Cái Chết Của Những Xác Sống Tập 1

Lượt đọc: 1299 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mục 2

Cảm nhận được không khí gượng gạo trong phòng, Tiến sĩ Hearst cố gắng cứu vớt lại theo phong cách nhà thông thái khoa trương độc đáo của mình: “Chà chà, đổ hết lỗi lầm cho vị khách Nhật cũng chẳng có ích gì. Bởi vào thời mọi người vẫn còn nhảy điệu Charleston, bản thân một số người Mỹ cực kỳ giàu có đã vượt biển và mang về quê hương một lâu đài cổ bị phá dỡ ở Châu Âu rồi bị mọi người phỉ nhổ đấy thôi. Quốc gia nào cũng vậy, những người có quá nhiều tiền thường sẽ nảy sinh vài ý tưởng kỳ lạ.”

James rũ vai bày ra dáng vẻ thế nào cũng được.

Grin quả thật đã nghĩ rằng năng lực kinh doanh của bác John, người có thể lôi kéo nhân vật tựa như “ung nhọt” của ngành dịch vụ tang lễ thành đồng minh của mình, có lẽ cũng khá tài giỏi. Khi thấy sự tồn tại của Nanga được thừa nhận, John tràn trề sinh lực tiếp tục câu chuyện: “Chuyện này... Đây không phải chiến tranh Mỹ - Nhật mà là vấn đề ‘cho và nhận’, giữa người Nhật muốn đất và người Mỹ muốn tiền. Hơn nữa, đất đai mới được khai phá không phải đều dùng hết để làm nghĩa trang cho người Nhật. Tôi dự định hơn 500 mẫu Anh [3] sẽ có chức năng như là khu giải trí bao gồm cả hạ tầng nhà trọ bên trong.”

“Khu giải trí?” Tiến sĩ Hearst sững sờ, mọi người đều xôn xao.

“Đúng vậy, tiến sĩ ạ. Trước đó ngài từng bảo còn gì. Chuyện ngày xưa khi mọi người vẫn thường hoạt động vui vẻ trong nghĩa trang như nhảy múa, buôn bán...”

Tiến sĩ Hearst mờ mịt gật đầu: “Ừm, hình như đúng là có chuyện như thế ở Châu Âu thời Trung Cổ. Họ dựng chợ, mở tiệc nhảy... Thậm chí có tài liệu ghi lại rằng Hội đồng Đại kết Luan buộc phải ra lệnh cấm nhảy múa hay các hoạt động biểu diễn đối mặt, biểu diễn tạp kỹ trong nghĩa trang. Ngoài ra, ở Anh dưới thời Nữ hoàng Victoria, để quyên tiền cho giáo hội, người ta còn tổ chức vũ hội trên một hầm để hài cốt và chỉ được ngăn cách qua một tấm ván sàn. Chắc chắn trước đó tôi đã cho cậu mượn xem những văn kiện có ghi chép việc này rồi.”

“Vâng, đúng thế. Rốt cuộc là không có người sống thì cũng chẳng có người chết. Suy cho cùng, xã hội này phải vì người sống. Bởi ưu tiên cho điều kiện sống của bản thân, người sống phải khống chế người chết. Dù là người vĩ đại thế nào, một khi chết đi cũng phải an phận dưới sự khống chế và đánh giá của người sống. Cái chết chính là thắng lợi về quan điểm của người sống đối với việc tự đánh giá bản thân của người chết. Vì thế, tôi mới suy nghĩ muốn cải cách nghĩa trang này để cung cấp điều kiện tốt hơn cho người sống.”

“Và ý cậu là khu giải trí sẽ có đóng góp to lớn?”

“Tất nhiên. Những người sống đều biết cái chết là thất bại cần phải tránh xa. Họ biết thiên đường thực sự cũng như mọi khoái lạc đều ở thế gian này. Tiến sĩ, ngài có nhận thấy tâm trạng mâu thuẫn với người chết của họ không? Với người chết, người sống vừa yêu vừa hận. Không, nói chính xác là, họ yêu những ký ức về người chết khi còn sống và muốn khắc ghi chúng trong trí nhớ mãi mãi, nhưng họ lại ghê tởm và ghét cay ghét đắng thi hài lạnh lẽo, thối rữa không ra hình dạng của người chết và muốn quên nó đi. Thế nên chẳng phải mọi người đều dốc sức che giấu cái chết bằng những việc như xử lý thối rữa hay trang điểm xác chết đó sao? Không chỉ vậy, tôi có thể nhận ra tâm trạng ấy của người sống thể hiện qua một số hành động đặc biệt ở nghĩa trang.”

“Ồ, hành động gì?”

“Đoàn thể người sống thường sẽ quên đi người chết và đến viếng mộ vào những ngày đặc biệt trong năm chẳng hạn ngày giỗ, ngày của Mẹ, ngày lễ các Thánh, hoặc theo nguyện vọng của chính họ. Đa phần việc dẫn theo người nhà viếng mộ là để ôm ấp tâm trạng đi giải sầu. Mọi người có biết tại sao nghĩa trang nơi vùng quê hẻo lánh này lại tụ tập được khách viếng mộ từ khắp nơi trong bang tới không? Họ đều mong chờ được dạo chơi vui vẻ ở khu nhà vườn Châu Âu trong nghĩa trang mà bố đã xây dựng, hay ở Thác nước Springfield gần đó sau khi viếng mộ xong. Nhờ thế, họ sẽ quên đi cái chết ghê tởm rồi trở về nhà. Đó là nguyên do tôi nghĩ tới việc để người sống tiêu tiền nhiều hơn nữa ở nghĩa trang. Chúng ta lấy được tiền từ người chết nhờ hợp đồng dịch vụ tang lễ tương lai, nhưng ngoài số tiền đó ra, sẽ không có cách nào thu thêm hơn nữa từ những kẻ thua cuộc không còn tồn tại trên thế gian này. Từ giờ trở đi, tôi muốn thu được nhiều hơn từ người sống - những người đang tận hưởng thiên đường trên trần gian trong thắng lợi.”

Nanga, người từ nãy đến giờ vẫn chuyên chú băm nát óc dê chiên, bỗng nhiên lên tiếng “vuốt mông ngựa [4] ” John: “Đúng như ngài Barleycorn nói. Ở Nhật Bản, tình hình cũng tương tự. Vì thiếu đất, nghĩa trang bị đẩy ra ngoại thành mỗi lúc một nhiều. Điều đó thật khủng khiếp với người sống nếu họ không kết hợp giải trí vào đó. Vì thế, tôi cho rằng chuyện xây dựng nghĩa trang của người Nhật ở đây là một ý tưởng không gì tuyệt vời hơn. Đối với những ‘quân dự bị’ người chết Nhật Bản lo lắng vì thiếu đất, khẩu hiệu tuyên truyền ‘Nghĩa trang Mỹ - Bạn thấy sao nếu chọn New England - vương quốc ngàn năm mà tổ tiên hành hương mơ tới và nghĩ về sự phán xét cuối cùng - làm nơi yên nghỉ cho mình? Nghĩa trang với vẻ đẹp của lá đỏ không kém gì Kyoto ở Nhật Bản hứa hẹn cho bạn thời gian trường tồn’ thế nào? Còn với người sống sẽ là ‘Bạn thấy sao nếu thử tìm kiếm cội nguồn nước Mỹ và theo đuổi giấc mơ Mỹ trên mảnh đất New England kết hợp với việc viếng mộ? Tàu lượn siêu tốc của vùng đất Smiley - nơi được mệnh danh là Disneyland của khu vực Đông Bắc được đánh giá rất cao!’ Cũng có thể tuyên truyền như vậy. Nếu lập được tour du lịch tốt, chẳng phải sẽ có thật nhiều con vịt ngu ngốc mang tiền đến cho chúng ta sao?”

Mọi người nhìn nhau, như thể đã bị “trúng độc” của Nanga, chỉ có Tiến sĩ Hearst - người vẫn duy trì trạng thái vô cảm thường ngày - điềm tĩnh chất vấn: “Bỏ qua tốt xấu của kế hoạch này, liệu nó có được pháp luật cho phép không? Phản ứng của người dân thế nào? Tôi nghĩ nói như vừa nãy sẽ gây ra vấn đề.”

John lập tức phản bác: “Ông đừng lo những vấn đề đó. Bởi ngài Nanga đã tiến hành vận động hành lang mang tính chính trị cấp cao được gọi là ‘đặt gạch trước’ với phía Quốc hội rồi.”

Từ trước đến giờ vẫn im lặng, Monica đột nhiên có ý kiến phản đối kế hoạch này từ góc độ không ai ngờ tới: “Tôi không thích có người dị giáo xâm nhập vào nghĩa trang...”

Nanga ngạc nhiên nhìn về phía bà lão với khuôn mặt sượng sùng. Dường như với ông ta, sự đau đớn do bị phê phán về mặt tình cảm tôn giáo còn hơn là bị đả kích bởi việc kinh doanh tồi tệ: “Ha ha... Bị nói vậy quả thật có hơi... Tuy nói là xây nghĩa trang cho người Nhật, nhưng các vị mua và sở hữu nhiều đất thế mà. Thi thể người Nhật sau khi hỏa táng sẽ trở nên rất nhỏ bé. Đất nền xây mộ chỉ chiếm một phần ba cho đến một nửa so với người Mỹ. Từ lúc còn sống, người Nhật đã quen với việc ở nơi nhỏ hẹp rồi. Sẽ không gây phiền phức hay cản trở gì lớn với người Mỹ đâu.”

“Thật tệ hại...” William buột miệng lẩm bẩm không hề suy nghĩ.

Bất đắc dĩ nghe được lời thì thầm này, John quay sang răn dạy William: “Không có gì đáng lo đâu, William. Đúng như ngài Nanga nói, anh cũng cho rằng chúng ta có thể chấp nhận hỏa táng. Cách tổ chức tang lễ của nước Mỹ cũng đang thay đổi. Chẳng phải hình như Bang Georgia cũng đang nhận rất nhiều lễ tang kiểu ‘ghé vào’ mà người tham dự không ra khỏi xe ô tô một bước đó ư? Còn phía Bang California thực hiện thủy táng bằng du thuyền cỡ lớn có chứa nhà nguyện, hay không táng bằng cách rải tro từ máy bay dân dụng đang được lưu hành. Đây chính là phong cách Mỹ đấy. Nắm bắt ý tưởng, vượt qua cạnh tranh, chúng ta sẽ thắng. Những ý tưởng như thế đáng ra phải được thực hiện bởi những đạo diễn tang lẽ như em đó, William.”

“Xin lỗi John, nhưng điều đó là không thể. Em chán ngấy công việc của nghĩa trang này rồi. Em muốn được diễn kịch chân chính. Loại chuyện lấy người đối diễn là khách viếng thăm rơi nước mắt ngay từ phút đầu tiên hay diễn viên với thân xác lạnh băng không một câu thoại như vậy đủ nhiều rồi. Em dự định dùng cơ hội lần này để rời khỏi nghĩa trang.”

“Cơ hội lần này?”

William kinh ngạc nhận thấy mình đã nói quá nhiều. Nhưng lời nói ra không thể quay lại nữa: “À, em được chọn biểu diễn một vở nhạc kịch nhỏ trên Sân khấu Broadway. Là câu chuyện do nhân viên PR Jim Fielder mang lại. Mọi thứ bắt đầu đi vào vận hành rồi.”

“Cái gì? Em vẫn theo đuổi giấc mơ thời đại học đấy à? Một vở nhạc kịch? Diễn kịch không có cơm ăn đâu.”

“Không có thứ để ăn cũng được. Dù chết ở đầu đường xó chợ, chỉ cần có thể để lại một tuồng kịch hay là đủ rồi.”

“Này này, không phải anh vừa nói đó sao? Đánh giá sự vật sự việc vốn do người sống quyết định. Với cách nghĩ đấy của em thì sao thành công được? Hãy bỏ kiểu ăn nói thiếu chín chắn đó đi. Dù lý tưởng vĩ đại đến đâu, một khi chết là hết. Đừng nói những điều tồi tệ đó nữa mà hãy như bố mong đợi - làm việc ở nghĩa trang như một thành viên của gia tộc Barleycorn.” Lúc này, William nói toạc ra con át chủ bài: “Cơ hội này của em chắc chắn sẽ được ngài Nanga hỗ trợ.”

Đến lượt John tỏ ra ngạc nhiên: “Ý em là gì?”

“Em dự tính mời ngài ấy trở thành nhà đầu tư cho vở nhạc kịch mà em diễn. Người hỗ trợ bắc cầu cho anh với ngài Nanga chính là em đấy thôi. Trước khi anh và ngài ấy bắt đầu tiếp xúc, em đã đàm phán với ngài ấy rồi.”

“Có thật vậy không?” John nhìn sang phía Nanga và hỏi.

Nanga cố tình trả lời bằng giọng điệu nghiêm túc: “Đúng vậy. Tôi nghĩ đó có lẽ sẽ trở thành hoạt động tuyên truyền tuyệt vời cho công ty chúng tôi...”

“Vậy ngài có dự định bỏ tiền đầu tư cho William không?”

“Cái này thì... chậc... Tôi vẫn chưa thể trả lời rõ ràng được, nhưng tôi rất có hứng thú với tài năng của anh bạn William... Nhân tiện việc ngày hôm nay, tôi mong ngài có thể khoan thứ cho tôi vì điều đó...”

William thở dài. Đến giờ, Grin đã nhận ra đằng sau việc William cẩn thận tiếp xúc với Nanga là trạng thái giằng co lợi ích như thế. John uống cạn ly rượu, thở ra một hơi và lèo lái câu chuyện sang hướng khác: “E hèm, chúng ta quay trở lại với phương pháp xử lý thi thể chứ? Tôi dự tính tăng thêm hai lò hỏa táng cho nghĩa trang và tiếp nhận nhiều trường hợp hỏa táng hơn.”

“Cậu định sử dụng chúng cho cả những đối tượng khác ngoài người Nhật?” Tiến sĩ Hearst ngạc nhiên.

“Vâng. Phương pháp hỏa táng là cách làm tốt. Đúng thế, tang lễ của người Mỹ cũng nên chuyển sang hình thức hỏa táng.”

Vì câu chuyện bắt đầu rơi vào phạm vi của mình, James, từ nãy đến giờ chỉ tập trung ăn uống với bộ dáng chẳng liên quan, vội vàng lên tiếng xen vào cuộc nói chuyện: “Vậy anh định loại bỏ hình thức tẩm liệm?”

“James, đừng hiểu sai ý. Anh không có ý định vẫy cao ngọn cờ vận động giản dị hóa tang lễ khởi xướng dưới sự ảnh hưởng của quý bà Jessica Mitford [5] đâu. Đúng hơn là ngược lại, hiện tại, anh chỉ suy nghĩ đến lợi ích của Nghĩa trang Smiley. Bởi thế, anh không định bỏ qua nghi thức tẩm liệm hay phúng viếng rồi lập tức đưa di hài thẳng vào lò hỏa táng đâu. Những trình tự đó đều sẽ được giữ lại toàn bộ. Nói thế nào, đó cũng là sản phẩm dịch vụ hút khách, chiếm phần lớn chi phí tang lẽ ở Mỹ. Điều anh suy nghĩ chính là tang lễ kiểu Mỹ kết hợp thêm hỏa táng.”

“Thế phí hỏa táng cũng tách riêng à?”

“Tất nhiên rồi. Giống như từ trước đến giờ, chúng ta vẫn thu phí của các hạng mục là: dịch vụ tẩm liệm, cung cấp quan tài làm từ gỗ Mahogany cao cấp, cho thuê phòng để di hài. Cộng thêm phí hỏa táng, và còn... đúng rồi, bởi quan tài cũng sẽ đốt cùng nên có lẽ khách hàng cần mua bình đựng tro cốt phương Đông sang trọng nữa. Ngài thấy thế nào, ngài Nanga?”

“Ồ, đấy là một ý kiến hay đó. Thế này thì sao? Thử xúc tiến ngược lại việc tẩm liệm và triển lãm di thể người Nhật?”

“Liệu người Nhật có hứng thú không?”

“Chắc sẽ ổn thôi. Vì người Nhật không do dự trả tận 10.000 đô-la cho bàn thờ mà họ chỉ thuê trong một ngày mà. Hơn nữa, với Nhật Bản, năm mới theo Thần đạo, tang lễ theo Phật giáo, đám cưới hay Giáng Sinh theo đạo Thiên Chúa, người dân có vẻ chẳng kiên định lắm. Điều này phụ thuộc vào tuyên truyền nên muốn làm gì cứ làm. Nếu là điều người Mỹ nói ra, chuyện gì cũng có thể...”

Nghe thấy điều đó, James có vẻ rất khoái trá hỏi Grin thay vì bỏ qua cảm giác kinh ngạc của bản thân: “Này này, Francis. Người Nhật thực sự như thế à?”

Một nửa dòng máu Nhật chảy trong Grin không đủ khiến cậu có chút xíu tâm tư muốn ủng hộ Nanga, nhưng trước hết, cậu quyết định phát biểu ý kiến một cách công bằng: “Đúng là so với các nước khác, quan điểm tôn giáo của người Nhật có thể có chỗ hơi dễ dãi. Nhưng đặt cạnh những nước khiến trẻ con cũng phải đổ máu vì xung đột tôn giáo, cháu nghĩ Nhật Bản vẫn tốt hơn.”

Đối với Grin, đây đã là tất cả những gì cậu có thể làm. James ngây người trước câu trả lời hoàn toàn không ngờ đến từ dáng vẻ punk của Grin. Thực tế, Grin đang cười chua chát trong lòng với suy nghĩ có vẻ cụm từ “quan điểm tôn giáo” chẳng hề phù hợp với mái tóc chổng ngược của mình.

Trong khi đó, cũng có một người khác không thể im lặng khi nói đến tín ngưỡng. Đó là Monica. Bà lên tiếng với giọng điệu nghiêm khắc như vừa đột nhiên tỉnh lại sau giấc mộng: “Chuyện đức tin của người Nhật mong manh thế nào cũng được. Quan trọng hơn là, ai đó hãy nói cho tôi biết tại sao chúng ta phải dung nạp phương thức mai táng dã man của phương Đông?!”

Gần đây, không biết có phải do tuổi tác đã lớn hay không mà đôi lúc, Monica buông ra những lời vớ vẩn khiến mọi người đều bối rối. Nhưng trong giới hạn liên quan đến tín ngưỡng - điều duy nhất Monica quan tâm - có vẻ đầu óc của bà còn minh mẫn lắm. Bình thường, John sẽ không phản ứng với một Monica như thế nhưng lần này, ông lại bày ra biểu cảm hài hước và nói: “Hả, phương thức mai táng dã man cơ à?!”

Monica quả quyết nhấn mạnh: “Đúng thế. Phương thức mai táng chẳng những dã man mà còn đáng nguyền rủa nữa. Những kẻ hỏa táng ấy...”

Khoảng 3.642.171m 2 .

Một cuộc tấn công quân sự bất ngờ được Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản thực hiện nhắm vào căn cứ hải quân của Mỹ tại Trân Châu Cảng thuộc Tiểu bang Hawaii vào ngày 7 tháng 12 năm 1941.

Khoảng 2.023.428m 2 .

Chỉ những người thích đi lấy lòng người khác, vì muốn đạt được mục đích cá nhân mà mù quáng khen ngợi, hy vọng đối phương thích mình hoặc đạt được lợi ích từ người đó.

Tác giả người Anh, bà viết một tác phẩm mang tên The American Way of Death (tạm dịch: Chết Kiểu Mỹ) chỉ trích ngành công nghiệp dịch vụ tang lễ ở Mỹ sử dụng các hoạt động kinh doanh vô đạo đức nhằm trục lợi từ gia đình người quá cố.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của masaya yamaguchi