2666

Lượt đọc: 824 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN NĂM (D)
phần về archimboldi

Bốn năm sau khi Archimboldi biến mất, Bubis nhận được bản thảo đồ sộ có nhan đề Di sản, một tiểu thuyết hơn năm trăm trang, đầy những chỗ gạch đi, những chỗ thêm vào và những ghi chú chân trang dài thường là không đọc nổi.

Bưu phẩm được gửi từ Venice, nơi Archimboldi đang sống bằng nghề làm vườn, đấy là theo lời anh ta trong một bức thư ngắn kèm theo phong bì, điều này Bubis nghĩ ắt chỉ là chuyện đùa thôi, bởi khó mà kiếm được công việc làm vườn ở bất cứ thành phố nào của Ý, ở Venice lại càng không. Dù thế nào đi nữa, ông chủ nhà xuất bản hồi âm lập tức. Ngay hôm đó ông viết thư hỏi Archimboldi muốn tạm ứng bao nhiêu và yêu cầu cho một địa chỉ ít nhiều tin cậy để có thể gửi tiền cho anh, tiền của anh, mà trong bốn năm qua đã dần dần tích lại. Câu trả lời của Archimboldi còn ngắn hơn. Anh cho một địa chỉ ở Cannaregio và kết thư bằng những lời chúc như thường lệ, chúc Bubis cùng phu nhân một năm mới an khang vì lúc ấy đã sắp cuối tháng Mười hai rồi. Trong mấy ngày sau đó, những ngày rất giá lạnh trên khắp châu Âu, Bubis đọc bản thảo Di sản và tuy văn bản thật rối rắm ấn tượng sau cùng của ông là vô cùng thỏa mãn, vì Archimboldi đã đáp lại mọi kỳ vọng ông gửi gắm vào anh. Những kỳ vọng đó là gì? Bubis không biết, cũng chả muốn biết. Nhất định không phải là kỳ vọng rằng Archimboldi sẽ viết đều đều, đó là việc mà bất cứ tay thợ viết văn nào cũng có thể làm, cũng không phải là kỳ vọng về năng lực kể chuyện của anh, điều mà Bubis không còn hồ nghi gì nữa kể từ khi Đóa hồng bất tận ra đời, cũng không phải là kỳ vọng rằng anh sẽ bơm dòng máu mới vào ngôn ngữ Đức cứng quèo, việc mà, theo đánh giá của Bubis, chỉ cần hai nhà thơ và ba bốn người viết văn là đạt được, trong số đó có Archimboldi. Không phải kỳ vọng ấy. Vậy, kỳ vọng gì? Bubis không biết, tuy rằng ông cảm thấy nó, và việc không biết điều đó tuyệt không hề khiến ông bứt rứt, một trong số những lý do ấy là biết chỉ tổ phiền phức, ông là nhà xuất bản trong khi đường đi nước bước của Thượng đế thì nhất định là bất khả tư nghị.

♣ ♣ ♣

Do bà nam tước lúc ấy đang ở Ý, nơi bà có tình nhân, nên Bubis gọi điện nhờ bà đến thăm Archimboldi.

Lẽ ra ông đã rất sẵn lòng đích thân đi, tuy nhiên năm tháng qua đi chẳng phải là không để lại gì: ông Bubis nay không còn khả năng đi đây đi đó như trước nữa. Thế nên chính nữ nam tước mới là người một buổi sáng kia xuất hiện ở Venice, được tháp tùng bởi một kỹ sư người Rumani trẻ hơn bà, một anh chàng đẹp trai mảnh dẻ có nước da như đồng mà đôi khi người ta gọi là kiến trúc sư còn khi khác lại gọi là tiến sĩ, mặc dù chàng ta chỉ là kỹ sư, kỹ sư cầu đường, và là độc giả nhiệt thành của Moravia, anh ta là người đã tháp tùng bà nam tước đến thăm Moravia, và giới thiệu bà với nhà văn tại một bữa tiệc do nhà văn tổ chức trong căn hộ khổng lồ của ông, từ chỗ căn hộ ấy, khi đêm xuống và dưới ánh sáng hàng chục ngọn đèn, người ta có thể thấy di tích đổ nát của một gánh xiếc, hoặc có thể đấy là một ngôi đền, những gò mộ táng và những tảng đá ngời tỏ mà chính ánh sáng dường như làm cho rối rắm tối tăm đi và chư khách của Moravia đứng ngắm cảnh ấy cười ha hả hoặc chực ứa nước mắt từ trên sân thượng thênh thang của nhà văn. Nhà văn chẳng mấy gây ấn tượng với bà nam tước hoặc ít nhất không gây ấn tượng với bà được như tình nhân của bà chờ đợi, bởi vì đối với chàng ta mỗi từ Moravia viết ra đều là vàng ròng, tuy nhiên bà nam tước không thể thôi nghĩ đến ông suốt mấy ngày sau, nhất là sau khi bà đã nhận được thư chồng và lên đường, được chàng kỹ sư môn đồ của Moravia hộ tống, đến Venice đang giữa mùa đông, nơi họ nhận một phòng tại Khách sạn Danieli, và bà nam tước, sau khi tắm rửa và thay quần áo nhung chưa ăn sáng, liền ra ngoài một mình, mái tóc đẹp của bà bù rối, bị thôi thúc bởi một cơn nôn nả khó bề lý giải.

Địa chỉ của Archimboldi là trên phố Turlona ở Cannaregio, và bà namtước đã đoán đúng, phố ấy không thể quá xa ga xe lửa hoặc nếu không thì không thể quá xa nhà thờ Madonna dell’Orto, nơi Tintoretto* từng làm việc suốt đời. Thế là bà đáp một chiếc buýt đường thủy - gọi là vaporetto - ở San Zaccaria và, chìm trong suy tưởng, để mặc con tàu đưa bà đi dọc theo Kênh Lớn rồi sau đó bà lên bờ phía trước nhà ga, đi đến đâu hỏi đường đến đấy, vừa đi bà vừa nghĩ đến đôi mắt của Moravia, đôi mắt thật là cuốn hút, rồi nghĩ đến đôi mắt của Archimboldi, đôi mắt mà bỗng bà nhận ra mình không còn nhớ nữa, rồi bà lại nghĩ đến cuộc đời của Moravia và của Archimboldi sao lại khác nhau đến thế, một người tư sản, thực tế và thức thời song bên cạnh đó chẳng phải là người không sẵn sàng dọn lối cho những chuyện đùa tinh tế và phi thời gian (không phải cho ông ta, mà là cho cử tọa của ông ta), trong khi đó người kia, nhất là nếu so sánh với người thứ nhất, về cơ bản là một người thuộc lớp hạ lưu, một nghệ sĩ thường xuyên nóng rực như Bubis nói, một người sẽ chẳng bao giờ đứng trên sân thượng nhà Moravia mà nhìn thấy cảnh di tích hoang tàn phủ trong ánh sáng, cũng chẳng bao giờ nghe những đĩa nhạc của Moravia hay đi dạo đêm khắp thành Roma cùng với bạn bè, các nhà thơ và nhà làm phim, dịch giả và sinh viên, quý tộc và nhà mác-xít, giống như Moravia đi dạo cùng với bạn bè ông, luôn luôn với một lời tử tế, một nhận xét thông minh, một lời bình hợp lẽ, trong khi Archimboldi thì độc thoại miên man với bản thân mình, bà nam tước nghĩ vậy trong khi đi dọc phố Lista di Spagna đến Campo San Geremia rồi sau đó băng qua cầu Guglie và bước vài bậc thang xuống đến Fondamenta Pescaria, những lời lảm nhảm một mình không ai hiểu nổi của đứa con một chị giúp việc hay một anh lính chân đất lang thang giữa đất Nga, một địa ngục toàn là succubus* , bà nam tước nghĩ, thế rồi, chẳng vì lý do gì, bà nhớ lại rằng ở Berlin hồi bà còn niên thiếu, một số người, nhất là các cô giúp việc từ quê lên, thường gọi những người đồng dâm nam là succubus, vừa nói vừa mở mắt thật to và làm bộ khiếp đảm, những cô giúp việc bé nhỏ rời xa gia đình đi tới những ngôi nhà đồ sộ ở khu người giàu, những cô gái cứ độc thoại miên man để có thể sinh tồn.

Nhưng có thật là Archimboldi lải nhải với chính mình không? bà nam tước tự hỏi trong khi rẽ qua phố Ghetto Vecchio, hay là anh nói với một người nào khác? Và nếu vậy, người khác này là ai? Một người chết chăng? Một con quỷ Đức chăng? Một con quái vật mà anh phát hiện được trong khi làm việc nơi dinh thất miền quê của bà ở Phổ chăng? Một con quái vật sống trong buồng áp mái nhà bà hồi Archimboldi đến đấy làm việc cùng với mẹ chăng? Một con quái vật ẩn náu trong khu rừng thuộc sở hữu của gia tộc Von Zumpe chăng? Những hồn ma từ những bãi than bùn chăng? Linh hồn của những bờ đá hai bên con đường gồ ghề nối liền hai làng chài chăng?

Toàn linh tinh bá láp mà thôi, bà nam tước, người chẳng bao giờ tin cả hồn ma lẫn các ý thức hệ mà chỉ tin ở thân thể bà và thân thể người khác, đã nghĩ như vậy trong khi đi qua quảng trường Ghetto Nuovo rồi sau đó băng qua cây cầu dẫn đến Fondamenta degli Ormesini, đoạn rẽ trái đến phố Turlona, toàn nhà xửa xưa, những tòa nhà chống đỡ cho nhau như những bệnh nhân Alzheimer già nua nhỏ bé, một mớ bòng bong những nhà và những ngõ ngách chằng chịt tựa mê cung nơi ta có thể nghe những giọng nói ở xa xa, những giọng âu lo đặt câu hỏi và những giọng trả lời đầy chững chạc đường hoàng, cho tới khi bà đến cửa căn hộ Archimboldi, trong một căn nhà mà cả bên trong lẫn bên ngoài chả ở đâu ghi rõ anh sống ở tầng nào, ở tầng ba hay tầng bốn, hay có khi là tầng ba rưỡi.

Archimboldi ra mở cửa. Tóc anh dài thượt rối bù và râu che kín cổ. Anh mặc áo len chui đầu và quần rộng đầy vết bùn đất, một điều không thường thấy ở Venice nơi chỉ có nước và đá. Anh nhận ra bà ngay tức thì và khi đi vào bà nhận ra rằng hai lỗ mũi anh phập phồng, tuồng như anh muốn ngửi bà. Căn nhà gồm hai phòng nhỏ ngăn cách nhau bằng một tấm vách nhựa, và một buồng tắm cũng nhỏ xíu và chỉ mới lắp đặt gần đây. Cửa sổ duy nhất là ở căn phòng dùng làm nhà bếp kiêm phòng ăn, cửa sổ này nhìn ra một con kênh chảy vào Rio della Sensa. Trong nhà mọi thứ đều cùng một màu hoa cà sẫm, sang đến phòng thứ hai có giường và tủ quần áo của Archimboldi thì ngả sang đen, một màu đen tỉnh lẻ, bà nam tước nghĩ.

Họ làm gì ngày hôm đó và ngày hôm sau? Có lẽ họ nói chuyện và làm tình, làm tình nhiều hơn nói chuyện, bởi vì đêm đó bà nam tước không quay lại Danieli, khiến tay kỹ sư của bà lo sốt vó, anh ta từng đọc những cuốn tiểu thuyết nói về những vụ mất tích bí ẩn ở Venice, trên hết là các khách du lịch thuộc phái yếu, những phụ nữ bị rù quến bởi xác thịt, bị thôi miên bởi năng lượng dục tình của các anh điếm đực Venice, những phụ nữ nô lệ sống chung một nhà với các bà vợ hợp pháp của chủ nhân mình, những bà vợ béo hú có ria mép nói bằng tiếng địa phương và chỉ chui ra khỏi hang để mua cá và rau, những đàn bà Cro-Magnon lấy đàn ông Neanderthal và những nữ nông nô học ở Oxford hay ở trường nội trú Thụy Sĩ bị cột một chân vào giường đợi chờ Bóng tối.

Dẫu sao, đêm đó bà nam tước không về và chàng kỹ sư âm thầm uống đến say mềm nơi quán bar Khách sạn Danieli và không đi báo cảnh sát, phần vì anh ta sợ tự biến mình thành trò cười và phần bởi anh ta cảm thấy ả nhân tình Đức của mình là típ đàn bà dù có chuyện gì đi nữa cũng luôn bình an vô sự mà chẳng cần xin xỏ một ai. Và đêm đó chẳng có Bóng tối nào, cho dù bà nam tước hỏi Archimboldi câu này câu nọ, không nhiều lắm, và tỏ ra sẵn sàng trả lời những câu hỏi mà Archimboldi cảm thấy có thể đặt cho bà.

Họ nói về công việc làm vườn của Archimboldi, đúng là anh có làm việc ấy thật, hoặc làm cho thành phố Venice, trong những công viên ít ỏi nhưng được chăm nom cẩn thận, hoặc cho một số tư nhân (hay hãng luật) có vườn riêng, một số rất hoành tráng, nằm sau tường tư dinh của họ. Sau đó họ nói về cái lạnh mùa này ở Venice, về cái lạnh Archimboldi phải quấn mình trong chăn hòng chống đỡ. Sau đó họ hôn nhau thật lâu và bà nam tước quyết định không hỏi đã bao lâu rồi anh không làm tình với đàn bà. Rồi họ nói về một số nhà văn Mỹ mà Bubis có xuất bản tác phẩm, những người này thường xuyên tới Venice, song Archimboldi không biết họ, cũng chưa bao giờ đọc gì của họ. Và sau đó họ nói về người anh họ đã mất tích của bà nam tước, chàng Hugo Halder bất hạnh, và về gia đình của Archimboldi mà cuối cùng anh cũng đã tìm được.

Và khi bà nam tước đang dợm hỏi anh đã tìm được gia đình của mình ở đâu và trong tình huống nào và như thế nào, Archimboldi đứng dậy khỏi giường mà nói: nghe đi. Bà nam tước cố lắng nghe, nhưng chẳng nghe thấy gì, chỉ có im lặng, im lặng tuyệt đối. Chừng đó Archimboldi nói với bà: nó là vậy đó, im lặng, mình có nghe không? Bà nam tước đã toan nói rằng người ta không thể nghe thấy im lặng được, chỉ có thể nghe thấy tiếng động thôi, nhưng lại cảm thấy nói như vậy nghe rởm rít quá nên bà chẳng nói gì. Rồi Archimboldi, trần truồng như nhộng, đi về phía cửa sổ, mở cửa rồi nhô nửa người ra ngoài, tuồng như muốn đâm đầu xuống kênh, nhưng anh không định làm như vậy. Và khi thu người vào lại anh bảo bà nam tước lại mà xem. Bà nam tước trở dậy, cũng trần truồng như anh, lại gần cửa sổ mà nhìn, trong khi tuyết đang rơi trên Venice.

♣ ♣ ♣

Lần cuối Archimboldi đến gặp nhà xuất bản của mình là để soát lại bản in thử cuốn Di sản cùng với người đọc morát và bổ sung thêm gần một trăm trang vào bản thảo ban đầu. Đó là lần cuối cùng anh gặp Bubis, ông này qua đời mấy năm sau đó, nhưng trước khi mất ông vẫn kịp in thêm bốn tiểu thuyết của Archimboldi, và đó cũng là lần cuối anh gặp bà nam tước, ít nhất là ở Hamburg.

Dạo ấy Bubis đang đắm mình trong những cuộc tranh luận to tát và thường là tào lao giữa các nhà văn Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức, với các nhà trí thức và các thư từ điện tín ồ ạt tuôn qua văn phòng của ông suốt cả ngày còn ban đêm thì là những cú điện thoại khẩn cấp mà thường chẳng dẫn tới đâu. Không khí ở nhà xuất bản cứ sốt xình xịch lên cả. Tuy nhiên, thỉnh thoảng mọi thứ chững lại, cô đọc morát pha cà phê cho mình cùng với Archimboldi và một ly trà cho cô bé mới đến chuyên về thiết kế, bởi dạo này nhà xuất bản đã mở rộng và đội ngũ nhân viên tăng lên, và đôi khi, nơi bàn bên cạnh, có một tay đọc morát người Thụy Sĩ, một anh chàng có trời biết tại sao lại đến sống ở Hamburg, bà nam tước ra khỏi phòng làm việc, trưởng phòng quan hệ công chúng cũng vậy và đôi khi cả cô thư ký cũng ra luôn, và họ chuyện vãn về mọi thứ, về bộ phim mới nhất họ xem hay về diễn viên Dirk Bogarde, thế rồi cô hành chính kế toán và ngay cả Marianne Gottlieb cũng thi thoảng đáo qua với một nụ cười, và nếu trong căn phòng rộng nơi các biên tập viên làm việc mọi người cười to quá thì đến cả Bubis cũng thân hành qua luôn, với tách trà trong tay, và họ chuyện trò không chỉ về Dirk Bogarde mà còn về chính trị và về những trò kinh doanh bẩn mà đám cầm quyền mới ở Hamburg nhúng tay vào, hoặc nói về một số nhà văn không còn biết thế nào là đạo đức, những phường đạo văn tự thú hớn hở đeo một cái mặt nạ tươi vui để che một khuôn mặt pha lẫn giữa sợ hãi và càn rỡ, những nhà văn sẵn sàng bám dính lấy bất cứ uy danh nào, với niềm tin rằng bằng cách đó họ sẽ sống mãi trong hậu thế, bất kỳ hậu thế nào, khiến cho các biên tập viên và các nhân viên khác cười ha hả và thậm chí làm ngay cả Bubis cũng nở nụ cười dè dặt, bởi vì không ai biết rõ hơn họ rằng hậu thế là một chuyện đùa trong một vở kịch vui mà duy chỉ những ai ngồi hàng ghế đầu mới nghe được mà thôi, rồi sau đó họ chuyện trò về các lỗi biên tập, nhiều lỗi trong số đó được sưu tầm lại trong một cuốn sách xuất bản ở Paris đã lâu rồi và mang cái nhan đề rất chi thích hợp là Le Musée des erreurs, Bảo tàng lầm lỗi, cũng như những lỗi khác do Max Sengen, chuyên gia săn lùng lỗi sai, tuyển chọn. Rồi cái này dẫn tới cái kia và chẳng bao lâu sau các biên tập viên lấy ra cuốn sách (không phải Bảo tàng lầm lỗi mà cũng chẳng phải cuốn của Sengen), nhan đề của nó Archimboldi không nhìn thấy, và họ bắt đầu đọc to lên bộ sưu tập những viên ngọc văn hóa ấy:

“Tội nghiệp Maria! Cứ mỗi khi nghe tiếng một con ngựa lại gần, nàng lại tin chắc đó là tớ.” La vie de Rancé, Chateaubriand.

“Thủy thủ đoàn của con tàu bị sóng nuốt chửng ấy gồm có hai mươi lăm người, bỏ lại hàng trăm người vợ góa từ nay chịu cảnh khốn cùng,” Les Cages flottantes, Gaston Leroux.

“Nhờ ơn Chúa giúp, mặt trời sẽ lại sáng trên đất nước Ba Lan.” Nạn hồng thủy, Sienkiewicz.

“Đi thôi!” Peter vừa nói vừa tìm chiếc mũ để lau khô nước mắt mình. Lourdes, Zola.

“Công tước xuất hiện, theo sau là đoàn tùy tùng đi phía trước ngài.” Thư gửi từ cối xay gió của tôi, Alphonse Daudet.

“Hai tay chắp sau lưng, Enrique tản bộ trong vườn, vừa đi vừa đọc cuốn tiểu thuyết của bạn mình.” Le Cataclysme, Rosny.

“Bằng một mắt này chàng đọc, bằng một mắt kia chàng viết.” Trên bờ sông Rhine, Auback.

“Tử thi im lặng chờ được mổ pháp y.” Luck’s Favorite, Octave Feuillet.

“William không thể hình dung trái tim phục vụ cho việc gì khác ngoài việc thở.” Cái chết, Argibachev.

“Thanh gươm danh dự này là ngày đẹp nhất của đời tôi.” Danh dự người nghệ sĩ, Octave Feuillet.

“Tôi không còn thấy gì nữa, người đàn bà mù đáng thương nói.” Beatrix, Balzac.

“Sau khi chặt đầu y, họ chôn sống y.” Cái chết của Mongomer, Henri Zvedan.

“Gã có bàn tay lạnh như tay rắn.” Ponson du Terrail. Ở đây không ghi rõ lỗi này là từ nguồn nào.

Trong bộ sưu tập của Max Sengen đáng chú ý nhất là các câu sau, đều không ghi rõ tên tác phẩm lẫn tên tác giả:

“Xác chết nhìn một cách đầy trách móc những người vây quanh mình.”

“Một người đã bị một viên đạn chết người giết chết thì còn làm được gì?”

“Ở ngoại vi thành phố có hàng đàn những con gấu đơn độc.”

“Tiếc thay, đám cưới bị hoãn lại mười lăm ngày, trong thời gian đó cô dâu chạy trốn cùng với đại úy và cho ra đời tám đứa con.”

“Những chuyến đi ba bốn ngày đối với họ là chuyện diễn ra hằng ngày.”

Sau đó đến phần bình phẩm. Đầu tiên, cậu người Thụy Sĩ tuyên bố rằng câu trích của Chateaubriand hoàn toàn bất ngờ, nhất là vì ta cảm thấy trong đó có một lớp ngầm tình dục.

“Tình dục cao độ,” bà nam tước nói.

“Thật khó tin câu như thế lại là của Chateaubriand,” cô chữa morát nói.

“Ồ, ám chỉ con ngựa là đủ biết rồi,” cậu Thụy Sĩ nói.

“Tội nghiệp Maria!” trưởng phòng quan hệ công chúng kết luận.

Sau đó họ nói về Henri, về Ngày định mệnh của Rosny, một văn bản lập thể, theo Bubis. Hay biểu hiện hoàn hảo của hoạt động thần kinh và hành động đọc, theo tay họa sĩ thiết kế, vì Henri không chỉ đọc sách khi chắp hai tay sau lưng mà còn đọc trong khi tản bộ trong vườn. Làm vậy đôi khi có thể rất dễ chịu, theo cậu người Thụy Sĩ, bởi vì té ra cậu là người duy nhất trong số những người có mặt thỉnh thoảng vừa tản bộ vừa đọc sách.

“Cũng có khả năng anh bạn Henri này đã phát minh ra một thiết bị cho phép anh ta đọc mà không phải dùng tay giữ sách,” cô đọc morát nói.

“Nhưng làm sao anh ta lật trang được?” bà nam tước hỏi.

“Rất đơn giản,” cậu chàng Thụy Sĩ nói, “với một cái que nhỏ hay cây gậy kim loại mà anh ta điều khiển bằng miệng, dĩ nhiên nó là một phần của cái thiết bị đọc sách này, thiết bị ấy có lẽ dưới dạng một cái khay gấp được. Ta cũng phải nhớ rằng Henri là một nhà phát minh, tức là anh ta thuộc típ người bản tính khách quan, anh ta đang đọc cuốn tiểu thuyết của một người bạn, đấy là cả một trách nhiệm to tát, bởi người bạn đó muốn biết anh ta có thích cuốn sách hay không, nếu thích thì người ấy muốn biết anh ta có thích nhiều không, và nếu anh ta thích nhiều thì người bạn muốn biết liệu Henri có coi cuốn tiểu thuyết là một kiệt tác hay không, và nếu Henri thừa nhận anh ta nghĩ đó là một kiệt tác thì người bạn muốn biết có phải y đã viết một trong những tác phẩm vĩ đại của văn chương Pháp hay không, cứ vậy cho đến khi anh chàng Henri tội nghiệp kiệt hết lòng kiên nhẫn, bởi nhất định là anh ta có những việc hay hơn để làm ngoài việc đeo cái thiết bị lố lăng kia quanh cổ mà đi ngược đi xuôi khu vườn.”

“Dù thế nào đi nữa, câu văn cho ta thấy Henri không thích cái anh ta đang đọc,” trưởng phòng quan hệ công chúng nói. “Anh ta chẳng yên tâm, anh ta sợ cuốn sách của bạn mình không cất cánh bay cao nổi, anh ta miễn cưỡng phải thừa nhận điều hiển nhiên: bạn anh ta đã viết ra một thứ bỏ đi.”

“Làm sao anh rút ra được như thế?” cô chữa morát muốn biết.

“Qua cái cách Rosny mô tả anh chàng với chúng ta. Hai tay chắp sau lưng: tập trung, tâm trạng chẳng an. Anh ta vừa đi vừa đọc, không dừng lại: cố cưỡng lại sự đã rồi, bứt rứt.”

“Nhưng hành vi sử dụng máy đọc sách đã cứu anh ta,” họa sĩ thiết kế nói.

Rồi họ nói với nhau về câu trích của Daudet, câu này, theo Bubis, không phải một lỗi sai mà là do óc khôi hài của nhà văn, và về Luck’s Favorite của Octave Feuillet (Saint-Lô 1821-Paris 1890), một tác giả rất thành công vào thời ông, kẻ thù của tiểu thuyết hiện thực và tự nhiên chủ nghĩa, tác phẩm của ông giờ đã bị rơi vào sự lãng quên đau thương nhất, vào sự lãng quên đích đáng nhất, và lỗi của ông, “Tử thi im lặng chờ được mổ pháp y,” theo nghĩa nào đó đã vẽ ra từ trước số phận những cuốn sách của chính ông, cậu người Thụy Sĩ nói.

“Có phải cái ông Feuillet này có liên quan đến từ feuilleton trong tiếng Pháp không?” bà Marianne Gottlieb nói. “Tôi nhớ đâu như từ này vừa có nghĩa là phụ trương văn chương của một tờ báo lại vừa có nghĩa là các tiểu thuyết nhiều kỳ được đăng trong đó.”

“Chắc chỉ là một mà thôi,” tay Thụy Sĩ nói với vẻ bí hiểm.

“Từ feuilleton chắc chắn là từ cái tên Feuillet mà ra, ông ấy là ông hoàng của tiểu thuyết nhiều kỳ,” Bubis nói, làm bộ chắc như đinh đóng cột, tuy rằng ông không chắc lắm.

“Nhưng tôi thích nhất là câu của Auback,” cô đọc morát nói.

“Ông này ắt là người Đức,” cô thư ký nói.

“Câu hay thật: ‘Bằng một mắt này chàng đọc, bằng một mắt kia chàng viết’, cho vào một cuốn tiểu sử về Goethe nghe cũng chẳng chỏi đâu,” tay Thụy Sĩ nói.

“Để cho ông Goethe được yên đi,” trưởng phòng quan hệ công chúng nói.

“Ông Auback đó cũng có thể là người Pháp,” cô chữa morát nói, cô đã sống nhiều năm ở Pháp.

“Hoặc người Thụy Sĩ,” bà nam tước nói.

“Còn câu ‘Gã có bàn tay lạnh như tay rắn’ thì các vị thấy sao?” cô hành chính kế toán hỏi.

“Tôi thích Henri Zvedan hơn. ‘Sau khi chặt đầu y, họ chôn sống y,’ ” tay Thụy Sĩ nói.

“Ở đấy có một logic nhất định đấy chứ,” cô chữa morát nói. “Đầu tiên họ chặt đầu y. Những kẻ giết người nghĩ nạn nhân đã chết, nhưng họ vội vội vàng vàng thủ tiêu cái xác. Họ đào một cái huyệt, ném xác vào, lấp đất lên. Nhưng nạn nhân chưa chết. Nạn nhân đã không bị chặt đầu. Họ chặt đầu y, trong trường hợp này có thể có nghĩa là họ đã cắt họng y. Họ đã cố cắt họng y. Máu chảy nhiều. Nạn nhân bất tỉnh. Các hung thủ nghĩ là y đã chết. Lát sau, nạn nhân tỉnh lại. Đất đã giúp cầm máu. Y bị chôn sống. Có vậy thôi. Hết chuyện,” cô chữa morát nói. “Nghe có hợp lý không?”

“Không, chẳng hợp lý gì cả,” trưởng phòng quan hệ công chúng nói.

“Đúng vậy, chẳng hợp lý gì cả,” cô chữa morát công nhận.

“Nghe cũng có chút hợp lý đó cưng à,” Marianne Gottlieb nói, “lịch sử đầy những chuyện khác thường.”

“Nhưng chuyện này thì chẳng hợp lý gì cả,” cô chữa morát nói. “Đừng cố làm tôi thấy dễ chịu hơn, bà Marianne ơi.”

“Tôi nghĩ là chuyện nghe có chút hợp lý,” Archimboldi nói, vẫn chưa ngớt nổi cười, “dù đây không phải câu tôi thích nhất.”

“Thế câu anh thích nhất là gì?” Bubis hỏi.

“Câu của Balzac,” Archimboldi nói.

“Ái, câu ấy thì hay tuyệt,” cô chữa morát nói.

Và tay Thụy Sĩ nhắc lại:

“Tôi không còn thấy gì nữa, người đàn bà mù đáng thương nói.”

♣ ♣ ♣

Sau Di sản, bản thảo kế tiếp Archimboldi gửi cho Bubis là Thánh Thomas, tiểu sử ngụy thư của một nhà viết tiểu sử lấy chủ đề là một nhà văn lớn của chế độ Quốc xã mà một số nhà phê bình muốn coi là giống Ernst Jünger như tạc, tuy rằng rõ ràng đấy không phải Jünger mà là một nhân vật hư cấu. Dạo ấy Archimboldi vẫn đang sống ở Venice theo như Bubis biết, và có lẽ anh vẫn sống bằng nghề làm vườn, dẫu rằng các khoản tạm ứng và ngân phiếu mà nhà xuất bản đều đặn gửi anh có thể cho phép anh dành hết thì giờ viết lách.

Tuy nhiên, bản thảo kế tiếp thì đến từ một hòn đảo của Hy Lạp, đảo Icaria, nơi Archimboldi thuê một căn nhà nhỏ giữa mấy ngọn đồi đá, xa xa là biển. Hệt như quang cảnh cuối cùng của Sisyphus, Bubis nghĩ, và ông nói với Archimboldi như vậy trong một lá thư mà ở đó ông thông báo cho anh biết, như thường lệ, rằng nhà xuất bản đã nhận được bản thảo và đã đọc, sau đó ông đề xuất ba hình thức thanh toán để Archimboldi có thể chọn cách nào tiện nhất cho anh.

Thư hồi âm của Archimboldi làm Bubis ngạc nhiên. Trong đó anh nói rằng Sisyphus, khi chết đi rồi, đã thoát khỏi địa ngục nhờ một mưu mẹo lách luật. Trước khi Zeus thả tự do cho Thần Chết Thanatos, Sisyphus bảo vợ đừng tiến hành nghi thức tang lễ như thường lệ, biết rằng việc đầu tiên Thần Chết sẽ làm là tới mang anh ta đi. Thế là khi anh ta xuống tới địa ngục, Hades khiển trách anh ta và tất thảy chư vị chúa tể chốn âm ty, theo lẽ tự nhiên, liền gào thét vang thấu tận trời hoặc thấu tận vòm địa ngục, vò đầu bứt tóc lấy làm bị xúc phạm. Nhưng Sisyphus nói đó là lỗi của vợ anh ta chứ không phải của anh ta và xin được phép quay về mặt đất đặng trừng phạt ả.

Hades cân nhắc thiệt hơn: đề nghị của Sisyphus chẳng phải không có lý, thế là anh ta được cho tự do với điều kiện chỉ được ở đó ba hoặc bốn ngày, đủ lâu để anh ta thực hiện việc trả thù đầy công chính của mình và tiến hành nghi thức tang lễ đâu ra đấy, cho dù muộn đến đâu. Cố nhiên, Sisyphus chẳng đợi nhắc lại thêm lần nữa, nào phải vô cớ mà anh ta là người cơ trí nhất thế gian, anh ta quay lại dương gian sống một đời hạnh phúc cho đến khi đầu bạc răng long và chỉ quay về Địa ngục khi thân xác không mang nổi anh ta nữa.

Theo một số người, hình phạt tảng đá chỉ có một mục đích duy nhất: buộc Sisyphus cứ phải bận rộn hoài chẳng còn thời gian đâu ấp ủ mưu đồ mới nữa. Nhưng vào thời khắc bất ngờ nhất Sisyphus sẽ nảy ra gì đó và sẽ trở lại dương thế, Archimboldi kết thư bằng những lời này.

♣ ♣ ♣

Cuốn tiểu thuyết anh gửi từ Icaria cho Bubis có tên Người đàn bà mù. Như người ta có thể chờ đợi, cuốn tiểu thuyết nói về một người đàn bà mù không biết mình mù và về một vài nhà thám tử có khả năng thấu thị song không biết rằng mình thấu thị. Chẳng bao lâu sau từ hòn đảo ấy lại có thêm những cuốn sách khác được gửi đến Hamburg. Biển Đen, một vở kịch hay một cuốn tiểu thuyết viết dưới dạng kịch, trong đó Biển Đen đối thoại với Đại Tây Dương một giờ trước lúc bình minh. Lethea, cuốn tiểu thuyết mang chất tính dục lộ liễu nhất của anh, trong đó anh chuyển đến nước Đức dưới thời Đệ tam Đế chế câu chuyện về Lethea, cô nàng tin mình đẹp hơn bất kỳ vị nữ thần nào và rốt cuộc, cùng với chồng là Oleno, bị biến thành một pho tượng đá (cuốn tiểu thuyết này được dán nhãn là khiêu dâm và sau khi thắng một phiên tòa nó trở thành cuốn đầu tiên của Archimboldi được in tới năm lần). Người bán vé số, về cuộc đời một người Đức què bán vé số ở New York. Và Người cha, trong đó một người con trai nhớ lại những hoạt động của cha mình trong tư cách một sát thủ loạn thần kinh, bắt đầu từ năm 1938, khi người con hai mươi tuổi, và kết thúc một cách bí ẩn vào năm 1948.

♣ ♣ ♣

Archimboldi sống ở Icaria một thời gian. Sau đó ông sống ở Amargos. Sau đó ở Santorini. Sau đó ở Sifnos, Syros và Mykonos. Sau đó ông sống trên một hòn đảo nhỏ tí, mà ông gọi là Hecatombe hay Superego, gần đảo Naxos, nhưng ông không bao giờ sống trên Naxos. Sau đó ông rời vùng đảo mà quay về lục địa. Dạo đó ông ăn nho và ô liu, những trái ô liu to khô queo, mùi vị và độ chắc giống như những cục đất. Ông ăn pho mát trắng và pho mát dê ướp muối mà người ta gói trong lá nho để bán, cách ba trăm mét vẫn nghe mùi. Ông ăn bánh mì đen cứng ngắc phải nhúng vào rượu cho mềm. Ông ăn cá và cà chua. Chà là. Nước. Nước lấy từ giếng lên. Ông có một cái xô và một cái bi đông giống như người ta dùng trong quân đội, ông đổ đầy nước vào đấy. Ông bơi, nhưng đứa trẻ rong biển đã chết rồi. Tuy nhiên ông vẫn là tay bơi cừ. Đôi khi ông lặn. Đôi khi ông ngồi một mình trên triền đồi đầy cây bụi, cho đến khi hoàng hôn xuống hay cho đến khi bình minh lên, ông nói ông ngồi đó suy nghĩ nhưng thật ra là ông chẳng nghĩ gì.

♣ ♣ ♣

Sau khi về lại lục địa, ngồi nơi bàn ngoài trời của một nhà hàng ở Missolonghi, ông đọc được trong một tờ báo Đức về cái chết của Bubis.

Thần Chết đã đến Hamburg, một thành phố mà ngài biết rõ như lòng bàn tay mình, giữa khi Bubis đang ngồi trong phòng làm việc đọc cuốn sách của một nhà văn trẻ ở Dresden, một cuốn sách hài hước kinh người khiến ông cười đến nỗi đột quỵ. Theo lời trưởng phòng quan hệ công chúng, tiếng cười sằng sặc của ông có thể nghe rõ mồn một ở phòng chờ ngoài, ở phòng hành chính kế toán, cả ở phòng đọc morát và phòng biên tập, phòng hợp, buồng vệ sinh và căn phòng vừa dùng làm nhà bếp vừa làm chỗ để đồ ăn và vang đến tận phòng bà chủ, là phòng xa hơn hết thảy.

Đột nhiên, tiếng cười dứt. Tất cả mọi người trong nhà xuất bản, vì lý do này khác, đều nhớ như in thời điểm đó, mười một giờ hai lăm phút sáng. Một lát sau, cô thư ký gõ cửa phòng Bubis. Không ai trả lời. Sợ mình quấy rầy ông, cô quyết định chờ. Chặp sau cô cố gắng chuyển một cuộc gọi điện thoại cho ông. Không ai nhấc ống nghe trong phòng của Bubis. Cuộc gọi lần này là khẩn cấp nên cô thư ký, sau khi gõ cửa mấy lần, liền mở cửa. Bubis đổ gục người xuống, giữa những cuốn sách vương vãi một cách đầy nghệ thuật trên sàn, và ông đã chết dẫu rằng vẻ mặt ông hạnh phúc.

♣ ♣ ♣

Thi hài ông được đem thiêu, tro rải trên sông Alster. Vợ góa của ông, bà nam tước, đứng ra lèo lái nhà xuất bản và tuyên bố bà tuyệt không có ý định mang công ty ra bán. Chẳng ai nói năng gì về bản thảo của nhà văn trẻ ở Dresden, anh này vốn đã gặp nhiều mắc mứu với cơ quan kiểm duyệt của Cộng hòa Dân chủ Đức.

Khi đọc xong mẩu báo, Archimboldi đọc lại toàn bộ câu chuyện thêm lần nữa rồi lại thêm lần thứ ba, sau đó ông đứng dậy toàn thân run rẩy và bắt đầu đi dạo quanh Missolonghi, cái nơi đầy ký ức về Byron, tuồng như Byron đã chẳng làm gì khác ở Missolonghi ngoài tản bộ từ đầu này tới đầu kia, từ tửu quán này đến nhà trọ nọ, từ ngõ nhỏ đến quảng trường con, trong khi ai cũng biết rằng ông bệnh quá chẳng đi đâu được và chính Thần Chết mới là người đi đó đi đây nhìn ngó và ghi chép, Thần Chết đến thăm không chỉ để tìm Byron mà còn để làm khách du lịch, bởi vì Thần Chết là du khách lớn nhất trên trái đất.

Rồi Archimboldi ngẫm nghĩ không biết có nên gửi điện chia buồn cho nhà xuất bản hay không. Thậm chí ông còn hình dung sẽ viết gì trong bức điện. Nhưng rồi ông quyết định rằng làm thế thật vô nghĩa, nên ông chẳng viết gì cũng chẳng gửi gì.

♣ ♣ ♣

Hơn một năm sau khi Bubis mất, khi Archimboldi lại đang sống ở Ý, bản thảo cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông, nhan đề Trở về, đến tay nhà xuất bản. Bà nam tước Von Zumpe chẳng thiết đọc nó. Bà đưa bản thảo cho cô đọc morát và bảo cô ta chuẩn bị để ba tháng nữa đem in.

Sau đó bà gửi một bức điện tới địa chỉ hồi đáp ghi trên phong bì đựng bản thảo và ngày hôm sau bà đáp máy bay đến Milano. Từ sân bay bà đến ga tàu vừa kịp để bắt tàu đến Venice. Chiều hôm ấy, trong một nhà hàng ở quận Cannaregio, bà gặp Archimboldi và đưa cho ông một ngân phiếu tiền tạm ứng cho cuốn tiểu thuyết mới và nhuận bút mới phát sinh từ các cuốn trước của ông.

Đó là số tiền không nhỏ, nhưng Archimboldi đút ngân phiếu vào túi chẳng nói chẳng rằng. Rồi họ bắt đầu trò chuyện. Họ ăn cá sardine Venice có kèm những lát semolina mỏng và uống một chai vang trắng. Họ đứng dậy tản bộ quanh một Venice rất khác với Venice mùa đông tuyết giá mà họ đã cùng nhau hân thưởng vào lần gặp cuối trước đây. Bà nam tước thú nhận từ đó đến giờ bà không trở lại chốn này.

“Tôi cũng mới chỉ quay lại đây thôi,” Archimboldi nói.

Họ giống như hai người bạn cũ không cần phải nói gì nhiều với nhau. Đang mới đầu thu, tiết trời mát dịu, chỉ cần mặc áo len mỏng là đủ ấm. Bà nam tước muốn biết có phải Archimboldi vẫn đang sống ở Cannaregio hay không. Đúng vậy, Archimboldi nói, nhưng không phải trên phố Turlona.

Một trong những kế hoạch của ông là đi về phương Nam.

Suốt nhiều năm trời, nhà của Archimboldi, những vật sở hữu duy nhất của ông là chiếc vali đựng quần áo cùng một xấp giấy và hai ba quyển sách ông đang đọc, và chiếc máy đánh chữ mà Bubis tặng ông. Ông xách vali bằng tay phải. Máy đánh chữ ông ôm trong tay trái. Khi quần áo cũ thì ông quẳng đi. Khi đọc xong một cuốn sách, ông đem cho hoặc để nó lại trên cái bàn nào đấy. Suốt một thời gian dài ông không chịu mua máy vi tính. Thỉnh thoảng ông vào mấy cửa hàng bán máy vi tính hỏi người bán rằng máy vi tính vận hành ra làm sao. Nhưng lần nào cũng như lần nào, đến phút cuối ông lùi lại, như bác nông dân miễn cưỡng không muốn lìa xa khoản tiền tiết kiệm của mình. Cho đến khi máy tính xách tay xuất hiện. Chừng đó ông mua một cái và chỉ ít lâu sau ông dùng nó rất thiện nghệ. Khi máy tính xách tay bắt đầu có modem đi kèm, Archimboldi đổi máy cũ mua máy mới và thỉnh thoảng dành hàng giờ trên Internet, tìm những mẩu thông tin hiếm lạ, những cái tên chẳng ai nhớ, những vụ việc bị lãng quên. Ông đã làm gì với cái máy đánh chữ Bubis tặng? Ông quẳng nó từ mép vực xuống những tảng đá sâu bên dưới!

♣ ♣ ♣

Một hôm, đang chu du trên Internet, ông bắt gặp mẩu tin về một người tên là Hermes Popescu, kẻ ông nhanh chóng nhận ra là thư ký của tướng Entrescu, ông tướng bị bêu xác trên thập giá mà ông đã có dịp chứng kiến vào năm 1944, khi quân Đức đang rút lui khỏi biên giới Rumani. Trên một công cụ tìm kiếm của Mỹ ông tìm ra được tiểu sử người này. Sau chiến tranh Popescu di cư sang Pháp. Ở Paris y năng lui tới gặp gỡ cộng đồng lưu vong Rumani, đặc biệt là giao du với những trí thức mà vì lý do này hay khác sinh sống trên tả ngạn sông Seine. Tuy nhiên, dần dần Popescu nhận ra rằng toàn bộ chuyện này là một trò hề như chính y gọi. Những người Rumani này chống cộng kịch liệt, viết bằng tiếng Rumani và triển vọng cuộc đời họ chả ra gì, có chăng chỉ được soi tỏ bởi vài tia yếu ớt nhá nhem của ánh sáng tính dục hoặc tôn giáo mà thôi.

Chẳng bao lâu sau Popescu tìm ra một giải pháp thiết thực. Bằng vài động thái khéo léo (những động thái nhuốm đậm cái phi lý) y len lỏi được vào những vụ làm ăn mờ ám mà trong đó thế giới ngầm, mật thám, nhà thờ và giấy phép hòa với nhau làm một. Tiền vô như nước. Cả đống tiền. Nhưng y vẫn tiếp tục làm. Y quản lý hàng đội nhân công người Rumani không có giấy tờ. Rồi người Hungary và người Séc. Rồi người Bắc Phi. Thỉnh thoảng, mặc áo choàng lông thú, như một bóng ma, y đến thăm họ ở những cái chuồng lợn nơi họ ở. Mùi của người da đen làm y chóng mặt, nhưng y thích. Mấy thằng trời đánh này mới đúng là người chứ, y hay nói vậy. Trong thâm tâm y mong cái mùi ấy nhuốm sâu vào áo choàng của y, vào cái khăn quấn cổ bằng xa tanh của y. Y mỉm cười như một người cha. Thỉnh thoảng thậm chí y còn khóc. Khi xử việc với đám găng tơ thì y khác. Tỉnh rụi là nét nổi bật của y. Không nhẫn, không dây chuyền, không có gì lấp lánh, tuyệt không có dấu vết nào dù nhỏ nhất của vàng.

Y kiếm ra tiền rồi lại kiếm ra nhiều tiền hơn nữa. Các trí thức Rumani đến gặp y vay tiền, họ cần tiền, sữa cho đám nhỏ, tiền thuê nhà, một ca giải phẫu thủy tinh thể cho bà vợ. Popescu lắng nghe họ mà cứ như đang ngủ, đang mơ. Họ xin gì y đều cho tất, nhưng với một điều kiện, là những kể lể ỉ ôi dông dài của họ họ phải thôi không viết bằng tiếng Rumani nữa mà viết bằng tiếng Pháp. Một lần khách đến gặp y là một đại úy cụt chân trước đây thuộc quân đoàn 4 của Rumani, dưới quyền tướng Entrescu.

Thấy ông đại úy bước vào, Popescu nhảy từ ghế này sang ghế kia như một chú bé con. Y đứng dậy khỏi bàn mà múa một điệu múa dân gian vùng Cácpát. Y làm bộ đái vào một góc và vài giọt nhểu ra ngoài. Điều duy nhất y không làm là lăn lộn trên tấm thảm. Ông đại úy cụt chân cố bắt chước Popescu, nhưng sự tàn phế của ông (ông mất một tay một chân) và sự yếu ớt của ông (ông bị thiếu máu) khiến ông không làm được.

“Ôi những đêm Bucarest,” Popescu nói. “Ôi, những sáng Pitesti. Ôi, những bầu trời Cluj vừa giành lại được. Ôi, những văn phòng vắng vẻ ở Turnu Severin. Ôi, những nàng vắt sữa xứ Bacau. Ôi, những nàng gái góa vùng Constanta.”

Rồi tay trong tay họ đi về căn hộ của Popescu, trên phố Verneuil, rất gần trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia, ở đó họ nói chuyện nữa và uống nữa và ông đại úy tàn tật có dịp kể tỉ mỉ cho Popescu nghe về cuộc đời ông, một đời anh dũng, hẳn rồi, song đầy nghịch cảnh. Cho tới khi Popescu, đưa tay gạt lệ, ngắt ngang mà hỏi ông ta có phải cũng là một chứng nhân cho vụ Entrescu bị đóng đinh trên thập giá hay không.

“Tôi có mặt ở đó,” đại úy tàn tật nói, “lúc ấy tụi tôi đang chạy trốn xe tăng Nga, chúng tôi mất hết pháo, chúng tôi đang sắp cạn hết đạn.”

“Vậy là mấy anh sắp cạn hết đạn,” Popescu nói, “và ông có mặt ở đó chứ?”

“Tôi có mặt ở đó,” đại úy tàn tật nói, “chiến đấu trên mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc tôi, chỉ huy vài ba lính tả tơi rách rưới, quân đoàn 4 rút lại chỉ còn một cỡ trung đoàn và không có sĩ quan hậu cần không trinh sát không bác sĩ không y tá không có bất cứ cái gì giống như một cuộc chiến tranh của thế giới văn minh, chỉ có những con người mệt lử và một lũ những thằng điên mỗi ngày một đông thêm.”

“Vậy là một lũ những thằng điên,” Popescu nói, “mà ông có mặt ở đó chứ?”

“Tôi có mặt ở đó,” đại úy tàn tật nói, “và tất cả chúng tôi đi theo tướng Entrescu, tất cả chúng tôi chờ một ý tưởng, một lời quở mắng, một ngọn núi, một cái hang rực sáng, một tia chớp chói lòa trên bầu trời không mây, một lằn sét bất ngờ, một lời tử tế.”

“Vậy, một lời tử tế,” Popescu nói, “và các anh ở đó chờ lời tử tế này?”

“Giống như một người chờ lộc thánh tự trên trời,” đại úy tàn tật nói. “Tôi chờ, mấy ông đại úy chờ, mấy ông tướng vẫn còn lại với chúng tôi chờ, mấy tay thiếu úy non nớt chờ và lũ điên cũng chờ, mấy tay trung sĩ và lũ điên, cái lũ mà nửa tiếng nữa sẽ đào ngũ và cái lũ đang trên đường đào ngũ, kéo lê súng trường trên mặt đất cháy khô, cái lũ đào ngũ mà chẳng biết mình đang đi về phía Tây hay phía Đông, phía Nam hay phía Bắc, và cái lũ còn lại phía sau, viết những bài thơ tuyệt mệnh bằng thứ tiếng Rumani rõ hay, những bức thư gửi mẹ, những mẩu thư ẩm sịt nước mắt gửi cho mấy nường con gái mà chúng sẽ không bao giờ còn gặp nữa.”

“Vậy, thư dài thư ngắn, thư ngắn thư dài,” Popescu nói, “và ông cũng không cưỡng nổi mà đâm ra sến súa bi lụy chớ?”

“Không, tôi không có giấy bút,” đại úy tàn tật nói. “Tôi có nghĩa vụ, tôi có lính dưới quyền và tôi phải làm gì đó nhưng tôi không biết phải làm gì. Quân đoàn 4 bị chựng lại nơi một nhà nghỉ thôn quê. Còn hơn cả nhà, một lâu đài. Tôi phải phân cho đám lính khỏe mạnh ở trong chuồng ngựa còn lính đau lính ốm thì ở trong buồng. Lũ điên thì tôi cho ở trong vựa lúa và tôi chuẩn bị sẵn các biện pháp cần thiết để phóng hỏa đốt vựa nếu chứng điên của lũ điên vượt quá mức điên thường. Tôi phải nói chuyện với tướng chỉ huy đặng cho ổng biết rằng ở cái dinh cơ to vật đó chả có đồ ăn gì ráo trọi. Và tướng chỉ huy của tôi phải nói với một ông tướng, rồi ông tướng này, ổng đang bệnh, ổng phải leo cầu thang lên tầng hai cái lâu đài đó đặng báo cho tướng Entrescu rằng tình hình không ổn rồi, đã có mùi tan rữa rồi, tốt nhất là nhổ trại hành quân cấp tốc về phía Tây thôi. Nhưng tướng Entrescu chỉ thỉnh thoảng mở cửa, những lần còn lại ông ta còn chẳng trả lời.”

“Vậy là đôi lúc ổng trả lời đôi lúc thì không,” Popescu nói, “và ông là chứng nhân cho tất cả chuyện này?”

“Tôi là chứng nhân, nhưng tôi nghe thấy nhiều hơn nhìn thấy,” đại úy tàn tật nói. “Tôi và đám sĩ quan còn lại của cái từng là quân đoàn 4, choáng váng, kinh hồn, hoang mang, vài người khóc tu tu, người khác nuốt nước mắt ngược vào trong, vài người rền rĩ khóc than số phận tàn khốc của nước Rumani, một đất nước mà với ngần ấy đức tính và ngần ấy hy sinh đáng lẽ phải là ngọn đèn soi đường, người khác nữa thì gặm móng tay, tất thảy đều ủ ê, ê ủ, ủ ê, cho đến khi rốt cuộc điều mà số phận đã an bài trở thành sự thật. Tôi đã không nhận ra. Lũ điên trở nên đông hơn lũ tỉnh. Chúng rời vựa lúa. Vài sĩ quan bắt đầu dựng thập giá. Tướng Danilescu đã đi rồi, tẩu về phía Bắc lúc bình minh, chẳng nói với ai một tiếng nào, tì lên gậy, có tám người hộ tống. Tôi không có mặt ở lâu đài khi chuyện đó xảy ra. Tôi đang ở gần đấy cùng với vài lính chuẩn bị những phòng tuyến chả bao giờ dùng tới. Tôi nhớ chúng tôi đào hào và tìm thấy xương. Đấy là xương bò bệnh, một lính nói. Là xác người, một lính khác nói. Là bê bị hiến sinh, lính đầu tiên nói. Không, là xác người. Cứ đào đi, tôi nói, đừng bận tâm, cứ đào đi. Nhưng lại thấy thêm xương. Cái chó gì vậy? tôi rống lên. Cái đất lạ kỳ nào vậy? tôi hét. Lính thôi không đào hào quanh lâu đài nữa. Chúng tôi nghe ồn ào kinh khủng, nhưng chúng tôi mệt quá chả còn đủ sức đi xem chuyện gì đang xảy ra. Một lính nói chắc chiến hữu của tụi mình tìm thấy đồ ăn và đang ăn mừng. Không thì rượu. Là rượu. Các hầm rượu bị khoắng sạch và có đủ rượu cho tất cả. Thế rồi, trong khi ngồi bên chiến hào săm soi một cái sọ, tôi thấy cái thập giá. Một thập giá to đùng mà một nhóm điên đang khênh giễu quanh sân lâu đài. Khi chúng tôi quay lại, với cái tin rằng không thể đào chiến hào vì lâu đài này cứ như một cái nghĩa trang, mọi cái đã xong rồi.”

“Vậy mọi cái đã xong rồi,” Popescu nói, “và ông có thấy xác ông tướng trên cây thập giá không?”

“Tôi có thấy,” đại úy tàn tật nói, “tất cả chúng tôi đều thấy thế rồi ai nấy bắt đầu lục tục đi, tuồng như tướng Entrescu có thể hồi sinh bất cứ lúc nào mà trừng phạt chúng tôi. Trước khi tôi đi, có một đội tuần tra Đức tới, họ cũng đang đào tẩu. Họ bảo chúng tôi tụi Nga chỉ cách hai làng nữa thôi và chúng không bắt tù binh. Thế rồi cánh Đức đi và chẳng bao lâu sau chúng tôi cũng lên đường.”

Lần này Popescu chẳng nói gì.

Hai người lặng thinh một chặp thế rồi Popescu vào bếp làm món bít tết cho ông đại úy tàn tật, vừa làm vừa từ trong bếp hỏi ông này rằng ông muốn bít tết tái hay chín?

“Tái vừa,” đại úy tàn tật nói, vẫn đang chìm đắm trong ký ức về cái ngày kinh khủng đó.

Đoạn Popescu dọn cho ông một đĩa bít tết tướng, kèm xốt tiêu, và đề nghị để mình cắt thịt thành từng miếng nhỏ cho ông. Ông đại úy tàn tật cảm ơn y với vẻ lơ đãng. Trong khi ăn họ không nói gì với nhau. Popescu ra ngoài trong mấy giây, bảo rằng y ta phải gọi một cú điện thoại, và khi y ta quay lại thì ông đại úy đang nhai mẩu bít tết cuối cùng. Popescu mỉm cười hài lòng. Ông đại úy đưa tay lên trán, làm như ông đang cố nhớ lại điều gì hoặc đầu ông bị đau.

“Ợ đi, cứ ợ đi, nếu cơ thể mình đã đòi ợ, bạn của tôi ơi,” Popescu nói.

Ông đại úy tàn tật liền ợ.

“Đã bao lâu rồi ông không được ăn món bít tết như vậy hử?” Popescu hỏi.

“Hàng bao năm rồi,” đại úy tàn tật nói.

“Mùi vị quả là thiên đường chứ?”

“Đúng vị thiên đường,” đại úy tàn tật nói, “nhưng nói chuyện về tướng Entrescu cứ như là mở một cánh cửa đóng chặt từ lâu vậy.”

“Dốc hết khúc nhôi tâm sự ra đi,” Popescu nói, “ông đang ở giữa những đồng bào ruột thịt mà.”

Nghe từ “những” ông đại úy tàn tật liền nhảy dựng lên nhìn về phía cửa, nhưng rõ là trong phòng chỉ có hai người bọn họ mà thôi.

“Tôi đi đặt một đĩa hát đây,” Popescu nói, “ông có muốn nghe vài bản của Gluck không?”

“Tôi chưa bao giờ nghe ông ấy,” đại úy tàn tật nói.

“Bach thì sao?”

“Có, tôi thích Bach,” đại úy tàn tật lim dim đôi mắt nói.

Quay lại bên ông đại úy, Popescu rót cho ông ít cognac Napoléon.

“Có gì khiến ông lo nghĩ không, đại úy, có gì làm ông bứt rứt không yên, có chuyện gì ông muốn kể tôi nghe không, có cách gì tôi giúp ông không?”

Môi đại úy hé ra nhưng rồi khép lại và ông lắc đầu.

“Tôi chả cần gì hết.”

“Chả cần gì hết, chả cần gì hết, chả cần gì hết,” Popescu vừa nói vừa ngồi xuống ghế bành.

“Xương với xẩu, xương với xẩu,” đại úy tàn tật lẩm bẩm, “tại sao tướng Entrescu lại đưa chúng ta tới một lâu đài mà dưới đất toàn xương vậy chớ?”

Im lặng.

“Có lẽ vì ông ấy biết ông ấy sắp chết và ông ấy muốn nếu đã vậy thì chết ở nơi toàn cái chết cho nó tiện,” Popescu nói.

“Đào đâu cũng thấy xương,” đại úy tàn tật nói. “Lòng đất đầy ú ụ xương người. Không thể nào đào một cái hào mà không gặp những xương bàn tay, một cánh tay, một cái đầu lâu. Cái chỗ gì vậy chớ? Chuyện gì đã xảy ra ở đó? Và tại sao cái thập giá của mấy thằng điên nhìn từ xa cứ khẽ gọn như là một lá cờ?”

“Hẳn là ảo giác quang học,” Popescu nói.

“Tôi không biết,” đại úy tàn tật nói. “Tôi mệt.”

“Đúng đó, ông mệt rồi đại úy ơi, nhắm mắt lại đi.” Popescu nói, nhưng mắt ông đại úy đã nhắm được một chặp rồi.

“Tôi mệt,” ông nhắc lại.

“Ông đang giữa chỗ bạn bè,” Popescu nói.

“Đường dài lắm.”

Popescu im lặng gật đầu.

Cửa mở và hai người Hungary bước vào. Popescu thậm chí không nhìn họ. Bằng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa đặt rất gần miệng và mũi, y đang đánh nhịp theo Bach. Hai người Hung đứng nhìn và chờ một dấu hiệu. Ông đại úy ngủ thiếp đi. Khi nhạc dứt Popescu đứng dậy nhón chân đi lại gần ông.

“Con của một thằng Thổ và một con điếm,” y nói bằng tiếng Rumani, tuy giọng y đầy ưu tư hơn là tàn bạo.

Y ra hiệu cho hai người Hung lại gần. Mỗi người một bên, họ nhấc ông đại úy tàn tật lên lôi ra cửa. Ông đại úy bắt đầu ngáy dữ và cái chân giả của ông tuột ra trên thảm. Hai người Hung thả ông xuống sàn rồi cố vặn vít lắp cái chân vào lại nhưng không được.

“Đồ bị thịt hậu đậu,” Popescu nói, “để đó tao.”

Trong một phút, cứ như cả đời y chả làm việc gì khác ngoài việc này, Popescu lắp cái chân vào lại và rồi, thấy dạn dĩ hơn, y kiểm tra cánh tay giả.

“Ráng đừng có để rơi mất cái nào dọc đường đó,” y nói.

“Đừng lo, sếp,” một trong hai người Hung nói.

“Ta đưa hắn đến chỗ mọi khi chứ sếp?”

“Không,” Popescu nói, “tốt hơn tụi mày vứt thằng này xuống sông Seine. Phải chắc là nó ở luôn dưới đó!”

“Dĩ nhiên rồi, sếp,” gã Hung vừa nói ban nãy nói.

Ngay khi đó đại úy tàn tật mở mắt phải ra và nói bằng giọng khản đặc:

“Xương, thập giá, xương.”

Gã Hung kia nhẹ nhàng vuốt cho mi mắt ông nhắm lại.

“Đừng lo,” Popescu cười rộ nói, “hắn ngủ rồi mà.”

♣ ♣ ♣

Nhiều năm sau, khi tài sản của Popescu còn hơn cả kếch xù, y phải lòng một nữ nghệ sĩ người Trung Mỹ, Asuncion Reyes, một phụ nữ có nhan sắc phi thường, và lấy cô ta. Sự nghiệp đóng phim của Asuncion Reyes ở châu Âu (phim Pháp hay phim Ý hay phim Tây Ban Nha) ngắn ngủi, nhưng các buổi tiệc mà cô tổ chức và tham dự thì đúng là không đếm xuể. Một hôm Asuncion Reyes nhờ Popescu làm một việc cho một đất nước đang cơn lận đận, bởi vì y có quá nhiều tiền. Ban đầu y nghĩ chắc ý cô là Rumani nhưng rồi y nhận ra cô đang nói về Honduras. Thế là năm đó, dịp Giáng sinh, y cùng vợ đi Tegucigalpa, một thành phố mà đối với Popescu, vốn là người ngưỡng mộ những sự tương phản và quái dị, dường như chia thành ba nhóm hay ba đẳng cấp khác hẳn nhau: người da đỏ và người bệnh, chiếm phần đông cư dân, và nhóm gọi là da trắng, thật ra là dân lai, là thiểu số nhưng nắm quyền lực trong tay.

Thảy đều là người đồi bại và dễ mến, bị tác động bởi cái nóng và thức ăn hoặc sự thiếu ăn, những người nhìn thẳng vào mặt ác mộng.

Cơ hội kinh doanh là có, điều đó y nhìn thấy tức thì, nhưng người Honduras, kể cả những người học trường Harvard, đều có thiên hướng tự nhiên là trộm cắp, trộm cắp thô bạo nếu có thể, cho nên y cố sức từ bỏ ý tưởng ban đầu của mình. Nhưng Asuncion Reyes cứ khăng khăng nằn nì mãi cho nên lần thứ hai sang đó vào dịp Giáng sinh Popescu liên hệ với giới chức sắc tôn giáo cao nhất của nước này, những lãnh tụ duy nhất mà y tin cậy. Người ta bố trí một cuộc gặp và sau khi y gặp vài vị giám mục và vị tổng giám mục Tegucigalpa, Popescu cân nhắc nên đầu tư vốn vào ngành kinh tế nào. Những khu vực duy nhất vận hành và có lãi thì nằm trong tay người Mỹ cả rồi. Tuy nhiên, một buổi chiều kia, nơi một cuộc gặp gỡ mà chủ xị là ngài tổng thống và phu nhân tổng thống, Asuncion Reyes nảy ra một ý thiên tài. Đơn giản là cô chợt nghĩ ra rằng nếu Tegucigalpa có cái gì đó giống như tàu điện ngầm Paris thì thật là hay. Popescu, người không gì có thể làm chùn bước, và có khả năng nhìn ra lợi nhuận nơi những ý tưởng kỳ khôi nhất, bèn nhìn thẳng vào mắt ngài tổng thống Honduras mà nói y có thể làm được. Mọi người đều phấn chấn lên về dự án này. Popescu bắt tay vào việc và hốt bạc. Ngài tổng thống và một vài bộ trưởng cùng thư ký càng hốt nhiều bạc hơn. Giáo hội cũng chẳng ra về tay không. Có những buổi lễ khai trương nhà máy xi măng và hợp đồng với những công ty của Pháp, của Mỹ. Công việc chuẩn bị kéo dài hơn mười lăm năm. Với Asuncion Reyes, Popescu tìm thấy hạnh phúc, nhưng rồi y đánh mất nó thế là họ ly dị. Y quên phứt tàu điện ngầm Tegucigalpa. Cái chết đến với y đột ngột ở một nhà thương Paris, khi y đang ngủ trên một giường toàn những hoa hồng.

♣ ♣ ♣

Archimboldi gần như không dính dáng gì tới các nhà văn Đức khác, một phần vì những khách sạn mà các nhà văn kia cư trú khi ra nước ngoài không phải là những khách sạn nơi ông ở. Nhưng ông có dịp biết một nhà văn người Pháp tên tuổi, một nhà văn lớp trước với những tiểu luận văn chương giúp ông được thừa nhận và nổi tiếng, ông này kể với Archimboldi về một ngôi nhà dành cho những nhà văn đã biến mất của châu Âu, một chốn lánh nạn. Bản thân ông người Pháp là một nhà văn biến mất, nên ông biết mình đang nói về cái gì, và Archimboldi đồng ý đến thăm ngôi nhà ấy.

Họ đến lúc ban đêm, trên một chiếc taxi rệu rã cà tàng mà tài xế cứ lảm nhảm một mình. Tài xế tự nhắc lời mình nói, chửi thề, lại tự nhắc lời mình nói, nổi xung với chính mình, cho đến khi Archimboldi mất kiên nhẫn liền bảo anh ta im đi, tập trung mà lái. Ông nhà văn lớn tuổi, tác gia tiểu luận, hình như chẳng thấy phiền bởi màn độc thoại của tay tài xế, nhìn Archimboldi với vẻ trách móc nhẹ nhàng, làm như ông sợ tay tài xế - xét cho cùng là tài xế độc nhất ở thị trấn này - sẽ mếch lòng chăng.

Vây quanh ngôi nhà nơi các nhà văn biến mất sinh sống là một khu vườn rộng thênh có cây cối, cỏ hoa, với một hồ nước mà hai bên là những bàn bằng sắt rèn sơn trắng, những cái ô và ghế bố dài. Phía sau, dưới bóng mấy cây sồi trăm tuổi, có một không gian để chơi bi sắt, còn sau đó nữa là rừng. Khi họ đến, các nhà văn biến mất đang ở trong nhà ăn, vừa ăn vừa xem tin tức trên tivi. Họ khá đông và gần như tất cả là người Pháp, điều này khiến Archimboldi ngạc nhiên, ông chưa bao giờ mường tượng rằng ở Pháp lại có nhiều nhà văn biến mất đến thế. Nhưng điều làm ông ngỡ ngàng hơn hết là có rất nhiều phụ nữ. Tất cả đều lớn tuổi, vài người trang phục chỉn chu, thậm chí cao nhã, những người khác thì rõ ràng là ăn mặc được chăng hay chớ, có lẽ là nhà thơ, Archimboldi nghĩ, họ mặc áo váy bẩn thỉu và đi dép lê, mang tất cao đến gối, không trang điểm, mái tóc bạc của vài người được bới cao lên bọc trong những cái mũ len ắt do họ tự đan lấy.

Các bàn được hai người hầu bàn bận đồ trắng phục vụ, ít nhất là trên lý thuyết, song trên thực tế nhà ăn này hoạt động theo kiểu tiệc đứng tự chọn, mỗi nhà văn cầm một khay tự lấy thứ gì mình thích. Ông nghĩ sao về cộng đồng nho nhỏ của chúng tôi? nhà tiểu luận vừa nói vừa cười khẽ, bởi ngay lúc ấy, nơi đầu kia nhà ăn, một trong các nhà văn vừa sụm xuống vì một cơn chóng mặt hoặc một cơn đau ở đâu đó, và hai anh hầu bàn đang cố làm ông ta tỉnh lại. Archimboldi đáp rằng nói bây giờ hãy còn sớm quá. Rồi họ tìm được một bàn trống và lấy vào đĩa mình thứ gì đó giống như khoai tây nghiền và rau bina, kèm theo một quả trứng luộc chín và một miếng bít tết. Đồ uống thì họ rót cho mình hai ly nhỏ thứ rượu địa phương rất nặng, sực mùi đất.

Nơi đầu kia nhà ăn, cạnh ông nhà văn bị quỵ, giờ có một cặp thanh niên trẻ, cả hai mặc đồ trắng, cũng như hai anh hầu bàn và một nhóm năm nhà văn biến mất đang quan sát người ta hồi tỉnh bạn của mình. Ăn xong, nhà tiểu luận đưa Archimboldi đến bàn tiếp tân để người ta làm thủ tục chính thức cho ông vào, nhưng do chẳng có ai ở đấy nên họ sang phòng tivi, nơi một số nhà văn biến mất đang gà gật trước một biên tập viên truyền hình đang nói về thời trang và về chuyện tình ái lăng nhăng của các ngôi sao điện ảnh và truyền hình Pháp, nhiều người trong số đó Archimboldi chưa nghe tới bao giờ. Đoạn nhà tiểu luận chỉ cho ông thấy phòng ngủ của ông, một căn phòng nhã đạm với một giường đơn, một bàn viết, một ghế, một tivi, một tủ áo quần, một tủ lạnh con và một buồng tắm có vòi sen.

Cửa sổ nhìn ra khu vườn vẫn sáng đèn. Mùi hoa và mùi cỏ ướt thoảng vào phòng. Xa xa có tiếng chó sủa. Nhà tiểu luận, vẫn đang đứng nơi khung cửa trong khi Archimboldi thăm thú căn phòng, đưa cho ông chìa khóa và cam đoan với ông rằng nơi đây, dẫu ông hẳn sẽ không tìm thấy hạnh phúc, thứ dẫu sao cũng không có thật, song ông sẽ tìm thấy tĩnh lặng và bằng an. Sau đó Archimboldi xuống phòng của nhà tiểu luận dưới tầng một, bản sao in hệt của căn phòng được phân cho ông, chẳng phải giống ở đồ đạc và kích cỡ mà giống ở sự trần trụi. Hẳn ai cũng sẽ nói rằng nhà tiểu luận là người mới tới, Archimboldi nghĩ. Không có sách, không có quần áo vãi lung tung, không có giấy lộn hay dấu ấn cá nhân, chẳng có gì để phân biệt phòng này với phòng của ông ngoại trừ một quả táo đặt trong chiếc đĩa trắng trên tủ đầu giường.

Như đọc được ý nghĩ của Archimboldi, mắt nhà tiểu luận gặp mắt ông. Ông tỏ ra bối rối. Ông ta biết mình đang nghĩ gì và giờ ông ta đang nghĩ điều y hệt và không hiểu nổi, cũng như mình không hiểu nổi, Archimboldi nghĩ. Thật ra, vẻ mặt họ là buồn rầu hơn là bối rối. Nhưng có quả táo trên chiếc đĩa trắng, Archimbodi nghĩ.

“Quả táo ấy thơm về đêm,” nhà tiểu luận nói. “Khi tôi tắt đèn đi. Nó có mùi mạnh như bài ‘Voyelles’ của Rimbaud. Nhưng cái gì thì rốt cuộc cũng suy tàn,” nhà tiểu luận nói. “Mọi thứ đều suy tàn trong đau đớn. Mọi hùng ngôn đều nảy sinh từ đau đớn.”

Tôi hiểu, Archimboldi nói, mặc dù ông chả hiểu gì sất. Rồi họ bắt tay nhau và nhà tiểu luận đóng cửa. Vì Archimboldi chưa mệt (ông không ngủ nhiều, tuy thỉnh thoảng ông có thể ngủ mười sáu tiếng liền tù tì), nên ông đi bộ một vòng đây đó quanh nhà.

Trong phòng tivi chỉ còn lại ba nhà văn biến mất, cả ba đều ngủ say sưa, và một người trên tivi xem ra sắp bị ám sát. Archimboldi xem bộ phim một chặp, nhưng rồi ông đâm chán, bèn đi vào nhà ăn vắng tanh sau đó đi dọc mấy hành lang cho tới khi gặp một phòng kiểu như phòng thể dục hoặc phòng xoa bóp, nơi một thanh niên mặc áo pun trắng quần soóc trắng đang vừa nâng tạ vừa nói chuyện với một ông già mặc pyjama, cả hai liếc nhìn Archimboldi khi ông bước vào nhưng rồi vẫn tiếp tục chuyện trò, làm như ông không có đó. Người nâng tạ xem chừng là nhân viên, còn ông già mặc pyjama chẳng giống mấy với một nhà văn biến mất mà đúng hơn có vẻ là một tiểu thuyết gia bị người đời lãng quên một cách đích đáng, típ tiểu thuyết gia Pháp xoàng xĩnh đen đủi điển hình, ắt có lẽ là sinh bất phùng thời.

Khi rời ngôi nhà qua cửa sau, ông gặp hai bà già ngồi nơi ghế xích đu ở một đầu sân hiên sáng đèn. Một người đang nói chuyện bằng giọng líu lo ngọt ngào, như nước một dòng suối nhỏ chảy qua lòng đá phẳng, còn người kia lặng thinh ngắm rừng thẫm tối trải dài bên kia sân chơi bi sắt. Người đang nói có vẻ là một nhà thơ trữ tình, Archimboldi cảm thấy thế, bà đầy ắp những điều cần nói mà không nói được bằng thơ, còn người kia thì tuồng như là một tiểu thuyết gia tên tuổi, đã chán những từ vô nghĩa và những câu vô ích. Bà trước mặc quần áo trẻ trung, thậm chí trẻ con. Bà sau mặc áo choàng tắm rẻ tiền, quần jean, mang giày thể thao.

Ông chào họ bằng tiếng Pháp và hai bà già nhìn ông mỉm cười, như mời ông ngồi xuống với họ, và Archimboldi không cần họ phải giục.

“Đây là đêm đầu tiên của ông ở nhà chúng tôi phải không?” bà già trẻ trung hỏi.

Ông chưa kịp trả lời thì bà già im lặng nói thời tiết đang tốt lên và chẳng bao lâu nữa mọi người sẽ có thể mặc sơ mi cộc tay. Archimboldi nói bà nói đúng. Bà trẻ trung cả cười, có lẽ bà đang nghĩ tới tủ quần áo của mình, rồi bà hỏi ông làm gì.

“Tôi là tiểu thuyết gia,” Archimboldi nói.

“Nhưng ông không phải người Pháp,” bà già im lặng nói.

“Đúng, tôi là người Đức.”

“Người Bavaria?” bà già trẻ trung muốn biết. “Tôi có lần tới Bavaria rồi, tôi thích vùng ấy lắm. Cái gì cũng lãng mạn ơi là lãng mạn,” bà già trẻ trung nói.

“Không, tôi quê ở miền Bắc,” Archimboldi nói.

Bà già trẻ trung làm bộ rùng mình.

“Hanover tôi cũng tới rồi luôn,” bà nói, “ông quê ở đó phải không?”

“Đại khái vậy,” Archimboldi nói.

“Đồ ăn ở đó thật không nuốt nổi,” bà già trẻ trung nói.

Sau đó Archimboldi hỏi hai bà kia làm gì và bà già trẻ trung cho anh biết bà từng là thợ làm tóc ở Rodez cho đến khi bà lấy chồng, thế rồi chồng con bà không cho bà làm nữa. Bà kia nói hồi trước bà làm thợ khâu nhưng bà ghét nói về công việc của mình. Mấy bà thật lạ, Archimboldi nghĩ. Tạm biệt họ, ông đi bộ vào vườn, càng lúc càng xa khỏi ngôi nhà, nơi nhiều đèn còn sáng, tuồng như người ta đang chờ thêm một vị khách nữa. Đi lang thang vô mục đích, chỉ hân thưởng đêm và mùi của miền quê, ông đến cửa trước, một cánh cửa to bằng gỗ không chốt chặt, ai cũng có thể ẩy ra. Một bên cửa ông phát hiện ra một tấm biển mà khi đến cùng với nhà tiểu luận ông đã không nhìn thấy. Biển đề, bằng những con chữ nhỏ, màu đậm: BỆNH VIỆN MERCIER. AN DƯỠNG ĐƯỜNG - TRUNG TÂM THẦN KINH. Không mấy ngạc nhiên, ông hiểu ngay lập tức rằng nhà tiểu luận đã đưa ông tới một nhà thương điên. Lát sau ông quay lại ngồi nhà, đi lên phòng mình, thu dọn vali và máy tính xách tay. Trước khi ra đi ông muốn gặp nhà tiểu luận. Sau khi gõ cửa mà chẳng ai thưa, ông bước vào phòng.

Nhà tiểu luận đang ngủ say như chết, đèn đóm tắt cả, tuy ánh đèn sân trước lọt vào cửa sổ, qua đôi rèm hé. Ga trải giường hầu như không nhăn. Nhà tiểu luận trông như một điếu xì gà quấn trong khăn tay. Ông ta già quá, Archimboldi nghĩ. Đoạn ông rời khỏi đó tịnh không tiếng động và khi lại băng qua khu vườn lần nữa ông có cảm tưởng nhìn thấy một người đàn ông mặc đồ trắng chạy hết tốc lực dọc một bên khu nhà thương rồi hụp xuống sau những thân cây nơi bìa rừng.

Chỉ khi đã ra khỏi nhà thương và ở trên đường rồi, ông mới chậm bước và cố lấy hơi. Con đường, một con đường đất, chạy qua rừng và những ngọn đồi thoải. Chốc chốc một làn gió làm cành cây lay động và tóc ông gợn lên. Gió ấm. Đến một lúc ông băng qua một cây cầu. Khi ông tới rìa thị trấn thì lũ chó bắt đầu sủa. Gần quảng trường phía trước nhà ga ông nhác thấy chiếc taxi đã đưa ông tới nhà thương. Tài xế không có đó, nhưng khi Archimboldi đi ngang chiếc xe ông thấy một dáng người nơi băng sau chuyển động và ai đó kêu lên. Cửa nhà ga mở, nhưng ô cửa bán vé thì chưa. Ông thấy ba người Bắc Phi ngồi trên một băng ghế, vừa uống rượu vừa tán chuyện. Họ và Archimboldi gật đầu chào nhau, kế đó ông đi ra đường ray. Có hai đoàn tàu dừng bên mấy căn lán.

Khi ông vào lại phòng đợi thì một trong mấy người Bắc Phi đã đi rồi. Ông ngồi ở đầu kia phòng, chờ ô cửa bán vé mở. Đoạn ông mua một vé đoàn tàu đầu tiên rời thị trấn.

♣ ♣ ♣

Đời sống tình dục của Archimboldi giới hạn trong những lần gặp gái điếm ở những thành phố khác nhau nơi ông sống. Vài cô điếm không lấy tiền ông. Ban đầu họ lấy, nhưng về sau, khi Archimboldi bắt đầu trở thành một phần của cảnh quan rồi, họ thôi không lấy nữa, hoặc không phải lúc nào họ cũng lấy tiền ông, chuyện đó thường dẫn tới những hiểu lầm được giải quyết bằng vũ lực.

♣ ♣ ♣

Trong suốt ngần ấy năm người duy nhất Archimboldi duy trì quan hệ ít nhiều bền vững là nữ nam tước Von Zumpe. Thường họ chỉ giao tiếp qua thư từ, tuy thỉnh thoảng bà nam tước có đến các thành phố và thị trấn nơi Archimboldi đang sống và họ cùng nhau đi bộ hồi lâu, tay trong tay như hai người tình cũ không còn nhiều bí mật để kể. Rồi Archimboldi đưa bà nam tước về khách sạn của bà, khách sạn tốt nhất mà thành phố hay thị trấn ấy có, và họ chia tay với một nụ hôn trên má, hoặc, nếu ngày hôm ấy đặc biệt u sầu, với một cái ôm. Sáng hôm sau bà nam tước sẽ ra đi lúc sáng tinh mơ, rất lâu trước khi Archimboldi thức dậy đến tìm bà.

Trong thư từ của họ thì khác. Bà nam tước nói về tình dục, bà vẫn thực hành tình dục mãi đến tận khi luống tuổi, về những người tình ngày càng đê tiện hơn hoặc thảm hại hơn, về những buổi tiệc nơi bà thả mình tận hưởng chẳng khác khi bà mười tám, về những người mà Archimboldi chưa nghe nói bao giờ, dẫu rằng theo bà nam tước thì họ là những cái tên ai cũng biết ở Đức và châu Âu. Dĩ nhiên, Archimboldi không xem tivi, không nghe radio, không đọc báo. Ông nghe nói về vụ bức tường Berlin sụp đổ là nhờ một bức thư của bà nam tước, đêm xảy ra sự kiện ấy bà đang ở Berlin. Đôi khi, lòng đa cảm dâng lên, bà nam tước bảo ông về lại Đức. Tôi đã về lại rồi, Archimboldi trả lời. Tôi muốn mình về hẳn, bà nam tước nói. Ở lại lâu hơn. Giờ mình nổi tiếng rồi. Một buổi họp báo chẳng có hại gì đâu. Tuy rằng họp báo thì có thể hơi quá sức với mình. Nhưng ít nhất thì cũng phải là một cuộc phỏng vấn độc quyền với một nhà báo hàng đầu chuyên về văn hóa nào đấy. Chỉ trong những ác mộng tồi tệ nhất của tôi chuyện đó mới xảy ra thôi, Archimboldi viết trả lời bà.

Đôi lần họ trò chuyện về các vị thánh, bởi bà nam tước, cũng như một số phụ nữ có đời sống tính dục mạnh, có nét thần bí, mặc dù nét thần bí của bà tương đối nhu hòa và được thỏa mãn nhờ thẩm mỹ hoặc thông qua lòng nhiệt tình sưu tập đối với tranh thờ và tranh khắc gỗ thời Trung cổ. Họ trò chuyện về Edward Người Thú tội, chết năm 1066 và đích thân trao vương nhẫn của mình cho Thánh Giăng Người truyền giảng Phúc âm, vị này lẽ dĩ nhiên là nhiều năm sau hoàn trả nhẫn cho Edward trong một chuyến hành hương tới Đất Thánh. Họ trò chuyện về Pelagia hay Pelaya, một nghệ sĩ Antiochene, bà này, khi theo học việc Chúa Giêsu, đã thay tên đổi họ nhiều lần, cải trang làm đàn ông và lấy vô vàn danh tính khác nhau, làm như trong một cơn linh mẫn hoặc cơn điên bà đã quyết định rằng nhà hát của bà là toàn bộ Địa Trung Hải và vở diễn độc nhất, quanh co lắt léo của bà là Cơ đốc giáo.

Năm tháng qua đi, chữ của bà nam tước - bà luôn luôn viết bằng tay - trở nên run rẩy. Đôi khi thư của bà thật không thể luận nổi. Archimboldi chỉ mò ra được vài từ. Giải thưởng, vinh danh, phần thưởng, ứng viên. Giải thưởng cho ai, cho ông, cho bà nam tước? Nhất định là cho ông rồi, bởi vì bà nam tước cực kỳ khiêm nhường theo cách của mình. Ông cũng có thể mò ra được: tác phẩm, ấn bản, ánh đèn ở nhà xuất bản, vốn là ánh đèn của Hamburg, khi ai nấy về cả rồi chỉ còn lại bà cùng cô thư ký, và cô thư ký giúp bà đi xuống cầu thang ra phố nơi một chiếc xe trông như cỗ xe tang đang đợi bà. Nhưng bà nam tước luôn luôn hồi phục và sau những bức thư cận tử ấy ông lại nhận được những bưu thiếp từ Jamaica hoặc Indonesia, trong đó bà nam tước, bằng bàn tay vững chãi hơn, hỏi ông đã bao giờ đến châu Mỹ hay châu Á chưa, trong khi bà biết quá rõ rằng Archimboldi chưa bao giờ rời vùng Địa Trung Hải.

Thỉnh thoảng thư trước cách thư sau cả một thời gian dài. Nếu Archimboldi chuyển đi, mà ông thì chuyển chỗ thường xuyên, ông gửi cho bà địa chỉ mới của ông. Đôi khi, đang đêm, ông giật mình tỉnh giấc, nghĩ về cái chết, nhưng trong thư của mình ông tránh nhắc đến cái chết. Tuy nhiên bà nam tước, có lẽ vì bà già hơn, lại thường nói về cái chết, về những người đã chết mà bà biết, những người đã chết mà bà yêu thương và giờ đây chỉ còn là một mớ xương hoặc tro, về những đứa con đã chết mà bà không bao giờ biết và sẽ xiết bao háo hức nóng lòng muốn biết, muốn được ôm ru trong vòng tay và nuôi cho chúng lớn khôn. Vào những lúc như vậy có thể tưởng như bà hóa điên rồi, song Archimboldi biết bà luôn giữ được sự thăng bằng, luôn thẳng thắn và chân thật. Trên thực tế, bà gần như không bao giờ nói dối. Mọi thứ đều như một cuốn sách mở kể từ khi bà đến thăm cơ ngơi của gia đình mình ở nông thôn, làm dậy lên mây bụi dọc con đường đất, cùng với bạn bè, giới thanh niên cành vàng lá ngọc của Berlin, kiêu hãnh và dốt nát, những người mà Archimboldi quan sát từ xa, từ một cửa sổ của ngôi nhà, khi họ vừa ra khỏi xe vừa cười ha hả.

Đôi khi, nhớ lại những ngày đó, ông hỏi có khi nào bà nghe được tin gì về ông anh họ Hugo Halder không. Bà nam tước nói bà chẳng có tin gì, sau chiến tranh không ai hay biết gì về Hugo Halder nữa, và có một lúc, có khi chỉ kéo dài vài giờ, Archimboldi nghĩ vẩn vơ biết đâu thật ra ông chính là Hugo Halder. Một lần khác, trong khi nói về sách của ông, bà nam tước thú nhận bà chưa bao giờ buồn đọc cuốn nào hết, bởi bà gần như chả bao giờ đọc những tiểu thuyết “khó” hoặc “tối tăm” như những cuốn ông viết. với thời gian, cả thói quen này nữa cũng càng thêm thâm căn cố đế, đến khi bà sang tuổi bảy mươi thì bà chẳng đọc gì ngoài tạp chí tin tức hoặc thời trang. Khi Archimboldi muốn biết tại sao bà chẳng đọc gì của ông cả nhưng vẫn tiếp tục xuất bản sách của ông, đấy thật ra là một câu hỏi tu từ bởi ông biết câu trả lời, bà nam tước đáp rằng (a) vì bà biết ông là người giỏi, (b) vì Bubis đã bảo bà làm vậy, (c) vì chẳng có bao nhiêu nhà xuất bản thực sự đọc những sách do họ xuất bản đâu.

Đến điểm này thì cần phải nói rằng khi Bubis chết rất ít người tin bà nam tước sẽ vẫn là người đứng mũi chịu sào của nhà xuất bản. Họ chờ đợi bà sẽ bán doanh nghiệp đi rồi thì hiến mình cho các tình nhân và những chuyến chu du đây đó của bà, vốn là những niềm vui thú lừng tiếng nhất của bà. Nhưng bà nam tước nắm lấy dây cương nhà xuất bản và chất lượng không hề đi xuống dù chỉ chút xíu, bởi bà biết cách châu tuần quanh bà những người đọc giỏi và cũng vì trong những vấn đề thuần túy kinh doanh bà cho thấy một năng lực mà trước đây chưa ai thấy. Nói gọn: doanh nghiệp của Bubis tiếp tục lớn mạnh. Đôi khi, nửa đùa nửa thật, bà nam tước bảo Archimboldi giá như ông ít tuổi hơn thì bà đã chỉ định ông làm người thừa kế rồi.

Khi bà nam tước tròn tám mươi, trong giới văn chương Hamburg người ta hỏi bà chính câu này. Ai sẽ cáng đáng nhà xuất bản của Bubis sau khi bà mất? Bà sẽ chỉ định ai làm người thừa kế chính thức? Bà nam tước đã làm di chúc chưa? Bà sẽ để lại gia sản của Bubis cho ai? Chẳng có người thân nào cả. Bà nam tước là người cuối cùng của họ Von Zumpe. Về phía Bubis, không kể bà vợ đầu của ông đã mất ở Anh, những người còn lại trong gia đình ông đã biến mất trong các trại tập trung. Cả Bubis lẫn bà nam tước chẳng ai có con cái. Không có anh chị em nào, ruột cũng như họ (ngoại trừ Hugo Halder mà nay hẳn đã qua đời). Chẳng có người cháu nào (trừ phi Halder có một đứa con). Nghe đâu bà nam tước dự định trao lại mọi thứ, ngoại trừ nhà xuất bản, cho từ thiện, và đã có vài ba đại diện tổ chức phi chính phủ mặt đẹp như tranh tới thăm văn phòng của bà giống như người ta thăm Vatican hay Ngân hàng Đức quốc. Có vô khối ứng viên để thay chân bà nam tước. Người hay được nhắc tới nhất là một chàng hai lăm tuổi có khuôn mặt giống như Tadzio của Thomas Mann và thân hình của vận động viên bơi lội, một nhà thơ và giáo sư phụ tá ở Gottingen, người được bà nam tước bổ nhiệm làm trưởng ban thơ của nhà xuất bản. Nhưng rốt cuộc, mọi thứ vẫn nằm trong vùng mờ mịt của đồn thổi.

“Tôi chả bao giờ chết đâu,” bà nam tước có lần nói với Archimboldi.

“Hoặc tôi sẽ chết năm chín mươi lăm tuổi, mà vậy cũng bằng như không bao giờ chết.”

Lần cuối họ gặp nhau là ở một thành phố ma quái của Ý. Bà nam tước đội mũ trắng và chống gậy. Bà nói về giải Nobel và bà cũng gắt gỏng kêu ca về các nhà văn biến mất, một tập quán hoặc thói quen hoặc trò đùa mà bà tin là mang chất Mỹ nhiều hơn chất châu Âu. Archimboldi mặc sơ mi ngắn tay và ông cẩn trọng lắng nghe bà, bởi ông đang điếc dần, và ông cả cười.

♣ ♣ ♣

Và rốt cuộc ta cũng đến được với người em gái của Archimboldi, Lotte Reiter.

Lotte sinh năm 1930, tóc vàng, mắt xanh giống ông anh, nhưng không cao bằng. Khi Archimboldi đi lính, Lotte chín tuổi và điều cô mong muốn nhất là anh được nghỉ phép và trở về nhà người phủ kín huân huy chương. Đôi khi cô nghe tiếng anh ở trong mơ. Những bước chân của một người khổng lồ. Những bàn chân to mang đôi bốt của quân đội Đức còn to hơn, to đến nỗi người ta phải thửa đôi này riêng cho anh, sải bước chẳng thèm bận tâm tới những bụi gai hay vũng nước dọc đường, vạch một đường chim bay thẳng tới căn nhà nơi cô và cha mẹ cô sinh sống.

Khi thức giấc cô buồn đến nỗi phải cố hết sức để không khóc. Những lần khác cô nằm mơ thấy cả cô cũng phải ra trận, chỉ để tìm thấy xác anh mình ghim lỗ chỗ đạn trên chiến trường. Thỉnh thoảng cô kể những giấc mơ của mình cho cha mẹ nghe.

“Chỉ là mơ thôi mà,” bà mẹ một mắt của cô nói, “đừng mơ những giấc mơ như vậy nữa, mèo con à.”

Nhưng ông bố một giò của cô hỏi về vài chi tiết cụ thể, như là khuôn mặt những người lính chết, nó trông ra làm sao? họ trông như thế nào? họ có giống như đang ngủ không? Lotte trả lời rằng có, đúng là trông họ như đang ngủ, thế là ba cô lắc đầu mà nói: vậy thì họ không chết đâu, Lotte bé bỏng ơi, giải thích thì khó, nhưng khuôn mặt những người lính chết bao giờ cũng bẩn, như thể binh lính làm việc cực nhọc suốt ngày và đến cuối ngày họ còn không có thì giờ rửa mặt.

Thế nhưng trong giấc mơ của cô khuôn mặt anh cô luôn luôn sạch như lau như li, vẻ mặt anh buồn song kiên định, như thể dù đã chết anh vẫn có thể làm nhiều thứ. Trong thâm tâm, Lotte tin anh mình có thể làm bất cứ chuyện gì. Và cô luôn luôn lắng nghe tiếng bước chân anh, bước chân của một người khổng lồ mà ngày nào đó sẽ đến gần làng, đến gần căn nhà, đến gần khu vườn nơi cô đợi anh và cho cô biết rằng chiến tranh đã dứt, anh về nhà lần này là vĩnh viễn và từ nay trở đi mọi thứ sẽ thay đổi. Nhưng chính xác ra cái gì sẽ thay đổi? Cô không biết.

Cuộc chiến, dù thế nào đi nữa, cứ kéo dài không dứt, và những lần anh cô về thăm ngày một thưa dần cho đến khi anh thôi không về nữa. Một đêm kia mẹ và ba cô bắt đầu nói về anh, không biết rằng cô, nằm trên giường, tấm chăn nâu xám kéo tận cằm, đang thức và có thể nghe thấy họ, họ nói về anh như thể anh đã chết. Nhưng Lotte biết anh cô không chết, bởi người khổng lồ không bao giờ chết, cô nghĩ vậy, hoặc họ chỉ chết khi họ rất già, già đến nỗi người ta thậm chí không nhận thấy họ đã chết, họ ngồi nơi cửa nhà mình hoặc dưới một cái cây mà ngủ thiếp đi và rồi họ chết.

Một hôm họ phải rời làng. Theo bố mẹ cô, họ không còn cách nào khác vì chiến tranh đang đến. Lotte nghĩ bụng nếu chiến tranh đang đến thì anh cô cũng đang đến, bởi vì anh sống trong chiến tranh giống như bào thai sống trong một người đàn bà béo, và cô trốn để không phải đi cùng họ, vì cô tin chắc Hans đang trên đường đến. Họ tìm cô suốt hàng giờ và đến chạng vạng tối ông bố một giò của cô tìm thấy cô đang trốn trong rừng. Ông bạt tai cô rồi lôi cô theo.

Trong khi di chuyển về phía Tây, men theo bờ biển, họ đi qua hai hàng lính và Lotte gọi với theo đoàn lính, hỏi họ có biết anh của cô không. Hàng đầu tiên gồm những người lính thuộc mọi lứa tuổi, những người già như ba cô và những cậu nhóc mười lăm, vài người chỉ còn nửa bộ quân phục, chẳng ai trong số ấy tỏ vẻ vui mừng được tới cái chỗ họ đang tới, nhưng tất cả họ nhã nhặn trả lời Lotte rằng họ không biết anh cô và không gặp anh cô.

Hàng thứ hai gồm những bóng ma, những thây ma vừa từ bãi tha ma sống dậy, những hồn ma mặc đồng phục màu xám hoặc gỉ đồng, đội nón sắt, vô hình trước mọi con mắt ngoại trừ cặp mắt Lotte, và cô lặp lại câu hỏi của mình, câu hỏi mà vài ba kẻ tả tơi thân tàn ma dại đó hạ cố trả lời, bảo rằng có, họ có gặp anh ta ở đất nước Xô viết, anh ta chạy trốn như một thằng hèn, hoặc họ thấy anh ta bơi trên sông Dnieper rồi thì chết đuối, vậy là đáng đời anh ta, hoặc họ thấy anh trên thảo nguyên Kalmuk, uống nước ừng ực như chết khát tới nơi, hoặc họ thấy anh rúm ró co mình trong một khu rừng ở Hungary, phân vân làm thế nào để tự sát bằng súng trường của mình, hoặc họ gặp anh bên rìa một nghĩa trang, thằng khốn nạn ngu đần, không dám bước vào, cứ đi lui đi tới cho tới khi đêm xuống và nghĩa trang vắng hẳn những người thân viếng mộ, chỉ khi đó thì nó, cái thằng gà mái, nó mới thôi không đi tới đi lui nữa mà trèo qua tường, thọc đôi bốt đóng đinh to sụ vào những viên gạch rụn giòn đỏ quạch rồi thò cái mũi và cặp mắt xanh lơ qua mép tường, dòm xuống nơi người chết đang nằm, nhà Grote và nhà Kruse, nhà Neitzke và nhà Kunze, nhà Barze và nhà Wilke, nhà Lemke và nhà Noack, Ladenthin kín tiếng và Voss dũng cảm, thế rồi, bạo dạn lên, anh trèo lên đỉnh tường ngồi đó một hồi, cặp giò dài lủng lẳng đong đưa, thế rồi anh lè lưỡi về phía những người chết, đoạn anh bỏ mũ cối ra và ép chặt hai tay lên hai thái dương, rồi anh nhắm mắt và hú lớn, những bóng ma kể với Lotte như vậy, vừa kể vừa cười sằng sặc và sải bước quân hành theo sau hàng quân người sống.

Thế rồi bố mẹ Lotte dừng chân ít lâu tại Lübeck, cùng với nhiều người khác cùng làng, nhưng ba cô nói người Nga sẽ đến thế nên ông lại đưa gia đình đi tiếp về phía Tây, và rồi Lotte mất hết ý niệm về thời gian, ngày giống như đêm còn đêm giống như ngày, đôi khi ngày và đêm chẳng giống bất cứ gì, tất cả là một chuỗi dài không dứt những sáng rực chói lòa và bùng nổ.

Một đêm nọ Lotte thấy những bóng người nghe radio. Một trong mấy cái bóng ấy là bố cô. Một bóng khác là mẹ cô. Những bóng khác có những cặp mắt cái mũi cái miệng mà cô không nhận ra. Những cái miệng giống củ cà rốt, có những cặp môi tróc vỏ, và cái mũi giống củ khoai tây ướt. Họ đều quấn khăn trùm chăn che đầu che tai kín mít và trên radio một giọng đàn ông nói Hitler không tồn tại nữa, ông ta chết rồi. Nhưng không tồn tại và chết rồi là hai chuyện khác nhau, Lotte nghĩ. Cho đến khi ấy kỳ kinh nguyệt đầu tiên của cô đến chậm. Tuy nhiên, sáng sớm ngày hôm đó cô bắt đầu chảy máu và cảm thấy không khỏe. Bà mẹ một mắt của cô bảo cô chuyện đó bình thường thôi, sớm muộn gì chuyện đó cũng xảy ra với mọi người đàn bà. Ông anh khổng lồ của mình không tồn tại nhưng vậy không có nghĩa là anh đã chết, Lotte nghĩ. Mấy cái bóng không nhận thấy sự hiện diện của cô. Vài người thở dài. Những người khác bắt đầu sụt sịt khóc.

“Quốc trưởng ôi, quốc trưởng ôi,” họ khóc mà không lớn giọng, như những người đàn bà chưa bắt đầu có kinh.

Ba cô không khóc. Mẹ cô thì có khóc và nước mắt chỉ tuôn ra từ con mắt lành của bà.

“Ngài không còn nữa,” mấy cái bóng nói, “ngài chết rồi.”

“Ngài chết như một người lính,” một trong mấy cái bóng nói.

“Ngài không còn nữa.”

Rồi họ rời Lübeck để chuyển về Paderborn, nơi bà mẹ một mắt của Lotte có một người anh đang sinh sống, nhưng khi họ tới nơi thì căn nhà đã bị những người chạy loạn chiếm mất rồi. Họ dọn vào nhà ở, dù chẳng có tăm hơi nào của người anh. Một người hàng xóm bảo họ rằng, trừ phi ông ta nhầm khủng khiếp, họ sẽ không bao giờ gặp lại ông anh nữa. Họ sống một thời gian nhờ quà từ thiện, hàng cứu trợ của người Anh. Thế rồi ông bố một giò của Lotte ngã bệnh chết. Ý nguyện cuối cùng của ông là được chôn ở làng mình với nghi thức quân nhân, và vợ ông cùng Lotte nói với ông họ sẽ cố sao cho điều đó xảy ra, vâng, vâng, mẹ con tôi hứa, nhưng rồi di hài ông bị vứt vào nấm mồ chung trong nghĩa trang Paderborn. Không có thì giờ làm lễ lạt gì, tuy Lotte ngờ rằng chính đây là lúc cần lễ lạt, cần những điệu bộ cử chỉ uy nghi, cần sự chăm chút từng chi tiết.

Mấy người tản cư rời đi và bà mẹ một mắt của Lotte sở hữu căn nhà của ông anh. Lotte tìm được việc làm. Về sau cô đi học lại. Không được bao lâu. Cô lại đi làm. Cô bỏ việc. Cô lại đi học một thời gian ngắn. Cô tìm được việc làm khác, tốt hơn. Cô bỏ học lần cuối. Bà mẹ một mắt của cô tìm được bạn trai, một ông già từng làm công chức vào thời nước Đức còn hoàng đế rồi thì dưới thời Quốc xã và rồi lại tìm được cũng công việc tương tự ở nước Đức thời hậu chiến.

“Một công chức Đức là thứ không dễ tìm, kể cả ở Đức,” ông già nói.

Sự khôn ngoan của ông, trí thông minh của ông, sự sắc sảo của ông đến vậy là hết. Và với ông vậy là đủ. Cho đến lúc này thì bà mẹ một mắt của Lotte không muốn trở về làng nữa, mà làng nay cũng đã nằm ở vùng Xô viết kiểm soát rồi. Bà cũng chẳng còn muốn thấy biển. Bà cũng chẳng bận tâm mấy đến chuyện đứa con thất lạc của bà nay phần số ra sao. Chắc nó được chôn ở Nga, bà nói với một cái nhún vai cam chịu, cứng cỏi. Lotte bắt đầu hẹn hò. Đầu tiên cô hẹn hò với một lính Anh. Thế rồi, khi anh lính bị điều chuyển, cô hẹn hò với một cậu trai người Paderborn, một cậu trai thuộc lớp trung lưu, gia đình cậu chẳng vui vẻ gì về chuyện tình của cậu với cô gái tóc vàng nhẹ dạ phù phiếm, bởi vì dạo ấy Lotte biết tất tật các điệu khiêu vũ thịnh hành. Điều cô quan tâm là làm sao để được hạnh phúc, và cô cũng quan tâm đến cậu trai, chứ không phải gia đình cậu, và họ ở bên nhau cho đến khi cậu đi nơi khác học đại học và thế là chuyện tình của họ chấm dứt.

Một đêm nọ anh cô xuất hiện. Lotte đang ở trong bếp ủi áo váy thì nghe tiếng bước chân anh. Là Hans, cô nghĩ. Khi có tiếng gõ cửa cô chạy lại mở cho anh vào. Anh không nhận ra cô, vì nay cô đã là phụ nữ, về sau anh nói với cô như vậy, nhưng cô không cần hỏi anh một câu nào và cô bám riết lấy anh một hồi lâu. Đêm đó họ chuyện trò đến tảng sáng và Lotte có thì giờ để ủi không chỉ áo váy của cô mà cả tất tật áo quần sạch của cô. Vài giờ sau Archimboldi thiếp đi, đầu tựa trên bàn, chỉ thức dậy khi mẹ anh chạm vào vai anh.

Hai ngày sau anh đi và mọi thứ trở lại bình thường. Đến lúc đó bà mẹ một mắt của Lotte đã thay ông công chức bằng một chủ xưởng cơ khí, một ông vui tính có cơ sở kinh doanh riêng, ăn nên làm ra bằng nghề sửa xe cho quân chiếm đóng và xe tải cho các nhà nông và chủ xí nghiệp ở Paderborn. Như chính ông ta nói, lẽ ra ông ta có thể tìm một phụ nữ trẻ hơn, xinh hơn, nhưng ông ta thích một người tử tế chăm chỉ, không hút máu ông ta như ma cà rồng. Cửa hàng của ông chủ cơ khí khá lớn và theo yêu cầu của mẹ Lotte ông ta tìm một việc làm ở đó cho cô, nhưng cô từ chối. Ít lâu trước khi mẹ Lotte cưới ông chủ cơ khí, cô gặp Werner Hass, một công nhân làm ở cửa hàng, và do hai người thích nhau mà cũng chẳng bao giờ cãi nhau nên họ bắt đầu hẹn hò, đầu tiên đi xem phim, sau đó tới vũ trường.

Một đêm nọ Lotte nằm mơ thấy anh cô xuất hiện ngoài cửa sổ phòng ngủ của cô mà hỏi tại sao mẹ họ sắp lấy chồng. Em không biết, Lotte nằm trên giường đáp. Em đừng bao giờ lấy chồng đó nghe, anh cô nói. Lotte gật đầu, chừng đó đầu của anh cô biến mất và chỉ còn trơ lại khung cửa sổ phủ đầy băng giá và tiếng vọng bước chân của người khổng lồ. Nhưng khi Archimboldi về Paderborn, sau khi mẹ anh lấy chồng, Lotte giới thiệu anh với Werner Haas và hai người có vẻ hợp nhau.

Khi mẹ cô đi lấy chồng, hai người đàn bà đến sống ở nhà ông chủ cơ khí. Ông chủ cơ khí nghĩ Archimboldi ắt là phường bất hảo, sống bằng nghề lừa đảo, không thì ăn cắp, không thì mua bán chợ đen.

“Mấy thằng lừa đảo thì cách trăm mét tôi cũng ngửi ra liền,” ông chủ cơ khí nói.

Vợ ông ta chẳng nói gì. Lotte và Werner Haas bàn với nhau về chuyện đó. Theo Werner, phường bất hảo là ông thợ cơ khí mới đúng, ông ta buôn lậu phụ tùng qua biên giới và thường bảo là xe đã chữa xong nhưng thực ra vẫn hỏng. Lotte thì nghĩ Werner là người tốt, luôn nói lời tử tế về bất cứ ai. Vào dạo ấy Lotte chợt nghĩ ra rằng cô cùng với Werner và bất cứ người trẻ nào sinh vào năm 1930 hay 1931 đều mang phần số bất hạnh.

Werner, vốn là tri kỷ của cô, lắng nghe cô mà chẳng nói gì, thế rồi họ tới rạp chiếu phim, xem phim Anh hay phim Mỹ, không thì họ đi nhảy đầm. Có vài dịp cuối tuần họ về miền quê, đặc biệt là sau khi Werner mua một chiếc mô tô cũ mèm xập xệ mà anh tự sửa những khi rảnh rỗi. Những lần đi dã ngoại ấy Lotte làm xăng uých bằng bánh mì đen và bánh mì trắng, ít bánh ngọt, và chẳng bao giờ quá ba chai rượu. Trong khi đó Werner đổ đầy một bi đông nước và đôi khi mua kẹo với sô cô la. Thỉnh thoảng, sau khi đi dạo và ăn trong rừng, họ trải đệm xuống đất ngủ, tay trong tay.

Những giấc mơ của Lotte khi ở trong rừng khiến cô bứt rứt. Cô mơ thấy những con sóc chết những con hươu chết những con thỏ chết, và đôi khi cô thấy một con heo rừng trong bụi rậm và cô đến gần nó thật chậm, thế rồi khi cô vẹt các cành ra thì thấy một con heo cái to đùng nằm trên mặt đất, quằn quại trong cơn hấp hối, xung quanh là hàng trăm con heo chết nhỏ xíu. Khi chuyện này xảy ra cô giật nẩy mình thức giấc và chỉ khi thấy Werner bên cạnh, ngủ yên lành, cô mới bình tâm lại. Có một dạo cô nghĩ đến chuyện trở thành người ăn chay. Thay vì vậy, cô đâm hút thuốc.

Hồi đó, ở Paderborn và trên toàn nước Đức, phụ nữ hút thuốc là thường, nhưng ít nhất là ở Paderborn ít phụ nữ nào hút thuốc chỗ công cộng, khi họ đi tản bộ hoặc trên đường tới chỗ làm. Lotte là một trong số ít phụ nữ hút công khai. Cô đốt điếu đầu tiên từ sáng sớm thế rồi trong khi đi bộ tới trạm xe buýt thì cô đã hút sang điếu thứ hai trong ngày. Werner không hút thuốc, và tuy Lotte nài anh hút nhưng cùng lắm, để cho cô vui, anh chỉ bập vài hơi từ điếu của cô và tí sặc.

Khi Lotte bắt đầu hút thuốc, Werner hỏi cưới cô.

“Em phải nghĩ đã,” Lotte nói, “nhưng phải là nhiều tuần nhiều tháng chứ không phải một hai ngày.”

Werner bảo cô cứ nghĩ bao lâu cũng được, vì anh muốn cuộc hôn nhân của họ là đến khi đầu bạc răng long và anh biết điều quan trọng là không quyết định vội vàng. Từ đó trở đi Lotte và Werner ít gặp nhau hơn. Khi Werner để ý thấy, anh hỏi cô có phải cô đã thôi không yêu anh nữa không và khi Lotte trả lời rằng cô đang cố quyết xem có cưới anh không, anh thấy hối hận đã hỏi cô. Họ không cùng nhau đi dã ngoại thường xuyên như trước nữa, cũng chẳng còn năng đi xem phim hay nhảy đầm như trước. Cũng vào quãng thời gian ấy, Lotte gặp một người đàn ông làm việc tại một xưởng sản xuất ống vừa được xây dựng trong thành phố và cô bắt đầu hẹn hò với người này, một kỹ sư tên Heinrich sống tại một nhà trọ ở khu trung tâm, bởi nhà thực sự của anh ta thì ở Duisburg, nơi đặt nhà máy chính của xưởng này.

Ít lâu sau khi Lotte bắt đầu dành thời gian với Heinrich, anh thú nhận mình đã có vợ và một đứa con, nhưng anh không yêu vợ và đang định ly hôn. Lotte không quan tâm chuyện anh đã có vợ, nhưng về chuyện anh có con thì có, bởi cô vốn yêu con trẻ cho nên ý nghĩ mình làm đau một đứa trẻ con, dẫu chỉ là gián tiếp, cũng dường như thật kinh khủng đối với cô. Dù có vậy, họ vẫn gặp nhau trong khoảng gần hai tháng, và đôi khi cô kể với Werner, anh này liền hỏi mọi chuyện với anh bạn trai mới này như thế nào, thì Lotte trả lời ổn thôi, bình thường, như mọi người. Tuy nhiên, rốt cuộc thì rõ ràng Heinrich sẽ không bao giờ bỏ vợ, thế là cô cắt đứt với anh, tuy rằng lâu lâu họ vẫn đi xem phim rồi sau đó đi ăn tối.

Một hôm, khi cô ra khỏi chỗ làm, Werner đang ngồi trên xe mô tô đợi cô bên ngoài. Lần này anh không nói về chuyện cưới xin hay yêu đương mà chỉ mời cô đi uống cà phê rồi đưa cô về nhà. Dần dần họ bắt đầu hẹn hò trở lại, làm mẹ của Lotte và ông chủ cơ khí rất hài lòng, vì ông chủ cơ khí vốn không có con và thích Werner vì anh là người nghiêm túc lại hay lam hay làm. Những cơn ác mộng từ thuở bé khiến Lotte bứt rứt nay ít xuất hiện hơn, cho đến khi cuối cùng chúng biến mất hẳn và cô không bao giờ nằm mơ nữa.

Cô nói: “Em tin chắc em cũng có nằm mơ như mọi người, nhưng may là em chẳng nhớ gì hết khi thức dậy.”

Khi cô nói với Werner rằng cô đã nghĩ đủ lâu về đề nghị của anh và cô sẽ cưới anh, anh bật khóc và bằng giọng nức nở anh thú nhận rằng chưa bao giờ anh hạnh phúc như vào khoảnh khắc ấy. Hai tuần sau họ làm đám cưới và trong tiệc cưới được tổ chức nơi sân ngoài một nhà hàng, Lotte nhớ tới ông anh và trong một thoáng - có lẽ vì cô đã uống quá nhiều - cô không chắc mình có mời anh đến dự đám cưới hay không nữa.

Họ hưởng tuần trăng mật tại một khu spa nhỏ bên bờ sông Rhine thế rồi ai nấy lại quay về công việc của mình và cuộc sống lại tiếp diễn y như trước. Sống với Werner thật dễ chịu, kể cả trong một căn hộ một phòng, bởi chồng cô làm tất cả những gì anh có thể làm để cô hạnh phúc. Thứ Bảy nào họ cũng đi xem phim, Chủ nhật họ thường cưỡi mô tô về miền quê chơi hoặc đi nhảy đầm. Các ngày thường trong tuần, bất kể làm việc căng đến đâu, Werner luôn tranh thủ giúp cô làm tất tật các việc vặt. Việc duy nhất anh không làm được là nấu nướng. Cuối tháng, anh thường mua cho cô một món quà hoặc đưa cô đến khu trung tâm Paderborn để chọn đôi giày, cái áo hoặc chiếc khăn. Để có đủ tiền, Werner bắt đầu làm thêm giờ ở cửa hàng hoặc đôi khi làm những việc riêng sau lưng ông chủ, sửa máy kéo hay máy gặt đập liên hợp cho các nhà nông, họ không trả nhiều tiền song thay vào đó cho anh xúc xích, thịt và thậm chí hàng bao tải bột mì, khiến cho nhà bếp của Lotte cứ như một nhà kho hoặc như thể hai người đang chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến tranh kế tiếp không bằng.

Một hôm, chẳng hề có dấu hiệu bệnh tật gì, ông chủ cơ khí chết và Werner tiếp quản cửa hàng. Vài người họ hàng xuất hiện, những người anh em họ xa đòi phần thừa kế, nhưng bà mẹ một mắt của Lotte cùng các luật sư của bà thu xếp được mọi thứ nên rốt cuộc mấy người anh em họ ở quê ra kia quay về nhà chẳng đem theo được bao nhiêu ngoài một ít tiền. Đến khi ấy Werner đã phát tướng và bắt đầu rụng tóc, và tuy công việc tay chân nay ít hơn nhưng trách nhiệm của anh lại tăng, khiến anh càng lặng lẽ hơn bao giờ hết. Hai người chuyển vào sống trong căn hộ của ông chủ cơ khí, căn hộ này lớn nhưng nằm ngay bên trên cửa hàng, khiến cho ranh giới giữa nhà với chỗ làm biến mất và Werner lúc nào cũng làm việc.

Trong thâm tâm anh mong giá mà ông chủ cơ khí đừng chết hoặc giá như bà mẹ một mắt của Lotte giao cho ai khác trông coi cửa hàng thì hơn. Dĩ nhiên, công việc mới cũng có bù đắp. Mùa hè năm đó Lotte và Werner đi chơi một tuần ở Paris. Giáng sinh thì họ đến hồ Constanza cùng với mẹ của Lotte, vì Lotte thích đi du lịch. Ở Paderborn cũng xảy ra chuyện mới; bởi lần đầu tiên họ nói về khả năng có một đứa con, một điều mà cả hai người chẳng ai có xu hướng thuận tình bởi đang có Chiến tranh Lạnh và nguy cơ tấn công hạt nhân, kể cả dù hiện nay tình hình tài chính của họ khả quan hơn bao giờ hết.

Suốt hai tháng họ bàn lui bàn tới một cách khá hời hợt nửa vời về những hậu quả khi đi một bước đi như thế, cho đến một sáng kia, lúc ăn điểm tâm, Lotte cho Werner biết cô đã có thai và chẳng còn gì để bàn nữa. Trước khi đứa bé được ra đời họ mua một chiếc xe hơi và trong hơn một tuần họ đi nghỉ ở miền Nam nước Pháp, ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Trên đường về nhà Lotte đề nghị lái xe ngang qua Cologne, và họ đi tìm địa chỉ duy nhất của anh cô mà cô có được.

Ở nơi Archimboldi từng sống với Ingeborg nay có một nhà chung cư mọc lên và chẳng ai sống ở đó nhớ được một người trẻ tuổi giống với mô tả về Archimboldi, cao lớn, tóc vàng, xương xẩu, một cựu binh, một người khổng lồ.

Trên nửa quãng đường về Lotte lặng lẽ, tuồng như đang cơn sưng sỉa, nhưng rồi họ dừng chân ăn uống nơi một nhà hàng ven lộ và chuyện trò về các thành phố họ đã thăm và tâm trạng của cô khá lên đáng kể. Ba tháng trước khi sinh con trai, Lotte nghỉ làm. Cuộc sinh nở diễn ra bình thường và chóng vánh, dù thằng bé nặng hơn bốn ký và theo các bác sĩ thì nó nằm ngược. Nhưng có vẻ đến phút chót đứa nhỏ đã lộn đầu trở lại và mọi chuyện đều suôn sẻ.

Họ đặt tên cho nó là Klaus, theo tên ông ngoại của Lotte, tuy rằng đã có lúc Lotte định gọi nó là Hans, theo tên anh trai cô. Nhưng cái tên không quan trọng, Lotte nghĩ, con người mới quan trọng. Ngay từ đầu Klaus đã là cục cưng của bà ngoại và ba, nhưng thằng bé yêu Lotte nhất. Đôi khi cô nhìn nó mà thấy giống anh cô, tuồng như Klaus là hóa thân thu nhỏ của Hans, nghĩ vậy mà cô vui trong dạ bởi vì đến khi đó cô vẫn luôn luôn đồng nhất anh cô với bất cứ thứ gì to lớn và ngoại cỡ.

Khi Klaus lên hai, Lotte lại có mang, nhưng bốn tháng sau thì bị sẩy thai, và ắt có gì đó trở nên không ổn vì chị không thể có con được nữa. Klaus có thời thơ ấu giống như mọi đứa trẻ thuộc lớp trung lưu điển hình ở Paderborn. Cậu thích chơi đá banh với bạn bè, nhưng ở trường cậu chơi bóng rổ. Chỉ một lần cậu về nhà một mắt tím bầm. Theo cậu giải thích, một đứa bạn cùng lớp lôi bà ngoại một mắt của cậu ra làm trò cười thế là hai đứa đánh nhau. Cậu học không xuất sắc, nhưng rất mê máy móc dù thuộc bất cứ loại gì, cậu có thể dành hàng tiếng đồng hồ ở trong cửa hàng xem các thợ cơ khí của ba cậu làm việc. Cậu gần như chả bao giờ bệnh, tuy rằng đôi lúc bị thì nhiệt độ của cậu tăng chóng mặt, cậu đâm mê sảng và thấy những thứ không ai khác thấy.

Khi cậu mười hai tuổi, bà cậu chết vì bệnh ung thư tại bệnh viện Paderborn. Bà phải truyền moóc phin liên tục và khi Klaus vào thăm bà thì bà nhầm cậu với Archimboldi, bà gọi cậu là con trai hoặc nói chuyện với cậu bằng thổ ngữ ngôi làng ở Phổ nơi bà chào đời. Đôi khi bà kể với cậu chuyện này chuyện kia về ông ngoại một giò của cậu, về những năm tháng người lính già tận tụy trung thành phục vụ cho hoàng đế và ông luôn nuối tiếc ra sao vì mình đã không đủ cao để gia nhập trung đoàn Phổ chỉ thu nhận những lính nào cao trên mét bảy.

“Nhỏ người, nhưng dũng cảm khi giặc đến, ba con là vậy đó,” bà của cậu nói với nụ cười của kẻ bị moóc phin làm cho mê mụ.

Cho đến khi đó chưa ai từng kể gì cho Klaus về ông cậu của cậu. Sau khi bà ngoại mất cậu hỏi Lotte về ông ta. Cậu thật ra chẳng quan tâm cho lắm, nhưng cậu đang buồn đến nỗi cậu cho rằng chuyện ấy có thể khiến cậu nhãng đi. Đã lâu rồi Lotte thôi không nghĩ đến ông anh nên câu hỏi của Klaus khiến chị bất ngờ. Dạo ấy Lotte và Werner đã dính vào bất động sản, một lãnh vực mà cả hai chẳng biết mô tê gì, và họ đang sợ bị mất tiền. Thế nên câu trả lời của Lotte khá mơ hồ: chị bảo cậu rằng ông bác của cậu lớn hơn chị mười tuổi, ít nhiều là vậy, và rằng cách sống của ông ta không hẳn là khuôn mẫu cho cánh trẻ noi theo, ít nhiều là vậy, và đã lâu rồi gia đình chẳng có tin tức gì về ông ta, vì ông ta đã biến mất khỏi mặt đất rồi, ít nhiều là vậy.

Lotte bảo Klaus rằng hồi nhỏ chị cứ nghĩ ông anh của chị là người khổng lồ, nhưng đây là thứ chuyện mà mấy đứa con gái nhỏ thường hay tưởng tượng ra.

Một lần khác Klaus hỏi Werner về ông bác của cậu và Werner nói ông ấy là người dễ mến, trầm lặng và rất tinh ý, mặc dù theo Lotte thì ông anh của chị không phải bao giờ cũng vậy, chính trọng pháo, tạc đạn, súng máy trong chiến tranh đã làm cho anh ấy thành ra trầm lặng. Khi Klaus hỏi liệu cậu có giống ông bác hay không, Lotte đáp có, hai người có giống nhau, cả hai đều cao và gầy, nhưng tóc của Klaus vàng hơn nhiều so với tóc của ông bác và mắt cậu có lẽ màu xanh nhạt hơn. Thế rồi Klaus thôi không hỏi nữa và cuộc sống vẫn tiếp diễn như trước khi bà ngoại một mắt của cậu qua đời.

Dự đồ kinh doanh mới không thành công lớn như Lotte và Werner mong đợi, tuy nhiên họ không bị mất tiền và trên thực tế họ cũng kiếm được một chút, mặc dù họ không giàu lên. Cửa hàng tiếp tục làm việc hết công suất và chẳng ai có thể nói rằng mọi chuyện đang theo chiều hướng xấu.

Năm mười bảy tuổi Klaus gặp rắc rối với cảnh sát. Cậu học không giỏi và bố mẹ cậu đã chấp nhận rằng cậu sẽ không vào đại học, nhưng năm mười bảy tuổi cậu cùng với hai thằng bạn dính vào một vụ trộm xe hơi rồi sau đó là vụ tấn công tình dục một cô gái người Ý làm việc tại một xưởng cung cấp dược phẩm nhỏ. Hai đứa bạn của Klaus ngồi tù một thời gian, bởi về mặt pháp lý chúng là người trưởng thành. Klaus được đưa tới một trại cải huấn trong bốn tháng, sau đó cậu về nhà với bố mẹ. Trong thời gian ở trại cải huấn cậu làm việc ở xưởng sửa chữa và học được cách sửa mọi thứ thiết bị, từ tủ lạnh tới máy xay thực phẩm. Khi về nhà cậu được giao một việc làm ở cửa hàng của bố và cậu tránh xa mọi chuyện rắc rối được một dạo.

Lotte và Werner cố thuyết phục nhau rằng thằng con họ đã về lại con đường ngay chính. Mười tám tuổi, Klaus hẹn hò với một cô nàng làm việc ở một hiệu bánh, nhưng mối dan díu này kéo dài chẳng được ba tháng, theo ý Lotte thì bởi cô kia không hẳn là người đẹp. Sau đó, họ không gặp bạn gái nào của thằng con nữa và đi đến kết luận rằng Klaus không có người yêu hoặc không thì vì lý do nào đó cậu tránh đưa các nàng về nhà. Trong khoảng thời gian này Klaus đâm ra rượu chè, cứ hết giờ làm việc là cậu chàng ra mấy hội trường bia của Paderborn để uống với mấy tay thợ trẻ khác của cửa hàng.

Không chỉ một lần, vào một đêm thứ Sáu hay thứ Bảy, cậu lâm vào chuyện lôi thôi, chẳng có gì ghê gớm, đánh nhau với những thanh niên khác và phá phách, khiến Werner phải nộp phạt và tới sở cảnh sát nhận về. Một hôm Klaus kết luận rằng Paderborn quá nhỏ so với cậu thế là cậu bỏ đi Munich. Thỉnh thoảng cậu gọi điện về, tiền gọi do mẹ trả, và cậu cùng với mẹ có những cuộc chuyện trò gượng gạo, chẳng đâu vào đâu, nhưng dẫu vậy Lotte vẫn cảm thấy khuây khỏa.

Mấy tháng sau Lotte mới gặp lại Klaus. Theo cậu, ở Đức hay ở châu Âu chẳng có tương lai gì và con đường duy nhất còn lại cho cậu là thử vận may ở nước Mỹ, cậu đang dự định sẽ sang đó ngay khi dành dụm được ít tiền. Sau khi làm ở cửa hàng được vài tháng cậu lên một chiếc tàu Đức khởi hành từ Kiel đến đích cuối là New York. Khi cậu rời Paderborn, Lotte khóc: con trai chị cao lênh khênh và còn lâu mới gọi là mảnh dẻ, nhưng dù vậy chị vẫn khóc vì chị có cảm tưởng cậu sẽ chẳng hạnh phúc ở tân lục địa, nơi người ta không cao lênh khênh và tóc vàng như cậu nhưng họ khôn ngoan và thường độc bụng, cặn bã của xã hội, loại người mà ta không nên tin.

Werner lái xe đưa Klaus đến Kiel và khi quay về Paderborn anh kể với Lotte rằng con tàu ấy cũng được, chắc chắn, sẽ không chìm đâu, Klaus làm bồi bàn và rửa bát bán thời gian cũng được, chẳng có gì nguy hiểm. Nhưng lời của anh chẳng thể làm Lotte an lòng, chị đã từ chối đi Kiel để không phải “kéo dài cơn đau đớn”.

Khi đến New York, Klaus gửi cho mẹ một bưu thiếp tượng Nữ thần Tự do. Cái bà này đứng về phía con, cậu viết. Rồi tháng này sang tháng nọ trôi qua, họ chẳng có tin gì của cậu. Thế rồi hơn một năm. Cho đến khi họ nhận được một bưu thiếp khác trong đó cậu kể cho họ rằng cậu đang nộp đơn xin nhập quốc tịch Mỹ và cậu có việc làm tốt. Địa chỉ hồi đáp là Macon, Georgia, thế là Lotte và Werner mỗi người viết một lá thư đầy những câu hỏi về sức khỏe của cậu, tình hình tài chính của cậu, dự định tương lai của cậu, những lá thư Klaus chẳng bao giờ trả lời.

Cùng với thời gian, Lotte và Werner quen dần với ý nghĩ rằng Klaus đã rời tổ và đang ổn cả. Đôi khi Lotte hình dung cậu cưới một cô người Mỹ làm vợ, sống trong một căn nhà Mỹ đầy ánh nắng, sống một cuộc đời giống như những cuộc đời người ta có thể thấy trong phim Mỹ chiếu trên tivi. Tuy nhiên, trong những giấc mơ của Lotte, cô vợ Mỹ của Klaus không có khuôn mặt. Tức là, Lotte luôn luôn thấy cô ta từ đằng sau, chị thấy mái tóc vàng của cô ta, chỉ sẫm hơn tóc Klaus một chút, đôi vai rám nắng của cô ta, thân hình thẳng tắp mảnh mai của cô ta. Chị thấy khuôn mặt của Klaus, trông nghiêm nghị hoặc khắc khoải chờ đợi, nhưng chị không bao giờ thấy mặt vợ của cậu hoặc mặt của các con cậu, khi chị hình dung rằng cậu có con. Thực ra, chị thậm chí còn chưa bao giờ thấy lũ con của Klaus từ đằng sau. Chị biết chúng có đó, trong phòng nào đấy, nhưng chị không thấy chúng, cũng không nghe tiếng chúng, đấy mới là điều kỳ cục nhất, vì tụi trẻ con có bao giờ im lặng được lâu.

Có những đêm Lotte nghĩ ngợi quá lâu về cái cuộc đời chị mường tượng là cuộc đời của Klaus đến độ chị thiếp đi mà mơ thấy con trai. Và chị thấy một căn nhà, một căn nhà Mỹ, nhưng là một căn nhà mà chị không nhận ra là một căn nhà Mỹ. Khi đến gần căn nhà chị ngửi thấy một mùi hăng nồng, thoạt tiên khó chịu, nhưng rồi chị nghĩ: chắc vợ Klaus đang nấu món gì của Ấn Độ đây. Thế rồi, chỉ mấy giây sau, mùi đó trở thành một mùi khác lạ, thậm chí dễ chịu. Rồi chị thấy mình ngồi bên một cái bàn. Trên bàn là một chiếc bình rót, một cái đĩa không, một cái ly nhựa và một cái nĩa, không còn gì khác, nhưng chị chỉ nghĩ được có mỗi một điều là ai đã đưa chị vào. Cố cách mấy chị cũng không nhớ được và điều này khiến chị bứt rứt dữ lắm.

Nỗi khổ của chị giống như tiếng phấn rít ken két trên bảng đen. Như thể có một chú nhóc đang kéo lê viên phấn dọc bảng đen nhằm làm cho nó rít lên ken két. Hoặc có thể đó không phải phấn mà là móng tay của thằng nhóc, hoặc có lẽ không phải móng tay của nó mà là răng của nó. Càng ngày cái giấc mơ này, giấc mơ về Klaus như chị gọi, càng trở thành một giấc mơ cứ trở đi trở lại. Thỉnh thoảng, sáng ra, khi chị làm bữa sáng cho Werner, chị nói:

“Em vừa có cơn ác mộng.”

“Ác mộng Klaus hả?” hễ nghe vậy là Werner sẽ nói.

Và Lotte, mắt tránh sang chỗ khác và vẻ mặt lơ đãng, sẽ gật đầu. Trong thâm tâm, chị và Werner mong rằng một lúc nào đó Klaus sẽ đến gặp họ xin tiền, nhưng rồi tháng năm thấm thoắt qua đi, Klaus cứ như đã biệt tăm ở xứ Hoa Kỳ mãi mãi.

“Anh biết tính thằng Klaus,” Werner nói, “nếu hiện giờ nó đang sống ở Alaska anh cũng chẳng ngạc nhiên.”

Một hôm Werner ngã bệnh và bác sĩ lệnh cho ông phải ngưng làm việc. Bởi tiền không thành vấn đề nên ông giao cửa hàng lại cho một trong các thợ cơ khí kinh nghiệm nhất rồi sau đó ông cùng Lotte lên đường chu du đây đó. Họ đáp tàu du lịch đi dọc sông Nile, họ thăm Jerusalem, họ thuê xe lái quanh miền Nam Tây Ban Nha, họ thăm Florence, Rome và Venice. Tuy nhiên, đích đến cuối cùng họ chọn là Hoa Kỳ. Họ dừng chân ở New York rồi sau đó đến thăm Macon, Georgia, và họ buồn bã phát hiện ra rằng căn nhà Klaus từng sống là một căn buồng trong một tòa nhà cũ gần khu biệt cư của người da đen.

Trong chuyến đi này, có lẽ vì những bộ phim Mỹ mà hai người đã cùng nhau xem chẳng ít, họ chợt nghĩ là mình nên thuê một thám tử tư. Họ đến gặp một vị ở Atlanta và trình bày chuyện của mình. Werner nói được chút tiếng Anh và vị thám tử, vốn từng là cảnh sát Atlanta, chẳng hề bối rối. Ông để họ ngồi trong văn phòng mình trong khi ông ra ngoài mua một cuốn từ điển Anh-Đức, rồi ông chạy về và tiếp tục nghe câu chuyện từ đầu đến cuối không nghỉ. Và chẳng phải ông chỉ chăm chăm muốn moi tiền họ, vì ngay từ đầu ông đã cảnh báo họ rằng tìm một người đã nhập tịch Mỹ sau ngần ấy thời gian thì cũng bằng như mò kim đáy bể.

“Thậm chí có khi anh ấy đã đổi họ tên không chừng,” ông nói.

Nhưng họ muốn thử nên họ trả thù lao một tháng, thế là vị thám tử đồng ý sẽ gửi kết quả điều tra sang Đức. Hết một tháng, họ nhận được ở Paderborn một phong bì lớn, trong đó vị thám tử tư liệt kê từng khoản chi phí và báo cáo kết quả điều tra.

Tóm lại kết quả là: chẳng có gì.

Ông ta có tìm được một người có biết Klaus (chủ của tòa nhà nơi Klaus từng ở thuê), qua đó ông ta gặp được một người khác từng thuê Klaus làm việc, nhưng khi rời Atlanta, Klaus chẳng hề nói với người này hay người kia biết anh định đi đâu. Vị thám tử đề nghị điều tra theo những hướng khác, nhưng để theo đuổi các hướng ấy ông ta cần thêm tiền, thế là Werner cùng Lotte quyết định cảm ơn ông ta đã bỏ sức bỏ công rồi sau đó họ chấm dứt giao kèo, ít nhất là tạm thời.

Vài năm sau Werner chết vì bệnh tim và Lotte còn lại một mình. Bất cứ phụ nữ nào khác ở vào hoàn cảnh của bà hẳn sẽ suy sụp hoàn toàn, nhưng Lotte không cho phép mình đầu hàng số phận, nên thay vì ngồi không bà tăng gấp đôi gấp ba những việc mình làm hằng ngày. Bà không chỉ giữ cho các khoản đầu tư của mình sinh lãi và cửa hàng nền nếp, mà với chỗ vốn còn lại bà khởi sự kinh doanh những ngành khác và đều thành công.

Công việc, một thứ tham công tiếc việc quá đà, dường như khiến bà trẻ lại. Bà luôn luôn chõ mũi vào mọi thứ, bà chẳng bao giờ ở yên, một số nhân viên bắt đầu đâm ghét bà, nhưng bà chẳng quan tâm. Những khi đi nghỉ, chẳng bao giờ lâu quá một tuần hay tuần rưỡi, bà tìm đến sự ấm áp của Ý hay Tây Ban Nha và vừa tắm nắng trên bãi biển vừa đọc mấy cuốn sách bán chạy. Đôi khi bà đi chơi với những người mới quen tình cờ, nhưng thường thì bà rời khách sạn một mình, băng qua phố ra bãi biển, ở đấy bà trả tiền để một chú nhóc kê dù và ghế bạt cho bà. Đoạn bà cởi xu chiêng hoặc trật áo váy xuống ngang eo, chẳng hề bận tâm rằng cặp ngực bà chẳng còn như xưa, và ngủ dưới nắng trời. Khi thức dậy bà chỉnh dù rồi tiếp tục đọc sách. Thỉnh thoảng chú nhóc cho thuê ghế và dù đi ngang qua thế là Lotte cho chú tiền để chú vô khách sạn lấy đem ra cho bà một ly rum hay một Coke hay một bình sangria nhỏ pha đẫy đá. Thỉnh thoảng, về đêm, bà ngồi ngoài ban công khách sạn hoặc xuống quán bar nằm ở tầng trệt mà khách quen là những đàn ông đàn bà người Đức, Anh và Hà Lan ít nhiều trạc tuổi bà, bà ngồi đó một hồi xem các cặp nhảy đầm hoặc nghe chơi nhạc sống, ban này đôi khi chơi những bài hát từ đầu thập niên sáu mươi. Nhìn từ xa, bà giống như một mệnh phụ với khuôn mặt đẹp, hơi bầu bĩnh, hững hờ xa vắng, với một thoáng thanh lịch và một nỗi buồn khó gọi tên nào đó. Khi lại gần, khi một ông góa hay một người đã ly dị vợ mời bà nhảy hoặc đi dạo ven bãi biển và Lotte mỉm cười nói không, cảm ơn, thì bà lại trở thành cô gái quê, nét tao nhã biến mất, duy chỉ nỗi buồn còn lại.

Năm 1995 bà nhận được một bức điện từ Mexico, từ một nơi gọi là Santa Teresa, trong điện người ta báo cho bà biết Klaus đang ngồi tù. Người gửi là Isabel Santolaya, luật sư của Klaus. Lotte bị sốc đến nỗi bà phải rời phòng làm việc, lên lầu, lên giường nằm, dù dĩ nhiên bà không ngủ được. Klaus còn sống. Duy chỉ điều đó là quan trọng đối với bà. Bà hồi âm bức điện, ghi rõ số điện thoại của mình, thế là bốn ngày sau, sau khi hai tổng đài viên hỏi bà có muốn nhận cuộc gọi không, bà nghe giọng một phụ nữ nói với bà bằng tiếng Anh, rất chậm, phát âm rõ từng âm tiết, tuy bà vẫn chả hiểu gì vì bà không biết tiếng Anh. Cuối cùng giọng nữ kia nói, bằng một thứ tiếng Đức nào đấy: “Klaus ổn”. Và rồi: “Thông dịch viên”. Rồi cái gì đó nghe như tiếng Đức, hoặc nghe như tiếng Đức đối với Isabel Santolaya còn Lotte thì không hiểu. Và một số điện thoại, mà Isabel Santolaya đọc đi đọc lại mấy lần bằng tiếng Anh, còn Lotte thì ghi nó vào một mẩu giấy, vì số trong tiếng Anh thì ai cũng biết.

Hôm đó Lotte không làm việc. Bà gọi đến một trường đào tạo thư ký, nói bà muốn thuê một cô nào nói thật giỏi tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, mặc dù ở cửa hàng có hơn một thợ cơ khí biết tiếng Anh và lẽ ra có thể giúp bà. Ở trường người ta nói cái cô mà bà đang tìm thì họ có và hỏi khi nào bà cần. Ngay lập tức, Lotte nói. Ba giờ sau một cô gái chừng hai mươi lăm tuổi xuất hiện ở cửa hàng. Cô có mái tóc thẳng màu nâu, mặc quần jean, và cô đùa cợt với cánh thợ cơ khí trước khi lên phòng làm việc của Lotte.

Tên cô gái là Ingrid và Lotte giải thích rằng con trai bà đang ngồi tù ở Mexico và bà cần nói chuyện với luật sư người Mexico của anh ta, nhưng luật sư chỉ nói được tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha thôi. Sau khi Lotte nói xong bà nghĩ chắc mình sẽ phải giải thích từ đầu thêm lần nữa, nhưng Ingrid là một cô gái sắc sảo nên chuyện đó không cần thiết. Cô nhấc điện thoại lên gọi một đường dây thông tin công cộng để biết khoảng cách múi giờ với bên Mexico. Rồi cô gọi cho luật sư và nói chuyện với chị này gần mười lăm phút bằng tiếng Tây Ban Nha, tuy thỉnh thoảng cô chuyển sang tiếng Anh để làm rõ vài thuật ngữ, và vừa nói cô vừa ghi vào sổ. Cuối cùng cô nói: chúng tôi sẽ gọi lại, và gác máy.

Lotte ngồi nơi bàn làm việc và khi Ingrid gác máy bà chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận điều tồi tệ nhất.

“Klaus đang ngồi tù ở Santa Teresa, là một thành phố ở phía Bắc Mexico, giáp biên giới Hoa Kỳ,” Ingrid nói, “nhưng sức khỏe anh ấy ổn và anh ấy không bị tổn thương thể xác nào.”

Lotte chưa kịp hỏi tại sao Klaus phải ngồi tù thì Ingrid đã đề nghị họ uống trà hoặc cà phê. Lotte pha hai tách trà và trong khi đi tới đi lui trong bếp bà quan sát Ingrid xem kỹ lại các ghi chú của mình.

“Anh ấy bị buộc tội giết mấy người đàn bà,” cô gái nói sau khi nhấp hai ngụm trà.

“Klaus không đời nào làm vậy,” Lotte nói.

Ingrid gật đầu rồi nói rằng luật sư, Isabel Santolaya, đang cần tiền.

Đêm đó, lần đầu tiên sau một thời gian dài, Lotte nằm mơ về ông anh ruột. Bà thấy Archimboldi đi trong sa mạc, mặc quần ngắn, đội cái mũ rơm nhỏ, và quanh ông toàn cát là cát, hết đụn cát này tới đụn cát kia tới tận chân trời. Bà hét lên gì đó với ông, bà nói dừng lại, anh chẳng còn chỗ nào để đi cả, nhưng Archimboldi cứ đi xa dần, tuồng như ông muốn để mình thất lạc mãi mãi trong vùng đất thù địch và thăm thẳm khôn cùng đó.

“Nó thù địch và thăm thẳm khôn cùng,” bà nói với ông, và chỉ khi đó bà mới nhận ra mình lại là một cô bé, một cô bé sống trong một làng quê Phổ nằm giữa rừng và biển.

“Không,” Archimboldi nói, và ông dường như thì thầm vào tai bà, “nó chỉ chán thôi, chán, chán…”

Khi thức dậy bà biết mình phải sang Mexico ngay, không bỏ phí một phút nào nữa. Đến trưa Ingrid tới. Lotte quan sát cô qua cửa sổ phòng làm việc. Theo thói quen, trước khi đi lên, Ingrid đùa cợt với vài anh thợ cơ khí. Tiếng cười khanh khách của cô, bị lần kính làm cho đục đi, Lotte nghe vô tư lự và tươi roi rói. Tuy nhiên, khi gặp Lotte, Ingrid trở nên nghiêm trang hơn nhiều. Trước khi gọi điện cho luật sư, họ uống trà ăn bánh quy. Suốt hai mươi tư giờ qua Lotte chẳng ăn chút gì nên chỗ bánh quy khiến bà khỏe hẳn lên. Sự có mặt của Ingrid cũng làm bà an lòng nữa: cô là một thiếu nữ giản dị, tinh tế, biết khi nào đùa khi nào nên nghiêm trang.

Khi họ gọi cho luật sư, Lotte chỉ thị cho Ingrid bảo chị ta rằng bà sẽ thân hành đến Santa Teresa để xử lý bất cứ cái gì cần xử lý. Luật sư, nghe chừng đang ngái ngủ, như vừa mới dậy khỏi giường, cho Ingrid vài địa chỉ, rồi cúp máy. Chiều hôm đó Lotte đến gặp luật sư của mình giải thích tình hình. Luật sư của bà gọi vài cuộc điện rồi bảo bà nên thận trọng, đám luật sư Mexico không tin tưởng được đâu.

“Tôi biết,” Lotte cứng cỏi nói.

Ông ta cũng chỉ cho bà cách tốt nhất để rút tiền ở nước ngoài. Đêm đó bà gọi điện đến nhà Ingrid hỏi cô có muốn đi với bà sang Mexico không.

“Tôi sẽ trả tiền cho cô, dĩ nhiên,” bà nói.

“Để làm người thông dịch?” Ingrid hỏi.

“Người thông dịch, bạn đồng hành, cô gọi thế nào cũng được,” Lotte cáu kỉnh nói.

“Tôi sẽ đi,” Ingrid nói.

Bốn ngày sau họ ngồi máy bay đến Los Angeles, ở đó họ bắt một chuyến nối tiếp đến Tucson, rồi từ Tucson họ thuê xe tự lái tới Santa Teresa. Khi Lotte gặp Klaus, điều đầu tiên anh nói là trông bà già hơn, khiến bà đâm sượng sùng.

Đã lâu rồi mà, bà những muốn nói vậy, nhưng bà không nói được nên lời qua hàng nước mắt. Bốn người bọn họ, bà, Klaus, luật sư và Ingrid, ngồi trong một căn phòng vách xi măng. Sàn cũng xi măng, với những vạt ố vì ẩm thấp, có một cái bàn nhựa giả gỗ được bắt vít xuống sàn và hai băng ghế bằng gỗ phiến cũng bắt vít xuống sàn. Bà, Ingrid và luật sư ngồi trên một băng ghế còn Klaus ngồi trên băng ghế kia. Anh không bị còng tay, cũng không có vẻ bị ngược đãi. Lotte nhận thấy anh có béo ra so với lần gần đây nhất bà gặp anh, nhưng đó là rất nhiều năm về trước và hồi ấy Klaus mới là một cậu nhóc. Khi luật sư liệt kê ra tất cả các vụ giết người mà anh bị cáo buộc gây ra, Lotte nghĩ mấy người này chắc phát điên hết rồi. Chả có ai đầu óc bình thường mà lại có thể giết nhiều phụ nữ đến như vậy hết, bà nói.

Luật sư mỉm cười nói rằng ở Santa Teresa có người nào đó, chắc đầu óc không bình thường, đã làm chuyện đó.

Văn phòng của luật sư nằm ở mạn trên của thành phố, trong chính căn hộ chị ta ở. Có hai lối vào, nhưng cũng chính là căn hộ đó, với ba bốn bức tường xây thêm.

“Tôi cũng sống ở một nơi như thế này,” Lotte nói, và luật sư không hiểu, nên Ingrid phải giải thích về cửa hàng sửa xe và căn hộ bên trên cửa hàng.

Theo lời khuyên của luật sư, ở Santa Teresa họ lưu trú ở khách sạn tốt nhất của thành phố, Las Dunas tức Những Đụn Cát, mặc dù, theo Ingrid cho Lotte hay, ở Santa Teresa chả có đụn cát nào dù thuộc loại gì, dù gần cạnh hay trong bán kính năm chục dặm. Đầu tiên Lotte định đặt hai phòng, nhưng Ingrid thuyết phục bà chỉ đặt một phòng thôi cho rẻ. Đã lâu rồi Lotte mới ở chung phòng với người khác, nên mấy đêm đầu bà mãi không ngủ được. Để cho qua thì giờ bà bật tivi, cho câm tiếng, nằm trên giường xem: người ta chuyện trò người ta hoa tay múa chân cố thuyết phục những người khác về điều gì đó có lẽ là quan trọng.

Buổi tối có nhiều show truyền giáo qua tivi. Các nhà truyền giáo qua tivi của Mexico khá dễ nhận ra: họ đều da sẫm, đổ mồ hôi rất dữ và com lê cùng cà vạt của họ trông như là đồ cũ mua lại, tuy có lẽ là đồ mới. Lại nữa: những buổi thuyết giáo của họ kịch tính hơn, màu mè hơn, khán giả tham gia nhiều hơn, tuy khán giả trông cứ như bị đánh thuốc và nghèo rớt mồng tơi, chả giống khán giả các chương trình truyền giáo qua tivi của Mỹ, vốn cũng ăn mặc tồi tàn nhưng ít nhất còn có vẻ có công ăn việc làm ổn định.

Có lẽ mình nghĩ vậy chỉ vì họ là người da trắng, vài người chắc có gốc gác Đức hoặc Hà Lan và do vậy gần gũi với mình hơn, giữa đêm, trên biên giới Mexico, Lotte nghĩ.

Khi rốt cuộc bà cũng thiếp đi, tivi vẫn bật, bà nằm mơ thấy Archimboldi. Bà thấy ông ngồi trên một tảng đá núi lửa to đùng, quần áo tả tơi rách rưới, một tay cầm rìu, nhìn bà buồn bã. Chắc anh mình chết rồi, Lotte nghĩ trong mơ, nhưng con trai mình thì còn sống.

Ngày thứ hai gặp Klaus bà nói với anh, cố tỏ ra dịu dàng, rằng Werner chết được ít lâu rồi. Klaus nghe và gật đầu mà không đổi sắc mặt. Ông ấy là người tốt, anh nói, nhưng anh nói câu ấy với vẻ hờ hững như đang nói về một bạn cùng xà lim.

Ngày thứ ba, trong khi Ingrid ý tứ ngồi đọc sách ở một góc phòng, Klaus hỏi về ông bác của anh. Mẹ không biết ông ấy giờ ra sao cả, Lotte nói. Nhưng câu hỏi của Klaus khiến bà ngạc nhiên, và bà không thể không kể với anh rằng từ khi đến Santa Teresa bà cứ mơ thấy ông anh suốt. Klaus yêu cầu bà mô tả một giấc mơ ấy. Sau khi Lotte tả xong, anh thú nhận rằng lâu nay anh cũng nằm mơ thấy ông bác, và đó không phải là những giấc mơ lành.

“Vậy đó là những giấc mơ loại gì?” Lotte hỏi anh.

“Mơ dữ,” Klaus nói.

Đoạn anh mỉm cười và họ nói sang những chuyện khác.

Khi hết giờ thăm, Lotte và Ingrid thường lái xe vòng vòng thành phố và có một lần họ vào chợ mua đồ mỹ nghệ của người da đỏ. Theo Lotte, mấy món mỹ nghệ này chắc được làm ở Trung Quốc hoặc Thái Lan, nhưng Ingrid thì thích nên mua ba cái hình nhân nhỏ bằng đất sét nung, không sơn vẽ không trang trí, ba hình ảnh thô ráp, mạnh mẽ gồm một ông bố, một bà mẹ và một cậu con trai, mua xong cô tặng cho Lotte, nói với bà chúng sẽ mang vận may đến cho bà. Một sáng nọ họ đi Tijuana, đến lãnh sự quán Đức. Họ đã định thuê xe lái, nhưng luật sư khuyên họ đi tuyến máy bay mỗi ngày một chuyến nối hai thành phố. Ở Tijuana họ lưu lại ở một khách sạn trong khu dành cho khách du lịch, ồn ào huyên náo và đầy nghẹt những người mà theo ý Lotte là trông chả giống khách du lịch, và ngay sáng đó bà xoay xở nói chuyện được với ngài lãnh sự và trình bày vụ của con trai bà. Ông lãnh sự, trước sự ngạc nhiên của Lotte, đã biết hết mọi chuyện rồi và theo ông giải thích, một viên chức của tòa lãnh sự đã đến thăm Klaus, điều này bị luật sư thẳng thừng phủ nhận.

Ông lãnh sự nói rằng chắc luật sư chưa nghe nói về chuyến thăm ấy hoặc lúc ấy chị ta chưa phải luật sư của Klaus hoặc Klaus đã quyết định không kể với chị ta về chuyến thăm ấy. Dù sao đi nữa, trên thực tế Klaus là công dân Mỹ và bởi vậy vụ này lắm mắc mứu nhiêu khê. Trong hoàn cảnh này chúng ta làm gì cũng phải thận trọng, ngài lãnh sự kết luận, và Lotte cố khẳng định với ông rằng con trai bà vô tội song hoài công. Dù sao

thì ngài lãnh sự cũng đã góp tay giải quyết vụ này cho nên Lotte và Ingrid, lòng khuây khỏa, quay lại Santa Teresa.

Hai ngày cuối cùng họ không thể gặp Klaus cũng không gọi điện cho anh được. Luật sư nói nội quy nhà giam không cho phép, dù Lotte biết Klaus có di động và thỉnh thoảng anh trò chuyện với những người ở ngoài suốt cả ngày. Tuy nhiên bà không muốn làm to chuyện hoặc căn vặn luật sư nên bà dành hai ngày ấy tham quan thành phố, bà thấy nó hỗn độn hơn bao giờ hết và chẳng có gì thú vị. Trước khi rời đi Tucson bà giam mình trong phòng khách sạn viết một bức thư dài cho con trai, để luật sư trao lại cho anh sau khi bà đi. Cùng với Ingrid bà đi nhìn qua bên ngoài căn nhà Klaus đã sống ở Santa Teresa, như tham quan một điểm du lịch, và bà thấy đó là một căn nhà kiểu California không đến nỗi nào, nhìn cũng vừa mắt. Rồi họ đến cửa hàng máy vi tính và đồ điện tử mà Klaus làm chủ ở khu ngoại ô và thấy nó đã đóng cửa, luật sư đã nói trước vậy rồi, vì chỗ ấy thuộc về Klaus và anh không muốn cho ai thuê lại vì tin chắc mình sẽ được thả trước phiên tòa.

Về lại Đức bà chợt nhận ra rằng chuyến đi khiến bà mệt hơn bà tưởng nhiều. Bà nằm liệt giường mấy ngày, không đặt chân tới văn phòng, nhưng mỗi lần điện thoại reo là bà nhanh chóng trả lời, nếu đó là cuộc gọi từ Mexico. Một lần bà nằm mơ thấy có một giọng ấm áp đầy âu yếm thì thầm vào tai bà rằng có khả năng con trai bà đúng thật là tên giết người ở Santa Teresa.

“Vớ vẩn quá,” bà hét lên, và tức thì thức dậy.

Đôi khi người gọi là Ingrid. Họ không nói chuyện nhiều. Cô gái hỏi thăm sức khỏe bà và muốn biết có tiến triển gì mới trong vụ Klaus chưa. Vấn đề ngôn ngữ đã được giải quyết thông qua trao đổi email, các email này Lotte nhờ một trong mấy người thợ máy của mình dịch hộ. Một chiều nọ Ingrid ghé thăm mang theo một món quà: một cuốn từ điển Đức-Tây Ban Nha khiến Lotte hết lời cảm ơn cô mặc dù trong thâm tâm bà biết chắc sẽ chả bao giờ dùng tới. Tuy nhiên, ít lâu sau, trong khi xem các bức ảnh trong tập hồ sơ luật sư đưa cho, bà tìm thấy cuốn từ điển của Ingrid và tìm tra mấy chữ. Vài hôm sau, hết sức ngạc nhiên, bà khám phá ra rằng mình có khiếu ngôn ngữ.

Năm 1996 bà trở lại Santa Teresa và đề nghị Ingrid đi cùng bà. Ingrid đang hẹn hò với một anh chàng làm ở một văn phòng kiến trúc, tuy anh chàng không phải kiến trúc sư, và một tối nọ hai anh chị mời bà đi ăn tối. Anh bạn trai rất quan tâm đến những gì đang diễn ra ở Santa Teresa và ban đầu Lotte ngờ rằng Ingrid muốn đi cùng với anh ta, nhưng Ingrid nói anh ta chưa phải người yêu của cô, và cô rất vui lòng đi cùng với Lotte.

Phiên tòa đúng ra là phải diễn ra trong năm 1996, nhưng rốt cuộc bị hoãn thế là Lotte và Ingrid lưu lại chín ngày ở Santa Teresa, vào thăm Klaus được chừng nào hay chừng nấy, lái xe lòng vòng thành phố, và ngồi trong phòng khách sạn xem tivi. Đôi lần, về đêm, Ingrid nói với Lotte cô đi xuống quầy bar khách sạn uống một ly hoặc đi nhảy đầm ở phòng nhảy của khách sạn, Lotte còn lại một mình thế là bà đổi kênh, vì Ingrid luôn luôn chọn các chương trình tiếng Anh còn bà thì thích xem tivi của Mexico, đấy là một cách để bà gần con, bà nghĩ vậy.

Có hai lần phải tới sau năm giờ sáng Ingrid mới về phòng và cả hai lần Lotte đều đang thức, ngồi ở chân giường hoặc trên ghế bành, tivi vẫn mở. Một đêm kia, khi Ingrid không có mặt, Klaus gọi điện và điều đầu tiên Lotte nghĩ tới là anh đã thoát được khỏi cái nhà tù kinh rợn đó và đang ở rìa sa mạc. Klaus hỏi bà thế nào, nghe giọng anh bình thường, thậm chí còn thoải mái, và Lotte đáp rằng bà khỏe rồi thì bà chẳng biết nói gì. Khi lấy lại được tự chủ, bà hỏi anh đang gọi từ đâu.

“Từ nhà tù,” Klaus nói.

Lotte nhìn đồng hồ đeo tay.

“Làm sao mà họ cho con gọi điện thoại vào giờ này?” bà hỏi.

“Chả ai cho con làm cái gì sất,” Klaus nói, đoạn cười ha hả, “con đang gọi bằng di động mà.”

Thế là Lotte nhớ lại luật sư có kể với bà rằng Klaus có điện thoại di động và sau đó họ nói về những chuyện khác, cho đến khi Klaus nói anh vừa có một giấc mơ và giọng anh chuyển từ bình thản và thoải mái sang một âm giai sâu hơn, làm Lotte nhớ lại một lần bà thấy một kịch sĩ Đức ngâm một bài thơ. Bài thơ ấy bà không nhớ, chắc một bài cổ điển nào đấy, nhưng giọng của kịch sĩ thì bà không quên được.

“Con mơ thấy gì?” bà hỏi.

“Mẹ không biết à?” Klaus hỏi.

“Mẹ không biết,” Lotte nói.

“Vậy tốt nhất là con không kể cho mẹ nghe,” Klaus nói rồi gác máy.

Thôi thúc đầu tiên của Lotte là gọi lại ngay lập tức cho Klaus để tiếp tục nói chuyện, song chả mấy chốc bà nhớ ra là mình không có số của anh, cho nên sau vài phút lưỡng lự bà gọi cho Isabel Santolaya, luật sư, dù biết gọi khuya như vậy là thất lễ, và khi rốt cuộc luật sư nghe máy thì Lotte, bằng thứ tiếng trộn lẫn giữa Đức, Tây Ban Nha và Anh, liền giải thích rằng bà cần số điện thoại di động của Klaus. Sau một hồi im lặng dài luật sư nhắc đi nhắc lại con số cho đến khi chị ta tin chắc Lotte đã ghi lại đúng thì mới gác máy.

Trong khi đó, sự im lặng kéo dài kia đối với Lotte chất đầy câu hỏi, vì luật sư không đặt điện thoại xuống để đi tìm cuốn sổ tay chị ta ghi số của Klaus, mà chị ta lặng thinh ở đầu kia đường dây, chắc trầm ngâm suy nghĩ, như để quyết xem có nên cho Lotte biết số hay không. Dù thế nào đi nữa, Lotte nghe tiếng thở của chị ta giữa chừng khoảng lặng, gần như bà có thể cơ hồ nghe thấy chị ta đang cân nhắc hai khả năng. Rồi Lotte gọi vào di động của Klaus, nhưng máy bận. Bà chờ mười phút rồi gọi lại nhưng vẫn bận. Đêm hôm khuya khoắt thế này Klaus có thể nói chuyện với ai mới được chứ? bà tự hỏi.

Hôm sau khi đến thăm anh bà quyết định không khơi chuyện đó ra, cũng chẳng hỏi gì. Trong khi đó, Klaus vẫn như mọi khi, xa cách, lạnh lùng, làm như chẳng phải anh là người đang nằm khám.

Dù thế nào đi nữa, trong chuyến sang Mexico lần thứ hai này Lotte không cảm thấy hoang mang lạc lõng như lần đầu tiên. Đôi khi, trong lúc đợi ở nhà tù, bà trò chuyện với các phụ nữ đang trên đường đến thăm tù. Bà học được cách nói: bonito niño hoặc lindo chamaco, khi các phụ nữ này có dẫn con nhỏ theo, hoặc: buena viejita hoặc simpática viejita, khi bà gặp mẹ hoặc bà của tù nhân, đầu quấn khăn san, xếp hàng đợi đến giờ thăm, nhẫn nhục và điềm tĩnh. Bản thân bà cũng mua một tấm khăn san vào ngày thứ ba lưu lại, và đôi lúc, giữa khi đi theo sau Ingrid và luật sư, bà không khỏi khóc rưng rức, chừng đó chiếc khăn san che kín mặt bà, giúp bà có được chút riêng tư.

Năm 1997 bà trở lại Mexico, nhưng lần này bà đi một mình do Ingrid đã tìm được việc làm tốt nên không đi với bà được. Lần này do bà đã bắt đầu học nên tiếng Tây Ban Nha của bà tốt hơn nhiều, bà có thể trò chuyện qua điện thoại với luật sư. Chuyến đi diễn ra suôn sẻ, mặc dù ngay khi đặt chân đến Santa Teresa bà hiểu được qua nét mặt của Isabel Santolaya rồi sau đó qua cái ôm quá lâu của chị này rằng có chuyện lạ lùng đang diễn ra. Phiên tòa, diễn ra như trong một giấc mơ, kéo dài hai mươi ngày và cuối cùng Klaus bị buộc tội gây ra bốn vụ giết người.

Tối hôm đó luật sư lái xe đưa bà về khách sạn, và do chị này không tỏ ra muốn quay về, Lotte nghĩ chắc chị ta có gì đó muốn nói mà không biết nói ra sao, thế là bà liền rủ chị uống gì đó ở quầy bar tuy bà đã mệt bã người chẳng muốn gì hơn là leo lên giường ngủ. Trong khi họ uống cạnh một khung cửa sổ to nhìn ra ngoài là thấy ánh đèn những chiếc xe chạy qua chạy lại dọc một xa lộ rộng hai bên là những hàng cây, luật sư, xem chừng cũng mệt chẳng kém Lotte, bắt đầu chửi thề bằng tiếng Tây Ban Nha, hoặc Lotte nghĩ vậy, thế rồi chị ta bắt đầu khóc thành tiếng. Chị này yêu con trai mình, Lotte nghĩ. Trước khi bà rời Santa Teresa, Isabel Santolaya nói với bà rằng phiên tòa này đầy những sai phạm về thủ tục và ắt sẽ bị tuyên bố là xử sai. Dù thế nào đi nữa, tôi sẽ kháng án, chị ta hứa. Trên xe về nhà, Lotte nghĩ về con trai, người mà phán quyết của tòa chẳng mảy may tác động, và luật sư, và bà nghĩ rằng hai người ấy, theo một cách kỳ lạ song cũng tự nhiên, hẳn có thể là một cặp đẹp đôi.

Năm 1998, người ta tuyên bố phiên tòa đó xử sai và ấn định ngày mở phiên tòa thứ hai. Một đêm nọ, trong khi nói chuyện qua điện thoại với Isabel Santolaya từ Paderborn, Lotte hỏi thẳng là giữa luật sư với Klaus liệu còn có chuyện gì khác không. “Có,” luật sư nói.

“Thật khó mà chịu nổi chuyện này, phải không?” Lotte hỏi.

“Chẳng khó hơn là đối với bà,” Isabel Santolaya nói.

“Tôi không hiểu,” Lotte nói, “tôi là mẹ nó, còn chị thì được tự do lựa chọn mà.”

“Chẳng ai được tự do lựa chọn trong tình yêu cả,” Isabel Santolaya nói.

“Còn Klaus có cảm thấy giống như vậy không?” Lotte hỏi.

“Tôi là người ngủ với anh ấy,” Isabel Santolaya nói gọn lỏn.

Lotte không hiểu ý chị ta là sao. Nhưng rồi bà nhớ ra rằng ở Mexico, cũng như ở Đức, mọi tù nhân đều có quyền được vợ hoặc bạn tình đến thăm và ngủ lại. Bà có xem một show truyền hình về chuyện đó. Các phòng nơi tù nhân ở với vợ trông buồn thảm không chịu nổi, bà nhớ lại. Các phụ nữ ráng sức làm cho chúng trông khá khẩm hơn một chút nhưng rồi tất cả những hoa hoét và khăn khiếc của họ chỉ tổ biến những căn phòng buồn bã, vô cá tính đó thành những buồng gái điếm buồn tủi rẻ tiền. Mà đó là ở các nhà tù khá khẩm của Đức đấy, Lotte nghĩ, những nhà tù rộng rãi, sạch sẽ, tử tế. Bà chẳng muốn hình dung một cuộc gặp giữa tù nhân và vợ hoặc chồng trong một nhà tù ở Santa Teresa thì sẽ ra làm sao.

“Tôi nghĩ những gì chị đang làm cho con tôi thật đáng ngưỡng mộ,” Lotte nói.

“Chỉ là vặt vãnh,” luật sư nói, “những gì Klaus cho tôi là vô giá.”

Đêm đó, trước khi thiếp ngủ, bà nghĩ đến Isabel Santolaya và Klaus và mường tượng cảnh hai người ấy đang ở Đức hoặc bất cứ nơi nào của châu Âu và bà thấy Isabel Santolaya bụng chửa to kềnh, đợi đứa con của Klaus sắp chào đời, thế là bà thiếp ngủ như một đứa bé.

Năm 1998 Lotte đến Mexico hai lần và lưu lại tổng cộng bốn mươi lăm ngày ở Santa Teresa. Phiên tòa bị hoãn đến năm 1999. Khi đến Tucson trên chuyến bay từ Los Angeles bà gặp rắc rối với mấy người ở đại lý cho thuê xe, họ không chịu cho bà thuê vì bà đã cao tuổi.

“Tôi già nhưng tôi biết lái xe,” Lotte nói bằng tiếng Tây Ban Nha, “và tôi chưa gây tai nạn bao giờ, mẹ kiếp.”

Sau khi cãi cọ mất đứt nửa tiếng buổi sáng, Lotte thuê taxi đưa bà tới Santa Teresa. Tài xế tên là Steve Hernandez, anh ta nói tiếng Tây Ban Nha và trong khi họ băng qua sa mạc anh ta hỏi điều gì đưa bà đến Mexico.

“Tôi tới đây để gặp con trai tôi,” Lotte nói.

“Lần sau cụ tới cụ bảo con cụ tới Tucson đón cụ chứ đi taxi như vầy không rẻ đâu,” tài xế nói.

“Giá mà tôi làm vậy được,” Lotte nói.

Năm 1999 bà quay lại Mexico và lần này luật sư đến Tucson đón bà. Năm ấy không được thuận đối với Lotte. Việc kinh doanh ở Paderborn không thuận lợi và bà đang nghiêm túc nghĩ đến chuyện bán cửa hàng và tòa nhà, kể cả căn hộ bà đang ở. Sức khỏe của bà không tốt. Bác sĩ khám cho bà không tìm thấy bệnh tật gì, nhưng đôi khi Lotte có cảm tưởng đến cả những việc đơn giản nhất mình cũng không làm nổi. Cứ hễ thời tiết xấu là bà bị cảm, phải nằm liệt giường suốt mấy ngày, đôi khi sốt cao.

Năm 2000 bà không đi Mexico được nhưng bà trò chuyện với luật sư mỗi tuần một lần nên nắm được mọi tin mới nhất. Khi không trò chuyện qua điện thoại thì họ giữ liên lạc bằng email và bà thậm chí còn cho lắp đặt máy fax tại nhà để nhận các tài liệu mới cứ không ngừng đến về trường hợp các phụ nữ bị sát hại. Suốt năm ấy Lotte miệt mài chiến đấu sao cho đủ khỏe để sang năm có thể lại đi. Bà uống vitamin, thuê bác sĩ vật lý trị liệu, đi châm cứu ở chỗ một bác sĩ người Hoa mỗi tuần một lần. Bà theo chế độ ăn uống đặc biệt nhiều rau quả tươi. Bà thôi không ăn thịt nữa, thay vào đó bà ăn cá.

Khi năm 2001 đến bà sẵn sàng khởi hành một chuyến mới đến Mexico, mặc dù sức khỏe của bà, dẫu bà đã cố tới đâu, nay không còn như xưa nữa. Thần kinh của bà cũng không còn vững như xưa, rồi ta sẽ thấy.

Trong khi ngồi ở sân bay Frankfurt đợi chuyến bay đi Los Angeles, bà vào một hiệu sách mua một cuốn sách và vài tờ tạp chí. Lotte không phải là người đọc giỏi, bất kể người đọc giỏi nghĩa là gì, và nếu như năm thì mười họa bà mua một cuốn sách thì đó thường là loại sách của mấy tay diễn viên đã giải nghệ hoặc đã lâu không đóng phim nào mới, không thì là tiểu sử những người nổi tiếng, hoặc sách của những người nổi tiếng trên tivi, mà ai cũng cho là đầy những chuyện hay ho nhưng trên thực tế chẳng có chuyện nào hết cả.

Tuy nhiên, lần này, do nhầm lẫn hoặc do bà đang vội vì sợ nhỡ chuyến bay, bà mua một cuốn sách tên là Vua của rừng, của một người tên là Benno von Archimboldi. Cuốn sách, không quá một trăm năm chục trang, kể về một ông bố một giò cùng một bà mẹ một mắt và hai đứa con của họ, một thằng nhóc thích bơi và một cô bé thường đi theo anh đến những vách đá. Trong khi máy bay băng qua Đại Tây Dương, bà sửng sốt nhận ra mình đang đọc một phần tuổi thơ mình.

Phong cách thật lạ. Văn phong sáng rõ, đôi khi thậm chí còn trong suốt, nhưng cách kể chuyện này nối tiếp chuyện kia chẳng dẫn tới đâu: tất cả những gì còn lại là hai đứa trẻ, cha mẹ chúng, những con vật, vài người hàng xóm, và rốt cuộc, tất cả những gì thực sự còn lại là thiên nhiên, một thiên nhiên tan lẫn từng tí một vào một cái vạc sôi sùng sục cho đến khi biến mất hoàn toàn.

Trong khi các hành khách ngủ, Lotte bắt đầu đọc lại cuốn tiểu thuyết một lần nữa, bỏ qua những phần không phải về gia đình bà hoặc căn nhà của bà hoặc mấy người hàng xóm của bà hoặc khu vườn của bà, và khi đọc xong bà chẳng còn nghi ngờ gì rằng tác giả, cái ông Benno von Archimboldi này, là ông anh của bà, tuy rằng cũng có khả năng tác giả đã trò chuyện với anh của bà, khả năng này Lotte gạt bỏ tức thì bởi theo phán đoán của bà trong cuốn sách có những chi tiết mà anh của bà sẽ chẳng bao giờ kể với ai, dẫu bà không ngừng lại một giây để thấy rằng viết những chuyện ấy ra thế này khác chi ông kể với toàn thế giới.

Trên bìa sách không có ảnh tác giả, tuy ngày tháng năm sinh thì có, năm 1920, cùng năm sinh với ông anh bà, và một danh sách dài các tít sách, tất cả đều được cùng một nhà xuất bản in. Bìa cũng nói rằng Benno von Archimboldi đã được dịch sang hơn chục thứ tiếng và trong mấy năm qua ông được nhắc tới như một ứng viên tiềm năng cho giải Nobel. Trong khi ngồi ở Los Angeles chờ chuyến bay nối tới Tucson bà tìm thêm sách của Archimboldi trong các hiệu sách của sân bay, song chỉ có sách về người ngoài hành tinh, những người bị bắt cóc, những cuộc gặp với loài sinh vật thứ ba, và những lần người ta nhìn thấy đĩa bay.

Ở Tucson luật sư đang đợi bà và trên đường đến Santa Teresa họ trò chuyện về vụ án, theo luật sư thì vụ án đang giậm chân tại chỗ và đã vậy từ lâu rồi, điều đó tốt thôi, tuy rằng Lotte không hiểu ra sao vì đối với bà điều ấy nghe rất dở. Nhưng bà không muốn tranh cãi nên chuyển sang ngắm phong cảnh. Kính cửa xe hạ xuống và không khí sa mạc, một bầu không khí dịu ngọt và ấm áp, chính là thứ Lotte cần sau chuyến đi trên máy bay.

Ngay hôm đó bà đến nhà tù và thấy vui khi một bà già nhỏ bé nhận ra bà.

“Bà đã quay lại rồi, quý hóa quá bà ơi,” bà già nói.

“Ồ Monchita, bà khỏe không?” Lotte vừa nói vừa ôm bà kia rõ lâu.

“Tôi còn đi đâu được nữa bà bạn ơi, trụ được ngày nào thì trụ,” bà già trả lời.

“Con thì đằng nào cũng là con,” Lotte nói, rồi họ lại ôm nhau.

Klaus vẫn như mọi khi, lạnh lùng, xa cách, gầy hơn một chút, nhưng vẫn mạnh mẽ như mọi khi, vẫn với cái vẻ bất cần hầu như khó thể nhận ra mà anh đã có từ năm mười bảy. Họ nói về những chuyện linh tinh, về nước Đức (dù Klaus tuồng như hoàn toàn chả quan tâm đến bất cứ thứ gì liên quan tới Đức), về chuyến đi của bà, về tình trạng cửa hàng, và khi luật sư đi ra để nói chuyện với một viên chức trại giam, Lotte kể cho anh nghe về cuốn sách của Archimboldi mà bà đã đọc trong chuyến bay. Ban đầu Klaus có vẻ chẳng quan tâm, nhưng khi Lotte lấy trong túi xách ra cuốn sách và bắt đầu đọc những phần bà gạch dưới, vẻ mặt của Klaus thay đổi.

“Nếu con muốn mẹ sẽ cho con mượn,” Lotte nói.

Klaus gật đầu và toan lấy, nhưng Lotte không buông sách ra.

“Trước tiên để mẹ ghi lại cái này đã,” bà nói, đoạn lấy sổ ra ghi lại địa chỉ liên hệ của nhà xuất bản. Rồi bà đưa cho anh cuốn sách.

Đêm hôm ấy, trong khi đang ở khách sạn vừa uống nước cam ăn bánh quy vừa xem chương trình truyền hình đêm muộn của Mexico, bà gọi một cuộc đường dài cho văn phòng Bubis ở Hamburg. Bà yêu cầu nói chuyện với ông chủ nhà xuất bản.

“À, chắc ý bà là bà Bubis,” thư ký nói, “nhưng bà ấy chưa tới, xin bà gọi lại sau.”

“Thôi được,” Lotte nói, “tôi sẽ gọi lại sau.” Rồi sau một thoáng bà nói thêm: “Cho bà ấy biết rằng Lotte Haas, em gái của Benno von Archimboldi, vừa gọi.”

Đoạn bà gác máy rồi gọi cho quầy lễ tân yêu cầu họ ba giờ nữa đánh thức bà dậy. Để nguyên quần áo, bà đi nằm. Bà nghe thấy tiếng ồn ngoài hành lang. Tivi vẫn bật nhưng tắt tiếng. Bà nằm mơ thấy một nghĩa địa và nấm mộ một người khổng lồ. Bia mộ nứt ra và bàn tay người khổng lồ chòi lên, rồi bàn tay kia, rồi đầu của y, cái đầu có mái tóc dài óng vàng dính bết đất. Bà thức dậy trước khi lễ tân gọi điện. Bà bật tiếng tivi lên rồi vừa đi tới đi lui trong phòng vừa nửa xem nửa không một chương trình về những ca sĩ nghiệp dư.

Khi điện thoại reo bà cảm ơn lễ tân rồi lại gọi đến Hamburg. Cũng cô thư ký nọ trả lời, nói rằng bà chủ nhà xuất bản giờ đang có mặt. Lotte đợi vài giây cho đến khi nghe thấy chất giọng dễ nghe của một phụ nữ mà bà nghĩ xem chừng học vấn rất cao.

“Bà là giám đốc nhà xuất bản phải không?” Lotte hỏi. “Tôi là em gái của Benno von Archimboldi, tức em gái của Hans Reiter, nói rõ là vậy,” bà nói, đoạn bà im lặng vì không biết nói gì thêm.

“Bà có ổn không? Tôi có thể làm gì cho bà không? Thư ký của tôi nói bà đang gọi từ Mexico.”

“Phải, tôi đang gọi từ Mexico,” Lotte nói, gần như muốn khóc.

“Có phải bà sống ở Mexico không? Bà đang gọi từ miền nào của Mexico vậy?”

“Tôi đang sống ở Đức, meine frau* , ở Paderborn, tôi là chủ một gara sửa xe và vài cơ ngơi khác.”

“À, tôi hiểu,” giám đốc nhà xuất bản nói.

Chỉ đến khi đó Lotte mới nhận ra, tại sao thì bà không biết, có lẽ qua cách diễn đạt của bà giám đốc nhà xuất bản hoặc cách bà ta đặt câu hỏi chăng, rằng bà ấy cao tuổi hơn Lotte, nói cách khác là một bà cụ cực già.

Thế rồi cổng đập tràn cũng mở và Lotte nói đã lâu rồi bà không gặp anh trai, rằng con trai bà đang ngồi tù ở Mexico, rằng chồng bà đã mất, rằng bà không bao giờ đi bước nữa, rằng tình cảnh bức thiết và nỗi tuyệt vọng đã khiến bà học tiếng Tây Ban Nha, rằng bà vẫn còn gặp khó khăn với thứ tiếng ấy, rằng mẹ bà đã mất và ông anh bà thậm chí còn không biết chuyện ấy, rằng bà đang định bán cơ sở sửa xe đi, rằng trên máy bay bà đã đọc được một cuốn sách của anh bà viết, rằng bà bị sốc gần chết, rằng trong khi băng qua sa mạc bà không thể nghĩ đến gì khác ngoài anh ấy.

Rồi Lotte xin lỗi và đồng thời nhận ra mình đang khóc.

“Bà định khi nào quay về lại Paderborn?” bà nghe giám đốc nhà xuất bản hỏi.

Rồi thì:

“Cho tôi địa chỉ của bà.”

Rồi thì:

“Xưa kia bà là một đứa trẻ xanh xao tóc vàng hoe, thỉnh thoảng mẹ bà đem bà theo khi đến làm việc ở tòa nhà ấy.”

Lotte nghĩ: bà kia nói về tòa nhà nào vậy? rồi thì: làm sao mình nhớ được chuyện đó chứ? Nhưng rồi bà nghĩ đến tòa nhà duy nhất nơi một số dân làng từng đến làm việc, điền trang ở thôn quê của nam tước Von Zumpe, và bà nhớ lại ngôi nhà cùng với những ngày bà đi cùng với mẹ và giúp bà quét tước, lau chùi, đánh bóng chân đèn cầy, đánh xi sàn nhà. Nhưng bà chưa kịp nói gì thì giám đốc nhà xuất bản đã nói:

“Tôi hy vọng bà sẽ sớm gặp anh bà. Rất vui được nói chuyện với bà. Tạm biệt.”

Đoạn bà ta gác máy. Ở Mexico, Lotte ngồi thêm một hồi lâu, điện thoại áp vào tai. Âm thanh bà nghe thấy, nó giống như âm thanh của vực thẳm. Âm thanh người ta nghe thấy khi lao đầu vào vực thẳm.

Một đêm kia, ba tháng sau khi bà quay về lại Đức, Archimboldi xuất hiện.

Lotte đang mặc đồ ngủ, sắp lên giường, thì chuông cửa reo. Qua intercom bà hỏi ai vậy.

“Anh đây,” Archimboldi nói, “anh của em.”

Đêm đó họ trò chuyện tới tảng sáng. Lotte kể về Klaus và về chuyện giết chóc đàn bà ở Santa Teresa. Bà cũng kể về những giấc mơ của Klaus, những giấc mơ mà trong đó anh thấy một người khổng lồ sẽ cứu anh ra khỏi nhà tù, mặc dù anh giờ trông chẳng giống người khổng lồ nữa rồi, bà nói với Archimboldi như thế.

“Anh chưa bao giờ là người khổng lồ cả,” Archimboldi vừa nói vừa đi tới đi lui trong phòng khách và phòng ăn của Lotte rồi dừng lại cạnh một giá sách trên đó có hơn chục cuốn của ông.

“Em chẳng biết phải làm gì hơn nữa,” Lotte nói sau một hồi lặng dài. “Em không còn sức nữa. Em chẳng hiểu gì hết cả, và chút ít em hiểu được thì làm em khiếp sợ. Chẳng hiểu mô tê gì nữa,” Lotte nói.

“Chỉ là em mệt mỏi thôi,” anh trai bà nói.

“Già cả và mệt mỏi. Em cần có cháu,” Lotte nói. “Nhưng anh còn già hơn em,” Lotte nói. “Anh năm nay bao nhiêu?”

“Trên tám chục,” Archimboldi nói.

“Em sợ bị bệnh lắm,” Lotte nói. “Có đúng là anh có thể thắng giải Nobel không?” Lotte hỏi. “Em sợ Klaus sẽ chết. Nó kiêu hãnh lắm, em chả biết nó giống ai nữa. Werner có như vậy đâu,” Lotte nói. “Anh và bố cũng không. Sao mỗi khi nói về bố anh đều gọi bố là một giò? Sao anh gọi mẹ là một mắt?”

“Vì họ đúng là thế,” Archimboldi nói, “em không nhớ à?”

“Đôi khi đúng là em quên thật,” Lotte nói. “Nhà tù thật kinh tởm, quá kinh tởm,” Lotte nói, “mặc dù sau một thời gian ta cũng quen với nó. Giống như ta tóm bắt cái gì đó vậy,” Lotte nói. “Bà Bubis rất tốt với em, em với bà ấy không nói chuyện nhiều nhưng rất dễ chịu,” Lotte nói. “Em có biết bà ấy không nhỉ? Em đã bao giờ gặp bà ấy chưa?”

“Rồi,” Archimboldi nói, “nhưng hồi đó em còn nhỏ nên không nhớ được đâu.”

Rồi ông chạm đầu ngón tay vào mấy cuốn sách của ông. Có đủ loại ấn bản: bìa cứng có, bìa mềm có, khổ bỏ túi có.

“Có quá nhiều thứ em không còn nhớ nữa,” Lotte nói. “Những điều hay, những điều dở, những điều thậm dở. Nhưng em không bao giờ quên những người tử tế. Mà bà ấy thì thật là tử tế,” Lotte nói, “dẫu con trai em đang rục xương trong một nhà tù Mexico. Ai sẽ chăm nom nó? Ai sẽ nhớ tới nó khi em đã chết?” Lotte hỏi. “Con em không có con cái, không có bạn bè, nó chẳng có ai,” Lotte nói. “Kìa, mặt trời lên rồi. Anh muốn uống trà, cà phê hay một ly nước đây?”

Archimboldi ngồi xuống duỗi chân. Xương kêu răng rắc.

“Anh sẽ chăm lo hết chứ?”

“Bia,” ông nói.

“Em không có bia,” Lotte nói. “Anh sẽ chăm lo hết chứ?”

♣ ♣ ♣

Fürst Pückler.

Nếu bạn muốn một cây kem sôcôla, vani và dâu ngon thật là ngon, bạn có thể đặt mua một Fürst Pückler. Họ sẽ đem tới cho bạn một ly kem ba vị, nhưng không phải vị ngẫu nhiên, mà chỉ có sôcôla, vani với dâu thôi. Đấy là kem Fürst Pückler.

Chia tay em gái, Archimboldi đi đến Hamburg, ông định bắt chuyến bay trực tiếp từ đó sang Mexico. Do sáng hôm sau máy bay mới cất cánh, ông đi dạo một vòng quanh một công viên mà ông không biết, một công viên lớn đầy cây xanh và những con đường nhỏ lát gạch có những người đàn bà tha thẩn dắt con dạo chơi, những thanh niên trượt ván và thi thoảng những sinh viên cưỡi xe đạp, ông ngồi vào một bàn ngoài trời của một quán bar, một sân hiên cách quán khá xa, hầu như ngay giữa rừng, ông đọc thực đơn và gọi một xăng uých, một bia rồi trả tiền, sau đó ông gọi một kem Fürst Pückler và trả tiền bởi nếu ngồi ngoài này gọi món xong là phải trả tiền luôn.

Ở đó còn nhõn một người nữa ngồi cách đấy ba bàn (những cái bàn bằng sắt rèn, nặng nề, thanh nhã, chắc khó mà trộm được), một ông lịch lãm trọng tuổi, tuy không già như Archimboldi, đang vừa nhấp cappuccino vừa đọc tạp chí. Archimboldi sắp ăn xong kem thì ông kia liền hỏi ông có thích món kem không.

“Tôi thích,” Archimboldi nói, rồi ông mỉm cười.

Bị lôi cuốn hoặc được khích lệ bởi nụ cười thân thiện này, ông kia đứng dậy khỏi ghế tiến lại ngồi cách một bàn.

“Cho phép tôi tự giới thiệu,” ông ta nói. “Tên tôi là Alexander Fürst Pückler. Người, nói sao nhỉ, người đã sáng tạo ra món kem này,” ông ta nói, “là một vị tổ tiên của tôi, một Fürst Pückler rất chi kiệt xuất, một nhà du hành vĩ đại, một người thông kim bác cổ, chủ yếu quan tâm đến khoa thực vật và nghề làm vườn. Dĩ nhiên, ông ấy nghĩ, nếu như ông ấy có lúc nào nghĩ đến chuyện ấy, rằng ông sẽ được người đời nhớ tới bởi một vài trong số nhiều công trình nhỏ ông viết và xuất bản, hầu hết là du ký, tuy không nhất thiết là du ký theo nghĩa hiện đại, mà là những cuốn sách nhỏ vẫn còn đầy sức hút đến tận ngày nay và, nói sao nhỉ, nhạy cảm cao độ, nhạy cảm hết mức có thể, những cuốn sách nhỏ khiến người đọc có cảm tưởng như mục đích tối hậu của mỗi chuyến đi của ông là để khảo sát một khu vườn cụ thể, những khu vườn mà đôi khi bị lãng quên, bị bỏ bê, bị để mặc cho số phận, những khu vườn mà vẻ đẹp của chúng vị tổ tiên ưu tú của tôi biết cách tìm ra được giữa ngàn cỏ dại hoang tàn. Những cuốn sách nhỏ của ông, mặc cho những, nói sao nhỉ, những cái bẫy thực vật học của chúng, có đầy những quan sát thông minh và từ những quan sát đó người ta có được một ý niệm khá đầy đủ về châu Âu vào thời ông, một châu Âu thường trong cơn tao loạn, thường xuyên dậy bão, những cơn bão mà đôi khi lan tới bến bờ tòa lâu đài của gia đình vốn tọa lạc gần Gorlitz, điều này chắc ngài đã biết. Dĩ nhiên, vị tổ tiên tôi chẳng phải là vô tâm trước những cơn bão đó, cũng như ông chẳng phải là vô tâm trước những trầm luân của, nói sao nhỉ, của thân phận con người. Thế là ông viết và cho xuất bản, và theo cách của mình, khiêm nhường song bằng tiếng Đức ưu nhã, ông lên tiếng chống bất công. Tôi nghĩ ông chẳng mấy quan tâm tới chuyện biết linh hồn đi đâu khi thể xác chết đi, cho dù ông viết cả về chuyện ấy nữa. Ông quan tâm tới phẩm cách và ông quan tâm tới cỏ cây. Về hạnh phúc thì ông không nói một lời, tôi cho là bởi ông coi hạnh phúc là một thứ tuyệt đối riêng tư và, nói sao nhỉ, một thứ trơn chuội khó nắm hoặc phản phúc. Ông có khiếu hài hước tuyệt diệu, tuy rằng vài đoạn trong sách của ông nói ngược lại điều tôi vừa nói. Và bởi ông không phải một vị thánh hay thậm chí chẳng phải một người dũng cảm, ắt là ông có nghĩ về hậu thế. Tượng bán thân, tượng cưỡi ngựa, những tờ giấy khổ to mãi mãi được bảo quản trong viện bảo tàng. Điều ông chẳng bao giờ hình dung được là người đời sẽ nhớ tới ông vì tên ông được đặt cho một sự kết hợp ba vị kem. Điều đó tôi có thể đoan chắc với ngài. Ngài thì nghĩ sao?”

“Tôi chẳng biết phải nghĩ sao,” Archimboldi nói.

“Nay chẳng ai còn nhớ nhà thực vật Fürst Pückler nữa, chẳng ai còn nhớ nhà làm vườn mẫu mực, chẳng ai còn đọc nhà văn này nữa. Nhưng bất kỳ ai cũng từng có lúc nếm một Fürst Pückler, món ngon nhất và sảng khoái nhất vào mùa xuân và mùa thu.”

“Sao không phải vào mùa hè?” Archimboldi hỏi.

“Bởi vào mùa hè ăn kem dễ ngấy. Mùa hè thì nước đá là nhất chứ không phải kem.”

Bất thần đèn trong công viên bật sáng, dù có một giây tuyệt tối đen, tuồng như ai đó vừa ném một tấm chăn đen lên nhiều khu vực của Hamburg.

Ông kia thở dài, ông ắt chừng bảy chục tuổi, rồi ông nói:

“Một di sản thật là bí ẩn, ngài có nghĩ vậy không?”

“Ông có lý, tôi nghĩ vậy,” Archimboldi vừa nói vừa đứng dậy chia tay hậu duệ của Fürst Pückler.

Chẳng mấy chốc sau ông rời công viên và sáng hôm sau ông lên đường sang Mexico.

Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Nguồn: TVE-4U - VCTVEGROUP
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 1 năm 2024

« Lùi
Tiến »