2666

Lượt đọc: 821 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN NĂM (B)
phần về archimboldi

Vào đầu mùa hè 1942, có ai đó nhớ ra những người lính ở Kostekino thế là Reiter được đưa trở lại sư đoàn. Anh đến Crimea. Anh đến Kerch. Anh có mặt ở bờ sông Kuban và có mặt trên đường phố Krasnodar. Anh băng qua Kavkaz đến Budennovsk và anh cùng tiểu đoàn mình băng qua thảo nguyên Kalmuk, luôn luôn mang cuốn sổ của Ansky dưới áo khoác, giữa bộ đồ thùng thình của người điên và bộ quân phục. Anh nuốt bụi và không thấy quân thù đâu, nhưng anh thấy Wilke, thấy Kruse và trung sĩ Lemke, nhưng không dễ gì nhận ra họ vì họ đã thay đổi, không chỉ về ngoại hình mà cả về giọng nói, chẳng hạn như Wilke bây giờ chỉ nói tiếng địa phương và gần như chẳng ai hiểu anh ta ngoại trừ Reiter, còn Kruse thì giọng nói đã thay đổi, anh ta nói năng cứ như thể cặp tinh hoàn đã bị ai xẻo từ lâu, còn trung sĩ Lemke thì không còn thét lác nữa, chỉ họa hoằn đôi lúc thôi, phần lớn là anh ta nói với người của mình bằng một kiểu thầm thì, tuồng như anh ta đang mệt hoặc bị ru ngủ bởi những quãng đường dài họ phải đi qua. Trung sĩ Lemke bị trọng thương khi họ cố gắng mở đường đến Tuapse mà không được và anh được trung sĩ Bublitz thay thế. Rồi mùa thu đến, cùng với bùn, cùng với gió, và vào cuối thu người Nga phản công.

Sư đoàn của Reiter, giờ là một phần của Tập đoàn quân số 17 chứ không phải số 11, rút lui từ Elista về Proletarskaya rồi lần theo sông Manych về đến Rostov. Sau đó sư đoàn tiếp tục rút lui về phía Tây, đến sông Mius, ở đấy một phòng tuyến mới được thiết lập. Mùa hè 1943 đến, người Nga lại tấn công và sư đoàn của Reiter lại rút lui. Cứ mỗi lần rút lui lại có ít người sống sót hơn. Kruse chết. Trung sĩ Bublitz chết. Voss, vốn dĩ can trường, đầu tiên được cất nhắc lên trung sĩ sau đó lên trung úy, và dưới tay Voss số thương vong tăng gấp đôi sau chưa đầy một tuần.

Reiter đâm ra có thói quen kiểm tra những người chết giống như người ta kiểm tra một lô hàng bày bán tại một nông trại hay một ngôi nhà ở thôn quê, rồi sau đó lục lọi túi quần túi áo của người chết xem có gì ăn được không. Wilke cũng làm vậy, song thay vì lẳng lặng làm thì anh ta hát một mình: Lính Phổ có thể tự thủ dâm nhưng không tự sát. Một số chiến hữu cùng tiểu đoàn gọi họ là ma cà rồng. Reiter chả bận tâm. Trong những lúc giải lao anh lôi một mẩu bánh mì cùng cuốn sổ của Ansky từ trong áo khoác ra đọc. Đôi khi Wilke ngồi xuống cạnh anh và ngủ thiếp đi ngay. Có lần anh ta hỏi có phải cuốn sổ ấy do anh ghi không. Reiter nhìn anh ta tuồng như câu hỏi ấy ngu đến nỗi không đáng trả lời. Wilke lại hỏi có phải anh ghi cuốn sổ ấy không. Reiter cảm thấy tuồng như Wilke đang ngủ và nói mớ. Mắt anh ta nửa mở nửa nhắm, râu ria không cạo và xương má cùng hàm anh ta như muốn bật ra khỏi mặt.

“Là một anh bạn ghi,” anh nói.

“Một anh bạn đã chết à,” Wilke nói trong giấc ngủ.

“Ít nhiều là thế,” Reiter nói, và đọc tiếp.

Reiter thích ngủ thiếp đi trong khi nghe tiếng pháo. Wilke cũng không chịu nổi im lặng kéo dài quá độ cho nên trước khi nhắm mắt anh ta luôn hát một mình. Nhưng trung úy Voss thì ngược lại, luôn luôn nút tai khi ngủ và phải khó khăn lắm mới dậy được để rồi thích nghi trở lại với sự tỉnh thức và với chiến tranh. Đôi khi người ta phải lay anh ta dậy và chừng đó anh ta hỏi có chuyện thổ tả nào xảy ra vậy rồi thì đấm loạn xạ vào bóng tối. Nhưng anh ta giành được mề đay và có lần Reiter cùng Wilke hộ tống anh ta đến ban tham mưu sư đoàn nơi tướng Von Berenberg đeo lên ngực anh ta tấm mề đay cao quý nhất mà một người lính của Wehrmacht có thể nhận được. Ấy là một ngày hạnh phúc cho Voss nhưng với sư đoàn 79 thì không, bấy giờ quân số của sư đoàn thậm chí còn ít hơn cả một trung đoàn, bởi vì chiều hôm đó, trong khi Reiter và Wilke đang ăn xúc xích bên một chiếc cam nhông, quân Nga tấn công cứ điểm của họ, thế là Voss cùng với hai người phải lập tức quay lại tiền tuyến. Cuộc kháng cự diễn ra chóng vánh và họ lại rút lui. Trong quá trình rút lui sư đoàn rút lại chỉ còn bằng cỡ một tiểu đoàn và nhiều binh lính trông giống như người điên thoát khỏi nhà thương điên.

Suốt mấy ngày họ đi về phía Tây được chừng nào hay chừng đó, bám theo đại đội của mình hoặc theo từng nhóm hết hợp lại tan.

Reiter đi một mình. Thỉnh thoảng anh thấy những đội hình máy bay Xô viết bay qua trên đầu và thỉnh thoảng bầu trời, mới phút trước hãy còn xanh lóa mắt, chợt vần vũ mây đen và bỗng dưng ập xuống một cơn bão kéo dài mấy giờ liền. Từ trên một ngọn đồi anh thấy một dòng xe tăng Đức đi về phía Tây. Giống những cỗ quan tài của một nền văn minh ngoài trái đất.

Anh đi về đêm. Ban ngày anh cố hết sức tìm chỗ trú thân và tiêu thời gian vào việc đọc cuốn sổ của Ansky cùng với ngủ và nhìn các thứ mọc lên hoặc cháy trụi quanh mình. Đôi khi anh nhớ đến những cánh rừng rong ở biển Baltic mà mỉm cười. Đôi khi anh nghĩ đến cô em gái và cũng mỉm cười. Đã lâu anh không có tin tức gì của gia đình. Cha anh chẳng bao giờ viết thư cho anh và Reiter ngờ rằng đó là bởi ông chẳng biết viết sao cho hay. Mẹ anh thì có viết. Bà nói gì trong thư nhỉ? Reiter không nhớ được; thư bà không dài lắm nhưng anh đã quên khuấy cả, anh chỉ nhớ được nét chữ của bà, to cộ, run rẩy, những lỗi ngữ pháp của bà, sự trần trụi của bà. Các bà mẹ lẽ ra không bao giờ nên viết thư, anh nghĩ. Thư của em gái thì ngược lại, anh nhớ như in và điều này khiến anh mỉm cười, lúc đang nằm sấp, ẩn mình trong cỏ, khi giấc ngủ chiếm lấy anh. Đấy là những bức thư trong đó em gái anh kể cho anh nghe những chuyện trong làng, chuyện trường học, chuyện áo quần cô mặc, chuyện về anh.

Anh là người khổng lồ, Lotte bé bỏng nói. Ban đầu Reiter hoang mang trước lời khẳng định này. Nhưng sau đó anh nghĩ rằng với một cô bé, một cô bé con hiền dịu và nhạy cảm đến như Lotte thì một người tầm vóc như anh là thứ tương cận nhất với người khổng lồ mà cô từng thấy. Bước đi của anh vang vọng trong rừng, Lotte nói trong thư. Chim trong rừng nghe tiếng chân anh liền thôi hót. Người làm lụng giữa đồng nghe thấy anh. Người ẩn náu trong phòng tối nghe thấy anh. Đám choai choai thuộc Đoàn Thanh niên Hitler nghe thấy anh liền bước ra đợi anh trên lối từ làng ra thị trấn. Mọi thứ đều vui. Anh còn sống. Nước Đức còn sống. Vân vân.

Một hôm, chẳng biết làm thế nào mà Reiter về lại được Kostekino. Chẳng còn lại người Đức nào trong làng nữa. Nông trang tập thể vắng tanh vắng ngắt, chỉ có cái đầu của vài ba người già run lẩy bẩy thiếu ăn từ trong vài căn nhà gỗ thò ra báo cho anh biết, bằng cách ra hiệu, rằng người Đức đã sơ tán tất cả các kỹ thuật viên và thanh niên người Ukraina làm việc trong làng. Đêm đó Reiter ngủ trong căn nhà của Ansky và cảm thấy dễ chịu hơn cả ở chính nhà mình. Anh nhóm lửa trong lò rồi để nguyên quần áo nằm xuống giường. Nhưng anh không ngủ ngay được. Anh bắt đầu nghĩ về những giả hình mà Ansky nói tới trong cuốn sổ ghi, và bắt đầu nghĩ về bản thân mình. Anh cảm thấy mình tự do hơn bao giờ hết trong đời, và cho dù đói khát và yếu ớt, anh còn cảm thấy mình có sức mạnh ngõ hầu kéo dài cái xung lực hướng về tự do, hướng về tự chủ này, kéo dài được chừng nào hay chừng nấy. Tuy nhiên, cái khả năng rằng tất cả mọi thứ này đều là giả hình khiến anh bứt rứt không yên. Giả hình là một lực chiếm ngự của thực tại, anh tự nói với mình, kể cả thực tại cùng cực nhất, xa xôi nhất. Nó sống trong linh hồn và trong hành động của con người, trong ý chí và trong đau đớn, trong cung cách người ta sắp xếp trật tự cho các ký ức và các ưu tiên. Giả hình nhân bội lên trong phòng khách của các nhà công nghiệp và trong giới vô lại. Nó định ra quy tắc, nó nổi dậy chống lại quy tắc của chính mình (trong những cuộc khởi loạn có thể đẫm máu, song chẳng phải vì vậy mà nó thôi là giả hình), nó định ra quy tắc mới.

Chủ nghĩa Quốc xã là địa hạt tối hậu của giả hình. Tình yêu, theo nguyên tắc phổ quát, cũng là một giả hình, anh nghĩ. Tình yêu của mình dành cho Lotte không phải giả hình. Lotte là em mình, nó còn nhỏ và nó nghĩ mình là người khổng lồ. Nhưng tình yêu, cái tình yêu thường tình, tình yêu giữa đàn ông với đàn bà, với những bữa sáng bữa chiều, với ghen tuông với tiền bạc với nỗi buồn, thì chỉ là diễn kịch, tức là giả hình. Tuổi trẻ là giả hình của sức mạnh, tình yêu là giả hình của bình an. Cả tuổi trẻ cả sức mạnh cả tình yêu cả bình an, mình không thể được ban cho một thứ nào trong đó, anh thở dài tự nhủ, mà mình cũng không thể nhận một món quà như vậy. Duy chỉ những bôn ba của Ansky là không phải giả hình, duy chỉ tuổi mười bốn của Ansky là không phải giả hình. Ansky sống suốt đời mình trong một sự non nớt điên cuồng bởi vì cách mạng, cuộc cách mạng đích thực duy nhất, cũng là non nớt. Đoạn anh ngủ thiếp đi không mộng mị và sáng hôm sau anh đi vào rừng tìm củi và khi quay về làng, bởi tò mò, anh vào trong tòa nhà nơi người Đức đã sống suốt mùa hè năm 42 và thấy nó bị bỏ không, tàn tạ, không bếp lò không túi thóc, không chăn, không lửa trong lò, khung cửa sổ gãy nát và cánh cửa gần long, sàn nhà bẩn thỉu đầy những vệt bùn vệt cứt mà nếu chẳng may giẫm lên là dính cứng vào đế giày. Trên một bức tường có chú lính nào đó dùng than viết dòng Heil Hitler, trên một bức tường khác thì có thứ gì đó kiểu như một bức thư tình. Ở tầng trên, ai đó đã tiêu khiển bằng cách vẽ lên tất tật các bức tường, lên cả trần nhà! những cảnh sinh hoạt thường ngày của những người Đức từng sống ở Kostekino. Đây trong một góc là bức phác họa khu rừng và năm người Đức, có thể nhận ra qua những chiếc mũ, đang nhặt củi hoặc săn chim. Ở một góc khác hai người Đức đang làm tình trong khi một người Đức thứ ba, cả hai tay băng bó, đứng nhìn sau một gốc cây. Ở một góc khác những người Đức nằm ngủ sau khi ăn tối và cạnh họ ta có thể nhận ra xương của một con chó. Nơi góc cuối cùng là chính Reiter, với bộ râu cằm dài vàng óng, đang từ trong cửa sổ nhà Ansky nhìn ra đoàn diễu hành đi ngang gồm một voi, một hươu cao cổ, một tê giác và một vịt. Ở chính giữa bức bích họa này, nếu có thể gọi như vậy, là một quảng trường lát đá, một quảng trường tưởng tượng chưa từng tồn tại ở Kostekino, với đầy những đàn bà hoặc những bóng ma đàn bà tóc dựng đứng, đang vừa chạy từ bên này đến bên kia vừa rền rĩ trong khi hai lính Đức trông coi một toán thợ trẻ người Ukraina đang dựng một tượng đài bằng đá mà hình thù chưa thể nhận ra.

Các bức vẽ đều thô tháp và trông như tranh con nít còn phối cảnh thì như kiểu tiền Phục hưng, song bố cục lại toát lên một sự mỉa mai và bởi vậy bộc lộ một tài nghệ bậc thầy ẩn kín vĩ đại hơn nhiều so với ấn tượng lúc thoạt nhìn. Khi quay lại căn nhà gỗ Reiter nghĩ người vẽ các tranh ấy có tài, nhưng đã hóa điên như tất thảy những người Đức khác đã sống qua mùa đông năm 42 ở Kostekino. Anh cũng nghiền ngẫm về sự xuất hiện lạ lùng của chính mình trên bức tranh tường. Người vẽ rõ ràng đã tin rằng chính anh đã hóa điên, anh kết luận như vậy. Hình ảnh con vịt, kẻ khóa đuôi đoàn diễu hành do voi dẫn đầu, gợi cho anh nghĩ vậy. Anh nhớ rằng dạo ấy anh còn chưa nói lại được. Anh cũng nhớ rằng dạo đó anh không ngừng đọc lui đọc tới cuốn sổ của Ansky, thuộc nằm lòng từng câu từng chữ, và cảm thấy cái gì đó rất lạ đôi khi giống như hạnh phúc còn những lúc khác thì giống một tội lỗi cao rộng như bầu trời. Và anh chấp nhận cái tội lỗi ấy cùng hạnh phúc ấy và đôi khi giữa đêm anh đem cái nọ bù trừ cho cái kia và kết quả sau cùng của bài tính không tiền khoáng hậu này là hạnh phúc, song là một hạnh phúc thuộc loại khác, một hạnh phúc xé lòng mà đối với Reiter không phải là hạnh phúc, chỉ là Reiter thôi.

Một đêm nọ, ba ngày sau khi quay lại Kostekino, anh mơ thấy người Nga đã chiếm được làng và để chạy trốn họ anh phải lao xuống suối, dòng Suối Ngọt, bơi theo dòng Suối Ngọt đến tận sông Dnieper, nhưng cả sông Dnieper cũng nghìn nghịt quân Nga, cả bờ bên trái lẫn bờ bên phải, cả bọn bên này lẫn bọn bên kia trông thấy anh xuất hiện giữa dòng thì liền cười ha hả và bắn anh, và anh mơ thấy rằng để tránh đạn anh phải hụp sâu xuống dưới nước và để dòng nước cuốn mình đi, chỉ trồi lên mặt nước để hớp chút hơi rồi lại hụp xuống dưới, cứ vậy anh trôi xuôi dòng hết cây số này tới cây số nọ, đôi khi nín thở được hai phút ba phút hay bốn phút, kỷ lục thế giới, cho đến khi dòng sông đã đưa anh đi xa khỏi bọn người Nga, nhưng kể cả khi đó Reiter vẫn không thôi lặn dưới nước, trồi lên thở rồi lại lặn, và lòng sông nhìn cứ như một lối đi toàn sỏi, chốc chốc anh thấy những đàn cá nhỏ màu trắng và chốc chốc anh va vào một cái xác đã bị rỉa sạch thịt chỉ còn trơ xương, và những bộ xương điểm xuyết cho dòng sông này có thể là Đức có thể là Xô viết, điều ấy không thể biết được, bởi quần áo họ mặc đã mục rữa hết và dòng sông đã lôi họ xuôi dòng, và trong mơ dòng sông cũng lôi anh xuôi dòng, và thi thoảng, nhất là về đêm, anh trồi lên trên mặt nước tựa như chết trôi, để nghỉ hoặc để ngủ trong năm phút trong khi dòng sông ôm anh trong dạ mải mốt đưa anh về phương Nam, và khi mặt trời lên Reiter lại hụp xuống và lặn xuống, quay trở về lòng sông sền sệt của dòng Dnieper, cứ thế ngày lại ngày cứ trôi qua, đôi khi anh trôi qua một thành phố và thấy những ánh đèn của nó, hoặc nếu không có ánh đèn thì anh nghe một âm thanh mơ hồ, giống như tiếng cọt kẹt lách cách của đồ đạc gỗ, làm như có những người bệnh đang xê dịch bàn tủ giường ghế, rồi thỉnh thoảng anh trôi qua những cầu phao quân sự và anh thấy những cái bóng đông cứng của binh lính giữa bóng đêm, những cái bóng hắt lên trên mặt sóng dập dềnh, và một sáng nọ, cuối cùng dòng Dnieper cũng đổ vào Biển Đen, nơi nó thôi không tồn tại nữa hoặc được chuyển hóa, và Reiter lại gần bờ sông hay bờ biển bằng những bước run run, tuồng như anh là một cậu học trò, cậu học trò mà anh chưa bao giờ có dịp trở thành, quỵ xuống trên mặt cát sau khi bơi đến kiệt cùng sức lực, lóa mắt trước mặt trời thiên đỉnh của một kỳ nghỉ hè, chỉ để rồi phát hiện ra với nỗi kinh hoàng, trong khi ngồi đó trên bãi biển mà ngắm cái mênh mông của Biển Đen, rằng cuốn sổ của Ansky, cuốn sổ mà anh mang trong áo khoác, đã biến thành một cục bột giấy, mực đã nhòe đi vĩnh viễn, nửa cuốn sổ dính bết vào quần áo anh hoặc vào da anh còn nửa kia biến thành những phân tử trôi xa dưới những làn sóng biển hiền hòa.

Ngay lúc ấy Reiter sực tỉnh và quyết định rằng mình phải rời khỏi Kostekino càng nhanh càng tốt. Anh lặng lẽ mặc quần áo và gói ghém mấy món tư trang ít ỏi. Anh không thắp đèn cũng không khêu lửa. Anh nghĩ ngợi xem ngày hôm đó mình sẽ phải đi bao xa. Trước khi rời căn nhà gỗ anh thận trọng cất lại cuốn sổ của Ansky vào chỗ nấp phía sau lò sưởi. Hãy để một người khác tìm ra nó, anh nghĩ. Đoạn anh mở cửa, khép lại thật cẩn thận và sải bước rời làng.

♣ ♣ ♣

Mấy ngày sau anh gặp một nhánh của sư đoàn mình và lại quay về với cái đơn điệu của cầm cự một chút rồi rút lui, cho đến khi họ bị quân Xô viết hủy diệt ở Bug, phía Tây Pervomaysk, và tàn quân của sư đoàn 79 được sáp nhập vào đại đoàn số 303. Vào năm 1944, trong khi họ tiến đến Jassy với một lữ đoàn cơ giới Nga bám theo sát gót, Reiter và các lính khác thuộc tiểu đoàn anh thấy một đám bụi màu xanh biếc dựng lên đến tận bầu trời giữa ngọ. Sau đó họ nghe những tiếng hét những tiếng hát rất khẽ khàng và lát sau Reiter thấy qua ống nhòm một nhóm lính Rumani đang hộc tốc chạy qua một cánh đồng, cứ như họ đang bị quỷ ám hoặc khiếp đảm, rồi rẽ sang một đường đất chạy song song với con đường mà sư đoàn của anh đang rút.

Họ chẳng có nhiều thì giờ, bởi người Nga có thể đến bất cứ lúc nào, song Reiter cùng vài chiến hữu của anh vẫn quyết định đi xem chuyện gì đang xảy ra. Họ rời ngọn đồi đang dùng làm cứ điểm quan sát và ngồi trên một chiếc xe bọc thép có trang bị súng máy băng qua vạt đất lắm bụi cây ngăn giữa hai con đường. Họ thấy một thứ kiểu như lâu đài của Rumani, vắng ngắt, cửa sổ thảy đều đóng, với một khoảnh sân lát đá trải dài đến chỗ dãy chuồng. Sau đó họ ra đến một bãi đất trống nơi vẫn còn lác đác vài lính Rumani đang chơi xúc xắc hoặc đang khuân những bức tranh và bàn ghế giường tủ từ trong lâu đài ra chất lên mấy cỗ xe bò rồi sau đó tự mình kéo xe đi. Cuối bãi đất trống, cắm sâu xuống đất vàng khè, là một cây thánh giá to đùng làm bằng những phiến gỗ to đánh véc ni sắc thẫm hẳn là bị rứt ra từ trong đại sảnh của lâu đài. Trên cây thánh giá có một người đàn ông trần truồng. Những lính Rumani biết chút tiếng Đức hỏi họ làm gì ở đó. Toán lính Đức trả lời là họ đang chạy quân Nga. Bọn Nga sắp tới rồi, mấy người Rumani nói.

“Vậy là nghĩa làm sao?” một người Đức hỏi, tay ra hiệu về phía người bị đóng đinh trên thập giá.

“Tướng của binh đoàn tụi tao,” đám Rumani vừa tất bật chất đồ thuổng được lên xe vừa nói.

“Tụi mày đào ngũ à?” một trong mấy người Đức hỏi.

“Đúng vậy,” một người Rumani nói, “đêm qua Đại đoàn quân thứ ba quyết định rã hàng.”

Mấy người Đức nhìn nhau, như thể không biết nên bắn nhóm Rumani kia hay nên rã hàng cùng họ.

“Giờ tụi mày đi đâu?” họ hỏi bọn kia.

“Về phía Tây, về nhà tụi tao,” một trong mấy người Rumani nói.

“Tụi bây nghĩ kỹ chưa?”

“Ai cản đường là tụi tao bắn sạch,” mấy người Rumani nói.

Như để khẳng định, hầu hết bọn họ cầm súng lên, vài người thậm chí chẳng nể nang gì nhắm thẳng vào nhóm lính Đức. Trong thoáng chốc có vẻ như hai nhóm sắp bắn nhau tới nơi. Ngay lúc đó Reiter xuống xe, và, chẳng ngó ngàng gì đến tình hình căng thẳng giữa nhóm Rumani và nhóm Đức, anh đi thẳng về phía cây thập giá và người bị đóng đinh trên đó. Người đàn ông đó có vết máu khô trên mặt, hình như đêm trước y bị người ta dùng báng súng nện vào mũi, mắt y bầm đen và môi y sưng vêu song Reiter vẫn nhận ra y tức khắc. Đó là tướng Entrescu, người đã làm tình với nữ nam tước Von Zumpe trong tòa lâu đài trên dãy Karpat và anh cùng với Wilke đã nhìn trộm từ chỗ lối đi bí mật. Quần áo ông bị người ta xé phăng hết cả, có lẽ là giữa lúc ông đang còn sống, khiến ông trần truồng tô hô ngoại trừ đôi bốt đi ngựa. Dương vật của Entrescu, một cái củ đầy kiêu hãnh mà theo anh và Wilke tính toán hồi đó là khi cương lên dài ba chục phân, giờ ẽo ợt lắc lư trong gió nhẹ hoàng hôn. Dưới chân thập giá là một hộp đựng chỗ pháo mà tướng Entrescu hay dùng để mua vui cho khách. Thuốc pháo chắc bị ướt hoặc là pháo chắc cũ quá bởi khi pháo nổ thì thứ duy nhất chúng sinh ra là một cụm khói xanh bốc ngay lên trời rồi biến mất. Một trong các lính Đức, sau lưng Reiter, đưa ra một nhận xét về dương cụ của tướng Entrescu. Vài người Rumani cười rộ và rồi tất cả bọn họ, người nhanh người chậm, liền tiến về phía cây thập giá tuồng như đột nhiên nó vừa lấy lại được sức hút xưa của mình.

Các khẩu súng không còn chĩa vào ai nữa. Những người lính cầm súng giống như cầm nông cụ, tuồng như họ là những nông phu mỏi mệt bước dọc bờ vực thẳm. Họ biết quân Nga đang ở gần kề và họ sợ quân Nga, song không ai cưỡng nổi ý muốn bước lại gần thập giá của tướng Entrescu lần cuối.

“Hắn ta là loại người nào?” một người Đức hỏi, biết rằng câu trả lời có là gì thì cũng vậy thôi.

“Không phải người xấu,” một người Rumani nói.

Thế rồi tất cả đắm mình trầm ngâm suy nghĩ, vài người cúi đầu còn những người khác thì nhìn viên tướng bằng đôi mắt của kẻ bị thôi miên. Chẳng ai nghĩ đến chuyện hỏi xem người ta đã giết ông ra sao. Có lẽ họ đã nện ông một trận, vật ông xuống đất rồi tiếp tục đánh ông. Thân thập giá thẫm lại vì máu và vết thẫm, đen sì như nhện, kéo dài xuống tận đất vàng khè. Chẳng ai nghĩ đến chuyện dỡ ông xuống khỏi thập giá.

“Phải còn lâu nữa mới mong gặp lại một mẫu vật như gã này,” một người Đức nói.

Những người Rumani không hiểu anh ta. Reiter xem xét khuôn mặt của Entrescu: mắt ông nhắm song lại khiến người ta ngỡ chúng đang mở thao láo. Hai bàn tay ông bị neo chặt vào gỗ bằng những cây đinh tướng màu bạc. Mỗi bàn tay ba cây đinh. Hai bàn chân ông bị những cây đinh thợ rèn dày cộ xuyên thủng qua. Bên tay trái Reiter, một tay Rumani trẻ măng, chưa quá mười lăm tuổi, mặc quân phục rộng thùng thình, làm dấu thánh giá. Reiter hỏi liệu có còn ai khác trong lâu đài không. Toán Rumani đáp chỉ có họ thôi, quân đoàn 3 hay là tàn dư còn lại của quân đoàn 3 đã đến ga Litacz từ ba hôm trước và viên tướng, thay vì tìm một chỗ an toàn hơn ở phía Tây, lại quyết định ghé thăm lâu đài của mình, và đến nơi mới thấy nó vắng tanh vắng ngắt. Chả có gia nhân nào cũng chẳng có con thú nào để giết mà ăn. Suốt hai ngày liền viên tướng giam mình trong phòng, không bước ra ngoài. Lính tráng lang thang tha thẩn khắp ngôi nhà cho đến khi tìm được hầm rượu liền phá tung cửa. Mặc cho một số sĩ quan ngần ngừ bất quyết, cả bọn liền bắt đầu nhậu say túy lúy. Đêm đó một nửa quân đoàn 3 đào ngũ. Những người còn ở lại là do tự nguyện chứ không phải bởi bị ai ép buộc, họ ở lại vì họ yêu mến tướng Entrescu. Hoặc vì cái gì đó tương tự. Vài người đi cướp bóc ở mấy làng lân cận và không trở về. Một số người đứng ngoài sân lớn tiếng gọi viên tướng, bảo ông hãy trở lại nắm quyền chỉ huy và quyết phải làm gì. Nhưng viên tướng vẫn giam mình trong phòng, không chịu mở cửa cho ai cả. Một đêm say nọ lính tráng phá cửa vào. Tướng Entrescu ngồi trên ghế, xung quanh là bao nhiêu nến to nến nhỏ, đang xem một tập album. Thế rồi chuyện gì xảy ra đã xảy ra. Ban đầu Entrescu tự vệ, lấy roi ngựa quất họ. Nhưng lính tráng đều đã phát điên vì đói và vì sợ nên họ giết ông ta rồi đóng đinh lên thập giá.

“Làm cái thập giá to cỡ này chắc vất vả lắm,” Reiter nói.

“Tụi tao làm cái này trước khi giết viên tướng,” một tay Rumani nói. “Tao chả biết tụi tao làm nó ra làm gì nữa, nhưng tụi tao làm nó thậm chí từ trước khi tụi tao say cơ.”

Đoạn mấy người Rumani lại quay sang chất đồ xoáy được lên xe và một số người Đức liền giúp họ còn những lính Đức khác thì quyết định đi một vòng quanh nhà để xem trong tầng hầm có còn tí rượu nào không, thế là dáng người trên thập giá một lần nữa bị bỏ lại bơ vơ. Trước khi rời khỏi đó, Reiter hỏi xem hội kia có biết một người tên Popescu không, anh này độ trước luôn luôn đi cùng viên tướng, kiểu như làm thư ký cho ông ta hay sao đó.

“À, đại úy Popescu,” một tay Rumani gật đầu nói, với cái giọng như thể anh ta đang nói về đại úy Thú mỏ vịt. “Giờ chắc thằng cha đã ở Bucarest rồi.”

Trong khi họ tiến về phía vạt đất đầy cây bụi, tung lên một quầng mây bụi dọc con đường, Reiter nghĩ hình như mình thấy vài con chim đen bay trên khoảnh đất phẳng nơi tướng Entrescu đã đứng chiêm quan diễn tiến của cuộc chiến tranh. Một trong các lính Đức, ngồi cạnh súng máy, vừa nói vừa cười rộ, rằng không biết khi thấy cái gã trên thập giá kia thì tụi Nga sẽ nghĩ gì. Chẳng ai trả lời.

♣ ♣ ♣

Thua hết trận này đến trận khác, cuối cùng Reiter cũng về được Đức. Vào tháng Năm 1945, ở tuổi hai mươi lăm, sau khi ẩn náu trong một khu rừng suốt hai tháng trời, anh nộp mình cho một nhóm lính Mỹ và bị giam trong một trại tù binh ở ngoại vi Ansbach. Ở đấy lần đầu tiên sau nhiều ngày anh mới được tắm vòi sen và đồ ăn khá ngon. Phân nửa số tù nhân ngủ trong những doanh trại do lính Mỹ da đen xây lên còn phân nửa kia thì ngủ trong mấy lều bạt lớn. Ngày ngày có những người đến thăm trại và kiểm tra giấy tờ của tù binh, theo đúng thứ tự bảng chữ cái. Đầu tiên họ kê một cái bàn ở ngoài trời và tù binh xếp hàng một lần lượt đi qua bàn trả lời các câu hỏi. Sau đó thì các lính da đen, được một số người Đức giúp sức, lắp đặt một doanh trại đặc biệt, có ba phòng, và các tù binh xếp thành hàng trước doanh trại này. Reiter chẳng quen biết ai trong trại. Các chiến hữu của anh ở sư đoàn 79 rồi thì sư đoàn 303 thảy đều đã chết hoặc bị người Nga bắt làm tù binh hoặc đã đào ngũ giống như anh. Tàn quân còn lại của sư đoàn đang trên đường tiến đến Pilsen, và ở Protectorate, Reiter đã bỏ đi một mình một đường giữa cơn hỗn loạn. Ở trại tù binh Reiter cố không làm thân với một ai. Tối tối có vài lính Đức hát. Đứng trên vọng canh, các lính da đen nhìn cảnh đó mà cười ha hả, song có lẽ vì không ai hiểu lời bài hát nên họ cứ để tù binh hát cho đến giờ đi ngủ. Những người khác lững thững tản bộ từ đầu này trại đến đầu kia trại, tay trong tay, trò chuyện về những chủ đề kỳ quặc nhất. Người ta đồn chẳng mấy nữa mà hai bên Liên Xô và Đồng minh sẽ thù nghịch nhau cho xem. Họ đoán già đoán non về tình huống xảy ra cái chết của Hitler. Họ nói về cái đói và về chuyện vụ mùa khoai tây sẽ một lần nữa cứu nước Đức khỏi thảm họa.

Ngủ cạnh chõng của Reiter là một ông trạc năm mươi tuổi, lính của đội quân Volkssturm* . Ông này để mặc râu hàm mọc không thèm cạo và nói bằng một thứ tiếng Đức mềm mại nhẹ nhàng, cứ như chẳng có gì xảy ra xung quanh có thể tác động tới ông được. Ban ngày ông thường trò chuyện với hai cựu binh Volkssturm khác thường đi dạo và ăn cùng ông. Tuy nhiên, đôi lần Reiter thấy ông ngồi một mình, viết cái gì đó bằng bút chì lên những mẩu giấy đủ loại mà ông rút trong túi quần túi áo ra rồi sau đó cất đi vô cùng cẩn thận. Một lần, trước khi đi ngủ, Reiter hỏi ông viết gì vậy, thì ông bảo ông đang cố viết ra giấy những gì mình nghĩ. Nhưng việc này chẳng dễ, ông nói thêm. Reiter không hỏi gì thêm, tuy nhiên từ đó trở đi ông cựu binh Volkssturm, đêm nào cũng vậy, trước khi đi ngủ, luôn luôn tìm cớ nào đó trao đổi đôi lời với anh. Theo lời ông kể, vợ ông đã chết khi người Nga tiến vào Küstrin, vợ chồng họ vốn dân ở đấy, tuy nhiên ông không oán hận ai, chiến tranh là chiến tranh, ông nói, khi nào chiến tranh chấm dứt thì tốt nhất là tha thứ cho nhau và bắt đầu lại từ đầu.

Bắt đầu như thế nào? Reiter muốn biết. Bắt đầu từ con số không, với niềm vui và với cả trí tưởng tượng nữa, ông kia thì thầm bằng thứ tiếng Đức nhẩn nha chậm rãi của ông. Tên ông ta là Zeller và ông mảnh khảnh, kín đáo. Khi Reiter thấy ông tản bộ dọc suốt trại, bao giờ cũng cùng với hai cựu binh Volkssturm kia, ông, có lẽ tương phản với hai người bạn đồng hành, toát ra một sự đường hoàng cao nhã lớn lao. Một đêm kia Reiter hỏi ông có gia đình không.

“Tôi có vợ,” Zeller đáp.

“Nhưng vợ ông chết rồi mà,” Reiter nói.

“Tôi còn có đứa con trai với đứa con gái,” anh nghe ông kia thầm thì, “nhưng chúng cũng chết rồi. Thằng con tôi chết trong trận Kursk còn con gái thì chết trong một trận ném bom ở Hamburg.”

“Ông có họ hàng nào khác không?” Reiter hỏi.

“Hai đứa cháu, sinh đôi, một trai một gái, nhưng tụi nó cũng chết trong chính trận bom ấy rồi.”

“Lạy Chúa tôi,” Reiter nói.

“Thằng con rể tôi cũng chết, không phải trong trận bom, mà nhiều ngày sau, do đau khổ vì mất vợ con.”

“Khủng khiếp quá,” Reiter nói.

“Nó uống thuốc chuột tự sát,” Zeller thầm thì trong bóng tối. “Nó quằn quại đau đớn suốt ba ngày mới chết.”

Reiter không biết nói sao, phần vì anh sắp ngủ đến nơi, và điều cuối cùng anh nghe được là giọng của Zeller nói rằng chiến tranh là chiến tranh và tốt nhất hãy quên hết, quên hết, quên hết. Sự thật là Zeller có một sự bình tâm thật đáng ghen tị. Sự bình tâm này chỉ bị khuấy động khi xuất hiện những tù binh mới hoặc khi các khách thăm lại đến và thẩm vấn họ từng người một bên ngoài khu trại. Sau ba tháng thì đến lượt những người có họ bắt đầu bằng QR và S, thế là Reiter nói chuyện với những người lính và một số người mặc thường phục, họ nhã nhặn bảo anh quay mặt đằng trước rồi thì xoay nghiêng và sau đó họ lục lọi trong hai ba tập hồ sơ chắc hẳn đầy những ảnh. Đoạn, một trong những người mặc thường phục hỏi Reiter làm gì hồi chiến tranh và anh phải kể cho họ nghe mình đã ở tại Rumani cùng sư đoàn 79 rồi sau đó ở Nga, tại đấy anh bị thương mấy lần.

Mấy người lính và mấy người mặc thường phục muốn thấy các vết thương của anh thế là anh phải cởi quần áo cho họ xem. Một trong những người mặc thường phục, nói tiếng Đức bằng giọng Berlin, hỏi ở trong trại anh có ăn uống tốt không. Reiter nói anh ăn như một ông hoàng và khi người vừa hỏi dịch lại cho những người kia, cả bọn cả cười.

“Anh thích đồ ăn Mỹ không?” một trong mấy người lính nói.

Người mặc thường phục dịch lại và Reiter nói:

“Thịt của Mỹ là ngon nhất trần đời.”

Cả bọn lại cười rộ.

“Anh có lý,” người lính nói, “nhưng thịt anh ăn không phải thịt của Mỹ mà là đồ ăn cho chó.”

Lần này người thông dịch (anh này quyết định không dịch câu trả lời) và vài người lính cười đến nỗi ngã lăn xuống đất. Một lính da đen từ ngoài cửa nhòm vào với vẻ mặt lo âu, hỏi xem họ có đang gặp rắc rối gì với gã tù không. Họ lệnh cho anh ta đóng cửa lại rồi đi đi, chả có rắc rối gì ráo, chỉ là người ta đang kể chuyện tiếu lâm thôi. Kế đó một trong số họ rút ra một gói thuốc lá và mời Reiter một điếu. Tôi sẽ hút sau, Reiter nói, đoạn giắt nó vào sau tai. Sau đấy những người lính bỗng trở nên nghiêm túc và bắt đầu ghi lại những thông tin do Reiter cung cấp: ngày tháng năm sinh, tên cha mẹ, địa chỉ của cha mẹ và của ít nhất hai thành viên trong gia đình hoặc bạn bè, vân vân.

Đêm đó Zeller hỏi chuyện gì xảy ra trong buổi thẩm vấn, thế là Reiter kể lại hết cho ông nghe. Họ có hỏi anh nhập ngũ vào tháng nào năm nào không? Có. Họ có hỏi văn phòng tuyển quân của anh ở đâu không? Có. Họ có hỏi anh phục vụ ở sư đoàn nào không? Có. Có ảnh không? Có. Anh có thấy ảnh không? Không. Khi kết thúc phần thẩm vấn của riêng mình, Zeller kéo chăn lên che mặt và có vẻ như đã ngủ nhưng một chốc sau Reiter nghe tiếng ông lẩm bẩm trong bóng tối.

Tuần sau đó, những người thẩm vấn lại đến, lần này chỉ có hai người và chẳng có ai xếp hàng chờ cũng chẳng có thẩm vấn nào. Họ bảo tù binh đứng thành đội hình, sau đó các lính da đen đi duyệt các hàng, lôi ra chừng chục người, dẫn chục người này đến hai chiếc xe tải, còng tay họ ẩy lên xe. Trưởng trại cho họ biết các tù này bị tình nghi là tội phạm chiến tranh, kế đó ông ta lệnh cho họ giải tán, trở lại sinh hoạt bình thường. Khi những người thẩm vấn đến trại lần kế, sau đấy một tuần, họ chuyển sang các chữ cái TU và V và lần này Zeller thực sự đâm ra bồn chồn lo lắng. Giọng nói nhẹ nhàng của ông vẫn y nguyên, song lời lẽ và cách nói thì thay đổi: từ ngữ ra khỏi môi ông cứ lập bà lập bập và về đêm ông cứ lẩm bẩm không sao ngừng được. Ông nói nhanh, như thể bị thúc bách bởi những lý lẽ ngoài tầm kiểm soát của ông, những lý lẽ mà ông hầu như không hiểu. Ông rướn cổ về phía Reiter, tì lên cùi chỏ mà bắt đầu thì thào và rên rỉ và mường tượng ra những cảnh huy hoàng, những cảnh ấy hợp với nhau làm thành một khối ráp hỗn độn của những khối lập phương đen thủi đen thui chồng chất lên nhau.

Ban ngày thì sự thể lại khác. Zeller lại toát lên vẻ đường hoàng cao nhã, và tuy ông không đánh bạn với ai trừ hai cựu chiến hữu trong đội quân Volkssturm, song hầu như tất cả mọi người đều tôn trọng ông và coi ông là người chính trực. Tuy nhiên, với Reiter, kẻ phải chịu đựng những lời dông dài hằng đêm của ông, tư thái của Zeller ngày càng tệ dần đi, như thể bên trong ông đang diễn ra một cuộc đấu tranh khốc liệt giữa những lực đối nghịch nhau một trời một vực. Những lực nào vậy? Reiter không biết, song anh có trực cảm rằng cả hai lực ấy nảy sinh từ một nguồn duy nhất, từ sự điên. Một đêm nọ Zeller bảo anh rằng tên ông không phải Zeller mà là Sammer và bởi vậy nếu tuần sau ông không trình diện những người thẩm vấn khi họ gọi theo thứ tự vần chữ cái thì cũng hợp lý thôi.

♣ ♣ ♣

Đêm ấy Reiter không buồn ngủ và trăng tròn lọc qua vải lán giống như cà phê lọc qua một cái tất.

“Tên tôi là Leo Sammer và những chuyện tôi đã kể với anh có vài chuyện thật vài chuyện không thật,” ông Zeller rởm vừa nói vừa trở mình trên chõng làm như toàn thân ông đang ngứa. “Anh có nhận ra tên tôi không?”

“Không,” Reiter nói.

“Chẳng có lý gì để cậu phải nhận ra cả, con trai ạ, tôi không phải và cũng chưa bao giờ là người nổi tiếng, cho dù trong thời gian cậu xa nhà thì tên tôi đã lớn phổng lên như một khối u ác tính và giờ nó được viết ra trên những giấy tờ khó ngờ được nhất,” Sammer nói bằng thứ tiếng Đức êm mềm và càng lúc càng nhanh. “Dĩ nhiên, tôi chưa hề ở trong đội Volkssturm. Tôi từng chiến đấu, tôi không muốn có ai nghĩ rằng tôi chưa từng chiến đấu, tôi đã chiến đấu, như bất cứ người Đức nào mang dòng dõi gia phong, nhưng tôi phụng sự ở những sân khấu khác, không phải trên chiến trường quân sự mà là chiến trường kinh tế và chính trị. Vợ tôi chưa chết, tạ ơn Chúa,” ông nói tiếp sau một hồi im lặng dài, suốt trong im lặng ấy ông cùng Reiter nhìn ánh sáng quét qua lều như một cánh chim hoặc như một cái móng vuốt. “Con trai tôi chết, chuyện đó thì đúng. Thằng con tội nghiệp của tôi. Một thằng thông minh, thích thể thao và đọc sách. Còn có thể đòi hỏi gì hơn ở một thằng con nữa. Nghiêm túc, một vận động viên, người đọc sách nhiệt thành. Nó chết ở Kursk. Dạo ấy tôi là phó giám đốc của một tổ chức chuyên cung cấp nhân lực cho Đế chế, các văn phòng chính của nó nằm ở một thành phố nhỏ của Ba Lan chỉ cách lãnh thổ của Chính phủ Trung ương có vài cây số.

“Khi người ta báo tin cho tôi thì tôi thôi không tin vào chiến tranh nữa. Đã vậy, vợ tôi lại còn bắt đầu có dấu hiệu bị bệnh tâm thần. Tôi ước sao đừng ai lâm vào hoàn cảnh như tôi. Kể cả kẻ thù tôi! Một đứa con trai chết khi đang tuổi hoa niên, một người vợ đau nửa đầu không dứt, và một việc làm vắt kiệt sức ta, đòi ta phải nỗ lực và tập trung tột độ. Song tôi vẫn tiến lên phía trước, nhờ bản tính có phương pháp và nhờ sự ngoan cường của mình. Sự thật là tôi làm việc để quên đi bất hạnh. Kết quả là tôi được bổ làm lãnh đạo tổ chức chính phủ mà tôi đang phục vụ. Rồi đột ngột, công việc của chúng tôi tăng gấp ba. Tôi không chỉ phải gửi nhân công đến các nhà máy Đức mà giờ tôi còn phải bảo đảm cho bộ máy quan quyền vận hành đâu ra đó ở cái vùng lắm mưa ấy của xứ Ba Lan, một chốn tỉnh lẻ u sầu mà chúng tôi mưu toan Đức hóa, chốn mà ngày nào cũng xám xịt như ngày nào và mặt đất cơ hồ phủ một tấm màn bồ hóng khổng lồ và chẳng ai tự giải khuây theo một cách văn minh, thế nên cho đến cả bọn nhóc mười tuổi cũng nát rượu, anh có tin được không, lũ trẻ đáng thương, nhưng mà cũng hoang dã nữa, chúng chỉ quan tâm có mỗi một thứ là rượu mà thôi, như tôi đã nói, và bóng đá.

“Đôi khi tôi đứng nơi cửa sổ phòng làm việc mà nhìn chúng: chúng chơi ngoài phố với một quả bóng làm bằng giẻ rách và chúng chạy chúng nhảy trông thật thảm thương, bởi vì rượu chúng nốc vào người khiến chúng luôn luôn té ngã hoặc để hụt những pha ngon ăn. Nhưng tôi không muốn kể hoài kể mãi chuyện ấy. Nói gọn, đó là những trận bóng đá thường kết thúc bằng những quả đấm. Hay những cú đá. Hay những chai bia rỗng nện lên đầu đội đối phương. Và tôi đứng nơi cửa sổ nhìn hết cảnh đó mà chả biết làm gì. Chúa ơi, làm sao chấm dứt được cơn dịch này, làm sao cải thiện được tình cảnh của những con người vô tội này đây.

“Tôi thú nhận: tôi cô đơn, rất cô đơn, rất cô đơn. Tôi không thể trông cậy vào vợ tôi. Tội nghiệp, lần duy nhất sinh vật khốn khổ ấy ra khỏi căn phòng tối om của mình là để quỳ gối cầu xin tôi để cho bà ấy quay về Đức, về Bavaria, cho bà đoàn tụ với em gái. Con trai tôi đã chết. Con gái tôi sống ở Munich, hạnh phúc bên chồng và cách xa những vấn đề nan giải của tôi. Công việc cứ chất chồng trong khi các đồng nghiệp tôi ngày một ngã lòng. Cuộc chiến đang không thuận lợi và dẫu sao nó cũng chẳng còn làm tôi quan tâm nữa. Làm sao một người đã mất con trai còn có thể quan tâm đến chiến tranh? Nói gọn, đời tôi diễn tiến dưới những đám mây đen thường trực.

“Rồi tôi nhận được lệnh mới: tôi phải đảm trách một nhóm người Do Thái từ Hy Lạp đến. Ắt là họ từ Hy Lạp đến. Họ có lẽ là người Hungary hoặc Croatia. Nhưng chắc không phải, người Croatia đã tự giết những người Do Thái ở nước mình rồi. Có lẽ họ là người Serbia. Thôi thì cứ cho họ là người Hy Lạp. Người ta chuyển đến cho tôi một đoàn tàu đầy chật người Do Thái ở Hy Lạp. Cho tôi! Mà tôi thì chẳng biết nhét họ vào chỗ nào cả. Đấy là một cái lệnh đến đột ngột, bất ngờ. Tổ chức của tôi là dân sự, không phải tổ chức của quân đội hay bên SS. Tôi chẳng có chuyên gia nào về lĩnh vực này, tôi chỉ cử công nhân đến các nhà máy thuộc Đế chế, vậy tôi sẽ làm gì với đám người Do Thái này đây? Cuối cùng, tôi tự nhủ mình: Can đảm lên, và một sáng nọ tôi ra nhà ga đón họ. Tôi mang theo viên chỉ huy cảnh sát địa phương và tất thảy các sĩ quan mà tôi huy động được vào phút chót. Đoàn tàu từ Hy Lạp tới dừng ở một đường ngách. Một sĩ quan bảo tôi ký vài thứ giấy tờ xác nhận đã giao cho tôi năm trăm người Do Thái, đàn ông, đàn bà, trẻ em. Tôi ký. Sau đó tôi lại gần vài toa, và cái mùi thật không chịu nổi. Tôi cấm mở tất cả các toa. Việc này có thể khiến dịch bệnh lan rộng, tôi tự nhủ. Sau đó tôi gọi điện cho một người bạn, người này nối máy cho tôi gặp một tay đang điều hành một trại tập trung Do Thái gần Chelmno. Tôi trình bày cho anh ta nghe nỗi khó của mình, hỏi anh ta tôi có thể làm gì với mớ người Do Thái này. Lẽ ra tôi phải nói cho anh ta biết ở cái làng Ba Lan này không có người Do Thái, chỉ có bọn nhóc nát rượu những mụ đàn bà nát rượu và đám người già cả suốt ngày chả làm gì khác ngoài đuổi theo những tia nắng lâu lâu mới có. Tay ở Chelmno bảo tôi hai hôm nữa gọi lại, bảo rằng anh ta cũng có những nỗi khó của riêng mình, dù tôi có tin hay không.

“Tôi cảm ơn anh ta rồi gác máy. Tôi quay lại chỗ đường tàu ngách. Viên sĩ quan và tay kỹ sư đang chờ tôi. Tôi mời họ ăn sáng. Cà phê, xúc xích, trứng rán và bánh mì nóng. Họ ăn như heo. Tôi thì không. Đầu tôi nghĩ những chuyện khác. Họ bảo tôi phải giải phóng đoàn tàu, họ được lệnh phải quay về Nam Âu ngay đêm đó. Tôi nhìn vào mắt họ mà nói tôi sẽ làm như vậy. Viên sĩ quan nói tôi có thể cậy nhờ anh ta cùng đội lính gác của anh ta dọn trống các toa tàu, đổi lại thì nhân viên nhà ga giúp một tay chùi rửa các toa. Tôi nói được thôi.

“Chúng tôi bắt tay vào việc. Mùi từ trong các toa tàu xộc ra khi chúng tôi mở cửa toa khiến cho cả bà lao công chuyên cọ rửa các buồng vệ sinh của nhà ga cũng phải nhăn mũi. Tám người Do Thái chết trên đường đi. Viên sĩ quan ra lệnh những người sống sót xếp thành hàng. Họ trông chẳng lấy gì làm khỏe. Tôi ra lệnh đưa họ đến một nhà máy thuộc da bỏ không. Tôi bảo một trong các nhân viên của tôi đến hiệu bánh mì mua tất tật bánh mì có đấy đem về phát cho người Do Thái. Bảo họ hết bao nhiêu tiền tính cả cho tôi, tôi trả, tôi nói, nhưng làm nhanh nhanh lên. Đoạn tôi về lại văn phòng làm những việc cấp bách khác. Đến trưa tôi được báo rằng đoàn tàu từ Hy Lạp tới đang rời thị trấn. Từ cửa sổ phòng làm việc tôi nhìn bọn nhóc say khướt kia chơi bóng đá và trong thoáng chốc tôi có cảm giác như cả tôi nữa cũng đã nốc quá nhiều.

“Từ lúc đó cho đến hết buổi sáng tôi tìm một cách thu xếp lâu dài hơn cho những người Do Thái. Một trong các thư ký của tôi đề nghị tôi cho họ làm việc. Ở Đức à? tôi hỏi. Ở đây, anh ta nói. Không phải ý tồi. Tôi ra lệnh phát chổi cho chừng năm chục người Do Thái, chia họ thành từng đội mà quét dọn cái thị trấn ma của tôi. Thế rồi tôi quay về công việc chính. Một vài nhà máy của Đế chế cần ít nhất hai ngàn công nhân và tôi lại còn đang tiếp phái viên của Chính phủ Trung ương yêu cầu cung cấp thêm lao động. Tôi gọi vài cuộc điện thoại: tôi bảo tôi đang có sẵn năm trăm người Do Thái, nhưng họ lại muốn tù binh Ba Lan hoặc Ý.

“Tù binh Ý? Cả đời tôi chưa gặp một tù binh Ý bao giờ! Còn tù binh Ba Lan thì có bao nhiêu tôi đã gửi đi hết rồi, chỉ giữ lại những người hết sức cần thiết mà thôi. Thế là tôi lại gọi đến Chelmno hỏi lần nữa xem người ta có cần những người Do Thái Hy Lạp của tôi không.

“‘Nếu người ta gửi họ đến cho ông thì ắt có lý do,’ một giọng kim khí đáp. ‘Ông đi mà tự lo với họ.’

“‘Nhưng tôi có điều hành trại tập trung đâu,’ tôi nói. ‘Tôi đâu có kinh nghiệm phù hợp.’

“‘Ông chịu trách nhiệm về họ,’ giọng kia đáp, ‘nếu ông thắc mắc gì thì đi mà hỏi những người đã gửi họ đến cho ông ấy.’

“‘Thưa ông thân mến, những người gửi họ đến cho tôi chắc là đang ở Hy Lạp,’ tôi nói.

“‘Vậy thì hỏi Vụ Hy Lạp ở Berlin ấy,’ giọng ấy nói.

“Câu trả lời hay. Tôi nói cảm ơn rồi gác máy. Trong khoảng mấy giây tôi phân vân liệu gọi đến Berlin có thật là ý hay không. Bỗng nhiên, ngoài phố, xuất hiện một nhóm quét rác người Do Thái. Bọn nhóc xỉn đã thôi không đá bóng nữa mà bước lên vỉa hè, quan sát những người Do Thái tuồng như họ là thú vật. Ban đầu mấy người Do Thái cắm mặt xuống đất mà quét đầy cúc cung tận tụy, có một tay cảnh sát làng canh gác cạnh bên, nhưng rồi một người trong số họ ngẩng đầu lên, là một thiếu niên không hơn, cậu ta nhìn bọn nhóc rồi sau đó nhìn quả bóng đang kẹp dưới chân một trong những thằng du côn ấy. Trong một thoáng tôi nghĩ chắc họ sắp chơi đá bóng. Một bên là quét rác một bên là nhóc xỉn. Song tay cảnh sát biết việc mình làm thế cho nên một chốc sau tốp người Do Thái đi mất và bọn nhóc lại chiếm lĩnh con phố với quả bóng tàn tạ đó.

“Tôi lại vùi đầu vào đống giấy tờ. Tôi xử lý vấn đề một chuyến hàng khoai tây đã bị thất lạc ở đâu đó giữa khu vực do tôi kiểm soát và thành phố Leipzig, nơi lẽ ra nó phải đến. Tôi ra lệnh điều tra cho rõ ngọn ngành. Tôi chưa bao giờ tin tưởng cánh lái xe tải. Tôi cũng xử lý một chuyện về củ cải đường. Một vụ về cà rốt. Một vụ về cà phê thế phẩm. Tôi yêu cầu nối máy với ông thị trưởng. Một trong các thư ký của tôi đem tới một tờ giấy trong đó người ta cam đoan khoai tây đã rời khỏi khu vực của tôi bằng tàu hỏa chớ không phải bằng xe tải. Khoai tây đến được nhà ga trên những cái xe do la hay ngựa hay lừa kéo, những giống người nông dân vẫn nuôi, nhưng không phải trên xe tải. Có một bản sao vận đơn, nhưng nó lạc mất rồi. Tìm cái bản sao ấy, tôi ra lệnh. Một thư ký khác của tôi tới đưa tin thị trưởng bị ốm, hiện nằm nhà.

“‘Có nặng không?’ tôi hỏi.

“‘Cảm lạnh,’ viên thư ký nói.

“‘Vậy bảo ông ta dậy mà đến đây,’ tôi nói.

“Khi còn lại một mình tôi bắt đầu nghĩ về bà vợ tội nghiệp của tôi, nằm liệt giường, rèm che kín mít, và ý nghĩ ấy khiến tôi bứt rứt đến độ tôi bắt đầu đi tới đi lui trong phòng làm việc bởi cứ ngồi im một chỗ tôi sẽ có nguy cơ bị đột quỵ. Thế rồi tôi thấy một đội quét đường đang quay về dọc theo con phố khá là sạch sẽ và đột nhiên tôi tê liệt vì cái cảm giác rằng thời gian đang lặp lại.

“Nhưng, tạ ơn Chúa, không phải là nhóm quét đường ban nãy. Vấn đề ở chỗ họ giống nhau quá sức. Tuy nhiên, tay cảnh sát canh chừng họ thì khác. Viên cảnh sát ban nãy vừa cao vừa gầy và ngồi thẳng tắp trên xe. Viên thứ hai này thì vừa lùn vừa mập và sáu chục tuổi, tuy rằng trông già hơn cả chục tuổi. Bọn nhóc Ba Lan đang chơi bóng đá rõ ràng cũng cảm thấy như tôi nên lại bước lên vỉa hè nhường đường cho mấy người Do Thái. Một đứa trong bọn nói gì đó. Từ nơi tôi đang đứng bất động bên cửa sổ, tôi đồ rằng nó đang sỉ nhục những người Do Thái. Tôi mở cửa sổ gọi viên cảnh sát.

“‘Ông Mehnert,’ tôi gọi từ phía trên, ‘ông Mehnert.’

“Ban đầu viên cảnh sát không biết ai gọi nên cứ nhìn quanh, bối rối, khiến cho bọn nhóc xỉn cười nghiêng ngửa.

“‘Trên đây này, ông Mehnert, trên đây này.’

“Rốt cuộc anh ta cũng thấy tôi, liền đứng nghiêm. Những người Do Thái ngưng làm việc mà chờ. Tất cả bọn nhóc xỉn ngước lên nhìn cửa sổ phòng tôi.

“‘Nếu bất cứ đứa nào trong lũ oắt con kia sỉ nhục công nhân của tôi, cú bắn nó luôn, ông Mehnert,’ tôi nói, đủ to để cả thế giới đều nghe được.

“‘Không có vấn đề gì, thưa ngài,’ ông Mehnert nói.

“‘Tôi nói ông nghe có rõ không?’ tôi hét.

“‘Hoàn toàn rõ, thưa ngài.’

“‘Bắn thoải mái, thoải mái, rõ chưa, ông Mehnert?’

“‘Rõ như ban ngày, thưa ngài.’

“Sau đó tôi đóng cửa sổ quay lại làm việc tiếp. Tôi đang nghiên cứu một thông tư của Bộ Tuyên truyền chưa được năm phút thì một trong các thư ký của tôi lại cắt ngang mà nói với tôi rằng bánh mì đã được phát cho người Do Thái nhưng không có đủ cho tất cả. Và nữa, trong khi giám sát người ta phát bánh mì, anh ta phát hiện ra có thêm hai người chết. Hai người Do Thái chết à? tôi nhắc lại, choáng váng. Nhưng khi rời khỏi đoàn tàu tất cả bọn họ đều tự đi được cả mà! Thư ký của tôi nhún vai. Họ chết rồi, anh ta nói.

“‘Ôi, ôi, ôi, ta đang sống trong một thời kỳ lạ, phải không?’ tôi nói.

“‘Ấy là hai người già,’ thư ký nói. ‘Chính xác hơn là một ông già, một bà già.’

“‘Còn bánh mì?’ tôi nói.

“‘Không đủ cho tất cả,’ thư ký của tôi nói.

“‘Phải chấn chỉnh chuyện đó,’ tôi nói.

“‘Chúng tôi sẽ cố,’ thư ký của tôi nói, ‘nhưng hôm nay không được rồi, phải để mai.’

“Giọng điệu của y nghe hết sức khó chịu. Tôi phẩy tay cho y lui. Tôi cố tập trung trở lại vào công việc nhưng không được. Tôi lại gần cửa sổ. Bọn nhóc xỉn đã đi rồi. Tôi quyết định đi dạo một vòng, không khí trong lành làm tinh thần ta dịu lại và thể xác ta khang kiện, mặc dù lẽ ra tôi chỉ muốn đi về nhà, nơi ngọn lửa trong lò và một cuốn sách hay đang đợi tôi để cho qua khắc qua giờ. Trước khi ra phố tôi bảo cô thư ký nếu có gì cấp bách thì có thể tìm tôi ở quán bar nhà ga. Ra ngoài phố, khi rẽ vào một góc đường, tôi gặp ông thị trưởng, ngài Tippelkirsch, đang trên đường đến gặp tôi. Ông ta mặc áo khoác, khăn quấn lên thấu mũi, trong độn mấy lượt áo len khiến người ông ta phình tướng ra. Ông ta giải thích rằng không thể đến sớm hơn vì ông ta đang sốt bốn mươi độ.

“Thôi ta đừng phóng đại nào, tôi nói, không bước chậm lại. Ông hỏi bác sĩ đi, ông ta nói sau lưng tôi. Khi đến nhà ga tôi gặp vài nông dân đang chờ một chuyến tàu địa phương từ phía Đông đến, từ lãnh thổ của Chính quyền Trung ương. Họ cho tôi hay tàu đã trễ một tiếng rồi. Toàn tin xấu thôi. Tôi uống một tách cà phê với ông Tippelkirsch và chúng tôi nói chuyện về những người Do Thái. Chuyện ấy tôi nghe cả rồi, ông Tippelkirsch nói, ấp tách cà phê bằng cả hai tay. Hai bàn tay ông rất trắng và thanh tú, chằng chịt những mạch máu.

“Trong một thoáng tôi cứ nghĩ đến đôi tay của chúa Giêsu. Hai bàn tay đáng lên tranh. Sau đó tôi hỏi chúng ta có thể làm gì. Gửi trả họ lại, ông Tippelkirsch nói. Một dòng nước nhỏ từ mũi ông nhểu xuống. Tôi lấy ngón tay chỉ nó. Ông có vẻ không hiểu. Ông xì mũi đi, tôi nói. À, xin lỗi, ông nói, và sau khi lục hết các túi khoác ông rút ra một chiếc khăn tay trắng, rất to và chẳng mấy sạch.

“‘Làm sao ta trả họ về được?’ tôi nói. ‘Liệu tôi có đoàn tàu nào trong tay để tùy nghi sử dụng không? Mà nếu có thì chẳng phải tôi nên dùng vào việc khác thiết thực hơn sao?’

“Ông thị trưởng kiểu như rùng mình một cái và nhún vai.

“‘Cho họ làm việc,’ ông nói.

“‘Vậy ai lo cái ăn cho họ? Thị trấn à? Không, ông Tippelkirsch ạ, tôi đã cân nhắc mọi khả năng rồi. Chỉ có một giải pháp thôi: ta phải bàn giao họ cho một cơ quan khác.’

“‘Thế nếu ta phân cho nông dân trong vùng mỗi người được hai người Do Thái, chỉ như biện pháp tạm thời thôi, thì chẳng phải ý hay sao?’ ông Tippelkirsch nói. ‘Ít nhất là cho đến khi ta nghĩ ra được phải làm gì với họ.’

“Tôi nhìn vào mắt ông ta và hạ giọng:

“‘Làm vậy là trái luật và ông biết thế,’ tôi nói.

“‘Có,’ ông nói, ‘tôi biết, ông biết, nhưng tình thế của chúng ta đang gay go, và chúng ta có thể được giúp một tay, tôi tin mấy người nông dân họ không phản đối đâu,’ ông nói.

“‘Không, tuyệt đối không thể được.’

“Nhưng tôi có nghĩ đến chuyện đó và ý nghĩ của tôi vùi tôi vào một vực thẳm cực sâu cực tối ở đó tôi chỉ thấy, được soi tỏ bằng những tia lóe chẳng rõ từ đâu, khuôn mặt con trai tôi, cái khuôn mặt chập chờn giữa một đằng là sống một đằng là chết.

“Tôi thức dậy bởi tiếng hai hàm răng ông Tippelkirsch đánh vào nhau cầm cập. Ông thấy không khỏe à? tôi hỏi. Ông làm cử chỉ như muốn trả lời tôi song không được và thoáng sau ông ngất. Tôi gọi điện từ quán bar về văn phòng bảo người ta cử một chiếc xe đến. Một trong các thư ký của tôi anh ta đã liên lạc được với Vụ Hy Lạp ở Berlin và cái chỗ ấy không nhận bất cứ trách nhiệm nào về vấn đề này. Khi xe tới, ông chủ quán bar, một nông dân và tôi loay hoay một hồi rồi cũng đưa được ông Tippelkirsch lên xe. Tôi bảo tài xế thả ông thị trưởng xuống nhà ông rồi quay lại nhà ga. Trong khi đợi tôi chơi xúc xắc bên lò sưởi. Một nông dân từ Estonia di cư đến chơi ván nào cũng thắng. Ông ta có ba thằng con đang ở ngoài mặt trận và cứ mỗi lần thắng ông ta lại buông một câu mà tôi thấy rất lạ, thậm chí bí hiểm. Vận may và cái chết đi cùng nhau tay trong tay, ông nói. Và ông nhìn chúng tôi với cặp mắt như của con cừu bị chọc tiết, tuồng như tất cả chúng tôi đều phải thương hại ông.

“Tôi nghĩ ông ta chắc là người được dân làng yêu mến, nhất là các bà các cô Ba Lan, họ chẳng có gì để sợ một người đàn ông góa bụa có ba thằng con lớn xa nhà, một ông già bình thường, theo như tôi thấy, song không keo bẩn như hầu hết nông dân, lâu lâu lại tặng cho bà nọ chị kia một ít đồ ăn hay cái váy cái áo để đổi lấy một đêm trong nông trại. Một thú Don Juan. Lát sau, khi cuộc chơi đã vãn, tôi tạm biệt mọi người rồi quay lại văn phòng.

“Tôi lại gọi Chelmno, nhưng lần này không nối máy được. Một trong các thư ký bảo tôi rằng văn phòng Vụ Hy Lạp ở Berlin gợi ý tôi hãy gọi đến đại bản doanh SS tại Chính phủ Trung ương. Một lời khuyên khá ngu xuẩn, bởi mặc dù thị trấn của chúng tôi cùng khu vực xung quanh, gồm cả các làng mạc nông trại, chỉ cách biên cương lãnh thổ của Chính phủ Trung ương có dăm cây số, song về mặt hành chính chúng tôi thuộc về một Phiên tỉnh của nước Đức. Biết làm sao bây giờ? Tôi quyết định rằng hôm nay như vậy là quá đủ rồi và chuyển sang những công việc khác.

“Trước khi về nhà tôi nhận được điện từ nhà ga gọi tới. Tàu vẫn chưa đến. Kiên nhẫn, tôi nói. Trong thâm tâm tôi biết nó sẽ chẳng bao giờ tới. Đường về nhà bắt đầu có tuyết rơi.

“Hôm sau tôi dậy sớm và đến quán bar thị trấn để ăn sáng. Tất cả bàn đều trống. Lát sau, áo quần bảnh bao tóc râu nhẵn nhụi, hai thư ký của tôi xuất hiện báo tin rằng đêm trước có thêm hai người Do Thái chết. Vì sao chết? tôi hỏi. Họ không biết. Chết là chết thôi. Lần này thì không phải hai người già mà là một phụ nữ trẻ cùng đứa con chừng tám tháng của chị ta.

“Kiệt quệ, tôi gục đầu nhìn chính mình chăm chăm suốt vài giây trên bề mặt lặng tờ, tối đen của tách cà phê. Có lẽ họ chết vì lạnh, tôi nói. Đêm qua có tuyết. Có thể, hai thư ký của tôi nói. Tôi có cảm giác mọi thứ quay mòng mòng quanh tôi.

“‘Ta đến xem chỗ trại đó,’ tôi nói.

“‘Trại nào?’ hai thư ký của tôi giật thót mình liền hỏi.

“‘Trại người Do Thái,’ tôi nói, bấy giờ tôi đã đứng dậy và đang đi ra cửa.

“Đúng như tôi hình dung, cái xưởng thợ thuộc da cũ đang trong tình trạng tồi tệ cùng cực. Ngay cả mấy cảnh sát đứng gác cũng than phiền. Một trong các thư ký bảo tôi rằng về đêm lính gác bị lạnh và các phiên gác không được tuân thủ nghiêm ngặt. Tôi bảo anh ta cùng với cảnh sát trưởng lo mà chấn chỉnh các phiên gác và đem chăn tới cho họ. Cho cả người Do Thái nữa, dĩ nhiên. Viên thư ký thì thào sẽ khó mà tìm được đủ chăn cho tất cả. Tôi bảo anh ta cố mà tìm, ít nhất thì cũng cố sao cho phân nửa số người Do Thái có chăn.

“‘Nửa còn lại thì sao?’ thư ký hỏi.

“‘Nếu họ có lòng lân mẫn thì mỗi người Do Thái sẽ cho một người khác đắp chung chăn, còn nếu không thì kệ họ, tôi làm hết sức rồi,’ tôi nói.

“Về lại văn phòng tôi để ý thấy đường sá trong thị trấn sạch sẽ chưa từng có. Từ đấy cho đến hết ngày không có gì bất thường xảy ra, nhưng đến đêm tôi nhận được một cú điện từ Warszawa, từ Vụ Do Thái, một cơ quan mà mãi đến lúc đó tôi mới biết là có tồn tại. Một giọng rõ ràng là trẻ măng hỏi có đứng là tôi đã nhận được năm trăm người Do Thái từ Hy Lạp đến không. Tôi bảo có và nói thêm rằng tôi chẳng biết làm gì với họ, bởi chẳng ai báo cho tôi biết là có họ đến cả.

“‘Hình như đã có nhầm lẫn,’ giọng đó nói.

“‘Hình như vậy,’ tôi nói, đoạn tôi im lặng.

“Im lặng kéo dài một hồi lâu.

“‘Đoàn tàu ấy lẽ ra phải nhả hàng ở Auschwitz,’ giọng trẻ măng đó nói, ‘chắc vậy, tôi không rõ lắm. Đợi cho một chút.’

“Suốt mười phút liền tôi cứ đứng kẹp ống nói điện thoại vào tai. Trong khoảng thời gian ấy cô thư ký của tôi vào mang theo một số giấy tờ để tôi ký và một trong các thư ký nam mang đến một báo cáo về sản lượng sữa thấp trong khu vực rồi thì một người nữa đến bảo anh ta có chuyện muốn nói với tôi nhưng tôi ra hiệu bảo anh ta im, thế là anh ta ghi những gì cần nói ra giấy: ở Leipzig khoai tây bị trộm bởi chính những người trồng. Tôi rất ngạc nhiên, bởi chỗ khoai tây đó được trồng ở những nông trại Đức, bởi những người vừa mới đến lập nghiệp trong vùng và trước nay làm gì cũng rất chi mẫu mực.

“‘Bằng cách nào?’ tôi viết trên cùng tờ giấy đó. Tôi không biết, viên thư ký viết bên dưới câu hỏi của tôi, chắc là bằng cách giả mạo chứng từ vận chuyển.

“Phải, đây không phải lần đầu, tôi nghĩ, nhưng không phải những nông dân của tôi. Mà thậm chí nếu chính họ là người phạm tội, tôi có thể làm gì được? Tống tất tật họ vào tù? Làm thế thì tôi được gì? Mặc cho đất đai bị bỏ hoang hết sao? Tôi có nên phạt họ, khiến cho họ đã nghèo lại càng nghèo không? Tôi quyết định mình không thể làm vậy. Điều tra thêm, tôi viết xuống dưới câu của viên thư ký. Đoạn tôi viết thêm: làm tốt đó.

“Viên thư ký mỉm cười với tôi, giơ tay lên, môi mấp máy tuồng như đang nói Heil Hitler, rồi rón rén đi ra. Ngay lúc đó giọng trẻ măng nọ hỏi tôi:

“‘Ông còn đó không?’

“‘Tôi đây,’ tôi nói.

“‘Thế này, như tình hình hiện tại thì chúng tôi không có phương tiện đi chở đám Do Thái ấy về. Về mặt hành chính họ thuộc vùng Thượng Silesia. Tôi đã nói chuyện với cấp trên và chúng tôi nhất trí rằng tốt nhất và tiện nhất là ông xử lý bọn họ.’

“Tôi không đáp.

“‘Ông có hiểu không?’ giọng nói từ Warszawa hỏi.

“‘Có, tôi hiểu,’ tôi nói.

“‘Thế là ta đã có giải pháp, phải không?’

“‘Đúng,’ tôi nói. ‘Nhưng tôi muốn nhận lệnh bằng văn bản,’ tôi nói thêm. Tôi nghe thấy có tiếng cười rung lên từ phía đầu dây bên kia. Có thể là tiếng cười của thằng con tôi, tôi nghĩ, một tiếng cười gợi ra những buổi chiều quê, những dòng sông biếc đầy ắp cá hồi và mùi những nắm hoa nắm cỏ rứt trong tay.

“‘Đừng ngây thơ vậy,’ giọng kia nói, không có tí gì ngạo mạn, ‘các lệnh này chẳng bao giờ ra bằng văn bản cả.’

“Đêm đó tôi không ngủ được. Tôi hiểu việc họ đang yêu cầu tôi làm là tự tôi thủ tiêu những người Do Thái gốc Hy Lạp đó, có rủi gì tôi chịu. Sáng hôm sau, từ văn phòng của mình tôi gọi cho ông thị trưởng, sếp đội cứu hỏa, cảnh sát trưởng và chủ tịch Hội Cựu chiến binh, triệu tập họ đến họp ở quán bar thị trấn. Sếp cứu hỏa nói ông không đến được vì đang có con ngựa cái sắp sinh, nhưng tôi bảo đây không phải một ván xúc xắc mà là chuyện cấp bách hơn nhiều. Ông ta muốn biết là chuyện gì. Cứ đến rồi khắc biết, tôi nói.

“Khi đến quán bar tôi thấy mọi người đã tề tựu đủ, ngồi quanh bàn, nghe một tay bồi già kể chuyện tếu. Trên bàn là bánh mì mới ra lò, bơ và mứt. Thấy tôi, tay bồi liền im. Ông ta già, thấp bé, gầy quắt queo. Tôi ngồi xuống một ghế trống rồi bảo ông ta cho tôi một tách cà phê. Khi cà phê được mang lên tôi bảo ông ta lui. Sau đấy, bằng đôi lời ngắn gọn, tôi giải thích cho những người kia tình huống chúng tôi đang lâm phải.

“Sếp cứu hỏa nói cần phải gọi ngay cho lãnh đạo một trại tập trung có tiếp nhận người Do Thái. Tôi bảo tôi đã có nói chuyện với một tay ở Chelmno nhưng ông kia liền ngắt lời tôi mà nói chúng ta phải liên hệ với một trại tù ở Thượng Silesia. Cuộc thảo luận cứ thế tiếp diễn một hồi. Ai cũng có những người bạn có biết một người nào đó và người này đến lượt mình là bạn của, vân vân. Tôi để họ nói, lặng lẽ uống cà phê, bẻ một ổ bánh ra làm đôi, phết bơ lên một nửa rồi ăn. Kế đó tôi phết mứt lên nửa còn lại và ăn nốt. Cà phê ngon. Không như cà phê hồi trước chiến tranh, song cũng ngon. Ăn uống xong xuôi tôi bảo họ rằng mọi khả năng đều đã được tính tới cả rồi và lệnh thủ tiêu người Do Thái Hy Lạp là nghiêm lệnh, không bàn cãi. Vấn đề là bằng cách nào, tôi nói. Các ông có nghĩ ra cách nào không?

“Mấy người ngồi cùng bàn với tôi nhìn nhau, chẳng ai nói năng gì. Tôi hỏi ông thị trưởng, trên hết là để phá vỡ sự im lặng khó chịu này, rằng cơn cảm lạnh của ông thế nào rồi. Tôi e không sống nổi đến hết mùa đông này quá, ông nói. Mọi người cả cười, cho rằng ông thị trưởng đùa, nhưng thật ra ông hoàn toàn nghiêm túc. Sau đó chúng tôi nói về những chuyện ở vùng quê, chuyện ranh giới giữa hai nông trại do có một dòng suối mà vì một lý do nào đó chẳng ai có thể giải thích cho ra nhẽ đã đổi dòng chỉ trong một đêm, thình lình xê dịch tới gần chục mét không hiểu nổi, khiến nảy sinh va chạm về quyền sở hữu đất của hai nông trại nằm kế nhau mà ranh giới là cái con suối chết giẫm kia. Họ còn hỏi tôi về chuyện điều tra vụ chuyến hàng khoai tây mất tích. Tôi xuê xoa cho qua chuyện. Rồi nó lại sẽ xuất hiện thôi, tôi nói.

“Đến giữa buổi sáng, tôi quay về phòng làm việc còn bọn nhóc Ba Lan đã kịp xỉn rồi và đang chơi bóng đá.

“Tôi để thêm hai ngày nữa trôi qua mà không đi đến quyết định nào. Không có thêm người Do Thái nào chết, và một thư ký của tôi tổ chức họ thành ba đội làm vườn, ngoài năm đội quét đường đã có. Mỗi đội làm vườn gồm có mười người Do Thái và, ngoài việc dọn sạch sẽ các quảng trường trong thị trấn, họ còn phát quang cả một khu đất dọc đường cái quan, khu đất mà người Ba Lan chưa hề trồng trọt bao giờ và chúng tôi, do thiếu thời gian và thiếu nhân lực, cũng chưa trồng gì nốt. Ngoài ra thì không có gì thêm, theo như tôi nhớ.

“Một cảm giác chán chường mênh mông choán ngập tôi. Đêm đêm, về đến nhà, tôi ăn một mình trong bếp, run lên vì lạnh, nhìn chăm chăm một điểm mơ hồ trên tường trắng. Thậm chí tôi chẳng nghĩ gì về thằng con đã chết ở Kursk, cũng chẳng bật radio nghe tin tức hay nghe nhạc nhẹ. Sáng sáng tôi chơi xúc xắc ở quán bar nhà ga và nghe mà chẳng hiểu hết những chuyện tiếu lâm tục tĩu của đám nông dân vẫn hay tụ tập ở đó giết thời gian. Cứ vậy trôi qua hai ngày ì trệ giống như một giấc mơ, rồi thêm hai ngày như vậy nữa.

“Tuy nhiên, công việc cứ chồng chất và một sáng nọ tôi hiểu mình không thể tránh né vấn đề thêm nữa. Tôi gọi cho các thư ký. Tôi gọi cho cảnh sát trưởng. Tôi hỏi ông ta hiện ông ta có thể huy động bao nhiêu người có vũ khí để xử lý chuyện này. Ông ta nói cái đó còn tùy, nhưng cần kíp thì ông có thể gọi tám người.

“‘Rồi sau đó chúng ta sẽ làm gì với họ?’ một thư ký hỏi tôi.

“‘Chúng ta sẽ giải quyết chuyện đó ngay bây giờ,’ tôi nói.

“Tôi cho cảnh sát trưởng lui nhưng ra lệnh ông ta liên lạc sát sao với văn phòng của tôi. Sau đó tôi ra ngoài, theo sau là các thư ký, tất cả leo lên xe tôi. Tài xế đưa chúng tôi đến ngoại vi làng. Trong khoảng một giờ chúng tôi len lỏi giữa những con đường vắng và vệt xe bò cũ. Ở một số nơi vẫn còn tuyết. Tôi dừng lại ở vài nông trại mà tôi thấy là lý tưởng và nói chuyện với các nông dân, song tất cả họ đều tìm cớ này cớ nọ mà cự tuyệt.

“Mình đã quá tử tế với mấy người này, tôi tự nhủ, đã đến lúc phải tỏ ra cứng rắn. Thế nhưng, cứng rắn không phải là bản tính của tôi. Theo như một trong các thư ký của tôi biết thì cách làng chừng mười lăm cây số có một hố trũng. Chúng tôi đến đó xem. Không tồi. Nó nằm ở một nơi xa khuất, đầy cây thông, đất sẫm. Đáy hố phủ đầy lớp lớp lá dày. Theo thư ký của tôi, vào mùa xuân người ta tới đây săn thỏ. Chỗ này không xa đường cái mấy. Khi quay về thị trấn tôi đã quyết định mình sẽ phải làm gì.

“Sáng hôm sau tôi thân hành đi gặp cảnh sát trưởng tại nhà ông ta. Trên vỉa hè trước mặt phòng làm việc của tôi, tám cảnh sát viên đã tập trung lại, thêm vào đó là bốn người của tôi (một thư ký của tôi, lái xe của tôi và hai nhân viên hành chính) cùng hai nông dân, tình nguyện có mặt chỉ vì họ muốn tham gia. Tôi bảo họ hãy làm nhanh gọn rồi về văn phòng báo cáo cho tôi biết chuyện xảy ra thế nào. Khi họ đi khỏi, mặt trời hãy còn chưa mọc.

“Lúc năm giờ chiều cảnh sát trưởng và thư ký của tôi quay về. Họ trông mệt mỏi. Họ nói mọi chuyện diễn ra đúng như kế hoạch. Họ đã dừng nơi xưởng thuộc da cũ và rời khỏi làng mang theo hai đội quét đường. Họ đi bộ mười lăm cây số. Họ rẽ khỏi đường cái quan mà tiến về phía cái hố bằng những bước chân rời rã. Và ở đó chuyện phải diễn ra đã diễn ra. Có hỗn độn không? Hỗn độn có ngự trị không? Hỗn độn có thắng thế không? tôi hỏi. Một chút, họ đáp với vẻ sưng sỉa, nên tôi thôi không ép họ thêm.

“Sáng hôm sau cũng lặp lại y như thế, chỉ có vài thay đổi: thay vì hai người tình nguyện thì giờ có năm người, và ba cảnh sát viên được thay bằng ba người khác không tham gia công việc ngày hôm trước. Trong số người của tôi cũng có sự thay đổi: tôi cử đi một thư ký khác và không bắt nhân viên hành chính nào đi nữa, tuy tay tài xế thì vẫn có mặt trong đội.

“Vào khoảng giữa buổi chiều thì thêm hai đội quét đường biến mất và đêm đó tôi cử viên thư ký chưa đến chỗ cái hố kia lần nào cùng với ông sếp cứu hỏa đi lập thêm bốn đội quét đường mới trong số những người Do Thái Hy Lạp. Trước khi trời tối tôi đi thị sát một vòng chỗ cái hố. Chúng tôi gặp tai nạn hoặc gần như tai nạn khi xe bị lạc tay lái khỏi đường cái. Tài xế của tôi bồn chồn hơn bình thường, tôi nhận ra ngay tức khắc. Tôi hỏi anh ta có chuyện gì. Anh có thể nói thẳng, tôi nói.

“‘Tôi không biết, thưa ngài,’ anh ta đáp. ‘Tôi thấy lạ, chắc là vì thiếu ngủ.’

“‘Không phải anh đang ngủ đó chớ?’ tôi nói.

“‘Khó quá, thưa ông, khó quá, tôi cố lắm, có Chúa chứng giám, nhưng khó quá.’

“Tôi hứa với anh ta là chẳng có gì phải lo hết. Sau đó anh ta đưa xe trở lại đường cái và chúng tôi đi tiếp. Khi tới nơi tôi lấy đèn pin rồi tiến dọc một lối mòn ma quái. Thú vật dường như đã đột nhiên rời khỏi khu vực xung quanh bãi đất trũng. Tôi nghĩ từ phút này trở đi nơi này là lãnh địa của côn trùng. Tài xế của tôi đi phía sau, hơi miễn cưỡng. Tôi nghe thấy anh ta huýt sáo liền yêu cầu anh ta im. Thoạt nhìn, cái bãi đất trông giống hệt như tôi thấy lần đầu.

“‘Thế cái lỗ đâu?’ tôi hỏi.

“‘Đằng kia,’ tài xế nói, tay chỉ về tít đầu kia vạt đất.

“Tôi chẳng hề muốn đi thẩm sát kỹ hơn nên đi về nhà. Ngày hôm sau, đội tình nguyện của tôi, với một vài thay đổi bắt buộc mà tôi phải thực hiện để đảm bảo sức khỏe tâm thần, lại lên đường làm việc. Đến cuối tuần thì tám đội quét đường đã biến mất, tổng cộng là tám chục người Do Thái Hy Lạp, nhưng sau ngày Chúa nhật thì lại có một rắc rối mới. Người của tôi bắt đầu hết chịu nổi cái công việc quá sức này. Tình nguyện viên từ các nông trại, có lúc lên đến sáu người, giờ chỉ còn lại một. Các cảnh sát viên thị trấn than phiền thần kinh họ quá căng và khi tôi thử thúc bách họ, tôi nhận ra ngay rằng quả thực thần kinh họ đứt tới nơi rồi. Cánh nhân viên trong văn phòng tôi hoặc ngại ngần không muốn tích cực tham gia công việc hoặc bất ngờ đổ bệnh. Ngay cả tôi, một sáng nọ khi đang cạo râu, tôi nhận ra rằng sức khỏe của mình đang như treo đầu sợi chỉ.

“Tuy nhiên, tôi vẫn yêu cầu họ cố một lần cuối, thế là sáng hôm ấy, sau một quãng trì hoãn khá dài, họ lại tháp tùng thêm hai đội quét đường về phía hố trũng. Trong khi chờ họ, tôi không làm việc được. Tôi cố, nhưng không thể. Đến sáu giờ chiều, khi trời tối, họ về. Tôi nghe tiếng họ hát ngoài phố, tôi nghe tiếng họ chia tay nhau. Rõ là hầu hết bọn họ đã say. Tôi không trách họ.

“Cảnh sát trưởng, một trong các thư ký của tôi và tài xế của tôi đến phòng làm việc của tôi, tôi đang ngồi đợi họ ở đấy, chìm trong những dự cảm tối tăm cùng cực. Tôi nhớ họ ngồi (tay tài xế cứ đứng nơi cửa) và họ chẳng cần nói gì thì tôi cũng thấy ngay cái công việc họ được giao đã khiến họ kiệt quệ đến nhường nào. Ta phải làm gì đó, tôi nói.

“Đêm đó tôi không ngủ ở nhà. Tôi dạo một vòng quanh thị trấn, trong lặng lẽ, tay tài xế ngồi trước vô lăng hút một điếu thuốc tôi đưa cho. Có lúc tôi ngủ gật trên băng ghế sau, quấn mình trong chăn, mơ thấy thằng con tôi hét tiến lên! tiến lên! mãi mãi tiến lên.

“Khi thức dậy toàn thân tôi cứng đờ. Khi tôi dừng trước nhà ông thị trưởng thì đã ba giờ sáng. Ban đầu chẳng ai ra mở cửa và tôi suýt nữa đã đạp tung cửa. Rồi tôi nghe tiếng bước chân ngập ngừng. Là ông thị trưởng. Ai đó? ông hỏi, bằng cái giọng mà tôi tưởng là giọng một con chồn. Đêm đó chúng tôi nói chuyện đến tảng sáng. Ngày thứ Hai kế đó, thay vì dẫn thêm những đội quét đường ra khỏi thị trấn, cảnh sát chờ cho các cầu thủ bóng đá nhí xuất hiện. Tổng cộng mười lăm đứa.

“Tôi cho người đưa chúng đến tòa thị chính rồi tôi thân hành đến đó cùng với các thư ký và tài xế. Khi nhìn thấy chúng, xanh xao khủng khiếp, gầy gò khủng khiếp, cần bóng đá và rượu một cách khủng khiếp, tôi thấy thương hại chúng. Đứng bất động ở đó, chúng không giống những đứa trẻ, mà giống những bộ xương trẻ con, những phác họa bỏ dở, thuần là ý chí và xương.

“Tôi bảo chúng là sẽ có rượu cho hết thảy lũ chúng nó, cả bánh mì và xúc xích nữa. Không phản ứng. Tôi nhắc lại về chuyện rượu và đồ ăn và nói thêm rằng chắc cũng sẽ có thứ để chúng đem về cho gia đình. Tôi hiểu sự im lặng của chúng là đồng ý, thế là tôi cử một chiếc cam nhông chở chúng đến chỗ đất trũng, đi kèm là năm viên cảnh sát và một lô mười khẩu súng trường cùng một khẩu súng máy mà tôi được báo là luôn luôn bị hóc. Kế đó tôi gọi số cảnh sát còn lại, cùng với bốn nông dân có vũ trang mà tôi ép phải tham gia bằng không thì tôi sẽ báo cáo với Nhà nước chuyện họ thường xuyên ăn cắp, lệnh cho họ chuyển đến chỗ bãi đất trũng thêm ba đội quét đường. Tôi cũng ra lệnh ngày hôm đó không một người Do Thái nào được phép ra khỏi xưởng thuộc da cũ dù với lý do gì.

“Đến hai giờ chiều thì các cảnh sát mà hồi sáng dẫn đám người Do Thái đến chỗ bãi đất trũng quay về. Họ ăn ở quán bar nhà ga và đến ba giờ họ lại tháp tùng ba mươi người Do Thái nữa quay lại bãi đất trũng. Đến mười giờ tất cả họ quay về, những người tháp tùng, đám nhóc say túy lúy và các cảnh sát đã dẫn đám nhóc đi cũng như chỉ cho chúng cách dùng súng.

“Mọi chuyện đều êm đẹp, một thư ký của tôi nói, bọn nhóc làm hết sức hết lòng, còn những người nào muốn xem thì cứ xem, người nào không muốn xem thì bỏ đi, khi nào xong xuôi hết rồi thì trở lại. Hôm sau, tôi cho lan truyền một tin đồn giữa đám người Do Thái rằng tất cả họ đang được chuyển trại, theo từng nhóm nhỏ vì thiếu phương tiện chuyên chở, đến một trại lao động được trang bị đâu ra đó cho họ. Sau đó tôi nói chuyện với một nhóm bà mẹ Ba Lan, các bà ấy thì tôi trấn an được chẳng khó gì, và từ văn phòng mình tôi giám sát hai loạt người Do Thái mới được đưa đến bãi đất trũng, mỗi loạt hai chục người.

“Nhưng khi tuyết rơi thì rắc rối quay trở lại. Theo một trong các thư ký của tôi, không cách chi đào huyệt mới ở bãi đất trũng được cả. Tôi bảo anh ta không thể có chuyện đó được. Rốt cuộc, vấn đề nằm ở chỗ người ta đào huyệt theo chiều ngang chứ không phải theo chiều đứng, đào ngang dọc khắp cả bãi đất trũng mà lại chẳng sâu. Tôi lập một nhóm và quyết định giải quyết vấn đề ngay hôm đó. Tuyết đã vùi lấp toàn bộ dấu vết của những người Do Thái. Chúng tôi bắt đầu đào. Được một lát, tôi nghe tiếng một nông dân già tên là Barz kêu lên rằng có cái gì đó. Tôi tiến đến xem. Đúng là có gì đó thật.

“‘Tôi cứ đào tiếp nhé?’ Barz hỏi.

“‘Đừng có ngốc,’ tôi đáp, ‘lấp lại, nó như thế nào thì cứ để nguyên thế ấy.’

“Mỗi lần ai đó đào trúng cái gì đó tôi lại nhắc lại y như thế. Để nó đó. Lấp lại. Đi đào chỗ khác. Nhớ rằng vấn đề không phải làm sao để tìm ra chúng mà là làm sao để đừng tìm ra chúng. Nhưng tất tật thuộc hạ của tôi, hết người này đến người kia, cứ gặp thứ này thứ nọ và quả thật là, như thư ký của tôi đã nói, hình như dưới đáy bãi trũng kia chẳng còn chỗ nào trống nữa cả.

“Thế nhưng rốt cuộc sự kiên trì của tôi đã thắng. Chúng tôi tìm được một chỗ còn trống, thế là tôi sai toàn bộ người của tôi tập trung vào đấy mà đào. Tôi bảo họ đào sâu, đào xuống hoài, đào xuống nữa, cứ như chúng tôi đang muốn đào đến tận địa ngục, đồng thời tôi cũng chỉ đạo sao cho cái huyệt rộng như một cái bể bơi. Đêm ấy, làm việc dưới ánh đèn pin, chúng tôi làm cho chu tất công việc rồi mới về. Hôm sau, thời tiết xấu nên chúng tôi chỉ đưa được đến bãi trũng có mỗi hai chục người Do Thái. Bọn nhóc say khướt như mọi khi. Có đứa không đi nổi, đứa khác nôn ọe trên đường về. Chiếc cam nhông chở chúng thả chúng xuống nơi quảng trường chính của thị trấn, không xa văn phòng của tôi, và nhiều đứa đứng đó, dưới mái đua ban công, túm tụm vào nhau trong khi tuyết không ngừng rơi và chúng mơ đến những trận bóng đá đẫm hơi men.

“Sáng hôm sau, năm đứa trong bọn nhóc tỏ dấu hiệu bị viêm phổi còn những đứa khác, đứa nhiều đứa ít, đều trong tình trạng thê thảm, không làm việc được. Khi tôi lệnh cho cảnh sát trưởng thay bọn nhóc bằng người của chúng tôi, ban đầu ông ta ngần ngại, nhưng cuối cùng nhượng bộ. Chiều hôm đó chúng tôi thanh lý tám người Do Thái. Tôi thấy con số đó ít ỏi quá và nói thẳng ra như vậy. Có tám người thôi, nhưng cứ như đến những tám trăm người, ông ta đáp. Tôi nhìn vào mắt ông ta và tôi hiểu.

“Tôi bảo ông ta chúng ta sẽ đợi cho bọn nhóc Ba Lan hồi phục. Thế nhưng cái vận rủi đeo đẳng chúng tôi tuồng như không chịu buông tha, dù chúng tôi cố làm gì đi nữa. Hai thằng nhóc Ba Lan chết vì bệnh lao, vật vã trong một cơn sốt với những ảo giác về một trận đá banh dưới tuyết và những cái hố trắng toát nơi mà cả banh lẫn người chơi sụt xuống mất tăm. Để tỏ lòng phân ưu tôi gửi cho mẹ của hai thằng đó chút thịt xông khói và mỗi người một rổ khoai tây cà rốt. Rồi tôi đợi. Tôi để cho tuyết rơi. Tôi để cho thân tôi cứng lạnh. Một sáng nọ tôi đến chỗ bãi trũng. Tuyết ở đó mềm, thậm chí quá mềm. Trong khoảng vài giây tôi có cảm tưởng mình đang đi trên một cái đĩa kem to. Khi đến bên mép bãi trũng và nhìn xuống dưới, tôi nhận ra rằng thiên nhiên đã làm phần của mình. Tuyệt hảo. Chẳng còn dấu vết gì, toàn tuyết. Sau đó, khi thời tiết tốt lên, đội nhóc Ba Lan quay lại làm việc.

“Tôi phát biểu một bài để lên tinh thần cho chúng. Tôi bảo chúng đang làm tốt và giờ gia đình chúng có nhiều cái ăn hơn, nhiều cơ hội hơn. Chúng nhìn tôi chằm chằm chẳng nói năng gì. Tuy nhiên, trong dáng điệu chúng có thể thấy rõ sự thờ ơ uể oải đối với toàn bộ vụ này. Tôi biết rõ chúng hẳn thà nốc rượu và chơi đá banh ngoài phố còn hơn. Trong khi đó, ở quán bar nhà ga người ta chỉ nói về chuyện người Nga đang đến ngày một gần. Ai đó nói Warszawa thất thủ tới nơi rồi. Chuyện đó họ chỉ thì thào. Nhưng tôi nghe được những thì thào đó và cả tôi, tôi cũng thì thào. Toàn điềm gở.

“Một chiều nọ người ta cho tôi hay bọn nhóc nốc rượu nhiều đến nỗi chúng sụm xuống tuyết từng đứa một. Tôi mắng nhiếc chúng. Chúng xem ra chẳng hiểu tôi nói gì. Thế nào cũng được. Một hôm tôi hỏi còn lại bao nhiêu người Do Thái Hy Lạp. Nửa giờ sau một thư ký đưa tôi một bản tường trình chi tiết về mọi thứ, năm trăm người Do Thái từ phương Nam đến bằng tàu hỏa, những người đã chết dọc đường, những người đã chết tại xưởng thuộc da cũ, những người do chính chúng tôi xử lý, những người do bọn nhóc Ba Lan xử lý, vân vân. Tôi còn lại hơn trăm người Do Thái và người của tôi, các cảnh sát của tôi, những người tình nguyện của tôi và bọn nhóc Ba Lan đều kiệt sức cả rồi.

“Làm gì đây? Công việc quá sức chúng tôi. Con người sinh ra không phải để gánh vác một số việc nào đấy quá lâu, tôi tự nhủ trong khi đứng nơi cửa sổ phòng làm việc ngắm chân trời nửa hồng nửa âm u. Ít nhất là quá sức tôi. Tôi đã cố hết sức, nhưng không kham nổi. Các cảnh sát của tôi cũng không kham nổi. Mười lăm, được. Ba mươi, cũng được. Nhưng khi đến con số năm mươi thì bụng ta nhộn nhạo đầu ta quay cuồng và những đêm mất ngủ những cơn ác mộng bắt đầu.

“Tôi cho ngừng công việc. Bọn nhóc lại chơi đá banh ngoài phố. Cảnh sát quay lại làm nhiệm vụ bình thường. Nông dân quay về nông trại. Bề ngoài chẳng ai còn quan tâm đến những người Do Thái, thế nên tôi lại cho các đội quét đường làm việc và để cho một số người, không quá hai mươi, làm việc đồng áng, giao cho các nông dân chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho họ.

“Một đêm kia người ta dựng tôi dậy khỏi giường mà bảo tôi có một cuộc gọi khẩn. Đấy là một quan chức vùng Thượng Galicia mà tôi chưa hề tiếp chuyện bao giờ. Ông ta bảo tôi hãy chuẩn bị sơ tán người Đức ra khỏi vùng của tôi.

“‘Không có tàu hỏa,’ tôi bảo ông ta, ‘làm sao sơ tán tất cả được?’

“‘Đó là việc của ông,’ vị quan chức nói.

“Trước khi ông ta gác máy tôi bảo tôi đang có trong tay một nhóm Do Thái, làm gì với họ đây? Ông ta không đáp. Đường dây đã bị ngắt hoặc ông ta phải gọi cho những người khác như tôi hoặc ông ta không quan tâm đến người Do Thái. Lúc đó là bốn giờ sáng. Tôi không ngủ lại được nữa. Tôi nói với vợ chúng ta sẽ rời khỏi đây, kế đó tôi cho người gọi ông thị trưởng và ông cảnh sát trưởng. Khi tôi đến văn phòng thì họ ở đó rồi, nom như thể ngủ ít và không ngon giấc. Cả hai người đều sợ.

“Tôi trấn an họ, tôi bảo họ nếu chúng ta hành động nhanh thì sẽ chẳng ai gặp nguy hiểm cả. Sau đó chúng tôi bảo mọi người bắt tay vào việc. Trước khi mặt trời mọc những người sơ tán đầu tiên đã trên đường về phía Tây rồi. Tôi nán lại đến cuối cùng. Tôi ở lại làng thêm một ngày một đêm. Từ xa xa có thể nghe tiếng đại bác. Tôi đến xem những người Do Thái, có ông cảnh sát trưởng làm chứng, và tôi bảo họ đi đi. Đoạn tôi triệu tập hai cảnh sát đang gác và để lại đám người Do Thái trong xưởng thuộc da cũ kia, mặc số phận họ ra sao thì ra. Ấy cũng là tự do, tôi nghĩ vậy.

“Tài xế của tôi bảo anh ta có thấy vài lính Đức đi ngang mà không dừng lại. Tôi đi lên văn phòng, cũng chẳng biết là mình đang tìm gì nữa. Đêm trước tôi ngủ trên xô pha vài tiếng đồng hồ và đã đốt tất cả những gì cần đốt. Phố xá thị trấn vắng tanh, tuy vẫn có thể thấy đầu các bà các chị Ba Lan lấp ló nơi vài cửa sổ. Đoạn tôi xuống thang, vào xe và chúng tôi đi,” Sammer nói với Reiter.

♣ ♣ ♣

“Tôi là người quản trị công bằng. Tôi đã làm những việc tốt, bởi bản năng dẫn dắt, và làm những việc xấu, bởi những thăng trầm của chiến tranh thúc bách. Vậy mà giờ mấy thằng oắt nát rượu Ba Lan lại mở mồm ra nói tôi đã hủy hoại tuổi thơ của chúng,” Sammer nói với Reiter. “Tôi ư? Tôi hủy hoại tuổi thơ của chúng ư? Rượu hủy hoại tuổi thơ của chúng thì có! Bóng đá hủy hoại tuổi thơ của chúng thì có! Những bà mẹ nhác nhớm vô tích sự của chúng hủy hoại tuổi thơ của chúng thì có! Không phải tôi.”

♣ ♣ ♣

“Giá là ai khác ở địa vị tôi thì chắc đã tự tay mình giết ráo tất cả những người Do Thái ấy rồi. Tôi thì không,” Sammer nói với Reiter. “Đó không phải là bản tính của tôi.”

Một trong hai người mà Sammer thường cùng đi dạo rất lâu quanh trại tù binh là ông cảnh sát trưởng. Người kia là sếp cứu hỏa. Ông thị trưởng đã chết vì bệnh lao sau khi chiến tranh kết thúc, một đêm kia Sammer nói. Tay tài xế thì đã biến mất tại một ngã tư, khi chiếc xe ngừng chạy vĩnh viễn.

Đôi khi, chiều chiều, Reiter quan sát Sammer từ xa và anh nhận ra Sammer đến lượt mình cũng quan sát anh qua khóe mắt, cái nhìn của ông toát ra nỗi tuyệt vọng, mối bất an, và cả nỗi sợ lẫn nghi kỵ.

“Chúng ta làm những chuyện, chúng ta nói những chuyện mà về sau khiến chúng ta hối hận bằng toàn bộ tâm can,” một hôm Sammer nói với anh trong khi hai người đứng xếp hàng nhận bữa điểm tâm.

Hôm khác ông nói với anh:

“Khi cảnh sát Mỹ quay trở lại thẩm vấn tôi, tôi biết chắc họ sẽ bắt tôi và cho tôi phải bẽ mặt trước bàn dân thiên hạ.”

Mỗi khi Sammer nói chuyện với Reiter, cảnh sát trưởng và sếp cứu hỏa đứng sang một bên, cách họ một hai mét, tuồng như không muốn dính dấp vào việc của ông sếp cũ. Một sáng nọ người ta tìm thấy xác Sammer ở giữa chừng lối đi từ lán đến khu buồng xí. Ai đó đã siết cổ ông. Người Mỹ thẩm vấn chừng mười tù nhân trong đó có Reiter, anh bảo đêm đó anh chẳng nghe thấy gì khác thường, kế đó họ mang cái xác đi chôn nơi mồ tập thể tại nghĩa trang Ansbach.

♣ ♣ ♣

Khi Reiter được phép rời trại tù binh, anh đi đến Cologne. Tại đấy anh sống trong vài ba trại lính gần nhà ga, kế đó là trong một căn hầm, chung với một cựu binh của một trong các quân đoàn thiết giáp, một tay kín tiếng có một vết bỏng chạy dài một bên mặt, có thể chẳng ăn gì vẫn sống ổn mấy ngày liền, và một người nữa, ông này nói ông ta từng làm cho một tờ báo và, khác với người bạn cùng phòng, là người cởi mở và ham chuyện.

Tay cựu binh xe tăng ắt chừng ba mươi hay ba lăm tuổi còn cựu nhà báo chừng sáu chục, cả hai đôi lúc giống như con nít. Hồi thời chiến ông nhà báo có viết một loạt bài trong đó ông mô tả cuộc sống hào hùng trong một vài quân đoàn Panzer, cả ở Mặt trận phía Đông và Mặt trận phía Tây. Ông vẫn còn giữ những bài ấy, cắt trong báo ra, các bài ấy tay cựu binh xe tăng lầm lì đã có tình cờ đọc và tán thưởng. Đôi lần gã mở miệng nói:

“Otto, ông đã nắm bắt được cái cốt tủy của đời lính tăng.”

Nhà báo liền nhún vai với vẻ khiêm nhường mà đáp:

“Gustav à, phần thưởng lớn nhất cho tôi là chính cậu, một cựu lính tăng, khẳng định rằng tôi đã không hiểu lầm mọi thứ.”

“Ông chẳng hiểu lầm gì sất, Otto,” tay lính tăng đáp.

“Cảm ơn những lời tử tế của cậu, Gustav,” nhà báo nói.

Hai người thỉnh thoảng thu dọn những đống đổ nát cho chính quyền thành phố hoặc đem bán những thứ tìm thấy được bên dưới đống gạch vụn. Những khi tốt trời họ về miền quê chơi, thế là Reiter có được một hai tuần một mình chiếm trọn căn hầm. Suốt mấy ngày đầu ở Cologne anh cố tìm một tấm vé tàu để quay về làng mình. Thế rồi anh tìm được chân gác cửa cho một quán bar chuyên phục vụ lính Mỹ và Anh, được họ cho tiền boa hậu hĩ và lâu lâu lại làm đôi ba việc vặt cho họ, chẳng hạn như tìm một căn hộ ở khu nào đấy hoặc tìm gái cho họ hoặc giúp họ liên hệ với mấy tay chợ đen. Thế là anh lưu lại Cologne.

Ban ngày anh chỉ đọc và viết. Viết thì dễ, vì anh chỉ cần cuốn sổ và cây bút chì là đủ. Đọc thì khó hơn, bởi các thư viện công cộng vẫn còn đóng cửa, còn vài ba hiệu sách (hầu hết là lưu động) có thể tìm được thì toàn giá trên trời. Kể cả vậy, Reiter vẫn đọc và anh không phải người duy nhất đọc: thỉnh thoảng anh rời mắt khỏi sách ngước lên thì thấy tất cả mọi người quanh mình đều đang đọc cả. Tuồng như người Đức chẳng bận tâm đến gì hơn là đọc sách và thức ăn, nói vậy là sai nhưng thỉnh thoảng nó cũng có vẻ đúng, nhất là ở Cologne.

Trong khi đó, theo như Reiter nhận thấy, hứng thú với tính dục đã suy mòn đáng kể, tuồng như chiến tranh đã xài kiệt trữ lượng testosterone, pheromone và dục vọng của đàn ông thành ra chẳng ai còn muốn làm tình. Họ chỉ phịch gái điếm, theo như Reiter biết được qua công việc mình làm, và có những phụ nữ đi lại với quân chiếm đóng, nhưng ngay cả với những người này dục vọng thật ra chỉ là mặt nạ che đậy một thứ khác: một tấn tuồng của sự thơ ngây, một lò sát sinh đông cứng, một con phố vắng, một rạp chiếu phim. Những người đàn bà anh gặp trông như những cô gái vừa sực tỉnh khỏi cơn ác mộng kinh hoàng.

♣ ♣ ♣

Một đêm kia, anh đang đứng gác nơi cửa quán bar trên phố Spengler thì có một giọng nữ từ trong bóng tối gọi tên anh. Reiter nhìn quanh, không thấy ai, liền nghĩ chắc là một trong mấy cô gái điếm, những kẻ thường phô ra một óc hài hước kỳ quặc, đôi khi không hiểu nổi. Tuy nhiên khi người ta lại gọi tên anh lần nữa, anh nhận ra rằng đấy không phải giọng của bất cứ ai trong số các phụ nữ thường lui tới quán bar, nên liền hỏi xem giọng ấy muốn gì.

“Em chỉ muốn chào anh thôi,” giọng ấy nói.

Kế đó anh thoáng thấy một cái bóng thế là sải hai bước anh băng qua bên kia đường túm cánh tay chủ nhân của giọng nói kia, lôi cô ta ra chỗ sáng. Cô gái vừa gọi tên anh rất trẻ. Khi anh hỏi cô muốn gì ở anh, cô gái đáp cô là người tình của anh và thật tình cô rất buồn khi anh không nhận ra cô.

“Chắc em trông xấu lắm, nhưng nếu anh vẫn còn là một người lính Đức thì anh sẽ cố vờ như em không xấu,” cô nói.

Reiter chăm chú nhìn cô nhưng dù cố đến mấy anh cũng không sao nhận ra cô.

“Chiến tranh có liên quan nhiều đến chứng quên,” cô gái nói.

Đoạn cô thêm:

“Chứng quên là khi anh mất hết trí nhớ, không còn nhớ gì hết, tên của chính anh cũng không nhớ, tên của người yêu anh cũng không nhớ.”

Đoạn cô thêm:

“Còn có chúng quên có chọn lọc, là khi người ta nhớ mọi thứ hoặc đinh ninh mình nhớ mọi thứ nhưng chỉ quên một thứ duy nhất, một thứ quan trọng trong đời mình.”

Mình có biết cô này, Reiter nghe cô kia nói liền nghĩ, nhưng anh không thể nào nhớ ra mình đã quen cô ta ở đâu, trong hoàn cảnh nào. Thế nên anh quyết định tỏ ra bình thản và hỏi cô có muốn uống gì không. Cô gái nhìn cửa quán bar và sau khi ngẫm nghĩ một chút liền nhận lời. Họ ngồi uống trà nơi một bàn cạnh lối vào. Bà phục vụ hỏi Reiter con chim non này là ai vậy.

“Bạn gái tôi,” Reiter nói.

Cô gái mỉm cười với bà kia và gật đầu.

“Cô em xinh lắm,” bà kia nói.

“Và lại rất chăm làm nữa,” cô gái nói.

Bà kia cau mày như muốn nói: cô này xấc đấy. Đoạn bà ta nói: để rồi xem, rồi bỏ đi. Lát sau, Reiter dựng cổ áo va-rơi bằng da thuộc đen lên và lại đi ra ngoài cửa vì khách đã bắt đầu đến, còn cô gái lạ vẫn ngồi ở bàn, chốc chốc lại đọc vài trang của một cuốn sách song phần lớn thời gian cô nhìn những đàn ông đàn bà đang dần dần đến lấp đầy quán. Lát sau cái bà ban nãy bưng trà ra cho họ túm tay cô dẫn cô ra ngoài đường, lấy cớ thiếu bàn cho khách. Cô gái lạ thân ái chào từ biệt bà ta song bà này không trả lời. Reiter đang trò chuyện với hai lính Mỹ nên cô gái quyết định không làm phiền anh. Thay vì vậy cô băng qua đường, náu mình nơi lối vào căn nhà đối diện, đứng đó một hồi quan sát chuyển động không ngừng nghỉ của cánh cửa quán bar.

Trong khi làm việc, qua khóe mắt, Reiter nhìn ngưỡng cửa căn nhà bên kia đường và có cảm giác như thỉnh thoảng có một cặp mắt mèo sáng quắc nhìn anh từ trong bóng tối. Khi ngơi việc anh liều bước vào ngưỡng cửa ấy và suýt nữa đã gọi cô gái nhưng rồi anh nhớ ra mình không biết tên cô. Nhờ một que diêm, anh thấy cô đang nằm ngủ trong một góc. Quỳ gối, trong khi que diêm đốt sém mấy ngón tay, anh nhìn một chặp khuôn mặt đang say ngủ của cô. Và rồi anh nhớ ra cô.

♣ ♣ ♣

Khi cô thức giấc thì Reiter vẫn đang bên cô, song ngưỡng cửa đã chuyển thành một căn phòng với bầu không khí phảng phất nữ tính, với ảnh chụp các nữ diễn viên ghim trên tường và một bộ sưu tập búp bê cùng gấu nhồi trên nóc tủ con. Tuy nhiên, chất đống trên sàn là những thùng whiskey và rượu vang. Một tấm chăn chần màu lục kéo lên đến cổ cô. Ai đó đã cởi giày cho cô. Cô thấy dễ chịu đến nỗi lại nhắm mắt lại. Nhưng rồi cô nghe tiếng Reiter đang nói: em là cô gái sống trong căn hộ cũ của Hugo Halder. Không mở mắt, cô gật đầu.

“Anh không nhớ tên em,” Reiter nói.

Cô lăn tròn, xoay lưng về phía anh, và nói:

“Trí nhớ của anh thảm hại quá, tên em là Ingeborg Bauer.”

“Ingeborg Bauer,” Reiter nhắc lại, tuồng như trong hai chữ ấy ẩn tàng số phận của anh.

Rồi cô lại thiếp đi và khi thức dậy cô chỉ có một mình.

♣ ♣ ♣

Sáng hôm ấy, trong khi cùng Reiter tản bộ quanh thành phố tan hoang, Ingeborg Bauer kể với anh rằng cô sống cùng vài người lạ trong một tòa nhà gần ga xe lửa. Cha cô đã chết trong một trận ném bom. Mẹ và các em gái cô đã chạy khỏi Berlin từ trước khi thành phố bị người Nga vây hãm. Đầu tiên họ sống ở thôn quê, tại nhà một người em trai của mẹ cô, thế nhưng trái với họ hình dung, ở nhà quê chẳng có gì ăn và các cô gái thường xuyên bị mấy ông cậu và mấy thằng em họ hãm hiếp. Theo Ingeborg các cánh rừng đầy những nấm mồ nơi dân địa phương chôn xác những người từ thành phố đến, sau khi cướp bóc, hãm hiếp và giết họ.

“Em cũng bị hiếp sao?” Reiter hỏi cô.

Không, cô thì không bị, nhưng một trong các em cô bị một thằng em họ hãm hiếp, nó là một thằng nhóc mười ba tuổi muốn gia nhập Đoàn Thanh niên Hitler và chết như một người hùng. Thế nên mẹ cô quyết định cả nhà nên đi tiếp, và họ chuyển đến một thành phố nhỏ tại Westerwald, tại Hesse, vốn là quê hương bản quán của bà. Cuộc sống ở đấy buồn tẻ song đồng thời rất lạ, Ingeborg nói với Reiter như vậy, vì cư dân thành phố sống cứ như chẳng hề có chiến tranh, cho dẫu nhiều nam giới đã cùng quân đội ra mặt trận và bản thân thành phố từng phải chịu ba trận ném bom, chẳng trận nào tàn phá sạch, song dù thế nào chăng nữa vẫn là ném bom. Mẹ cô tìm được việc làm tại một xưởng bia còn mấy cô con gái làm việc này việc kia khi có khi không, phụ giúp ở các văn phòng, làm thay người ốm ở nhà máy hoặc đưa thư, và thỉnh thoảng cô út thậm chí còn có thì giờ để đến trường đi học.

Mặc cho những tới lui tất bật thường xuyên như thế, đời sống vẫn tẻ nhạt, thành thử khi hòa bình đến Ingeborg không chịu được nữa và, một sáng kia, khi mẹ và các em đi vắng, cô bỏ đến Cologne.

“Em tin chắc là ở đây sẽ gặp được anh hoặc ai đó rất giống anh,” cô nói với Reiter.

Và đấy là tất cả những gì đã xảy ra, nói chung thì vậy, kể từ cái lúc họ hôn nhau trong công viên, khi Reiter đang tìm Hugo Halder và cô kể cho anh nghe chuyện về người Aztec. Cố nhiên, Reiter chẳng mấy chốc hiểu ra rằng Ingeborg đã hóa điên, nếu không phải là lúc anh mới gặp cô thì cô đã điên rồi, và anh cũng hiểu cô đang bệnh hoặc có thể chỉ là đang đói.

Anh đưa cô vào sống cùng anh trong căn hầm, nhưng bởi Ingeborg ho suốt và xem ra phổi cô có gì đó không ổn nên anh đã tìm chỗ trọ mới. Anh tìm thấy căn gác xép sát mái của một tòa nhà sụp một nửa. Không có thang máy và một số đoạn cầu thang đã mọt, các bậc cứ trĩu dần xuống dưới sức nặng của người đi, hay những lỗ trống mở hoác ra trên khoảng không, một khoảng không nơi người ta có thể nhìn thấy hoặc đoán được phần đồ lòng của tòa nhà và các miểng bom. Nhưng cái đó chẳng vấn đề chi với họ: Ingeborg nặng có bốn mươi chín ký còn Reiter tuy cao lênh khênh nhưng lại gầy và toàn xương thế nên các bậc thang hoàn toàn có thể chịu được trọng lượng của anh. Với các khách trọ khác thì không. Một ông người vùng Brandenburg nhỏ con, dễ mến làm việc cho lực lượng chiếm đóng bị lọt qua một khe hở giữa tầng hai và tầng ba, ngã gãy cổ. Mỗi lần cái ông vùng Brandenburg gặp Ingeborg, ông đều chào cô với vẻ quan tâm và trìu mến, và lần nào cũng như lần nào đều tặng cô bông hoa cài nơi khuyết áo của ông.

Đêm đêm, trước khi đi làm, Reiter kiểm tra cho chắc rằng Ingeborg có mọi thứ cô cần, sao cho cô không phải xuống cầu thang ra phố với vỏn vẹn một cây nến cầm tay, mặc dù trong thâm tâm anh biết rằng Ingeborg (và cả anh nữa) thiếu quá nhiều thứ đến nỗi mọi phòng xa lo trước của anh là hoàn toàn vô nghĩa từ đầu. Ban đầu quan hệ giữa họ không hề có tính dục. Ingeborg đang quá yếu, việc duy nhất cô muốn làm là trò chuyện, hoặc đọc sách khi cô một mình và có đủ nến. Thỉnh thoảng Reiter làm tình với mấy cô nàng làm ở quán bar. Đấy là những cuộc giao hoan chẳng nhiệt nồng cho lắm. Ngược lại. Họ làm tình như thể đang nói chuyện bóng đá, đôi khi thậm chí miệng vẫn ngậm điếu thuốc hoặc nhai kẹo cao su Mỹ, thứ đã bắt đầu thành mốt và tốt cho hệ thần kinh, vừa nhai kẹo cao su vừa làm tình theo lối ấy, một cách vô cảm xúc, cho dẫu hành vi đó còn xa mới vô cảm xúc, mà đúng hơn là mang tính khách quan, như thể một khi lò sát sinh đã đạt đến độ trần trụi, thì mọi thứ còn lại chỉ là một thứ phường tuồng không thể nào chấp nhận.

Trước khi làm ở quán bar Reiter từng ngủ với những cô gái khác, tại những ga tàu ở Solingen hay Cologne hay ở Remscheid hay ở Wuppertal, những cô công nhân nhà máy hoặc gái quê thích được đàn ông (miễn là trông khỏe mạnh) xuất tinh vào mồm họ. Có những buổi chiều Ingeborg yêu cầu Reiter kể cho cô nghe những chuyện phiêu lưu của anh, cô gọi chúng như thế, thế là Reiter châm một điếu thuốc rồi kể cô nghe.

“Mấy cô ở Solingen ấy cho rằng trong tinh dịch có vitamin,” Ingeborg nói, “cũng như mấy cô mà anh đã chơi ở nhà ga Cologne ấy. Em hoàn toàn hiểu họ,” Ingeborg nói. “Có cả một dạo em cũng lang thang ở nhà ga Cologne, em nói chuyện với họ và làm y như họ.”

“Em cũng bú cu những người lạ, và tin rằng tinh dịch sẽ tốt cho em à?” Reiter hỏi.

“Em có làm vậy,” Ingeborg nói. “Miễn là đàn ông họ trông khỏe mạnh, miễn là họ không có vẻ đang bị ung thư hay giang mai ăn ruỗng,” Ingeborg nói. “Mấy cô gái quê lang thang ở nhà ga, mấy cô công nhân, những người đàn bà điên mất nhà hoặc trốn khỏi nhà, tất tật đều tin rằng tinh dịch là một dưỡng chất quý, chiết xuất từ mọi loại vitamin, phương thuốc tốt nhất để chữa cảm hàn,” Ingeborg nói. “Có những đêm, trước khi ngủ, co quắp trong một góc nhà ga Cologne, em nghĩ đến ả gái quê đầu tiên nảy ra cái ý này, một ý tưởng thật là ngớ ngẩn, mặc dù có một số nhà y học khả kính nói rằng chứng thiếu máu có thể chữa bằng cách uống tinh dịch định kỳ hằng ngày,” Ingeborg nói. “Nhưng em hay nghĩ đến nường gái quê kia, nường con gái tuyệt vọng đã đi đến cùng một ý tưởng ấy bằng con đường suy đoán. Em hình dung cô ta sững lặng trong thành phố im lìm, ngắm cảnh đổ nát hoang tàn của mọi thứ mà tự nhủ đây chính là hình ảnh mình vẫn luôn luôn mường tượng về thành phố. Em hình dung cô ấy siêng năng tháo vát, với nụ cười trên khuôn mặt, ai cần giúp đỡ là cô đều giúp đỡ, và tò mò nữa, cô đi khắp các phố xá quảng trường mà xây dựng lại hình hài của cái thành phố nơi mà trong thâm tâm cô vẫn hằng mong được sống. Rồi thì, có những đêm em lại hình dung cô ấy chết, vì căn bệnh nào đó, một căn bệnh không dẫn đến một cái chết đau đớn kéo dài hay một cái chết quá đột ngột. Mà là một cái chết dài vừa phải, đủ thời gian để cho cô thôi không mút dương vật nữa mà thu vào cái kén của riêng cô, vào những nỗi buồn của riêng cô.”

“Nhưng cớ sao em nghĩ rằng chỉ một cô gái nảy ra ý đó chớ không phải vài cô một lúc?” Reiter hỏi cô. “Cớ sao em nghĩ rằng ý ấy nảy ra ở một cô gái, mà lại là gái quê nữa, chớ không phải ở một thằng cha dẻo mỏ muốn được các nàng bú cho miễn phí?”

♣ ♣ ♣

Một sáng nọ Reiter và Ingeborg làm tình. Cô gái đang hâm hấp sốt và đôi chân cô, dưới bộ đồ ngủ, dường như là đôi chân đẹp nhất mà Reiter từng thấy trong đời. Ingeborg vừa tròn hai mươi còn Reiter hai mươi sáu. Từ đó trở đi họ bắt đầu làm tình mỗi ngày. Reiter thích làm tình cạnh cửa sổ, Ingeborg xoạc cẳng ngồi trên lòng anh và họ làm tình trong khi hai mắt nhìn nhau hoặc nhìn ra quang cảnh Cologne đổ nát. Ingeborg thích làm chuyện đó ở trên giường, ở đấy cô vừa khóc vừa quằn quại và lên đỉnh sáu bảy lần, hai chân cô quặp lấy đôi vai xương xẩu của Reiter, gọi anh là anh yêu của em, tình yêu của em, ông hoàng của em, người tình của em, những từ khiến Reiter bối rối, bởi anh cảm thấy những từ ấy quá ngọt ngào trong khi vào dạo đó anh đã tuyên chiến với sự ngọt ngào với sự đa cảm với sự mềm yếu và với bất cứ thứ gì hoa hoét hay giả tạo hay mít ướt, tuy nhiên anh chẳng nói gì, bởi niềm tuyệt vọng mà anh nhìn thấy trong mắt Ingeborg, niềm tuyệt vọng mà khoái lạc không thể nào xóa tan hẳn được, nó làm cho anh tê liệt tuồng như anh, Reiter, là một con chuột bị rơi vào bẫy.

Đương nhiên, họ hay cười, tuy không phải lần nào cũng do cùng một chuyện. Chẳng hạn, Reiter rất khoái chí khi ông hàng xóm người Brandenburg bị ngã qua lỗ hổng giữa các tầng. Ingeborg nói ông Brandenburg là người tốt, luôn luôn sẵn lời tử tế trên môi, với lại cô không thể quên những bông hoa mà ông vẫn tặng cô. Reiter liền cảnh báo cô rằng không nên tin những người tốt. Anh nói rằng phần lớn bọn họ là tội phạm chiến tranh đáng bị treo cổ trước mặt bàn dân thiên hạ, một hình ảnh khiến Ingeborg rùng mình ớn lạnh. Làm sao mà một người ngày nào cũng mua một đóa hoa cài vào khuyết áo lại là tội phạm chiến tranh cho được?

Ingeborg thì khác, cô lấy làm thích thú với những chuyện hoặc những tình huống trừu tượng hơn. Đôi lần cô cả cười trước những hình thù mà hơi ẩm vẽ nên trên mấy bức tường căn gác xép. Trên bề mặt vôi hay vữa cô thấy từng đoàn dài những chiếc cam nhông đang từ một thứ đường hầm nào đấy chui ra, chẳng hiểu vì lý do gì cô gọi nó là đường hầm thời gian. Lúc khác thì cô cả cười trước những con gián thi thoảng lọt vào căn xép. Hay cười mấy con chim đậu trên những hốc trang trí đã sạm đen vì mưa nắng trên những tòa nhà cao nhất mà ngắm cảnh Cologne. Đôi khi cô cười bản thân căn bệnh của mình, một căn bệnh không tên (chính điều này khiến cô tức cười hơn cả) mà hai ông bác sĩ - một ông là khách quen của quán bar nơi Reiter làm việc còn ông kia là một lão ông tóc bạc râu bạc có giọng nói rền vang đầy chất kịch trường, ông này mỗi lần đến khám là Reiter lại trả bằng một chai whiskey và theo anh ông ta chắc là tội phạm chiến tranh - đã chẩn đoán một cách mơ hồ là một thứ gì đó nằm giữa chứng rối loạn thần kinh và bệnh phổi.

Dù thế nào thì họ cũng dành nhiều giờ ở bên nhau, đôi khi nói về những đề tài trên trời dưới biển, hoặc đôi khi Reiter ngồi nơi bàn viết cuốn tiểu thuyết đầu tay trong một cuốn sổ có bìa màu mía trong khi Ingeborg nằm trên giường đọc sách. Việc quét dọn nhà cửa thường là do Reiter đảm nhận, cả đi mua sắm cũng vậy, còn Ingeborg thì nấu nướng, việc này cô làm khá ổn. Những cuộc chuyện trò sau bữa ăn của họ thường là kỳ lạ, đôi khi chuyển thành những độc thoại dài hoặc những câu mình nói mình nghe hoặc những lời tự thú.

Họ nói chuyện về sách, về thơ (Ingeborg hỏi Reiter tại sao anh không làm thơ thì anh liền đáp rằng mọi thứ thơ, dù thuộc thể loại hay phong cách nào đi nữa, đều được bao hàm hoặc có thể được bao hàm trong thể hư cấu), về tình dục (họ đã làm tình với nhau theo đủ mọi kiểu hoặc họ tin là vậy, và họ lý luận về những cách khác nhưng rồi rốt cuộc chỉ nghĩ ra được mỗi cái chết), và về cái chết. Mỗi khi cái mụ khọm già này xuất hiện, họ thường là đã ăn xong và cuộc chuyện trò đã nhạt, khi Reiter đang châm điếu thuốc với phong thái một đại tôn ông nước Phổ còn Ingeborg thì đang gọt táo bằng một con dao lưỡi ngắn cán gỗ.

Thế rồi: cả giọng của họ cũng hạ thấp xuống cho đến khi chuyển thành thì thầm. Một lần nọ Ingeborg hỏi anh đã từng giết ai chưa. Sau khi suy nghĩ một thoáng, Reiter trả lời là có. Trong khoảng mấy giây mà dường như kéo ra quá dài, Ingeborg nhìn anh chằm chằm: đôi môi mỏng dính của anh, khói bốc lên theo gò mà nhô ra của anh, cặp mắt xanh biếc, mái tóc vàng chẳng lấy gì làm sạch và có lẽ cần phải cắt, cặp tai như cậu nhóc nhà quê, cái mũi mà, ngược với cặp tai, vừa cao trội vừa quý phái, cái trán của Reiter nơi dường như có một con nhện đang bò. Vài giây trước cô còn có thể tin rằng Reiter từng giết một người nào đó, một người vô danh hồi chiến tranh, nhưng sau khi nhìn kỹ anh cô tin chắc ý anh không phải là vậy. Cô hỏi anh đã giết ai.

“Một người Đức,” Reiter nói.

Trong tâm trí bất an, luôn luôn dễ dàng rơi vào cuồng tưởng của Ingeborg, nạn nhân không thể là ai khác ngoài Hugo Halder, người trước đây thuê căn nhà của cô ở Berlin. Khi cô hỏi Reiter chuyện đó, anh cười rộ. Không, Hugo Halder là bạn của anh. Thế rồi họ lặng một hồi lâu và thức ăn thừa của bữa tối dường như đông lại trên bàn. Cuối cùng Ingeborg hỏi anh có hối tiếc không và Reiter dùng tay phác một cử chỉ hiểu theo cách nào cũng được. Đoạn anh nói:

“Không.”

Và sau một khoảng lặng dài anh thêm: đôi khi có, đôi khi không.

“Anh có biết người đó không?” Ingeborg thầm thì.

“Ai?” Reiter hỏi tuồng như anh vừa thức dậy.

“Người anh giết.”

“Có,” Reiter nói, “bảo là có cũng được. Anh với người ấy nằm cạnh nhau nhiều đêm, nói chuyện nhiều.”

“Là đàn bà à?” Ingeborg thầm thì.

“Không, không phải đàn bà,” Reiter nói, đoạn bật cười, “là đàn ông.”

Ingeborg cũng cả cười. Đoạn cô bắt đầu nói về chuyện một số đàn bà bị cuốn hút bởi những gã đàn ông từng giết đàn bà. về sự trìu mến dành những kẻ giết đàn bà, từ những ả điếm chẳng hạn, hay những người đàn bà sẵn sàng yêu vô độ. Theo Reiter những người đàn bà đó thảy đều mắc chứng động kinh. Nhưng Ingeborg thì khác, cô bảo mình biết rõ những người đàn bà đó, họ chỉ là đang chơi bạc mà thôi, ít nhiều giống những người chơi bạc rồi sẽ tự sát khi tối muộn hoặc là giống những kẻ ngồi đồng ở trường đua ngựa mà sớm muộn cũng sẽ tự sát trong mấy căn phòng trọ tồi tàn hoặc những khách sạn mất hút trong ngõ hẻm nơi chỉ có đám xã hội đen và dân Tàu mới thường xuyên lui tới.

“Thỉnh thoảng, khi tụi mình đang làm tình mà anh túm cổ em, em cứ nghĩ anh là một người từng giết đàn bà,” Ingeborg nói.

“Anh chưa hề giết người đàn bà nào cả,” Reiter nói. “Thậm chí anh còn chưa bao giờ nghĩ tới chuyện đó.”

♣ ♣ ♣

Họ chẳng nói gì thêm về chuyện đó, mãi tới một tuần sau.

Reiter bảo cô rằng có thể cảnh sát Mỹ và cả cảnh sát Đức đang truy tìm anh hoặc tên anh có trong một danh sách nghi phạm. Anh nói: kẻ mà anh đã giết có tên là Sammer, là một kẻ đã giết nhiều người Do Thái. Vậy thì anh chẳng phạm tội ác nào hết, cô dạm nói vậy, nhưng Reiter không cho cô nói.

“Đầu đuôi chuyện này xảy ra ở một trại tù binh,” Reiter nói. “Anh không biết Sammer nghĩ anh là ai, nhưng ông ta cứ kể cho anh hết chuyện này đến chuyện kia. Ông ta lo cảnh sát Mỹ sẽ thẩm vấn ông ta. Để phòng xa, ông ta đổi tên. Ông ta tự gọi mình là Zeller. Nhưng theo anh thì cảnh sát Mỹ không phải đang tìm Sammer. Họ cũng chẳng tìm Zeller. Đối với người Mỹ thì Zeller và Sammer là hai công dân Đức hoàn toàn nằm ngoài mọi tình nghi. Người Mỹ đang tìm những tội phạm chiến tranh khét tiếng cơ, mấy kẻ trong những trại giết người, sĩ quan SS, mấy con cá bự trong đảng Quốc xã. Mà Sammer thì chỉ là một quan chức tầm tầm thôi. Người ta thẩm vấn anh. Họ hỏi anh biết gì về ông ta, ông ta có nói cho anh về những kẻ thù trong số các tù nhân khác hay không. Anh nói rằng anh chẳng biết gì hết, rằng Sammer chỉ nói về thằng con của ông ấy bị chết ở Kursk và về chứng nhức nửa đầu của vợ ông ấy thôi. Họ nhìn hai bàn tay anh. Mấy người cảnh sát ấy trẻ, họ chả có thì giờ đặng mà tiêu phí trong một trại tù binh. Nhưng họ không tin anh. Họ ghi lại tên anh vào sổ rồi lại thẩm vấn anh lần nữa. Họ hỏi anh có từng là đảng viên đảng Quốc xã không, anh có biết nhiều tay nazi không, gia đình anh làm gì và sống ở đâu. Anh cố trung thực, trả lời đâu ra đó. Anh xin họ giúp anh tìm bố mẹ anh. Thế rồi trại tù binh bắt đầu vắng dần trong khi có những tốp mới đến. Nhưng anh vẫn không được thả. Một bạn tù cho anh biết người ta canh gác cho có mà thôi. Mấy tay lính da đen toàn nghĩ những chuyện khác nên chả để tâm đến bọn anh cho lắm. Một sáng nọ, giữa một lần chuyển tù binh, anh chuồn chả khó khăn gì.

“Suốt một dạo anh lang thang từ thành phố này đến thành phố khác. Anh đã ở Koblenz. Anh làm việc ở những hầm mỏ đang bắt đầu mở lại. Ăn chả đủ no. Anh có cảm tưởng như hồn ma Sammer đang dính sát gót anh. Anh cũng nghĩ đến chuyện đổi tên. Cuối cùng anh đến Cologne và anh nghĩ tất cả những gì có thể xảy ra với anh đều đã xảy ra rồi và cứ để cho mình bị linh hồn bẩn tưởi của Sammer ám mãi là thậm vô ích. Có lần anh bị người ta bắt. Quân cảnh đến điệu vài người trong đó có anh về đồn. Họ tìm tên anh trong hồ sơ nhưng không thấy gì, nên lại để cho anh đi.

“Dạo đó anh làm quen một bà già bán thuốc lá và hoa ở quán bar. Thỉnh thoảng anh mua một hai điếu thuốc và anh luôn luôn cho bà ta vào, chẳng gây khó dễ gì. Bà già cho anh biết rằng hồi chiến tranh bà làm nghề chiêm tinh bói toán. Một đêm nọ bà ta nhờ anh đưa về nhà. Bà ta sống trên phố Regina, trong một căn hộ to đầy cứng đồ đạc đến nỗi khó mà đi lại được. Một trong các phòng trông như là phòng kho của một cửa hiệu quần áo. Anh sẽ giải thích nhanh thôi, về đến nơi bà ta rót hai ly rượu brandy rồi ngồi vào bàn lấy ra một bộ bài. Tôi sẽ đoán vận mệnh cho cậu, bà ta nói. Anh thấy có mấy cái hộp đầy sách. Anh nhớ anh có rút ra bộ toàn tập tác phẩm của Novalis và Judith của Friedrich Hebbel, và trong khi anh lật lật mấy cuốn ấy thì bà già nói rằng anh từng giết một người, vân vân. Vẫn cái chuyện ấy.

“‘Tôi từng là lính,’ anh nói.

“‘Ở đây có ghi rằng hồi chiến tranh cậu nhiều lần suýt giết người nhưng rồi cậu chẳng giết ai, vậy là đáng khen lắm,’ bà ta nói.

“Rõ đến thế kia sao? anh nghĩ. Rõ đến thế rằng mình là kẻ giết người sao? Cố nhiên, anh thì không cảm thấy mình là kẻ giết người.

“‘Già khuyên cậu thay tên đổi họ,’ bà già nói. ‘Làm theo già đi. Già từng làm chiêm tinh cho nhiều sếp SS cộm cán, già biết mình nói gì mà. Đừng có phạm cái sai lầm kinh điển như mấy cuốn tiểu thuyết trinh thám Anh.’

“‘Ý bà là sao?’ anh nói với bà ta.

“‘Già nói đây là về tiểu thuyết trinh thám Anh,’ bà già nói, ‘mấy cuốn tiểu thuyết trinh thám Anh gây nghiện trước tiên lây nhiễm sang tiểu thuyết trinh thám Mỹ rồi sau đó sang tiểu thuyết trinh thám Pháp và Đức và Thụy Sĩ.’

“‘Nhưng sai lầm đó là thế nào?’ anh hỏi bà ta.

“‘Một thứ niềm tin,’ bà già nói, ‘cái niềm tin có thể tóm gọn trong vài từ: kẻ giết người luôn luôn quay lại hiện trường.’

“Anh đã cười rộ.

“‘Chớ cười,’ bà già nói. ‘Nghe lời già đi, bởi vì già là một trong số hiếm hoi những người ở Cologne này thực sự quan tâm đến cậu.’

“Anh thôi cười. Anh đề nghị bà ta bán cho anh cuốn Judith và toàn tập của Novalis.

“‘Cậu có thể giữ chỗ sách ấy, mỗi lần đến gặp già cậu có thể lấy đi hai cuốn sách,’ bà già nói, ‘nhưng giờ cậu hãy để tâm đến một điều quan trọng hơn nhiều so với văn chương. Cậu phải thay tên đổi họ. Cậu không bao giờ được quay lại hiện trường. Cậu phải rứt tung xiềng xích. Cậu đã hiểu chưa?’

“‘Hiểu chút chút,’ anh nói, mặc dù thật ra điều duy nhất anh hiểu, và hiểu một cách rất ư sung sướng, là cái vụ tặng không sách.

“Kế đó bà già bảo anh rằng mẹ anh còn sống và đêm nào cũng nghĩ đến anh và em gái anh cũng còn sống và sáng nào chiều nào đêm nào nó cũng nằm mơ thấy anh và các sải chân anh, giống như sải chân của một người khổng lồ, vang vọng trong trí óc em gái anh. Về ba anh thì bà ta chẳng nói gì.

“Rồi trời bắt đầu sáng và bà già nói:

“‘Già nghe tiếng một con họa mi hót.’

“Sau đó bà già bảo anh theo bà ta vào một căn phòng đầy quần áo, giống như phòng của một tay chuyên nhặt giẻ rách, đoạn bà ta bới trong núi quần áo một hồi cho đến khi đắc thắng chui ra với một cái áo khoác da màu đen và bà ta nói:

“‘Cái áo này là cho cậu, nó đã chờ cậu suốt bao lâu nay, từ khi chủ cũ của nó chết.’

“Anh cầm lấy cái áo mặc thử thì quả thật vừa in, cứ như nó được làm ra cho anh.”

♣ ♣ ♣

Sau đó Reiter hỏi bà già rằng chủ cũ của cái áo là người thế nào, tuy nhiên về điểm này các câu trả lời của bà già đầy mơ hồ và mâu thuẫn.

Có lần bà ta kể rằng cái áo từng là của một đặc vụ Gestapo còn một lần khác bà ta nói nó từng thuộc về một người tình của bà ta, một đảng viên cộng sản đã chết trong trại tập trung, và thậm chí có lần bà nói rằng chủ trước của chiếc áo là một gián điệp người Anh, gián điệp đầu tiên (và duy nhất) của Anh từng nhảy dù xuống vùng phụ cận Cologne vào năm 1941 để khảo sát địa hình nhằm chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy trong tương lai của công dân thành Cologne, một dự đồ mà số ít những công dân Cologne thực thụ từng có dịp được nghe ông ta nói đều thấy hồ nghi, bởi theo phán đoán của công dân Cologne và của công dân toàn châu Âu lúc đó thì nước Anh đã bại trận rồi, và cho dẫu tay điệp viên này theo bà già nói không phải người Anh mà là người Scotland, song chẳng ai coi trọng ông ta hết, nhất là khi số ít những người có cơ hội gặp ông ta nhìn thấy ông ta uống rượu (ông ta uống rượu như một tay Cô-dắc cho dù tửu lượng của ông ta thật là đáng phục: mắt ông ta mờ đi và mắt ông ta lướt dọc theo cặp đùi các ả đàn bà tuy nhiên ông ta vẫn giữ được lời lẽ khúc chiết đâu ra đó và một phong tư lịch lãm lạnh lùng, những thứ mà các công dân Cologne chống phát xít và trung thực đã gặp ông ta cho là dấu hiệu rõ ràng của một tính cách can trường vũ dũng, những phẩm chất chỉ càng làm tăng thêm sức quyến rũ ở ông), và dầu sao thì năm 1941 cũng không phải là thời điểm chín muồi.

Tay gián điệp người Anh này bà chiêm tinh chỉ gặp có hai lần, theo bà ta nói với Reiter thì vậy. Lần đầu bà ta cho ông ta ăn ở tại nhà mình và xem tử vi cho. Vận may về phía ông ta. Lần thứ hai và lần cuối thì bà ta chu cấp cho ông ta quần áo và giấy tờ, bởi lúc ấy ông người Anh (hay người Scotland) đang trở về Anh. Đó chính là lúc ông ta để lại chiếc áo khoác. Tuy nhiên, những lần khác thì bà già chẳng muốn nghe một câu nào về tay gián điệp. Mộng mị, bà nói, hư cấu, huyễn ảnh xuẩn ngốc, những tưởng tượng của một bà già tuyệt vọng. Đoạn bà nhắc lại rằng cái áo từng là của một đặc vụ Gestapo, một trong những người mà vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945 đã dò được tung tích và xử tội những kẻ đào ngũ đang lấy lại hơi sức (tạm nói là vậy) ở thành phố Cologne cao nhã.

♣ ♣ ♣

Sau đó sức khỏe của Ingeborg tệ đi và một bác sĩ người Anh nói với Reiter rằng cô gái này, người con gái xinh đẹp đầy quyến rũ này có lẽ chỉ còn sống được thêm hai ba tháng nữa thôi, nói đoạn ông đăm đăm nhìn Reiter, trong khi anh chẳng nói gì chỉ sụt sùi khóc, tuy kỳ thực không phải ông nhìn Reiter mà là nhìn cái áo khoác da đen mà anh đang mặc, nhìn bằng con mắt của một tay buôn đồ lông thú hay một anh thợ thuộc da, và cuối cùng, trong khi Reiter vẫn khóc, ông hỏi anh mua cái áo ở đâu, mua cái gì ở đâu? cái áo khoác, à, mua ở Berlin, Reiter nói dối, ở một cửa hàng tên là Hahn & Forster, anh nói, thế là ông bác sĩ liền bảo cửa hàng đồ lông thú Hahn & Forster hoặc những người kế tục họ hẳn đã được gợi ý từ những áo khoác bằng da của Mason & Cooper, những nhà sản xuất áo khoác của Manchester, họ cũng có một chi nhánh ở London, vào năm 1938 họ đã làm ra một cái áo giống hệt cái mà Reiter đang mặc đây, tay áo y hệt, cổ áo y hệt, số cúc áo cũng y hệt nốt, nghe đoạn Reiter trả lời bằng một cái nhún vai và lấy tay áo quệt nước mắt đang chảy dọc theo hai má, thấy vậy ông bác sĩ mủi lòng bước tới một bước đặt tay lên vai anh mà nói cả ông cũng có một cái áo da như thế, giống như áo của Reiter, chỉ có điều nó là của Mason & Cooper còn của Reiter thì là của Hahn & Forster, mặc dù theo ông ta, và lời ông ta thì Reiter có thể tin bởi ông là người sành sỏi, một tay cuồng áo khoác da, thì hai áo ấy sờ tay vào thấy y như một, cả hai có vẻ đều từ cùng một lô da thuộc mà Mason & Cooper dùng hồi năm 1938 để làm ra cái áo của anh, cả hai đúng là những tác phẩm nghệ thuật, những tác phẩm nghệ thuật không thể lặp lại được, bởi vì cho dẫu nhà Mason & Cooper vẫn còn đang hoạt động, nhưng ông Mason, là ông bác sĩ nghe nói vậy, đã chết hồi chiến tranh trong một vụ ném bom, không phải chết vì bom, ông vội vã giải thích ngay, mà chết vì tim yếu, một trái tim không chịu nổi việc chạy nháo nhào xuống hầm trú ẩn hay hồi còi báo động, âm thanh của sự hủy diệt và những tiếng nổ, hay có thể tiếng còi rền rĩ, ai mà biết được, dù gì thì ông Mason cũng đã lên cơn đau tim không qua nổi và từ đó trở đi nhà Mason & Cooper bắt đầu hơi đi xuống không chỉ về sản lượng mà còn về chất lượng, mặc dù có lẽ nói vậy là hơi cường điệu, hơi quá khắt khe, ông bác sĩ nói, bởi vì chất lượng của Mason & Cooper đã và sẽ vẫn là không chê vào đâu được, nếu không phải trong chi tiết thì trong thần thái, (nếu ta có thể dùng từ đó được) của các mẫu mã mới, trong cái gì đó vô hình vô dạng nó khiến cho một chiếc áo khoác da trở thành một công trình mỹ nghệ, tác phẩm nghệ thuật đi cùng lịch sử song cũng có thể đi ngược chiều lịch sử, tôi không biết nói vậy anh có hiểu tôi không, ông bác sĩ nói, chừng đó Reiter liền cởi áo khoác đặt vào tay ông, ông muốn xem bao nhiêu cũng được, anh nói trong khi ngồi xuống một trong hai cái ghế trong phòng và tiếp tục khóc, để lại ông bác sĩ đứng trơ đó với cái áo khoác vắt trên tay và chỉ khi đó ông mới dường như sực tỉnh khỏi giấc mơ về áo khoác da mà nói được đôi ba từ an ủi hoặc đôi ba từ gắng sức hợp thành một câu an ủi, dẫu ông biết không gì có thể làm nguôi bớt nỗi đau của Reiter, sau đó ông choàng cái áo khoác lên vai Reiter rồi lại nghĩ rằng cái áo khoác này, áo khoác của tay gác cửa một quán bar ở khu đèn đỏ thành Cologne, lại giống y như áo của ông, làm cho có lúc ông ngỡ đâu là của mình, chỉ hơi sờn cũ hơn một tí, làm như cái áo của chính ông đã bay từ tủ áo của ông trên một con phố ở London và đã băng qua biển Manche qua miền Bắc Pháp chỉ với mục đích duy nhất là để gặp lại ông, chủ nhân của nó, một bác sĩ quân y người Anh sống một đời phóng túng bê tha, một bác sĩ chữa miễn phí cho những người cơ cực bần hàn miễn sao những người cơ cực bần hàn ấy là bạn bè ông, hay ít nhất là bạn của bạn, và thậm chí trong một thoáng ông còn nghĩ gã trai trẻ người Đức đang khóc lóc kia đã nói dối ông, không phải hắn đã mua cái áo ở Hahn & Forster, mà cái áo da thuộc đen này là hàng Mason & Cooper xịn, mua ở London, ngay tại nhà Mason & Cooper, nhưng nói gì thì nói, cuộc đời về cơ bản là bí ẩn, ông bác sĩ nghĩ vậy trong khi giúp anh Reiter đang nước mắt lưng tròng kia mặc áo khoác (sờ vô thấy khác biết bao, dễ chịu biết bao, quen thuộc biết bao).

♣ ♣ ♣

« Lùi
Tiến »