2666

Lượt đọc: 819 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN NĂM (A)
phần về archimboldi

Nhưng với anh lính Reiter thì còn những bất ngờ khác nữa. Lúc sáng tinh mơ anh cảm thấy có ai đang lay mình. Anh mở mắt ra. Đó là Kruse. Không luận nổi Kruse đang nói cái gì, những lời mà gã đang thì thầm vào tai anh, anh liền túm cổ gã mà siết. Một bàn tay khác đặt lên vai anh. Đó là chiến hữu Neitzke.

“Đừng làm đau hắn, đồ ngu,” Neitzke nói.

Reiter buông cổ Kruse ra và lắng nghe lời đề nghị. Đoạn anh nhanh chóng mặc quần áo rồi đi theo họ. Họ rời khỏi tầng hầm dùng làm khu phòng ngủ và rẽ vào một hành lang dài nơi mà Wilke, một chiến hữu khác đang chờ họ. Wilke là một tay nhỏ thó, cao không quá mét năm tám, mặt choắt và cặp mắt thông minh. Khi cả bọn gặp anh ta họ liền bắt tay nhau, bởi Wilke là người kiểu cách và các chiến hữu biết rằng với anh ta thì cứ theo đúng thể thức cho lành. Sau đó họ leo một cầu thang và mở một cánh cửa. Căn phòng mà họ bước vào vừa trống trơn vừa lạnh lẽo, tuồng như Dracula vừa từ đó bước ra. Chỉ có một tấm gương cũ treo trên tường đá, Wilke nhấc nó ra để lộ một lối đi bí mật. Nietzke rút ra một đèn pin đưa cho Wilke.

Họ đi khoảng hơn mười phút, đi lên rồi đi xuống những cầu thang đá, chẳng biết mình đang ở trên chót đỉnh tòa lâu đài hay đã quay lại tầng hầm theo một đường khác. Lối đi cứ khoảng mười phút lại tẽ hai, và Wilke dẫn đầu bị lạc đến mấy lần. Vừa đi Kruse vừa thì thào rằng mấy hành lang này có gì đó là lạ. Mọi người hỏi cái gì lạ thì Kruse đáp rằng không có chuột. Càng tốt, Wilke nói, tớ ghét chuột. Reiter và Neitzke đồng tình. Tớ cũng không ưa chuột, Kruse nói, nhưng ở trong các hành lang của một lâu đài, nhất là lâu đài cổ thì lúc nào cũng có chuột, vậy mà ở đây ta chưa gặp một con nào hết. Những người kia trầm ngâm im lặng trước nhận xét của Kruse và sau một hồi họ nói: quả là tinh tường thật. Quả rất lạ khi họ không thấy một con chuột nào. Cuối cùng họ dừng lại và soi đèn pin đằng sau rồi đằng trước, soi lên trần hành lang rồi soi sàn hành lang uốn lượn ngoằn ngoèo về phía xa như một cái bóng. Chẳng thấy chuột đâu. Càng tốt. Họ châm bốn điếu thuốc rồi mỗi người tả mình sẽ làm tình với nữ nam tước Von Zumpe theo lối nào. Sau đó họ tiếp tục đi trong im lặng cho đến khi bắt đầu đổ mồ hôi và Neitzke nói hắn không thở được nữa.

Chừng đó họ quay trở lại, Kruse dẫn đường, và chẳng bao lâu họ đến chỗ căn phòng có tấm gương, ở đấy Neitzke và Kruse chào rồi đi. Sau khi chia tay các bạn, Wilke và Reiter quay lại mê cung, song lần này họ chẳng nói gì, để tiếng thì thào của họ không làm họ rối trí thêm nữa. Wilke nghĩ mình nghe thấy tiếng bước chân, những bước chân lướt đằng sau anh ta. Reiter vừa đi vừa nhắm mắt một hồi. Khi đã sắp sửa không còn hy vọng gì, họ tìm thấy cái đang tìm: một lối ngách, rất hẹp, len xuyên qua các bức tường đá, những bức tường thoạt nhìn có vẻ dày nhưng kỳ thực rỗng, trên đó có những lỗ hổng hay những kẽ hở nhỏ xíu cho phép ta nhìn thấy gần như trọn vẹn những căn phòng ở phía bên kia.

Thế là họ nhìn được vào trong phòng của viên sĩ quan SS được thắp sáng bằng ba cây nến, và họ thấy viên sĩ quan đang thức, mình quấn áo choàng, ngồi viết gì đó nơi bàn bên lò sưởi. Vẻ mặt ông ta trông sầu não. Và tuy chỉ có vỏn vẹn chừng đó để xem, Wilke và Reiter vỗ lưng nhau, bởi chỉ đến lúc đó họ mới biết chắc mình đang đi đúng hướng. Họ tiến lên.

Họ sờ soạng tìm ra những lỗ thủng khác. Những căn phòng được trăng soi hoặc chìm trong bóng tối, ở đó, nếu áp tai vào lỗ thủng xoi trên tường đá, họ có thể nghe thấy tiếng ngáy hay tiếng thở dài của một người đang ngủ. Phòng sáng đèn kế tiếp là của tướng Von Berenberg. Chỉ một đèn cầy duy nhất, cắm nơi giá nến đặt trên bàn ngủ, ngọn lửa lắt lay như thể có ai đã mở toang ô cửa sổ rộng thênh, tạo ra những bóng đen và những dáng hình ma quái mà ban đầu che giấu nơi vị tướng đang quỳ cầu nguyện dưới chân chiếc giường to có màn trướng. Khuôn mặt Von Berenberg đang rúm ró, Reiter nhận thấy như vậy, tuồng như ông ta đang phải mang trên vai một gánh nặng khổng lồ, dứt khoát không phải sinh mạng của binh lính dưới trướng ông, cũng không phải sinh mạng của gia đình ông, thậm chí chẳng phải sinh mạng của chính ông, mà là gánh nặng của lương tâm ông, điều này Reiter và Wilke nhận rõ trước khi cả hai rời lỗ nhòm ấy, cảm thấy sửng sốt hoặc kinh hoàng.

Cuối cùng, sau khi băng qua những điểm quan sát khác chìm sâu trong bóng tối và giấc ngủ, họ tới được đích đến thực sự của mình, phòng của nữ nam tước Von Zumpe, một căn phòng được thắp sáng nhờ chín ngọn đèn cầy và ngự trên cao là chân dung một người lính hoặc một chiến binh-tu sĩ mang phong thái tập trung cao độ và dàu dàu khổ sở của một ẩn giả. Trên gương mặt cách một mét phía trên giường, người ta có thể quan sát thấy tất cả những phiền não của sự chay tịnh, sự ăn năn và sự xả kỷ.

Bên dưới một người đàn ông trần truồng có cơ man nào là lông ở phần lưng trên và hai chân, họ thoáng thấy nữ nam tước Von Zumpe, những lọn tóc xoăn vàng óng và một phần vầng trán trắng như trứng gà bóc của nàng chốc chốc nhô ra từ dưới vai trái của người đang cưỡi trên nàng. Những tiếng kêu của nữ nam tước thoạt tiên khiến Reiter lo lắng, phải một hồi sau anh mới hiểu đó là những tiếng kêu khoái lạc chứ không phải đau đớn. Khi cuộc truy hoan kết thúc, tướng Entrescu dậy khỏi giường và họ thấy ông ta đi về phía cái bàn trên đó đặt một chai vodka. Dương vật ông ta, mà nơi đầu mút vẫn nhỏ một lượng tinh dịch không hề ít, vẫn đang cương hoặc nửa cương và chắc phải dài tới ba mươi xentimét, về sau Wilke nhớ lại, thầm tính bằng mắt không sai lấy một ly.

Thằng cha không mấy giống người, thằng cha giống ngựa, Wilke kể cho các chiến hữu nghe như vậy. Và thằng cha cũng dai sức như ngựa, bởi vì sau khi nốc chút vodka ông ta lại quay về giường nơi nữ nam tước Von Zumpe đang lơ mơ ngủ và sau khi sửa lại tư thế của nàng ông ta liền chơi nàng lần nữa, đầu tiên thì nhẹ nhàng như thể nằm im, nhưng về sau thì dữ dội đến nỗi nữ nam tước đang nằm sấp phải cắn lòng bàn tay mình đến bật máu để khỏi hét lên. Đến chừng đó thì Wilke đã mở khóa quần và đang thủ dâm, tì người vào tường. Reiter nghe anh ta rên ở cạnh mình. Thoạt tiên anh nghĩ chắc là một con chuột đang hấp hối đâu đây. Một con chuột non. Nhưng khi thấy dương vật của Wilke và bàn tay Wilke đang chuyển động tới lui thì anh đâm tởm và thúc cùi chỏ vào ngực anh ta. Wilke tuyệt không quan tâm mà tiếp tục thủ dâm. Reiter nhìn mặt anh ta: mặt Wilke nhìn nghiêng thấy rất lạ. Nó giống như bức tranh khắc một công nhân hoặc thợ thủ công, một người qua đường ngây thơ vô tội bị một tia sáng trăng làm lóa mắt. Anh ta có vẻ như đang mơ hoặc, nói đúng hơn, đang tức thời xuyên phá qua những bức tường đen sừng sững ngăn giữa thức và mơ. Thế là anh để yên cho anh ta và một lát sau cả anh cũng bắt đầu sờ chính mình, thoạt tiên rón rén, ở ngoài quần, sau đó thì thẳng thừng lôi dương vật mình ra và nương theo nhịp điệu của tướng Entrescu và nữ nam tước Von Zumpe, giờ thì nàng không còn cắn tay mình nữa (một vết máu đã loang ra trên ga giường cạnh đôi má nàng mướt mồ hôi), giờ nàng vừa khóc vừa nói những lời mà vị tướng không hiểu và cả họ cũng không, những lời vượt ra ngoài nước Rumani, vượt ra ngoài nước Đức và châu Âu, vượt ra ngoài một trang ấp tư nhân, vượt ra ngoài tình bạn mơ hồ, vượt ra ngoài những gì mà họ, Wilke và Reiter, còn tướng Entrescu có lẽ là không, thường cho là tình yêu, là dục vọng, là tính dục.

Sau đó Wilke đến cạnh tường và cũng lẩm bẩm gì đó, lời cầu nguyện của lính, và chẳng bao lâu sau Reiter đến cạnh tường và cắn môi không nói lời nào. Thế rồi Entrescu đứng dậy, và họ thấy, hoặc nghĩ là đã thấy, những giọt máu trên dương vật ông ta ngời sáng với tinh dịch và âm thủy, thế rồi nữ nam tước xin một ly vodka, rồi họ thấy Entrescu và nữ nam tước đứng quấn nhau, mỗi người cầm ly vodka của mình với vẻ lơ đãng, và sau đó Entrescu đọc một bài thơ bằng tiếng nước mình, nữ nam tước không hiểu nhưng nhạc tính của nó thì nàng ca ngợi, rồi sau đó Entrescu nhắm mắt nghiêng đầu tuồng như đang lắng nghe gì đó, âm nhạc của những tinh cầu, rồi sau đó ông ta mở mắt và ngồi xuống bên bàn rồi đặt nữ nam tước ngồi lên trên dương vật ông ta đã lại cứng thêm lần nữa (cái dương vật lừng danh dài ba chục xentimét, niềm kiêu hãnh của quân đội Rumani), và những tiếng hét tiếng rên tiếng khóc lại bắt đầu, và mỗi khi nữ nam tước thụt xuống vào dương vật của Entrescu hoặc mỗi khi dương vật của Entrescu ưỡn lên thọc vào trong nữ nam tước Von Zumpe, ông tướng Rumani lại đọc một bài thơ mới, vừa đọc vừa kèm theo bằng những động tác của cả hai tay (nữ nam tước bấu chặt cổ ông), một bài thơ mà một lần nữa chẳng ai trong bọn họ hiểu ngoại trừ chữ Dracula cứ bốn dòng lặp lại một lần, một bài thơ có thể là thơ hành quân có thể là thơ châm biếm có thể là thơ siêu hình có thể là thơ cẩm thạch và thậm chí có thể là thơ chống Đức, song nhịp điệu của nó như thể là dành riêng cho cái dịp này, bởi vì nữ nam tước trẻ tuổi, ngồi xoạc chân trên cặp đùi của Entrescu, tán dương nó bằng cách đong đưa người từ trước ra sau, giống như một ả chăn cừu nhỏ phát rồ giữa mênh mông châu Á, vùi các móng tay vào cổ người tình, chùi máu vẫn còn dính trên bàn tay phải vào mặt người tình, bôi máu nhòe nhoẹt lên môi y ta, trong khi Entrescu vẫn điềm nhiên tiếp tục đọc bài thơ trong đó cứ mỗi bốn dòng lại vang lên chữ Dracula, bài thơ nhất định là thơ châm biếm, Reiter kết luận (với một niềm vui khôn tả) trong khi Wilke lại xóc lọ lần nữa.

Khi mọi chuyện xong rồi, mặc dù với Entrescu không bao giờ biết mệt và nữ nam tước không bao giờ biết mệt kia thì còn lâu mới xong, họ lặng lẽ quay trở lại qua các hành lang bí mật, lặng lẽ dịch tấm gương về chỗ cũ, lặng lẽ bò xuống trại binh dã chiến dưới lòng đất và lặng lẽ chuồi vào giường cạnh súng và đồ lề của mình.

♣ ♣ ♣

Sáng hôm sau phân đội rời tòa lâu đài sau khi hai chiếc xe chở khách khứa đã đi khỏi. Duy chỉ viên sĩ quan SS ở lại với họ trong khi họ quét tước, lau rửa, dọn dẹp mọi thứ. Thế rồi, khi viên sĩ quan đã hoàn toàn hài lòng, y ra lệnh họ lên đường và phân đội leo lên xe tải trở lại đồng bằng. Nơi lâu đài chỉ còn lại mỗi chiếc xe của viên sĩ quan SS, lạ một điều là không người lái. Trong khi xe chạy xa dần, Reiter thấy viên sĩ quan: y đã trèo lên tường thành có lỗ châu mai nhìn phân đội ra đi, rướn cổ mỗi lúc một xa, nhón chân, cho tới khi một bên là lâu đài một bên là xe tải đều biến khỏi tầm nhìn.

♣ ♣ ♣

Trong khi đồn trú ở Rumani, Reiter xin nghỉ phép được hai lần, cả hai lần anh đều về thăm cha mẹ. Về làng, anh nằm suốt ngày trên bờ biển đá mà ngắm biển, nhưng không thiết tắm lại càng không thiết lặn, hoặc anh đi bộ rõ lâu trên cánh đồng mà kiểu gì rồi cũng dừng lại nơi ngôi nhà tiên tổ của nam tước Von Zumpe, nay trống vắng và tiều tụy hơn, được người gác rừng già cả trông nom, thi thoảng anh dừng chân trò chuyện với người này, tuy những cuộc trò chuyện ấy, nếu có thể gọi bằng từ này được, hầu hết chỉ gây nên nỗi chán chường. Reiter, về phần mình, hỏi han về nữ nam tước (kỳ thực là hỏi về cô nam tước, ở vùng này người ta quen gọi cô như vậy) và người gác rừng nhún vai. Cái nhún vai có thể hàm nghĩa rằng ông không biết mà cũng có thể hàm nghĩa rằng thực tại ngày càng mờ mịt, giống với giấc mơ hơn, hoặc rằng mọi sự càng ngày càng tệ và tốt nhất là chớ hỏi gì mà hãy chuẩn bị sẵn lòng nhẫn nại.

Anh cũng dành nhiều thời gian bên đứa em gái Lotte bấy giờ lên mười và rất yêu quý ông anh. Sự đắm đuối hết mình này khiến Reiter cả cười và đồng thời khiến anh buồn, khiến anh chìm trong những ý nghĩ ảm đạm trong đó mọi thứ không có nghĩa lý gì, tuy rằng anh cẩn thận không đi đến quyết tâm nào bởi anh tin chắc sớm muộn rồi mình cũng sẽ hết đời vì một viên đạn. Trong chiến tranh chẳng ai tự sát cả, anh nghĩ trong khi nằm trên giường lắng nghe bố mẹ mình ngáy. Tại sao? Ờ thì để cho tiện, để lần khân cái chuyện không thể tránh, bởi con người có thói quen phó thác số phận mình vào tay kẻ khác. Sự thật là chiến tranh là lúc người ta tự sát nhiều nhất, nhưng lúc đó Reiter còn quá trẻ (tuy không thể nói anh là kẻ hoàn toàn thất học được nữa) nên không thể biết điều ấy. Trong cả hai lần nghỉ phép, anh cũng ghé cả Berlin (trên đường về làng) cố tìm gặp Hugo Halder song hoài công.

Anh không tìm được anh ta. Trong căn hộ cũ của Halder nay có một gia đình công chức nhà nước với bốn cô con gái tuổi vị thành niên đang sống. Khi anh hỏi người thuê nhà trước đây có để lại địa chỉ mới của mình hay không thì gia chủ, ông bố của gia đình, đảng viên Quốc xã, liền trả lời cộc lốc rằng không biết, nhưng trước khi Reiter bỏ đi thì một trong các cô con gái, cô lớn nhất, cô đẹp nhất, đuổi kịp anh nơi cầu thang và nói cô biết Halder giờ sống ở đâu. Thế rồi cô đi xuống cầu thang và Reiter đi theo. Cô gái lôi anh đến một công viên. Ở đó, trong một góc khuất không người dòm ngó, cô quay lại, như thể mới thấy anh lần đầu, và đâm bổ vào anh hôn chụt một cái lên môi anh. Reiter đẩy cô ra và hỏi trời đất ơi sao cô lại hôn anh vậy. Cô gái bảo cô rất vui được gặp anh. Reiter nhìn kỹ cặp mắt màu xanh nhạt, giống như mắt người mù, và nhận ra mình đang nói chuyện với một cô điên.

Dẫu vậy, anh muốn biết cô gái có thông tin gì về Halder. Cô bảo nếu anh không để cho cô hôn anh thì cô sẽ không nói. Họ lại hôn nhau: ban đầu lưỡi cô gái rất khô và Reiter dùng lưỡi mình mơn trớn nó cho đến khi nó từ đầu đến cuối ướt đầm. Hugo Halder hiện sống ở đâu? anh hỏi. Cô gái mỉm cười với Reiter làm như anh là một đứa trẻ chậm lụt. Anh không đoán được sao? cô hỏi. Reiter lắc đầu. Cô gái, ắt chưa quá mười sáu tuổi, liền phá ra cười dữ đến nỗi Reiter nghĩ cô cứ cười như vầy thì chả mấy chốc mà cảnh sát tới, và anh chả nghĩ ra được cách nào tốt hơn để bắt cô im ngoại trừ lại hôn môi cô lần nữa.

“Tên em là Ingeborg,” cô gái nói khi Reiter đã rời môi khỏi môi cô.

“Anh tên Hans Reiter,” anh nói.

Chừng đó cô liền nhìn xuống mặt đất đầy cát sỏi và tái đi trông thấy, tuồng như cô sắp xỉu.

“Tên em là Ingeborg Bauer,” cô nhắc lại, “em mong anh sẽ không quên em.”

Từ lúc đó trở đi họ nói bằng giọng thì thầm càng lúc càng khẽ.

“Anh sẽ không quên,” Reiter nói.

“Thề đi,” cô gái nói.

“Anh thề,” Reiter nói.

“Anh thề có gì, thề có mẹ anh, thề có cha anh, thề có Chúa?” cô gái nói.

“Anh thề có Chúa,” Reiter nói.

“Anh không tin Chúa,” cô gái nói.

“Vậy thì anh thề có cha có mẹ anh,” Reiter nói.

“Thề vậy chả có giá trị gì,” cô gái nói, “thề cha thề mẹ là chả có giá trị gì, người ta luôn cố quên mình có cha mẹ.”

“Anh thì không,” Reiter nói.

“Có chứ, anh,” cô gái nói, “em, tất cả thiên hạ.”

“Nếu vậy em muốn anh thề gì anh thề nấy,” Reiter nói.

“Anh thề có quân đoàn của anh được không?” cô gái nói.

“Anh thề có quân đoàn của anh trung đoàn của anh tiểu đoàn của anh,” Reiter nói, đoạn nói thêm là anh thề có cả tập đoàn quân của anh cả quân đội của anh nữa.

“Em nói cái này anh đừng nói lại cho ai nhé, thật ra là em không tin vào quân đội,” cô gái nói.

“Vậy em tin gì?” Reiter nói.

“Ít thứ thôi,” cô gái nói sau khi ngẫm nghĩ câu trả lời khoảng một giây. “Đôi khi thậm chí em quên mất mình tin những gì. Ít thứ quá mà, ít lắm, còn những thứ em không tin thì lại nhiều, quá nhiều, đến nỗi chúng che khuất những gì em tin. Chẳng hạn, ngay bây giờ, em không nhớ nổi thứ nào mình tin.”

“Em có tin ở tình yêu không?” Reiter hỏi.

“Không, thực tình là không,” cô gái nói.

“Còn lòng trung thực?” Reiter nói.

“Èo, cái ý còn tệ hơn tình yêu nữa,” cô gái nói.

“Em có tin ở hoàng hôn, ở đêm đầy sao, ở bình minh tươi sáng không?”

“Không, không, không,” cô gái nói kèm theo một cử chỉ tỏ rõ sự ghê tởm, “em không tin những thứ lố bịch.”

“Em có lý,” Reiter nói. “Còn sách thì sao?”

“Càng không thích,” cô gái nói, “với lại đằng nào thì trong nhà em cũng chỉ rặt toàn sách Quốc xã, chính trị Quốc xã, sử học Quốc xã, kinh tế học Quốc xã, huyền thoại học Quốc xã, thơ Quốc xã, tiểu thuyết Quốc xã, kịch Quốc xã.”

“Anh không hề biết là dân Quốc xã lại viết nhiều đến thế,” Reiter nói.

“Theo như em thấy thì ngoài hôn em ra anh chả biết nhiều thứ cho cam,” cô gái nói.

“Đúng vậy,” Reiter nói, anh luôn luôn sẵn sàng thừa nhận mình dốt.

Đến lúc này thì họ đang lững thững đi trong công viên tay nắm tay và thỉnh thoảng Ingeborg lại dừng bước hôn môi Reiter và bất cứ ai thấy họ đều nghĩ đây chỉ là một anh lính trẻ và bạn gái, họ chả có tiền để đi đâu khác, họ yêu nhau lắm lắm và có bao nhiêu chuyện để nói với nhau. Thế nhưng nếu người quan sát giả định này lại gần cặp đôi đó và nhìn thẳng vào mắt họ thì anh ta hẳn sẽ thấy cô gái này điên và anh lính trẻ biết điều đó nhưng chẳng quan tâm. Quả vậy, giờ thì Reiter chẳng quan tâm cái chuyện cô này khùng, lại càng chẳng bận tâm về địa chỉ anh bạn Hugo Halder. Anh chỉ quan tâm mỗi một điều là biết được rốt ráo cái số ít những điều Ingeborg thấy đáng đặt câu thề. Vậy nên anh cứ hỏi hoài hỏi mãi và ngập ngừng đề xuất nào mấy cô em gái của cô nào thành phố Berlin nào hòa bình thế giới nào trẻ em trên thế giới nào chim chóc trên thế giới nào opera nào những con sông của châu Âu nào khuôn mặt, chao ơi, của những người yêu cũ của cô, nào cuộc sống của chính cô (của Ingeborg), nào tình bạn nào tính hài hước và tất tật mọi thứ anh có thể nghĩ ra, và hết lần này đến lần khác cô đều trả lời không, cho đến khi, rốt cuộc, khi họ đã đi hết ráo mọi ngóc ngách của công viên rồi, cô gái mới nhớ ra hai thứ mà theo cô dùng để thề thì tốt.

“Anh có muốn biết là những thứ gì không?”

“Dĩ nhiên là muốn rồi!” Reiter nói.

“Em mong là khi em nói thì anh không cười.”

“Anh không cười đâu,” Reiter nói.

“Thứ đầu tiên là bão,” cô gái nói.

“Bão á?” Reiter nói, ngạc nhiên hết cỡ.

“Chỉ những trận bão lớn thôi, khi trời đen kịt còn khí trời thành xám ấy. Sấm, chớp, và nhà nông chết khi đang băng đồng,” cô gái nói.

“Giờ anh hiểu rồi,” Reiter nói, thật ra anh không ưa bão. “Còn cái thứ hai là gì?”

“Người Aztec,” cô gái nói.

“Người Aztec?” Reiter nói, còn bối rối hơn cả khi nghe nói bão.

“Phải, phải, người Aztec, họ sống ở Mexico trước khi Cortes đến ấy, những người xây nên kim tự tháp ấy.”

“À, người Aztec, mấy người Aztec ấy,” Reiter nói.

“Chỉ có họ là người Aztec thôi, họ sống ở Tenochtitlan và Tlatelolco, hiến tế người sống và định cư ở hai thành phố xây xung quanh những cái hồ,” cô gái nói.

“À, vậy là họ sống ở những thành phố xây quanh hồ,” Reiter nói.

“Đúng,” cô gái nói.

Họ im lặng đi một hồi. Sau đó cô gái nói, “Em hình dung những thành phố ấy giống như Geneva và Montreux. Có lần em đi nghỉ với gia đình ở Thụy Sĩ. Cả nhà đi thuyền từ Geneva đến Montreux. Hồ Geneva vào mùa xuân tuyệt đẹp, tuy rằng muỗi e là nhiều quá. Đêm cả nhà em ngủ ở một lữ quán tại Montreux rồi hôm sau lại đi thuyền về Geneva. Anh đã tới hồ Geneva chưa?”

“Chưa,” Reiter nói.

“Đẹp lắm, với lại không phải chỉ có hai thành phố ấy mà ven hồ còn có nhiều thị trấn, như Lausanne này, còn to hơn cả Montreux nữa, hay Vevey, hay Evian. Trên thực tế có hơn hai mươi thị trấn, vài cái nhỏ xíu. Anh hình dung được không?”

“Sơ sơ,” Reiter nói.

“Này, đây là cái hồ,” cô dùng mũi giày vẽ cái hồ lên mặt đất, “đây là Geneva, còn đây, phía đầu kia là Montreux, còn đây là các thị trấn khác. Giờ anh hiểu chưa?”

“Rồi,” Reiter nói.

“Em hình dung cái hồ của người Aztec cũng vậy,” cô gái vừa nói vừa lấy giày xóa cái bản đồ đi. “Chỉ có điều đẹp hơn nhiều. Không có muỗi, quanh năm trời dễ chịu, nhiều kim tự tháp, nhiều và to đến nỗi không đếm xuể, kim tự tháp nằm trên kim tự tháp, kim tự tháp đằng sau kim tự tháp, tất cả đều nhuốm đỏ máu tươi của những người bị hiến tế hằng ngày. Rồi em hình dung ra những người Aztec, nhưng chắc chuyện ấy anh không quan tâm,” cô gái nói.

“Có, có chứ,” Reiter nói, anh vốn xưa nay chưa bao giờ nghĩ đến người Aztec.

“Họ là những người rất lạ,” cô gái nói, “nếu ta nhìn thật kỹ vào mặt họ, sau một hồi ta sẽ nhận ra là họ điên. Nhưng họ không bị giam trong nhà thương điên. Hoặc có thể có. Nhưng trông họ thì không có vẻ gì là vậy. Người Aztec mặc quần áo vô cùng tao nhã, họ rất cẩn thận khi chọn đồ để mặc hằng ngày, có thể nói họ bỏ ra hàng giờ trong phòng thay đồ để chọn bộ cánh thích hợp hơn cả, rồi thì họ đội lên đầu những cái mũ lông chim rất quý, đeo vòng tay vòng chân, lại còn chuỗi đeo cổ nhẫn đeo tay, rồi thì cả nam lẫn nữ đều vẽ mặt, thế rồi họ ra ngoài đi dạo dọc bờ hồ, chẳng nói gì với nhau mà chỉ mải mê ngắm những con thuyền qua lại, người trên thuyền nếu không phải người Aztec thì đều cụp mắt xuống mà tiếp tục đánh cá hoặc vội vã rời khỏi đó, bởi vì một số người Aztec nhiều khi nổi hứng làm những điều tàn bạo, và sau khi nhàn tản dạo bộ như những triết gia họ bước vào trong kim tự tháp, ở bên trong các kim tự tháp ấy hoàn toàn rỗng và trông như giáo đường, chỉ có một ánh sáng ở trên cao soi sáng, ánh sáng ấy được lọc qua một viên đá obsidian lớn, nói cách khác là một ánh sáng thẫm và ngời chói. Nhân thể, anh đã thấy một viên đá obsidian bao giờ chưa?”

“Chưa, chưa bao giờ,” Reiter nói, “hoặc là có thấy mà không biết.”

“Anh mà nhìn thấy là sẽ nhận ra ngay,” cô gái nói. “Obsidian là một loại khoáng fenspat màu đen hoặc xanh lục rất sẫm, riêng chuyện đó đã lạ rồi bởi vì fenspat thường có màu trắng hoặc vàng vàng. Các loại fenspat quan trọng nhất là orthoclase, albite và labradorite, nói để cho anh biết. Nhưng loại em thích nhất là obsidian. Được rồi, quay lại với kim tự tháp. Trên đỉnh kim tự tháp là đá hiến tế. Anh thử đoán xem nó làm bằng gì?”

“Bằng đá obsidian,” Reiter nói.

“Chính xác,” cô gái nói, “một tảng đá giống như cái bàn của bác sĩ giải phẫu, các giáo sĩ hoặc y sĩ người Aztec đặt nạn nhân của mình lên đó trước khi moi tim họ. Nhưng giờ mới đến cái phần sẽ làm anh ngạc nhiên nhất đây: cái giường bằng đá đó hoàn toàn trong suốt! Nó là một thứ đá thiêng được chọn và được đánh bóng sao cho trong suốt. Và những người Aztec bên trong kim tự tháp ngắm cuộc hiến tế như thể nhìn thấy từ bên trong, bởi vì chắc anh đã đoán ra, cái ánh sáng từ trên cao rọi xuống lòng kim tự tháp xuất phát từ một cái lỗ ngay bên dưới tảng đá thiêng, thế nên ban đầu ánh sáng có màu đen hoặc xám, một ánh sáng tù mù khiến cho ta chỉ thấy được đường nét lờ mờ của những người Aztec đứng trong kim tự tháp mà thôi, nhưng rồi, khi máu của nạn nhân mới loang ra trên ô cửa mái bằng đá obsidian trong suốt, ánh sáng chuyển thành màu đỏ và đen, một màu đỏ rất tươi và một màu đen rất tươi, khiến cho có thể thấy rõ không chỉ đường nét của những người Aztec mà cả nét mặt họ, những nét mặt bị ánh sáng đỏ và ánh sáng đen làm biến đổi, như thể ánh sáng ấy có quyền năng cá nhân hóa mỗi người trong số họ, và cơ bản đó là tất cả, nhưng việc đó có thể kéo dài rất lâu, có thể vượt ngoài thời gian hoặc nằm ở một thời gian khác chịu sự chi phối của những quy luật khác. Khi người Aztec ra khỏi kim tự tháp, ánh sáng mặt trời không làm họ chói mắt. Họ hành xử như thể đang có nhật thực. Và rồi họ quay về những việc thường ngày, mà về cơ bản bao gồm tản bộ rồi tắm rồi lại tản bộ và đứng lặng rất lâu ngắm những thứ không thể nhìn thấy được hoặc nghiên cứu những đường những vệt lũ côn trùng vẽ ra trên mặt đất và ăn cùng với bạn bè, nhưng luôn luôn trong im lặng, chẳng khác nào ngồi ăn một mình, và lâu lâu họ lại gây chiến đánh nhau. Và trên đầu họ bầu trời luôn luôn có nhật thực,” cô gái nói.

“Ái chà chà chà,” Reiter nói, bị ấn tượng mạnh trước vốn hiểu biết của cô bạn mới.

Cả hai lại lặng lẽ đi không mục đích một hồi trong công viên, như thể họ là người Aztec, cho đến khi cô gái hỏi anh sẽ thề gì, thề có người Aztec hay thề có bão.

“Anh không biết,” Reiter nói, anh đã quên mất mình phải thề gì.

“Chọn đi,” cô gái nói, “và nghĩ cho kỹ vì nó quan trọng hơn anh nghĩ nhiều đấy.”

“Cái gì quan trọng?” Reiter hỏi.

“Lời thề của anh,” cô gái nói.

“Mà tại sao quan trọng?” Reiter hỏi.

“Với anh em không biết, nhưng với em thì quan trọng vì nó đánh dấu số phận em,” cô gái nói.

Ngay lúc ấy Reiter nhớ ra mình phải thề sẽ không quên cô và cảm thấy một nỗi buồn to lớn. Trong một thoáng anh thấy khó thở và sau đó cảm thấy lời lẽ nghẹt lại trong họng. Anh quyết định thề có người Aztec, bởi anh không ưa bão.

“Anh thề có người Aztec rằng anh sẽ không bao giờ quên em,” anh nói.

“Cảm ơn anh,” cô gái nói rồi họ đi tiếp.

Lát sau, tuy chẳng còn mấy quan tâm nữa, Reiter hỏi cô địa chỉ của Halder.

“Anh ta sống ở Paris,” cô gái nói kèm tiếng thở dài. “Em không có địa chỉ.”

“À,” Reiter nói.

“Anh ta sống ở Paris thì cũng tự nhiên mà,” cô gái nói.

Reiter nghĩ có lẽ cô gái có lý, Halder đã chuyển đến Paris thì cũng là điều tự nhiên nhất trên đời. Khi trời sẩm tối Reiter tiễn cô gái đến tận cửa rồi chạy đến nhà ga.

Cuộc tấn công Liên Xô bắt đầu vào ngày 22 tháng Sáu năm 1941. Sư đoàn 79 được phiên chế vào quân đoàn 11 của quân đội Đức, và mấy ngày sau đội tiên phong của sư đoàn băng qua sông Prut và vai sánh vai tiến vào trận chiến, cùng với quân đội Rumani mà nhuệ khí rõ là cao hơn nhiều so với người Đức tưởng. Tuy nhiên, bước tiến của họ không nhanh như của các đơn vị thuộc Tập đoàn quân Nam gồm quân đoàn 6, quân đoàn 17 và Tập đoàn Panzer số 1 như hồi đó người ta gọi, mặc dù trong cuộc chiến nó sẽ được gộp cùng Tập đoàn Panzer 2, Tập đoàn Panzer 3 và Tập đoàn Panzer 4 để rồi được gọi bằng cái tên đáng sợ hơn: Tập đoàn Panzer. Đúng như người ta nghĩ, nhân lực và vật lực của quân đoàn 11 nhỏ hơn rất nhiều, đấy là chưa kể địa hình khu vực và tình trạng đường sá thiếu thốn. Mà cuộc tấn công lại cũng chẳng thể dựa trên yếu tố bất ngờ từng là lợi thế của Tập đoàn quân Nam, Trung tâm và Bắc. Nhưng sư đoàn của Reiter hành động đúng như cấp chỉ huy chờ đợi, họ vượt sông Prut và chiến đấu rồi sau đó tiếp tục chiến đấu trên các thảo nguyên và đồi núi Bessarabia rồi sau đó vượt sông Dniester mà đến vùng ngoại ô Odessa và trong khi quân Rumani chựng lại thì họ tiến đánh quân Nga đang rút chạy và sau đó vượt sông Bug mà tiến tiếp, để lại sau lưng cả một dây những làng mạc Ukraina cháy trụi, những kho thóc cháy trụi và những khu rừng đột nhiên bừng cháy như thể do một quá trình đốt đầy bí ẩn, những khu rừng giống những hòn đảo tối giữa những đồng lúa mì bất tận.

Ai châm lửa đốt rừng vậy? Đôi lần Reiter hỏi Wilke và Wilke nhún vai, cả Neitzke cả Kruse và cả trung sĩ Lemke cũng nhún vai, thảy đều kiệt sức vì đi bộ, bởi sư đoàn 79 là sư đoàn bộ binh nhẹ, nói cách khác là một sư đoàn tự thân vận động, chỉ được trang bị la và lính, chức năng của la là kéo trang thiết bị nặng còn lính là để cuốc bộ và chiến đấu, tuồng như chiến tranh chớp nhoáng* hãy còn chưa bao giờ ghé mắt dòm xuống sơ đồ hành quân của sư đoàn, giống như thời Napoléon ấy, Wilke nói, hành quân rồi thì hành quân ngược rồi thì hành quân bắt buộc* , hay đúng hơn là toàn hành quân bắt buộc, Wilke nói, và rồi, vẫn nằm trên mặt đất như các chiến hữu chứ không đứng dậy, anh ta tiếp, tớ đếch biết thằng chết mẹ nào lại đi đốt rừng, chắc chắn không phải là ta rồi, đúng không tụi bây? và Neitzke nói không, tụi mình thì không, cả Kruse và Barz cũng nói không, ngay đến trung sĩ Lemke cũng nói không, tụi mình đã đốt sạch cái làng ở kia và đã ném bom cái làng bên đây bên đó nhưng rừng thì không, thế là quân của anh ta gật đầu và chẳng ai nói thêm lời nào, họ chỉ nhìn lửa cháy rừng, nhìn lửa đang biến hòn đảo tối thành đảo màu đỏ cam, có lẽ là tiểu đoàn của đại úy Ladenthin, ai đó nói, họ đang tới đường này, chắc họ đã gặp kháng cự trong rừng đó, chắc là tiểu đoàn công binh, một người khác nói, nhưng sự thật là họ chẳng thấy ai trong khu đó hết, lính Đức gần đó cũng không mà lính Liên Xô kháng cự cũng không, chỉ có khu rừng đen giữa một biển vàng dưới bầu trời xanh rực rỡ, và đột nhiên, không báo trước, tuồng như họ đang ở trong một nhà hát khổng lồ bằng lúa mì còn khu rừng là sân khấu còn phần phía trước sân khấu của nhà hát đó là ngọn lửa uốn vòng tròn, đẹp đẽ và ngốn sạch tất cả.

♣ ♣ ♣

Sau khi vượt sông Bug, tiểu đoàn vượt sông Dnieper và xâm nhập vào bán đảo Crimea. Reiter chiến đấu ở Perekop và vài làng gần Perekop, tên các làng ấy anh chẳng bao giờ biết được, nhưng anh đi dọc những con đường bẩn thỉu ở đó, dọn dẹp xác chết và ra lệnh cho người già, phụ nữ và trẻ em vào trong nhà, không được ra ngoài. Thỉnh thoảng anh chóng mặt. Thỉnh thoảng anh nhận thấy rằng mỗi khi mình đột ngột đứng dậy là mắt lại mờ đi như bị mây đen che phủ, đầy những chấm nhỏ li ti giống như cơn mưa sao băng. Nhưng các sao băng này di chuyển theo một kiểu rất lạ. Hoặc hoàn toàn không di chuyển. Sao băng bất động. Đôi lần, cùng các chiến hữu, anh quăng mình vào cuộc đánh chiếm một cứ điểm của kẻ thù mà không áp dụng bất kỳ biện pháp phòng thân nào, khiến cho anh được tiếng là táo bạo và dũng cảm, cho dù tất cả những gì anh tìm chỉ là một viên đạn sẽ giúp mang lại bình an cho tâm hồn anh. Một đêm, không hề định trước, anh nói chuyện với Wilke về tự sát.

“Người Công giáo chúng ta thủ dâm nhưng không tự sát,” Wilke nói, và trước khi đi ngủ Reiter nghiền ngẫm lời của Wilke, bởi anh ngờ rằng đằng sau câu đùa của Wilke có một chân lý ẩn giấu.

Nhưng quyết tâm của anh không vì vậy mà lay chuyển. Trong trận đánh chiếm Chornomorske, trong đó trung đoàn 310 mà đặc biệt là tiểu đoàn của Reiter đóng vai trò quan trọng, Reiter liều mạng sống của mình ít nhất ba lần, lần thứ nhất là khi tấn công một pháo đài gạch ở ngoại vi Kirovske, nơi giao lộ giữa Chernishove, Kirovske và Chornomorske, một pháo đài đáng ra không thể đương cự nổi dù chỉ một loạt đạn pháo, một pháo đài khiến anh xúc động sâu xa ngay khi nhìn thấy nó bởi sự nghèo khó và vô tội từ nó tỏa ra, tuồng như nó được xây cho trẻ con và đang được trẻ con bảo vệ. Phân đội không có đạn súng cối nên quyết định chiếm pháo đài bằng cách đánh cấp tập. Người ta yêu cầu người tình nguyện. Reiter là người đầu tiên tiến lên phía trước. Gần như ngay sau đó Voss nhập hội với anh, anh này cũng là một tay dũng cảm hoặc một tay tự sát tiềm tàng, cùng ba lính nữa. Cuộc tập kích diễn ra chóng vánh: Reiter và Voss tiến dọc cánh trái pháo đài, ba người kia theo cánh phải. Khi họ còn cách hai chục mét, súng trường từ bên trong nã đạn ra. Ba người đang đi dọc cánh phải nằm rạp xuống đất. Voss chần chừ. Reiter vẫn chạy. Anh nghe tiếng vù của một viên đạn bay sát qua đầu mình vài xentimét nhưng anh không hụp xuống. Ngược lại, thân anh như thể rướn lên cố nhìn cho được khuôn mặt những gã choai choai sắp kết liễu đời anh, nhưng anh chẳng thể thấy gì. Một viên đạn khác sượt qua tay phải anh. Anh cảm thấy có ai đẩy mình từ đằng sau và xô anh ngã xuống. Đó là Voss, anh ta có thể liều mạng song vẫn còn giữ được chút trí khôn của người thường.

Anh quan sát một hồi chiến hữu của mình, sau khi đã kéo anh xuống đất, liền bò về phía pháo đài. Anh thấy những viên đá, thấy cỏ dại, hoa dại, và những cái đinh nơi gót giày của Voss bởi Reiter bị bỏ lại đằng sau, một đám mây bụi nhỏ xíu Voss khoắng lên, chỉ nhỏ xíu với ta thôi, anh nghĩ, chứ không nhỏ xíu với đoàn quân kiến đang băng qua mặt đất từ Bắc đến Nam trong khi Voss bò từ Đông sang Tây. Đoạn anh đứng dậy và bắt đầu bắn qua đầu Voss về phía pháo đài, và một lần nữa lại nghe tiếng đạn rít sát thân mình trong khi anh vừa đi vừa bắn, tuồng như đang vừa tản bộ vừa chụp ảnh, cho đến khi pháo đài nổ tung vì một quả lựu đạn rồi lại thêm quả nữa, rồi quả nữa, bởi những người lính bên cánh phải.

Lần thứ hai anh hút chết là trong trận chiếm Chornomorske. Hai trung đoàn chủ lực của sư đoàn 79 dẫn đầu đợt công kích sau khi toàn bộ hỏa lực của sư đoàn đã tập trung gần bến tàu, nơi bắt đầu con đường nối Chornomorske với Evpatoria, Frunze, Inkerman và Sebastopol, một con đường chẳng có mốc địa lý nào đặc biệt. Cuộc tập kích đầu tiên bị đẩy lui. Tiểu đoàn của Reiter, được giữ làm quân dự bị, tiến lên trong đợt thứ hai. Binh lính tràn lên nhảy qua hàng rào kẽm gai trong khi lực lượng pháo chỉnh thước ngắm và đập tan các ổ súng máy Liên Xô đã bị lộ vị trí. Trong khi chạy, Reiter bắt đầu đổ mồ hôi, cứ như thể trong vòng một nháy mắt anh đâm bệnh. Anh nghĩ chắc lần này mình chết và chuyện nơi đây gần biển chỉ càng củng cố thêm ý nghĩ này. Ban đầu họ băng qua một cánh đồng rồi sau đó tiến vào một khu vườn có căn nhà nhỏ, và từ một trong các cửa sổ của căn nhà ấy, ô cửa sổ bé tí, méo mó, một ông già râu bạc đang nhìn họ. Reiter có cảm tưởng ông già đang ăn gì đó bởi hàm ông ta động đậy.

Bên kia vườn có một con đường đất và đi xa hơn một chút họ thấy năm lính Liên Xô đang lặc lè kéo một cỗ pháo. Họ giết cả năm rồi chạy tiếp. Một số người tiếp tục chạy dọc con đường còn những người khác rẽ vào một cánh rừng thông nhỏ.

Trong rừng thông Reiter nhác thấy một bóng người trong bụi cây thấp liền đứng lại. Đó là tượng một nữ thần Hy Lạp hoặc là anh cho rằng vậy. Tóc nàng búi lên, nàng cao và vẻ mặt nàng vô cảm. Đầm đìa mồ hôi, Reiter bắt đầu run bần bật và vươn tay ra. Tượng lạnh ngắt, là hoa cương hay đá thường anh chẳng biết. Tượng mà lại ở đây thì thật khó hiểu, bởi cái nơi bị cành cây um tùm che khuất này chẳng phải vị trí thích hợp để đặt một pho tượng. Trong một thoáng ngắn ngủi và đau đớn, Reiter nghĩ mình nên hỏi tượng câu gì đó, song đầu anh chẳng nảy ra được câu hỏi nào và mặt anh méo xệch vì thống khổ. Thế rồi anh chạy tiếp.

Cánh rừng kết thúc nơi một khe núi từ đó có thể nhìn thấy biển và bến cảng cùng với một thứ kiểu như đường đi dạo ven biển hai bên có hai hàng cây cùng những băng ghế dài, những căn nhà trắng và những tòa nhà ba tầng có vẻ là khách sạn hoặc nhà nghỉ dưỡng. Cây cối vừa to vừa tối. Trên những ngọn đồi có thể thấy vài căn nhà đang cháy và nơi bến cảng, một nhóm người nom nhỏ tí đang chen nhau leo lên một chiếc tàu. Trời rất xanh và biển rất êm, không một gợn sóng, về bên trái, dọc một con đường ngoằn ngoèo chạy xuống, xuất hiện những người đầu tiên thuộc trung đoàn của anh trong khi dăm ba lính Nga bỏ chạy còn những lính Nga khác thì giơ hai tay lên quá đầu đi ra khỏi những lán chứa cá mà tường đã nám đen. Những người đi cùng Reiter bước xuống đồi về phía một quảng trường trên đó mọc lên hai tòa nhà mới năm tầng, sơn trắng. Khi đến gần quảng trường thì họ bị đạn từ các cửa sổ bắn xuống. Lính tìm chỗ nấp giữa các cây cối, ngoại trừ Reiter, anh vẫn cứ đi làm như chẳng nghe thấy gì, cho đến khi tới được cánh cửa một trong hai tòa nhà. Một trong các bức tường được trang trí bích họa vẽ một thủy thủ già đang đọc thư. Một vài dòng của lá thư ấy, người xem hoàn toàn có thể đọc được, tuy nhiên vì viết bằng chữ Cyril nên Reiter chẳng hiểu gì. Gạch lát quảng trường to, màu xanh lục. Không có thang máy nên Reiter leo lên thang bộ. Khi anh đến chiếu nghỉ đầu tiên thì có người bắn anh. Anh thấy một cái bóng nhô ra rồi sau đó cảm thấy tay phải nhói lên. Anh tiếp tục lên thang. Người ta lại bắn anh. Anh đứng im. Vết thương không chảy máu mấy và cái đau hoàn toàn có thể chịu được. Có khi mình chết rồi, anh nghĩ. Thế rồi anh nghĩ chắc mình chưa chết và mình không được ngất, chừng nào chưa ăn một viên đạn vào đầu thì không. Anh quặt vào một trong các căn hộ và đạp cửa. Anh thấy một cái bàn, bốn cái ghế, một tủ kính đầy những đĩa, trên nóc có vài cuốn sách. Trong phòng anh gặp một phụ nữ và hai đứa con trai nhỏ. Người phụ nữ rất trẻ, nhìn anh kinh hãi. Tôi không làm gì chị đâu, anh nói, rồi cố mỉm cười trong khi rút lui. Đoạn anh vào một căn phòng khác và hai quân nhân tóc cắt ngắn lập tức giơ tay xin hàng. Reiter thậm chí không nhìn họ. Từ trong những phòng khác người ta lục tục đi ra, nom đều có vẻ đói ăn hoặc giống như học viên trường giáo dưỡng. Ở một phòng nọ, bên một cửa sổ mở, anh tìm thấy hai khẩu súng cũ, liền vứt xuống phố và đồng thời ra hiệu cho đồng đội ngừng bắn.

Lần thứ ba anh suýt chết là nhiều tuần sau đó, trong cuộc tấn công Sebastopol. Lần này cuộc tấn công bị đẩy lui. Mỗi lần quân Đức cố triệt hạ một tuyến phòng thủ, hỏa lực của thành phố lại vãi đạn như mưa xuống họ. Trong khu ngoại vi thành phố, gần công sự của quân Nga, lính Đức và lính Rumani nằm chất đống chẳng toàn thây. Không dưới một lần hai bên đánh xáp lá cà. Quân tấn công đến được một chiến hào của lính thủy Nga và chiến đấu trong năm phút, sau đó một bên rút lui. Nhưng rồi lại thêm thủy thủ Nga kéo đến miệng hô u-ra và trận chiến lại bắt đầu. Với Reiter việc các thủy thủ lại có mặt trong những chiến hào lầm bụi đó là mang đầy những tiên triệu khủng khiếp và khiến anh hởi lòng hởi dạ. Một trong những thủy thủ đó nhất định sẽ giết anh và chừng đó anh sẽ lại trầm mình xuống đáy sâu của biển Baltic hay Đại Tây Dương hay Biển Đen, bởi xét cho cùng tất cả biển đều là cùng một biển và nơi đáy biển là một rừng rêu đang đợi anh. Hoặc anh sẽ đơn giản biến mất, vậy thôi.

Theo Wilke, cái vụ này thật là điên, bởi đám thủy thủ Nga đó ở đâu ra? tụi nó làm gì ở đó, cách xa cái chốn tự nhiên của tụi nó là biển và tàu đến cả hàng cây số? Thật khó hiểu, trừ phi máy bay Stuka của Đức đã đánh đắm tất tật tàu của hải quân Nga, Wilke suy đoán vậy, hoặc Biển Đen đã cạn khô, điều này thì cố nhiên anh ta không tin. Nhưng chuyện này anh ta chỉ nói với Reiter, bởi vì những người khác chấp nhận tất cả những gì họ thấy hoặc xảy đến với họ. Trong một cuộc tấn công như vậy Neitzke cùng vài chiến hữu khác cùng trung đội với Reiter bị giết. Một đêm kia, trong chiến hào, Reiter đứng thẳng rướn người hết cỡ mà ngắm những vì sao song thật ra sự chú ý của anh bị hút về phía Sebastopol. Thành phố đằng xa kia giống như một khối đen với những cái miệng đỏ cứ mở ra khép lại. Lính gọi nó là cái máy nghiền xương, nhưng đêm đó Reiter không thấy nó giống cỗ máy mà thấy giống như hóa thân của một sinh vật huyền thoại, một sinh thể đang chật vật cố hít thở. Trung sĩ Lemke ra lệnh cho anh khom xuống. Reiter từ bên trên nhìn xuống anh ta, cởi mũ cối, gãi đầu, thế rồi anh chưa kịp đội mũ cối lên thì đã bị một viên đạn quật đổ. Trong khi ngã xuống anh cảm thấy một viên đạn khác xuyên vào ngực mình. Anh nhìn trung sĩ Lemke bằng cặp mắt đã mờ đi: anh có cảm giác tay trung sĩ giống như một con kiến đang trở nên càng lúc càng to. Cách đó chừng năm trăm mét vài viên đạn pháo rơi.

♣ ♣ ♣

Hai tuần sau Reiter nhận huân chương Chữ thập Sắt. Một đại tá trao huân chương cho anh tại quân y viện dã chiến ở Novoselivske, bắt tay anh, bảo rằng đã có những báo cáo tuyệt vời về thành tích chiến đấu của anh ở Chornomorske và Mykolaivka, nói xong thì đi. Reiter không nói được vì bị một viên đạn xuyên thủng họng, vết thương nơi ngực bình phục nhanh nên chẳng bao lâu sau anh được chuyển từ bán đảo Crimea đến Krivoy Rog ở Ukraina nơi có bệnh viện lớn hơn, ở đó người ta mổ họng cho anh lần nữa. Sau ca mổ anh ăn uống lại bình thường, cử động cổ được như trước, nhưng vẫn không nói được.

Các bác sĩ chữa cho anh không biết nên cho anh nghỉ phép quay về Đức hay gửi anh về lại sư đoàn hiện vẫn đang tham gia phong tỏa Sebastopol và Kerch. Mùa đông đến và quân Xô viết phản công nghiền nát nhiều phần của phòng tuyến Đức khiến họ mãi không thể quyết được thành ra cuối cùng Reiter không được cho về Đức mà cũng chẳng quay lại đơn vị.

Nhưng bởi vì anh cũng không thể ở lại bệnh viện nên người ta cho anh cùng với ba người bị thương khác thuộc sư đoàn 79 đến làng Kostekino trên bờ sông Dnieper, nơi này có người gọi là Nông trang kiểu mẫu Budienny còn vài người khác kêu là Suối Ngọt, là bởi có một dòng suối, chi lưu của sông Dnieper, nước của suối ấy ngọt và trong một cách khác thường ở vùng này. Kostekino, nói cho ngay, chẳng phải một ngôi làng đúng nghĩa cho cam. Có dăm ba cái nhà rải rác giữa mấy ngọn đồi, hàng rào gỗ gần sập vì cũ quá, hai kho lúa mục nát, một con đường đất nối làng này với một thị trấn có xe lửa chạy qua, đường này hễ đông đến là ngập tuyết ngập bùn không đi được. Ven làng có một nông trang tập thể bỏ hoang mà năm người Đức cố đưa vào hoạt động trở lại. Phần lớn các nhà đều bỏ hoang, theo một số người là bởi dân làng đã chạy hết trước khi quân Đức tới, theo những người khác thì do dân làng đã bị Hồng quân bắt làm lính cả rồi.

Mấy ngày đầu Reiter ngủ ở một nơi chắc là phòng nông nghiệp hoặc có thể là trụ sở đảng ủy, tòa nhà duy nhất xây bằng gạch và xi măng trong làng, nhưng cuộc sống chung với dăm người Đức gồm kỹ sư và thương binh dưỡng bệnh ở Kostekino chẳng mấy chốc đâm ra không sao chịu nổi. Thế nên anh quyết định vào một trong các nhà trại bỏ trống mà ở. Thoạt nhìn các nhà trại ấy cái nào cũng giống cái nào. Một đêm kia, trong khi đang uống cà phê ở ngôi nhà gạch, Reiter nghe kể một dị bản khác về nguyên nhân dân làng này biến đâu sạch: họ chẳng bị bắt lính cũng chẳng đi trốn. Làng sạch bóng người là hậu quả trực tiếp của việc một phân đội của Einsatzgruppe C đã đi qua đây và đã tiêu diệt theo nghĩa đen tất tật người Do Thái trong làng. Bởi không nói được nên anh chẳng hỏi gì, nhưng ngày hôm sau anh xem xét tất cả các nhà một cách kỹ lưỡng hơn.

Nhà nào anh cũng đến nhưng chẳng tìm được bất cứ thứ gì khả dĩ cho thấy gốc gác hay tôn giáo của những cư dân trước đây. Cuối cùng anh dọn vào ở hẳn trong một căn nhà gần Suối Ngọt. Đêm đầu tiên ở đó anh thức giấc mấy lần vì ác mộng. Tuy nhiên, anh không nhớ nổi mình đã mơ gì. Cái giường anh nằm ngủ rất hẹp và rất mềm, cạnh lò sưởi, nơi tầng trệt. Tầng hai là một kiểu gác xép có một cái giường khác và một cửa sổ tròn nhỏ xíu, giống như mắt thuyền. Trong một cái rương to anh tìm thấy nhiều sách, hầu hết bằng tiếng Nga, nhưng anh ngạc nhiên nhận ra có vài cuốn là bằng tiếng Đức. Bởi Reiter biết có nhiều người Do Thái Đông Âu biết tiếng Đức nên anh đoán căn nhà này trên thực tế từng thuộc một người Do Thái. Thỉnh thoảng, giữa đêm thâu, sau khi gặp ác mộng phải choàng dậy la hét, anh thắp cây nến luôn luôn để cạnh giường rồi ngồi lặng rất lâu, chăn tuột khỏi hai chân, ngắm những vật thể đang nhảy múa cùng ánh nến mà cảm thấy mình chẳng có cơ nào qua nổi đận này trong khi cái lạnh cứ từ từ đóng băng anh. Thỉnh thoảng, buổi sáng, khi thức dậy, anh lại nằm lặng ngắm trần nhà bằng bùn và rơm và nhận thấy căn nhà này có cái gì đó đầy nữ tính, khó mà nói được là gì.

Sống gần đó có vài người Ukraina không phải là dân Kostekino, vừa mới đến để làm việc ở nông trang cũ. Mỗi khi Reiter ra khỏi nhà những người Ukraina này lại nhấc mũ và khẽ cúi để chào anh. Mấy hôm đầu Reiter không chào đáp lại. Nhưng rồi, một cách rụt rè, anh giơ tay lên vẫy tuồng như tạm biệt họ. Sáng sáng anh đi bộ đến dòng suối. Bằng con dao anh đào một lỗ rồi nhúng một cái môi xuống múc lên ít nước mà uống tại chỗ, thây kệ lạnh giá.

Khi mùa đông đến toàn bộ đám người Đức rút vào ngôi nhà gạch và thỉnh thoảng lại ăn chơi chè chén thâu đêm. Chẳng còn ai nhớ tới họ, tuồng như khi mặt trận sụp đổ thì họ cũng đã biến mất theo. Đôi khi họ ra ngoài tìm đàn bà. Những lần khác họ làm tình với nhau và chẳng ai nói năng gì. Đây là một thiên đường đóng băng, một trong các chiến hữu cũ của Reiter ở sư đoàn 79 nói. Reiter nhìn anh ta tuồng như chẳng hiểu anh ta nói gì, thế là anh lính vỗ vỗ vai anh mà nói tội nghiệp Reiter, tội nghiệp Reiter.

Có một lúc, Reiter nhìn chính mình trong một tấm gương anh tìm thấy trong một góc nhà. Đã lâu không soi gương, anh gần như không nhận ra chính mình. Râu hàm anh màu vàng, rối bời, tóc anh dài và bẩn thỉu, mắt anh khô và trống rỗng. Cứt, anh nghĩ. Đoạn anh tháo băng nơi cổ: vết thương có vẻ đã lành không có rắc rối gì, nhưng băng rất bẩn và máu khô làm nó cứng quèo, nên anh quyết định quẳng nó vào lò sưởi. Sau đó anh lục khắp nhà tìm thứ gì dùng làm băng được và do vậy anh tìm thấy giấy tờ của Boris Abramovich Ansky và chỗ trốn bí mật đằng sau lò sưởi.

♣ ♣ ♣

Chỗ trốn này cực đơn giản song cũng cực thông minh. Lò sưởi, đồng thời cũng là bếp, có miệng đủ rộng và ống khói đủ sâu để một người có thể cúi khom chui vào được. Trong khi bề rộng có thể nhìn qua là biết thì chiều sâu nhìn từ bên ngoài không thể đoán được, thêm nữa các bức tường ám đen mồ hóng là một lớp ngụy trang tinh vi. Mắt người không thể nhìn ra được cái khoảng hở phía sau, chỉ một đường nứt, song đủ lớn để một người ngồi co gối trốn an toàn trong bóng tối. Tuy nhiên, ngồi một mình trong căn nhà trại, Reiter ngẫm nghĩ rằng để cho cái chỗ trốn này hoạt động hoàn hảo thì phải có hai người: một người ngồi trốn còn một người đặt nồi xúp lên bếp rồi sau đó đốt lò sưởi và chốc chốc lại cời lửa.

Suốt nhiều ngày cái nan đề này cứ chiếm lĩnh tâm trí anh, bởi anh tin rằng nếu giải được nó thì anh sẽ hiểu rõ hơn về cuộc đời hoặc trạng thái tinh thần hoặc mức độ tuyệt vọng đã từng giày vò Boris Ansky hoặc người nào đó mà Boris Ansky biết rõ. Đôi lần anh định đốt lửa từ bên trong. Anh chỉ làm được một lần. Treo một nồi nước hoặc đặt một ấm samovar lên những súc củi cháy hóa ra là việc không thể nào làm được, khiến cho rốt cuộc anh kết luận rằng người nào xây nên cái chỗ trốn này hẳn đã vừa xây vừa nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ có người trốn ở đây và một người khác sẽ giúp anh ta trốn. Người được cứu và người cứu, Reiter nghĩ. Người sẽ sống và người sẽ chết. Người sẽ lẻn đi khi đêm xuống và người sẽ ở lại và quy hàng. Thỉnh thoảng, đêm đêm, anh ngồi trong chỗ trốn ấy, chỉ trang bị có mỗi những giấy tờ của Boris Ansky và một cây nến, ngồi đó đọc, đọc mãi đến khuya, cho đến khi cơ bắp cứng đờ và toàn thân cóng lạnh.

♣ ♣ ♣

Boris Abramovich Ansky sinh năm 1909 ở Kostekino, trong chính căn nhà mà anh lính Reiter đang sống. Cha mẹ anh ta là người Do Thái, cũng như hầu hết dân làng, họ sống bằng nghề bán áo sơ mi, cha của anh ta đi mua sỉ áo sơ mi tại Dnepropetrovsk và đôi khi ở Odessa rồi đem về bán lại cho các làng lân cận. Mẹ anh ta nuôi gà lấy trứng bán và gia đình họ không cần mua rau bởi họ có một mảnh vườn tuy nhỏ nhưng chăm bón tốt. Giống như vợ chồng Abraham và Sarah trong Kinh Thánh, mãi đến khi đã già họ mới có một đứa con trai, Boris, đứa con khiến họ tràn đầy niềm vui.

Thỉnh thoảng, khi Abraham Ansky gặp bạn bè, ông hay đùa về chuyện ấy, nói rằng cái thằng hư hỏng đó, tức là con ông đấy, nó hư đến nỗi đôi khi ông nghĩ đáng lẽ ông nên đem nó đi hiến tế khi nó còn nhỏ mới phải. Những người Do Thái Chính thống của làng này liền cảm thấy bị xúc phạm hoặc vờ bị xúc phạm còn những người khác phá lên cười thỏa thích trong khi ông kết luận: nhưng thay vì đem nó đi hiến tế thì tôi lại hiến tế một con gà mái! con gà mái! không phải một con cừu hay thằng bé mới sinh của tôi mà là một con gà mái! con gà mái đẻ trứng vàng!

Năm mười bốn tuổi Boris Ansky gia nhập Hồng quân. Cuộc chia tay với cha mẹ thật đau lòng xiết bao. Đầu tiên cha cậu nức nở khôn nguôi, sau đó đến lượt mẹ cậu và cuối cùng Boris lao vào vòng tay cha mẹ và cả cậu cũng khóc. Chuyến hành trình đến Moskva thật khó quên. Dọc đường cậu thấy những khuôn mặt phi thường, nghe những cuộc trò chuyện hay những màn diễn văn phi thường, đọc thấy trên các bức tường những tuyên ngôn phi thường tuyên bố rằng thiên đàng đã gần kề, và tất cả những gì cậu gặp, dù trên đường hay trên tàu hỏa, đều tác động đến cậu mạnh mẽ bởi đây là lần đầu cậu ra khỏi làng, nếu không kể hai lần cậu cùng cha đi bán áo sơ mi loanh quanh trong huyện. Ở Moskva cậu đến một phòng tuyển quân và khi cậu toan ghi danh tòng quân chiến đấu chống Wrangel thì người ta cho hay Wrangel đã bị đánh bại rồi. Nghe đoạn Ansky nói cậu muốn tòng quân chiến đấu chống quân Ba Lan thì người ta liền bảo quân Ba Lan đã bị đánh bại rồi. Nghe đoạn Ansky hét lên rằng cậu muốn tòng quân chống Krasnov và Denikin thì người ta liền bảo Krasnov và Denikin đã bị đánh bại rồi. Chừng đó Ansky nói thôi được rồi, cậu muốn chiến đấu chống quân Bạch vệ Cô-dắc hay quân Tiệp hay Koltchak hay Yudenitsch hay quân Đồng minh và người ta bảo cậu rằng tất tật các bọn đó bị đánh bại hết ráo rồi. Tin tức về làng cậu muộn, họ nói. Rồi họ hỏi: chú em từ đâu tới hả nhóc? Ansky liền bảo Kostekino, gần sông Dnieper. Chừng đó một người lính già đang hút tẩu liền hỏi cậu tên gì và cậu có phải người Do Thái không. Ansky liền nói phải, cậu là người Do Thái, đoạn nhìn thẳng vào mắt người lính già và chỉ bấy giờ cậu mới nhận ra ông này chột và lại còn cụt một tay.

“Hồi chiến dịch chống tụi Ba Lan tớ có thằng chiến hữu người Do Thái,” ông già phả ra một bụm khói mà nói.

“Ông ấy tên gì?” Ansky hỏi. “Có khi tôi biết ông ấy.”

“Chú em biết tất tật những người Do Thái có mặt trong nước cộng hòa Xô viết hay sao hả nhóc?” ông lính già chột và cụt tay hỏi.

“Không, dĩ nhiên là không,” Ansky đỏ mặt nói.

“Hắn tên là Dimitri Verbitsky,” ông chột ngồi trong góc của mình mà nói, “hắn chết khi còn cách Warszawa một trăm cây số.”

Đoạn ông chột dịch người trên ghế, kéo chăn lên tận cằm rồi nói: chỉ huy của tụi này hồi đó tên là Korolenko, cũng chết đúng ngày hôm đó. Rồi, với tốc độ siêu thanh, Ansky hình dung ra Verbitsky và Korolenko, thấy Korolenko đang giễu Verbitsky, nghe thấy những lời Korolenko nói sau lưng Verbitsky, dấn vào trong những suy tư trong đêm của Verbitsky, những ham muốn của Korolenko, vào những giấc mơ mơ hồ và chuội đi của cả hai, vào những tín điều của họ và những cuộc ruổi ngựa của họ, những khu rừng mà họ bỏ lại sau lưng và những vùng đất ngập nước họ băng qua, vào những âm thanh của đêm thâu giữa vùng đất trống và những cuộc chuyện trò không hiểu nổi của binh lính vào buổi sáng trước khi lên lưng ngựa. Cậu thấy những làng mạc những nông trang, thấy những nhà thờ và những bựng khói nhòe mờ dựng lên phía chân trời, cho đến cái ngày cả hai đều chết, Verbitsky và Korolenko, một ngày cực xám, hoàn toàn xám, tuyệt đối xám, tuồng như có một đám mây dài hàng ngàn cây số đã kéo qua vùng đất ấy, không ngừng, vô tận.

Tại khoảnh khắc đó, kéo dài chưa tới một giây, Ansky quyết định mình không muốn làm lính, nhưng cũng ngay lúc đó viên sĩ quan đưa cho cậu tờ giấy và bảo cậu ký tên. Giờ thì cậu là lính.

♣ ♣ ♣

Ba năm kế tiếp cậu toàn đi đây đi đó. Cậu đến Siberia và có mặt tại các mỏ chì ở Norilsk và cậu băng qua lòng chảo Tunguska để hộ tống các kỹ sư từ Omsk đi tìm quặng than, cậu có mặt ở Yakutsk và đi dọc sông Lena đến Bắc Băng Dương, qua cả Vòng Bắc Cực, tháp tùng một nhóm kỹ sư và một bác sĩ khoa thần kinh đến các đảo Tân Siberia nơi mà hai trong số các kỹ sư hóa điên, một người điên theo lối hiền lành nhưng người kia thì điên nguy hiểm, khiến họ phải thủ tiêu anh ta ngay tức thì theo lệnh của ông bác sĩ thần kinh, ông này giải thích rằng loại điên này không cách gì chữa được, lại càng không chữa được giữa sắc trắng chói lóa và cảnh quan gây bấn loạn tâm thần của chốn này, rồi thì cậu đến biển Okhotsk cùng một đơn vị hậu cần mang đồ tiếp tế đến cho một nhóm nhà thám hiểm bị lạc đường, tuy nhiên sau ít ngày thì đơn vị hậu cần cũng lạc đường nốt và rốt cuộc phải ăn sạch chỗ đồ tiếp tế cho các nhà thám hiểm thế rồi cậu ở trong một bệnh viện tại Vladivostok rồi sau đó ở Amur thế rồi cậu thấy bờ hồ Baikal nơi hàng ngàn con chim bay đến, rồi thì thành phố Irkutsk và cuối cùng cậu truy đuổi bọn cướp ở Kazakhstan, trước khi quay lại Moskva làm những việc khác.

Và những việc đó là đọc sách và thăm viện bảo tàng, đọc sách và tản bộ trong công viên, đọc sách và đi dự theo một cách gần như bị ám các buổi hòa nhạc đủ kiểu, các đêm kịch, các bài giảng văn chương và chính trị, từ đó anh rút ra nhiều bài học thật là hay anh có thể áp dụng vào vốn kinh nghiệm sống tích lũy được đến nay. Và chính trong quãng thời gian này anh gặp Efraim Ivanov, nhà văn khoa học viễn tưởng, trong một quán cà phê văn chương, quán cà phê văn chương tốt nhất ở Moskva, hay đúng hơn là ngoài hiên quán cà phê, nơi Ivanov ngồi uống vodka ở một bàn nằm một mình một góc, dưới tán một cây sồi khổng lồ vươn lên tận tầng ba của tòa nhà, và họ kết bạn, một phần bởi Ivanov hứng thú với những ý tưởng kỳ dị của Ansky còn một phần là bởi Ansky biểu lộ, ít nhất là vào lúc đó, một niềm ngưỡng mộ nhiệt thành không giấu giếm với tác phẩm của Ivanov mà nhà văn thích gọi là trước tác khoa học và chối từ cái danh xưng chính thức và phổ biến thời đó là nhà văn kỳ ảo. Hồi đó Ansky nghĩ chẳng bao lâu nữa cách mạng sẽ lan ra toàn thế giới, bởi vì chỉ một thằng ngốc hay một kẻ hư vô chủ nghĩa mới không thể nhìn thấy hoặc trực cảm được tiềm năng tiến bộ và hạnh phúc của cách mạng. Đến kỳ cùng, cách mạng sẽ thủ tiêu cái chết, Ansky nghĩ vậy.

Khi Ivanov nói với cậu rằng không thể có chuyện đó, rằng cái chết đã ở bên con người ngay từ thuở hồng hoang, Ansky liền nói vấn đề chính là chỗ ấy, toàn bộ vấn đề là đấy, có lẽ duy chỉ điều ấy là hệ trọng, thủ tiêu cái chết, thủ tiêu nó mãi mãi, dìm chúng ta vào vô tri cho đến khi ta tìm được thứ gì khác. Thủ tiêu, thủ tiêu, thủ tiêu.

♣ ♣ ♣

Ivanov là đảng viên từ năm 1902. Hồi đó ông đang thử viết truyện theo lối Tolstoy, Chekhov, Gorky, nói vậy nghĩa là đang thử ăn cắp văn của họ song không thành công mấy, việc này khiến cho ông, sau khi nghiền ngẫm rõ lâu (trọn một đêm hè) đã đi đến quyết định khôn ngoan là mình sẽ viết theo lối của Odoevsky và Lazhechnikov. Năm mươi phần trăm Odoevsky và năm mươi phần trăm Lazhechnikov. Chuyện này êm đẹp, một phần là bởi độc giả của ông, với chứng kém trí nhớ đặc trưng cho độc giả, đã quên mất Odoevsky tội nghiệp (sinh 1803 mất 1869) và Lazhechnikov tội nghiệp (sinh 1792 mất 1869, cùng năm mất với Odoevsky), còn một phần là bởi giới phê bình văn học, vốn bao giờ cũng tinh tường, chẳng suy ra được gì chẳng luận ra mối liên hệ nào cũng chẳng nhận thấy gì.

Năm 1910 Ivanov được coi là một nhà văn nhiều hứa hẹn, người ta kỳ vọng ở ông những thứ lớn lao, tuy nhiên đến khi đó thì hình mẫu Odoevsky và Lazhechnikov đã bị ông khai thác kiệt rồi, thế nên sản phẩm nghệ thuật của Ivanov bị chựng lại hoặc, nếu nhìn theo cách khác, đạt tới một điểm rơi mà ông không thể gỡ khỏi ngay cả khi đã cố thử một món thập cẩm mới trong cơn tuyệt vọng: sự kết hợp giữa Odoevsky mang chất Hoffmann với Lazhechnikov môn đồ của Walter Scott với ngôi sao đang lên Gorky. Ông buộc phải thừa nhận rằng truyện ông viết chẳng còn ai quan tâm nữa, và điều này gây tác hại đến tình hình tài chính của ông và trên hết là lòng tự trọng của ông. Cho đến khi xảy ra Cách mạng Tháng Mười Ivanov làm thời vụ cho các tạp chí khoa học, các tạp chí về nông nghiệp, làm người đọc morát, làm nhân viên bán bóng đèn điện, làm thư ký văn phòng luật, nhưng chẳng bao giờ lơ là công việc của mình trong đảng, ở đấy ông làm gần như bất cứ việc gì cần làm, từ viết và biên tập các sách nhỏ chuyền tay cho đến mua giấy và làm liên lạc viên với các nhà văn cùng chung ý hướng và vài bạn đồng hành. Và tất cả những việc đó ông làm mà không than vãn, cũng không từ bỏ thói quen đã có từ lâu: hằng ngày đến thăm những nơi quán rượu giới nghệ sĩ nghèo Moskva tụ tập, và rượu vodka.

Thắng lợi của cách mạng chẳng làm cho triển vọng văn chương hay công việc của ông khá khẩm hơn, ngược lại thì có. Việc của ông tăng lên gấp đôi, chẳng hiếm khi gấp ba và đôi khi thậm chí gấp tư, nhưng Ivanov chu toàn nghĩa vụ của mình mà chẳng oán thán gì. Một hôm người ta đề nghị ông viết một truyện về đời sống tại Nga vào năm 1940. Trong vòng ba tiếng đồng hồ Ivanov viết xong truyện khoa học viễn tưởng đầu tiên của mình. Truyện tên là “Chuyến tàu băng qua rặng Ural”, được kể từ góc nhìn của nhân vật chính là một cậu bé đi trên một đoàn tàu chạy với vận tốc trung bình hai trăm cây số một giờ. Cậu mô tả những gì lướt qua trước mắt cậu: những nhà máy sáng choang, những cánh đồng chăm bón kỹ, những ngôi làng mô hình mới gồm hai ba tòa nhà mỗi tòa hơn chục tầng, các làng này được những đoàn đại biểu nước ngoài vui vẻ đến thăm và ghi chú cẩn thận về những tiến bộ của làng để đem về áp dụng tại nước mình. Cậu bé trên “Chuyến tàu băng qua rặng Ural” đang trên đường đến thăm ông nội, một cựu binh Hồng quân. Ông nội của cậu, sau khi lấy được bằng đại học ở lứa tuổi mà bình thường ra thiên hạ đều đã tốt nghiệp từ lâu, đã lãnh đạo một phòng thí nghiệm chuyên tiến hành những nghiên cứu phức tạp bị giấu kín dưới bức màn tuyệt mật. Khi hai ông cháu rời nhà ga, tay trong tay, người ông của cậu, một người đầy sinh lực trông chưa quá bốn mươi mặc dù hiển nhiên ông cao tuổi hơn nhiều, kể cho cậu nghe về một số phát hiện mới nhất, thế nhưng cháu của ông, dù gì thì cũng chỉ là cậu bé con, bắt ông phải kể chuyện về cách mạng, về cuộc chiến chống quân bạch vệ và chống nước ngoài can thiệp, và thế là ông nội cậu, dù gì thì cũng là một ông già, rất vui lòng kể lại. Và chỉ có vậy. Truyện của ông được người ta đón nhận nhiệt tình.

Phải nói rằng người đầu tiên ngạc nhiên là chính nhà văn. Người thứ hai là biên tập viên, người đã đọc bản thảo với cây bút chì lăm lăm và thấy truyện chẳng có gì xuất sắc. Thư từ tới tấp đến tòa soạn yêu cầu có thêm bài vở của Ivanov, “tác giả vô danh” ấy, “tiếng nói đầy hứa hẹn” ấy, “một nhà văn tin ở ngày mai”, “một tác giả khơi dậy niềm tin vào tương lai mà chúng ta đang phấn đấu tiến lên”, và những lá thư đến từ Moskva từ Leningrad, tuy nhiên cũng có cả thư của các chiến binh và các nhà hoạt động chính trị từ những ngóc ngách xa xôi nhất của đất nước, những người tự đồng nhất mình với hình tượng người ông, khiến cho tổng biên tập tờ báo suốt đêm không ngủ, bởi vì ông, một nhà mác-xít có tinh thần biện chứng, có phương pháp và duy vật chứ hoàn toàn không giáo điều, một nhà mác-xít cũng như mọi nhà mác-xít xuất sắc đã nghiên cứu không chỉ Marx mà cả Hegel và Feuerbach (thậm chí cả Kant), là người bật cười sảng khoái khi đọc lại Lichtenberg và đã đọc Montaigne và Pascal và tương đối rành rẽ về trước tác của Fourier, ông không thể tin rằng trong tất cả những thứ hay ho (hay nói chính xác hơn là trong số ít những thứ hay ho) mà tạp chí của ông đã in thì chính truyện này, đa cảm đến phát ớn và hoàn toàn không có tí cơ sở khoa học nào, lại là truyện đã làm rung động nhiều trái tim nhất trên đất nước Xô viết.

Có gì đó không ổn, ông nghĩ. Dĩ nhiên, đêm trằn trọc của biên tập viên lại là một đêm vodka và hân thưởng vinh quang đối với Ivanov, ông quyết định ăn mừng thành công đầu tiên của mình tại những ổ du hí hạng bét của Moskva rồi sau đó tại Văn nhân quán, ở đấy ông ăn tối cùng bốn người bạn trông giống như bốn kỵ sĩ Khải Huyền. Từ đó trở đi người ta chỉ yêu cầu Ivanov viết truyện khoa học viễn tưởng mà thôi, thế là ông này, sau khi soi kỹ truyện đầu tiên của mình, cái truyện mà ông đã hầu như chỉ viết bừa ra cho có, liền lặp lại công thức ấy với những biến tấu rút ra từ kho tàng văn chương phong phú của Nga và từ những ấn phẩm hóa học, sinh học, y học, thiên văn học mà ông tích trữ trong căn hộ của mình kiểu như một kẻ cho vay nặng lãi tích trữ những lệnh phiếu chưa được trả, thư tín dụng, những ngân phiếu bị hủy ngang. Cứ vậy mà tên tuổi ông trở nên lừng lẫy khắp Liên bang Xô viết và chẳng bao lâu ông trở thành nhà văn chuyên nghiệp, có thể sống hoàn toàn nhờ thu nhập từ viết văn và thường xuyên dự các hội thảo các tọa đàm ở trường đại học ở nhà máy vân vân và tác phẩm của ông được các tạp chí văn học và nhật báo tranh nhau giành giật.

Nhưng cái gì cũng đến lúc trở nên già cỗi, thành thử cái công thức gồm tương lai xán lạn cộng với người hùng góp phần tạo nên tương lai tươi sáng ấy cộng với cậu bé (hoặc cô bé) sống trong tương lai (mà trong truyện của Ivanov là thời hiện tại) và được hưởng trái ngọt từ thiên tài sáng tạo dồi dào của đất nước Xô viết, cả nó rồi cũng trở nên già cỗi. Khi Ansky gặp Ivanov thì nhà văn không còn là một tác gia bán chạy và các tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của ông ta, mà nhiều người cho là khoa trương hoặc không chịu nổi, không còn khơi dậy được nhiệt tình nơi người đọc như ngày xưa nữa. Song Ivanov vẫn viết, vẫn được xuất bản và hằng tháng vẫn kiếm được tiền nhờ những viễn tượng thiên đường trên mặt đất của mình. Ông vẫn là đảng viên. Ông vẫn nằm trong Hội Nhà văn Cách mạng. Tên ông có trong danh sách chính thức các nhà sáng tạo của Liên bang Xô viết. Bề ngoài ông là một người hạnh phúc, một người độc thân có căn hộ to rộng tiện nghi trong một tòa nhà ở một quận sang đẹp của Moskva, thi thoảng ngủ với những ả điếm không còn trẻ nữa rồi thì sau đó hát hỏng và khóc lóc cùng các ả này, một người ít nhất bốn lần một tuần ăn ở nhà hàng của các nhà văn nhà thơ.

Tuy nhiên, trong thâm tâm, Ivanov cảm thấy thiếu một cái gì đó. Bước quyết định, cú ra tay đầy táo bạo. Cái khoảnh khắc khi mà con sâu, với nụ cười khinh mạn, biến thành con bướm. Thế rồi chàng Do Thái trẻ tuổi Ansky xuất hiện với những ý tưởng kỳ dị, những hình dung về Siberia, những cuộc xâm nhập vào những vùng đất bị rủa nguyền, cái khối ngồn ngộn những trải nghiệm hoang dại chỉ có thể có ở một chàng trai mười tám. Nhưng Ivanov cũng từng có lúc mười tám, thế mà ông tuyệt đối chẳng bao giờ từng nếm trải chuyện gì giống như Ansky mô tả. Có lẽ vì cậu ta là người Do Thái còn mình thì không, ông nghĩ. Ông nhanh chóng xua ý nghĩ đó đi. Có lẽ vì sự hồn nhiên của cậu ta, ông nghĩ. Tính cách bốc đồng của cậu ta. Sự khinh khi của cậu ta đối với những chuẩn mực cầm trịch đời sống, kể cả đời sống tư sản, ông nghĩ. Thế rồi ông nghĩ rằng những nghệ sĩ hoặc giả nghệ sĩ tuổi thiếu niên thật gớm ghiếc đến nhường nào nếu nhìn ở cự ly gần. Ông nghĩ đến Mayakovsky, người mà ông đã trực tiếp gặp mặt, từng cùng nói chuyện một lần, có lẽ hai lần, nghĩ đến sự phù phiếm mênh mông của ông ta, một sự phù phiếm có lẽ đã che giấu sự thiếu tình thương yêu đối với người lân cận, sự thiếu quan tâm đến con người, lòng khát khao danh vọng quá mức của ông ta. Rồi kế đó ông nghĩ đến Lermontov và Pushkin, những người ngạo mạn chẳng kém minh tinh điện ảnh hay ca sĩ nhạc kịch. Nijinsky. Gurov. Nadson. Blok (ông này thì ông đã gặp, là một gã không ai chịu nổi). Loài cá ký sinh bám lên nghệ thuật, ông nghĩ. Họ tin mình là mặt trời, đốt cháy mọi thứ, nhưng họ chẳng phải mặt trời, họ chỉ là sao băng đâm đầu xuống đất và rốt cuộc chả ai quan tâm tới họ. Họ gieo sự sỉ nhục chứ không gieo lửa. Và cuối cùng thì chính họ bị sỉ nhục, mà là sỉ nhục thực sự, bị nện bị nhổ nước bọt, bị nguyền rủa và chặt tay chặt chân, bị sỉ nhục ra trò, để cho họ một bài học, bị sỉ nhục tới nơi tới chốn.

♣ ♣ ♣

Với Ivanov, một nhà văn đích thực, một nghệ sĩ và người sáng tạo đích thực, về cơ bản là một người có trách nhiệm với một mức độ trưởng thành nhất định. Một nhà văn đích thực phải biết khi nào cần nghe còn khi nào cần hành động. Nhà văn đích thực cần nhanh nhạy vừa phải và có học vấn vừa phải. Học vấn quá sẽ khiến người ta ghen tị và căm ghét. Nhanh nhạy quá sẽ khiến người ta ngờ vực. Nhà văn đích thực cần phải là người điềm tĩnh ở độ vừa phải, một người thuận theo lẽ thường. Không nói quá to cũng không khơi tranh cãi. Anh ta phải dễ mến một cách vừa phải và phải biết cách không gây thù chuốc oán vô nghĩa. Trên hết, anh ta phải nói năng nhỏ nhẹ, trừ phi những người khác nâng giọng anh lên. Nhà văn đích thực phải biết rằng sau lưng anh ta có Hội Nhà văn, Công đoàn Nghệ sĩ, Liên hiệp Công nhân Văn học, Hội Thi sĩ. Khi một người vào nhà thờ, việc đầu tiên anh ta làm là gì? Efraim Ivanov tự hỏi. Bỏ mũ ra. Cứ cho là không làm dấu thánh giá. Ừ thôi, không làm dấu thánh giá cũng được. Chúng ta là người hiện đại mà. Nhưng ít nhất cũng hãy để đầu trần! Trong khi tụi nhà văn mới lớn thì ngược lại, tụi nó vào nhà thờ mà không bỏ mũ cho dù có bị quất gậy vào mông đi nữa, thì cũng đáng tiếc là rốt cuộc tụi nó sẽ bị quất gậy vào mông. Mà đâu phải chỉ không bỏ mũ: tụi nó còn cười cợt, còn ngáp, còn làm trò khỉ, còn xì hơi thối. Có thằng còn vỗ tay nữa.

Tuy nhiên, thứ mà Ansky đề xuất lại hấp dẫn quá nên Ivanov dẫu dè dặt song không thể đành lòng từ khước. Hình như giao kèo được ký kết trong phòng của nhà văn khoa học giả tưởng.

Một tháng sau, Ansky gia nhập đảng. Hai người tiến cử anh là Ivanov và một người yêu cũ của ông này, Margarita Afanasievna, làm nhà sinh vật học tại một viện nghiên cứu ở Moskva. Trong đống giấy của Ansky, sự kiện này được đem so với một đám cưới. Người ta ăn mừng nó tại nhà hàng của các văn nhân rồi thì họ lang thang một vòng đến vài ba ổ ăn chơi của Moskva, đi đến đâu là lôi Afanasievna đến đấy, chị này nốc rượu như một mụ đàn bà bị kết án và đêm đó suýt bị hôn mê vì rượu. Tại một trong các ổ ăn chơi, trong khi Ivanov cùng với hai nhà văn đến nhập hội hát những bài ca về tình yêu đã mất, về những cái nhìn không bao giờ được đáp lại, những lời êm mượt không bao giờ có ai nghe, Afanasievna tỉnh dậy và dùng bàn tay nhỏ cầm lấy dương vật và cặp tinh hoàn của Ansky bên dưới lớp quần.

“Giờ cậu là người cộng sản rồi,” chị nói mà tránh nhìn vào mắt anh, cái nhìn của chị găm vào một chỗ không rõ là đâu ở giữa rốn và cổ anh, “mấy thứ này của anh phải bằng thép.”

“Thật hả?” Ansky hỏi.

“Đừng có lỡm chị,” giọng khàn khàn của Afanasievna nói. “Chị hiểu cậu. Nhìn thấy cậu lần đầu chị đã biết cậu là ai rồi.”

“Vậy tôi là ai?” Ansky hỏi.

“Một thằng ôn Do Thái lẫn lộn thực tại với dục vọng.”

“Thực tại đôi khi là dục vọng thuần túy,” Ansky lẩm bẩm.

Afanasievna cả cười.

“Tôi phải hiểu ý đó ra sao đây?” chị hỏi.

“Sao cũng được nhưng hãy cẩn thận, nữ đồng chí ạ,” Ansky thầm thì. “Chẳng hạn, hãy chú ý đến một số người.”

“Những ai?” Afanasievna nói.

“Những người bệnh,” Ansky nói. “Những người bị lao chẳng hạn. Theo như bác sĩ thì họ đang hấp hối, về chuyện đó chẳng thể bàn cãi gì nữa. Nhưng đối với các bệnh nhân lao, đặc biệt là vào vài đêm, vài buổi tối đặc biệt dài, dục vọng là thực tại và ngược lại. Hay là những người bất lực.”

“Bất lực loại nào?” Afanasievna hỏi, vẫn không buông cơ quan sinh dục của Ansky.

“Bất lực tình dục, dĩ nhiên,” Ansky thầm thì.

“À,” Afanasievna kêu lên, và bật một tiếng cười nhỏ đầy châm biếm.

“Những người bất lực cũng ít nhiều giống với bệnh nhân lao, và họ cảm thấy dục vọng. Một dục vọng càng ngày càng không chỉ hất cẳng thực tại mà còn đè lên trên thực tại.”

“Cậu có cho rằng người chết có cảm giác dục vọng xác thịt không?”

“Người chết thì không,” Ansky nói, “nhưng người sống mà như chết thì có. Hồi ở Siberia tôi có gặp một tay thợ săn đã bị mất cơ quan sinh dục.”

“Cơ quan sinh dục!” Afanasievna chế giễu.

“Dương vật và tinh hoàn anh ta,” Ansky nói. “Anh ta đi tè thì phải ngồi hoặc quỳ, khom xuống, tè qua một cái ống nhỏ.”

“Nói vậy là rõ rồi,” Afanasievna nói.

“Ờ thì, cái người này, cũng chẳng còn trẻ nữa, cứ mỗi tuần một lần, thời tiết ra sao cũng mặc, lại vào rừng tìm dương vật và cặp tinh hoàn của mình. Ai cũng nghĩ một hôm nào đó anh ta sẽ chết vùi trong tuyết, thế nhưng thằng cha lần nào cũng quay về làng được, đôi lần là sau khi mất mặt vài tháng trời, lần nào cũng với chỉ một cái tin: anh ta không tìm thấy chúng. Một hôm anh ta quyết định không đi tìm nữa. Đột nhiên anh ta có vẻ già đi: đêm trước trông còn năm mươi tuổi mà sáng ra đã như tám chục. Phân đội của tôi rời làng ấy. Bốn tháng sau chúng tôi lại đi ngang làng đó và chúng tôi hỏi thăm cái tay không có bộ phận sinh dục giờ sao rồi. Họ bảo chúng tôi là anh ta lấy vợ rồi và đang sống hạnh phúc. Một trong các đồng đội tôi cùng tôi muốn gặp anh ta: chúng tôi bắt gặp anh ta đang chuẩn bị hành trang cho một đợt cắm rừng dài ngày nữa. Giờ anh ta lại trông chỉ năm mươi chứ không phải tám mươi. Hay thậm chí đôi chỗ trên khuôn mặt anh ta, quanh hai mắt, cặp môi, cái hàm thì chỉ bốn mươi thôi. Hai hôm sau, khi chúng tôi rời khỏi đó, tôi tin rằng tay thợ săn đã tìm được cách đè dục vọng của mình lên trên thực tại, việc này, theo cách của mình, đã biến cải cảnh quan xung quanh anh ta, ngôi làng, dân làng, khu rừng, tuyết, cái dương vật và cặp tinh hoàn đã mất của anh ta. Tôi hình dung anh ta quỳ mà đái, hai chân giạng rộng giữa thảo nguyên đóng băng, đi bộ về phía Bắc, về phía những hoang mạc trắng xóa và bão tuyết trắng xóa, ba lô ních căng những bẫy, tuyệt đối không ý thức gì về cái mà chúng ta gọi là số mệnh.”

“Chuyện hay đó,” Afanasievna vừa nói vừa buông cơ quan sinh dục của Ansky ra. “Tiếc là chị già quá rồi và thấy quá nhiều thứ rồi nên không thể tin nó được.”

“Nó chẳng liên quan gì đến chuyện tin,” Ansky nói, “mà liên quan đến chuyện hiểu, rồi thì thay đổi.”

♣ ♣ ♣

Từ lúc đó trở đi, đời của Ansky và của Ivanov đi theo những hướng khác nhau, ít ra là ở bề ngoài.

Chàng Do Thái trẻ bị cuốn vào những hoạt động sôi nổi. Chẳng hạn, năm 1929, ở tuổi hai mươi, anh tham gia sáng lập nhiều tạp chí (trên đó chưa từng in bất cứ sáng tác nào của anh) ở Moskva, Leningrad, Smolensk, Kiev, Rostov. Anh là thành viên sáng lập Nhà hát những Giọng Tưởng tượng. Anh cố tìm nhà xuất bản cho một số trước tác của Khlebnikov được phát hiện sau khi ông này mất. Với tư cách phóng viên của một tờ báo chết từ trong trứng nước, anh đã phỏng vấn tướng Tukhachevsky và tướng Blücher. Anh có nhân tình, tiến sĩ y khoa Maria Zamyatina, chị này lớn hơn anh mười tuổi và là vợ một lãnh đạo cấp cao trong đảng. Anh kết bạn với Grigori Yakovin, một chuyên gia lớn về lịch sử Đức đương đại, người anh thường cùng tản bộ và đàm đạo về tiếng Đức và tiếng Yiddish. Anh quen biết Zinoviev. Anh viết một bài thơ lạ bằng tiếng Đức về chuyện Trotsky bị đi đày. Anh còn viết một loạt cách ngôn bằng tiếng Đức có nhan đề Suy niệm về cái chết của Evgenia Bosch, biệt danh của lãnh tụ Bôn-sê-vích Evgenia Gotlibovna (1879-1924), người mà Pierre Broue mô tả: “Đảng viên 1900, Bôn-sê-vích 1903. Bị bắt năm 1913, bị trục xuất, thoát được năm 1915, tị nạn ở Mỹ, tham gia hoạt động cách mạng cùng Pyatakov và Bukharin và chống lại Lenin trong vấn đề dân tộc. Về nước sau Cách mạng Tháng Hai, đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc nổi dậy ở Kiev và trong nội chiến. Ký bản Tuyên ngôn 46. Tự sát năm 1924 để phản đối.” Và anh viết một bài thơ bằng tiếng Yiddish, tán dương, thô bỉ, đầy văng tục, về Ivan Rajia (1887-1920), một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Phần Lan, có lẽ bị ám sát bởi chính tay các đồng chí của mình trong một cuộc tranh giành quyền lực. Anh đọc các nhà vị lai, đọc nhóm Ly tâm, đọc các nhà thơ duy hình. Anh đọc các truyện đầu tay của Platonov và Babel, cũng như đọc Boris Pilnyak (ông này anh hoàn toàn không thích) và Andrey Bely, tiểu thuyết Petersburg của ông này anh thức trắng đọc suốt bốn ngày. Anh viết một tiểu luận về tương lai của văn chương, mở đầu và kết lại bằng chữ “chẳng có gì”. Trong thời gian đó quan hệ giữa anh với Maria Zamyatina gặp trắc trở bởi ngoài anh ra cô này có một tình nhân khác, một bác sĩ chuyên về bệnh phổi, một người chữa cho bệnh nhân lao! Tay này phần lớn thời gian sống ở bán đảo Crimea và được Maria Zamyatina mô tả là giống như Giê su tái thế trừ đi râu hàm và cộng thêm một cái bờ lu trắng, một cái áo bờ lu cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ của Ansky trong năm 1929. Và anh không ngừng làm việc chuyên cần tại Thư viện Moskva. Và thi thoảng, những khi nhớ ra, anh viết thư cho cha mẹ, họ hồi âm với tình thương yêu, nỗi hoài nhớ và lòng can trường, chẳng bao giờ nhắc tới nạn đói hay tình trạng khan hiếm đang hoành hành ở vùng đất sông Dnieper vốn một thời màu mỡ. Và anh cũng có thì giờ viết một tác phẩm hài lạ lùng có nhan đề Landauer, dựa trên những ngày cuối đời của nhà văn Đức Gustav Landauer, người đã viết Thư gửi các nhà văn vào năm 1918 và bị xử tử vào năm 1919 bởi tham gia vào nước Cộng hòa Xô viết Munich. Cũng trong năm 1929 anh đọc một tiểu thuyết vừa được xuất bản, Quảng trường Alexander ở Berlin, của Alfred Döblin, anh thấy cuốn này đáng lưu ý, đáng nhớ và kiệt xuất thế nên anh liền đi lùng thêm sách của Döblin, và bắt gặp trong Thư viện Moskva các cuốn Ba cú nhảy của Wang-lun (1915), Cuộc chiến giữa Wadzek với động cơ hơi nước (1918), Wallenstein (1920) và Núi, biển và người khổng lồ (1924).

♣ ♣ ♣

Và trong khi Ansky đọc Döblin hay phỏng vấn Tukhachevsky hay làm tình với Maria Zamyatina trong căn hộ của anh trên phố Petrov thành Moskva, Efraim Ivanov cho in cuốn tiểu thuyết lớn đầu tiên của mình, cuốn mở ra cho ông cánh cổng thiên đường, một mặt khôi phục sự trung thành của độc giả ông, mặt khác lần đầu tiên khiến ông giành được sự nể trọng của những người ông coi là ngang hàng, những nhà văn ấy, những nhà văn tài ba, những người nuôi ngọn lửa của Tolstoy và Chekhov, nuôi ngọn lửa của Pushkin, của Gogol, họ đột nhiên để ý đến ông, nhìn thấy ông lần đầu tiên, và thực tế họ đã chấp nhận ông.

Gorky, bấy giờ hãy còn chưa quay về sống hẳn ở Moskva, viết cho ông một lá thư mang dấu bưu điện Ý mà trong đó ta có thể thấy rõ ngón tay răn bảo của người cha sáng lập, song ở đó ta cũng có thể nhận ra một lòng tử tế bao la cùng sự tri ân to lớn của một người đọc.

Cuốn tiểu thuyết của anh đã cho tôi những khoảnh khắc rất… thích thú, ông nói. Trong những trang văn của anh có thể nhận ra… một niềm tin, một niềm hy vọng. Không thể nói rằng trí tưởng tượng của anh… bị bóp nghẹt. Không, không thể nào có thể nói vậy được… Có những người nói đến một… Jules Verne của Liên bang Xô viết. Tuy nhiên, sau khi nghiền ngẫm kỹ, tôi tin rằng anh… hay hơn Jules Verne. Một cây bút… trưởng thành hơn. Một cây bút được dẫn dắt bởi… bản năng cách mạng. Một cây bút… vĩ đại. Người ta không thể mong đợi gì hơn từ một… người cộng sản. Nhưng ta hãy nói thẳng ra… như những người Xô viết. Văn chương vô sản nói về con người của… ngày hôm nay. Nó đề ra những vấn đề mà chỉ… ngày mai mới giải quyết được. Song nó hướng đến người công nhân ngày hôm nay, chứ không phải đến người công nhân… của tương lai. Trong những cuốn sách sau này anh cần phải… nhớ trong lòng điều đó.

Nếu Stendhal đã nhảy múa khi đọc được lời phê của Balzac về cuốn Tu viện thành Parme như người ta nói, thì Ivanov cũng tuôn vô vàn giọt lệ sung sướng khi nhận được lá thư của Gorky.

Cuốn tiểu thuyết được tất cả mọi người nhất tề tán tụng ấy có tên là Hoàng hôn và cốt truyện rất đơn giản: một cậu bé mười bốn tuổi bỏ gia đình để tham gia hàng ngũ cách mạng. Chẳng bao lâu sau cậu chiến đấu chống quân Wrangel. Giữa một trận đánh cậu bị thương nặng và bị đồng đội bỏ lại. Nhưng kền kền chưa kịp đến ăn xác chết thì một tàu vũ trụ từ hành tinh khác hạ xuống chiến trường đưa cậu đi cùng với vài người lính bị tử thương khác. Sau đó con tàu tiến lên tầng bình lưu và đi vào quỹ đạo quanh Trái đất. Tất cả những người bị thương đều nhanh chóng lành lặn. Thế rồi một sinh vật cao lêu đêu, gầy nhom, trông giống nhành rong biển hơn là một con người, hỏi họ một loạt câu hỏi kiểu như: các vì sao hình thành như thế nào? vũ trụ kết thúc ở đâu? bắt đầu ở đâu? Dĩ nhiên, chẳng ai biết câu trả lời. Một người nói Chúa Trời tạo ra những vì sao và vũ trụ bắt đầu và kết thúc ở nơi đâu Ngài muốn. Cậu bị quẳng ra khỏi tàu. Những người khác ngủ. Khi thức dậy cậu bé mười bốn tuổi thấy mình ở trong một căn phòng tồi tàn, với một cái giường tồi tàn và một cái tủ tồi tàn trong đó treo bộ quần áo tồi tàn của cậu. Nhìn ra ngoài cửa sổ cậu kinh ngạc thấy quang cảnh đô thị New York. Nhưng trong thành phố vĩ đại ấy cậu bé chỉ toàn gặp chuyện không may thôi. Cậu làm quen với một nhạc công jazz, tay này kể cho cậu nghe về những con gà mái biết nói và có lẽ còn biết nghĩ nữa.

“Điều tệ nhất là các chính phủ trên hành tinh biết chuyện đó thành thử mới có nhiều người nuôi gà đến cỡ vậy,” tay nhạc công nói với cậu.

Cậu trai cãi rằng người ta nuôi gà là để ăn. Tay nhạc công bảo chính lũ gà muốn thế. Và để kết luận anh ta nói:

“Lũ gà mái thống dâm khốn kiếp, tụi nó nắm dái các nhà lãnh đạo của chúng ta.”

Cậu cũng gặp một cô gái làm nghề thôi miên tại một hí viện và phải lòng cô. Cô gái lớn hơn cậu trai mười tuổi, tức là hai mươi bốn, và cô chẳng muốn yêu ai tuy rằng cô có nhiều người yêu trong số đó có cậu trai, bởi cô cho rằng tình yêu sẽ khiến cho năng lực thôi miên của cô bị hao mòn. Một ngày kia cô gái biến mất và cậu trai, sau khi tìm kiếm hoài công, quyết định thuê một tay thám tử người Mexico từng là lính của Pancho Villa. Tay thám tử có một giả thuyết lạ lùng: gã tin rằng có nhiều Trái đất tại những vũ trụ song song. Ta có thể đến được những Trái đất ấy thông qua thuật thôi miên. Cậu trai tin rằng tay thám tử đang bịp mình và quyết định sẽ đi cùng y trong những chuyến điều tra. Một đêm kia họ gặp một hành khất người Nga đang la hét trong một ngõ hẻm. Người hành khất hét bằng tiếng Nga nên chỉ mình cậu trai biết ông ta hét gì. Người hành khất bảo: tôi từng chiến đấu cho Wrangel, làm ơn tôn trọng tôi một tí, tôi từng chiến đấu ở Crimea và tôi được một chiếc tàu của Anh sơ tán khỏi Sebastopol. Chừng đó cậu trai liền hỏi có phải ông ta đã có mặt ở trận đánh mà cậu bị thương không. Tay hành khất nhìn cậu và nói có. Tôi cũng vậy, cậu trai nói. Không thể nào, người hành khất nói, chuyện đó đã hai mươi năm rồi, lúc ấy chú mày còn chưa sinh ra kia mà.

Sau đó cậu trai cùng tay thám tử người Mexico lên đường về phía Tây tìm nàng nghệ sĩ thôi miên. Họ gặp nàng ở Kansas City. Cậu trai đề nghị cô thôi miên cậu và đưa cậu trở về bãi chiến trường nơi cậu lẽ ra đã chết, bằng không thì hãy chấp nhận tình yêu của cậu và thôi không chạy trốn nữa. Nàng thôi miên đáp rằng cả cái này lẫn cái kia đều không thể. Tay thám tử Mexico tỏ ra quan tâm đến thuật thôi miên. Trong khi tay thám tử bắt đầu kể cho nàng thôi miên nghe một câu chuyện, cậu trai rời khỏi quán đi ra đường và cất bước dưới màn đêm. Lát sau cậu thôi không khóc nữa.

Cậu đi hàng tiếng đồng hồ. Khi đến một chốn đồng không mông quạnh thì cậu thấy một dáng người bên vệ đường. Đó là người ngoài hành tinh trông như tảo biển. Họ chào nhau. Họ trò chuyện. Cuộc chuyện trò của họ thường là không thể hiểu nổi. Đề tài rất khác nhau: các ngoại ngữ, các đài tưởng niệm quốc gia, những ngày cuối đời của Karl Marx, tình đoàn kết công nhân, thời gian thay đổi được tính bằng năm Trái đất và năm tinh tú, sự kiện phát hiện ra châu Mỹ như là một tấn tuồng, một chốn hư vô không đáy của những cái mặt nạ như trong tranh của Doré. Sau đó cậu trai theo gót người ngoài hành tinh rời khỏi đường lộ và họ đi qua một đồng lúa mì, băng một dòng suối, leo một ngọn đồi, băng một cánh đồng nữa, cho tới khi đến một bãi chăn đang âm ỉ cháy.

Trong chương kế, cậu trai không còn là cậu trai nữa mà là một chàng trai hai mươi lăm tuổi làm việc tại một tờ báo của Moskva, ở đấy anh đã trở thành phóng viên ngôi sao. Chàng trai được giao nhiệm vụ phỏng vấn một lãnh tụ cộng sản ở đâu đó tại Trung Hoa. Người ta báo trước rằng cuộc hành trình sẽ cực kỳ gian truân và khi đã đến Bắc Kinh rồi thì tình hình có thể nguy hiểm, bởi có nhiều người không muốn bất cứ phát ngôn nào của vị lãnh tụ Trung Hoa này lọt ra ngoài. Mặc những cảnh báo ấy, chàng trai chấp nhận việc này. Khi sau bao nhiêu vất vả khó khăn rốt cuộc chàng trai cũng đến được căn hầm nơi vị lãnh tụ Trung Hoa đang ẩn náu, anh liền quyết định sẽ không chỉ phỏng vấn mà còn giúp ông thoát khỏi nước này. Trong ánh nến, khuôn mặt vị lãnh tụ Trung Hoa trông đến là giống khuôn mặt của tay thám tử Mexico từng là chiến binh dưới trướng Pancho Villa. Giữa lúc đó thì lãnh tụ Trung Hoa và chàng thanh niên Nga cùng mắc một căn bệnh, gây ra do sự độc hại của căn hầm. Họ run cầm cập vì sốt, họ đổ mồ hôi, họ chuyện trò, họ nói sảng, vị lãnh tụ Trung Hoa nói là ông từng thấy những con rồng bay là đà dọc theo đường phố Bắc Kinh, anh người Nga nói anh thấy một trận đánh, có khi chỉ là một cuộc giao tranh nhỏ, anh hét hu-ra và giục anh em chiến hữu xông lên. Sau đó cả hai nằm im như chết một thời gian, vật vã đau đớn trong im lặng cho đến cái ngày chạy trốn đã định.

Với cơn sốt 39 độ trong người, ông Trung Hoa và anh người Nga băng qua Bắc Kinh chạy trốn. Ở miền quê, ngựa và nhu yếu phẩm đã sắp sẵn chờ họ. Ông Trung Hoa chưa cưỡi ngựa bao giờ. Chàng trai chỉ cho ông cách cưỡi. Trong chuyến đi họ băng qua một cánh rừng rồi sau đó một vùng núi non sừng sững. Ánh ngòi của sao trên trời dường như siêu nhiên. Ông Trung Hoa tự hỏi: Các vì sao tạo thành như thế nào? Vũ trụ chấm dứt nơi nao? Bắt đầu ở nơi nao? Chàng trai trẻ nghe ông ta mà mơ hồ nhớ lại một vết thương nơi cạnh sườn mà sẹo vẫn còn đau, bóng tối, một cuộc hành trình. Anh cũng nhớ tới cặp mắt nàng nghệ sĩ thôi miên, tuy những đường nét của người đàn bà ấy vẫn mờ tối, biến dịch không ngừng. Anh nghĩ: nếu mình nhắm mắt, mình sẽ gặp lại nàng. Nhưng anh không nhắm mắt. Họ băng qua một đồng bằng mênh mông tuyết phủ. Ngựa thụt chân sâu trong tuyết. Ông Trung Hoa hát. Các vì sao tạo thành như thế nào? Chúng ta là gì giữa vũ trụ vô biên? Dấu vết nào của chúng ta sẽ còn lại?

Bỗng vị lãnh tụ Trung Hoa ngã ngựa. Chàng trai Nga kiểm tra tình trạng của ông. Ông Trung Hoa giống như con búp bê đang bốc cháy. Chàng trai Nga sờ trán ông Trung Hoa rồi sờ trán mình và hiểu rằng cơn sốt đang ngốn ngấu cả hai người. Chật vật lắm anh mới xốc được vị lãnh tụ Trung Hoa lên ngựa để rồi cả hai đi tiếp. Tịch lặng trên cánh đồng tuyết này thật toàn bích. Đêm cùng với cuộc hành tiến của sao băng qua vòm trời chẳng tỏ dấu hiệu gì là sẽ dứt. Ở xa xa là một bóng đen sừng sững dường như chồng lên bóng tối. Trong trí chàng trai Nga dần dần hình thành niềm tin chắc trong vài giờ nữa mình sẽ chết trên đồng bằng tuyết phủ này hoặc trong khi mình đang băng qua núi. Một giọng nói bên trong anh van nài anh nhắm mắt, bởi nếu anh nhắm mắt thì rồi anh sẽ thấy đôi mắt, rồi sau đó khuôn mặt dấu yêu của nàng nghệ sĩ thôi miên. Nó bảo anh rằng nếu anh nhắm mắt thì anh sẽ quay lại phố phường New York, sẽ lại đi trên con đường dẫn đến nhà nàng nghệ sĩ thôi miên, ở đó nàng ngồi trên ghế trong bóng tối đợi anh. Nhưng chàng trai Nga không nhắm mắt mà tiếp tục ruổi ngựa.

♣ ♣ ♣

Không phải chỉ mình Gorky đọc Hoàng hôn. Những người nổi tiếng khác cũng đọc, và mặc dù chẳng ai trong bọn họ viết thư cho tác giả tỏ lòng khâm phục, song họ không quên tên ông, bởi họ không chỉ nổi tiếng mà còn nhớ giỏi.

Ansky nêu tên bốn người, trong một sự tăng cấp chóng mặt. Giáo sư Stanislav Strumilin đọc cuốn sách. Ông thấy nó rối rắm khó hiểu. Nhà văn Aleksei Tolstoy đọc cuốn sách. Ông thấy nó hỗn độn. Andrei Zhdanov đọc cuốn sách. Ông bỏ dở nửa chừng. Và Stalin đọc cuốn sách. Ông thấy nó khả nghi. Lẽ đương nhiên, chẳng tin nào trong số này đến được tai Ivanov của chúng ta. Bức thư của Gorky ông đem lồng vào khung treo lên tường nơi đám khách khứa đến nhà ngày càng đông có thể nhìn thấy rõ. Đồng thời, cuộc sống của ông thay đổi đáng kể. Ông được cấp một ngôi biệt thự ở ngoại ô Moskva. Đôi lần trong xe điện ngầm người ta xin chữ ký ông. Ông có một bàn dành riêng cho mình hằng đêm tại nhà hàng của giới văn nhân. Ông nghỉ mát tại Yalta, bên cạnh những nhà văn khác nổi tiếng tương đương. Ôi chao, những buổi tối nơi Khách sạn Tháng Mười Đỏ ở Yalta (khách sạn Anh và Pháp hồi xưa), trên ban công rộng thênh nhìn ra Biển Đen, lắng nghe những hợp âm của dàn nhạc Volga Xanh từ xa vẳng tới, những đêm ấm áp với ngàn sao lấp lánh trên cao, trong khi kịch tác gia thời thượng buông một lời thông thái và tiểu thuyết gia thuộc ngành luyện kim đáp lại bằng một câu khôn đỡ, những đêm Yalta, với những người đàn bà phi thường có thể uống vodka đến sáu giờ sáng mà không bất tỉnh và với những thanh niên mướt mát mồ hôi thuộc Hội Nhà văn Vô sản Crimea đến lúc bốn giờ sáng để xin lời khuyên về chuyện văn chương.

Thỉnh thoảng, khi chỉ có một mình, thường là một mình trước gương, ông Ivanov đáng thương tự véo mình cho chắc rằng mình không phải đang mơ, rằng mọi chuyện đều là thật. Và quả tình tất cả là thật, ít nhất là bề ngoài. Những đám mây giông đen ngòm lơ lửng trên đầu ông, song ông chỉ nhận ra được mỗi làn gió nhẹ mà ông mong đợi đã lâu, hơi gió thoảng ngát hương gột sạch khỏi mặt ông mọi bất hạnh và sợ hãi.

♣ ♣ ♣

Ivanov sợ gì? trong sổ ghi của mình Ansky tự hỏi. Không phải những mối nguy về thể xác, bởi là một người bôn-sê-vích kỳ cựu, ông từng chẳng ít lần suýt bị bắt, bị cầm tù, trục xuất, và dẫu ta không thể nói ông là một người dũng cảm, song cũng không thể thẳng băng mà bảo ông là kẻ bạc nhược và hèn nhát. Nỗi sợ của Ivanov mang một bản chất văn chương. Nghĩa là, đấy là cái nỗi sợ giày vò hầu hết công dân, những người vào một ngày đẹp trời (hay xấu trời) nào đó quyết định biến việc viết lách, nhất là viết văn chương hư cấu, thành một phần không thể tách rời của đời mình. Sợ mình viết dở. Cũng là sợ mình không được ai thừa nhận. Nhưng trên hết là sợ mình viết dở. Sợ rằng những nỗ lực phấn đấu của mình sẽ chẳng đi đến đâu. Sợ bước chân mình chẳng để lại dấu vết nào. Sợ những lực của ngẫu nhiên và của tự nhiên xóa sạch những dấu chân nông. Sợ ngồi ăn một mình chẳng ai để ý thấy mình. Sợ mình không được đánh giá đúng. Sợ mình thất bại và biến thành trò cười. Song hơn hết là sợ mình viết dở. Sợ phải lặn ngụp đời đời trong địa ngục dành cho đám nhà văn dở. Những nỗi sợ phi lý, Ansky nghĩ, nhất khi kẻ sợ kia trấn an nỗi sợ của mình bằng những giả hình. Cứ như thể, theo ý các nhà văn dở, trong thiên đàng của các nhà văn giỏi chỉ cư ngụ toàn các giả hình. Cứ như thể giá trị (hay sự xuất chúng) của một tác phẩm chẳng dựa trên gì khác ngoài những giả hình. Một thứ giả hình biến đổi tùy từng thời đại và tùy từng quốc gia, dĩ nhiên, song luôn luôn là thế, một giả hình, không hơn không kém, một thứ chỉ có vẻ song không bao giờ , thứ chỉ toàn bề mặt chứ không có bề sâu, thuần túy là điệu bộ, kể cả là điệu bộ bị ý chí làm cho rối rắm cả lên, tóc và mắt và môi của Tolstoy và những véc-xta mà Tolstoy đã ruổi ngựa qua và những đàn bà bị Tolstoy phá trinh trên một tấm thảm dệt bị ngọn lửa giả hình thiêu cháy.

♣ ♣ ♣

Dẫu sao, mây bão vẫn đang vần vũ trên đầu Ivanov, dẫu ông chưa bao giờ thấy chúng cả ở trong mơ, bởi vì, tại thời điểm này của đời mình, Ivanov chỉ thấy mỗi mình Ivanov đang lên đến cực đỉnh lố bịch của tự tôn trong một buổi phỏng vấn do hai thanh niên trẻ thuộc tờ Báo Văn học của Đoàn Thanh niên Cộng sản Liên bang Nga thực hiện. Họ đặt cho ông, giữa nhiều câu hỏi khác, những câu sau:

Thanh niên Cộng sản: Tại sao ông cho rằng tác phẩm lớn đầu tiên của ông, tác phẩm được quần chúng công nông nhiệt liệt hoan nghênh, là tác phẩm ông viết khi đã gần sáu mươi tuổi? Ông đã phải mất bao nhiêu lâu mới nghĩ ra được cốt truyện cho Hoàng hôn? Có phải đó là tác phẩm của một nhà văn đạt độ chín muồi?

Efraim Ivanov: Tôi năm nay mới chỉ năm mươi chín. Phải ít lâu nữa tôi mới tròn sáu mươi. Và tôi xin nhắc các bạn rằng Cervantes viết Don Quijote khi xấp xỉ tầm tuổi tôi.

Thanh niên Cộng sản: Ông có cho rằng tác phẩm của ông giống như Don Quijote của tiểu thuyết khoa học giả tưởng Xô viết không?

Efraim Ivanov: Nhận định đó có phần chính xác, tất nhiên rồi.

Vậy là Ivanov tự cho mình là Cervantes của văn chương huyễn tưởng. Ông thấy những đám mây mang hình máy chém, ông thấy những đám mây mang hình một phát đạn bắn vào gáy, nhưng thực tế ông chỉ thấy bản thân mình ruổi ngựa bên một Sancho đắc lực và bí ẩn băng qua những thảo nguyên của vinh quang văn học.

Nguy hiểm, nguy hiểm, các mu-gích nói, nguy hiểm, nguy hiểm, các ku-lắc nói, nguy hiểm, nguy hiểm, những người ký Tuyên ngôn 46 nói, nguy hiểm, nguy hiểm, các linh mục Chính thống giáo đã chết nói, nguy hiểm, nguy hiểm, linh hồn của Inessa Armand nói, nhưng Ivanov vốn chưa bao giờ là người thính giác nhạy bén hoặc dự cảm được mây đen đang đến hay bão đã cận kề, và rồi sau một cú tạt ngang ít nhiều xoàng xĩnh với tư cách cây bút xã luận và diễn giả, với kết quả thành công mỹ mãn bởi người ta chưa bao giờ đòi hỏi ở ông cái gì hơn là sự xoàng xĩnh, ông lại giam mình trong căn hộ ở Moskva mà chồng chất hết ram giấy này lên ram giấy nọ và thay hết băng mực này đến băng mực khác cho cái máy đánh chữ, rồi sau đó ông đi tìm Ansky bởi ông muốn gửi cho biên tập viên của mình một cuốn tiểu thuyết mới sau bốn tháng nữa, nếu không phải sớm hơn.

Dạo ấy Ansky đang làm cho một dự án truyền thanh nhằm phủ sóng toàn bộ châu Âu và vươn đến tận vùng xa nhất của Siberia. Vào năm 1930, các sổ ghi cho biết, Trotsky bị trục xuất khỏi Liên bang Xô viết (dù thật ra ông này bị trục xuất năm 1929, nhầm lẫn này có thể quy cho sự thiếu minh bạch của báo chí Nga) và tinh thần của Ansky bắt đầu sa sút. Năm 1930 Mayakovsky tự sát. Năm 1930, dẫu có ngây thơ hay ngu xuẩn đến đâu đi nữa, người ta cũng không thể không thấy rõ một điều: Cách mạng Tháng Mười đã thất bại.

Nhưng Ivanov muốn có một tiểu thuyết mới nên đi tìm Ansky.

♣ ♣ ♣

Năm 1932, cuốn tiểu thuyết mới của Ansky, nhan đề Giữa trưa, được xuất bản. Năm 1934, một tiểu thuyết khác xuất hiện, nhan đề Rạng đông. Cả hai đều đầy rẫy những người ngoài hành tinh, những chuyến du hành liên hành tinh, thời gian đứt đoạn, sự hiện hữu của hai hay thậm chí nhiều hơn những nền văn minh tiên tiến thường xuyên đến thăm Trái đất, những cuộc chiến đấu (thường là khốc liệt và đầy xảo trá) giữa các nền văn minh đó, những nhân vật luôn luôn xê dịch.

Năm 1935, tiểu thuyết của Ivanov bị thu hồi khỏi các hiệu sách. Ít ngày sau, có một thông báo chính thức báo cho ông biết mình đã bị khai trừ khỏi đảng. Theo Ansky, Ivanov suốt ba ngày không thể ra khỏi giường. Trên giường là ba cuốn tiểu thuyết của ông và ông không ngừng đọc đi đọc lại ba cuốn ấy, cố tìm một cái gì đó có thể là lý do cho việc ông bị khai trừ. Ông rền rĩ ông thút thít và cố tìm nơi trú ẩn trong kỷ niệm thời thơ ấu của mình song không được. Ông vuốt ve gáy mấy cuốn sách của mình với một nỗi u sầu xé lòng. Thỉnh thoảng ông đứng dậy lại gần cửa sổ nhìn ra phố hàng tiếng liền.

Năm 1936, khi bắt đầu làn sóng thanh trừng lớn đầu tiên, ông bị bắt. Ông nằm khám trong bốn tháng và ký tất cả những giấy tờ người ta đặt trước mặt ông. Khi ra tù, bị đám bạn bè văn chương cũ đối xử tuồng như ông bị dịch hạch, ông viết thư cho Gorky nhờ can thiệp giùm ông, nhưng Gorky đang bệnh nặng nên không hồi âm. Sau đó Gorky chết và Ivanov dự đám tang. Khi nhìn thấy ông ở đó, một nhà thơ và một nhà tiểu thuyết, cả hai đều trẻ và là người trong giới thân hữu của Gorky, liền lại gần ông hỏi ông không biết xấu hổ sao, ông có điên không, ông có hiểu rằng nội sự có mặt của ông là đã đủ sỉ nhục đối với ký ức về nhà văn bậc thầy hay không.

“Gorky có viết thư cho tôi,” Ivanov đáp. “Gorky thích tiểu thuyết của tôi. Ít nhất thì tôi cũng có thể làm việc này cho ông ấy.”

“Việc tốt nhất anh có thể làm cho ông ấy là tự sát, đồng chí ạ,” nhà thơ nói.

“Phải đó, ý không tồi,” tiểu thuyết gia nói, “về nhà nhảy lầu tự tử đi, thế là xong.”

“Sao các đồng chí lại nói vậy?” Ivanov nức nở.

Một cô gái mặc áo khoác da dài gần chấm gối đi tới chỗ họ mà hỏi có chuyện gì.

“Là Efraim Ivanov đấy,” nhà thơ đáp.

“Vậy thì đâu có gì,” cô gái nói, “cho ông ta đi đi.”

“Tôi không đi được,” Ivanov nói, mặt tèm lem nước mắt.

“Sao không đi được hở đồng chí?” cô gái hỏi.

“Vì chân tôi không chịu nhúc nhích, tôi bước một bước cũng không được.”

Cô gái nhìn thẳng vào mắt ông trong khoảng mấy giây. Ivanov, bị hai nhà văn trẻ tuổi kẹp chặt hai tay, trông thảm hại vô cùng, khiến cho cô gái rốt cuộc quyết định đưa ông ra khỏi nghĩa trang. Nhưng khi cả hai đã ra đến ngoài phố thì Ivanov vẫn không thể đi một mình nên cô gái liền đi bộ với ông đến trạm xe điện và rồi (do Ivanov vẫn không sao thôi khóc và trông như sắp ngất đến nơi) quyết định lên xe cùng ông và cứ thế, lần lữa hết trạm này đến trạm kia không nỡ xuống, rồi cô giúp ông trèo cầu thang lên căn hộ của ông rồi giúp ông mở cửa rồi giúp ông nằm lên giường và trong khi Ivanov vừa khóc như mưa như gió vừa nức nở những câu không ra đầu cua tai nheo gì thì cô gái xem xét thư viện của ông, hóa ra chẳng mấy ấn tượng, cho đến khi cửa mở và Ansky bước vào.

♣ ♣ ♣

Tên cô là Nadja Yurenieva và cô mười chín tuổi. Ngay đêm đó cô làm tình với Ansky, sau khi Ivanov đã ngủ được sau khi uống vài ly vodka. Họ làm chuyện đó trong phòng của Ansky và ai nhìn thấy họ ắt đều sẽ nói họ phịch nhau như thể chỉ vài giờ nữa là họ chết. Trên thực tế Nadja Yurenieva phịch giống như rất nhiều dân Moskva trong cái năm 1936 ấy và Boris Ansky phịch như thể đúng lúc mất hết mọi hy vọng anh lại gặp tình yêu duy nhất và đích thực của mình. Cả hai người chẳng ai nghĩ (hay muốn nghĩ) về cái chết, song cả hai đều cử động, đều xoắn xuýt chân tay, đều nói với nhau nhu thể họ đang bên rìa vực thẳm.

Rạng sáng thì họ ngủ mất, và khi Ansky thức dậy, quá ngọ một chút, Nadja Yurenieva đã đi rồi. Thoạt tiên Ansky thấy tuyệt vọng, rồi sau đó là sợ hãi, và sau khi mặc quần áo xong anh liền chạy đến nhà của Ivanov hòng tìm manh mối dẫn anh gặp lại cô gái. Khi anh gặp Ivanov thì ông này đang bận viết thư. Tôi phải làm rõ chuyện này, ông nói, tôi phải tháo cho được mớ hỗn độn này, chỉ khi đó tôi mới được cứu thoát. Ansky hỏi ông đang nói đến chuyện gì. Mấy cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng mắc dịch, Ivanov thét lên bằng hết sức bình sinh. Tiếng thét dữ dội giống như một bộ vuốt có khả năng cào xé, song không phải một bộ vuốt gây thương tổn cho những kẻ thù có thực của Ivanov hay Ansky, mà đúng hơn là như một bộ vuốt bổ xuống rồi treo lơ lửng giữa phòng, như một quả bóng hêli, một bộ vuốt lúng túng, một con thú - bộ vuốt đang tự hỏi mình đang làm cái quái gì trong căn phòng rất ư bừa bộn này, cái lão già ngồi nơi bàn này là ai, cái gã trẻ tuổi đầu tóc bù xù đang đứng đó là ai, rồi thì nó rớt xuống sàn, xẹp đi, lại quay về cõi hư không.

“Trời đất, tôi hét mới gớm làm sao chớ,” Ivanov nói.

Thế rồi họ bắt đầu nói về nàng Nadja, Nadezhda, Nadiushka, Nadiushkina và Ivanov, trước khi kịp nói gì, ông muốn biết hai người đã làm tình với nhau chưa. Sau đó ông muốn biết họ làm tình trong mấy tiếng đồng hồ. Rồi thì Nadiushka có kinh nghiệm hay không. Rồi thì các tư thế. Và bởi Ansky trả lời mọi câu hỏi một cách đầy đủ và không do dự, Ivanov liền đánh vào mặt tình cảm. Tuổi trẻ chết tiệt, ông nói. Chém cha cái tuổi trẻ chết tiệt. Ôi con đĩ nhí. Quỷ tha ma bắt hai con heo bẩn tưởi này đi. Chao, tình yêu. Và khía cạnh tình cảm, khía cạnh mà ông chỉ có thể tưởng tượng chứ không thể chạm tới, nó khiến ông nhớ ra mình đang trần truồng, không phải là ngồi truồng nơi chiếc bàn, thực ra ông đang quấn một cái áo choàng đỏ, áo choàng hoặc áo ngủ, nói chính xác ra là vậy, với huy hiệu Đảng Cộng sản Liên bang Nga thêu nơi ve áo, cổ quấn chiếc khăn tay lụa, quà của một tay nhà văn Pháp lại cái mà ông làm quen tại một hội nghị văn chương và tác phẩm của hắn ông chưa đọc bao giờ, mà là trần truồng theo nghĩa bóng, trần truồng trên mọi mặt trận khác, mặt trận chính trị, mặt trận văn chương, mặt trận kinh tế, và nhận thức này khiến ông một lần nữa chìm vào nỗi u sầu.

“Tôi tin Nadja Yurenieva là một sinh viên hoặc một nhà thơ trẻ và cô ấy ghét tôi dữ dội. Tôi gặp cô ấy ở đám tang Gorky. Cô ấy cùng hai thằng côn đồ nữa đã tống cổ tôi khỏi chỗ đó. Cô ấy không phải người xấu. Mấy người kia cũng không. Tôi tin chắc họ là những người Cộng sản tốt, những người Xô viết tử tế, chính trực. Tin tôi đi: tôi hiểu họ.”

Đoạn Ivanov ra hiệu bảo Ansky đến cạnh ông. Và ông thì thầm vào tai anh:

“Cái tụi chó đẻ đó, giá tụi nó có quyền thì chắc tụi nó đã cho tôi một viên đạn ngay tại đó rồi lôi xác tôi đến mồ chôn tập thể rồi.”

Hơi thở của Ivanov sực mùi vodka và mùi cống, một mùi chua và nặng, như cái gì đó đang thối rữa, khiến ta nhớ đến những căn nhà trống cạnh đầm lầy, hoàng hôn lúc bốn giờ chiều, hơi nước dậy lên từ lớp cỏ tanh tưởi che mờ những ô cửa sổ tối om. Một bộ phim kinh dị, Ansky nghĩ. Nơi mà mọi thứ đều khựng lại, và nó khựng lại do nó biết mình lạc đường rồi.

♣ ♣ ♣

Nhưng Ivanov nói chao, tình yêu, thành thử Ansky, theo cách của mình, cũng nói chao, tình yêu. Thế rồi suốt mấy ngày sau anh bắt đầu tìm Nadja Yurenieva một cách không mệt mỏi, và cuối cùng tìm ra cô đang mặc cái áo khoác da dài lê thê ấy ngồi trong một giảng đường của Đại học Moskva, trông như trẻ mồ côi, một trẻ mồ côi tự nguyện, đang lắng nghe những lời hùng biện dông dài hay những bài thơ hay những lời ba láp có vần của một tên khụng khiệng vênh vang (hay gì gì cũng được!) đang tuôn ra trong khi mắt gã nhìn chòng chọc vào cử tọa và tay trái gã cầm cái bản thảo ngu đần của gã, cái bản thảo mà chốc chốc gã liếc sang bằng một kiểu đặc phường tuồng và không cần thiết, bởi rõ ràng là trí nhớ gã tốt.

Và Nadja Yurenieva thấy Ansky liền kín đáo đứng dậy ra khỏi giảng đường nơi mà nhà thơ Xô viết dở tệ kia (cũng vô ý vô tứ cũng ngu ngốc cũng cao đạo cũng chết nhát và cũng khụng khiệng như một nhà thơ trữ tình Mexico, hay đúng hơn là như một nhà thơ trữ tình Mỹ La tinh, những hiện tượng đáng thương còi cọc và bị bơm thổi quá cỡ ấy) đang xổ ra những vần thơ của mình về ngành công nghiệp thép (cũng với sự dốt nát vênh vang hệt như các nhà thơ Mỹ La tinh nói về cái tôi của mình, về thời đại của mình, về sự khác biệt của mình), và cô bước ra đường phố Moskva, theo sau là Ansky, anh không lại gần cô mà giữ khoảng cách chừng năm mét, khoảng cách ấy, thời gian càng trôi và họ càng đi xa thì nó càng ngắn lại. Chưa bao giờ Ansky thấu hiểu hơn thế và lấy làm hân hoan hơn thế cái chủ nghĩa siêu việt, cái suprematism do Kasimir Malevich sáng tạo ra, hay cái điều thứ nhất trong bản tuyên ngôn độc lập của Malevich được ký tại Vitebsk vào ngày 5 tháng Mười một năm 1920, điều ấy nói rằng: “Chiều kích thứ năm đã được xác lập.”

♣ ♣ ♣

Vào năm 1937 Ivanov bị bắt.

Một lần nữa người ta thẩm vấn ông thật lâu rồi sau đó bỏ mặc ông trong một xà lim tối om và quên bẵng ông. Người thẩm vấn ông chẳng có tí ti ý niệm gì về văn chương, mối quan tâm chủ yếu của y là tìm xem liệu Ivanov có gặp các thành viên của phe chống đối theo Trotsky không.

Trong thời gian ngồi xà lim, Ivanov đánh bạn với một con chuột mà ông đặt tên là Nikita. Đêm đêm, khi chuột xuất hiện, Ivanov trò chuyện dông dài với nó. Đúng như ta có thể hình dung, họ không nói về văn chương, càng không nói về chính trị, mà mỗi bên kể về thời thơ ấu của mình. Ivanov kể cho chuột nghe nhiều chuyện về mẹ ông, người luôn luôn hiện diện trong ý nghĩ của ông, về anh chị em ông, song tránh nói về bố ông. Về phần mình, bằng một vốn tiếng Nga suýt đủ để thầm thì, Nikita kể cho ông nghe về cống rãnh Moskva, bầu trời trong cống rãnh, nơi đó do hoa trổ trên vài đống gạch vụn hoặc do một quá trình lân quang không giải thích nổi nên sao trời xuất hiện luôn luôn. Cô chuột cũng kể cho ông nghe về sự ấm áp của mẹ cô và về những trò khỉ ngu ngốc của chị em cô, những trò khỉ ấy từng khiến cô cả cười ra sao và ngay cả bây giờ, khi nhớ lại, chúng vẫn khiến một nụ cười nở trên khuôn mặt choắt của cô, mặt của loài chuột. Đôi khi Ivanov rơi vào trầm uất, ông tì má lên lòng bàn tay mà hỏi Nikita chuyện gì sẽ đến với cả hai, người và chuột.

Chừng đó chuột nhìn ông bằng đôi mắt vừa buồn vừa bối rối và cái nhìn của cô khiến Ivanov hiểu rằng cô còn vô tội hơn cả ông. Một tuần sau khi ông bị giam trong xà lim (mặc dù với Ivanov nó giống như một năm) người ta lại thẩm vấn ông, và ông ký một số giấy tờ tài liệu mà không cần ai đánh. Ông không trở lại xà lim. Người ta đưa thẳng ông ra một khoảnh sân, ở đó người ta bắn vào gáy ông rồi quăng xác ông lên thùng một chiếc cam nhông.

♣ ♣ ♣

Sau khi Ivanov chết, sổ ghi của Ansky đâm ra hỗn độn, dường như loạn xạ hẳn lên, mặc dù giữa mớ hỗn loạn ấy Reiter nhìn ra được một cấu trúc và một trật tự nào đó. Ansky nói về những nhà văn. Anh nói rằng những nhà văn duy nhất có thể tồn tại được (tuy anh không giải thích “có thể tồn tại được” ở đây là có ý gì) là những nhà văn xuất thân từ tầng lớp cùng đinh và tầng lớp quý tộc. Nhà văn vô sản và nhà văn tư sản chỉ là những hình nhân trang trí mà thôi, anh nói. Anh nói về tính dục. Anh nhắc lại Sade và một thầy tu Nga kỳ bí, Lapishin, ông này sống vào thế kỷ mười bảy và để lại vài trước tác (kèm theo những minh họa tương ứng) về những thực hành làm tình tập thể ở khu vực giữa sông Dvina và sông Pechora.

Chỉ tình dục thôi? Chỉ tình dục thôi sao? Ansky hỏi đi hỏi lại chính mình như vậy trong những ghi chú bên lề. Anh nói về cha mẹ mình. Anh nói về Döblin. Anh nói về tình dục đồng giới và chứng bất lực. Lục địa tình dục Hoa Kỳ, anh nói. Anh đùa cợt về đời sống tình dục của Lenin. Anh nói về những kẻ nghiện thuốc phiện ở Moskva. Về những kẻ đau ốm. Về những tên giết trẻ em. Anh nói về Flavius Josephus. Những lời bàn của anh về vị sử gia này nhuốm vẻ u sầu, tuy có thể đó là một nỗi u sầu giả bộ. Nhưng Ansky giả bộ với ai, nếu anh biết rõ rằng sẽ chẳng ai đọc sổ ghi của anh? (Nếu như kẻ ấy là Chúa Trời thì Ansky cư xử với Chúa Trời ấy một cách có phần xách mé, có lẽ vì Chúa Trời chẳng bao giờ bị lạc lối trên bán đảo Kamchatka, vừa lạnh cóng vừa đói lả như anh). Anh nói về những người Nga gốc Do Thái trẻ tuổi đã làm nên cách mạng và giờ đây (đoạn này chắc được viết vào năm 1939) đang rụng lả tả như ruồi. Anh nói về Yuri Piatakov, bị ám sát vào năm 1937, sau Phiên tòa Moskva thứ hai. Anh nhắc đến những cái tên mà Reiter chưa bao giờ nghe. Thế rồi, sau đó vài trang, anh nhắc những tên ấy thêm lần nữa. Như thể anh sợ mình quên mất chúng. Những cái tên, tên, tên. Những người làm nên cuộc cách mạng, những người bị chính cuộc cách mạng ấy xâu xé, dù không phải cùng cuộc cách mạng ấy, mà là một cách mạng khác, không phải giấc mơ mà là cơn ác mộng ẩn đằng sau mí mắt của giấc mơ.

Anh nói về Lev Kamenev. Anh nhắc cái tên ấy bên cạnh nhiều cái tên khác mà Reiter cũng không hề biết. Và anh nói về những chuyến phiêu lưu của mình nơi những căn nhà khác nhau của Moskva, cùng với những người bạn hẳn đã giúp đỡ Ansky và, để cho an toàn, Ansky gọi những người này bằng số, chẳng hạn: hôm nay mình ở nhà của 5, bọn mình uống trà đàm đạo đến nửa đêm, sau đó mình đi bộ về nhà, vỉa hè đầy tuyết. Hay: hôm nay mình ở nhà 9, anh ấy kể cho mình nghe về 7 và sau đó bắt đầu huyên thuyên về bệnh tật, về chuyện nên hay không nên tìm cách chữa bệnh ung thư. Hay: chiều nay, dưới ga tàu điện ngầm, mình gặp 13, nhưng anh ta không nhận ra mình, mình ngồi ngủ mơ màng nên nhỡ mất tàu, 13 thì ngồi đọc sách nơi băng ghế bên cạnh, một cuốn sách về những người vô hình, cho đến khi tàu của anh ta tới thì anh ta đứng dậy lên tàu, vẫn không thôi đọc sách cho dù tàu chật như nêm. Rồi anh còn viết: Mắt mình và mắt anh ta gặp nhau. Phịch một con rắn.

Và anh không hề than thân trách phận.

♣ ♣ ♣

Trong cuốn sổ của Ansky lần đầu tiên Reiter đọc được về họa sĩ người Ý Arcimboldo, Giuseppe hay Joseph hay Josepho hay Josephus Arcimboldo hay Arcimboldi hay Arcimboldus, sinh 1527 mất 1593, tuy mãi về sau anh mới nhìn thấy tranh của vị này. Ansky viết: Những khi tôi buồn bã hoặc chán chường, tuy thật khó hình dung Ansky lại có lúc chán chường khi anh ta còn mải miết chạy trốn suốt hai tư giờ một ngày, tôi lại nghĩ đến Giuseppe Arcimboldo và thế là nỗi buồn hay cơn chán nản liền tiêu tán như thể vào một sáng mùa xuân, bên đầm lầy, bước tiến tế vi của buổi sáng xua quang làn sương bốc lên từ bờ hồ, từ lau sậy. Còn có cả những ghi chú về Courbet, người mà Ansky coi là kiểu mẫu cho nghệ sĩ cách mạng. Chẳng hạn, anh cợt giễu cái ý niệm mang màu sắc Mani giáo của một số họa sĩ Xô viết về Courbet. Anh cố hình dung cảnh Courbet vẽ bức Họp hội nghị trở về mô tả một nhóm linh mục và chức sắc giáo hội đang say túy lúy, bức này đã bị Phòng Triển lãm Chính thức và Phòng Triển lãm các Tranh bị Từ chối từ chối không trưng bày, việc này, theo đánh giá của Ansky, khiến cho những kẻ từ chối bức tranh bị từ chối ấy thành ra thật đáng khinh. Anh thấy số phận của Họp hội nghị trở về không chỉ tất yếu và đầy tính thơ mà còn hết sức đanh thép: một người Công giáo giàu có mua bức tranh và vừa về tới nhà xong ông ta liền đốt nó ngay.

Tro của Họp hội nghị trở về không chỉ bay trên bầu trời Paris, mà trên cả bầu trời Moskva bầu trời Roma và bầu trời Berlin, anh lính Reiter đọc mà lệ trào trong mắt, những giọt nước mắt làm anh đau nhói và thức tỉnh anh. Ansky nói về Xưởng Nghệ sĩ. Anh nói về hình ảnh Beaudelaire chăm chú đọc sách nơi rìa tranh, là đại diện cho Thơ. Ansky nói về tình bạn giữa Courbet với Beaudelaire, với Daumier, với Jules Vallès. Anh nói về tình bạn giữa Courbet (Nghệ sĩ) với Proudhon (Chính trị gia) và so sánh những ý kiến khôn ngoan của Proudhon với ý kiến của một con công. Khi nói về nghệ thuật thì một chính trị gia có quyền lực chẳng khác gì một con công khổng lồ, nhảy một bước thôi cũng đủ nghiền nát núi, trong khi một chính trị gia không quyền lực thì chỉ như ông linh mục làng, như một con công kích cỡ bình thường.

Anh mường tượng ra Courbet trong cuộc Cách mạng 1848, rồi thấy ông ở Công xã Paris, nơi đại đa số nghệ sĩ và văn nhân ngời sáng (quả vậy) vì sự vắng mặt của mình. Courbet thì không. Courbet tích cực tham gia và sau khi công xã bị đàn áp thì ông bị bắt, bị giam vào ngục Sainte-Pélagie, tại đấy ông bận rộn vẽ tranh tĩnh vật. Một trong những cáo buộc của nhà nước đối với ông là ông đã khích động quần chúng phá hủy cây cột trên quảng trường Vendôme, tuy nhiên về điểm này Ansky không chắc hoặc không nhớ rõ hoặc chỉ nghe đồn. Đài tưởng niệm Napoléon trên quảng trường Vendôme, đài tưởng niệm trơn trụi đơn sơ trên quảng trường Vendôme, cây cột trên quảng trường Vendôme.

Dù thế nào đi nữa, chân công chức mà Courbet đảm nhiệm sau khi Napoléon III bị truất ngôi đã đặt lên ông trách nhiệm bảo vệ các công trình kỳ vĩ của Paris, điều mà, nếu xét những chuyện xảy ra sau đó, chắc chắn cần phải xem như một trò đùa kỳ vĩ. Tuy nhiên, nước Pháp lúc đó chẳng có bụng dạ nào để đùa cho nên toàn bộ tài sản của họa sĩ bị tịch biên. Courbet sang Thụy Sĩ và mất vào năm 1877 ở tuổi năm mươi tám. Kế đó là vài dòng bằng tiếng Yiddish mà Reiter không hiểu. Anh đoán chừng đó là những câu thể hiện nỗi đau hoặc niềm cay đắng. Sau đó Ansky bắt đầu lạc đề và nói về một số bức tranh của Courbet. Bức tranh có tên Bonjour, Monsieur Courbet gợi cho Reiter nghĩ đến đoạn dạo đầu của một bộ phim, một bộ phim thoạt tiên thơ mộng điền viên rồi từ từ chuyển thành phim kinh dị. Các tiểu thư trên bờ sông Seine khiến Ansky nghĩ tới những tay gián điệp hoặc những thủy thủ bị đắm tàu đang tạm nghỉ ngơi, và Ansky còn nói thêm: những gián điệp từ hành tinh khác tới, và nữa: những thân thể hao mòn nhanh hơn những thân thể khác, và nữa: bệnh tật, sự lây lan bệnh tật, và nữa: ý hướng tỏ ra khảng khái, và nữa: muốn khảng khái thì học ở đâu? trong loại trường nào hay đại học nào? và nữa: nhà máy, phố hoang, ổ đĩ, nhà tù, và nữa: Đại học Không Ai Biết, và nữa: trong khi đó dòng sông Seine chảy, chảy hoài chảy mãi, và những khuôn mặt ma quái đó của các nàng đĩ mang nhiều cái đẹp hơn là mệnh phụ hay viễn cảnh đáng yêu nhất thoát thai từ nét cọ của Ingres hay Delacroix.

Thế rồi có những ghi chép vội vàng hỗn độn, lịch tàu rời Moskva, ánh nắng trưa xám xịt tuôn thẳng đứng xuống Kremlin, những lời cuối của một xác chết, tay gấp bìa một tiểu thuyết bộ ba mà tít của từng cuốn là Bình minh thậtHoàng hôn thật và Run rẩy chạng vạng, mà cấu trúc và cốt truyện chắc hẳn đã mang lại thêm chút ít trật tự và phẩm cách cho ba cuốn tiểu thuyết sau cùng - diềm băng của tấm thảm - được ấn hành dưới tên của Ivanov, mặc dù ông ấy hẳn sẽ không đồng ý che chở chúng, hay cũng có thể mình nhầm, Ansky nghĩ và viết như vậy, có lẽ mình phán xét Ivanov một cách bất công, bởi dựa trên mọi thông tin mình có thì ông ấy không phản bội mình, trong khi đáng lẽ ra ông ấy có thể dễ dàng phản bội mình, dễ dàng khai rằng ông ấy không phải là tác giả của ba cuốn tiểu thuyết kia, thế nhưng đấy lại là việc duy nhất ông ấy không làm, ông ấy phản bội tất cả những ai mà những kẻ tra tấn ông muốn ông phản bội, bạn cũ bạn mới, nhà viết kịch, nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhưng chỉ riêng về mình là ông ấy không hé răng lấy một lời. Những kẻ đồng lõa trong vụ mạo danh cho đến phút cuối.

Giá mà mình cặp được với nhau ở Borneo thì sẽ đẹp đôi biết mấy, Ansky viết đầy mỉa mai. Thế rồi anh nhớ lại một chuyện khôi hài mà Ivanov kể cho anh đã lâu rồi, và chuyện này Ivanov nghe kể ở một bữa tiệc tại văn phòng một tờ tạp chí mà hồi đó ông đang làm việc. Tiệc ấy là để chính thức chiêu đãi một nhóm nhà nhân loại học Xô viết vừa mới quay về Moskva. Chuyện này, nửa bịa nửa thật, xảy ra ở Borneo, nơi một đoàn khoa học gia người Pháp đang dấn bước vào một vùng rừng núi. Sau nhiều ngày cuốc bộ, nhóm người Pháp đến được chỗ đầu nguồn một con sông, băng qua sông ấy thì họ đến nơi sâu nhất của rừng già và gặp một bộ lạc đúng thật là đang sống trong thời Đồ Đá. Phỏng đoán đầu tiên của các vị người Pháp - một trong các nhà nhân chủng học Xô viết giải thích, ấy là một tay to béo phương phi với bộ ria mép rậm rì của dân phương Nam - là đám thổ dân này là hoặc có thể là dân ăn thịt người, và rồi, để cho chắc và để tránh mọi hiểu lầm ngay từ đầu, các ông người Pháp liền hỏi đám thổ dân nọ, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau của thổ dân vùng duyên hải và vừa hỏi vừa kèm theo những động tác khó mà hiểu lầm cho được, rằng đám thổ dân kia có ăn thịt người không.

Những người bản xứ hiểu ý liền đáp lại dứt khoát là không. Chừng đó những người Pháp bèn thắc mắc không hiểu dân bản xứ ăn gì, bởi theo ý họ thì một chế độ ăn mà không có protein động vật thì thật là một thảm họa. Khi được hỏi về chuyện đó, thổ dân đáp rằng họ đúng là có đi săn, song không nhiều, bởi ở chốn rừng già trên núi cao này muông thú chẳng có là bao, và họ còn ăn cả bột của một thứ cây nào đó có thể nấu theo nhiều cách, và khi những người Pháp đa nghi tìm hiểu kỹ thì họ khám phá ra rằng thứ bột cây này là một nguồn bổ sung protein tuyệt hảo. Ngoài cái đó ra thì chế độ ăn của họ gồm rất nhiều loại trái cây, rễ và củ rừng. Dân bản xứ chẳng trồng gì cả. Những gì mà rừng thấy có thể cho họ được thì rừng cho, còn những gì rừng đã không cho thì với họ vĩnh viễn là thứ cấm. Họ sống trong một mối quan hệ cộng sinh trọn vẹn với hệ sinh thái. Khi họ tước vỏ một số loài cây để lát sàn những cái lều nhỏ do họ xây, thì thực tế họ cũng đang giúp cho cây khỏe mạnh. Cuộc sống của họ giống như của phu hốt rác. Họ là những phu hốt rác của rừng. Tuy nhiên ngôn ngữ của họ không thô lỗ như ngôn ngữ của phu hốt rác Moskva hay Paris, họ cũng không to cao như đám phu hốt rác kia, cũng không có thân hình vạm vỡ hay có cái nhìn của đám phu kia, cái nhìn của dân bán cứt, mà họ thấp bé nhỏ xương, họ nói bằng những tiếng gù gù nho nhỏ như chim, họ cố hết sức không chạm vào những người lạ và ý niệm của họ về thời gian chẳng có gì chung với ý niệm về thời gian của nhóm người Pháp. Và có lẽ chính vì chuyện ấy, nhà nhân loại học Xô viết có bộ ria rậm rì nói, chính vì sự khác biệt trong khái niệm về thời gian ấy mà thảm họa ươm mầm, bởi sau năm ngày ở bên bộ lạc thổ dân thì nhóm các nhà nhân loại học người Pháp đinh ninh mình đã chiếm được lòng tin của họ, giờ đây hai bên là cánh hẩu, là chiến hữu, là bạn thiết của nhau rồi, thế là họ quyết định sẽ đào sâu hơn vào ngôn ngữ và phong tục tập quán của thổ dân, và họ phát hiện ra rằng các thổ dân này mỗi khi chạm vào ai thì họ không nhìn vào mặt người ấy, dù đó là người Pháp hay là người cùng bộ lạc với họ, chẳng hạn khi một ông bố ôm đứa con trai mình thì ông ta luôn luôn cố nhìn đi chỗ khác, và nếu một cô bé cuộn tròn trong lòng mẹ thì bà mẹ sẽ liếc sang một bên hoặc ngước lên trời còn cô bé nếu đã đủ lớn để hiểu chuyện thì nhìn xuống đất, còn bạn bè cùng đi đào củ với nhau thì không nhìn vào mắt nhau, song nếu sau một ngày may mắn mà người này chạm vai người kia thì cả hai đều sẽ tránh mắt sang nơi khác, rồi thì các nhà nhân loại học cũng nhận thấy và ghi lại rằng khi hai người dân bản xứ bắt tay nhau thì họ đứng bên cạnh sườn nhau và rồi nếu họ thuận tay phải thì họ luồn tay phải xuống dưới nách trái và để cho nó buông thõng hoặc chỉ siết hờ, còn nếu họ thuận tay trái thì họ luồn tay trái xuống dưới nách phải, thế rồi, nhà nhân loại học Xô viết vừa nói vừa cười sằng sặc, rằng một trong mấy vị người Pháp kia liền quyết định diễn cho thổ dân xem cách chào của dân mình, cách chào của những người sống ở chốn xa hơn cả vùng đất thấp, xa hơn cả biển, xa hơn cả nơi mặt trời vẫn lặn, sau đó bằng cử chỉ hoặc dùng một nhà nhân loại học người Pháp khác làm bạn diễn, vị này diễn cho thổ dân xem cách người ta chào nhau ở Paris, hai bàn tay nắm nhau mà lắc hoặc rung, mặt thì vô cảm hoặc thân ái hoặc ngạc nhiên, mắt nhìn thẳng mắt, môi thì mở ra mà nói Bonjour Monsieur Jouffroy hay Bonjour Monsieur Delhorme hay Bonjour Monsieur Courbet (mặc dù rõ ràng là chẳng có Monsieur Courbet nào ở đó cả, Reiter nghĩ trong khi đọc cuốn sổ tay, hoặc nếu có thì chỉ là một sự tình cờ khó chịu), một trò kịch câm mà những thổ dân quan sát một cách đầy nhã ý, một số người với nụ cười trên môi còn số khác thì chìm trong một bể cảm thông, nhẫn nại và, theo cách riêng của họ, đầy lịch lãm và độ lượng, ít nhất là cho đến khi nhà nhân loại học kia cố thử bắt tay với họ bằng cách ấy.

Theo tay có ria mép thì chuyện này xảy ra tại ngôi làng nhỏ, nếu ta có thể gọi một dúm dăm túp lều nửa khuất nửa lộ trong rừng sâu là một cái làng. Ông Pháp đi về phía một người bản xứ mà chìa tay ra. Người bản xứ hiền lành nhìn đi chỗ khác và thọc bàn tay phải vào dưới nách trái mình. Nhưng ông người Pháp xuất kỳ bất ý xoay phắt người ông thổ dân lại, giật lấy bàn tay ông thổ dân mà siết rồi lắc lên lắc xuống. Làm ra vẻ ngạc nhiên vui sướng, ông nói:

“Bonjour, monsieur l’Indigène.”

Rồi ông không buông tay anh thổ dân mà còn cố nhìn vào mắt anh ta và mỉm cười với anh ta đồng thời phô hai hàm răng trắng phớ của ông và vẫn không buông bàn tay anh ta mà thay vào đó dùng tay trái vỗ vai anh này, bonjour Monsieur l’Indigène, tuồng như ông đang thực sự rất vui sướng, cho đến khi anh thổ dân thét lên một tiếng kinh hoàng, rồi thì anh ta nói một từ, một từ mà các ông người Pháp không hiểu và người hướng dẫn của họ cũng không hiểu, và khi nghe thấy từ này một thổ dân khác liền xông vào nhà nhân loại học đang đóng vai huấn thị bấy giờ vẫn chưa buông tay anh thổ dân thứ nhất ra, thổ dân thứ hai này cầm một hòn đá đập toác đầu nhà nhân loại học, chừng đó nhà nhân loại học mới buông tay.

Kết quả: thổ dân nổi dậy và các nhà nhân loại học người Pháp phải cấp kỳ rút lui sang bên kia sông, để lại một đồng bào của mình đã chết và đến lượt mình cũng gây ra vài tổn thất về người cho phía thổ dân trong những cuộc giao tranh trên đường tháo chạy. Suốt nhiều ngày, trong vùng núi và về sau là nơi quán bar tại một thị trấn vùng duyên hải Borneo, các nhà nhân loại học vắt óc cố lý giải xem cái gì đã khiến cho một bộ tộc hiền lành thoắt cái trở nên hung hãn đến vậy. Sau nhiều lần bàn đi cãi lại cuối cùng họ cho rằng mình đã tìm ra mấu chốt trong cái từ mà anh thổ dân kia đã thốt ra, cái anh đã bị “tấn công” hay bị “hạ nhục” bằng cái bắt tay lành mạnh và hoàn toàn vô hại kia. Từ đó là dayiyi, dịch ra là kẻ ăn thịt người hoặc điều không thể, nhưng còn có những nghĩa khác, một nghĩa trong đó là “cái kẻ hiếp tôi”, nếu được thốt ra sau một tiếng hú thì có nghĩa hoặc có thể có nghĩa là “kẻ hiếp tôi qua lỗ đít”, hay là “kẻ chơi tôi qua lỗ đít rồi sau đó ăn xác tôi”, tuy nó còn có thể có nghĩa là “kẻ chạm vào (hoặc hiếp) tôi rồi sau đó nhìn vào mắt tôi (để ăn linh hồn tôi)”. Dù thế nào thì sau khi nghỉ ngơi ít lâu ở vùng duyên hải các nhà nhân loại học người Pháp lại đi vào núi, song họ không bao giờ gặp lại những thổ dân kia nữa.

♣ ♣ ♣

Khi sắp sửa tuyệt vọng, Ansky quay lại với Arcimboldo. Anh thích nhớ lại những bức tranh của Arcimboldo, dẫu anh không biết hoặc vờ như không biết tí gì về cuộc đời của ông này, vốn là một cuộc đời chắc chắn không thường xuyên sóng gió như đời Courbet, nhưng, trên những bức toan của Arcimboldo, Ansky tìm thấy một cái gì đó mà do không tìm được từ nào hay hơn nên anh gọi là sự giản dị, một từ định tính mà chắc hẳn nhiều học giả và chuyên gia phân tích tác phẩm của Arcimboldo sẽ không ưa.

♣ ♣ ♣

Với anh, kỹ thuật của họa gia thành Milano giống như là hiện thân của hạnh phúc. Cáo chung của cái giả hình. Cõi địa đàng trước khi con người xuất hiện. Không phải bức nào cũng vậy, bởi Thịt quay chẳng hạn thì giống một bức tranh kinh dị, một bức tranh có thể xoay hai chiều, nhìn chiều này thì trông như một cái đĩa kim loại to đựng thịt nướng, gồm một con heo sữa và một con thỏ, cùng với hai bàn tay, có lẽ tay phụ nữ hoặc thanh niên, đang cố che chỗ thịt cho nó không bị nguội, còn nếu nhìn theo chiều ngược lại thì là thân trên của một người lính mặc giáp đội mũ trụ, với một nụ cười thỏa mãn và ngạo nghễ thiếu mấy cái răng, nụ cười ghê rợn của một lính đánh thuê già đang nhìn ta, Ansky viết vậy, và cái nhìn của y còn ghê rợn cả nụ cười của y, tuồng như y biết những điều về ta mà ta không ngờ nổi. Luật gia (một luật sư hoặc một vị quan to với cái đầu làm bằng những mẩu thịt thú rừng nhỏ còn thân thể thì bằng những cuốn sách) cũng giống như một bức tranh kinh dị trong mắt Ansky. Nhưng các tranh về bốn mùa thì là phúc lạc tinh thuần. Vạn vật nằm trong vạn vật, Ansky viết. Như thể Arcimboldo đã học được chỉ một bài học duy nhất, nhưng là bài học có tầm quan trọng cốt tử.

♣ ♣ ♣

Và ở đây Ansky che giấu chuyện mình thiếu quan tâm đến cuộc đời của nhà họa sĩ, anh viết rằng khi Leonardo da Vinci rời Milano vào năm 1516 ông đã trao lại các sổ tay và một số bức vẽ của mình cho học trò là Bernardino Luini, và một thời gian sau, chàng trai Arcimboldo, bạn của con trai Luini, hẳn đã từng đọc và nghiên cứu chúng. Ansky viết: Mỗi khi tôi buồn hoặc ngã lòng, tôi nhắm mắt mường tượng lại những bức tranh của Arcimboldo thế là nỗi buồn và cơn ngã lòng liền biến mất tức thì, như thể có một làn gió mạnh, một làn gió tẩm bạc hà, đột nhiên lùa dọc phố phường Moskva.

♣ ♣ ♣

Sau đó có những ghi chép lộn xộn về cuộc đào tẩu của Ansky. Có mấy người bạn, hai nam một nữ, trò chuyện suốt đêm về những thiệt hơn của việc tự sát. Trong những quãng ngắt hay những khoảng lặng trong cuộc trò chuyện, họ còn bàn về đời sống tình dục của một nhà thơ danh tiếng vừa biến mất gần đây (thật ra là đã bị ám sát) cùng với vợ anh ta. Một nhà thơ Acmeist* cùng vợ anh ta, bị dồn vào cảnh cùng quẫn và ô nhục vô biên. Một cặp đàn ông đàn bà mà, giữa cảnh nghèo đói và bị ghẻ lạnh, đã nghĩ ra một trò chơi rất đơn giản. Trò chơi tình dục. Vợ nhà thơ làm tình với những người khác. Không phải với những nhà thơ khác, bởi nhà thơ này bị cho vào sổ bìa đen và người vợ chịu chung số phận, nên các nhà thơ khác tránh họ như tránh hủi. Người đàn bà rất đẹp. Ba người bạn trò chuyện suốt đêm trong mấy cuốn sổ của Ansky ấy đều đồng ý thế. Cả ba đều biết chị ta hoặc từng có lúc tìm cách nhìn cho được chị ta. Đẹp choáng người. Một phụ nữ gây ấn tượng cực kỳ. Yêu đương sâu đậm. Anh nhà thơ cũng làm tình với các phụ nữ khác. Không phải với các nhà thơ nữ hay với vợ hoặc chị em gái của các nhà thơ khác, bởi nhà thơ này là độc dược biết đi nên tất cả mọi người lánh xa anh ta. Ngoài ra, không thể nói rằng anh ta đẹp trai. Không, không. Xấu trai thì có. Tuy nhiên, nhà thơ làm tình với các nữ công nhân mà anh ta làm quen được trên tàu điện ngầm hoặc đang xếp hàng chờ ở cửa hàng nào đó. Xấu trai, xấu trai, nhưng là người ngọt ngào và dẻo mỏ.

Cả đám bạn cả cười. Phải, anh nhà thơ có trí nhớ cực tốt đến nỗi có thể đọc thuộc lòng những bài thơ buồn nhất, thế nên các nữ công nhân trẻ và không-trẻ-lắm nghe đọc thảy đều rơi lệ. Thế rồi họ lên giường. Vợ của nhà thơ, vốn đẹp quá cho nên được miễn khỏi cần trí nhớ tốt, song trí nhớ của chị ta còn thần kỳ hơn cả của nhà thơ, thần kỳ hơn đến vô cùng tận, thì lên giường với cánh nam công nhân hay thủy thủ nghỉ phép hoặc với mấy anh đốc công hộ pháp góa vợ vốn không còn biết phải làm gì với cuộc đời mình hay sức lực của mình, và với họ sự xuất hiện thình lình của người đàn bà kỳ tuyệt này chẳng khác nào một phép mầu. Họ còn làm tình tập thể nữa. Nhà thơ, vợ anh ta và một phụ nữ khác. Nhà thơ, vợ anh ta và một đàn ông khác. Thường là bộ ba, nhưng thỉnh thoảng cũng bộ bốn bộ năm. Đôi khi, được linh cảm dẫn dắt, một cách màu mè trang trọng họ giới thiệu tình nhân của mình với nhau, các tình nhân này một tuần sau đem lòng yêu nhau và chẳng bao giờ trở lại, chẳng bao giờ tham gia vào những truy hoan tập thể vô sản nho nhỏ ấy nữa, mà cũng có thể có, ai biết được. Dù thế nào thì mọi chuyện chấm dứt khi nhà thơ bị bắt và chẳng ai nghe nói gì về anh ta nữa, vì người ta đã giết anh ta.

Sau đó nhóm bạn trở lại nói thêm về tự sát, về những thiệt và hơn của việc tự sát cho đến khi trời sáng và bấy giờ một người trong bọn, Ansky, rời khỏi căn nhà và rời khỏi Moskva, không giấy tờ, có thể rơi vào tay bất kỳ tên chỉ điểm nào. Rồi thì có những phong cảnh, những phong cảnh nhìn qua cửa kính, những phong cảnh nát vụn, rồi thì những đường sá bẩn thỉu và những ga tàu không tên ở thôn quê nơi những tay ma cà bông bước thẳng từ trong sách Makarenko ra đang tụ bạ với nhau, có những thiếu niên choai choai lưng gù và những thiếu niên choai choai bị cảm lạnh mũi dãi lòng thòng, và có những rãnh nước có bánh mì cứng quèo và có một vụ cướp không thành nhưng Ansky không kể lại anh đã chặn đứng nó như thế nào. Cuối cùng làng Kostekino xuất hiện. Và đêm. Và tiếng gió thân quen. Và mẹ của Ansky, bà mở cửa song không nhận ra anh.

♣ ♣ ♣

Những ghi chép cuối cùng đều ngắn. Chỉ vài tháng sau khi Ansky trở về làng là cha anh mất, tuồng như ông chỉ đợi anh về là tót ngay sang thế giới bên kia. Mẹ anh thu xếp lễ tang, và đêm đến, khi mọi người đã ngủ, Ansky lẻn vào nghĩa trang, ngồi bên mộ cha hồi lâu mà nghĩ vẩn vơ. Ban ngày anh ngủ suốt trên gác xép, chăn kéo tận cằm, trong bóng tối hoàn toàn. Đêm đến anh xuống tầng trệt đọc sách bên ánh lửa, cạnh cái giường mẹ anh đang ngủ. Ở một trong các ghi chú sau cùng anh nhắc đến sự hỗn mang của vũ trụ và nói rằng chỉ trong hỗn mang ấy chúng ta mới có đặng hình hài. Trong một ghi chú khác anh tự hỏi cái gì sẽ còn lại khi vũ trụ chết đi và thời gian không gian cũng chết đi cùng nó. Số không, chẳng có gì. Tuy nhiên, ý nghĩ này khiến anh cả cười. Đằng sau mọi câu trả lời đều ẩn chứa một câu hỏi, Ansky nhớ các nông dân làng Kostekino thường nói vậy. Đằng sau mọi câu trả lời miễn cãi đều ẩn chứa một câu hỏi còn phức tạp hơn. Dẫu vậy, sự phức tạp khiến anh cả cười, và đôi khi mẹ anh nghe thấy anh cả cười trên gác xép, giống như hồi anh mười tuổi. Ansky nghĩ đến những vũ trụ song song. Dạo ấy Hitler xâm lăng Ba Lan và khỏi đầu Thế chiến thứ hai. Warszawa thất thủ, Paris thất thủ, Liên Xô bị tấn công. Chỉ trong hỗn mang chúng ta mới đặng hình hài. Một đêm nọ Ansky nằm mơ thấy bầu trời là một đại dương máu. Trên trang cuối trong cuốn sổ tay Ansky vẽ phác một bản đồ để gia nhập quân du kích.

♣ ♣ ♣

Nhưng vẫn chưa có lời lý giải cho chỗ trốn dành cho một người ở phía sau lò sưởi. Ai đã xây nó? Ai đã trốn ở đó?

Sau khi nghĩ ngợi khá lâu, Reiter kết luận người xây ắt phải là cha của Ansky. Có lẽ chỗ trốn này được xây trước khi Ansky trở về làng. Cũng có khả năng người cha xây nó sau khi người con trở về, điều này quả thực có vẻ hợp lý hơn, bởi vì chỉ khi đó cha mẹ anh mới biết anh là kẻ thù của nhà nước. Nhưng Reiter có trực cảm rằng chỗ trốn ấy, mà anh hình dung là được tạo ra một cách chậm chạp, khéo léo, từ tốn, vốn dĩ được người cha thai nghén ý đồ từ lâu trước khi Ansky trở về, điều này khiến người cha mang vầng hào quang của một nhà tiên tri hoặc một kẻ điên. Và anh còn đi đến kết luận rằng chưa một ai từng dùng cái chỗ trốn ấy.

Dĩ nhiên, anh không loại trừ việc chắc chắn các quan chức đảng đã ghé đến đây, họ đã lùng sục khắp nơi quanh nông trại tìm dấu vết của Ansky, và trong những lần ấy Ansky đã trốn sau lò sưởi, chuyện ấy rất có thể, thậm chí gần như chắc chắn. Nhưng tại thời điểm then chốt, khi phân đội Einsatzgruppe C đến thì đã chẳng có ai trốn ở đó, mẹ của Ansky cũng không. Anh mường tượng thấy bà đang tìm một chỗ an toàn cho cuốn sổ của con trai và rồi, trong mơ, anh thấy bà cùng với những người Do Thái làng Kostekino khác đi về phía sự trừng phạt của người Đức đang đợi bà, về phía chúng ta, về phía cái chết.

Trong mơ anh thấy cả Ansky. Anh thấy Ansky băng qua cánh đồng, giữa đêm khuya, một kẻ vô danh mải mốt đi về phía Tây, và rồi anh thấy Ansky gục xuống dưới một loạt đạn.

♣ ♣ ♣

Suốt mấy ngày Reiter nghĩ mình là người đã bắn Ansky. Đêm đêm anh thấy những cơn ác mộng rùng rợn khiến anh thức dậy bật khóc. Đôi khi anh nằm im, cuộn tròn trên giường, lắng nghe tuyết rơi trên thôn làng. Anh không còn nghĩ đến tự sát, vì anh tin mình đã chết. Sáng sáng việc đầu tiên anh làm là đọc cuốn sổ của Ansky, mở hú họa một trang. Những lúc khác trong ngày anh đi dạo rõ lâu giữa khu rừng phủ tuyết, cho tới khi đến chỗ nông trang tập thể cũ nơi người Ukraina làm việc theo lệnh của hai người Đức dật dờ lơ đãng.

Khi anh dừng chân nơi tòa nhà chính trong làng để lấy thức ăn, anh có cảm tưởng mình đang ở một hành tinh khác. Ở đó bếp lửa luôn luôn đỏ và hai cái nồi nhà binh kếch xù đầy xúp bốc khói mù mịt cả tầng trệt. Nó bốc mùi bắp cải và mùi thuốc lá, và các chiến hữu của anh mặc sơ mi ngắn tay hoặc cởi trần. Anh thích ở trong rừng hơn biết mấy, ở đó anh ngồi trên tuyết cho đến khi mông đít cứng đờ. Anh thích ngôi nhà nông trại hơn, nơi anh đốt lửa rồi ngồi trước lò sưởi đọc lại cuốn sổ tay của Ansky. Chốc chốc anh lại ngẩng lên nhìn chằm chằm vào lò sưởi, tuồng như từ bên trong đó có một hình thù mờ tối toát ra vẻ rụt rè và tử tế đang nhìn anh. Chừng đó một cơn rùng mình khoan khoái chạy dọc châu thân anh. Đôi khi anh mường tượng mình sống cùng gia đình của Ansky. Anh thấy bà mẹ và ông bố cùng cậu nhỏ Ansky đi dọc những con đường Siberia và cuối cùng anh lấy tay che mắt. Khi lửa trong lò đã lụi tắt chỉ còn những mẩu than hồng bé tí sáng âm ỉ trong bóng tối, anh thật thận trọng chui vào trong chỗ trốn vẫn còn ấm, và anh ở đó thật lâu, cho đến khi cái lạnh của bình minh đánh thức anh dậy.

Một đêm kia anh mơ thấy mình quay lại Crimea. Anh không nhớ vùng nào, nhưng chắc chắn là Crimea. Anh nã súng giữa nhiều đám khói phụt lên đây đó giống như mạch nước phun. Đoạn anh bắt đầu đi và bắt gặp một lính Hồng quân đã chết, mặt úp xuống đất, súng vẫn cầm trong tay. Khi anh cúi xuống lật cái xác lên xem mặt, anh đâm sợ, như đã bao nhiêu lần anh sợ, rằng cái xác đó có khuôn mặt của Ansky. Trong khi túm chặt áo khoác của xác chết, anh nghĩ: không, không, không, mình không muốn mang cái gánh nặng này, mình muốn Ansky còn sống, mình không muốn anh ấy chết, mình không muốn là kẻ giết anh ấy, cho dẫu giết dù không muốn, cho dẫu chỉ tình cờ mà giết, cho dẫu giết mà không biết. Rồi thì, cảm thấy nhẹ nhõm hơn là bàng hoàng, anh nhận ra xác chết mang khuôn mặt của chính anh, mặt của Reiter. Sáng ra, thức dậy khỏi giấc mơ này, anh nói lại được. Điều đầu tiên anh nói là:

“May quá, không phải mình.”

♣ ♣ ♣

« Lùi
Tiến »