Cái Chết Của Những Xác Sống Tập 1

Lượt đọc: 1290 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mục 2

Không lâu sau, luật sư xuất hiện. Ngay khi vị luật sư mọi người chờ đợi xuất hiện, John lập tức truy hỏi: “Rốt cuộc có chuyện gì vậy Andrew? Không phải tháng trước di chúc đã được quyết định rồi à?”

Bị chất vấn ngay khi vừa chạm mặt John, Luật sư Andrew Harding có phần run sợ. Anh ta lấy khăn tay trong túi ra lau mồ hôi trên trán. Vị luật sư nhỏ bé này luôn tỏ ra bận rộn hệt như chú thỏ trong Alice Ở Xứ Sở Thần Tiên, hết nhìn đồng hồ bỏ túi lại lau mồ hôi. Harding nhún vai, vừa làm điệu bộ cho thấy bản thân cũng gặp rắc rối vừa thanh minh: “Nhưng ngài Smiley đổi ý thì tôi biết làm sao.”

“Nhưng mọi người đều đã hài lòng với bản di chúc trước đó.” Jessica bối rối.

Đúng như lời Jessica nói, khi bản di chúc được công bố một tháng trước, mọi chuyện đã lắng xuống mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Lúc đó các thành viên cũng tập hợp như bây giờ trước mặt ông Smiley để nghe công bố di chúc. Cách phân chia tài sản trong bản di chúc đó ổn thỏa đến mức Harding phải cảm thán: “Là một luật sư, đây là niềm hạnh phúc không gì sánh được.” Grin không rõ chi tiết nhưng tóm lại, ông Smiley đã chia tài sản thành sáu phần bằng nhau. Bốn người con John,

William, James, Jessica, người vợ Monica và Grin thừa kế thay Steven, tổng cộng sáu người tương ứng sáu phần tài sản bằng nhau. Thậm chí bất động sản cũng được phân chia dựa trên sự cân nhắc chi tiết giống như các mảnh ghép của trò chơi ghép hình. Trong số những người được thừa kế, John có vẻ vẫn bất mãn, nhưng sau đó, dường như ông ta bị thuyết phục bởi lời hứa hẹn sẽ được đảm nhiệm vị trí điều hành nghĩa trang dù có tham gia xây dựng kế hoạch hay không. John lại lên tiếng: “Vậy bản di chúc sẽ thay đổi thế nào?”

“Tôi không biết.” Harding nhún vai.

“Không biết? Không phải triệu tập mọi người hôm nay để công bố di chúc sửa đổi à?”

“Đúng vậy. Trước khi đến đây, tôi đã rẽ qua chỗ ngài Smiley nhưng ông ấy nói vẫn chưa viết xong bản mới. Ông ấy có vẻ muốn để dành điều đó đến lúc qua đời, và cũng quyết định việc công bố di chúc sẽ được tiến hành sau khi ông ấy mất...

“Chết tiệt. Rõ ràng đang đùa giỡn chúng ta mà.” John gần như phỉ nhổ nói ra miệng.

Jessica cũng lên tiếng xen lẫn thở dài: “Nếu vậy, liệu tôi có thể hy vọng nó được thực hiện lịch thiệp hơn không? Đến giờ chúng tôi phải rất cẩn trọng khi tiếp xúc với ông ấy mà...”

“Bản di chúc làm tôi chợt nhớ đến một chuyện thú vị.” Tiến sĩ Hearst nói chen vào với thái độ vui vẻ, hóng hớt của bên thứ ba không liên quan.

John lịch sự hỏi: “Chuyện thú vị gì vậy?”

“Ừm, khoảng trăm năm trước, một phu nhân giàu có ở Scotland đã để lại bản di chúc khác thường. Theo di chúc, người chồng chỉ có thể quản lý tài sản của bà trong khi thân xác bà còn tồn tại trên thế gian này. Sau khi phu nhân đó qua đời, người chồng lập tức gọi một người đàn ông tên John Hunter tới. Hunter là em trai một nhà giải phẫu học nổi tiếng nên hiểu biết những kỹ thuật giải phẫu tiên tiến nhất. Ông ta đã tiêm vào động mạch của vị phu nhân loại chất bảo quản chống thối rữa mới được phát minh. Cứ như vậy, vị phu nhân được mặc trang phục thượng hạng, đặt vào quan tài có nắp thủy tinh, chào đón khách đến chia buồn...”

“Đó chính là khởi nguồn của tập quán tẩm liệm trong tang lễ đúng không?” James tiếp lời.

“Ồ, tôi lại múa rìu qua mắt thợ rồi... Chà, cũng có giả thuyết như vậy. Ít nhất, nó gần với những thứ chúng ta đang làm hơn là ngâm tẩm thi hài trong natri cacbonat theo cách ướp xác của người Ai Cập cổ đại...”

“Cái đó liên quan gì tới việc thay đổi di chúc của bố tôi chứ?” Jessica bực bội cắt ngang: “Có phải vì bây giờ đến cả người chết cũng sống lại nên bố tôi định di chúc dù mình có chết cũng không được tẩm liệm không?”

Jessica đã mang đến sự căng thẳng mới cho những người xung quanh. John hỏi Luật sư Harding với vẻ bối rối: “Andrew, bỏ qua nội dung di chúc của bố tôi, nếu người chết để lại di chúc... sau đó hồi sinh, lúc ấy sẽ thế nào?”

Harding nhíu mày suy nghĩ: “Hừm, người chết hồi sinh à? Đúng là vấn đề nan giải. Thứ nhất, việc thừa kế vốn bắt đầu có hiệu lực tại thời điểm người để lại tài sản thừa kế chết. Có vài vấn đề cần cân nhắc ở đây, chẳng hạn trường hợp tuyên bố mất tích, nghĩa là khi người để lại tài sản thừa kế mất tích trong khoảng thời gian nhất định, kể cả người đó còn sống nhưng theo pháp luật vẫn được coi là đã chết; hoặc cũng có trường hợp xác định tử vong thông qua chứng nhận, là trường hợp không thấy thi thể nhưng xác thực được người đó đã chết trong tai nạn, thảm họa, thiên tai. Ngoài các trường hợp đặc biệt này, trường hợp chết lâm sàng, hay khi tim hoặc sóng não ngừng đập, thời điểm tử vong ghi trong giấy chứng tử sẽ là thời điểm bắt đầu được thừa kế. Về mặt pháp luật, nước ta quy định đó là đã chết. Vậy sẽ thế nào nhỉ? Vì trong chuyện này, những người đã được kết luận chết lâm sàng đều sống lại, và có vẻ họ vẫn có năng lực ý thức không khác gì người sống.”

“Những kẻ được gọi là... xác sống?”

“Đúng vậy. Những kẻ rất phức tạp. Không sống cũng chẳng chết, tồn tại giữa lằn ranh sinh tử. Nếu xác sống tiếp tục tồn tại như vậy và số lượng ngày càng tăng, hẳn một nửa những người làm luật trên khắp nước Mỹ sẽ phải nằm trên ghế dài của các bác sĩ trị liệu, nửa còn lại vừa gặm nhấm sách luật cũ vừa thay đổi cách tư duy.”

“Thay đổi như thế nào?”

“À, có lẽ chứng nhận đã chết sẽ sửa thành chết hoàn toàn mới được, nghĩa là pháp luật công nhận đã chết chỉ giới hạn trong các trường hợp thân xác bị phân hủy hay biến thành tro. Không phải cái chết dựa trên y học lâm sàng nữa, phải là một cái chết hoàn hảo không ai có thể phản bác thì mới tránh được hỗn loạn, đúng không?”

“Liệu người ta có công nhận xác sống có ý thức pháp luật không nhỉ?”

“Này, này, tôi không phải thần Minerva đâu. Tôi chỉ là một luật sư bình thường thôi. Vấn đề khó thế, tôi không trả lời được. Hình như cũng xuất hiện những người chết vẫn có hoạt động thần kinh như lúc còn sống, vì thế, chúng ta không thể hạn chế năng lực hành vi hoặc quyết định họ là người không có ý thức pháp luật được... Ngược lại, thể xác họ đang trong quá trình tử vong, nên chắc chắn sẽ bị phân hủy sau vài ngày hay vài tháng. Đối với những người như vậy, nếu pháp luật công nhận ý thức pháp luật của họ liệu có đúng không? Bởi làm vậy không tránh khỏi rối loạn xã hội. Việc thẩm tra nguyên nhân tử vong hiện tại sẽ bị tạm ngừng hay hoãn lại?”

“Hỗn loạn không chỉ với các nhà làm luật hay bác sĩ...” Tâm trạng John dường như có chút thay đổi: “... Nói chung, ta không biết mình sẽ được phân vào nhóm người sống hay nhóm người chết về mặt pháp luật, đúng chứ?”

“Khỏi phải nói, phiền phức nhất chắc là vấn đề thừa kế rồi. Thỉnh thoáng cũng có những trường hợp người được chứng nhận tử vong do mất tích, tai nạn hay thảm họa bất ngờ quay trở lại gây rắc rối. Nhưng từ nay về sau, chúng ta cũng phải suy xét đến những rắc rối trong trường hợp người chết sống lại và quyết định thay đổi di chúc. Cái này đau đầu đấy. Nếu xác sống chịu thừa nhận di chúc trước khi chết, chắc sẽ chẳng có vấn đề gì.”

Đang chán còn phải nghe những lời thuyết giảng về pháp luật, Isabella đột nhiên cắt ngang: “A a... tôi không hiểu nhiều thứ phức tạp thế đâu... Đơn giản, nếu thế thì, John, anh sẽ nhận hay không nhận tài sản vậy?”

Cách nói chuyện của Isabella có vẻ không ác ý, nó chính là kiểu vô tâm đặc quyền của phái nữ được nuôi dưỡng bằng sự nuông chiều của những người xung quanh. John vội im bặt. Isabella nói tiếp không nể nang: “Việc thanh toán tiền nhà ở Thị trấn Marbletown của anh vẫn ổn đấy chứ? Em cũng muốn sớm được sống ở đó. Biệt thự Barleycorn hơi cũ, lại có phần âm trầm. Cửa số cũng nhỏ nữa. Em nghĩ nó không tốt cho đứa bé trong bụng. Nếu chuyển đến đó, căn biệt thự kiểu Ý ở Marbletown sẽ có cửa sổ lẫn ban công rộng rãi, ngập tràn ánh sáng.”

“Ơ John, anh đã mua nhà à?” Jessica hỏi.

“Đúng vậy, nếu kết hôn, bọn tôi sẽ sống ở đó. Đó sẽ là nơi ở mới của bọn tôi. Rảnh nhớ ghé chơi nhé!” Isabella hồn nhiên đáp.

James quay sang John: “Anh có nhiều tiền kiểu đó nhỉ?”

Không bỏ lỡ cơ hội, William cũng nhảy vào châm chọc anh cả cùng mọi người: “Chà chà, hóa ra số tiền kiếm được từ người chết đã biến thành biệt thự kiểu Y tuyệt vời cho cá nhân ngài lãnh chúa của nghĩa trang chứ không hề biến thành mộ địa.”

“Này, đừng nói khó nghe thế.” John trừng mắt nhìn William.

“Hả, không phải thế à? Bố có biết anh đang lấy tiền của nghĩa trang chuyển sang danh nghĩa cá nhân không?”

Jessica thốt lên: “Này, có phải vì chuyện đó mà bố viết lại di chúc không?”

Phớt lờ Jessica, John quay sang William: “Mày đã bí mật mách lẻo với bố thật giả lẫn lộn mọi chuyện hả?”

William mỉm cười, nhún vai: “Thôi nào. Dù em không nói, ai chẳng biết anh đang dùng tiền của nghĩa trang để bù cho các khoản nợ và khoản mua nhà của mình.”

“Tao điều hành nghĩa trang. Những việc như thế chắc chắn đã được bố chấp thuận. Không khiến ai chỗ mõm vào.”

“Bọn em còn chưa chấp nhận đâu.” Lần này đến lượt James phản bác: “Anh vẫn luôn chán ghét việc kinh doanh nhà tang lễ và tự kinh doanh lĩnh vực khác còn gì. Vậy mà đến lúc thất bại, anh lại thản nhiên quay về, cố gắng kiểm soát nghĩa trang này. Không phải anh đang tự tung tự tác quá mức sao?”

John bật dậy khỏi sô pha. Con mèo ngồi trên đầu gối ông ta hoảng sợ nhảy xuống sàn. Vị giám đốc điều hành nghĩa trang tức giận trừng mắt với mọi người, tuyên bố: “Tôi không rảnh nghe thêm bất cứ câu chuyện vô bổ nào nữa. Dù thế nào chuyện tôi thừa kế nghĩa trang này cũng đã được quyết định. Nếu đã hiểu rồi, giờ tất cả giải tán được chứ?”

Con mèo kêu lên một tiếng rồi lao về phía James, lẩn sau sô pha. James giận dữ nhìn theo cái đuôi của nó trong lúc nhảy ra tránh. Chắc James nghĩ người ông ta ghét cay ghét đắng đang trú ngụ trong cơ thể vật nuôi đó nên mới phản ứng bất thường như vậy. Ngược lại, John mở cái giỏ thường xuyên dùng để nhốt mèo, vừa cúi thấp xuống sàn vừa gọi: “Sourire [1] , Sourire, xin lỗi nhé!”

Đúng lúc này, Monica, người từ đầu đến giờ vẫn mơ màng lắng nghe cuộc nói chuyện của những đứa con trai và con gái ngốc nghếch, giơ tay vuốt mái tóc rối bời của mình và hướng sau lưng John: “Mọi người vất vả rồi. Toàn phải nói về những vấn đề khó nhằn. Nếu vậy, Jason cũng có thể được chia tiền phải không?”

“Bà Monica, chuyện này, vì Jason đã...”

Luật sư Harding lên tiếng trả lời nhưng đã bị John liếc mắt ngăn lại. Ông ám chỉ rằng có nói cũng vô dụng. Monica dường như không quan tâm đến điều đó, tiếp tục nói: “... Còn nữa, chồng tôi, ông Smiley, chết lúc nào ấy nhỉ?”

Tiếng Pháp có nghĩa là “nụ cười”, “cười”.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của masaya yamaguchi