dân chúng trong vùng sống sót yên ổn”.’
Với khẳng định này, các thủ lãnh Ismaili nhất trí ủng hộ Rukn al-Din, thậm chí còn chống lại người của cha ông này; nhưng có một điều mà họ chưa làm là không ra mặt chống đối đích danh Ala al-Din. Vị Imam, ngay cả khi điên loạn, vẫn còn mang tính thiêng liêng, đụng tới ông ta tức là báng bổ, là phản bội.
Thật là may mắn cho nhóm Ismaili - hoặc cho một số ít người trong bọn họ - là không cần phải đi đến một lựa chọn khủng khiếp như thế. Khoảng một tháng sau thỏa hiệp đó, Rukn al-Din đổ bệnh và mê man trên giường bệnh. Khi Rukn nằm liệt giường, thì người cha, Ala al–Din, theo Juvayni, đã bị một kẻ không rõ danh tính ám sát trong khi ngủ mê mệt vì say bí tỉ. Việc này xảy ra vào ngày một tháng chạp năm 1255. Việc ám sát một thủ lãnh của nhóm sát thủ ngay tại hang ổ của ông ta đã dấy lên nhiều điều nghi ngờ và cáo buộc. Một số người hầu của vị Imam quá cố bị bắt gặp gần nơi án mạng đều bị đem ra giết và người ta còn cho rằng một nhóm các kẻ thân tín đã âm mưu chống lại Ala và đã đưa người bên ngoài từ Qazvin đến Alamut để thực hiện âm mưu này. Cuối cùng, họ nhất trí về thủ phạm như sau: “Qua một tuần, căn cứ các dấu hiệu và chỉ điểm rõ ràng, tất cả nhất trí là Hasan của xứ Mazandaran, là kẻ kề cận sủng ái ngày đêm không hề xa lìa một bước, người giữ tất cả những bí mật của Ala al-Din, đã ra tay hạ sát Ala. Có người cho rằng vợ của Hasan, vốn là nhân tình của Ala al-Din, đã báo cho Rukn al-Din các bí mật liên quan đến ám sát mà Hasan thổ lộ cho vợ biết. Rồi điều phải đến đã đến: một tuần sau đó, Hasan bị kết tội chết, xác bị đốt, con cái, gồm hai gái và một trai, cũng bị đốt; và Rukn al –Din thay mặt cha cai trị lâu đài”.
Trong những năm cuối của triều đại Ala al-Din, nhóm Ismaili ngày càng phải đối đầu với kẻ thù khủng khiếp nhất trong tất cả các kẻ thù của họ - giặc Mông cổ. Vào năm 1218, các đội quân của Thành Cát Tư Hãn, thủ lãnh của một Đế quốc mới đang hình thành tại phía Đông châu Á, đã tiến đến bờ sông Jaxartes, kế cận với vùng Khorazmshah. Chẳng bao lâu, một vụ việc xung đột biên giới được coi là cái cớ để đưa quân tiến về hướng tây. Vào năm 1219, Thành Cát Tư Hãn dẫn quân vượt sông Jaxartes tiến vào vùng đất của người Hồi. Năm 1220, ông ta đánh chiếm các thành phố Hồi giáo cổ như Samarqand và Bukhara, và tiến về phía sông Oxus; và năm sau, vượt sông Oxus, chiếm lấy thành Balkh, Merv và Nishapur, và thống lãnh toàn bộ miền đông Iran. Cái chết của Thành Cát Tư Hãn vào năm 1227 chỉ làm chậm bước tiến trong một thời gian ngắn. Vào năm 1230 người kế vị tung ra một đợt tấn công mới vào xứ Khorazmshah rệu rã; và vào năm 1240, quân Mông cổ đã tràn qua miền tây Iran, tấn công Gruzia, Armenia và phía bắc vùng Lưỡng hà.
Đợt tấn công cuối cùng xảy ra vào giữa thế kỷ 13. Từ Mông cổ, Đại Hãn sai người em là Hülegü (Húc Liệt Ngột) - tức là cháu nội Thành Cát Tư Hãn - chỉ huy một đợt viễn chinh mới với mệnh lệnh là chiếm lấy tất cả các vùng đất Hồi giáo đến tận Ai cập. Chỉ trong vòng vài tháng, các kỵ sĩ tóc dài người Mông cổ đã dẫm nát Iran, phá tan mọi chướng ngại và vào tháng giêng năm 1258, tất cả các mũi giáp công vào thành Baghdad. Vị Caliph cuối cùng sau một hồi cố gắng chống trả vô vọng, đành phải cố xin được miễn tội chết. Các chiến binh Mông cổ tràn vào thành, tha hồ cướp bóc, đốt phá và vào ngày 20 tháng 2, vị Caliph bị giết cùng với tất cả gia đình. Sau 500 năm là thủ lãnh danh nghĩa của phái Hồi giáo Sunni, dòng Abbasid đến đây là chấm dứt.
Các đời Imam của lâu đài Alamut, cũng giống như các thủ lãnh Hồi giáo cùng thời, không đồng tâm nhất trí về việc đối đầu với đám ngoại đạo Mông cổ tấn công vào Hồi giáo. Vì đang tranh chấp với Khorazmshah, cho nên vị Caliph al–Nasir không thấy bực mình chút nào với sự xuất hiện của một kẻ thù mới, đầy nguy hiểm lấp ló từ phía xa của đế quốc Khorazm - và đồng minh của ông ta, Imam Jalal al-Din Hasan, là một trong những người đầu tiên gởi thư tỏ bày thiện chí đối với Đại Hãn. Thật ra, có lúc nhóm Ismaili cũng tỏ vẻ đoàn kết với các láng giềng Sunni để chống lại mối đe dọa mới. Khi Thành Cát Tư Hãn chinh phục miền đông Iran, thủ lãnh Ismaili tại Quhistan niềm nở cho nhóm dân Sunni vào tị nạn tại các pháo đài trên núi của ông ta. Khi nói về thủ lãnh Ismaili tại Quhistan, một du khách Hồi giáo kể lại: “Tôi thấy ông ta là một người có học vấn sâu rộng... khôn ngoan, rành về khoa học, triết học; ở cái xứ Khurasan này không có mấy người như ông ta, xét về mặt triết gia và hiền nhân. Ông ta thường cưu mang các lữ khách, người phương xa nghèo khó; và người Hồi giáo nào ở Khurasan có dịp kề cận đều được ông ta che chở. Vì thế, ông ta tập hợp được một số học giả Hồi giáo xuất sắc nhất tại Khurasan... ông ta đối đãi họ trọng thị và tỏ ra rất tử tế. Về mặt này, họ cho biết là trong hai hoặc ba năm đầu của thời kỳ hỗn loạn tại Khurasan, các học giả và khách qua đường đã nhận được một ngàn bộ quần áo, 700 con ngựa có đủ yên cương lấy từ kho lẫm của thủ lãnh”. Làm được như thế cho thấy các tụ điểm Ismaili chưa bị quân Mông cổ tấn công, và chẳng bao lâu Alamut nghe được lời than phiền của dân chúng về tính hào phóng của ông ta, những người này đòi hỏi – và được giải quyết - là một người quản trị không nên phung phí tiền bạc của nhóm Ismaili cho người ngoài. Sử gia Minhaj-i Siraj Juzjani, đã từng phục vụ cho các thủ lãnh vùng Sistan, đã ba lần viếng các tụ điểm của nhóm Ismaili tại Quhistan - trong những lần công cán ngoại giao nhằm mở lại các con đường giao dịch và một lần đi mua sắm, để mua “quần áo và những thứ cần dùng khác”, những thứ đã bắt đầu hiếm tại miền đông Iran “vì sự tấn công của quân ngoại đạo”. Rõ ràng là nhóm Ismaili tại Quhistan có lợi thế vì chưa bị tấn công.
Bất cứ sự thỏa thuận nào giữa nhóm Ismaili và quân Mông cổ, nếu có, đều không lâu bền. Các ông chủ mới của châu Á không thể chịu được tình trạng cứ mãi độc lập của đám tín đồ đầy nguy hiểm và hiếu chiến này - và trong đám chiến binh của họ cũng không thiếu những tín đồ Hồi giáo mộ đạo nhắc nhở cho họ biết về mối nguy hiểm của đám Ismaili. Có người nói rằng, vị Qadi chính tại Qazvin khi diện kiến Đại Hãn phải mang một áo giáp, và giải thích rằng phải làm như vậy vì lúc nào cũng có nguy cơ bị ám sát.
Lời cảnh báo không hề thừa. Sứ thần Ismaili đi dự Đại Hội tại Mông cổ bị đuổi về, và viên tướng Mông cổ tại Iran báo cho Đại Hãn biết rằng hai kẻ thù cứng cổ nhất của Ngài là Caliph và nhóm Ismaili. Tại Karakorum, các biện pháp được triển khai để bảo vệ Đại Hãn tránh khỏi những cuộc tấn công do các đặc nhiệm Ismaili. Khi Hülegü dẫn quân chinh phạt đến Iran vào năm 1256, thì mục tiêu đầu tiên của ông ta là các lâu đài của nhóm Ismaili.
Thậm chí trước khi ông ta đến nơi, quân Mông cổ tại Iran, có sự tiếp tay của Hồi giáo, đã tung các cuộc tấn công vào các cứ điểm Ismaili tại Rudbar và Quhistan, nhưng chỉ đạt được một số thành công hạn chế. Mũi tiến công vào Quhistan bị đẩy lùi vì nhóm Ismaili phản công, còn vụ đột kích vào pháo đài lớn tại Girdkuh thì thất bại hoàn toàn. Khi cố thủ trong lâu đài, nhóm Ismaili có được lợi thế là có thể cầm cự lâu dài với các đợt tấn công của quân Mông - nhưng vị Imam mới lại có quyết định khác.
Một trong những vấn đề mà Rukn al–Din Khurshah không cùng ý với cha mình là chống lại hoặc cộng tác với quân Mông cổ. Khi lên nắm quyền, Rukn ra sức hòa hoãn với các nước Hồi giáo láng giềng; “không giống như người cha, ông ta bắt đầu xây dựng nền móng thân hữu với những nước này. Ông ta cũng gởi sứ giả đến khắp các tỉnh ra lệnh người dân phải hành xử đúng tư cách người Hồi giáo và giữ cho giao thương thông suốt.” Sau khi bảo vệ được vị trí của mình trong nước, ông ta gởi một sứ giả đến gặp chỉ huy quân Mông cổ tại Hamadan là Yasa’ur Noyan, với chỉ thị là phải truyền lời rằng “nay cờ đã tới tay, ông ta sẽ hết lòng tuân phục và sẽ cạo sạch lớp bụi bất mãn ra khỏi sắc mặt trung thành”.
Yasa’ur khuyên Rukn al-Din đích thân đến thần phục Hülegü và vị Imam phái Ismaili hòa hoãn bằng cách cử người em là Shahanshah đi thay. Quân Mông cổ thử đưa quân vào Rudbar, nhưng lại bị nhóm Ismaili cố thủ trong các vị trí hiểm yếu đẩy lùi, cho nên chúng chỉ đốt phá mùa màng rồi rút lui. Trong khi đó, những cánh quân Mông khác lại tấn công vùng Quhistan và chiếm được nhiều trung tâm Ismaili.
Hài lòng vì gặp được Shahanshah, giờ đây Hülegü lại gởi đến một sứ điệp mới. Chính bản thân Ruhk al-Din không mắc lỗi gì; nếu ông ta phá bỏ các lâu đài, đích thân đến xin thần phục, thì quân đội Mông cổ sẽ tha cho lãnh địa của ông ta. Vị Imam kéo dài thời gian. Ông ta cho triệt hạ một số lâu đài, nhưng với Alamut, Maymundiz và Lamasar, chỉ cho tháo dỡ tượng trưng, và xin hoãn lại một năm sau mới đến chầu. Cùng lúc đó, ông ta gởi lệnh đến các thủ hiến tại Girdkuh và Quhistan đích thân đến trình diện trước vương gia và bày tỏ lòng trung thành và sự tuân phục của mình. Điều này thì họ làm - nhưng lâu đài ở Girdkuh vẫn nằm trong tay nhóm Ismaili. Hülegü lại gởi một thông báo cho Rukn al-Din yêu cầu phải đến chầu tại Damavand lập tức. Nếu trong vòng 5 ngày mà chưa đến đó được, thì Rukn phải gởi con mình đến đó trước.
Rukn al-Din gởi đứa con trai đến - thằng bé mới 7 tuổi. Hülegü, có lẽ nghi ngờ rằng đây không phải là đứa con thực sự của Rukn, cho nên trả về với lý do là cậu này còn bé quá, và gợi ý Rukn nên cử một người anh em khác để thế thân cho Shahanshah. Trong lúc quân Mông cổ tiến gần đến Rudbar, và khi sứ giả của Rukn al –Din gặp được Hülegü, thì họ phát hiện là ông ta chỉ còn cách Alamut có ba ngày đường. Quân Mông cổ giáng một tối hậu thư: “Nếu Rukn al-Din phá bỏ lâu đài Maymundiz và đích thân đến chầu Hoàng đế, thì ông ta sẽ được tiếp đãi tử tế và trân trọng phù hợp với đức khoan dung của người; còn nếu ông ta không nhận ra hậu quả hành động của mình, chỉ có trời mới biết được việc gì sẽ xảy ra cho ông ta.” Cùng lúc, quân Mông cổ vào được Rudbar và chia quân bố trí chung quanh các lâu đài. Đích thân Hülegü chỉ đạo vây hãm Myamundiz, nơi Rukn al-Din đang trú ngụ.
Dường như trong nhóm Ismaili không thống nhất ý kiến, người thì cho rằng khôn ngoan thì nên đầu hàng và cố gắng tranh thủ Hülegü được chừng nào hay chừng nấy, người thì muốn chiến đấu đến cùng. Rukn al-Din rõ ràng là chọn ý thứ nhất, và theo đuổi chính sách này, hẳn nhiên là theo lời khuyên của một số cố vấn như nhà chiêm tinh Nasir al- Din Tusi, người ôm hy vọng - và cũng có lý do - là sau khi đầu hàng, mình sẽ có cơ hội kết thân với quân Mông cổ và biết đâu sẽ vớ được chút ít sự nghiệp mới. Có người còn nói rằng chính Tusi đã khuyên vị Imam đầu hàng vì các ngôi sao báo hiệu điềm xấu – Tusi cũng là đặc sứ cuối cùng của Rukn al-Din rời lâu đài Maymundiz đến doanh trại của quân hãm thành để thương thuyết việc đầu hàng. Hülegü đồng ý tiếp nhận Rukn al-Din, gia đình, tùy tùng và tài sản. Như Juvayni ghi nhận: “ông ta… cống nạp tài sản để tỏ lòng trung thành. Tài sản này không lớn như lời đồn, nhưng mà cũng gần như thế, tất cả đều được đem ra khỏi lâu đài. Hoàng đế đem phần lớn tài sản này phân phát cho quân đội của mình”.
Rukn al-Din được Hülegü tiếp đãi tử tế, thậm chí còn chìu theo những sở thích cá nhân của ông này nữa. Ông ta được tặng 100 lạc đà cái tốt vì bản thân thích lạc đà xứ Bactria. Món quà này cũng chưa đủ; Rukn al-Din còn thích chọi lạc đà, và không chờ được đến khi chúng đẻ, ông ta đã sung công trước 30 lạc đà đực. Một đặc ân khác đáng chú ý hơn là ông ta được phép cưới một cô gái Mông cổ, người mà ông ta đâm lòng yêu và úp mở tuyên bố sẵn lòng nhường lại lãnh địa của mình.
Hülegü có lý do để quan tâm đến Rukn. Nhóm Ismaili vẫn còn giữ một số lâu đài, và có thể còn gây ra lắm phiền phức. Lời khuyên họ ra đầu hàng của vị Imam của nhóm Ismaili là một món hàng đáng giá đối với triều đình Mông cổ. Gia đình, đầy tớ tư trang và gia súc của vị này tất cả đều còn ở tại Qazvin (những lời nhận xét của dân thành Qazvin không được ghi lại), và chính ông ta cũng tháp tùng Hülegü trong các cuộc chinh phạt sau này.
Rukn al-Din cố giữ lấy thân. Theo lệnh ông ta, phần lớn các pháo đài tại Rudbar, gần Girdkuh và tại Quhistan đều qui hàng, giúp cho quân Mông cổ khỏi phải tốn những chi phí khổng lồ và những rủi ro khi bao vây và tiến công. Có đến 100 pháo đài - chắc chắn là phóng đại. Có hai pháo đài mà chỉ huy không chịu đầu hàng, không theo lệnh của chính vị Imam - có lẽ do họ tin rằng ông ta làm thế là vì bị ép. Đó là pháo đài Alamut và Lamasar, hai căn cứ lớn tại vùng Rudbar. Quân đội Mông cổ bao vây cả hai, và sau một vài ngày thì chỉ huy pháo đài đổi ý. “Nhìn thấy những hậu quả của vấn đề và sự rủi may của số phần, phía quân phòng thủ cử một sứ giả đến xin tha mạng và xin giảm tội. Rukn al –Din cũng lên tiếng xin dùm và Hoàng đế sẵn lòng bỏ qua các lỗi lầm của họ. Vào vào cuối tháng Dhu’l –Qa’da (bắt đầu vào tháng 12 năm 1256), toàn bộ phe đảng của cái đám vô luân và cái tổ của Satan ấy mang vác tất cả các hàng hóa và của cải xuống núi. Ba ngày sau quân đội mới trèo lên lâu đài và tịch thu tất cả những thứ sót lại do chúng không thể mang theo được. Họ phóng tay đốt rụi nhiều tòa nhà, san bằng mọi thứ và biến tất cả thành bụi bay trong gió”. Lamasar cầm cự cho đến năm sau, và cuối cùng đến năm 1258 phải đầu hàng quân Mông cổ. Tại Girdkuh, nhóm Ismaili không thèm tuân lệnh Rukn al-Din, cố giữ pháo đài, mãi đến mấy năm sau đó mới chịu khuất phục.
Do hầu hết các lâu đài chịu đầu hàng, cho nên Rukn al-Din không còn tác dụng đối với quân Mông nữa; việc các thành phố Lamasar và Girdkuh chống trả chứng tỏ rằng ông ta chẳng còn ích lợi gì. Các sĩ quan Mông cổ tại Qazvin nhận được lệnh phải giết cả gia đình và tùy tùng của Imam; còn chính vị Imam, theo lời đề nghị của ông ta, phải đi đến kinh đô Mông cổ tại Karakorum để chầu, nhưng Đại Hãn lại không cho gặp. Đại hãn nói ‘Không cần phải dẫn ông ta đi quá xa như thế, bởi vì luật lệ của ta đã rõ.’ Hãy dẫn Rukn al-Din quay lại, buộc hắn làm sao cho các lâu đài còn lại đều đầu hàng và bị phá bỏ; lúc ấy hắn mới được phép đầu hàng. Trên thực tế, ông ta không hề có cơ hội ấy. Trên đường quay về Ba-tư, đến chân rặng núi Khangay, ông ta được dẫn vào đường rẽ nói là để đi dự tiệc rồi bị giết. “Ông ta và bọn tùy tùng bị đá cho đến khi mềm như bún rồi bị băm nát bằng kiếm, sau đó mọi vết tích bị thủ tiêu, và còn lại chăng chỉ là lời của người đời nhắc nhiều lần câu chuyện của ông ta và đồng bọn mà thôi”.
Việc tiêu diệt nhóm Ismaili tại Ba-tư không hoàn toàn suôn sẻ như lời Juvayni. Các đồng đảng cho rằng, khi Rukn al-Din chết, người con kế vị và duy trì một chuỗi các Imam, mà cuối cùng là dòng họ Aga Khan xuất hiện vào thế kỷ 19. Nhóm Ismaili vẫn còn hoạt động trong một thời gian nữa, và thậm chí vào năm 1275 họ còn chiếm lại Alamut trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, chính nghĩa của họ không còn, và kể từ đó trở đi họ chỉ tồn tại như là một chi phái nhỏ tại các vùng nói tiếng Ba-tư, phân tán ở miền đông Ba-tư, Afghanistan và phần Trung Á thuộc Liên xô cũ. Tại Rudbar, họ không còn tăm dạng.
Sự tàn phá Alamut, và kết cục nhục nhã của thế lực Ismaili, đã được Juvayni mô tả một cách sống động. ‘Trong hang ổ Alamut tại Rudbar của bọn tà giáo, sào huyệt của lũ giáo đồ tội lỗi của Hasan-i Sabbah… không một viên đá nào được giữ nguyên tại chỗ. Và tại nơi chứa chấp cái cải biến một thời phồn thịnh này, Đấng Hóa công Vĩnh cửu đã dùng cây bút bạo lực viết lên từng cánh cổng mỗi ngôi nhà câu thơ sau: “Trong những ngôi nhà vắng vẻ này chỉ toàn là đổ nát trống rỗng” [Qur’an, xxvii, 53]. Và tại chốn mua bán trong lãnh địa của những kẻ khốn khổ này, thầy tu báo giờ cầu nguyện (muezzin) có tên Định mệnh lớn tiếng rao “Hãy tránh xa những kẻ độc ác !” [Qur’an, xxviii, 43]. Đám phụ nữ bạc phước của họ, cũng giống như tôn giáo trống rỗng của họ, đều bị giết sạch. Và vàng của những kẻ điên khùng, lừa bịp hai mặt này bên ngoài có vẻ như là vàng ròng nhưng thực ra chỉ là chì mà thôi.
‘Ngày nay, nhờ cơ đồ rực rỡ của đức Hoàng đế anh minh, nếu còn tên sát thủ nào lảng vảng tại nơi hoang vu hẻo lánh, thì hắn chỉ chăm chú công việc của đám đàn bà; chỗ nào mà còn tên da’i tức là còn điềm chết chóc, và hãy bắt hết bọn rafiq làm nô lệ. Những kẻ tuyên giảng giáo lý Ismaili sẽ đền tội dưới lưỡi kiếm của Hồi giáo… Các bậc vua chúa người Hy lạp, người Frank, đã từng hết vía sợ đám người đáng nguyền rủa này, cam chịu nhục khi cống nạp cho họ, giờ đây có thể yên tâm kê gối cao mà ngủ. Và thảy các con dân của thế giới này, nhất là các tín đồ mộ đạo, đã được giải thoát khỏi những mưu toan xấu xa và những niềm tin uế tạp. Không những thế, toàn thể nhân loại, sang hèn, cao thấp, đều chia sẻ niềm vui này. Câu chuyện của Rustam con của Dastan chỉ là một chuyện ngụ ngôn cổ tích khi đem so sánh với những việc này’
‘Thế là thế giới từng bị ô uế bởi cái xấu nay đã được cạo rửa sạch sẽ. Khách lữ hành từ giờ trở đi sẽ tha hồ đi lại mà không phải lo sợ, không phải nộp tiền lộ phí, sẽ cầu nguyện cho công đức (còn tiếp tục) của đức vua nhân từ người đã nhổ sạch gốc rễ bọn chúng. Thật vậy, hành động này là tiên đơn chữa các vết thương đạo Hồi và chữa lành những hỗn loạn về đức tin. Hãy để cho những kẻ hậu sinh biết được mối nguy hại mà bọn chúng đã gây ra, sự hỗn loạn mà chúng gieo vào lòng người. Ai đã từng hòa hoãn với họ, dù là vua chúa thời trước hoặc các nguyên thủ hiện thời, đều run sợ lo cho tính mạng của mình và [những ai] chống đối họ, ngày đêm phải sống trong sợ hãi vì đám tay chân vô lại của chúng. Như ly nước bị đổ quá đầy thì phải tràn; như thể ngọn gió đã hết trớn. Đây là lời cảnh báo dành cho những ai hồi tâm [Qur’an, vi, 116] và xin Thượng đế cũng trừng trị như thế đối với tất cả những kẻ bạo ngược!’