Cuộc thương nghị tại hòn đảo trên sông Wisla ở Raciąż mà đức vua tham dự vào dịp lễ Mình Thánh Chúa Ki-tô, diễn ra với những dự đoán không lành, đã chẳng dẫn đến thỏa thuận nào, cũng không giải quyết các vấn đề mà phải đến hai năm sau đó, cũng tại chính nơi này, đức vua mới giành lại được vùng đất Dobrzyn cùng với Bobrowniki đã từng bị Opolczyk [226] bội phản nhượng cho bọn hiệp sĩ Thánh chiến. Đến nơi thương nghị, vốn đã bực bội sẵn vì những lời vu khống chống lại ông mà bọn hiệp sĩ Thánh chiến rêu rao tại các triều đình phương Tây, ngay cả tại Roma, đức vua Jagiełło lại thêm tức giận với thủ đoạn gian manh của Giáo đoàn. Đại thống lĩnh không muốn bàn bạc thỏa thuận về vùng đất Dobrzyń, mà ông ta cố tình làm thế, vì cũng như các chức sắc khác của Giáo đoàn, hằng ngày chính ông ta cũng lặp đi lặp lại với người Ba Lan: “Chúng tôi không muốn gây chiến với các người cũng như với Litva, nhưng vùng đất Żmudź là của chúng tôi, vì Witold đã cấp cho chúng tôi. Hãy hứa là các người sẽ không giúp y, cuộc chiến với y sẽ sớm kết thúc, đến lúc ấy ta sẽ bàn về Dobrzyn, và chúng tôi sẽ nhượng bộ các người.” Nhưng vốn nhạy bến, giàu kinh nghiệm và đã quá hiểu thói giả trá của quân Thánh chiến, các thành viên hội đồng hoàng gia không bị lừa. “Khi thế lực các người mạnh lên, sự điên cuồng của các người sẽ còn phình to hơn nữa.” Họ trả lời đại thống lĩnh. “Các người nói rằng các người không quan tâm đến Litva, các người chỉ muốn đặt Skirgiello lên ngai vàng ở thành Wilno. Lạy Chúa! Nhưng đó là di sản của đức vua Jagiełło, tự ngài có quyền định đoạt cho ai làm đại quận công Litva - do vậy, các người hãy cố kiềm chế đi để khỏi bị đức vua vĩ đại của chúng ta trừng phạt!” Đại thống lĩnh bèn nói ràng nếu đức vua là chủ nhân thực sự của Litva thì hãy lệnh cho Witold từ bỏ cuộc chiến và trả lại vùng đất Żmudź cho Giáo đoàn Thánh chiến - nếu không, Giáo đoàn phải tấn công Witold ở mọi nơi có thể và gây thiệt hại cho ông ta. Và tranh cãi cứ thế kéo dài suốt từ sáng sớm đến tối mịt, không lối thoát, như đi theo một vòng tròn lẩn quẩn. Không muốn nhượng bộ điều gì, đức vua ngày càng mất kiên nhẫn, nói với đại thống lĩnh rằng nếu vùng đất Żmudź mà hạnh phúc dưới sự cai trị của Giáo đoàn, thì Witold đã không có lý do hay nguyên cớ nào để phải động đậy một ngón tay. Là người điềm tình và hiểu rõ thế lực hùng mạnh của Jagiełło hơn những đồng đạo khác, bỏ ngoài tai những lời bàn tán rầm rì của đám lãnh binh hăng máu và ngông cuồng, đại thống lĩnh đã cố gắng xoa dịu đức vua, không tiếc lời ca ngợi, thậm chí nhiều lúc còn tự hạ mình. Nhưng ngay cả trong sự nhún nhường ấy đôi khi vẫn lộ ra những đe dọa được che dậy, do vậy cuộc dối thoại không đi đến kết quả. Hòa ước về những điều trọng yếu đã nhanh chóng bị chao đảo, và sang ngày thứ hai họ chỉ còn bàn những chuyện vặt vãnh. Đức vua đã mạnh mẽ công kích Giáo đoàn về việc nâng đỡ bọn phản nghịch, tấn công và cướp bóc vùng biên giới, bắt cóc tiểu thư Jurandówna và cậu bé Jaśko từ Kretkowo, giết hại điền chủ và ngư dân. Đại thống lĩnh cố phủ nhận, quanh co chối, thề rằng mình không hề biết việc đó và chỉ trích lại rằng không chỉ Witold mà ngay cả các hiệp sĩ Ba Lan cũng đã trợ giúp những kẻ ngoại đạo vùng Żmudź chống lại Giáo đoàn Thánh chiến - một bằng chứng sống là hiệp sĩ Maćko trang Bogdaniec. May là đức vua đã được hiệp sĩ Powała cho biết các hiệp sĩ từ Bogdaniec đang làm gì ở vùng đất Żmudź, càng thuận lợi hơn vì có mặt Zbyszko trong đoàn tùy giá, nên ngài đã có thể đáp trả lời buộc tội, còn bên đại thống lĩnh thì có hai hiệp sĩ von Baden, những người đến đây với hy vọng sẽ được đấu với giới hiệp sĩ Ba Lan.
Nhưng trận đấu đã không diễn ra. Nếu mọi việc suôn sẻ, các hiệp sĩ Thánh chiến muốn mời đức vua vĩ đại đến thành Toruń, ở đó chúng bày tiệc tùng và trò vui vài ngày để chiêu đãi, nhưng một khi thỏa thuận không thành do ác cảm lẫn tức giận của cả hai bên, chúng không còn muốn thế nữa. Vào lúc rạng sáng, chỉ có một số hiệp sĩ biểu diễn cho nhau xem để khoe sức mạnh và sự khéo léo, nhưng như quận công Jamont nói vui, ngay cả điều đó cũng đủ khiến cho các hiệp sĩ Thánh chiến phải rợn tóc gáy, bởi cánh tay của hiệp sĩ Powała xứ Taczew mạnh hơn hẳn Arnold von Baden, Dobko xứ Oleśnica giỏi múa giáo hơn và Lis xứ Targowisko đã vượt trội hơn mọi người trong trò nhảy ngựa. Nhân dịp này, Zbyszko và Arnold von Baden đã nói chuyện với nhau về tiền chuộc. De Lorche, với tước vị và là một ông chủ có tầm cỡ, nhìn Arnold từ thế thượng phong, phản đối yêu sách này, mà khẳng định rằng chính anh sẽ trang trải mọi thứ. Song, Zbyszko cho rằng danh dự hiệp sĩ buộc chàng phải trả đủ số nến bạc đã cam kết, nên dù Arnold muốn giảm bớt, chàng vẫn không chịu bớt tiền và không chấp nhận vai trung gian của de Lorche.
Arnold von Baden là một gã hiệp sĩ khá bộc tuệch, lợi thế lớn nhất là sức mạnh cực kỳ khỏe của cánh tay, và dẫu khá đần, lại hám tiền, nhưng vẫn là kẻ trung thực. Hắn không có các mánh khóe của bọn Thánh chiến, do đó không che giấu Zbyszko lý do hắn muốn giảm giá.
- Giữa đức vua và đại thống lĩnh sẽ không đi đến được thỏa ước, - hắn nói, - nhưng vẫn có trao đổi tù binh. Tôi thì thà được một chút còn hơn là không có gì, vì túi tôi luôn rỗng, nhiều khi chỉ đủ mua ba vại bia mỗi ngày, mà không có năm, sáu vại thì tôi toi!
Nhưng Zbyszko tức giận với hắn vì những lời đó:
- Ta sẽ trả vì ta đã nói lời hiệp sĩ, ta không muốn trả rẻ hơn, mà phải để cho ngươi biết đúng giá trị của chúng ta.
Nghe đoạn, Arnold siết chặt tay chàng, và các hiệp sĩ, cả Ba Lan lẫn Thánh chiến, đều ca ngợi: Thải lắm! Còn trẻ như vậy mà đã được đeo đai hiệp sĩ và cựa thúc ngựa chiến, bởi chàng biết trọng danh dự và phẩm giá của mình.”
Trong khi đó, đức vua và đại thống lĩnh đã dàn xếp xong việc trao đổi tù binh, và khi ấy mới lộ ra những chuyện lạ kỳ, mà về sau các giám mục và chức sắc của vương quốc đã viết thư gửi Giáo hoàng và các vương quốc khác. Đó là phía Ba Lan có nhiều tù binh, đều là những tráng niên trưởng thành hoặc đã có tuổi, bị bắt trong các trận chiến vùng biên giới, hoặc trong các cuộc giao tranh, khi trong tay đang cầm vũ khí. Ngược lại, trong tay các hiệp sĩ Thánh chiến phần lớn lại là phụ nữ và trẻ em, bị bắt trong những cuộc cướp phá về đêm nhằm mục đích đòi tiền chuộc. Chính Đức Giáo hoàng tại thành Roma đã chú ý đến điều đó ngài lớn tiếng bày tỏ sự tức giận và phẫn nộ của mình đối với Giáo đoàn, bất chấp sự gian ngoan dẻo miệng biện hộ của Jan von Felde, đại diện Giáo đoàn Thánh chiến tại thủ đô của các thánh tông đồ.
Riêng về chuyện ông Maćko thì lại khó khăn. Đại thống lĩnh không tự mình gây khó, nhưng muốn tỏ thái độ sao cho mỗi sự nhượng bộ đều có sức nặng. Ông ta tuyên bố rằng thuận theo công lý, một hiệp sĩ Ki-tô giáo đã cùng dân dị giáo Żmudź chiến đấu chống lại Giáo đoàn thì phải chịu tội chết. Các thành viên hội đồng hoàng gia phải kể từ đầu những gì họ biết về ông Jurand và con gái, cũng như về những tai họa khủng khiếp mà những thuộc hạ của Giáo đoàn đã gây ra cho hai cha con ông cũng như cho vị hiệp sĩ trang Bogdaniec. Đáp lại, đại thống lĩnh đã lặp lại một cách kỳ lạ, gần như nguyên văn những lời mà quận chúa Aleksandra Ziemowitowa đã nói với hiệp sĩ trang Bogdaniec hồi nào:
- Các người cứ tự cho mình là cừu, còn chúng tôi là sói. Nhưng bốn con sói tham gia vào vụ bắt cóc cô Jurandówna thì không một ai còn sống, trong khi những con cừu vẫn nhởn nhơ bình thản trên đời.
Điều đó là sự thật, tuy nhiên, hiệp sĩ xứ Taczew có mặt trong cuộc thương nghị đã đáp lại bằng câu hỏi:
- Đúng, nhưng có phải chúng bị giết vì bị phản bội? Hay là tất cả bọn chúng văn lăm làm kiếm trong tay khi ngã xuống?
Đại thống lĩnh không biết trả lời thế nào, và thấy đức vua bắt đầu nhăn mặt, ánh mắt lóe lên, ông ta đành nhượng bộ, vì không muốn đẩy người trị vì đầy nguy hiểm đến chỗ phải bùng nổ. Người ta thỏa thuận rằng mỗi bên sẽ cử các sứ giả để tiếp nhận tù nhân. Về phía Ba Lan, hiệp sĩ Zyndram xứ Maszkowice - người đang muốn tìm hiểu kỹ hơn lực lượng của quân Thánh chiến, hiệp sĩ Powała và Zbyszko trang Bogdaniec được chỉ định làm đặc sứ.
Zbyszko biết ơn quận công Jamont về điều này. Quận công đã vì chàng mà xin đức vua, bởi nghĩ rằng với tư cách là sứ giả của hoàng gia, chàng sẽ mau được gặp lại ông chú hơn và sẽ tự tin hơn đến đón ông. Đức vua đã không từ chối yêu cầu của vị quận công trẻ tuổi, người mà ông và cả triều thần đều yêu mến vì hiền lành, tốt bụng, có dung mạo tuyệt vời và không bao giờ cầu xin điều gì cho bản thân. Zbyszko cảm ơn quận công bằng tất cả tấm lòng, giờ đây chàng chắc chắn sẽ cứu được ông Maćko khỏi tay bọn hiệp sĩ Thánh chiến.
- Nhiều người ghen tị với quận công, - chàng nói với anh, - vì ngài được gần gũi với đấng quân vương, nhưng ân sủng ấy là đúng, vì ngài chỉ dùng sự thân cận với đức vua để lo việc tốt cho mọi người, và không ai có trái tim tốt lành hơn quận công.
- Gần đức vua tốt thật, - quận công trả lời, - nhưng ta vẫn muốn được ra chiến trường với quân Thánh chiến, ta ghen tị với anh vì anh đã được đánh nhau với bọn chúng.
Sau một lúc, anh nói thêm:
- Hôm qua, lãnh binh Toruń von Wenden đã tới, tối nay anh sẽ đến chỗ ông ta, cùng với đại thống lĩnh và đoàn tùy tùng xuất hành trong đêm.
- Tới thành Malborg.
- Tới thành Malborg!
Nói đoạn, quận công Jamont bật cười:
- Đó là một đoạn đường ngắn, nhưng chẳng mấy dễ chịu đâu, bởi vì bọn Đức chẳng moi được gì từ đức vua, mà với đại quận công Witold cũng sẽ chẳng vui vẻ gì. Ông ấy đã tập hợp mọi lực lượng của Litva và sẽ tiến đến cả vùng đất Żmudź.
- Nếu đức vua ủng hộ đại quận công, thì đại chiến sẽ nổ ra.
- Cả giới hiệp sĩ Ba Lan đều cầu Chúa ban cho điều ấy. Nhưng ngay cả khi đức vua không khai chiến vì tiếc cho dòng máu Ki-tô, ngài cũng sẽ ủng hộ đại quận công Witold bằng ngũ cốc cùng tiền nong, và các hiệp sĩ Ba Lan cũng sẽ tình nguyện đến giúp ông ấy.
- Hẳn rồi. - Zbyszko nói. - Có lẽ Giáo đoàn sẽ tuyên chiến với đức vua?
- Không đâu! - Quận công đáp. - Một khi ngài đại thống lĩnh này còn sống, thì sẽ không thể có chuyện đó.
Anh nói đúng. Dù biết đại thống lĩnh đã từ lâu, nhưng bây giờ, trên đường đến thành Malborg, thường xuyên kề cận bên đại thống lĩnh cùng với hiệp sĩ Zyndram xứ Maszkowice và Powała, Zbyszko có thể hiểu rõ và biết về ông ta nhiều hơn. Chuyến đi giúp chàng hiểu thêm là đại thống lĩnh Konrad von Jungingen không phải là kẻ ác, là người xấu. Ông ta thường phải hành động bất chính, bởi vì cả Giáo đoàn Hiệp sĩ Thánh chiến tồn tại trên sự gian ác. Ông phải gây hại, vì cả Giáo đoàn được xây dựng trên việc gây hại cho mọi người. Ông phải dối trá bởi đã thừa hưởng sự dối trá cùng lúc nhận chức đại thống lĩnh, và ngay từ những năm đầu, ông đã quen coi đó chỉ là xảo thuật chính trị. Nhưng ông không phải là kẻ tàn bạo, ông sợ sự phán xét của Chúa, cố kiềm chế thói kiêu ngạo và sự hung tợn của các chức sắc Giáo đoàn đang gây chiến với thế lực hùng mạnh của đức vua Jagiełło. Nhưng ông là một người yếu đuối. Trong hàng thế kỷ trước, Giáo đoàn đã đi quá xa, đã quá quen mui với thói rình rập những vùng đất khác, và cướp bóc bằng vũ lực hoặc lừa đảo để chiếm đoạt các lãnh thổ lân bang, đến mức đại thống lĩnh Konrad không những không thể kiềm chế cơn dõi săn mồi ấy, mà vô hình trung, dưới sực ép của đà tiến sẵn có của Giáo đoàn, chính ông đã phải nhượng bộ và cố gắng thỏa mân nó. Đã quá xa rồi cái thời của Winrich von Kniprode [227] , thời kỳ kỷ luật sắt, thời Giáo đoàn được toàn thế giới ngưỡng mộ. Ngay từ thời tiền nhiệm của ông là đại thống lĩnh Konrad Wallenrod [228] , Giáo đoàn đã quá say sưa với sức mạnh ngày càng tăng của mình, cái thế lực không bị một vài thất bại tạm thời làm cho suy yếu, đã quá say sưa với danh tiếng và thành công, quá say máu người, đã buông lỏng những kỷ cương - thứ giữ cho Giáo đoàn mạnh mẽ và đoàn kết. Đại thống lĩnh đã cố gắng cảnh báo, cố duy trì kỷ cương và công lý, cố tìm cách nới lỏng bàn tay sắt của Giáo đoàn đang áp chế nặng nề lên dám nông dân, thị dân, thậm chí cả các giáo sĩ và quý tộc đang sớng theo luật thái ấp ở vùng đất Thánh chiến ngay gần thành Malborg, đám điền chủ hoặc cư dân có máu mặt, tự coi là có của án của để, hoặc giàu có nơi đây. Nhưng tại những vùng đất tự chủ xa hơn, thói hà khắc và sự trụy lạc của các quan lãnh binh đã giày xéo lên luật pháp, mặc sức áp bức và tống tiền, tự áp đặt đủ mọi sắc thuế, moi móc đến đồng xu cuối cùng, vắt cạn nước mắt và cả máu, khiến cho những vùng đất bao la chỉ còn có tiếng rên ri, nỗi đau khổ và lời kêu than. Ngay cả khi lợi ích của Giáo đoàn đòi hỏi phải cai trị ôn hòa hơn, như một thời ở vùng đất Żmudź, thì những mệnh lệnh ấy vẫn bị vô hiệu hóa trước sự vô luân và tàn bạo vốn có của các lãnh binh. Đại thống lĩnh Konrad von Jungingen cảm thấy mình như người đánh một chiếc xe với lũ ngựa đang phát cuồng, đã để đây cương rơi khỏi tay và phó mặc chiếc xe lao theo ý muốn của số phận. Lương tâm ông luôn bị ám ảnh bởi những linh cảm tồi tệ, ông thường nghĩ đến những lời tiên tri: “Ta đã để cho chúng làm những con ong hữu ích, ta đã dùng chúng để củng cố bờ cõi của nước Chúa. Nhưng giờ chúng chống lại ta, chúng chẳng hề chăm chút linh hồn, chẳng thương tiếc thân xác những kẻ từ bỏ lầm lỗi trở về với lòng tin Thiên Chúa, về với ta. Chúng biến họ thành nô lệ, không chịu dạy bảo họ những lời phán truyền của Đức Chúa Cha, tước đi của họ lễ rửa tội thiêng liêng, đày họ vào những cực hình hỏa ngục khốn khổ hơn cả khi họ còn theo tà giáo. Chúng gây chiến để thỏa lòng tham khôn cùng. Vì vậy sẽ đến ngày nanh vuốt chúng bị bẻ gãy, tay phải chúng bị chặt lìa, chân phải chúng bị thọt, để chúng nhận thấy tội lỗi đã phạm.” [229] Đại thống lĩnh biết rằng những lời chỉ trích các hiệp sĩ Thánh chiến mà giọng nói bí ẩn đã rao truyền trong mặc khải của Thánh nữ Brygida là chính xác. Ông hiểu rằng tòa nhà được xây trên đất đai người khác, trên nỗi đau khổ của người khác, được chống đỡ bởi sự dối trá, lừa lọc, cường bạo, không thể đứng vững bao lâu. Ông sợ rằng vì bị tắm máu và nước mắt bao năm, tòa nhà ấy sẽ tan tành dưới nắm dấm của bàn tay Ba Lan hùng mạnh. Ông thấy chiếc xe đang bị đàn ngựa phát cuồng kéo đi, rốt cuộc phải lao xuống vực, nên chỉ cố sao cho cái giờ phán xử, trong điên giận, thất bại và đau khổ não nề, có thể đến chậm nhất. Vì lý do ấy, dù yếu đuối, ông vẫn có một ý định không lay chuyển, dựa trên lòng tự tôn và lý lẽ của riêng mình: không để nổ ra trận chiến chống Ba Lan. Mặc những lời chê ông hèn kém và bất lực, mặc cho các lãnh binh vùng biên ải ra sức ép buộc ông khởi chiến. Ông luôn luôn biết rút lui vào phút cuối cùng, khi ngọn lửa sắp bùng lên, và sau đó ông làm lễ tạ ơn Chúa ở thành Malborg đã giúp cho ông kiềm chế được thanh kiếm đang treo trên đầu Giáo đoàn.
Nhưng ông biết chắc rằng điều đó sẽ phải đến. Xác tín rằng Giáo đoàn đang không tồn tại trên luật pháp của Thiên Chúa, mà trên sự gian ác và dối lừa, và linh cảm về ngày diệt vong cận kê đã khiến ông trở thành người bất hạnh nhất thế giới. Ông sẵn sàng hiến dâng sự sống và cả máu của mình để sự thể có thể khác đi, và nếu vẫn đủ thời gian thì trở về con đường chân chính, nhưng chính ông cũng cảm thấy rằng không còn thời gian nữa! Quay trở lại có nghĩa là phải trao trả cho những chủ nhân chân chính toàn bộ các vùng đất màu mỡ, sung túc mà Giáo đoàn đã chiếm được, họa chỉ có Chúa biết từ bao lâu, và cùng với đó là rất nhiều thành phố giàu có như Gdańsk Và không chỉ có thế! Điều đó còn có nghĩa là từ bỏ vùng đất Żmudź, từ bỏ mưu đồ chiếm Litva, phải tra kiếm vào vỏ, và cuối cùng là rời khỏi những vùng đất mà chẳng có dân cư nào chưa cải đạo - Giáo đoàn chỉ có thể trở về định cư tại Palestine hoặc một hòn đảo nào đó của Hy Lạp, để bảo vệ thập giá khỏi bọn dân ngoại đạo. Nhưng đó là điều không thể, bởi nó đồng nghĩa với sự tận diệt.
của Giáo đoàn. Ai sẽ đồng ý? Có đại thống lĩnh nào dám yêu cầu thế? Bóng đen đã che phủ cả linh hồn lẫn cuộc sống của Konrad von Jungingen, nhưng nếu như có kẻ nào đề nghị như thế, với lý do tương tự, ông cũng sẽ là người đầu tiên kết án y như một kẻ mất hết tri giác, cần tống vào ngục. Cần phải đi tiếp, đi tiếp nữa, cho đến ngày Chúa đặt dấu chấm hết. Và vì vậy, ông cứ đi, trong một sự u ẩn ngột ngạt và buồn phiền. Râu cằm và tóc trên thái dương của ông đã bạc, đôi mắt ngày nào vốn sắc bén nay đã khép hờ với đôi mi nặng trĩu. Zbyszko không bao giờ thấy nét cười trên mặt ông. Nét mặt đại thống lĩnh không dữ tợn, cũng không u buồn, dường như chỉ quá mệt mỏi với một nỗi đau lặng thầm. Trong bộ áo giáp, với hình thánh giá trên ngực, ở giữa có hình đại bàng đen vuông vức - trong chiếc áo choàng lớn màu trắng, cũng được thêu hình thánh giá, ông mang một vẻ nghiêm nghị, uy nghi và buồn bã. Xưa kia, Konrad vốn là người vui vẻ và thích bông đùa, ngay cả giờ đây ông cũng không hề tránh những buổi tiệc tùng sang trọng, những chương trình trình diễn hào nhoáng và những giải thi đấu hoành tráng - đích thân ông còn tham gia nữa kia, nhưng ông không hề có chút vui vẻ trong cảnh đám đông các hiệp sĩ hào hoa viếng thăm thành Malborg, trong sự rộn ràng, huyên náo, nhộn nhịp, giữa những tiếng kèn vang rền và tiếng vũ khí va nhau lách cách, bên những chiếc li đầy tràn rượu vang ngọt Hy Lạp. Những khi đó, trong lúc mọi thứ xung quanh ông tràn ngập vẻ quyền uy, lộng lẫy, sự giàu có khôn tả, sức mạnh vững chắc không thể lay chuyển, khi các vị đặc sứ của hoàng dế và các vị quân vương phương Tây hào hứng reo hò rằng Giáo đoàn sánh ngang mọi vương quốc và thế lực của toàn thế giới - thì chỉ một mình ông không ảo tưởng, một mình ông nhớ đến những lời tiên tri tàn độc được tiết lộ trong mặc khải của Thánh nữ Brygida: “Vì vậy sẽ đến ngày nanh vuốt chúng bị bẻ gãy, tay phải chúng bị chặt lìa, chân phải chúng bị thọt hãng, để chúng nhận thấy tội lỗi đã phạm.”