2666

Lượt đọc: 817 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN BỐN (D)
phần về các tội ác

Tháng Sáu, Klaus Haas gọi vài cuộc điện thoại và triệu tập một cuộc họp báo ở nhà tù Santa Teresa, có sáu nhà báo tham dự. Luật sư của gã đã khuyên không nên họp báo, nhưng lúc này hình như Haas đã mất đi sự bình thản từ trước đến giờ nên không muốn nghe bất cứ lý lẽ nào đi ngược lại dự định của gã. Theo lời luật sư, gã cũng chẳng thèm nhờ bà tư vấn về chủ đề họp báo. Gã chỉ nói bây giờ gã đang có một thông tin lúc trước gã chưa nắm được và bây giờ gã muốn cho công chúng biết. Các nhà báo đến dự chẳng trông mong có gì mới mẻ, nói gì đến một thứ nào đó khả dĩ soi sáng được cái vực thẳm đen ngòm hình thành từ sự xuất hiện đều đặn của những cái xác phụ nữ - trong thành phố hoặc ngay ven thành phố hoặc trong sa mạc vây quanh Santa Teresa như một nắm đấm sắt, nhưng họ vẫn đến bởi vì xét cho cùng, Haas và những người phụ nữ chết kia vẫn là tin bài của họ. Các báo lớn của thủ đô chẳng cử phóng viên nào tới.

♣ ♣ ♣

Tháng Sáu, ít hôm sau khi Haas hứa qua điện thoại với các nhà báo rằng sẽ có một tuyên bố, một tiết lộ theo gã nói là sẽ gây chấn động, xác của Aurora Ibánez Medel, vốn được chồng cô báo mất tích từ mấy tuần trước, xuất hiện ở ven xa lộ Casas Negras. Aurora Ibánez ba mươi tư tuổi, làm việc ở nhà máy Interzone-Berny, có bốn con từ ba đến mười bốn tuổi, lấy chồng từ năm mười bảy, chồng là Jaime Pacheco Pacheco, thợ cơ khí, vào thời điểm vợ mất tích thì anh này đang thất nghiệp, nạn nhân của một đợt Interzone-Berny cắt giảm nhân sự. Theo báo cáo pháp y, nguyên nhân tử vong là bị ngạt, và trên cổ nạn nhân, mặc dù đã qua một thời gian lâu, vẫn còn rõ ràng các vết tổn thương. Xương móng không bị gãy. Có lẽ Aurora đã bị hãm hiếp. Vụ án được giao cho thanh tra Efraín Bustelo, với sự tư vấn của thanh tra Ortiz Rebolledo. Sau nhiều cuộc thẩm vấn người thân của nạn nhân, họ bắt giam Jaime Pacheco, anh này, sau khi bị tra hỏi, thừa nhận mình là hung thủ. Động cơ gây án, Ortiz Rebolledo cho báo giới biết, là ghen tuông. Không phải ghen với người đàn ông nào mà là ghen với mọi đàn ông cô có thể sẽ gặp hoặc là do hoàn cảnh mới của anh ta, và anh ta không chịu nổi. Anh Pacheco tội nghiệp nghĩ vợ sắp bỏ anh ta. Khi được hỏi anh ta đã dùng phương tiện nào để mang cô vợ đi quá cột cây số ba mươi trên xa lộ Casas Negras trong khi cô này còn sống và chẳng nghi ngờ gì cả, hoặc để vứt xác cô ở đó trong trường hợp anh ta đã giết cô ở chỗ khác, về điểm này Pacheco quyết không chịu nói dù bị thẩm vấn rát đến đâu, bảo là có một người bạn cho anh ta mượn xe, một chiếc Coyote đời 1987 màu vàng hai bên có hai dãy đèn đỏ, nhưng cảnh sát không tìm ra được người bạn này hoặc không tìm anh ta tới nơi tới chốn như vụ này đòi hỏi.

♣ ♣ ♣

Ngồi cạnh Haas, cứng đờ, nhìn thẳng về phía trước, như thể hình ảnh một vụ hãm hiếp vẫn còn đang diễu qua đầu bà, là luật sư của gã, và quanh gã là phóng viên của ba tờ báo địa phương, El Heraldo del Norte, La Voz de Sonora và La Tribuna de Santa Teresa, cũng như nhà báo của các tờ El Independiente de Phoenix, El Sonorense de Hermosillo và cuối cùng là La Raza de Green Valley, một tuần báo nhỏ (đôi khi được xuất bản hai tuần hay một tháng một số), vẫn tồn tại được dù gần như không có quảng cáo là nhờ được đặt mua dài hạn bởi một số dân gốc Mễ ở Hoa Kỳ thuộc lớp hạ trung lưu sống ở khu vực giữa Green Valley và Sierra Vista, những công nhân nông trại già sống ở Río Rico, Carmen, Tubac, Sonoita, Amado, Sahuarita, Patagonia, San Xavier, một tờ báo chẳng đăng gì khác ngoài các vụ tội phạm, càng ghê rợn càng tốt. La Voz de Sonora chỉ cử tới phóng viên ảnh Chuy Pimentel, đứng ngay sau vòng tròn các nhà báo. Thi thoảng cửa lại mở và một cai ngục bước vào liếc Haas hay luật sư của gã tuồng như muốn hỏi họ có cần gì không. Có một lần bà luật sư xin cai ngục nước uống. Cai ngục gật đầu bảo có ngay rồi đi mất. Một lát sau anh ta vào mang theo hai chai nước và mấy lon soda lạnh. Đám nhà báo cảm ơn anh ta và gần như tất cả đều lấy soda, trừ Haas và bà luật sư chỉ uống nước. Trong khoảng vài phút chẳng ai nói năng gì, chẳng có một lời, ai cũng uống.

♣ ♣ ♣

Tháng Bảy, người ta phát hiện xác một phụ nữ trong một cống thoát nước phía Đông quận Maytorena, không xa một dải đất và vài cột điện cao thế. Người phụ nữ khoảng từ hai mươi đến hai lăm, và theo nhóm giám định pháp y thì cô chết đã ít nhất ba tháng. Hai tay cô bị trói quặt sau lưng bằng dây nhựa, loại dây người ta dùng để buộc những gói hàng to. Tay trái cô đeo găng tay đen dài che đến nửa cánh tay. Không phải loại găng tay rẻ tiền mà là găng bằng nhung, giống như loại các cô vũ nữ vedette hay dùng, mà chỉ là loại vedette cao cấp có tiếng tăm. Khi tháo găng ra người ta thấy có hai chiếc nhẫn, một ở ngón giữa, bằng bạc thật, một ở ngón đeo nhẫn, bằng bạc có hình con rắn. Chân phải cô mang một cái tất đàn ông, hiệu Tracy. Và đáng ngạc nhiên hơn hết: quấn quanh đầu cô, như một cái mũ kỳ quặc nhưng không hoàn toàn phi lý, là một cái áo ngực màu đen đắt tiền. Ngoài ra người phụ nữ không mặc gì và không có giấy tờ nào giúp xác định danh tính. Vụ này, sau khi các thủ tục cần thiết đã tiến hành xong bị xếp vào kho lưu trữ và xác cô bị vứt vào mộ công cộng trong nghĩa trang Santa Teresa.

♣ ♣ ♣

Cuối tháng Bảy, nhà chức trách Santa Teresa, phối hợp với giới chức bang Sonora, mời nhà điều tra Albert Kessler đến thành phố. Khi tin này được công bố, một số nhà báo, nhất là ở thủ đô, liền hỏi thị trưởng Santa Teresa là José Refugio de las Heras rằng liệu có phải việc thuê tay cựu đặc vụ FBI này là một sự ngầm thừa nhận cảnh sát Mexico đã bó tay hay không. De las Heras đáp là không, hoàn toàn không, ông Kessler đến Santa Teresa là để tiến hành một khóa tập huấn chuyên môn mười lăm tiếng đồng hồ cho một nhóm học viên chọn ra từ các cảnh sát viên ưu tú nhất bang Sonora, và Santa Teresa được chọn làm nơi tổ chức khóa học này - ưu tiên hơn so với Hermosillo chẳng hạn - là do vị thế một trung tâm công nghiệp của nó cũng như do cái kỷ lục đáng buồn về các vụ giết người hàng loạt, một số phận xưa nay chưa từng nghe nói tới hoặc gần như chưa từng nghe nói tới ở Mexico, cái số phận mà họ, những người có trọng trách cao nhất nước, muốn chặn đứng lại ngay lập tức, và để loại trừ một số phận đáng buồn thì còn cách nào tốt hơn là thành lập một đội cảnh sát có chuyên môn cao về vấn đề này?

♣ ♣ ♣

Tôi sẽ cho các vị biết ai đã giết Estrella Ruiz Sandoval, người mà tôi bị kết tội bất công là đã giết, Haas nói. Cũng những kẻ đó đã giết ít nhất ba mươi phụ nữ trẻ khác ở thành phố này. Luật sư của Haas cúi đầu. Chuy Pimentel chụp bức ảnh đầu tiên. Trong ảnh có thể thấy mặt các nhà báo, đang nhìn Haas hoặc xem sổ tay với một vẻ không chút hào hứng, không chút nhiệt tình hăng hái.

♣ ♣ ♣

Tháng Chín, người ta phát hiện xác Ana Munoz Sanjuán phía sau mấy thùng rác trên phố Javier Paredes, giữa quận Pélix Gómez và quận Centro. Xác trần truồng và có dấu hiệu bị bóp cổ và hãm hiếp, về sau giám định pháp y xác nhận đúng là vậy. Sau khi điều tra sơ bộ người ta xác định được danh tính cô. Nạn nhân tên là Ana Muñoz Sanjuán, mười tám tuổi, sống trên phố Maestro Caicedo ở quận Rubén Darío, ngụ cùng nhà với ba phụ nữ khác và làm hầu bàn ở El Gran Chaparral, một quán cà phê ở khu phố cổ của Santa Teresa. Việc cô mất tích không được trình báo với cảnh sát. Những người cuối cùng gặp cô là ba nam giới được gọi là El Mono, El Tamaulipas và La Vieja. Cảnh sát cố tìm, nhưng cứ như đất đã nuốt chửng họ rồi vậy. Vụ án bị xếp xó.

♣ ♣ ♣

Ai mời Albert Kessler? các nhà báo hỏi. Ai sẽ trả tiền thuê ông Kessler? Và bao nhiêu? Thành phố Santa Teresa, bang Sonora? Lấy tiền ở đâu để trả thù lao cho ông Kessler? Từ Đại học Santa Teresa, từ quỹ đen của cảnh sát bang? Có tiền tư nhân trong vụ này không? Có nhà tài trợ nào đứng sau chuyến thăm của nhà điều tra lừng danh người Mỹ không? Và tại sao lúc này, tận lúc này mới đưa một chuyên gia về tội giết người hàng loạt tới chứ trước đây thì không? Rồi nữa, ở Mexico chẳng có nhà tội phạm học nào đủ khả năng cộng tác với cảnh sát hay sao? Giáo sư Silverio García Correa chẳng hạn, ông ấy mà không đủ giỏi hay sao? Chẳng phải ông ấy là nhà tâm lý giỏi nhất trong cái lứa đó ở UNAM hay sao? Chẳng phải ông ấy đã nhận bằng cử nhân tội phạm học ở Đại học New York và một bằng khác ở Đại học Staníord sao? Chẳng phải thuê giáo sư García Correa sẽ rẻ hơn sao? Chẳng phải sẽ là yêu nước hơn sao nếu ta giao phó một vụ việc tại Mexico cho một người Mexico chứ không phải cho một người Mỹ? Mà, nhân thể hỏi luôn, nhà điều tra Albert Kessler có nói được tiếng Tây Ban Nha không? Nếu không thì ai sẽ phiên dịch cho ông ta? Ông ta sẽ mang theo phiên dịch riêng hay ở đây sẽ cử phiên dịch cho ông ta?

♣ ♣ ♣

Haas nói: Tôi vẫn điều tra. Gã nói: tôi có tai mắt. Gã nói: trong tù chả có gì là bí mật hết. Gã nói: bạn của bạn ta là bạn ta, họ kể chuyện này chuyện nọ cho ta nghe. Gã nói: bạn của bạn của bạn ta có cả một mạng lưới hoạt động rộng lớn và họ giúp ta nhiều. Không ai cười. Chuy Pimentel tiếp tục chụp ảnh. Ảnh cho thấy bà luật sư cứ như sắp chảy nước mắt tới nơi. Vì phẫn nộ. Các nhà báo mang ánh mắt của loài bò sát: họ quan sát Haas, Haas thì nhìn chăm chăm mấy bức tường xám làm như lời gã nói được viết trên nền xi măng tróc lở. Nói tên đi, một nhà báo thì thầm, nhưng đủ to cho mọi người nghe thấy. Haas thôi không nhìn tường nữa mà ngắm kỹ người vừa nói. Thay vì trả lời thẳng, gã giải thích thêm lần nữa rằng gã vô tội trong vụ giết Estrella Ruiz Sandoval. Tôi không biết cô ấy, gã nói. Đoạn gã lấy hai tay ôm mặt. Cô ấy dễ thương, gã nói. Giá như tôi đã quen cô ấy. Gã thấy khó ở. Gã hình dung một con phố đầy người, lúc hoàng hôn, cứ vắng dần vắng dần cho đến khi chẳng còn ai, chỉ một chiếc xe hơi đỗ góc đường. Sau đó đêm xuống và Haas cảm thấy các ngón tay của bà luật sư đặt trên bàn tay mình. Những ngón tay quá dày, quá ngắn. Nói tên đi, một nhà báo khác nói, không có tên thì chúng ta chả đi đến đâu.

♣ ♣ ♣

Tháng Chín, trên một khoảnh đất trống ở quận Sur, quấn trong một tấm chăn và mấy túi nhựa màu đen, xác của María Estela Ramos được phát hiện. Hai chân cô bị trói bằng dây và cô có những dấu vết cho thấy đã bị tra tấn. Thanh tra Juan de Dios Martínez đảm trách vụ này, anh kết luận rằng xác đã bị vứt ở đây vào khoảng từ nửa đêm đến một giờ ba mươi sáng hôm thứ Bảy, bởi suốt thời gian còn lại thì cánh đồng vắng này là nơi tụ tập của dân buôn lậu ma túy và những tốp thiếu niên choai choai tới nghe nhạc. Sau khi so sánh một số lời khai, người ta xác định được, không vì lý do này thì lý do khác, chẳng ai có mặt ở đấy trong khoảng từ mười hai giờ đêm đến một rưỡi sáng. María Estela Ramos sống ở quận Veracruz và đây không phải chỗ cô hay lui tới. Cô hai mươi ba tuổi, có một đứa con trai bốn tuổi, sống chung nhà với hai cô bạn cùng nhà máy, một trong hai người này đang thất nghiệp tại thời điểm xảy ra sự việc bởi vì, theo cô kể với Juan de Dios, cô định thành lập công đoàn. Anh nghĩ sao về chuyện ấy? cô hỏi. Họ tống cổ tôi vì tôi đòi quyền lợi cho mình. Viên thanh tra nhún vai. Anh hỏi cô kia giờ ai sẽ nhận nuôi con của María Estela. Tôi, nhà tổ chức công đoàn bất đắc chí liền nói. Thằng bé không có gia đình sao, không có ông bà gì à? Chắc là không, người phụ nữ nói, nhưng tụi tôi sẽ cố tìm. Theo giám định pháp y, nguyên nhân tử vong là tụ máu ở đầu, mặc dù nạn nhân còn bị gãy năm xương sườn và có những vết rạch nông ở hai tay. Cô bị hãm hiếp. Và cô bị giết ít nhất bốn ngày trước khi đám buôn lậu ma túy tìm thấy cô giữa đống rác và cỏ dại trên khoảnh đất trống ở quận Sur. Theo các bạn cô, María Estela có hoặc từng có một bạn trai được gọi là El Chino. Chẳng ai biết tên thật anh ta, nhưng biết chỗ anh ta làm. Juan de Dios đi tìm anh ta tại một cửa hàng đồ sắt ở quận Seratín Garabito. Anh hỏi El Chino thì người ta nói họ chẳng biết ai có tên ấy cả. Anh mô tả El Chino theo như các bạn của María Estela đã tả cho anh, nhưng câu trả lời vẫn vậy: chưa bao giờ có ai tên ấy hoặc khớp với mô tả ấy từng làm việc ở đây, trước quầy cũng vậy mà dưới kho cũng vậy. Anh liền cho chỉ điểm đi tìm và suốt mấy ngày anh chẳng làm gì khác ngoài đi tìm tay kia. Nhưng chẳng khác nào tìm một bóng ma.

♣ ♣ ♣

Ông Albert Kessler là một chuyên gia uy tín, giáo sư García Correa nói. Ông Kessler, theo chỗ tôi nghe kể, là một trong những người đầu tiên lập ra chân dung tâm lý của những kẻ giết người hàng loạt. Tôi được biết ông ấy từng làm cho FBI và trước đó làm cho quân cảnh hoặc tình báo quân đội Hoa Kỳ, chữ này thì đúng là một thứ nghịch ngôn, bởi vì từ tình báo, intelligencia, vốn cũng có nghĩa là trí tuệ, mà từ trí tuệ thì hiếm khi nào lại có thể đặt bên từ quân đội, giáo sư García Correa nói. Không, tôi không cảm thấy bị xúc phạm hay bị hất cẳng vì người ta không giao phó cho tôi việc đó. Chính quyền bang Sonora biết tôi rõ lắm, họ cũng biết tôi là người chỉ có vị thánh duy nhất là Chân lý, giáo sư García Correa nói. Ở Mexico muốn cho người ta lóa mắt thì có cần phải làm gì nhiều đâu. Tôi đến nổi da gà mỗi khi nghe hay đọc một số tính từ nhất định trên báo chí, những lời khen tụng có vẻ như được phun ra bởi một bầy khỉ khùng, nhưng biết làm sao được, Mexico là thế đấy, lâu ngày rồi cũng quen thôi, giáo sư García Correa nói. Làm chuyên gia về tội phạm ở cái xứ này thì cũng như làm người viết mật mã ở Bắc Cực vậy. Như làm trẻ con trong một khu xà lim toàn bọn ấu dâm. Như làm ăn mày ở xứ người điếc. Như làm một cái bao cao su giữa rừng già Amazon, giáo sư García Correa nói. Nếu bị ngược đãi, rồi anh sẽ quen. Nếu bị rẻ rúng, rồi anh sẽ quen. Nếu tiền tiết kiệm của anh biến mất, chỗ tiền anh dành dụm suốt đời cho lúc về hưu, rồi anh sẽ quen. Nếu con trai anh lừa anh, rồi anh sẽ quen. Nếu anh cứ phải làm việc trong khi theo luật anh được phép làm gì tùy ý, rồi anh sẽ quen. Nếu như vậy chưa đủ mà người ta lại còn giảm lương của anh, rồi anh sẽ quen. Nếu để kiếm thêm cho đủ sống mà anh phải làm việc cho những luật sư bất lương và những thanh tra cảnh sát biến chất, rồi anh sẽ quen. Nhưng tốt hơn, đừng viết thế lên báo các cậu nhé, không thì chỗ của tôi sẽ lung lay đó, giáo sư García Correa nói. Ông Albert Kessler, như tôi đã nói với các cậu, là một nhà điều tra cao cấp uy tín. Theo tôi hiểu thì ông ấy làm việc bằng máy vi tính. Công việc thú vị đấy. Ông ấy còn làm tư vấn hay cố vấn cho một số phim hành động nữa. Tôi chưa xem phim nào, vì đã lâu rồi tôi không đi xem phim và cái thứ rác rưởi của Hollywood chỉ làm tôi buồn ngủ. Nhưng theo thằng cháu tôi thì mấy phim ấy xem rất thú và trong đấy người tốt luôn thắng, giáo sư García Correa nói.

♣ ♣ ♣

Tên, nhà báo nói. Antonio Uribe, Haas nói. Các nhà báo thoáng nhìn nhau, để xem liệu có ai nhận ra cái tên này chăng, nhưng tất cả đều nhún vai. Antonio Uribe, Haas nói, là tên kẻ giết phụ nữ ở Santa Teresa. Lặng một chút, gã tiếp: và khu vực xung quanh. Và khu vực xung quanh? một nhà báo hỏi. Kẻ giết phụ nữ ở Santa Teresa, và cả những phụ nữ khác mà xác xuất hiện ngay ở ven thành phố. Thế anh có biết gã Uribe này không? một nhà báo hỏi. Tôi có gặp một lần, một lần duy nhất, Haas nói. Đoạn gã hít một hơi, tuồng như sắp kể một câu chuyện dài và Chuy Pimentel chọn đúng lúc đó để chụp ảnh gã. Trong ảnh, do ánh sáng và góc chụp, Haas lại nom gầy hơn nhiều, cổ dài như cổ gà tây, tuy nhiên không phải con gà tây bất kỳ nào mà là một con gà tây đang hát hoặc sắp sửa bật tiếng hát, không chỉ cất tiếng hát mà là bật lên hát, một bài hát nhói buốt, một bài hát chói tai, một bài hát bằng thủy tinh vỡ nhưng là một thứ thủy tinh hết sức giống pha lê, tức là giống sự thuần khiết, giống sự quên mình, giống sự hoàn toàn thiếu vắng những dối lừa.

♣ ♣ ♣

Ngày 7 tháng Mười, ở cách đường xe lửa ba mươi mét, trong những bụi rậm ven một sân chơi bóng chày, người ta phát hiện xác một cô bé từ mười bốn đến mười sáu tuổi. Xác mang dấu vết tra tấn rõ ràng. Hai tay, ngực và hai chân cô đầy vết bầm tím và vết dao đâm (một cảnh sát bắt đầu đếm nhưng đến ba mươi lăm thì anh ta phát chán), tuy nhiên không vết nào trong đó gây tổn thương hay xuyên thấu đến cơ quan nội tạng. Nạn nhân không mang giấy tờ tùy thân. Theo giám định pháp y, nguyên nhân tử vong là bị siết cổ. Có nhiều vết cắn trên núm vú trái và nó bị rứt gần như đứt ra, chỉ còn dính lại bởi vài ba dải mô. Thêm một thông tin khác do chuyên viên pháp y cung cấp: một chân nạn nhân ngắn hơn chân kia, điều này thoạt tiên có vẻ như sẽ giúp xác định danh tính dễ dàng hơn, tuy nhiên trong số những phụ nữ mất tích được trình báo cho các đồn cảnh sát Santa Teresa không người nào mang nét đặc thù như vậy. Ngay hôm xác được phát hiện bởi một nhóm thiếu niên đang chơi bóng chày, Epifanio và Lalo Cura đến hiện trường. Nơi ấy đầy cảnh sát. Có thanh tra, cảnh sát thành phố, người bên khoa học hình sự, Chữ thập đỏ và nhà báo. Epifanio và Lalo Cura đi một vòng quanh chỗ đó cho đến khi tới đúng địa điểm xác đang nằm. Cô bé không thấp. Cao ít nhất một mét sáu tám. Cô gần như trần truồng chỉ mặc mỗi áo cánh trắng dính máu và lấm đất cùng cái áo ngực trắng. Khi họ rời khỏi đó, Epifanio hỏi Lalo Cura cậu nghĩ gì. Về người chết ấy hả? Lalo nói. Không, hiện trường tội ác ấy, Epifanio vừa nói vừa châm điếu thuốc. Chả có hiện trường tội ác nào hết, Lalo nói. Chúng cố tình dọn sạch rồi. Epifanio khởi động xe. Không phải cố tình, anh nói, mà như những thằng chết nhát, nhưng mà cũng vậy thôi. Dọn sạch hết rồi.

♣ ♣ ♣

Năm 1997 là một năm lành cho Albert Kessler. Ông đi thuyết trình ở Virginia, Alabama, Kentucky, Montana, California, Orego, Indiana, Maine, Florida. Ông đến nhiều trường đại học nói chuyện với các cựu sinh viên nay là giáo sư và đã có con có cái, bọn trẻ con nhiều đứa thậm chí đã lập gia đình, và điều đó chẳng bao giờ khiến ông thôi ngạc nhiên. Ông đã đến Paris (Pháp), London (Anh), Roma (Ý), nơi nhiều người biết tên tuổi ông và những ai đến nghe ông thuyết trình đều mang theo cuốn sách của ông, được dịch sang tiếng Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha, để ông có thể ký tên và ngoáy một câu trìu mến hoặc thông minh vào đấy, việc này thì ông rất sẵn lòng làm. Ông đã đến Moskva (Nga), đến St. Petersburg (Nga) và Warszawa (Ba Lan) và người ta còn mời ông đến nhiều nơi khác nữa, khiến người ta đoán chừng năm 1998 rồi cũng sẽ bận rộn y như thế. Thật ra thế giới nhỏ lắm, đôi khi Albert Kessler nghĩ, nhất là khi ông ngồi trên máy bay, trong khoang hạng nhất hay khoang thương gia, và trong khoảng mấy giây ông quên bẵng bài thuyết trình sắp đọc ở Tallahassee hoặc Amarillo hoặc New Bedtord mà đắm mình ngắm những hình dáng thoắt này thoắt nọ của những đám mây. Hầu như ông chẳng bao giờ mơ thấy những kẻ giết người. Ông biết nhiều kẻ giết người và cũng đã lùng ra nhiều kẻ, nhưng hiếm khi ông mơ thấy kẻ nào trong số ấy. Thực ra thì ông ít khi nằm mơ hoặc ông có cái may là thường quên các giấc mơ ngay khi thức dậy. Vợ ông, người ông đã chung sống trên ba mươi năm, thì thường nhớ các giấc mơ của mình và thỉnh thoảng, khi Albert Kessler có nhà, bà hay kể cho ông nghe trong lúc hai người ăn sáng. Lúc ấy họ thường bật radio, một chương trình nhạc cổ điển, và uống cà phê, nước cam, ăn bánh mì đông lạnh - bánh này vợ ông cho vào lò vi sóng và khi lấy ra khỏi lò thì rất ngon, ngon hơn bất cứ bánh mì nào ông từng ăn ở bất cứ đâu khác. Trong khi ông phết mứt lên bánh, vợ ông kể về giấc mơ của bà đêm qua, hầu như luôn là về những người thân của bà, hầu như luôn là những người đã chết, hay về những người bạn của cả hai vợ chồng mà đã lâu họ không gặp. Sau đó vợ ông giam mình trong buồng tắm và Albert Kessler ra sân trước ngắm đường chân trời toàn những mái nhà đỏ, xám, vàng, những vỉa hè sạch sẽ chỉn chu, những chiếc ô tô đời mới nhất mà mấy đứa con nhỏ của hàng xóm đỗ trên lối vào rải sỏi chứ không đưa vào ga ra. Ở khu này ai cũng biết ông và kính trọng ông. Nếu ông đang ở ngoài vườn mà có người đi ngang thì thể nào người đó cũng giơ một tay lên nói, Chào ông Kessler, rồi mới lên xe nổ máy. Tất cả đều trẻ hơn ông. Không phải quá trẻ, là bác sĩ hay nhà quản trị tầm trung, những nhà chuyên môn làm việc cần mẫn để kiếm sống và cố gắng không làm hại ai, mặc dù về điểm cuối cùng này thì không ai có thể biết chắc trăm phần trăm. Hầu như tất cả đều đã lập gia đình và có một hai đứa con. Đôi khi họ tổ chức tiệc nướng ở ngoài sân, gần bể bơi, và có một lần, do vợ cứ nài, ông đến dự một buổi như thế và uống nửa vại bia Bud với một ly whiskey. Chẳng có cảnh sát nào cư ngụ ở khu phố này và người duy nhất có vẻ tỉnh táo là một giáo sư đại học hói đầu lộc ngộc gầy nhom mà rốt cuộc hóa ra là một thằng ngu chỉ có khả năng nói về thể thao. Một cảnh sát hay một cựu cảnh sát chỉ thấy thoải mái nhất khi ở bên một phụ nữ hoặc bên một cảnh sát khác, một cảnh sát khác cùng cấp bậc với mình, ông nghĩ. Ở trường hợp mình thì chỉ vế sau là đúng. Đã lâu rồi ông chẳng để tâm đến phụ nữ, trừ phi họ là cảnh sát và chuyên điều tra án giết người. Có lần, một đồng nghiệp người Nhật khuyên ông dành thời gian rảnh để làm vườn. Ông này là cảnh sát về hưu như ông và từng có thời gian là quân át chủ bài của đội chống tội phạm ở Osaka, người ta bảo ông vậy. Kessler nghe theo lời khuyên, về nhà liền bảo vợ cho tay thợ làm vườn nghỉ, từ nay trở đi đích thân ông sẽ chăm vườn. Tuy nhiên chẳng bao lâu sau ông làm hỏng bét hết cả và anh thợ làm vườn quay lại. Cớ sao mình phải tự chữa cho mình khỏi một cơn stress mà mình không có, lại còn là thông qua việc làm vườn? ông tự hỏi. Đôi khi, về nhà sau hai ba chục ngày đi đây đi đó giới thiệu cuốn sách của mình hoặc tư vấn cho mấy nhà văn chuyên viết về tội phạm hoặc đạo diễn phim thriller hoặc do được mời bởi các trường đại học hay các sở cảnh sát đang vướng một án giết người không phá nổi, ông ngắm vợ mà cứ phảng phất cái cảm giác mình chẳng biết gì về bà. Nhưng ông có biết bà, về điều đó ông tuyệt không chút nghi ngờ. Có thể là do cách đi đứng của bà ở trong nhà hoặc cái kiểu chiều chiều, khi trời sắp tối, bà rủ ông đến siêu thị quen để mua thứ bánh mì đông lạnh mà sáng sáng ông vẫn ăn và dường như mới ra khỏi một lò nướng châu Âu chứ không phải cái lò vi sóng của Mỹ. Thỉnh thoảng, sau khi mua sắm, họ dừng lại, mỗi người cùng xe đẩy của mình, trước một quầy sách có ấn bản bìa mềm cuốn sách của ông. Vợ ông rồi sẽ trỏ vào đấy mà nói: anh vẫn còn đó kìa. Lần nào cũng như lần nào ông sẽ gật đầu rồi họ lại tiếp tục nhẩn nha đi qua các quầy hàng trong siêu thị. Ông biết bà hay không biết bà? Ông biết bà, dĩ nhiên ông biết, chỉ có điều là đôi khi thực tại, cũng chính cái thực tại nhỏ bé làm cái neo để neo thực tại, dường như bị mờ đi các đường viền, dường như dòng chảy thời gian có tác dụng làm mọi vật rỗng lỗ chỗ, xóa nhòa và làm cho càng nhẹ bẫng hơn những gì vốn đã nhẹ bẫng, từ ngay trong bản chất của nó, nhẹ bẫng và vừa đủ và thực.

♣ ♣ ♣

Tôi chỉ gặp hắn một lần, Haas nói. Ở hộp đêm hay một chỗ giống như hộp đêm, cũng có thể là một quán bar mở nhạc quá to. Tôi đi cùng vài người bạn. Bạn và khách hàng. Thằng nhóc này ngồi ở một bàn cùng với mấy người quen vài người trong đám ngồi với tôi. Cạnh nó là thằng em họ, Daniel Uribe. Tôi được giới thiệu với cả hai. Tụi nó có vẻ là những thằng có giáo dục, nói được tiếng Anh và ăn mặc như trại chủ nông trại, nhưng rõ ràng tụi nó không phải trại chủ nông trại. Cả hai thằng đều cao to khỏe mạnh, Antonio Uribe cao hơn thằng em, nhìn là biết ngay tụi nó thường xuyên đến phòng thể thao để tập tạ và rèn luyện cơ thể. Cũng có thể nhận thấy tụi nó quan tâm đến bề ngoài lắm. Tụi nó để râu ba ngày chưa cạo, nhưng tụi nó thơm tho, đầu tóc gọn gàng, sơ mi sạch, quần sạch, cái nào cũng hàng hiệu, bốt cao bồi láng coóng, quần lót chắc cũng sạch và cũng hàng hiệu, nói vắn tắt là hai thằng nhóc hiện đại. Tôi trò chuyện với tụi nó một hồi (về những thứ chán phèo, những thứ người ta thường nói và nghe ở mấy nơi như thế, chuyện đàn ông, theo cách người ta gọi, ô tô mới, DVD, đĩa CD các bài ranchera, Paulina Rubio, narcocorrido, rồi cô nàng da đen ấy, tên gì nhỉ, Whitney Houston à? không, không phải, Lara Jones? cũng chả phải, một cô nàng da đen tên gì tôi quên rồi), và uống một ly với tụi nó rồi với những người khác nữa, sau đó cả bọn chúng tôi ra khỏi đấy, tôi chả nhớ tại sao, tất cả tự dưng ra ngoài hết, và ở đó, trong bóng đêm, tôi không còn thấy hai thằng Uribe đó nữa, đấy là lần cuối cùng tôi gặp tụi nó, nhưng chính là tụi nó, rồi sau đó một người bạn đẩy tôi vào ô tô và chúng tôi đi khỏi đó làm như có quả bom sắp nổ tới nơi.

♣ ♣ ♣

Ngày 10 tháng Mười, gần sân bóng đá của hãng Pemex, giữa xa lộ Cananea và đường ray xe lửa, người ta thấy xác Leticia Borrego García, mười tám tuổi, được chôn một nửa và đang trong tình trạng phân hủy sâu. Xác bị quấn trong một túi nhựa công nghiệp, và theo báo cáo pháp y thì nguyên nhân tử vong là bị siết cổ, gãy xương móng. Xác được nhận diện bởi mẹ cô gái, từng trình báo việc cô mất tích một tháng trước. Tại sao kẻ giết người cất công đào một cái hố con rồi ra sức chôn cô? Lalo Cura tự hỏi trong khi quần tới quần lui hiện trường tội ác. Tại sao không vứt ven xa lộ Cananea hay giữa đống đổ nát là mấy cái nhà kho cũ của ngành đường sắt? Chẳng lẽ kẻ giết người không nhận ra hắn đang vứt xác nạn nhân cạnh một sân bóng đá? Một hồi lâu, cho đến khi người ta gọi cậu đi, Lalo Cura cứ đứng đó nhìn chằm chằm nơi người ta bắt gặp xác. Cái hố này chứa xác một đứa trẻ con hay con chó cũng còn khó, làm sao chứa nổi xác một phụ nữ. Kẻ giết người đang vội, muốn mau chóng tống khứ nạn nhân chăng? Lúc đó đang đêm và hắn không quen thuộc chỗ này chăng?

♣ ♣ ♣

Đêm trước khi Albert Kessler đến Santa Teresa, lúc bốn giờ sáng, Sergio González nhận được điện của Azucena Esquivel Plata, nhà báo kiêm nghị sĩ đảng PRI. Khi bắt máy, anh chỉ e là người thân trong gia đình báo tin tai nạn, nhưng rồi anh nghe một giọng nữ, rắn rỏi, kênh kiệu, uy quyền, một giọng không quen xin lỗi hay nhận lời xin lỗi. Giọng đó hỏi anh có đang một mình không. Sergio nói anh đang ngủ. Nhưng anh có đang một mình không, anh bạn? giọng đó hỏi. Rồi anh nhận ra nó, hoặc là bộ nhớ âm thanh của anh được kích hoạt. Đó chỉ có thể là Azucena Esquivel Plata, bà María Félix của chính trị Mexico, Bà Lớn, Dolores del Rio của đảng PRI, nàng Tongolele trong mộng tưởng của vài ông nghị và gần như của tất tật các nhà báo mảng chính trị ngoài năm mươi tuổi hoặc đúng hơn là gần sáu chục, tất tật đều chìm như cá sấu trong đầm, cái đầm tâm trí chứ không phải đời thực, tất cả đều bị thống trị hay nói đúng hơn là được phát minh ra bởi Azucena Esquivel Plata. Tôi chỉ có một mình, anh nói. Và đang mặc pijama đúng không? Đúng. Vậy thì mặc quần áo đi rồi xuống lầu, mười phút nữa tôi qua đón anh. Thật ra Sergio không phải đang mặc pijama nhưng anh cảm thấy rằng ngay từ đầu mà đã nói khác bà thì thật hớ hênh quá, thế nên anh liền mặc quần jean, áo len, xỏ tất, rồi xuống sảnh tòa nhà. Nơi cửa là một chiếc Mercedes tắt hết đèn. Người trong xe cũng nhìn thấy anh, vì cửa sau mở ra và một bàn tay đeo đẫy nhẫn giơ ra làm hiệu bảo anh vào. Trong một góc ghế sau, quấn mình trong một tấm chăn kẻ ô, là nghị sĩ Azucena Esquivel Plata, Bà Lớn, bà này, dù đang giữa đêm thâu, và cứ như thể là đứa con hoang của Fidel Velázquez, che mắt bằng chiếc kính râm có gọng đen và hai khung tròng lớn màu đen, giống như loại Stevie Wonder thỉnh thoảng dùng và một số người mù hay dùng để những kẻ tọc mạch không thể thấy cặp nhãn cầu trống rỗng của họ.

♣ ♣ ♣

Đầu tiên Kessler bay đến Tucson rồi từ Tucson ông lên một máy bay nhỏ đáp xuống sân bay Santa Teresa. Trưởng Công tố bang Sonora nhận xét rằng chẳng bao lâu nữa, một hay có thể một năm rưỡi nữa, công trình xây dựng sân bay Santa Teresa mới sẽ bắt đầu, dự kiến đủ rộng cho máy bay Boeing. Ông thị trưởng chào mừng ông và trong khi người ta làm thủ tục hải quan cho ông thì một tay nhạc công mariachi bắt đầu biểu diễn để vinh danh ông, hát một bài có nhắc tên ông hoặc là ông nghĩ vậy. Ông quyết định tốt hơn hết đừng hỏi mà hãy mỉm cười. Thị trưởng gạt tay nhân viên hải quan đóng dấu hộ chiếu sang một bên và đích thân ông đóng dấu hộ chiếu cho vị khách lừng lẫy danh tiếng. Giữa chừng làm vậy, ông dừng sững tại chỗ, con dấu giơ cao, cười toét miệng, để đám phóng viên ảnh xúm xít xung quanh có thể chụp thoải mái. Ông Trưởng Công tố bang pha trò và mọi người cười trừ anh nhân viên hải quan, nom chả lấy gì làm vui vẻ. Sau đó họ leo cả lên một đoàn xe rầm rộ tiến về tòa thị chính và ở đó, trong phòng khánh tiết, cựu đặc vụ FBI đồng ý tiến hành buổi họp báo đầu tiên. Người ta hỏi ông liệu hồ sơ các vụ giết phụ nữ ở Santa Teresa hay cái gì đó kiểu vậy đã nằm trong tay ông chưa. Người ta hỏi ông có thật Terry Fox ngôi sao phim Stained bị loạn thần kinh - tức là trong đời thật ấy - như cô vợ thứ ba của anh ta tuyên bố trước khi ly dị hay không. Người ta hỏi trước đây ông tới Mexico lần nào chưa, nếu có thì ông có thích xứ này không. Người ta hỏi có thật là R. H. Davis, tác giả của Stained và Killer Among the Children và Code Name, không ngủ được nếu không để đèn sáng. Người ta hỏi ông có đúng là Ray Samuelson, giám đốc sản xuất phim Stained, đã cấm cửa không cho Davis vào phim trường. Người ta hỏi ông liệu ở Hoa Kỳ có thể có gì đó giống như những vụ giết người hàng loạt ở Santa Teresa không. Miễn bình luận, Kessler nói, thế rồi, với vẻ đầy dụng ý, ông bày tỏ niềm cảm kích với các nhà báo, cảm ơn họ, đoạn rời khỏi đấy để về khách sạn, đã được ông đặt sẵn phòng suite tốt nhất, không được gọi là phòng suite “tổng thống” hay phòng suite “tuần trăng mật” như ở hầu hết khách sạn khác mà gọi là phòng suite “sa mạc”, bởi vì từ trên ban công đối diện phía Nam và phía Tây có thể nhìn bao quát sa mạc Sonora với tất cả sự uy nghi và cô đơn của nó.

♣ ♣ ♣

Tụi nó là dân Sonora, Haas nói, song cũng là dân Arizona. Làm sao lại thế được? một nhà báo nói. Tụi nó là người Mexico song cũng là người Mỹ. Tụi nó có quốc tịch kép. Lại còn có cả quốc tịch kép Mexico-Mỹ kia á? Bà luật sư gật mà không ngẩng đầu lên. Vậy bọn họ sống ở đâu? một nhà báo hỏi. Ở Santa Teresa, nhưng còn có nhà khác ở Phoenix. Uribe, một nhà báo nói, tên nghe quen lắm. Tôi cũng thấy quen, một nhà báo khác nói. Chắc bọn họ không có liên hệ gì với Uribe ở Hermosillo phải không? Uribe nào? Thằng cha ở Hermosillo ấy, phóng viên tờ El Sonorense nói, tay Uribe vận tải hàng ấy. Thằng cha có đội xe tải ấy. Ngay lúc đó Chuy Pimentel chụp các nhà báo. Trẻ, ăn mặc lôi thôi, vài người nom như thể sẵn sàng bán mình cho ai trả giá cao hơn, những cậu trai chăm chỉ vẻ bơ phờ thiếu ngủ liếc nhìn nhau và cùng đẩy cho con tàu ký ức lăn bánh. Ngay cả đại diện tờ La Raza de Green Valley, nom giống chủ nông trại hơn nhà báo, cũng hiểu và sốt sắng dự phần vào nhiệm vụ nhớ lại này, nhiệm vụ siết chặt tiêu cự thêm vài nấc nữa. Uribe ở Hermosillo. Uribe có đội xe tải. Tên thằng cha đó là gì nhỉ? Pedro Uribe? Rafael Uribe? Pedro Uribe, Haas nói. Có liên quan gì tới hai thằng Uribe mà anh nói không? Hắn là cha của Antonio Uribe, Haas nói. Rồi gã nói: Pedro Uribe có hơn trăm chiếc xe tải. Hắn chở hàng cho một số nhà máy ở Hermosillo, ở cả Santa Teresa. Xe tải của hắn băng qua biên giới hằng giờ hoặc gần như hằng giờ. Hắn còn có cơ ngơi ở Phoenix và Tucson. Em hắn, Joaquín Uribe, có mấy khách sạn ở Sonora và Sinaloa và cả một chuỗi quán cà phê ở Santa Teresa. Đó là cha của Daniel. Hai anh em nhà Uribe đều lấy vợ người Mỹ. Antonio và Daniel là hai thằng con cả. Antonio có hai em gái một em trai. Daniel là con một. Trước đây Antonio làm việc tại văn phòng của cha nó ở Hermosillo, nhưng đã lâu rồi nó không làm đâu cả. Daniel thì bao giờ cũng là thằng vứt đi. Cả hai thằng được bảo trợ bởi trùm ma túy Fabio Izquierdo, vốn dưới trướng Estanislao Campuzano. Nghe nói Estanislao Campuzano là cha đỡ đầu của Antonio. Tụi nó chơi với toàn đám con nhà triệu phú như tụi nó, rồi cả cảnh sát và các trùm ma túy ở Santa Teresa. Tụi nó đi tới đâu là tiêu tiền như rác tới đấy. Tụi nó là bọn giết người hàng loạt ở Santa Teresa.

♣ ♣ ♣

Ngày 10 tháng Mười, cùng ngày người ta thấy xác Leticia Borrego Gracía gần sân bóng đá Pemex, xác Lucía Domínguez Roa được phát hiện ở quận Hidalgo, trên vỉa hè dọc phố Perséfone. Báo cáo đầu tiên của cảnh sát cho hay Lucia làm điếm, nghiện ma túy, và nguyên nhân tử vong có lẽ là dùng ma túy quá liều. Tuy nhiên sáng hôm sau cảnh sát lại tuyên bố khác hẳn. Họ nói Lucía Domínguez Roa làm phục vụ bàn ở một quán bar tại quận Mexico và nguyên nhân tử vong là một phát súng vào bụng. Viên đạn cỡ .44, có lẽ đạn súng lục. Không có nhân chứng cho vụ giết người này và không loại trừ khả năng kẻ giết người đã bắn từ trong một chiếc xe đang chạy. Cũng không loại trừ khả năng viên đạn đó thật ra nhằm vào một người khác. Lucía Domínguez Roa ba mươi ba tuổi, ly thân, sống một mình tại một căn hộ ở quận Mexico. Không ai biết cô làm gì ở quận Hidalgo, mặc dù theo cảnh sát thì rất có thể cô đang đi dạo và thuần túy do tình cờ mà chết.

♣ ♣ ♣

Chiếc Mercedes đi vào quận Tlalpan, vòng mấy lần, rồi cuối cùng rẽ vào một con phố rải sỏi hai bên là những ngôi nhà sáng trăng đằng sau những bức tường cao, hoặc trông như không có người ở hoặc là đổ nát hoang tàn. Trên xe Azucena Esquivel Plata ngồi yên lặng, hút thuốc liên hồi, quấn mình trong tấm chăn kẻ ô Sergio thì nhìn ra ngoài cửa sổ. Nhà của bà nghị to và thấp, có những khoảnh sân ngày trước từng là chỗ cho xe cộ, chuồng gia súc cũ và những máng nước đục thẳng vào trong đá. Anh theo bà vào một căn phòng lớn treo một bức tranh của Tamayo và một bức của Orozco. Bức Tamayo màu đỏ và xanh lục. Bức Orozco màu đen và xám. Bốn bức tường phòng trắng toát, khiến người ta liên tưởng đến một bệnh viện tư hoặc đến cái chết. Bà nghị hỏi anh muốn uống gì. Sergio bảo cà phê. Một cà phê và một tequila, bà nghị nói không hề lên giọng, tuồng như chỉ đang nhận xét về chuyện mỗi người thích uống gì vào lúc sáng tinh mơ thế này. Sergio ngoái nhìn qua vai, xem có người hầu nào ở đó không, nhưng chẳng thấy ai. Tuy nhiên, vài phút sau xuất hiện một phụ nữ trung niên, xấp xỉ tuổi bà nghị nhưng trông tiều tụy hơn nhiều do lao lực và tuổi tác, bê một ly tequila và một tách cà phê bốc khói. Cà phê tuyệt ngon và Sergio nói với bà chủ vậy. Azucena Esquivel Plata cười thành tiếng (thật ra bà chỉ để lộ răng và cho thoát ra một âm thanh giông giống tiếng cười, tiếng của một loài chim đêm) và bảo chừng nào chưa thử tequila của bà thì anh không thể biết thế nào là ngon. Nhưng thôi ta vào việc, bà nói mà không bỏ cái kính râm to đùng ra. Anh đã khi nào nghe nói tới Kelly Rivera Parker chưa? Chưa, Sergio nói. Tôi đã sợ thế mà, bà nghị nói. Về tôi thì anh đã nghe nói chưa? Dĩ nhiên là có, Sergio nói. Nhưng về Kelly thì không? Không, Sergio nói. Cái đất nước khốn nạn này là vậy đó, Azucena nói, rồi trong vài phút bà im lặng, hoặc nhìn chăm chăm ly tequila có ánh đèn bàn rọi qua hoặc nhìn chằm chằm xuống sàn hoặc nhắm mắt, bởi vì tất cả những việc đó, và còn nhiều nữa, bà đều có thể làm dưới bức màn không thể xuyên qua là cặp kính bà đeo. Tôi gặp Kelly hồi chúng tôi còn con gái, bà nghị nói tuồng như đang trong mơ. Ban đầu tôi không ưa cô ấy, cô ấy chảnh chọe quá, ít nhất là hồi ấy tôi thấy vậy. Cha cô ấy là kiến trúc sư, làm việc cho đám nhà giàu mới nổi của thành phố. Mẹ cô ấy là người Mỹ, gặp cha cô ấy hồi ông ấy học ở Harvard hoặc Yale, một trong hai trường đó. Dĩ nhiên, ông ấy sang Mỹ học không phải là do cha mẹ ông ấy, tức ông bà nội Kelly, bỏ tiền ra, mà là nhờ học bổng của nhà nước. Chắc ông ấy học giỏi lắm, phải không? Nhất định rồi, Sergio nói, khi thấy bà nghị có vẻ lại sắp chìm vào im lặng. Là sinh viên kiến trúc thì ông ấy giỏi đấy, nhưng làm kiến trúc sư thì như vứt đi. Anh có biết La Casa Elizondo không? Không, Sergio nói. Nó ở Coyoacán, bà nghị nói. Nó là một cái nhà kinh khủng. Cha Kelly xây đấy. Tôi chưa bao giờ nghe nói tới nó, Sergio nói. Hiện giờ một nhà sản xuất phim sống ở đấy, thằng cha uống rượu như hũ chìm, một kẻ vang bóng một thời không còn làm phim nữa. Sergio nhún vai. Rồi sẽ đến lúc lão ngỏm và mấy đứa cháu lão sẽ bán La Case Elizondo cho một công ty xây dựng phá sập để xây chung cư. Thực vậy, dấu vết kiến trúc sư Rivera để lại trên thế giới này ngày một ít đi. Thực tại cứ như một ả điếm nhiễm AIDS không được thỏa mãn, nhỉ? Sergio gật đầu nói phải, đúng vậy. Kiến trúc sư Rivera, kiến trúc sư Rivera, bà nghị nói. Sau một thoáng im lặng bà nói: bà mẹ rất xinh, không, phải nói là đẹp mới đúng, rất đẹp. Phu nhân Parker. Một bà vừa tân thời vừa đẹp, à mà nhân thể tôi kể anh nghe, kiến trúc sư Rivera đối xử với bà ấy như với bà hoàng. Mà thế là phải, vì hễ nhìn thấy bà là đàn ông thảy phát cuồng lên và nếu lúc nào đấy muốn bỏ ông kiến trúc sư thì bà chả thiếu gì mối tốt. Nhưng thật ra bà chẳng bao giờ bỏ ông ấy, mặc dù hồi tôi còn nhỏ nghe nói có một ông tướng và một chính trị gia đang ve vãn mồi chài bà mà bà cũng chẳng quá ác cảm với họ. Nhưng chắc hẳn bà yêu Rivera vì bà chẳng bao giờ bỏ ông ấy. Họ chỉ có một đứa con gái là Kelly, tên thật là Luz María, giống tên bà nội. Bà Parker có thai nhiều lần, nhưng thai không thuận. Chắc tử cung bà ấy có vấn đề. Có lẽ nó không chứa thêm nổi đứa trẻ Mexico nào nữa nên đã tự phá thai. Có thể vậy. Những chuyện kỳ lạ hơn còn xảy ra được cơ mà. Dù sao thì Kelly là con một, và cái vận rủi ấy hoặc vận may ấy để lại dấu ấn trên tính cách cô. Một mặt cô ấy là hoặc có vẻ là một đứa chảnh chọe, kiểu con gái rượu được nuông chiều của mấy nhà giàu mới nổi, nhưng mặt khác từ bé cô ấy đã có ý chí mạnh mẽ, quyết đoán, một tính cách mà tôi thậm chí phải nói là có một không hai. Dù sao đi nữa, ban đầu tôi chả ưa cô ấy lắm nhưng về sau, khi biết rõ cô ấy hơn, khi cô ấy mời tôi đến nhà chơi và tôi mời cô ấy về nhà tôi chơi thì càng ngày tôi càng có cảm tình với cô ấy, cho đến khi hai đứa không thể rời nhau ra nữa. Những chuyện như thế thường hay để lại dấu ấn dài lâu, bà nghị nói, làm như bà đang nhổ nước bọt vào mặt một người hay một bóng ma. Tôi có thể hình dung được, Sergio nói. Anh uống thêm cà phê không?

♣ ♣ ♣

Ngay hôm đầu đến Santa Teresa, Kessler rời khách sạn một mình. Đầu tiên ông xuống sảnh. Ông trò chuyện với lễ tân một hồi, hỏi về máy vi tính và kết nối Internet của khách sạn, rồi ông vào quán bar gọi whiskey, nhưng mới uống phân nửa thì đã đứng dậy vào toilet. Khi đi ra có vẻ như ông vừa rửa mặt, và ông tiến thẳng vào nhà hàng, không nhìn bất cứ ai đang ngồi ở bàn trong quán bar hay trên ghế trong tiền sảnh. Ông gọi một đĩa salad César cùng bánh mì đen, bơ và bia. Trong khi chờ thức ăn lên ông đứng dậy gọi điện ở máy điện thoại chỗ cửa nhà hàng. Sau đó ông về bàn ngồi và lấy từ túi áo khoác ra cuốn từ điển Anh-Tây Ban Nha tìm mấy chữ. Sau đó hầu bàn đặt đĩa salad lên bàn và Kessler uống mấy ngụm bia Mexico rồi phết bơ lên một lát bánh mì. Ông lại đứng dậy đi về phía toilet. Nhưng ông không vào đấy mà lại cho người lao công lau dọn toilet một đô và trao đổi với người này mấy câu bằng tiếng Anh, đoạn ông rẽ vào một hành lang nhánh, mở một cánh cửa và băng qua một hành lang khác. Cuối cùng Kessler đến bếp của khách sạn, mịt mù trong đám khói có mùi salsa cay và thịt nướng ngói, và ông hỏi một cậu phụ bếp đi lối nào ra ngoài phố được. Cậu phụ bếp đưa ông đến một cánh cửa. Kessler cho cậu một đô rồi bước ra sân. Ở góc sân một chiếc taxi đang chờ sẵn, ông liền leo lên. Ta đảo một vòng qua mấy khu ổ chuột đi, ông nói với tài xế bằng tiếng Anh. Tài xế nói được và họ lên đường. Chuyến đi kéo dài chừng hai tiếng. Họ vòng quanh trung tâm thành phố, lái qua quận Madero-Norte và quận Mexico, gần như đến sát biên giới nơi có thể nhìn thấy rõ El Adobe bên đất Mỹ. Rồi họ quay trở lại Madero-Norte, đi khắp các phố của quận Madero và quận Reforma. Tôi muốn chỗ khác kia, không phải thế này, Kessler nói. Vậy sếp muốn gì, thưa sếp? tài xế nói. Khu ổ chuột, khu xung quanh các nhà máy, các bãi rác bất hợp pháp. Tài xế liền quay ngược lại, băng qua quận Centra rồi hướng về phía quận Félix Gómez, rẽ vào đại lộ Carranza và lái ngang qua quận Veracruz, quận Carranza và quận Morelos. Đến cuối con đường ấy có một thứ gì đấy kiểu như quảng trường hoặc khoảng đất trống rộng thênh, màu vàng nhức mắt, tề tựu cơ man nào là xe tải và xe buýt với các quầy hàng bán mua đủ thứ từ rau củ gà qué cho tới đồ trang sức rẻ tiền. Kessler bảo tài xế dừng xe, ông muốn nhìn quanh một lát. Tài xế bảo tốt hơn là đừng, sếp ạ, ở chốn này đời một tay Mỹ chẳng đáng giá bao lăm đâu. Anh cho là tôi mới đẻ hôm qua à? Kessler hỏi. Tài xế không hiểu ý và cứ nằng nặc nài ông ở lại trong xe. Dừng ở đây, mẹ kiếp, Kessler nói. Tài xế phanh xe lại và đòi ông trả tiền. Anh định đi à? Kessler hỏi. Không, tài xế nói, em sẽ chờ sếp, nhưng chẳng ai bảo đảm là khi quay lại sếp vẫn còn tiền. Kessler phá ra cười. Anh muốn bao nhiêu? Hai mươi đô là đủ, tài xế nói. Kessler đưa anh ta một tờ hai mươi đô rồi xuống xe. Trong một lát, hai tay đút túi quần và cà vạt nói lỏng, ông tha thẩn quanh khu chợ tạm. Ông hỏi một bà già bé nhỏ bán dứa dầm rằng mấy xe tải kia đi đâu, sao chiếc nào cũng đi về cùng một hướng, về hướng Santa Teresa, bà già nói. Còn đằng ấy có gì? ông vừa hỏi bằng tiếng Tây Ban Nha vừa chỉ ngón tay về hướng ngược lại. Khu công nghiệp, bà già nói. Vì lịch sự, ông mua một miếng dứa, nhưng vừa đi khuất tầm mắt liền vứt xuống đất. Thấy chưa, tôi có bị làm sao đâu, ông nói với tài xế khi quay lại xe. Nhờ phép mầu đó, tài xế nói, mỉm cười qua kính chiếu hậu. Đến khu công nghiệp đi, Kessler nói. Đến cuối quảng trường đất kia thì đường tẽ ra hai nhánh, mỗi nhánh lại tẽ tiếp ra hai nhánh. Sáu con đường nhựa giao nhau ở khu công nghiệp Arsenio Farrell. Các tòa nhà nhà máy đều cao và mỗi nhà máy đều có hàng rào thép gai bao quanh, ánh sáng những ngọn đèn đường lớn trùm lên tất cả một thứ hào quang mơ hồ của sự cấp thiết, của sự hệ trọng, nhưng thật ra thì nào có phải, hôm nay chỉ là một ngày làm việc bình thường. Kessler lại xuống xe hít thở bầu không khí của nhà máy, bầu không khí lao động của miền Bắc Mexico. Xe buýt đưa công nhân đi và chở công nhân tới. Bầu không khí ẩm ướt hôi hám, ám mùi dầu cháy, phả lên mặt ông. Ông chừng như nghe thấy tiếng cười và tiếng accordion theo gió vẳng tới. Phía Đông khu công nghiệp trải dài cả một biển những mái nhà xây bằng các thứ vứt đi. Phía Nam, sau những nhà ổ chuột đằng xa, ông nhìn thấy một hòn đảo sáng và biết ngay đó là một khu công nghiệp khác nữa. Ông hỏi tài xế khu đó tên gì. Tài xế xuống xe, nhìn về phía Kessler chỉ một hồi. Chắc là Khu Công nghiệp General Sepúlveda, anh nói. Trời bắt đầu tối. Đã lâu Kessler không thấy một hoàng hôn nào đẹp đến vậy. Các màu sắc xoáy tròn trong trời chiều khiến ông nhớ lại một hoàng hôn đã thấy nhiều năm về trước ở Kansas. Không hẳn giống hệt, nhưng về màu sắc thì chẳng khác tí nào. Ông nhớ khi đó ông đang trên xa lộ, đi cùng cảnh sát trưởng và một cộng sự ở FBI, và xe phải dừng một lát để một trong ba người xuống xe đi tiểu, và rồi ông thấy nó. Những màu sắc rực rỡ nơi phía Tây, những màu sắc như những con bướm khổng lồ nhảy múa trong khi đêm tiến dần từ phía Đông tới như một anh què. Đi nào sếp, tài xế taxi nói, vận may của mình chả nhiều lắm đâu.

♣ ♣ ♣

Vậy anh có bằng chứng gì về chuyện anh em Uribe là bọn giết người hàng loạt, hở Klaus? phóng viên tờ En Independente đe Phoenix hỏi. Ở trong tù cái gì ta cũng biết, Haas nói. Vài nhà báo gật đầu đồng tình. Nhà báo ở Phoenix nói không thể có chuyện đó. Đấy chỉ là truyền thuyết Klaus à, một truyền thuyết do tù nhân chế ra. Một thứ thế phẩm giả ngụy thay cho tự do. Trong tù ta chỉ nghe được vài điều lọt vào được qua bốn bức tường nhà tù, thế thôi. Haas nhìn cô ta đầy phẫn nộ. Ý tôi là trong tù ta biết tất cả những chuyện xảy ra ngoài vòng pháp luật, gã nói. Không đúng đâu, Klaus, cô nhà báo nói. Đúng chứ, Haas nói. Không, không đúng, cô nhà báo nói. Đấy là truyền thuyết thị dân, phát minh của phim ảnh. Bà luật sư nghiến răng. Chuy Pimentel chụp ảnh bà: tóc đen, nhuộm, che kín mặt, mũi hơi khoằm khi nhìn nghiêng, mắt kẻ bút chì. Giá như mọi chuyện đều tùy thuộc vào bà thì tất cả những ai quanh bà, những bóng đen nơi mép ảnh sẽ biến mất ngay tức khắc, biến mất luôn cả căn phòng này, cái nhà tù này, cả cai ngục lẫn tù nhân, bốn bức tường trăm năm tuổi của nhà tù Santa Teresa, chẳng còn lại gì ngoài một vực sâu, trong vực sâu ấy chỉ có im lặng và có sự hiện diện mơ hồ của bà và của Haas, bị xiềng trong đáy vực.

♣ ♣ ♣

Ngày 14 tháng Mười, ven con đường đất dẫn từ quận Estrella đến các nông trại ở ngoại ô Santa Teresa, người ta bắt gặp một xác phụ nữ khác. Cô mặc áo phông dài tay màu xanh dương thẫm, áo khoác hồng kẻ sọc dọc đen trắng, hiệu Levi’s, thắt lưng to bản có khóa bọc nhung, bốt gót nhọn ôm trọn cẳng chân, tất trắng, quần lót đen, áo ngực trắng. Nguyên nhân tử vong, theo giám định pháp y, là thiếu ôxy do bị siết cổ. Quanh cổ cô vẫn còn một sợi dây điện dài một mét, đoạn giữa chập đôi xoắn lại thành nút, chắc ai đó đã dùng để siết cổ cô. Trên cổ cô cũng có thể thấy những dấu vết ngoài da của sự bạo hành, tuồng như trước khi dùng dây điện kẻ nào đó đã cố siết cổ cô bằng tay không, tay trái cùng chân phải bị trầy trụa, cơ mông bầm tím, như thể cô đã bị đá. Theo báo cáo pháp y, cô chết đã ba hoặc bốn ngày. Tuổi cô ước chừng từ hai lăm đến ba mươi, về sau cô được nhận diện là Rosa Gutiérrez Centeno, ba tám tuổi, trước là công nhân nhà máy, còn tại thời điểm chết thì cô làm hầu bàn tại một quán cà phê ở trung tâm Santa Teresa, mất tích bốn hôm trước khi chết. Người nhận diện là con gái cô, trùng tên với cô, năm nay mười bảy tuổi, sống cùng cô ở quận Álamos. Cô gái Rosa Gutiérrez Centeno khi nhìn thấy xác mẹ ở một phòng nhà xác thì liền nói đó là mẹ cô. Để không ai còn hồ nghi, cô nói thêm cái áo khoác hồng sọc đen trắng là của cô, thuộc sở hữu của cô, hai mẹ con dùng chung cái áo ấy cũng như chung nhiều thứ khác.

♣ ♣ ♣

Có những lúc chúng tôi gặp nhau hằng ngày, bà nghị nói. Dĩ nhiên là hồi bé, lúc còn đi học thì đâu có cách nào khác. Giờ ra chơi là chúng tôi ở bên nhau, chơi chung và trò chuyện về cuộc sống của mình. Thỉnh thoảng cô ấy mời tôi tới nhà chơi và tôi thích đến đó lắm, tuy nhiên cha mẹ ông bà tôi chẳng mấy thiết tha cho tôi giao du với những đứa con gái như Kelly, không phải vì cô ấy, dĩ nhiên, mà vì bố mẹ cô ấy, sợ rằng ông bố kiến trúc sư của cô ấy sẽ bằng cách nào đó lợi dụng tình bạn của con gái mình đặng mon men lại gần những thứ mà gia đình tôi coi là thiêng liêng bất khả xâm phạm, cái vòng thép tỏa quanh đời tư gia đình chúng tôi, vốn đã kháng cự lại được sức tấn công của cách mạng và cuộc suy thoái xảy ra sau Loạn Cristero và tình trạng bị gạt ra rìa khi những tàn dư của thời Porfirio - thật ra là tàn dư của thời Iturbide - bị đem nướng liu riu trên lửa. Nói cho anh dễ hiểu: dưới thời Porfirio Díaz, gia đình tôi chẳng thiếu thứ gì, nhưng dưới thời hoàng đế Maximiliano thì còn hơn thế nữa, và đáng lẽ ra đã đạt độ huy hoàng nhất dưới thời Iturbide, dưới một nền chuyên chế Iturbide không có loạn lạc và không bị ai phá đám. Trong mắt gia đình tôi, nói anh biết nhé, người Mexico đích thực hiếm lắm. Cả nước chắc chỉ có ba trăm gia đình. Ngàn rưởi hoặc hai ngàn người. Còn lại toàn tụi da đỏ ấm ức hay tụi da trắng oán hận hay những phường hung bạo có trời biết chui từ đâu ra đến Mexico chỉ để hủy diệt xứ này. Kẻ cướp, hầu hết là thế. Trưởng giả. Ăn bám. Những kẻ không biết sĩ diện là gì. Gia đình tôi xem, chắc anh cũng hình dung được, kiến trúc sư Rivera cha của Kelly là hình mẫu của người cơ hội. Bọn họ coi như đương nhiên là vợ ông không phải người Cơ đốc. Có lẽ, theo như sau này tôi nghe được, họ coi bà là con đĩ. Họ nhìn nhận vấn đề như vậy đấy, quyến rũ ra phết. Nhưng họ chả bao giờ cấm tôi đến chơi nhà Kelly (mặc dù, như tôi đã nói, họ không thích chuyện ấy) hoặc không cấm tôi mời cô ấy vệ nhà chơi ngày càng thường xuyên hơn. Sự thực là Kelly thích nhà tôi, thậm chí còn thích hơn cả nhà cô ấy, và cuối cùng thì điều đó cũng trở nên dễ hiểu trong mắt tôi, nó nói lên rất nhiều về sự rõ ràng trong sở thích của cô ấy, ngay cả khi mới là một cô bé. Hay đúng hơn là sự ngang ngạnh, có lẽ từ đó mới thích hợp. Ở cái xứ này chúng ta luôn lẫn lộn rõ ràng với ngang ngạnh, anh có thấy thế không? Chúng ta tự cho là mình luôn sáng sủa rõ ràng, trong khi thực tế là chúng ta ngang ngạnh. Theo nghĩa đó, Kelly rất Mexico. Cô ấy ngang ngạnh, ương bướng. Ngang ngạnh hơn tôi nhiều, nói thế là hiểu. Tại sao cô ấy thích nhà tôi hơn nhà cô ấy? Chậc, thì vì nhà tôi có đẳng cấp còn nhà cô ấy chỉ có phong cách, anh có hiểu sự khác nhau không? Nhà Kelly đẹp, tiện nghi hơn nhà tôi nhiều, có lắm trang thiết bị, một ngồi nhà sáng choang, có một phòng chính to, thoải mái, tiếp khách hay mở tiệc thì không gì bằng, rồi một cái sân hiện đại, có bãi cỏ và máy xén cỏ, một ngôi nhà tân tiến, theo cách gọi hồi đó. Nhà tôi, tự anh cũng thấy đấy, chính là cái nhà này đây, mặc dù hồi đó dĩ nhiên nó không được chăm bẵm như bây giờ, mà là một cái nhà to rộng thênh thang sặc mùi xác ướp và đèn cầy, giống một tu viện khổng lồ chứ chẳng giống cái nhà, nhưng có tất cả những đặc trưng của sự giàu có và ổn định kiểu Mexico. Một cái nhà vô phong cách, đôi khi xấu xí như một con tàu đắm, nhưng có đẳng cấp. Mà anh có hiểu có đẳng cấp là sao không? Trên hết nó có nghĩa là tự chủ. Không nợ ai bất cứ cái gì. Không phải giải thích với ai về bất cứ cái gì. Và Kelly là thế. Tôi không nói là Kelly có ý thức về điều đó. Tôi cũng không. Hồi đó chúng tôi còn nhỏ, do còn nhỏ nên vừa đơn giản vừa phức tạp và không bị vướng mắc trong từ ngữ. Nhưng cô ấy là vậy. Thuần túy ý chí tuyệt đối, thuần túy sức nổ, thuần túy khát khao khoái lạc. Anh có con gái không? Không, Sergio nói. Con gái không con trai cũng không. Chậc, nếu lúc nào đó có con gái anh sẽ hiểu điều tôi nói. Bà nghị im lặng một hồi. Tôi chỉ có một đứa con, con trai, bà nói. Nó đi học ở Mỹ. Đôi khi tôi mong nó đừng bao giờ về lại Mexico nữa. Tôi nghĩ thế là tốt nhất cho nó.

♣ ♣ ♣

Tối hôm đó Kessler được hộ tống từ khách sạn tới dự tiệc ở tư dinh thị trưởng. Ngồi bên bàn là Trưởng Công tố bang Sonora, Phó Trưởng Công tố, hai thanh tra, bác sĩ Emilio Garibay, trưởng ban giám định pháp y, giáo sư môn bệnh học và pháp y tại Đại học Santa Teresa, ông Abraham Mitchell lãnh sự Hoa Kỳ mà ai cũng gọi là Conan, các doanh nhân Conrado Padilla và René Alvarado, và hiệu trưởng Đại học Santa Teresa, Don Pablo Negrete, họ đi cùng vợ nếu có vợ, hoặc đi một mình, tuy nhiên một vài người tuy có vợ song chỉ được mời riêng không đi cùng vợ, các ông độc thân ủ rũ trầm mặc hơn nhiều so với mấy ông có vợ tuy vài ông trong số này dường như rất lấy làm vui về tình cảnh của mình, cứ cười nói và kể chuyện tiếu lâm suốt. Trong bữa ăn người ta nói chuyện làm ăn, chứ không nói về tội phạm (tình hình kinh tế dọc theo đường biên giới đang khả quan và có thể còn khả quan hơn nữa), và về phim ảnh, nhất là những phim Kessler từng làm cố vấn. Sau khi mọi người uống cà phê và sau sự biến mất hầu như ngay tức khắc của đám các bà, theo chỉ thị từ trước của các đức ông chồng, các ông tụ tập trong thư viện, trông chẳng giống thư viện mấy mà giống phòng trưng bày chiến lợi phẩm hoặc trưng bày súng của một tay trại chủ chịu chơi, ở đấy họ đề cập, ban đầu một cách quá ư tế nhị, đến chủ đề chính yếu. Trước sự ngạc nhiên của một vài người, Kessler trả lời các câu hỏi ban đầu bằng những câu hỏi khác. Những câu hỏi, không những thế, được đặt ra cho chẳng đúng người. Chẳng hạn, Kessler hỏi Conan Mitchell rằng, là một công dân Mỹ, ông ta nghĩ sao về những gì đang xảy ra ở Santa Teresa. Những người biết tiếng Anh dịch lại. Một số người cảm thấy khởi đầu từ ông lãnh sự người Mỹ như vậy là chẳng hay ho gì. Ấy là chưa kể còn hỏi ông ta với tư cách một công dân Mỹ. Conan Mitchell đáp ông ta không có ý kiến gì về vấn đề này. Kế đó Kessler đặt cùng câu hỏi cho hiệu trưởng Pablo Negrete. Ông này nhún vai, gượng mỉm cười, bảo rằng lĩnh vực của ông là văn hóa, đoạn ông ho rồi nín thinh. Cuối cùng Kessler muốn biết ý kiến của bác sĩ Garibay. Ông muốn tôi trả lời với tư cách công dân Santa Teresa hay tư cách chuyên gia pháp y? Garibay hỏi lại. Như một công dân bình thường, Kessler nói. Một chuyên gia pháp y thì khó có thể là công dân bình thường mãi được, Garibay nói, quá nhiều xác chết. Việc nhắc đến các xác chết khiến những người có mặt bớt hào hứng hẳn. Trưởng Công tố bang Sonora đưa cho Kessler một tập hồ sơ. Một thanh tra nói ông ta tin đúng là có một kẻ giết người hàng loạt, nhưng tên này hiện ngồi tù rồi. Phó Trưởng Công tố kể cho Kessler nghe chuyện về Haas và băng Bò Hoang. Viên thanh tra còn lại muốn biết Kessler nghĩ sao về những tên giết người bắt chước những tên giết người khác. Kessler mãi vẫn không hiểu câu hỏi cho đến khi Conan Mitchell thì thào từ copycat. Hiệu trưởng Đại học Santa Teresa mời ông giảng vài lớp cao học. Thị trưởng nhắc lại lần nữa rằng mọi người rất vui được tiếp Kessler ở đây, ở thành phố này. Trên đường về khách sạn, ngồi trên một trong mấy chiếc xe công của hội đồng thành phố, Kessler nghĩ những người này mới dễ mến và hiếu khách làm sao, đúng như ông thường nghĩ về người Mexico. Đêm đó, mệt nhoài, ông mơ thấy một cái hố và một người cứ đi vòng vòng quanh hố ấy. Người đó chắc là mình, ông tự nhủ trong mơ, nhưng ông chẳng thấy chuyện đó có gì quan trọng và rồi hình ảnh kia biến mất.

♣ ♣ ♣

Kẻ khởi đầu chuyện giết chóc là Antonio Uribe, Haas nói. Danil phụ hắn một tay và giúp hắn vứt xác. Nhưng dần dà Daniel đâm thích, mặc dù thích không phải là từ đúng, Haas nói. Từ nào mới đúng? các nhà báo hỏi. Tôi sẽ nói nếu trong phòng này không có phụ nữ, Haas nói. Các nhà báo cười ầm lên. Nhà báo nữ của tờ El Independiente de Phoenix nói hắn không cần giữ miệng vì cô. Chuy Pimentel chụp bà luật sư một bức. Một phụ nữ ưa nhìn, theo kiểu riêng, tay nhiếp ảnh gia nghĩ: dáng đẹp, cao, có vẻ kiêu kỳ, điều gì khiến một phụ nữ như vậy dành cả đời cho các phiên tòa và đi thăm khách hàng trong khám? Nói đi, Klaus, bà luật sư nói. Haas nhìn trần nhà. Từ đúng là nứng lên, gã nói. Nứng lên? các nhà báo hỏi. Daniel Uribe, nhìn thấy những gì anh họ hắn làm, liền nứng lên, Haas nói, và chẳng bao lâu sau chính hắn cũng bắt đầu hiếp và giết. Mẹ kiếp, nhà báo nữ của tờ El Independiente de Phoenix kêu lên.

♣ ♣ ♣

Đầu tháng Mười một, một nhóm dã ngoại của một trường tư ở Santa Teresa phát hiện một xác phụ nữ không nguyên vẹn trên sườn dốc nhất của đồi La Asunción, còn gọi là đồi Dávila. Thầy giáo phụ trách đoàn dùng di động trình báo và cảnh sát tới năm tiếng sau đó, khi trời vừa sụp tối. Khi họ trèo lên đồi, một cảnh sát, thanh tra Élmer Donoso, bị trượt ngã gãy cả hai chân. Nhờ các học sinh đi dã ngoại vẫn đang có mặt ở đó, thanh tra được đưa tới bệnh viện Santa Teresa. Tinh mơ ngày hôm sau, thanh tra Juan de Dios Martínez cùng vài cảnh sát khác quay lại đồi La Asunción cùng ông thầy đã trình báo việc phát hiện xác, lần này họ tìm được đúng nơi không khó khăn gì, sau đó họ nhặt các phần thi thể lại đưa đến cơ sở pháp y thành phố, ở đấy người ta nhận định đó là xác phụ nữ, nhưng không xác định được nguyên nhân tử vong. Không còn lại mô mềm nào, thậm chí vi sinh vật cũng không. Gần chỗ phát hiện xác, thanh tra Juan de Dios Martínez tìm thấy một cái quần tơi tả do dãi dầu mưa nắng. Tuồng như kẻ giết người đã tuột quần nạn nhân trước khi vứt cô vào trong bụi rậm. Hoặc tuồng như khi bị mang tới đây cô đã trần truồng rồi, quần của cô thì được nhét trong túi ni lông, sau đó cái quần bị vứt cách xác dăm mét. Thực ra mà nói, điều này chẳng có ý nghĩa gì.

♣ ♣ ♣

Lên mười hai tuổi thì chúng tôi không gặp nhau nữa. Ông kiến trúc sư tự dưng lại chết, và đột nhiên mẹ Kelly không chỉ không chồng mà còn ngập trong nợ nần. Giải pháp đầu tiên của bà là tìm trường mới cho Kelly rồi sau đó bà bán cái nhà ở Coyoacán đi và hai mẹ con đến sống trong một căn hộ ở quận Roma. Nhưng Kelly với tôi vẫn gọi điện cho nhau và gặp nhau hai ba lần nữa. Thế rồi họ rời căn hộ ở Roma chuyển tới New York. Tôi nhớ lúc cô ấy đi tôi đã khóc suốt hai ngày. Tôi đinh ninh sẽ không bao giờ gặp lại cô ấy nữa. Mười tám tuổi tôi vào đại học. Chắc hẳn tôi là người phụ nữ đầu tiên trong gia đình vào đại học. Có lẽ bố mẹ cho tôi đi học vì tôi dọa nếu không đợc đi thì sẽ tự tử. Ban đầu tôi học luật, sau thì học báo chí. Chỉ chừng đó tôi mới nhận ra nếu muốn tiếp tục sống, ý tôi là tiếp tục sống đúng với con người mình, là Azucena Esquivel Plata, thì tôi sẽ phải quay ngược một trăm tám mươi độ các ưu tiên của mình, những ưu tiên mà cho đến lúc đó vẫn không khác của gia đình tôi là mấy. Tôi, cũng như Kelly, là con một, và các thành viên trong gia đình tôi cứ mòn mỏi và suy vi hết người này đến người khác. Chắc anh cũng đoán được, mòn mỏi hay suy vi không phải là bản tính của tôi. Tôi yêu đời lắm. Tôi thích những gì cuộc đời có để cho tôi, không ai khác ngoài tôi, và tôi tin chắc mình hoàn toàn xứng đáng được vậy. Ở trường đại học tôi bắt đầu thay đổi. Tôi biết đến một lớp người khác. Những tay cá mập trẻ thuộc PRI ở khoa luật, những tay chó gộc của nền chính trị Mexico ở khoa báo chí. Ai cũng dạy tôi được cái gì đấy. Thầy cô yêu mến tôi. Ban đầu chuyện đó làm tôi áy náy. Sao lại là mình, cái đứa bước ra từ một nông trang tuồng như bị neo chặt vào những năm đầu thế kỷ mười chín? Mình có gì đặc biệt chăng? Mình có đặc biệt hấp dẫn hoặc thông minh không? Mình không đần, cái đó thì rõ, nhưng thông minh cũng không. Vậy tại sao mình lại gây được mối thiện cảm này ở các thầy cô? Do mình là hậu duệ cuối cùng của nhà Esquivel Plata với dòng máu gia tộc chảy trong huyết quản chăng? Mà nếu đúng vậy thì đã sao, sao chuyện đó lại làm mình khác thiên hạ cơ chứ? Tôi có thể viết một khảo luận về những nguồn cội bí mật của thói đa cảm ở người Mexico. Chúng ta là những kẻ cong quẹo làm sao. Chúng ta có vẻ giản đơn hoặc làm ra vẻ giản đơn biết bao trước mặt người khác còn trong thâm tâm chúng ta cong quẹo làm sao. Chúng ta, người Mexico, chúng ta nhỏ mọn làm sao và chúng ta tự bẻ quẹo mình trước mắt chính mình và trước mắt kẻ khác một cách ngoạn mục đến nhường nào. Mà để làm gì? Để giấu cái gì? Để làm người ta tin cái gì?

♣ ♣ ♣

Lúc bảy giờ sáng ông tỉnh dậy. Bảy rưỡi, sau khi tắm và mặc bộ com lê màu xám trắng, sơ mi trắng, cà vạt xanh lục, ông xuống ăn điểm tâm. Ông gọi nước cam, cà phê và hai miếng bánh nướng phết bơ với mứt dâu. Mứt ngon, bơ thì không. Lúc tám rưỡi, trong khi ông đang liếc qua mấy tập báo cáo về các tội ác, hai cảnh sát tới đón ông. Hai cảnh sát cực kỳ xun xoe khúm núm. Họ như hai ả điếm lần đầu tiên được phép mặc quần áo cho tay ma cô dắt khách cho mình, nhưng Kessler không để tâm. Lúc chín giờ ông thuyết trình trong phòng kín trước nhóm cử tọa chọn lọc gồm hai mươi tư sĩ quan cảnh sát, hầu hết mặc thường phục, tuy nhiên có vài người mặc đồng phục. Lúc mười rưỡi ông đến thăm mấy đồn cảnh sát trong thành phố và xem xét các máy vi tính một hồi, nghịch các máy và nghịch các chương trình nhận dạng nghi phạm, dưới cái nhìn hài lòng của đám cảnh sát tháp tùng ông. Lúc mười một rưỡi mọi người đến ăn trưa tại một nhà hàng chuyên về ẩm thực Mexico và món ăn miền Bắc nằm không xa tòa nhà sở cảnh sát. Kessler gọi cà phê và sandwich pho mát, nhưng các thanh tra nài ông thử ít antojito của Mexico, món này được đích thân ông chủ nhà hàng bưng ra trên hai cái khay to. Nhìn món antojito, Kessler nghĩ tới món ăn Tàu. Sau chầu cà phê, dù ông không gọi, người ta đặt trước mặt ông một cốc nước dứa. Ông uống thử và lập tức nhận ra vị rượu. Rất ít, chỉ vừa đủ để thêm hương hoặc làm đối trọng cho vị dứa. Cốc nước đầy ắp đá xay nhuyễn. Có mấy miếng antojito giòn tan, nhân gì đấy không đoán được, các miếng khác thì vỏ rất mềm, trông như trái cây luộc, nhưng nhồi đầy thịt. Một mâm cay còn mâm kia ít cay hơn. Kessler thử mấy miếng ít cay. Ngon, ông nói, ngon quá. Sau đó ông thử bên cay và uống nốt cốc nước dứa. Tụi chó đẻ này ăn giỏi thật, ông nghĩ. Lúc một giờ ông đi cùng hai thanh tra cảnh sát nói được tiếng Anh đến mười địa điểm đã được ông chọn ra từ trước trong các tập hồ sơ. Sau xe ông là một xe khác chở ba cảnh sát. Đầu tiên họ đến khe núi Podestá. Kessler xuống xe, lại gần hẻm núi, lấy một tấm bản đồ thành phố ra ghi chú gì đó. Đoạn ông bảo các thanh tra đưa ông đến phân khu Buenavista. Tới nơi ông không ra khỏi xe. Ông trải bản đồ ra trước mặt, ghi ngoáy bốn cái ghi chú mà đám thanh tra chả hiểu gì, rồi yêu cầu họ đưa tới đồi Estrella. Họ đi về phía Nam, qua quận Maytorena, và khi Kessler hỏi khu này gọi là gì rồi các cảnh sát cho ông biết, ông liền đòi họ dừng xe xuống đi bộ một chặp. Chiếc xe theo sau họ liền tấp lại bên cạnh và tài xế ra hiệu hỏi những người bên xe chính rằng có chuyện gì vậy. Thanh tra cảnh sát đang đứng cạnh Kessler giữa phố liền nhún vai. Cuối cùng tất cả đều xuống xe đi bộ theo sau ông người Mỹ, trong khi mọi người len lén nhìn họ, người thì sợ điều xấu nhất, người lại cho họ là một băng buôn ma túy, tuy nhiên có vài người nhận ra ông già dẫn đầu nhóm là thanh tra cảnh sát lừng danh của FBI. Sau khi qua hai khối nhà Kessler thấy một chỗ sân nho nhỏ có bàn kê ngoài trời, dưới một giàn nho với vài manh vải bạt kẻ sọc xanh dương và trắng cột vào mấy cây cọc. Sàn bằng đất nện và chỗ ấy vắng tanh. Ngồi đây một lát đi, ông nói với một thanh tra. Từ sân này có thể nhìn thấy đồi Estrella. Các cảnh sát kê hai bàn lại sát nhau rồi ngồi xuống châm thuốc hút và không kìm được mà mỉm cười với nhau, tuồng như muốn nói, chúng em đây thưa sếp, sẵn sàng tuân lệnh ngài. Mặt mày non choẹt, tràn trề sức sống, Kessler nghĩ, những chàng trai khỏe mạnh này, một số sẽ chết trước khi kịp già, trước khi nhăn nheo đi vì tuổi tác hay vì sợ hay vì những lăng xăng vô ích. Một bà trung niên đeo tạp dề trắng xuất hiện cuối sân. Kessler bảo muốn uống nước dứa lạnh, như ông uống ban sáng; song các cảnh sát khuyên ông gọi thứ khác, không tin tưởng được thứ nước dùng ở khu này đâu. Phải một hồi họ mới nghĩ ra được từ tiếng Anh drinkable. Thế các anh uống gì? Kessler hỏi. Bacanora, đám cảnh sát nói, rồi giải thích rằng đó là một món nước cất chỉ có ở Sonora, chiết xuất từ một loại cây thùa chỉ mọc ở đây chứ không có ở đâu khác trên đất Mexico. Vậy thử bacanora xem, Kessler nói, trong khi vài đứa trẻ ló mặt ra nhìn chăm chăm nhóm cảnh sát rồi chạy mất. Khi bà kia quay lại, bà bê một cái khay đựng năm cái cốc và một chai bacanora. Bà đích thân rót cho họ và đứng chờ nghe ý kiến của Kessler. Ngon lắm, thanh tra cảnh sát người Mỹ nói trong khi máu bốc lên đầu ông. Ông tới đây vì các phụ nữ chết phải không, ông Kessler? người phụ nữ hỏi. Sao bà biết tên tôi? Kessler nói. Hôm qua tôi thấy ông trên tivi. Tôi còn xem phim của ông nữa. À, phim của tôi, Kessler nói. Ông có chấm dứt được những cái chết ấy không? người phụ nữ hỏi. Khó mà trả lời được, tôi sẽ cố gắng, tôi chỉ có thể hứa với bà như vậy thôi, Kessler nói, và một thanh tra dịch lại cho bà kia. Nhìn từ chỗ họ, dưới những tấm vải bạt sọc xanh dương và trắng, đồi Estrella trông như một cái gò bằng thạch cao. Những đường vân màu đen ắt là rác. Những đường vân màu nâu là nhà cửa hay lều lán nằm chênh vênh ở một thế cân bằng kỳ dị hiểm nghèo. Bacanora ngon đấy, Kessler nói khi đứng dậy khỏi bàn và để lại một tờ mười đô song các thanh tra liền trả lại ông ngay. Ở đây ông là khách của chúng tôi, ông Kessler. Chúng tôi mong ông cứ tự nhiên, ông Kessler. Được ở đây cùng ông là vinh hạnh cho chúng tôi lắm. Được đi tuần tra cùng ông ấy. Chúng ta đang tuần tra sao? Kessler mỉm cười hỏi. Từ đầu kia sân người phụ nữ nhìn họ ra về, nửa người bà bị che kín, như một pho tượng, bởi một bức rèm xanh lục ngăn giữa bếp hay cái gì đấy giống như bếp với những cái bàn kê ngoài sân. Ai lại đem sắt thép lên ngọn đồi vậy nhỉ? Kessler nghĩ.

♣ ♣ ♣

Còn anh, Klaus, anh biết chuyện này từ bao giờ? Lâu rồi, Haas nói. Sao trước đây anh chẳng nói gì? Vì tôi phải kiểm chứng thông tin, Haas nói. Làm sao anh kiểm chứng được cái gì khi đang ngồi trong tù? phóng viên tờ El Independiente hỏi. Thôi đừng nói lại chuyện đó nữa, Haas nói. Tôi có những nguồn tin, tôi có bạn bè, tôi có những người nghe được cái này cái nọ. Vậy theo nguồn tin của anh thì anh em Uribe giờ ở đâu? Chúng biến sáu tháng rồi, Haas nói. Biến khỏi Santa Teresa? Đúng, biến khỏi Santa Teresa, tuy nhiên có người nói đã thấy chúng ở Tucson, Phoenix, thậm chí Los Angeles, Haas nói. Làm sao chúng tôi kiểm chứng được chuyện ấy? Rất đơn giản, quay số cha mẹ chúng mà hỏi, Haas nói với nụ cười đắc thắng.

♣ ♣ ♣

Ngày 12 tháng Mười một, thanh tra Juan de Dios Martínez nghe trên đài cảnh sát tin một xác phụ nữ nữa được phát hiện ở Santa Teresa. Dù không được giao vụ này nhưng anh vẫn đến hiện trường, giữa phố Caribe và phố Bermudas, ở quận Félix Gómez. Tên người chết là Angélica Ochoa, và, theo thông tin từ các cảnh sát đang phong tỏa con phố, xem ra đây là một vụ ân oán giang hồ chứ không phải tội phạm tình dục. Ít lâu trước khi tội ác diễn ra, hai cảnh sát đã thấy một cặp nam nữ cãi nhau dữ dội trên vỉa hè, cạnh quán bar El Vaquero, nhưng họ không muốn can thiệp vì nghĩ chắc chỉ là trai gái cãi nhau bình thường. Angélica Ochoa bị bắn xuyên qua thái dương trái, viên đạn bay ra qua tai phải. Viên đạn thứ hai xuyên vào má và ra ngoài qua bên phải cổ. Viên thứ ba nằm trong đầu gối phải. Viên thứ tư nằm trong đùi trái. Viên thứ năm và cuối cùng thì trong đùi phải. Trình tự các phát súng có lẽ là từ năm đến một, Juan de Dios nghĩ, phát súng ân huệ là vào thái dương trái. Vào thời điểm các phát đạn được bắn ra, mấy cảnh sát đã thấy cặp trai gái cãi nhau đang ở đâu? Khi bị thẩm vấn, họ không thể đưa ra câu trả lời nhất quán. Họ bảo sau khi nghe thấy tiếng súng liền quay xe, trở lại phố Caribe, và khi đó chỉ còn Angélica nằm trên mặt đất còn mấy người hiếu kỳ bắt đầu ngó ra từ cửa các nhà gần đó. Hôm sau cảnh sát tuyên bố đây là một tội ác vì tình và hung thủ có lẽ là Rubén Gómez Arancibia, một tay ma cô ở khu này còn được gọi là La Venada hay Nai Cái, không phải vì hắn trông giống con nai cái mà vì đôi lần hắn tự nhận đã chài được nhiều đàn ông, một cách xảo trá và nhằm trục lợi, đúng như một tên ma cô hạng nhì hay hạng ba phải thế. Angélica Ochoa là vợ hắn, và hình như La Venada nghe phong thanh cô sắp bỏ hắn. Rất có khả năng là, Juan de Dios nghĩ trong khi ngồi sau vô lăng chiếc xe của anh đang đỗ trong góc tối, vụ giết người này không được định trước. Ban đầu chắc La Venada chỉ muốn làm cô bị thương hoặc làm cô sợ hoặc cảnh cáo cô thôi, cho nên mới có viên đạn vào đùi phải, thế rồi, thấy vẻ đau đớn hoặc ngạc nhiên của Angélica, cơn cuồng nộ của hắn bắt đầu pha thêm cảm giác hài hước, cái vực sâu hài hước, được thể hiện bằng niềm mong muốn sự đăng đối, thành thử hắn mới bắn cô vào đùi trái. Sau đó thì hắn mất hết tự chủ. Cửa xả lũ đã mở. Juan de Dios tì đầu lên vô lăng cố khóc nhưng không thể. Mọi nỗ lực của cảnh sát hòng truy tìm La Venada đều công cốc. Hắn đã biến mất.

♣ ♣ ♣

Mười chín tuổi tôi bắt đầu yêu đương. Đời sống tình dục của tôi đã trở thành truyền thuyết trên khắp Mexico, nhưng đã là truyền thuyết thì chẳng bao giờ đúng sự thực, nhất là ở Mexico. Lần đầu tiên tôi ngủ với đàn ông chỉ là do tò mò. Đúng vậy. Chả phải vì tình yêu hay vì ngưỡng mộ hay vì sợ, như đối với phần lớn phụ nữ. Tôi cũng có thể ngủ với người ta vì thương hại, bởi vì xét cho cùng cái anh chàng mà tôi phịch lần đầu tiên ấy, thật ra tôi thấy thương hại anh ta, nhưng sâu xa là vì tò mò. Sau hai tháng tôi bỏ anh ta theo người khác, một thằng sâu bọ cứ đinh ninh mình sắp làm cách mạng. Mexico chả thiếu gì loại sâu bọ đó. Những gã đàn ông ngu muội mà ngạo mạn hết thuốc chữa, cứ gặp Esquivel Plata là mất hết trí khôn, chỉ muốn phịch cô ta ngay tức thì, làm như hành vi sở hữu một phụ nữ như tôi cũng tương đương với việc xâm chiếm Cung điện Mùa đông. Cung điện Mùa đông! Cái đám đấy, đến cắt cỏ cho Biệt thự Mùa hè còn chả ra hồn! Chậc, chả mấy chốc tôi cũng đá đít thằng cha đó, giờ hắn là một tay nhà báo khá có tiếng, cứ mỗi lần nhậu xỉn là lại nói hắn là mối tình đầu của tôi. Các người tình sau đấy của tôi được chọn vì họ làm tình giỏi hoặc vì tôi đang chán chết mà họ thì hoặc hóm hỉnh hoặc thú vị hoặc rất kỳ lạ, kỳ lạ đến đỗi chỉ khiến mỗi tôi cười được thôi. Có một thời, chắc anh biết, tôi khá quan tâm đến phong trào cánh tả ở đại học. Thậm chí tôi còn sang thăm Cuba. Rồi tôi lấy chồng, sinh con, chồng tôi cũng là người cánh tả, gia nhập PRI. Tôi bắt đầu làm báo. Chủ nhật nào tôi cũng về nhà, tức là nhà cũ, nơi gia đình tôi đang dần dần mục ruỗng, và hễ về là tôi lang thang khắp các hành lang, ngoài vườn, xem album, đọc nhật ký của các bậc tổ tiên mình không biết, đọc cứ như sách kinh chứ chẳng phải nhật ký, ngồi lặng bên cái giếng đá ngoài sân hàng giờ liền, đắm mình trong sự lặng im chờ đợi, hút hết điếu thuốc này tới điếu khác, không đọc, không nghĩ, đôi khi còn không nhớ nổi gì. Sự thực là tôi chán ngấy. Tôi muốn làm gì đó, nhưng không biết đích xác mình muốn làm gì. Mấy tháng sau tôi ly dị. Vợ chồng tôi sống với nhau chưa đầy hai năm. Dĩ nhiên, gia đình tôi cố thuyết phục, dọa sẽ tống tôi ra đường, họ nói, mà tình cờ sao lại hoàn toàn đúng, rằng tôi là người đầu tiên trong dòng họ Esquivel dám báng bổ sự thiêng liêng của hôn nhân, một trong các chú bác tôi, là linh mục, hơn chín mươi tuổi, Don Ezequiel Plata, muốn nói chuyện với tôi, chỉ định hỏi chút thông tin, nhưng rồi, vào lúc họ ít ngờ tới nhất, cái con quỷ ưa quyền uy hay con quỷ thích thống lĩnh - như ngày nay người ta gọi thế - ở trong tôi liền trỗi dậy, thế là tôi đặt tất cả bọn họ về đúng chỗ của họ, từng người một. Nói gọn: dưới những bức tường này tôi đã trở thành tôi bây giờ và tôi sẽ vẫn như vậy cho đến chết. Tôi nói với họ rằng cái thời của sự sùng kính và của những lời chê trách úp mở vòng vèo ấm ớ đã qua rồi. Tôi bảo họ tôi sẽ không cắn răng chịu những trò áp đặt và hiếp đáp trong gia đình nữa đâu. Tôi bảo họ là gia tài cơ nghiệp của nhà Esquivel cứ mỗi năm một teo dần và cứ cái đà này thì con trai tôi chẳng hạn, hoặc là cháu tôi, nếu thằng con tôi hóa ra giống tôi chứ không giống họ, sẽ thành một đứa bần cố nông không một xu dính túi. Tôi bảo họ tôi không muốn nghe bất cứ ai lầm bà lầm bầm trong khi tôi nói. Tôi bảo họ nếu không đồng ý với tôi thì xin mời đi đi cho, cửa đang rộng mở và đằng sau đấy xứ Mexico còn rộng mở hơn nhiều. Bắt đầu từ cái đêm sấm chớp này, tôi nói (bởi vì quả thực lúc đó chớp đang lóe trên khắp thành phố, chúng tôi có thể thấy rõ qua cửa sổ), sẽ không có cung tiến gì cho nhà thờ nữa hết, bởi nhà thờ cứ nay hứa mai hẹn Thiên đàng với chúng tôi nhưng suốt hơn trăm năm qua chỉ làm chảy máu chúng tôi trên cõi trần này. Tôi bảo họ tôi sẽ không lấy chồng nữa, và tôi cảnh báo là họ sẽ còn nghe những lời đồn độc địa hơn nữa về tôi. Tôi bảo họ họ sắp chết đến nơi rồi mà tôi thì không muốn họ chết. Bọn họ thảy đều tái xanh và há hốc mồm, nhưng chẳng ai lên cơn đau tim. Nói gì thì nói, dòng họ Esquivel lì lắm. Ít ngày sau, tôi nhớ rõ như mới hôm qua thôi, tôi gặp lại Kelly.

♣ ♣ ♣

Cũng hôm đó Kessler đang ở đồi Estrella, đi bộ quanh quận Estrella và quận Hidalgo, khảo sát khu vực dọc xa lộ Pueblo Azul và trông thấy những nông trại trống trơn như hộp đựng giày, những kết cấu chắc chắn, vô duyên, vô dụng, đứng nơi khúc quanh những con đường dẫn vào xa lộ Pueblo Ázul, rồi sau đó ông muốn xem những khu dọc biên giới, quận México, gần El Adobe, bên ấy thì đã là đất Mỹ, những quán bar, nhà hàng và khách sạn của quận México và các phố chính của nó, nơi luôn có hàng đoàn xe tải và xe con ầm ầm chạy đến cửa khẩu, thế rồi ông bảo đoàn tùy từng quay về phía Nam dọc theo đại lộ General Sepúlveda và xa lộ Cananea, đến đấy họ rẽ vào quận La Vistosa, một nơi mà cảnh sát gần như không bao giờ liều mạng bén mảng tới, một thanh tra, người đang lái xe, nói với Kessler như vậy, và người còn lại gật đầu buồn bã, tuồng như sự vắng mặt cảnh sát ở quận La Vistosa và quận Kino và quận Remedios Mayor là một vết nhơ mà họ - những chàng trai đầy sức sống - phải mang, mang với nỗi buồn, nhưng tại sao lại là buồn? tại vì sự bất khả xâm phạm của chúng khiến họ đau khổ, sự bất khả xâm phạm của ai? của những băng đảng buôn ma túy ở các quận bị Chúa bỏ rơi này, điều đó khiến Kessler nghĩ ngợi, bởi vì về lý thuyết, nhìn ra khung cảnh manh mún ngoài cửa sổ xe, thật khó mà hình dung có ai trong số những kẻ nghèo rớt mồng tơi kia lại đi mua ma túy, hình dung họ dùng ma túy thì dễ, nhưng hình dung họ mua ma túy thì khó, vô cùng khó, vô cùng khó hình dung họ thọc tay vào hết túi này tới túi kia ráng moi ra đủ tiền lẻ để mua, cảnh này nếu hình dung ở những khu ghetto của dân da đen và dân gốc Mỹ La tinh ở phía Bắc thì dễ, vì những khu ấy vẫn là những khu dân cư hẳn hoi đâu ra đó so với cái đống hỗn độn hoang tàn xác xơ ở đây, nhưng hai thanh tra cảnh sát gật gù, những cái quai hàm khỏe mạnh trẻ trung của họ, đúng vậy đấy, quanh đây có rất nhiều ma túy và tất tật các thứ rác rưởi đi cùng nó, thế là Kessler nhìn lại lần nữa quang cảnh này, manh mún hoặc đang trong cái quá trình liên tục trở nên manh mún, rời rã ra, như những mảnh xếp hình chắp vào nhau rồi lại rời khỏi nhau xoành xoạch từng giây, đoạn ông bảo người lái xe đưa ông đến bãi rác Chile, bãi rác bất hợp pháp lớn nhất Santa Teresa, lớn hơn bãi rác công của chính quyền thành phố, ở đấy không chỉ có xe tải của các nhà máy đến đổ rác mà cả xe rác do thành phố ký hợp đồng thuê và một số xe tải rác của mấy công ty tư làm theo hợp đồng thầu hoặc hoạt động ở những khu vực mà dịch vụ công cộng không tới được, thế là xe lại quay trở về các con phố đường nhựa và dường như quay lại đường cũ, quay về quận La Vistosa và xa lộ, nhưng rồi xe lại rẽ vào một đường rộng hơn, và cũng vắng hơn, nơi ngay cả cây bụi ven đường cũng bám một lớp bụi dày, tuồng như có một quả bom nguyên tử vừa được thả xuống gần đấy mà không ai hay biết hay để ý, trừ các nạn nhân, Kessler nghĩ, tuy nhiên các nạn nhân thì không tính bởi vì họ hoặc đều đã hóa điên hoặc đã chết, mặc dù họ vẫn đi lại vẫn nhìn ta, những con mắt những cái nhìn hướng thẳng ra từ một bộ phim Viễn Tây, cái nhìn của người da đỏ hay của những phường bất hảo, dĩ nhiên, nói cách khác là cái nhìn của những kẻ điên, cái nhìn của những kẻ sống ở chiều kích khác, cái nhìn của họ không còn khả năng chạm đến ta, ta cảm nhận được nó nhưng nó không chạm đến ta, nó không dính vào da ta, nó xuyên thẳng qua ta, Kessler nghĩ trong khi nghiêng mình xoay kính xe xuống. Không không, đừng hạ xuống, một cảnh sát nói. Tại sao? Mùi, như mùi chết. Hôi quá. Mười phút sau họ đến chỗ bãi rác.

♣ ♣ ♣

Thế bà thì nghĩ sao về chuyện này? một nhà báo hỏi luật sư. Bà luật sư cúi đầu đoạn nhìn nhà báo rồi sau đó nhìn Haas. Chuy Pimentel chụp ảnh bà: bà có vẻ bị thiếu không khí, làm như hai lá phổi của bà có thể vỡ tung bất cứ lúc nào, mặc dù khác với những người bị thiếu không khí, mặt bà không đỏ lựng mà tái ngắt. Đây là ý của Haas, bà nói, tôi không nhất thiết phải đồng thuận với nó. Đoạn bà nói về vị thế chông chênh của Haas, về các phiên tòa cứ bị trì đi hoãn lại, về các bằng chứng bị thất lạc, những nhân chứng bị ép buộc, tình trạng lửng lơ tranh tối tranh sáng mà khách hàng của bà đang sống. Bất cứ ai ở vào hoàn cảnh ấy đều sẽ mất trí, bà nói thầm. Phóng viên tờ El Independiente nhìn bà với vẻ giễu cợt và thích thú. Bà có quan hệ tình ái với Klaus phải không? cô hỏi. Nhà báo này còn trẻ, độ đôi mươi, đã quen ứng phó đối với những người ăn nói thẳng thừng và đôi khi tàn nhẫn. Bà luật sư thì ngoài bốn mươi và có vẻ mệt mỏi, tuồng như đã mấy ngày không ngủ. Tôi sẽ không trả lời câu này, bà nói. Nó không liên quan tới câu chuyện.

♣ ♣ ♣

Ngày 16 tháng Mười một, người ta phát hiện ra một xác phụ nữ nữa trên mảnh đất phía sau nhà máy Kusai, quận San Bartolomé. Theo khám nghiệm sơ bộ, nạn nhân trong khoảng từ mười tám đến hăm hai tuổi, và nguyên nhân tử vong, theo báo cáo pháp y, là ngạt thở vì bị siết cổ. Cô hoàn toàn trần truồng, quần áo cô được tìm thấy cách đó năm mét, giấu trong bụi cây. Thực ra không phải toàn bộ quần áo của cô mà chỉ là một cái quần tất màu đen và quần lót đỏ. Hai ngày sau, cô được cha mẹ nhận diện là Rosario Marquina, mất tích từ ngày 12 tháng Mười một trong khi cô đi nhảy đầm ở Salón Montana, trên đại lộ Carranza, không xa quận Veracruz nơi gia đình cô sống. Tình cờ là cả nạn nhân lẫn cha mẹ cô đều làm việc ở nhà máy Kusai. Theo giám định pháp y, trước khi chết nạn nhân bị hãm hiếp nhiều lần.

♣ ♣ ♣

Kelly xuất hiện trở lại như một món quà. Đêm đầu tiên gặp nhau hai chúng tôi thức trắng đêm kể chuyện đời mình cho nhau nghe. Đời cô ấy nói gọn lại là một thảm họa. Cô đã cố trở thành diễn viên sân khấu ở New York, minh tinh màn bạc ở Los Angeles, thử làm người mẫu ở Paris, nhiếp ảnh gia ở London, dịch giả ở Tây Ban Nha. Cô định học múa hiện đại nhưng ngay năm đầu tiên đã bỏ. Cô muốn thành họa sĩ nhưng ngay lần triển lãm đầu tiên đã nhận ra mình đã phạm sai lầm tồi tệ nhất đời. Cô không lấy chồng, không con cái, không gia đình (mẹ cô mới mất sau một thời gian dài bệnh tật), không tiền đồ. Đấy đúng là lúc để quay trở về Mexico. Cô sẽ không khó xin việc ở thủ đô. Cô có bạn bè, có tôi, người bạn thân nhất, điều này anh đừng hoài nghi dù chỉ một giây. Nhưng cô đã chẳng cần phải cậy nhờ ai (ít nhất là trong số những người tôi biết) vì chẳng mấy chốc cô đã tìm được việc ở trong cái giới ta có thể tạm gọi là giới mỹ thuật. Nói cách khác, cô lo liệu cho các buổi khai mạc triển lãm, thiết kế và in catalogue, ngủ với họa sĩ, nói chuyện với người mua, tất tật đều là cho bốn nhà môi giới mỹ thuật nổi nhất thời ấy ở thủ đô Mexico, những kẻ giống như bóng ma ẩn đằng sau các phòng tranh với họa sĩ và giật dây điều khiển tất. Dạo đó tôi không còn hoạt động ủng hộ phe cánh tả vô dụng nữa, tôi không có ý xúc phạm gì đâu, mà đang nhích ngày một gần hơn đến một số nhánh của PRI. Có lần chồng cũ của tôi bảo: nếu cứ tiếp tục viết những thứ đang viết thì thể nào em cũng sẽ bị tẩy chay hay còn tệ hơn nữa. Tôi cứ nghĩ mãi không hiểu anh ấy bảo còn tệ hơn là có ý gì nhưng tôi vẫn tiếp tục viết và cho đăng báo. Hậu quả là chẳng những bị tẩy chay mà tôi còn nhận được những tín hiệu cho thấy giới chóp bu đang ngày càng quan tâm đến tôi. Cái thời ấy thật không thể tin được. Chúng tôi còn trẻ, chúng tôi không có quá nhiều trách nhiệm, chúng tôi độc lập và chẳng thiếu tiền. Chính vào dạo đó Kelly quyết định cái tên hợp với cô nhất là Kelly. Tôi vẫn gọi cô là Luz María, mặc dù người khác đều gọi cô là Kelly, cho đến một ngày cô nói chuyện với tôi. Cô bảo: Azucena này, tớ không thích tên Luz María Rivera, tớ không ưa cái âm của nó, tớ thích tên Kelly, ai ai cũng gọi tớ như vậy cả, cậu cũng gọi như thế chứ? Tôi liền nói: được thôi. Nếu cậu muốn tớ gọi cậu là Kelly, tớ sẽ gọi. Và từ đó trở đi tôi bắt đầu gọi cô là Kelly. Ban đầu tôi thấy tức cười. Một thói đỏng đảnh đặc Mỹ. Nhưng rồi tôi nhận ra cái tên hợp với cô. Có lẽ vì Kelly hao hao giống Grace Kelly. Hoặc vì Kelly là một cái tên ngắn, chỉ hai âm tiết, còn Luz María thì dài hơn. Hoặc vì Luz María gọi đến cái gì đó mang tính tôn giáo còn Kelly chả gợi lên gì hoặc chỉ gợi lên một tấm ảnh. Chắc tôi vẫn giữ đâu đó những bức thư ký tên Kelly R. Parker. Chắc cô cũng ký tên ấy lên cả séc. Kelly Rivera Parker. Có những người tin cái tên chính là số phận. Tôi không tin thế. Nhưng nếu điều đó mà đúng thì khi chọn tên ấy, Kelly đã đi bước đầu tiên để dấn vào chốn vô hình, dấn vào ác mộng. Anh có tin cái tên chính là số phận không? Không, Sergio nói, nhưng tôi cũng không tin đâu. Tại sao? bà nghị thở dài, chẳng tỏ ra hiếu kỳ. Tôi có một cái tên rất bình thường, Sergio nói, nhìn thẳng vào cặp kính râm của bà nghị. Trong một thoáng bà nghị để tay lên đầu, tuồng như bị đau nửa đầu. Anh có muốn tôi nói với anh một chuyện không? Mọi cái tên đều bình thường, mọi cái tên đều tầm thường. Gọi cô ấy là Kelly hay Luz María xét cho cùng chả khác gì nhau. Mọi cái tên rồi cũng đều biến mất. Điều đó lẽ ra cần phải dạy cho trẻ con ngay từ cấp tiểu học. Nhưng chúng ta sợ không dám dạy.

♣ ♣ ♣

Bãi rác Chile không khiến Kessler ấn tượng bằng các khu phố ông đã đi qua - luôn luôn là trên một xe cảnh sát được một xe cảnh sát khác hộ tống - những nơi thường xảy ra các vụ bắt cóc nhất. Quận Kino, La Vistosa, Remedios Mayor, quận La Preciada phía Đông Nam, quận Las Flores, Plata, Álamos, Lomas del Toro phía Tây, những khu dân cư gần các khu công nghiệp và dọc hai bên đại lộ Rubén Darío và đại lộ Carranza như một cột sống đôi, và quận San Bartolomé, Guadalupe Victoria, Ciudad Nueva, quận Las Rositas phía Đông Bắc. Đi bộ trên các phố đó, giữa ban ngày ban mặt, thật đáng sợ, ông nói với báo giới. Ý tôi là: đáng sợ với người như tôi. Các nhà báo, vốn không ai sống ở các khu này, liền gật. Tuy nhiên, đám cảnh sát thì cười thầm. Họ nghĩ Kessler nói sao mà ngây thơ. Ông ta nói đúng như một tay Mẽo. Một tay Mẽo tử tế, dĩ nhiên, vì những tay Mẽo tồi nói năng cách khác. Với một phụ nữ, ra đường ban đêm nguy hiểm lắm, Kessler nói. Thật liều nữa. Hầu hết các phố, trừ những phố chính huyết mạch có tuyến xe buýt, đều có ít đèn hoặc hoàn toàn không có đèn. Một số khu vực cảnh sát không bao giờ đặt chân tới, ông nói với thị trưởng, ông này liền vặn vẹo trên ghế làm như bị rắn cắn và khoác lên mình cái vẻ u buồn vô cùng tận và thấu hiểu vô cùng tận. Trưởng Công tố bang Sonora, Phó Trưởng Công tố bang và các thanh tra liền nói rằng vấn đề ấy có thể là, chắc là, có khả năng là, có thể nói vậy, một vấn đề của cảnh sát thành phố, mà đứng đầu là Don Pedro Negrete, anh em sinh đôi của hiệu trưởng Đại học Santa Teresa. Kessler bèn hỏi Pedro Negrete là ai, đã được giới thiệu với ông chưa, và hai cảnh sát trẻ khỏe khoắn nói tiếng Anh không tồi đã tháp tùng ông đi khắp nơi liền bảo là chưa, thực ra Don Pedro và ông Kessler chưa gặp nhau, vậy là Kessler yêu cầu họ mô tả ông kia, vì có khi ông đã gặp rồi, ngay hôm đầu tiên, ở sân bay, thế là hai cảnh sát liền mô tả vắn tắt ông cảnh sát trưởng, chẳng nhiệt tình cho lắm, chỉ là một chân dung nghèo nàn, tuồng như sau khi nhắc tới Don Pedro họ bèn lấy làm tiếc vì đã làm vậy. Và cái chân dung nghèo nàn này chẳng nói lên được gì với Kessler. Nó vẫn câm lặng. Được tạo nên bằng những từ rỗng. Một tay rất chì, rất đáng tin, hai cảnh sát trẻ khỏe khoắn nói. Một thành viên kỳ cựu của cảnh sát tư pháp. Hẳn chắc giống hệt người anh em sinh đôi, ông hiệu trưởng trường đại học, Kessler trầm ngâm. Nhưng đám cảnh sát cả cười, mời ông một ly bacanora cuối rồi bảo không, ông không nên nghĩ vậy, Don Pedro trông chẳng giống Don Pablo chút nào, ông hiệu trưởng cao gầy, hầu như toàn da bọc xương, còn Don Pedro thì hơi thấp, vai rộng nhưng thấp, và bị thừa cân vì vốn thích ăn ngon và chẳng hề chê dù là đồ ăn miền Bắc hay hamburger kiểu Mỹ. Kessler hỏi liệu ông có nên nói chuyện với ông ấy không. Ông có nên đi gặp ông ấy không. Và ông cũng tự hỏi vì cớ gì cảnh sát trưởng thành phố không đến gặp ông, dù gì thì ông cũng là khách. Thế là ông viết tên ông kia vào sổ tay. Pedro Negrete, cựu cảnh sát tư pháp, cảnh sát trưởng thành phố, người rất được trọng vọng, đã không đến chào mình. Rồi ông chuyển sang những việc khác. Ông miệt mài nghiên cứu lần lượt từng vụ giết phụ nữ. Ông miệt mài uống bacanora, trời ơi sao mà ngon. Ông miệt mài chuẩn bị hai bài thuyết trình ở trường đại học. Và một chiều nọ ông ra ngoài theo ngõ sau, như đã làm hôm mới đến, bắt taxi đến chợ đồ thủ công mỹ nghệ, vốn được một số người gọi là chợ da đỏ còn người khác gọi là chợ dân Bắc, để mua quà lưu niệm cho vợ. Và cũng y như lần trước, chẳng hề hay biết gì, ông bị một xe cảnh sát không biển hiệu theo sát suốt dọc đường.

♣ ♣ ♣

Khi các nhà báo rời nhà tù Santa Teresa, bà luật sư gục đầu xuống bàn khóc rất khẽ, khó ai nghe thấy, đến nỗi có vẻ bà chẳng giống một phụ nữ da trắng. Phụ nữ da đỏ khóc như thế. Rồi một số phụ nữ lai. Nhưng phụ nữ da trắng thì không, phụ nữ da trắng có trình độ đại học lại càng không. Khi bà cảm thấy tay Haas trên vai mình, không phải vuốt ve mà đúng hơn là một cử chỉ thân thiện, hay có khi chẳng thân thiện gì mà chỉ là một cử chỉ chiếu lệ, thì mấy giọt nước mắt bà đã để rơi lên mặt bàn (một mặt bàn bốc mùi thuốc khử trùng và, lạ thay, mùi thuốc nổ không khói) đã khô đi và bà ngẩng đầu lên nhìn bộ mặt xanh xao của người được bà bảo vệ, người tình của bà, bạn của bà, một khuôn mặt vừa căng thẳng vừa thư thái (ai lại có thể vừa thư thái vừa căng thẳng cùng một lúc được?) đang quan sát bà với vẻ riết róng của một nhà khoa học, không phải từ căn phòng trong tù đó mà từ bầu hơi nước đầy sulfur của một hành tinh khác.

♣ ♣ ♣

Ngày 25 tháng Mười một, người ta phát hiện xác María Elena Torres, ba mươi hai tuổi, trong nhà cô trên phố Sucre quận Rubén Darío. Hai ngày trước, 23 tháng Mười một, có một cuộc biểu tình tuần hành của phụ nữ ở khắp Santa Teresa, từ trường đại học đến tòa thị chính, phản đối tình trạng giết phụ nữ và những tội ác không bị trừng trị. Cuộc biểu tình do MSDP tổ chức cùng một số tổ chức phi chính phủ, cộng thêm PRD tức Đảng Cách mạng Dân chủ và vài nhóm sinh viên. Theo chính quyền thì số người tham gia không quá năm ngàn. Theo các nhà tổ chức thì có trên sáu chục ngàn người tuần hành trên các phố Santa Teresa. María Elena Torres có trong số đó. Hai ngày sau cô bị đâm chết ngay trong nhà mình. Một trong các vết thương xuyên qua cổ, khiến cô chảy máu đến chết. María Elena Torres sống một mình, vì cô mới ly thân chồng cách đấy không lâu. Cô không có con. Theo hàng xóm thì trong tuần ấy cô đã cãi vã với chồng. Khi cảnh sát đến nhà trọ nơi người chồng ở thì anh này đã bỏ trốn. Vụ này được giao cho thanh tra Luis Villaseñor vừa từ Hermosillo tới, ông này sau một tuần thẩm vấn thì đi tới kết luận rằng kẻ giết người không phải anh chồng đang bỏ trốn mà là tình nhân của María Elena, một tay Augusto hay Tito Escobar nào đấy, đã hẹn hò với nạn nhân chừng một tháng. Tay Escobar này sống ở quận La Vistosa, nghề nghiệp không rõ. Khi họ đến tìm thì anh ta đã đi mất. Trong nhà, họ gặp ba người đàn ông. Khi bị thẩm vấn, họ nói có một đêm đã thấy Escobar đi đâu về trên sơ mi có vết máu. Thanh tra Villaseñor phải thừa nhận ông chưa bao giờ thẩm vấn ba kẻ nào hôi rình như ba kẻ này. Cứ như chúng có lớp da thứ nhì bằng phân, ông nói. Ba người này làm nghề nhặt rác ở Chile, bãi rác bất hợp pháp. Căn nhà chỗ họ sống chẳng những không có buồng tắm mà ngay cả nước cũng chẳng có. Vậy làm thế quái nào Escobar lại thành tình nhân của María Elena được chớ, thanh tra Villaseñor tự hỏi. Thẩm vấn xong, Villaseñor dẫn ba người kia ra ngoài sân và dùng một đoạn vòi nước quất cho một trận. Kế đó ông bắt họ cởi quần áo, quẳng cho họ cục xà bông và xịt nước vào họ mười lăm phút liền. Sau này, trong lúc đương nôn, ông chợt nảy ra ý nghĩ là hai hành động này có mối liên hệ logic với nhau. Tuồng như cái này dẫn tới cái nọ. Trận đòn bằng vòi nước xanh lục. Nước xối ra từ vòi nước đen. Nghĩ vậy ông thấy dễ chịu hơn. Dựa trên mô tả của ba anh nhặt rác, người ta phác thảo chân dung nghi phạm giết người và báo cho các đồn cảnh sát trong cả nước. Tuy nhiên, vụ việc không tiến triển. Cả người chồng lẫn gã nhân tình cứ thế biến mất và chẳng ai còn nghe nói tới họ nữa.

♣ ♣ ♣

Dĩ nhiên, một ngày kia việc hết. Các nhà buôn tranh hay phòng tranh cứ đến rồi đi. Họa sĩ Mexico thì không. Họa sĩ Mexico như thế nào thì cứ mãi thế ấy, như các nhạc công mariachi, ấy là nói vậy, nhưng một ngày kia các nhà buôn tranh bay đến đảo Cayman còn các phòng tranh thì đóng cửa hoặc giảm lương nhân viên. Chuyện tương tự cũng xảy ra với Kelly. Sau đó cô chuyển sang quản lý show thời trang. Mấy tháng đầu cô làm tốt. Thời trang cũng như hội họa, nhưng dễ hơn. Quần áo rẻ hơn tranh, chả ai có ảo tưởng gì khi mua một bộ cánh, nên ban đầu cô làm tốt, cô có kinh nghiệm có bạn bè, người ta tin tưởng thị hiếu của cô, kể cả khi không tin cô, các show cô tổ chức đều thành công. Nhưng cô không giỏi quản lý bản thân cũng như quản lý tiền, và, theo như tôi nhớ, cô lúc nào cũng thiếu tiền. Đôi khi cách sống của cô khiến tôi nổi điên và chúng tôi nhiều khi cãi nhau to. Không chỉ một lần tôi giới thiệu đàn ông cho cô, hoặc độc thân hoặc đa phần là đã ly dị, họ muốn cưới cô và chu cấp cho kiểu sống của cô, nhưng đến lúc này thì Kelly đã là một người độc lập không chê vào đâu được. Tôi không có ý nói cô là một vị thánh. Cô chẳng có gì là thánh hết. Tôi biết có những người đàn ông (vì chính họ nước mắt lưng tròng kể cho tôi nghe) bị cô bòn sạch những gì có thể. Nhưng chẳng bao giờ dưới vỏ bọc hợp pháp. Nếu họ cho cô những gì cô đòi hỏi, đấy là bởi vì cô, Kelly Rivera Parker, đòi hỏi, chứ không phải vì họ có nghĩa vụ với vợ mình hay với mẹ của lũ con mình (đến đoạn đời này thì Kelly đã quyết sẽ không bao giờ có con) hay với tình nhân chính thức của mình. Trong bản tính của cô có gì đó đã cự tuyệt không muốn gắn bó với ai, cho dù điều đó đã đẩy cô vào thế chông chênh, một vị thế mà Kelly chẳng bao giờ quy trách nhiệm cho hành động của chính mình mà lại nghĩ là vì những éo le không ngờ tới được của số mệnh. Cô sống cũng giống như Oscar Wilde, toàn vung tay quá trán. Điều khó tin nhất là chuyện này chẳng bao giờ khiến cô trở nên bẳn tính, ừ thì có đôi lần, đôi lần tôi thấy cô khùng lên, nổi cơn tam bành, nhưng chỉ sau vài phút là thôi. Một tính, tốt khác của cô, mà tôi cũng thế, là thủy chung với bạn bè. Nếu nghĩ kỹ thì đó cũng không hẳn là tính tốt. Nhưng Kelly là vậy, bạn bè là thiêng liêng và cô luôn ủng hộ bạn bè. Chẳng hạn, khi tôi gia nhập PRI thì liền có một cơn sóng gió nhỏ trong gia đình, cứ tạm gọi nó như thế. Một vài nhà báo quen biết tôi nhiều năm không nói chuyện với tôi nữa. Những người khác, tồi hơn, thì vẫn nói chuyện, nhưng chủ yếu là nói sau lưng tôi. Cái xứ này, anh biết quá còn gì, là một xứ trọng nam khinh nữ thâm căn cố đế, lúc nào chẳng đầy những tên khốn nạn. Nếu không phải vậy thì không thể nào giải thích được lịch sử Mexico. Nhưng Kelly luôn ở bên tôi, không bao giờ đòi tôi giải thích, không bao giờ trách móc gì tôi. Những người khác, anh biết đấy, họ bảo tôi vào đảng là vì lợi ích cá nhân. Dĩ nhiên tôi vào vì lợi ích cá nhân. Nhưng mà lợi ích cá nhân cũng có nhiều loại và tôi đã quá chán rao giảng giữa thinh không rồi. Tôi muốn có quyền lực, chuyện đó tôi không chối. Tôi muốn được rảnh tay thay đổi một số điều ở đất nước này. Điều này tôi cũng không phủ nhận. Tôi muốn cải thiện sức khỏe cộng đồng cùng nền học vấn cộng đồng và góp phần sửa soạn cho nước Mexico bước vào thế kỷ hai mươi mốt. Nếu đó là lợi ích cá nhân thì ừ, lợi ích cá nhân. Dĩ nhiên, tôi chả đạt được bao nhiêu thành tựu. Tôi đã dồn vào đó nhiều ảo tưởng hơn là sự tỉnh táo, chắc chắn vậy rồi, và chẳng bao lâu tôi nhận ra mình đã sai lầm. Ta tưởng rằng ta có thể cải thiện một số điều từ bên trong. Đầu tiên ta cố gắng cải thiện các thứ từ bên ngoài, rồi sau đó ta tin là khi ta đã ở bên trong rồi thì khả năng thực tế để thay đổi sẽ lớn hơn. Ít nhất ta tin rằng ở bên trong, ta sẽ hành động tự do hơn. Lầm rồi. Có những thứ không thể thay đổi, dẫu từ bên ngoài hay bên trong. Nhưng đây mới là phần tức cười nhất. Phần khó tin nhất của lịch sử (là lịch sử buồn bã của xứ Mexico hay của xứ Mỹ La tinh ư, với tôi thế nào cũng được). Cái phần không thể tin được. Là khi ta phạm sai lầm từ bên trong, những sai lầm thôi không còn quan trọng nữa. Sai lầm thôi không còn là sai lầm. Việc phạm sai lầm, húc đầu vào tường trở thành một phẩm chất chính trị, một chiến thuật chính trị, cho ta sự hiện diện chính trị, khiến ta được truyền thông chú ý. Vào thời khắc của sự thật, tức cũng có nghĩa là mọi thời khắc hay ít nhất là bất cứ thời khắc nào trong khoảng từ tám giờ sáng đến năm giờ chiều, anh có mặt và phạm sai lầm thì cũng hợp tình hợp lý ngang với náu mình chờ đợi. Anh chẳng làm gì cũng không sao, anh khuấy hôi tất cả lên cũng chẳng vấn đề gì, quan trọng là anh có ở đó. Ở đâu? Thì ở cái nơi cần ở. Và đó, tôi đi từ chỗ được nhiều người biết tới đến chỗ nổi tiếng là bằng cách đó. Tôi là một phụ nữ hấp dẫn, tôi không uốn ba tấc lưỡi, đám khủng long ở PRI cười nhạo các câu châm chích của tôi, các cá mập ở PRI coi tôi là người của họ, cánh tả của đảng đồng tâm nhất trí hoan nghênh sự nanh nọc của tôi. Tôi không ý thức được dù chỉ một nửa chuyện ấy. Sự thật giống như một thằng ma cô phê ma túy nặng. Anh có thấy vậy không?

♣ ♣ ♣

Bài thuyết trình đầu tiên của Albert Kessler ở Đại học Santa Teresa là một thành công công khai xưa nay hiếm. Nếu không tính tới hai buổi nói chuyện cũng ở nơi này nhiều năm trước, của một ứng viên tổng thống đảng PRI, hay một bài khác của một vị tổng thống đắc cử, thì xưa nay hội trường ngàn rưỡi ghế ngồi của trường chưa bao giờ kín chỗ như thế. Theo ước tính dè dặt nhất, số người đến nghe Kessler thuyết trình vượt quá ba ngàn. Ấy là một cơ hội giao lưu, vì bất cứ ai có chút máu mặt ở Santa Teresa đều muốn gặp Kessler, muốn bắt tay vị khách lừng danh, hay ít nhất là nhìn ông ở cự ly gần, và đây cũng là một cơ hội chính trị, bởi vì ngay cả những nhóm đối lập cứng đầu cứng cổ nhất cũng dường như nhẹ nhõm đi hoặc khoác lấy thái độ ngoại giao hơn và kém thù địch hơn so với trước, và ngay cả giới nữ quyền cũng như những nhóm thân nhân của các phụ nữ và bé gái bị mất tích cũng quyết định chờ phép mầu khoa học, cái phép mầu của trí tuệ con người được khởi hoạt nhờ Sherlock Holmes thời hiện đại kia.

♣ ♣ ♣

Tin tức Haas quy tội cho anh em nhà Uribe được đăng trên sáu tờ báo đã cử phóng viên đến nhà tù Santa Teresa. Trước khi đăng bài, năm trong số các nhà báo gọi cho cảnh sát xin ý kiến bình luận, và cảnh sát, cũng giống các tờ báo lớn của Mexico, bác bỏ thẳng thừng khả năng lời cáo buộc đó là đáng tin. Các nhà báo cũng gọi đến dinh cơ nhà Uribe nói chuyện với những người trong gia đình, và được biết Antonio và Daniel đang đi du lịch hoặc không còn sống ở Mexico nữa hoặc đã chuyển đến thủ đô, học đại học ở đấy. Phóng viên tờ El Independiente de Phoenix, Mary-Sue Bravo, thậm chí còn xoay được địa chỉ của cha Daniel Uribe và cố phỏng vấn ông này, nhưng mọi cố gắng của cô đều vô ích. Joaquín Uribe luôn bận gì đó hoặc không có mặt ở Santa Teresa hoặc vừa mới đi khỏi. Trong mấy ngày Mary-Sue Bravo ở Santa Teresa, cô tình cờ gặp phóng viên tờ La Raza de Green Valley, nhà báo duy nhất viết về cuộc họp báo của Haas mà không phỏng vấn cảnh sát về cáo buộc của gã, vì vậy mà có nguy cơ bị gia đình Uribe và các cơ quan chính quyền bang Sonora đảm trách vụ này khởi kiện. Mary-Sue Bravo thấy anh này qua cửa sổ một nhà hàng rẻ tiền ở quận Madero nơi phóng viên tờ La Raza đang ăn trưa. Anh ta không chỉ một mình, bên cạnh là một tay gân guốc mà Mary-Sue nghĩ có vẻ là cảnh sát. Ban đầu cô phóng viên tờ El Independiente de Phoenix không thấy chuyện này quan trọng lắm bèn cứ đi tiếp, nhưng được vài bước thì cô có linh tính gì đấy nên liền quay lại. Cô thấy phóng viên tờ La Raza lúc này chỉ có một mình, đang vét nốt đĩa chilaquiles. Hai người chào nhau và cô xin phép ngồi cùng. Nhà báo La Raza liền nói tất nhiên là được chứ. May-Sue gọi một lon Coca light rồi họ nói chuyện một hồi về Haas và gia đình Uribe khó gặp. Sau đó nhà báo La Raza trả tiền rồi đi, để Mary-Sue lại một mình trong nhà hàng đầy những kẻ cũng giống như anh nhà báo, trông như tá điền làm công nhật và như đám người vượt biên sang Mỹ làm cu li.

♣ ♣ ♣

Ngày 1 tháng Mười hai, xác một phụ nữ trẻ khoảng mười tám đến hăm hai tuổi được phát hiện ở một lòng suối cạn gần Casas Negras. Người phát hiện là Santiago Catalán, đang đi săn thì để ý thấy lũ chó của mình có hành vi khác thường gần chỗ lòng suối nọ. Theo lời ông thì đột nhiên lũ chó run lên giống như ngửi thấy mùi cọp hay mùi gấu. Nhưng quanh đây không có cọp hay gấu nên tôi chợt nghĩ có khi chúng ngửi thấy mùi bóng ma của cọp hay gấu. Tôi biết lũ chó của tôi, tôi biết khi chúng run hay tru thì đều có lý do cả. Rồi tôi đâm tò mò, nên sau khi đá mấy con chó để chúng đừng xử sự như lũ chó con nữa, tôi liền tiến thẳng tới chỗ con suối. Khi Santiago Catalán bước xuống lòng suối cạn, sâu không quá năm mươi phân, ông chẳng nhìn hay ngửi thấy gì và ngay cả lũ chó cũng có vẻ nguôi nguôi. Nhưng khi đến chỗ khúc quanh đầu tiên thì ông nghe có tiếng động và lũ chó lại bắt đầu vừa sủa vừa run. Một đám mây ruồi dày đặc bâu kín cái xác. Santiago Catalán giật mình thả tay để cho lũ chó chạy mất và bắn một phát súng lên trời. Đám ruồi tản ra một lát và ông nhìn thấy đó là xác một phụ nữ. Ngay lúc đó, ông nhớ đến những xác phụ nữ đã được phát hiện ở vùng này. Trong một thoáng, ông chỉ e bọn giết người vẫn đang lảng vảng ở đây và hối hận vì đã nổ súng. Kế đó ông hết sức cẩn thận bước ra khỏi lòng suối cạn và nhìn quanh. Chỉ có những cây xương rồng chola và biznaga, xa xa là hai ba cây sahuaro, tất cả đều cùng một gam màu vàng, chồng lấn lên nhau, về đến nông trại của mình, El Jugador, ở ngoại ô Casas Negras, ông liền gọi cảnh sát, mô tả chính xác nơi phát hiện xác. Đoạn ông rửa mặt, thay áo, không ngừng nghĩ đến người phụ nữ chết, và trước khi lại ra ngoài, ông gọi một người làm đi cùng. Khi cảnh sát đến chỗ suối cạn, Catalán vẫn đang cầm súng và mang băng đạn. Xác nằm sấp, quần chỉ còn thòng vào một ống chân, vướng vào mắt cá. Có bốn vết đâm vào vùng bụng và ba vào vùng ngực, rồi những vết bầm quanh cổ. Nạn nhân da ngăm đen, tóc dài ngang vai nhuộm đen. Người ta tìm thấy giày của cô cách đó vài mét: giày thể thao Converse đen, dây giày trắng. Chỗ quần áo còn lại đã biến mất. Cảnh sát lùng sục khắp lòng suối tìm manh mối nhưng chẳng thấy gì hoặc chẳng biết tiến hành ra sao. Bốn tháng sau, thuần túy do ngẫu nhiên, nạn nhân được nhận diện. Cô là Úrsula González Rojo, hai mươi hoặc hai mốt tuổi, không gia đình, ba năm gần đây là cư dân thành phố Zacatecas. Cô đến Santa Teresa được ba ngày thì bị bắt cóc và bị giết. Thông tin cuối cùng này được cung cấp bởi một người bạn ở Zacatecas mà Úrsula đã gọi điện. Cô ấy nghe có vẻ vui lắm, người bạn này nói, vì cô ấy bảo sắp xin được việc ở một nhà máy. Cô được nhận diện nhờ đôi giày Converse và một vết sẹo nhỏ trên lưng trông như một lằn sét.

♣ ♣ ♣

Sự thật giống như thằng ma cô lên cơn nghiện giữa cơn bão tố sấm rền chớp giật, bà nghị nói. Đoạn bà im một chặp, như đang lắng nghe tiếng sấm xa xa. Rồi bà cầm ly tequila đã được châm đầy lên, nói: càng ngày tôi càng có nhiều việc hơn, sự thực là thế đấy. Ngày nào tôi cũng bận rộn với những bữa tối, những chuyến đi, rồi họp hành gặp mặt, những phiên trù hoạch chẳng đạt được gì trừ chuyện làm tôi kiệt sức, ngày nào cũng phỏng vấn, ngày nào cũng khước từ, lên tivi, những người tình, những người đàn ông tôi làm tình, chả biết để làm gì, để duy trì huyền thoại, chắc vậy, hoặc có lẽ vì tôi thích họ, hoặc vì làm tình với họ thì có lợi cho tôi, nhưng chỉ một lần thôi, để cho họ nếm mùi nhưng không thể ăn quen bén mùi, hoặc có lẽ chỉ vì tôi thích thì tôi làm tình thôi, tôi làm tình ở chỗ mà tôi thích, vào lúc mà tôi thích, tôi chả có thời gian cho bất cứ thứ gì, mọi công chuyện của tôi nằm cả trong tay luật sư của tôi, gia sản nhà Esquivel Plata, nay thì nó thôi không còn teo lại nữa mà còn ngày một phình ra, tôi không nói láo đâu, nó cũng nằm trong tay luật sư của tôi, thằng con tôi trong tay các thầy cô dạy nó, còn tôi thì ngày một nhiều việc: vấn đề cấp nước ở bang Michoacán, đường sá ở Querétaro, phỏng vấn, tượng đài cưỡi ngựa, cống thoát nước thành phố, tất tật mọi thứ rác rưởi ở địa phương đều qua tay tôi. Dạo đó chắc tôi hơi lơ là với bạn bè. Kelly là người duy nhất tôi gặp. Cứ hễ có thì giờ là tôi đến nhà cô ở quận Condesa, và chúng tôi cố trò chuyện. Nhưng kỳ thực mỗi khi đến đó tôi đều mệt tới nỗi khó mà trò chuyện cho tới nơi tới chốn. Cô kể tôi nghe chuyện này chuyện kia, tôi nhớ rõ vậy, cô kể về cuộc sống của mình, không chỉ một lần cô giải thích gì đó rồi hỏi mượn tiền tôi thế là tôi bèn rút séc ra viết một tờ séc với số tiền cô cần. Thỉnh thoảng hai chúng tôi đang chuyện vãn thì tôi ngủ mất. Những lần khác hai chúng tôi ra ngoài ăn tối và khá vui vẻ, nhưng gần như lúc nào đầu óc tôi cũng để chỗ khác, nghiền đi ngẫm lại một vấn đề chưa giải quyết, khó mà theo được mạch trò chuyện. Kelly chẳng bao giờ trách tôi chuyện ấy. Chẳng hạn, mỗi lần tôi lên tivi, ngày hôm sau thể nào cô cũng gửi một bó hoa hồng kèm lá thư ngắn cho tôi biết tôi đã nói hay đến thế nào và cô tự hào về tôi ra sao. Cô chẳng bao giờ quên gửi quà sinh nhật cho tôi. Những hành động chu đáo kiểu như vậy. Dĩ nhiên, theo thời gian, tôi để ý thấy một vài điều. Những buổi trình diễn thời trang do Kelly tổ chức ngày càng ít, năm thì mười họa mới có. Hãng thời trang cô điều hành không còn là chốn thanh lịch tấp nập như trước, mà là một văn phòng tối tăm hầu như luôn luôn đóng cửa. Có lần tôi ghé qua hãng ấy cùng Kelly và tình trạng tiêu điều của nó làm tôi sửng sốt. Tôi hỏi cô có chuyện gì vậy. Cô nhìn tôi mỉm cười, nụ cười vô lo quen thuộc, đoạn nói rằng mấy cô người mẫu hàng đầu Mexico hồi này thích ký hợp đồng với các hãng Mỹ hay châu Âu hơn. Tiền là ở những nơi đó mà. Tôi muốn biết việc làm ăn của cô gặp phải chuyện gì vậy. Chừng đó Kelly liền dang rộng tay ra nói, thì đấy. Cô dang tay bao quát lấy toàn bộ bóng tối, bụi bặm, những tấm rèm hạ kín. Tôi run lên vì linh cảm chẳng lành. Ắt phải là linh cảm chẳng lành. Tôi không phải loại phụ nữ gặp gì cũng run lên. Tôi ngồi xuống ghế và cố nghĩ cho ra lẽ. Tiền thuê các văn phòng này rất đắt nên tôi thấy phải trả ngần ấy tiền cho một doanh nghiệp đang lụn bại thế này thì thật không đáng. Kelly bảo cô vẫn thi thoảng tổ chức show nọ show kia, và cô kể ra những nơi nghe tên rất nên thơ nhưng khó hoặc không thể nào là chỗ cho thời trang cao cấp được, mặc dù tôi ngờ là cô không có cửa với đến thời trang cao cấp, sau đó cô nói cô vẫn đang kiếm được đủ tiền để duy trì văn phòng. Cô cũng giải thích là hiện nay cô chuyên nhận tổ chức tiệc, không phải ở thủ đô mà ở thủ phủ các tỉnh. Nghĩa là sao, tôi hỏi. Đơn giản lắm, Kelly nói, cứ hình dung cậu là một bà giàu có ở Aguascalientes. Cậu phải tổ chức một bữa tiệc. Giả sử cậu muốn bữa tiệc này phải thật hoành tráng. Nói cách khác là một bữa tiệc gây ấn tượng cho bạn bè. Cái gì làm cho một bữa tiệc trở nên khó quên? Thì tiệc búp phê, dĩ nhiên, rồi thì hầu bàn, ban nhạc, nói gọn là cả đống thứ, nhưng đặc biệt có một thứ làm nên sự khác biệt. Là gì, cậu biết không? Khách mời, tôi nói. Chính xác, khách mời. Nếu cậu là một mệnh phụ ở Aguascalientes, cậu có nhiều tiền và muốn tổ chức một bữa tiệc khó quên, vậy thì hãy liên lạc với tớ. Tớ lo liệu tất. Cũng như buổi diễn thời trang thôi. Tớ đảm trách đồ ăn thức uống, nhân sự, trang hoàng bài trí, nhạc nhẽo, nhưng trên hết, và tùy theo cậu có bao nhiêu tiền, tớ đảm trách vấn đề khách mời. Nếu cậu muốn mời ngôi sao trong bộ phim truyền hình ưa thích, cậu phải nói chuyện với tớ. Nếu cậu muốn mời một người dẫn chương trình truyền hình, cậu phải nói chuyện với tớ. Ta hãy nói thế này: tớ lo liệu những khách mời nổi tiếng. Vấn đề là tiền thôi. Đưa một người dẫn chương trình talk show nổi tiếng đến Aguascalientes thì có thể không khả thi. Nhưng nếu tiệc tổ chức ở Cuernavaca thì tớ có thể làm cho ông ta xuất hiện được. Tớ không nói là dễ hoặc không tốn tiền, nhưng tớ sẽ cố. Đưa một ngôi sao phim truyền hình đến Aguascalientes thì có thể, dù cũng không rẻ. Nếu sao ấy đang lúc chìm, chẳng hạn suốt năm rưỡi vừa rồi chẳng có hoạt động gì thì khả năng ông ta đến dự tiệc của cậu sẽ lớn hơn. Và giá sẽ không quá đắt. Việc của tớ là gì? Thì thuyết phục sao cho người ta đi. Đầu tiên tớ gọi điện cho họ, đi uống cà phê với họ, nói ngon nói ngọt với họ. Sau đó tớ nói về bữa tiệc. Tớ bảo họ nếu đến đấy dự thì sẽ có tiền. Đến đây thì thường sẽ có màn mặc cả. Tớ ra giá thấp thôi. Họ đòi nhiều hơn. Hai bên từ từ đi tới thỏa thuận. Tớ tiết lộ tên chủ tiệc. Tớ bảo họ đấy là người quan trọng, ở phạm vi tỉnh thôi, nhưng mà quan trọng. Tớ bắt họ nhắc đi nhắc lại tên bà ấy và tên ông chồng bà ấy vài lần. Họ hỏi liệu tớ có dự không. Dĩ nhiên là có rồi. Tớ giám sát mọi việc mà. Họ hỏi tớ về khách sạn ở Aguascalientes, ở Tampico, ở Irapuato. Khách sạn tốt cả. Với lại, tất cả các nhà chúng ta sẽ tới đều có khối phòng dành cho khách. Cuối cùng tớ với họ đạt được thỏa thuận. Hôm tiệc tớ đến dự cùng hai ba khách mời nổi tiếng và thế là bữa tiệc thành công. Làm việc ấy cậu kiếm đủ tiền không? Đủ quá đi chứ, dư là khác, Kelly nói, vấn đề duy nhất là có những giai đoạn trì trệ, chẳng ai muốn nghe nói gì đến tiệc tùng hoành tráng, mà tớ thì không biết tiết kiệm nên cũng khó khăn. Sau đó chúng tôi đi chơi, tôi không biết đi đâu, đi dự tiệc, chắc vậy, hoặc đi xem phim, hoặc đi ăn tối với vài người bạn, và đó là lần cuối chúng tôi nói về chuyện ấy. Dù sao đi nữa, tôi chưa bao giờ nghe cô ấy than vãn kêu ca. Chắc là có lúc mọi chuyện suôn sẻ có lúc không. Nhưng một đêm nọ cô gọi điện cho tôi bảo đang gặp rắc rối. Tôi cứ nghĩ là chuyện tiền nong, liền bảo cô có thể trông cậy vào tôi. Nhưng không phải chuyện tiền. Tớ dính vào một vụ lôi thôi, cô nói. Cậu nợ à? Không, không phải, cô nói. Lúc ấy tôi đang nằm trên giường, lơ mơ ngủ, giọng cô nghe khác lắm, dĩ nhiên vẫn là giọng Kelly, nhưng nghe lạ, tuồng như cô đang ở một mình, tôi nghĩ vậy, trong văn phòng, đèn tắt hết, ngồi trên ghế, chẳng biết nói gì cũng chẳng biết bắt đầu từ đâu. E là tớ dính phải chuyện rắc rối rồi, cô nói. Nếu là rắc rối với cảnh sát thì cho tớ biết cậu đang ở đâu, tớ sẽ đến tìm cậu ngay. Cô liền bảo không phải rắc rối loại ấy. Lạy Chúa, Kelly, cậu nói cho rõ đi nào không thì để tớ ngủ, tôi nói. Trong khoảng mấy giây tôi tưởng cô đã gác máy, không thì cũng để điện thoại trên ghế mà đi mất rồi. Rồi tôi nghe thấy giọng cô, như giọng một đứa bé, cô nói tớ không biết, tớ không biết, tớ không biết, mấy lần, và tôi hiểu ra cái tớ không biết này không phải để nói với tôi mà là nói với chính cô ấy. Tôi liền hỏi có phải cô đang xỉn hay đang phê thuốc không. Ban đầu cô không đáp, tuồng như không nghe thấy tôi, rồi cô cười, cô không xỉn cũng không phê thuốc, cô cam đoan với tôi, tuy nhiên lúc trước cô có uống hai cốc whiskey pha soda, nhưng chỉ thế thôi. Đoạn cô xin lỗi đã gọi cho tôi giữa đêm hôm khuya khoắt thế này. Cô toan gác máy. Đợi đã, tôi nói, đúng là có chuyện gì với cậu rồi, cậu không lừa tớ được đâu. Cô lại cả cười. Chẳng có chuyện gì với tớ hết, cô nói. Xin lỗi cậu nhé, càng lớn tuổi ta lại càng dễ hoảng, cô nói, ngủ ngon nhé. Gượm nào, đừng gác máy, khoan hãy gác máy, tôi nói. Có chuyện gì vậy, đừng nói dối tớ. Tớ chẳng bao giờ nói dối cậu, cô nói. Im lặng một chặp. Chỉ hồi còn nhỏ thì mới có, Kelly nói. Ô, thế à? Hồi còn nhỏ tớ nói dối với cả thiên hạ, dĩ nhiên không phải lúc nào cũng thế, nhưng mà có dối. Nay thì tớ không dối nữa.

♣ ♣ ♣

Một tuần sau, trong khi đang uể oải lật lật tờ La Raza de Green Valley, Mary- Sue Bravo được biết nhà báo từng viết bài về lời tuyên bố lừng danh song rốt cuộc gây thất vọng của Haas đã biến mất. Tờ báo của cô cũng kể thế, đấy là tờ báo ngoài duy nhất đăng lại tin này, một tin mù mờ mang tính địa phương, địa phương đến nỗi chỉ những người làm tờ La Raza mới quan tâm. Theo bài báo, Josué Hernández Mercado, tên anh ta là vậy, đã mất tích năm ngày trước. Anh đã viết về những vụ giết phụ nữ ở Santa Teresa. Anh ba mươi hai tuổi. Anh sống một mình, ở Sonoita, trong một căn nhà nhỏ. Anh sinh ở thủ đô Mexico, nhưng từ mười lăm tuổi đã sống ở Hoa Kỳ và có quốc tịch Hoa Kỳ. Anh là tác giả hai tập thơ, cả hai đều bằng tiếng Tây Ban Nha, được một công ty nhỏ ở Hermosillo xuất bản, có lẽ bằng tiền túi, và hai vở kịch, viết bằng tiếng Chicano hay Spanglish và in ở một tạp chí của bang Texas, La Windowa, vốn là nơi che chở cưu mang trong lồng ngực đầy nổi loạn của nó một nhóm khôn lường gồm những nhà văn viết bằng thứ tiếng mới tạo ra này. Với tư cách phóng viên tờ La Raza anh đã cho đăng một loạt bài dài về các tá điền công nhật trong vùng, một nghề chẳng xa lạ gì với cha mẹ anh và chính anh cũng từng làm. Anh đã nỗ lực vươn lên với lòng quả cảm, bài báo kết luận, tuy nhiên nó không giống bài báo, Mary Sue nghĩ, mà là giống điếu văn.

♣ ♣ ♣

Ngày 3 tháng Mười hai, người ta phát hiện một xác phụ nữ khác bị vứt trên một cánh đồng trống ở quận Maytorena, gần xa lộ Pueblo Azul. Xác có mặc quần áo và nhìn bên ngoài không thấy có dấu vết bạo hành, về sau nạn nhân được nhận diện là Juana Marín Lozada. Theo giám định pháp y, nguyên nhân tử vong là gãy xương sống cổ. Hay thế này, thật ra thì cũng là một: cổ cô bị vặn. Vụ này được thanh tra Luis Villaseñor đảm trách, việc đầu tiên anh này làm là thẩm vấn chồng nạn nhân và sau đó bắt y vì là nghi phạm số một. Juana Marín sống ở quận Centeno, ở một khu trung lưu, làm việc cho một cửa hàng máy vi tính. Theo báo cáo của Villaseñor, có lẽ cô bị giết ở trong một ngôi nhà nào đó, có thể là nhà của chính cô, sau đó hung thủ mới mang xác cô đi vứt ở quận Maytorena. Không rõ cô có bị hãm hiếp hay không, mặc dù kiểm tra âm đạo cho thấy cô có quan hệ tình dục trong vòng hai mươi bốn giờ trước khi chết. Theo báo cáo của Villaseñor, Juana Marín được cho là có quan hệ bất chính với một giáo viên vi tính của một học viện gần cửa hàng nơi cô làm việc. Nguồn khác thì nói tình nhân của cô là một người làm ở kênh truyền hình của Đại học Santa Teresa. Người chồng bị giam hai tuần rồi được thả vì thiếu bằng chứng. Vụ án vẫn chưa phá được.

♣ ♣ ♣

Ba tháng sau, Kelly biến mất ở Santa Teresa, Sonora. Sau hôm nói chuyện điện thoại đó tôi không gặp lại cô nữa. Cộng sự của cô, một phụ nữ trẻ xấu xí rất mê cô, đã gọi cho tôi. Phải gọi nhiều lần cô ta mới gặp được tôi. Cô ta bảo đáng lẽ Kelly phải từ Santa Teresa về hai tuần trước nhưng đến giờ vẫn chẳng thấy đâu. Tôi hỏi cô ta đã thử gọi điện cho cô ấy chưa. Cô ta bảo di động của Kelly bị tắt. Tôi cứ gọi mãi mà chẳng ai nghe máy, cô ta nói. Tôi hiểu là Kelly có lẽ đang dính chuyện yêu đương gì đấy và đi đâu mất vài ngày, thật ra đã mấy lần cô như vậy rồi, nhưng tôi không hiểu nổi sao cô lại không gọi điện cho cộng sự, dù chỉ là để hướng dẫn cô ta xử lý công việc trong thời gian cô vắng mặt. Tôi hỏi cô ta đã thử liên lạc với người thuê Kelly ở Santa Teresa chưa. Cô ta bảo rồi. Theo người này thì sau hôm tiệc, Kelly đã ra sân bay bắt chuyến Santa Teresa-Hermosillo, định là từ Hermosillo bay chuyến khác về thủ đô. Chuyện xảy ra khi nào? Hai tuần trước, cô ta nói. Tôi hình dung cô ta đang khóc, siết chặt ống nghe, ăn mặc tươm tất nhưng nhạt nhẽo, son phấn nhòe nhoẹt, rồi tôi chợt nghĩ đây là lần đầu tiên cô ta gọi điện cho tôi, lần đầu tiên chúng tôi trò chuyện như thế này, và tôi đâm lo. Cô đã gọi tới các bệnh viện ở Santa Teresa hay cảnh sát chưa? Cô ta bảo rồi, chẳng ai biết gì. Cô ấy đi thẳng từ nông trại ra sân bay và rồi biến mất, cứ thế bốc hơi vào không khí, cô ta nói giọng the thé. Từ nông trại? Tiệc tổ chức ở một nông trại, cô ta nói. Tức là phải có người lái xe chở cô ấy, đưa cô ấy ra sân bay. Không, cô ta nói. Kelly thuê xe. Xe đó giờ đâu rồi? Người ta thấy nó trong bãi xe sân bay, cô ta nói. Tức là cô ấy đã tới sân bay, tôi nói. Nhưng không lên máy bay, cô ta nói. Tôi hỏi cô ta tên người thuê Kelly. Cô ta nói là gia đình Salazar Crespo, rồi cho tôi số điện thoại. Để xem tôi có thể tìm ra được gì, tôi nói. Thực ra thì tôi tin chẳng mấy chốc Kelly sẽ xuất đầu lộ diện thôi. Chắc cô đang ở đâu đó hú hí với một gã đàn ông, và theo tình hình này thì cầm chắc đó là một ông có vợ. Tôi đoán cô đang ở Los Angeles hay San Francisco, hai thành phố tuyệt hảo cho những cặp tình nhân muốn vui vẻ bên nhau mà không bị ai để ý. Thế nên tôi cố bình tâm đợi. Tuy nhiên, một tuần sau, cộng sự của cô lại gọi cho tôi bảo vẫn chưa có tin tức gì của bạn tôi. Cô ta kể với tôi về một hai hợp đồng đã mất, bảo cô ta chẳng biết làm gì bây giờ, nói gọn lại thì cô ta muốn nói với tôi rằng cô ta đang rất cô đơn. Tôi hình dung cô ta đang bơ phờ hơn bao giờ hết, đi tới đi lui trong văn phòng tối om, nghĩ thế mà tôi rùng mình. Tôi hỏi cô ta có tin gì từ Santa Teresa rồi. Cô ta đã nói chuyện với cảnh sát, nhưng cảnh sát chẳng biết gì hoặc chẳng muốn nói gì. Cô ấy cứ thế bốc hơi, cô ta nói. Chiều hôm đó, từ văn phòng mình, tôi gọi cho một người bạn tâm phúc từng làm việc cho tôi, kể cho anh nghe về vụ việc. Anh nói tốt nhất nên nói chuyện trực tiếp, thế là chúng tôi hẹn nhau ở El Rostro Pálido, một quán cà phê thời thượng, tôi không biết giờ nó có còn không hay đóng cửa rồi, mốt nhất thời ở Mexico ấy mà, anh biết đấy, chúng biến mất hoặc lặn đi như con người vậy và chẳng ai thèm nhớ tới. Tôi kể chuyện Kelly cho anh bạn. Anh hỏi tôi mấy câu. Anh ghi tên Salazar Crespo vào sổ rồi nói đêm nay sẽ gọi điện cho tôi. Khi chúng tôi chia tay và tôi chui vào xe, tôi nghĩ nếu là ai khác thì chắc đã sợ hoặc bắt đầu thấy sợ rồi, nhưng tôi thì cái duy nhất tôi cảm thấy, càng lúc càng mạnh, là phẫn uất, một cơn cuồng nộ vô biên, toàn bộ cơn cuồng nộ mà dòng họ Esquivel Plata đã tích chứa từ bao thập kỷ hay bao thế kỷ nay, giờ đây bất chợt nạp vào hệ thần kinh của tôi, và tôi cũng nghĩ, với nỗi chua chát và hối tiếc, rằng cơn phẫn uất hay cuồng nộ này đáng lẽ ra phải nạp vào tôi từ sớm hơn, rằng đáng lẽ ra nó phải được kích hoạt, tôi không biết dùng từ này có đúng không, phải được kích hoạt không phải chỉ bởi tình bạn, mặc dù cái tình bạn này hiển nhiên vượt xa ý niệm thông thường về tình bạn, mà còn bởi hàng bao nhiêu thứ khác mà tôi đã thấy kể từ khi có khả năng nhận thức, nhưng mà không, không, không, cõi đời chó má này là thế, tôi tự nhủ trong khi nghiến răng mà khóc. Đêm đó, tầm mười một giờ, bạn tôi gọi điện và điều đầu tiên anh hỏi là liệu đường dây có an toàn không. Tín hiệu xấu, tin xấu, tôi nghĩ ngay lập tức. Dù sao đi nữa, tôi đã lại lạnh toát cả người. Tôi nói đường dây tuyệt đối an toàn. Chừng đó bạn tôi nói cái tên tôi đưa cho anh (anh cẩn thận không nói ra) là tên một chủ ngân hàng chuyên, theo nguồn tin của anh, rửa tiền cho tập đoàn ma túy ở Santa Teresa, tức là cũng như nói tập đoàn ma túy ở Sonora. Tốt, tôi nói. Đoạn anh bảo tay chủ ngân hàng này thật ra sở hữu không chỉ một mà đến mấy nông trại ở ngoại ô, tuy nhiên theo nguồn tin của anh thì chẳng có bữa tiệc nào diễn ra ở cái nào trong thời gian bạn tôi có mặt ở vùng ấy. Tức là, không hề có bữa tiệc công khai nào có chụp ảnh các nhân vật nổi tiếng hay đại loại vậy. Chị hiểu ý tôi không? Có, tôi nói. Rồi anh bảo, theo anh biết, và đã được các nguồn tin của anh xác nhận, tay chủ ngân hàng này có quan hệ tốt với đảng. Tốt thế nào? tôi hỏi. Mẫu mực, anh thì thầm. Đến mức nào? tôi hỏi dồn. Sâu, rất sâu, bạn tôi nói. Sau đó chúng tôi chào tạm biệt và tôi ngồi ngẫm nghĩ. Sâu có nghĩa là bắt đầu từ rất lâu trong quá khứ, theo thứ mật ngữ mà hai chúng tôi thường dùng, bắt đầu từ rất xa trong quá khứ, hết sức xa, tức hàng triệu năm về trước, nói cách khác là tới tận thời khủng long. Ai là đám khủng long trong đảng PRI? tôi nghĩ. Vài cái tên nảy ra trong đầu. Tôi nhớ hai trong số đó là dân miền Bắc hoặc có làm ăn ở đó. Tôi không có quan hệ cụ thể với ai trong hai người này. Tôi nghĩ một hồi xem tôi có bạn bè chung nào với họ không. Nhưng tôi không muốn gây phiền phức cho người bạn nào. Đêm đó, tôi vẫn nhớ như thể mới hôm qua chứ không phải nhiều năm rồi, trời tối đen như mực, không trăng không sao, và ngôi nhà, ngôi nhà này, im phăng phắc, không nghe thấy ngay cả tiếng chim đêm trong vườn, tuy nhiên tôi biết vệ sĩ của tôi ở ngay cạnh, đang thức, có thể đang chơi domino với anh tài xế, và nếu tôi rung chuông thì một trong mấy cô hầu sẽ đến ngay. Ngày hôm sau, sau một đêm thức trắng, việc đầu tiên tôi làm là lên máy bay đến Hermosillo rồi từ đó bay một chuyến nữa đến Santa Teresa. Khi hay tin có nghị sĩ Esquivel Plata đang đợi, ông thị trưởng José Refugio de las Heras bèn bỏ hết việc đấy và loáng cái đã đến chỗ tôi. Có thể tôi và ông ta từng gặp nhau đâu đó. Dù sao đi nữa, tôi cũng không nhớ ông ta. Khi thấy ông ta mỉm cười xun xoe như con chó con, tôi chỉ muốn cho ông ta một cái tát nhưng đã tự chủ được. Như con chó đứng trên hai chân ấy, nói vậy không biết anh hiểu không. Tôi hiểu, Sergio nói. Rồi ông ta hỏi tôi đã ăn sáng chưa. Tôi bảo chưa. Ông ta gọi người mang bữa sáng kiểu Sonora tới, một bữa sáng vùng biên giới điển hình, và trong khi chúng tôi chờ, hai viên công chức ăn mặc như hầu bàn tất bật bày biện một cái bàn cạnh cửa sổ phòng làm việc của ông ta. Từ cửa sổ nhìn ra ta thấy quảng trường xưa của Santa Teresa, thấy người ta đi tới đi lui, trên đường đi làm hoặc tha thẩn giết thì giờ. Tôi cảm thấy như đây là một chốn khủng khiếp, mặc cho ánh sáng tỏa ánh vàng kim, vào buổi sáng là ánh vàng kim dịu còn buổi chiều thì ánh vàng kim rực rỡ dày đặc, như thể không khí lúc hoàng hôn nặng trĩu bụi sa mạc. Trước khi ăn tôi bảo ông ta tôi đến vì Kelly Rivera. Tôi bảo cô đã mất tích và tôi muốn họ tìm ra cô. Ông thị trưởng gọi thư ký, và anh này bắt đầu ghi chép. Bạn bà tên gì, thưa bà nghị sĩ? Kelly Rivera Parker. Và thêm nhiều câu hỏi nữa: mất tích ngày nào, động cơ đến Santa Teresa, tuổi, nghề nghiệp, anh thư ký ghi lại mọi điều tôi nói, và sau khi tôi trả lời xong các câu hỏi, ông thị trưởng sai anh thư ký chạy đi tìm người đứng đầu cảnh sát tư pháp thành phố, một ông Ortiz Rebolledo nào đấy, đưa ông ta đến tòa thị chính ngay. Tôi không nhắc gì về Salazar Crespo. Tôi muốn xem tình hình thế nào. Ông thị trưởng và tôi ăn món trứng tráng kiểu nông trại.

♣ ♣ ♣

Mary-Sue Bravo xin trưởng ban cho cô tiến hành điều tra sự mất tích của phóng viên tờ La Raza. Trưởng ban của cô bảo Hernández Mercado chắc đã phát điên và giờ có khi đang lang thang ở một trong mấy công viên quốc gia, Tubac hay Patagonia Lake, vừa đi vừa ăn quả mọng và nói một mình. Các công viên đó đâu có quả mọng, Mary-Sue nói. Vậy thì vừa chảy dãi vừa nói một mình, trưởng ban của cô nói, nhưng rốt cuộc ông cũng cho cô viết bài về vụ ấy. Đầu tiên cô đến Green Valley, tòa soạn La Raza, nói chuyện với ông chủ nhiệm, lại một người nữa trông như công nhân nông nghiệp, và với nhà báo đã viết về vụ Hernández Mercado mất tích, một cậu mười tám, có khi mười bảy tuổi, rất coi trọng nghề báo. Sau đó cô đến Sonoita cùng cậu nhóc này. Trước khi đến sở cảnh sát họ ghé qua nhà Hernández Mercado và cậu mở cửa cho cô bằng chiếc chìa khóa mà cậu bảo được cất ở tòa soạn La Raza, tuy nhiên Mary-Sue thấy nó giống chìa khóa vạn năng của dân ăn trộm. Tại sở cảnh sát, cảnh sát trưởng bảo cô giờ này Hernández Mercado chắc đang ở California. Mary-Sue muốn biết tại sao ông nghĩ vậy. Cảnh sát trưởng nói anh nhà báo này nợ lút đầu lút cổ (chẳng hạn, anh nợ sáu tháng tiền nhà và chủ nhà đang định tống cổ anh đi) mà với đồng lương làm báo của anh ta thì ăn ngày ba bữa còn chưa đủ. Cậu nhóc, rất lấy làm áy náy, cũng xác nhận điều cảnh sát trưởng nói: La Raza trả lương thấp vì đây là tờ báo của nhân dân, cậu nói. Cảnh sát trưởng cười rộ. Mary-Sue hỏi Hernández Mercado có ô tô không. Cảnh sát trưởng bảo không, lúc phải rời Sonoita Hernández đi xe buýt. Cảnh sát trưởng là người dễ mến, ông đi cùng cô đến trạm xe buýt để dò hỏi về Hernández, nhưng thông tin họ thu được vừa lộn xộn vừa vô dụng. Vào hôm Hernández mất tích, theo lời ông già bán vé và tài xế cũng như của dăm ba người thường xuyên đi chuyên xe buýt ấy, Hernández có thể đã lên xe mà cũng có thể không. Trước khi rời Sonơita, Mary-Sue muốn xem lại căn nhà của anh nhà báo. Mọi thứ đều yên vị, không thấy dấu vết bạo lực, bụi đóng bánh trên mấy cái bàn cái ghế. Mary-Sue hỏi cảnh sát trưởng liệu ông đã bật máy vi tính của Hernández chưa. Cảnh sát trưởng đáp chưa. Mary-Sue bật máy lên và bắt đầu xem lướt qua, chủ yếu là hú họa, các tập tin của anh nhà báo kiêm nhà thơ của tờ La Raza de Green Valley. Cô không thấy thứ gì đáng để ý. Một tiểu thuyết mới bắt tay viết, có lẽ là tiểu thuyết ly kỳ, viết bằng tiếng Spanglish. Những bài báo đã đăng tải. Ghi chép sơ lược về cuộc sống hằng ngày của các công nhân nông nghiệp và nhân công thời vụ ở các nông trại miền Nam Arizona. Các bài báo về Haas, gần như tất cả đều mang tính giật gân. Và một vài thứ khác.

♣ ♣ ♣

Ngày 10 tháng Mười hai, vài công nhân ở nông trại La Perdición báo cảnh sát rằng họ phát hiện vài cái xương ở ven nông trại, khoảng cây số thứ hai mươi lăm trên xa lộ Casas Negras. Ban đầu họ tưởng xương thú, nhưng khi thấy cái sọ thì họ biết đã nhầm. Theo giám định pháp y đó là một phụ nữ, còn nguyên nhân tử vong, do thời gian đã lâu nên không xác định được. Cách xác chừng ba mét người ta thấy một cái quần legging và một đôi giày thể thao.

♣ ♣ ♣

Tổng cộng tôi lưu lại hai đêm ở Santa Teresa, ngủ ở Khách sạn Mexico, và tuy mọi người đều tỏ ra sốt sắng chiều theo ngay cả thói ngông vớ vẩn nhất của tôi nhưng trên thực tế chúng tôi chẳng đi đến đâu cả. Gã Ortiz Rebolledo tôi thấy giống một gã bóng. Ông thị trưởng José Refugio de las Heras cứ như người thế giới khác. Phó Trưởng Công tố thì nhìn ẽo à ẽo ượt. Tất cả đều nói dối hoặc nói nhăng nói cuội. Trước hết, họ cam đoan với tôi chẳng ai trình báo chuyện Kelly mất tích cả, trong khi tôi biết chắc cộng sự của cô có trình báo. Cái tên Salazar Crespo không hề được nhắc đến. Chẳng ai nói với tôi về những vụ giết phụ nữ, vốn là chuyện ai cũng biết, chứ đừng nói là liên hệ vụ Kelly với các vụ đáng nhục kia. Đêm trước khi rời khỏi đó tôi gọi cho ba nhà báo địa phương, thông báo tôi sẽ tổ chức họp báo tại khách sạn. Ở buổi họp báo tôi thuật chuyện Kelly, sau đó vụ việc được đưa lên báo chí quốc gia, và tôi nói rằng với tư cách chính trị gia cũng như nhà hoạt động nữ quyền, cũng như với tư cách bạn của cô, tôi sẽ không bao giờ nao núng mà quyết tâm tìm cho ra sự thật. Trong thâm tâm tôi nghĩ: chúng mày không biết chúng mày đã đụng phải ai đâu, đồ hèn nhát, rồi chúng mày sẽ phải tè ra quần cho mà xem. Đêm đó, sau buổi họp báo, tôi về phòng gọi mấy cuộc điện thoại. Tôi nói chuyện với hai vị phó chủ tịch PRI, đều là bạn thân, họ bảo tôi nếu cần gì thì đã có họ. Dĩ nhiên tôi chả mong gì hơn. Sau đó tôi gọi điện cho cộng sự của Kelly bảo cô ta tôi đang ở Santa Teresa. Cô gái tội nghiệp, xấu xí, xấu đui xấu mù, cô ta bật khóc và cảm ơn tôi, tôi chẳng hiểu vì cái gì. Sau đó tôi gọi về nhà hỏi xem có ai tìm tôi trong mấy ngày ấy không. Rosita đọc cho tôi danh sách các cuộc gọi. Chẳng có gì khác thường. Tất cả đều hệt như bình thường. Tôi định đi ngủ, nhưng không ngủ được. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ ngắm những tòa nhà thành phố tối om, những khu vườn, những đại lộ vắng hoe chỉ thỉnh thoảng có một chiếc xe đời mới chạy qua. Tôi đi đi lại lại trong phòng. Tôi để ý thấy có hai tấm gương. Một tấm tít đầu kia phòng, một tấm ngay cạnh cửa, không phản chiếu lẫn nhau. Nhưng nếu ta đứng ở một tư thế nào đấy thì có thể thấy gương này lồng trong gương kia. Nhưng tôi thì lại chẳng thấy đâu. Lạ thật, tôi tự nhủ, và suốt một hồi lâu, vì giấc ngủ mãi không tới, tôi tính toán và thử nhiều tư thế khác nhau. Cứ thế cho tới năm giờ sáng. Càng nghiên cứu hai tấm gương, tôi càng bứt rứt không yên. Tôi hiểu rằng giờ này mà đi ngủ thì thật dở hơi. Tôi liền đi tắm, thay quần áo, chuẩn bị hành lý. Khi đồng hồ báo sáu giờ sáng tôi xuống nhà hàng ăn điểm tâm, nhưng giờ đó nhà hàng chưa mở cửa. Tuy nhiên một nhân viên khách sạn vào trong bếp pha cho tôi một ly cam vắt và một tách cà phê đặc. Tôi cố ăn nhưng không được. Lúc bảy giờ, taxi đến đón tôi ra sân bay. Trong khi đi qua hết khu này đến khu khác của thành phố tôi nghĩ về Kelly, về suy nghĩ của Kelly khi cô ngắm nhìn cùng những thứ tôi đang ngắm nhìn lúc này, và rồi tôi biết mình sẽ quay lại. Về đến thủ đô, việc đầu tiên tôi làm là đi gặp một người bạn từng làm việc cho văn phòng Viện Công tố Thủ đô nhờ giới thiệu cho tôi một thám tử giỏi, một người không có gì khiến ta phải lăn tăn về nhân cách, một người có đầy đủ những kỹ năng cần thiết. Bạn tôi hỏi có vấn đề gì. Tôi kể cho anh nghe. Anh giới thiệu Luis Miguel Loya, từng làm việc cho Viện Công tố Liên bang. Sao ông ta bỏ chỗ ấy? tôi hỏi. Vì ra ngoài làm tư ông ta kiếm được nhiều tiền hơn, bạn tôi nói. Tôi không khỏi nghĩ rằng anh bạn không kể hết chuyện cho tôi, bởi vì ở Mexico này từ bao giờ mà làm cho tư nhân và làm cho nhà nước lại có gì xung đột với nhau vậy? Nhưng tôi chỉ cảm ơn anh rồi đi gặp Loya. Ông ta, dĩ nhiên, đã được bạn tôi báo trước nên đang chờ tôi. Loya là một tay kỳ lạ. Người khá thấp, nhưng có dáng dấp của một võ sĩ quyền Anh, không một gam mỡ, mặc dù khi gặp tôi ông ta đã ngoài năm chục. Phong thái chững chạc, ăn mặc tươm tất, văn phòng rộng thênh thang và có không dưới chục người làm việc dưới trướng, từ thư ký cho đến những tay có vẻ là côn đồ chuyên nghiệp. Tôi lại kể chuyện Kelly, nói cho ông ta biết về tay chủ ngân hàng Salazar Crespo, về chuyện làm ăn của y với giới trùm ma túy, về thái độ của giới chức Santa Teresa. Ông ta không hỏi những câu ngu xuẩn. Không ghi chép. Không ghi chép kể cả khi hỏi có thể liên lạc với tôi qua số điện thoại nào. Hẳn là ông ta ghi âm hết. Lúc tôi ra về, khi bắt tay tôi, ông ta nói trong vòng ba ngày sẽ có tin về Kelly. Ông ta toát ra mùi dầu dùng sau khi cạo râu và một thứ nước hoa tôi không biết. Mùi oải hương, thoang thoảng lẫn mùi cà phê nhập khẩu. Ông ta tiễn tôi ra cửa. Ba ngày. Khi ông ta nói vậy thì nghe có vẻ chẳng lâu lắm. Nhưng sống cho hết ba ngày ấy, chờ cho chúng trôi qua, thì chẳng khác gì vô tận. Tôi miễn cưỡng trở lại với công việc. Đợi đến ngày thứ hai, tôi được một nhóm nữ quyền đến thăm, họ cho rằng lập trường của tôi về vụ Kelly mất tích là cao đẹp và xứng hợp với một phụ nữ. Họ có ba người, và theo tôi hiểu thì nhóm của họ chẳng đông người lắm. Bình thường thì tôi đã tống họ đi rồi, nhưng chắc vì đang ngã lòng quá, chẳng biết phải làm gì, nên tôi mời họ nán lại một chút. Miễn là không nói đến chính trị thì thậm chí ngồi với họ tôi còn thấy thích nữa kìa. Và một trong ba người còn từng học cùng trường nữ tu với Kelly và tôi, mặc dù cô này học sau chúng tôi hai năm, nên chúng tôi có nhiều kỷ niệm chung. Chúng tôi uống trà, chuyện vãn về đàn ông, về công ăn việc làm của mỗi người, cả ba đều là giáo sư đại học và hai trong ba người đã ly dị, họ hỏi sao tôi chẳng bao giờ lấy chồng, tôi liền phá ra cười, bởi vì trong thâm tâm tôi nữ quyền hơn bất cứ ai, tôi thú nhận với họ. Đến ngày thứ ba Loya gọi cho tôi lúc mười giờ đêm. Ông ta bảo đang cầm báo cáo sơ bộ và nếu tôi muốn sẽ cho tôi xem ngay. Tôi muốn xem bây giờ, tôi nói. Ông đang ở đâu? tôi hỏi. Trong xe, Loya nói, bà không cần đi đâu, tôi sẽ qua nhà bà. Hồ sơ về Kelly dài mười trang. Việc của ông ta là tập hợp thông tin về công việc của Kelly. Có vài cái tên, các nhân vật ở thủ đô, các bữa tiệc ở Acapulco, Mazatlán, Oaxaca. Theo Loya, công việc chủ yếu của Kelly có thể coi là mại dâm trá hình, không hơn không kém. Mại dâm cao cấp. Các người mẫu của cô ấy là điếm, các bữa tiệc cô ấy tổ chúc chỉ dành cho đàn ông mà thôi, thậm chí phần trăm hoa hồng của cô ấy cũng thuộc dạng của một tú bà cao cấp. Tôi bảo ông ta tôi không thể tin được. Tôi ném mấy tờ giấy vào mặt ông ta. Loya cúi nhặt chúng lên đưa lại cho tôi. Đọc cho hết đã, ông ta nói. Tôi đọc tiếp. Vớ vẩn, hoàn toàn vớ vẩn. Cho đến khi xuất hiện cái tên Salazar Crespo. Theo Loya, Kelly từng làm việc cho Salazar Crespo, tổng cộng bốn lần. Tôi cũng đọc được rằng trong khoảng từ năm 1990 đến 1994 Kelly đã bay đến Hermosillo ít nhất mười lần, và trong mười lần đó, có bảy lần cô từ đó bay tiếp đến Santa Teresa. Các cuộc gặp với Salazar Crespo được phân loại dưới tiêu đề “tổ chức tiệc”. Xét theo các chuyến bay từ Hermosillo đến thủ đô thì cô chẳng bao giờ lưu lại quá hai đêm ở Santa Teresa. Số người mẫu cô mang theo đến thành phố ấy thay đổi tùy lúc. Ban đầu, trong năm 1990 và 1991, cô đi cùng bốn hoặc năm người mẫu. Rồi sau đó cô chỉ đi với hai người, và những chuyến cuối cùng cô đi một mình. Có lẽ những lần ấy cô tổ chức tiệc thật. Một cái tên khác xuất hiện cùng với tên Salazar Crespo. Conrado Padilla, một doanh nhân bang Sonora có cổ phần ở một vài nhà máy, một vài công ty vận tải, và lò sát sinh của thành phố Santa Teresa. Kelly đã làm việc với gã Conrado Padilla này ba lần, theo Loya. Tôi hỏi Conrado Padilla là người thế nào. Loya nhún vai nói gã lắm tiền, nói cách khác là người phải chịu đủ thứ hăm he đe dọa, đủ thứ phiền toái khó chịu trên đời. Tôi hỏi Loya ông ta đã đến Santa Teresa chưa. Chưa, ông ta đáp. Tôi hỏi ông ta có cử ai tới đó chưa. Chưa, ông ta nói. Tôi bảo ông ta hãy đến Santa Teresa, tôi muốn thấy ông ta ở đó, ngay giữa lòng sự kiện, và ông ta phải tiếp tục điều tra. Trong một thoáng ông ta có vẻ nghĩ ngợi về đề nghị của tôi hoặc đúng hơn là có vẻ tìm từ thích hợp để nói. Sau đó ông ta bảo không muốn tôi mất tiền bạc mất thời gian vô ích. Rằng, theo ông ta, vụ này kết thúc rồi. Ý ông là chắc Kelly đã chết sao? tôi hét lên. Ít nhiều là thế, ông ta nói, không hề mất điềm tĩnh. Ít nhiều là làm sao? tôi hét. Hoặc chết hoặc là không chết, đồ khốn nạn! Ở Mexico ai cũng ít nhiều chết cả, ông ta đáp rất nghiêm trang. Tôi nhìn ông ta, chỉ muốn tống cho ông ta một cú. Sao lại có người tỉnh bơ lạnh lùng đến thế cơ chứ. Không, tôi nói, hầu như rít lên, không bao giờ có việc ai ít nhiều cũng đều chết cả, ở Mexico cũng vậy mà ở bất cứ đâu trên thế giới cũng vậy. Đừng nói năng theo kiểu hướng dẫn du lịch nữa đi. Hoặc bạn tôi còn sống, nếu vậy tôi muốn gặp cô ấy, hoặc bạn tôi đã chết, nếu vậy tôi muốn tìm ra kẻ giết cô ấy. Loya mỉm cười. Cười cái gì? tôi hỏi. Cái ý tưởng hướng dẫn du lịch ấy, nghe ngộ quá. Tôi quá chán những người Mexico nói năng hành xử cứ như toàn bộ vụ này là kiểu Pedro Páramo* rồi, tôi nói. Có thể vậy thật, Loya nói. Không, không phải, tôi cam đoan với ông, tôi nói. Trong một thoáng Loya im lặng, ngồi bắt tréo chân, rất mực đường hoàng, nghĩ về điều tôi vừa nói. Có thể phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, cuối cùng Loya nói. Thêm nữa, ông ta nói thêm, e là người ta sẽ không để yên cho tôi làm việc đâu. Người ta là ai? Chính người của bà, bà nghị ạ, chính các chiến hữu cùng đảng với bà. Tôi sẽ theo sát ông, tôi sẽ ủng hộ ông mọi nơi mọi lúc, tôi nói. Tôi e bà tự đánh giá mình quá cao, Loya nói. Mẹ kiếp, dĩ nhiên tôi tự đánh giá mình quá cao, nếu không tôi đã chẳng leo được tới vị trí này, tôi nói. Loya lại im lặng. Trong một thoáng tôi tưởng ông ta ngủ rồi, nhưng mắt ông ta vẫn mở. Nếu ông không làm thì tôi tìm người khác, tôi nói, không nhìn ông ta. Lát sau ông ta đứng dậy. Tôi tiễn ông ta ra cửa. Ông có làm cho tôi không? Để tôi xem có thể làm gì, nhưng tôi không hứa gì đâu, ông ta nói, rồi biến mất vào con đường dẫn ra phố, nơi vệ sĩ và tài xế của tôi đang chơi chữ với nhau giống như hai xác sống.

♣ ♣ ♣

Một đêm Mary-Sue Bravo nằm mơ thấy một phụ nữ ngồi ở chân giường cô. Cô cảm thấy sức nặng của một thân người đè lên chiếu, nhưng khi duỗi chân ra thì cô lại chẳng chạm thấy gì. Đêm đó, trước khi đi ngủ, cô đã đọc trên mạng vài bài mới về anh em Uribe. Một bài trong số ấy, ký tên một phóng viên của một tờ nhật báo nổi tiếng trên thủ đô, nói rằng Antonio Uribe đã thật sự biến mất. Cậu em họ Daniel Uribe của y thì hình như đang ở Tucson. Phóng viên này đã nói chuyện với Daniel qua điện thoại. Theo Daniel Uribe, mọi thông tin Haas cung cấp đều dối trá, dễ dàng vạch trần được. Tuy nhiên, về tung tích của Antonio, y không cung cấp manh mối nào hoặc các manh mối mà phóng viên moi được từ y thảy đều mơ hồ, mông lung. Khi Mary-Sue thức dậy cô vẫn chưa mất hẳn cảm giác rằng có người phụ nữ khác đang ở trong phòng, cho mãi đến khi cô ra khỏi giường vào bếp uống nước. Hôm sau cô gọi điện cho luật sư của Haas. Cô chẳng rõ mình muốn hỏi gì, muốn nghe gì, nhưng sự cần thiết được nghe giọng của bà luật sư đã lấn át bất kỳ mệnh lệnh logic nào. Sau khi tự giới thiệu, cô liền hỏi ông khách hàng kia của bà thế nào rồi. Isabel Santolaya nói thì cũng như mấy tháng trước thôi. Cô hỏi bà đã đọc các tuyên bố của Daniel Uribe chưa. Bà luật sư bảo rồi. Tôi đang định phỏng vấn anh ta, Mary-Sue nói. Bà có nghĩ ra được tôi nên hỏi gì không? Không, tôi chẳng nghĩ ra gì cả, bà luật sư nói. Mary-Sue có cảm giác bà luật sư nói năng như đang bị thôi miên. Sau đó, chẳng hiểu thế nào mà cô lại hỏi về đời tư của bà luật sư. Đời tôi nào có gì quan trọng, bà luật sư nói. Giọng bà khi nói câu ấy nghe giống như giọng một phụ nữ cao ngạo nói với một cô bé mới lớn cứ nhằng nhẵng kèo nài.

♣ ♣ ♣

Ngày 15 tháng Mười hai, Esther Perea Peria, hai mươi bốn tuổi, bị bắn chết ở sàn nhảy Los Lobos. Nạn nhân đang ngồi ở bàn với ba người bạn. Ở một trong các bàn bên cạnh, một người đàn ông đẹp trai mặc com lê đen áo sơ mi trắng rút súng ra nghịch. Đó là một khẩu Smith &Wesson Model 5906 băng đạn mười lăm viên. Theo một số nhân chứng thì chính người này đã nhảy với Esther và một trong các bạn cô, mọi chuyện đều thoải mái và thân ái. Hai người bạn của người này, theo lời kể của một trong các nhân chứng, đã cảnh cáo anh ta bảo cất súng đi. Người đàn ông lờ đi không thèm nghe. Hình như anh ta muốn gây ấn tượng với ai đó, hẳn là chính nạn nhân hoặc bạn của nạn nhân, người anh ta nhảy cùng ban nãy. Theo các nhân chứng khác, người này tự nhận là một thanh tra cảnh sát được phân công vào đội chống ma túy. Anh ta trông giống thanh tra cảnh sát. Anh ta cao to khỏe mạnh, tóc cắt đẹp. Đến một lúc, trong khi anh ta đang nghịch súng, súng cướp cò và Esther bị trọng thương. Khi xe cứu thương đến thì cô đã chết và người bắn đã biến mất. Ortiz Rebolledo tự mình đảm nhận vụ này và sáng hôm sau đã có thể cho báo giới biết cảnh sát đã thấy xác một đàn ông (quần áo và ngoại hình tương hợp với kẻ giết Esther) nằm trên sân bóng cũ của nhà máy Pemex, với một khẩu Smith &Wesson tương đồng với khẩu đã giết Esther và một viên đạn trong thái dương bên trái. Tên anh ta là Francisco López Ríos và anh ta có tiền án lâu dài về trộm ô tô. Nhưng anh ta không phải kẻ giết người bẩm sinh và việc bắn ai đó, dẫu chỉ do vô tình, ắt hẳn cũng khiến anh ta bấn loạn ra trò. Gã này tự sát, Ortiz Rebolledo nói. Vụ án khép lại. Về sau Lalo Cura bình phẩm với Epifanio rằng kể cũng lạ, người ta chẳng hề bố trí cho các nhân chứng nhận diện xác chết. Và cũng lạ là bạn bè đi cùng kẻ giết người không hề xuất đầu lộ diện. Rồi thì khẩu Smith&Wesson, sau khi đã được cất kỹ trong tủ lưu của cảnh sát, cũng biến mất. Lạ nhất là một tên trộm ô tô lại đi tự tử. Cậu có quen thằng Francisco López Ríos này không? Epifanio hỏi. Tôi có gặp hắn một lần, thật tình không thể nói hắn đẹp trai, Lalo Cura nói. Không, hắn trông như con chuột thì đúng hơn. Cái gì cũng lạ, Epifanio nói.

♣ ♣ ♣

Suốt hai năm trời tôi thuê Loya theo vụ đó. Trong hai năm đó tôi đã có thời gian để đẽo gọt một hình ảnh dần dần ngấm vào các phương tiện truyền thông: hình ảnh một phụ nữ nhạy cảm với bạo lực, một phụ nữ tiêu biểu cho sự thay đổi trong lòng đảng, không chỉ là sự thay đổi về thế hệ mà còn là sự thay đổi về thái độ, một cái nhìn cởi mở chứ không giáo điều về thực tại của Mexico. Thực ra tôi chỉ sục sôi phẫn nộ trước sự biến mất của Kelly, trước cái trò đùa rùng rợn mà cô là đối tượng. Tôi càng ngày càng ít quan tâm đến ý kiến của cái người ta vẫn gọi là công chúng, những người bỏ phiếu cho tôi, những kẻ mà trong thâm tâm tôi chẳng nhìn thấy hoặc nếu có nhìn thấy, tình cờ hoặc lúc thấy lúc không, tôi cũng chẳng coi ra gì. Tuy nhiên, khi tôi biết được về các vụ khác, khi tôi nghe thấy những giọng nói khác, cơn phẫn nộ của tôi bắt đầu vươn lên tới cái tầm vóc chắc có thể gọi là vĩ mô, cơn phẫn nộ của tôi bắt đầu mang tính tập thể hoặc trở thành biểu hiện của một thứ mang tính tập thể, cơn phẫn nộ của tôi, khi nó tự cho phép mình bộc lộ ra, tự thấy mình như cánh tay báo thù cho hàng ngàn nạn nhân. Nói rất thành thực, tôi e mình đang mất trí. Những giọng nói tôi nghe (những giọng nói, chứ chẳng bao giờ là khuôn mặt hay dáng người) là từ sa mạc đến. Trong sa mạc tôi lang thang, dao trong tay. Mặt tôi phản chiếu trên lưỡi dao. Tóc tôi bạc trắng và đôi má hóp của tôi chằng chịt những vết sẹo nhỏ xíu. Mỗi vết sẹo là một câu chuyện nhỏ mà tôi cố hết sức nhớ lại nhưng không thể. Rốt cuộc tôi phải uống thuốc cho tỉnh táo. Ba tháng một lần tôi gặp Loya. Theo yêu cầu dứt khoát của ông ta tôi không bao giờ đến văn phòng ông ta. Đôi khi ông ta gọi điện cho tôi hoặc tôi gọi cho ông ta, qua một đường dây điện thoại bảo đảm, và nếu gọi điện thoại thì chúng tôi chẳng bao giờ nói nhiều bởi vì chẳng có cái gì bảo đảm trăm phần trăm cả, Loya nói vậy. Nhờ các báo cáo của Loya tôi đã dựng được một bản đồ hoặc chắp lại các mảnh ghép về nơi Kelly mất tích. Nhờ vậy tôi biêt rằng các bữa tiệc mà chủ ngân hàng Salazar Crespo tổ chức về thực chất là những đêm trác táng và Kelly chắc hẳn là người lo liệu khâu tổ chức. Loya đã nói chuyện với một người mẫu từng làm việc cho Kelly vài tháng, hiện sống ở San Diego. Cô người mẫu này cho ông ta biết các bữa tiệc của Salazar Crespo thường được tổ chức ở một trong hai nông trại mà y sở hữu, những mảnh đất mà đám nhà giàu mua xong thì chẳng trồng cấy cũng chẳng nuôi gia súc. Chỉ mênh mông là đất, chính giữa là một ngôi nhà rộng mênh mông, một phòng khách thênh thang và rất nhiều phòng ngủ, vài nơi có hồ bơi nhưng không phải đâu cũng có, thật ra chúng chẳng phải chốn tiện nghi gì, không có bàn tay phụ nữ. Ở miền Bắc người ta gọi đấy là narcorrancho, nông trại ma túy, bởi vì rất nhiều trùm ma túy sở hữu những cơ ngơi như vậy, bảo là nông trại thì không hẳn, đúng hơn là những trại lính ngay giữa sa mạc, đôi khi có tháp canh ở đó họ cắt đặt những tay thiện xạ hạng nhất. Đôi khi những nông trại ma túy này vắng người suốt một thời gian dài. Họ có thể để lại một người làm để trông coi, giữ chìa khóa ngôi nhà chính, chẳng có nhiệm vụ gì nhiều, chỉ là lang thang trên những mảnh đất trơ cằn đá sỏi, canh chừng sao cho đừng có đàn chó hoang nào lăm le vào trú ngụ. Các anh chàng tội nghiệp đó thảy đều được cung cấp một cái di động và những chỉ thị mơ hồ mà rồi dần dà họ sẽ quên. Theo Loya, chẳng có gì lạ nếu một trong số họ chết đi mà chẳng ai chôn hoặc là cứ thế biến mất, do bị simurgh, con quái vật khổng lồ huyền thoại bay trong sa mạc dẫn dụ đi. Thế rồi, đột nhiên, nông trại ma túy lại rùng rùng sống dậy. Đầu tiên là mấy người làm công thuộc hạng tép riu, ba bốn người gì đấy, lái chiếc Combi tới, dành cả một ngày dọn dẹp sửa sang ngôi nhà lớn. Thế rồi đám vệ sĩ tới, những tay cơ bắp, lái Suburban hay spirit hay Peregrino màu đen, và việc đầu tiên họ làm khi đến, ngoài chuyện khệnh khạng đi lui đi tới, là thiết lập hàng rào an ninh. Cuối cùng thì sếp lớn và những người tâm phúc của ngài xuất hiện. Một đoàn Mercedez- Benz hay Porsche bọc thép lắp kính chống đạn rồng rắn băng qua sa mạc. Về đêm đèn chẳng bao giờ tắt. Ta thấy tất tật các loại xe, kể cả Lincoln Continental và Cadillac đời cổ, chở người lui tới nông trại. Các xe tải chất đầy ụ thịt và đủ thứ đồ nướng trong lò được xe Chevy Astra chở tới. Rồi thì nhạc nhẽo và hò hét suốt đêm. Đó là các bữa tiệc mà Kelly thường giúp tổ chức mỗi lần cô ấy lên miền Bắc, Loya nói với tôi. Theo Loya, ban đầu Kelly mang theo những cô người mẫu muốn kiếm tiền nhiều mà nhanh. Cô người mẫu hiện đang sống ở San Diego đã bảo ông ta là không bao giờ có quá ba cô. Ở các buổi tiệc còn có những phụ nữ khác mà lý ra thì Kelly không thể quen biết, toàn cô trẻ, trẻ hơn mấy cô người mẫu, được Kelly cho ăn mặc thích hợp để dự tiệc. Chắc là các ả điếm non từ Santa Teresa tới, tôi đoán vậy. Ban đêm có chuyện gì? Thì như thường thôi. Đám đàn ông xỉn hoặc phê, xem các trận bóng đá hay bóng chày được thu băng video, chơi bài, ra ngoài sân chơi bắn, bàn chuyện làm ăn. Chẳng ai quay bộ phim con heo nào hết, ít nhất thì cô ở San Diego cam đoan với Loya như vậy. Đôi lần, trong một phòng ngủ, đám khách khứa xem phim con heo, cô người mẫu có lần đi vào nhầm một buồng ngủ thì thấy cái cảnh thường thấy, đám đàn ông đầy quyền thế ấy, những bộ mặt nghệt ra như đá bắt ánh sáng của màn hình. Bao giờ cũng vậy. Ý tôi muốn nói: nghệt ra như đá, tuồng như nếu xem một bộ phim trong đó thiên hạ làm tình thì người xem sẽ biến thành tượng đá. Nhưng theo cô người mẫu nọ thì chẳng ai quay một bộ phim nào như thế ở các nông trại ma túy. Thỉnh thoảng, một khách mời nào đấy hát những bài ranchera và corrida. Đôi khi, cũng các vị khách ấy ra ngoài sân và đi tới đi lui quanh nông trại cứ như diễu hành, vừa đi vừa hát đến lủng phổi. Có lần họ ở truồng nồng nồng mà đi như thế, chắc là một hai người có che chỗ kín, quấn một cái dây hay mặc quần soóc in hình cọp hình beo, chẳng sợ gì trời lạnh, mà ở vùng ấy lúc bốn giờ sáng lạnh lắm, vừa đi vừa hát và cười, làm hết trò nhố này đến trò nhố nọ như thể họ là trợ thủ của Satan. Đấy không phải lời của tôi. Đấy là lời của cô người mẫu sống ở San Diego nói với Loya. Nhưng không có phim con heo, chẳng có gì như thế cả. Thế rồi Kelly thôi không cậy nhờ các cô người mẫu nữa và không gọi cho họ nữa. Theo Loya, quyết định này có lẽ là của chính Kelly, bởi vì mức thù lao cho người mẫu thì cao còn mấy ả điếm non ở Santa Teresa thì đòi giá thấp trong khi tình hình tài chính của Kelly không sáng sủa mấy. Những chuyến đầu tiên thì cô làm việc cho Salazar Crespo, nhưng thông qua kẻ này cô làm quen với những nhân vật quan trọng ở trong vùng ấy và có thể cô cũng đã tổ chức tiệc cho Sigtrido Catalán, sở hữu một đội xe tải chở rác và nghe nói có ký hợp đồng độc quyền với hầu hết các nhà máy ở Santa Teresa, và cho Conrado Padilla, một doanh nhân có cổ phần ở Sonora, Sinaloa và Jalisco. Salazar Crespo, Sigírido Catalán và Padilla, theo Loya, đều có liên hệ với tập đoàn ma túy ở Santa Teresa, tức là Estanislao Campuzano, kẻ này trên thực tế là thỉnh thoảng, tuy không nhiều, có dự các bữa tiệc đó. Bằng chứng, hay cái mà bất kỳ một phiên tòa văn minh nào coi là bằng chứng thì không có, nhưng trong thời gian Loya làm việc cho tôi ông ta thu thập được rất nhiều lời chứng, những cuộc chuyện trò khi say rượu hoặc trong nhà thổ, mà người ta nói là Campuzano không đến, hoặc thỉnh thoảng có đến. Dù thế nào đi nữa thì cũng có rất nhiều trùm ma túy ở các cuộc ăn chơi trác táng của Kelly, đặc biệt là hai trong số chúng, được coi là cánh tay mặt của Campuzano, một thằng tên là Muñoz Otero, Sergio Muñoz Otero, trùm ma túy của Nogales, một thằng là Fabio Izquierdo, từng có thời là trùm ma túy của Hermosillo rồi sau đó chuyên lo đường vận chuyển ma túy từ Sinaloa đến Santa Teresa hoặc là từ Oaxaca hay Michoacán hay thậm chí Tamaulipas vốn là lãnh địa của tập đoàn ma túy ở Ciudad Juárez. Chắc chắn Muñoz Otero và Fabio Izquierdo có mặt ở một số bữa tiệc do Kelly tổ chức, Loya cam đoan. Vậy là Kelly ở đấy, không có các người mẫu, làm việc với những cô gái tầng lớp thấp hèn hoặc nói đằng thẳng ra là điếm, ở các nông trại ma túy nằm chơ vơ giữa đồng không mông quạnh, và trong các bữa tiệc của cô có một chủ ngân hàng, Salazar Crespo, một doanh nhân, Catalán, một triệu phú, Padilla, và nếu không phải Campuzano thì ít nhất cũng là hai trong mấy tay chân khét tiếng nhất của y, Fabio Izquierdo và Muñoz Otero, cũng như những nhân vật khác trong xã hội, trong giới tội phạm và chính trị. Chọn lọc toàn tai to mặt lớn. Và một sáng nọ hay một đêm nọ cô bạn tôi biến vào không khí.

♣ ♣ ♣

Trong vòng mấy ngày, từ văn phòng El Independiente de Phoenix, Mary-Sue cố gắng liên lạc với anh nhà báo ở thủ đô từng phỏng vấn Daniel Uribe. Anh ta gần như chẳng bao giờ có mặt ở tòa soạn và những người nói chuyện với cô từ chối không chịu cho cô số di động của anh ta. Tuy nhiên, khi rốt cuộc cô cũng nói chuyện được với anh nhà báo thì anh này, mà giọng như gã say và như một tên ti tiện, Mary-Sue nghĩ, hay ít nhất cũng là kênh kiệu, lại không chịu cho số điện thoại của Daniel Uribe, bảo rằng anh ta phải giữ bí mật nguồn thông tin của mình. Mary-Sue liền hớ hênh nhắc anh ta rằng họ là đồng nghiệp, rằng cả hai đều làm báo, thì anh nhà báo ở thủ đô liền bảo cô rằng họ có là tình nhân với nhau thì cũng thế thôi. Về Josué Hernández Mercado, nhà báo bị mất tích của tờ La Raza, chẳng có tin tức gì. Một đêm nọ Mary-Sue lục lại hồ sơ của mình về vụ Haas cho đến khi bắt gặp bài báo của Hernández Mercado viết sau buổi họp báo chẳng mấy người dự ở nhà tù Santa Teresa. Văn phong của Hernández Mercado dao động giữa sự giật gân với sự khô khan nghèo nàn. Bài viết đầy rẫy những câu sáo mòn, những sự không chính xác, những khẳng định cha vơ chú váo, những cường điệu, những lời dối trá trắng trợn. Có khi Hernández Mercado miêu tả Haas như cái bung xung cho một mưu mô của đám nhà giàu Sonora, rồi có khi Haas lại có vẻ như một thiên thần báo oán hay như một thám tử bị giam trong ngục nhưng hoàn toàn không khuất phục, từ từ dồn những kẻ tra khảo mình vào chân tường chỉ nhờ độc vào trí tuệ mình. Lúc hai giờ sáng, trong khi uống tách cà phê cuối cùng trước khi rời tòa soạn, Mary-Sue nghĩ rằng chẳng ai chỉ cần có chút xíu khôn ngoan lại đi cất công giết rồi sau đó đem vứt xác một người chỉ vì cái tội viết ra một thứ rác rưởi thế này. Nhưng nếu vậy thì chuyện gì đã xảy ra với Hernández Mercado? Trưởng ban của cô, vốn cũng ở lại làm muộn, đưa ra vài câu trả lời khả dĩ. Anh ta mệt quá nên bùng. Anh ta hóa điên và bùng. Anh ta bùng, chấm hết. Một tuần sau nhà báo trẻ măng đã tháp tùng cô đến Sonoita lần trước gọi điện cho cô. Cậu muốn biết bài báo mà Mary- Sue định viết về Hernández Mercado giờ tới đâu rồi. Tôi sẽ chẳng viết gì sất, cô đáp. Nhà báo trẻ kia muốn biết tại sao. Vì chẳng có gì hay ho để viết, Mary-Sue nói. Hernández giờ chắc đang sống và làm việc ở California. Tôi không tin, cậu nhà báo trẻ nói. Mary-Sue tưởng như cậu hét lên. Đằng sau giọng cậu cô nghe thấy tiếng ồn của một hay nhiều chiếc xe tải, tuồng như cậu đang gọi cho cô từ sân một doanh nghiệp vận tải. Sao cậu không muốn tin? cô nói. Vì tôi đã đến nhà anh ấy, cậu nói. Thì tôi cũng đã đến nhà anh ta, tôi chẳng thấy có gì khiến tôi nghĩ là anh ta bị người khác bắt đi. Anh ta muốn đi nên đi thôi. Không, cô nghe cậu nhà báo nói. Nếu chủ động đi thì anh ấy phải mang sách theo. Sách nặng mà, Mary-Sue nói, với lại sách thì mua lại lúc nào chẳng được. Ở California có nhiều hiệu sách hơn Sonoita, cô nói, định đùa cho vui, nhưng lời vừa thốt ra cô đã nhận thấy nó chẳng có chút hài hước nào. Không, tôi không nói về thứ sách đấy, mà là sách của chính anh ấy cơ, cậu nhóc nói. Sách của chính anh ta là sao? Mary-Sue hỏi. Sách anh ấy viết và cho in. Những cuốn ấy thì dù trời có sụp cũng chẳng đời nào anh ấy bỏ. Trong một thoáng Mary-Sue cố nhớ lại căn nhà của Hernández Mercado. Phòng khách có sách, phòng ngủ cũng có sách. Tất cả cộng lại không thể quá trăm cuốn. Chẳng nhiều nhặn gì, nhưng đối với típ người như anh nhà báo-công nhân nông nghiệp này thì chừng đó là đủ, thừa đủ là khác. Cô không hề nảy ra ý nghĩ rằng trong số đó có thể có những cuốn chính Hernández viết. Thế cậu tin là anh ta sẽ không bỏ đi đâu nếu thiếu chúng à? Không bao giờ, cậu nhóc nói, chúng như là con anh ấy. Mary-Sue nghĩ những sách Hernández Mercado viết ắt không nặng quá và chẳng có cách nào để anh ta mua lại chúng ở California.

♣ ♣ ♣

Ngày 19 tháng Mười hai, trên một mảnh đất gần quận Kino, cách hợp tác xã nông nghiệp Gavilanes del Norte vài cây số, người ta phát hiện các phần thi thể phụ nữ đựng trong một túi nhựa. Theo thông cáo của cảnh sát, cô là một nạn nhân khác của băng Bò Hoang. Theo giám định pháp y, nạn nhân khoảng mười lăm mười sáu tuổi, cao từ mét năm lăm đến mét sáu và bị giết khoảng một năm trước. Trong túi có một cái quần màu xanh lính thủy rẻ tiền, loại các nữ công nhân nhà máy thường mặc đi làm, một sơ mi, một thắt lưng nhựa màu đen có khóa bấm to bằng nhựa, loại thắt lưng dùng để trang trí. Vụ này được giao cho thanh tra Marcos Arana vừa được thuyên chuyển tới từ Hermosillo, trước công tác ở đội chống ma túy, nhưng ngay ngày đầu tiên thanh tra Ángel Hernández và thanh tra Juan de Dios Martínez đã có mặt ở hiện trường. Juan de Dios, khi được bảo hãy để vụ này cho Arana coi như màn chào sân, anh liền đi bộ quanh chỗ đó cho đến khi tới cổng hợp tác xã nông nghiệp Gavilanes del Norte. Ngôi nhà chính vẫn còn mái và cửa sổ, song các công trình khác thì trông như vừa bị một trận bão lớn san phẳng. Trong một thoáng, Juan de Dios lang thang quanh cái hợp tác xã nông nghiệp ma quái đó, để xem liệu có gặp ít ra là một nông dân hay một đứa trẻ hay dù chỉ một con chó hay không, nhưng ngay cả chó cũng chẳng còn ở đó nữa.

♣ ♣ ♣

Tôi muốn anh làm gì ư? bà nghị hỏi. Tôi muốn anh viết về chuyện này, tiếp tục viết về chuyện này. Tôi đã đọc các bài anh viết. Bài hay, nhưng nhiều lúc anh chỉ đấm vào không khí thôi. Tôi muốn anh đấm mạnh, vào chỗ chắc, đấm vào thịt người, đấm vào thứ thịt bất khả xâm phạm, chứ không phải đấm bóng. Tôi muốn anh đến Santa Teresa mà ngửi cho kỹ. Tôi muốn anh cắn ngập răng vào đó. Ban đầu tôi chẳng biết mấy về Santa Teresa. Tôi có vài ý niệm chung chung, như mọi người, nhưng có lẽ sau chuyến đi thứ tư thì tôi bắt đầu hiểu thành phố ấy và hiểu sa mạc. Nay thì tôi không thể tống chúng ra khỏi đầu nữa. Tôi biết tên mọi người, hoặc gần như mọi người. Tôi biết một số hoạt động trái phép. Nhưng tôi không thể đến gặp cảnh sát Mexico. Ở Viện Công tố Trung ương người ta cho là tôi điên rồi. Mà tôi cũng không thể chuyển thông tin của mình cho cảnh sát Mẽo được. Do lòng yêu nước, xét cho cùng thì là vậy, bởi dù chuyện này làm phiền đến ai đi nữa (trước tiên là tôi) thì tôi vẫn là người Mexico. Và cũng là một nghị sĩ Mexico. Chúng ta sẽ giải quyết riêng, như vẫn luôn vậy, bằng không thì chúng ta cùng chìm. Có những người tôi không muốn làm hại nhưng tôi biết tôi sẽ làm hại. Âu cũng tốt, vì thời thế đang thay đổi và đảng PRI cũng phải thay đổi. Cho nên tôi chỉ còn lại mỗi báo giới. Có lẽ do tôi từng có nhiều năm làm báo, nên tôi vẫn giữ nguyên lòng tin vào một vài người trong các anh. Ừ thì hệ thống có thể đầy khuyết điểm, song ít nhất chúng ta có tự do ngôn luận, thứ mà PRI hầu như luôn tôn trọng. Tôi nói hầu như, đừng nhìn tôi bằng vẻ mặt không tin nổi đó, bà nghị nói. Ở đây người ta có thể muốn xuất bản gì thì xuất bản mà chẳng gặp rắc rối nào. Dù sao thì chúng ta không có gì để tranh luận về chuyện này, đúng không? Anh đã cho in một cuốn gọi là tiểu thuyết chính trị chỉ có độc những lời buộc tội chẳng có căn cứ gì cả, và anh chẳng bị làm sao hết, đúng không? Người ta chẳng kiểm duyệt mà cũng chẳng đưa anh ra tòa. Đấy là tiểu thuyết đầu tay của tôi, Sergio nói, tồi lắm. Bà đọc rồi à? Đọc rồi, bà nghị nói, tôi đã đọc tất cả những gì anh viết. Tồi lắm, Sergio nói, rồi sau đó anh nói: ở đây sách dù không bị kiểm duyệt cũng chẳng ai đọc, nhưng báo thì khác. Báo thì người ta có đọc. Ít nhất là đọc tít. Rồi sau một hồi im lặng: Chuyện gì xảy ra với Loya? Loya chết rồi, bà nghị nói. Không, không phải bị giết, cũng không mất tích. Chỉ chết thôi. Ông ta bị ung thư nhưng chẳng ai biết. Ông ta là người kín đáo. Giờ thì có người khác điều hành công ty thám tử tư của ông ta, có khi nó chẳng còn tồn tại nữa, có khi giờ nó đã là một hãng tư vấn luật cho doanh nghiệp. Tôi chẳng biết. Trước khi chết, Loya đưa cho tôi toàn bộ hồ sơ ông ta có về vụ Kelly. Những gì không thể chuyển cho tôi được thì ông ta hủy. Tôi linh cảm được có gì đó không ổn, nhưng ông ta không chịu nói gì với tôi. Ông ta qua Mỹ, đến một bệnh viện ở Seattle, cầm cự được ba tháng thì chết. Ông ta là người kỳ lạ. Tôi chỉ đến nhà thăm ông ta một lần, ông ta sống một mình trong một căn hộ ở quận Nápoles. Nhìn bên ngoài có vẻ thường thường bậc trung thôi, nhưng bên trong thì khác, tôi không biết tả làm sao, nó là Loya, như là ảnh trong gương của Loya hay là chân dung tự họa của Loya, nhưng là chân dung tự họa còn dở dang. Ông ta có rất nhiều đĩa hát và sách về mỹ thuật. Cửa nẻo đều bọc thép. Ông ta có tấm ảnh chụp một bà già lồng trong khung vàng, khá ủy mị. Bếp được tân trang toàn bộ, rộng thênh thang, đầy đủ dụng cụ làm bếp chuyên nghiệp. Khi biết mình không còn sống được bao lâu nữa, ông ta liền gọi điện từ Seattle từ biệt tôi theo cách của mình. Tôi nhớ có hỏi ông ta có sợ không. Tôi không biết tại sao lại hỏi vậy. Ông ta đáp bằng một câu hỏi khác. Ông ta hỏi tôi có sợ không. Không, tôi không sợ, tôi đáp. Vậy thì tôi cũng không, ông ta nói. Giờ tôi muốn anh sử dụng tất cả những gì Loya và tôi đã thu thập được rồi thì quậy cái tổ ong lên. Dĩ nhiên, anh sẽ không chỉ có một mình. Tôi sẽ luôn ở bên anh, mặc dù anh không thấy tôi, tôi sẽ theo sát từng bước chân anh.

♣ ♣ ♣

Vụ cuối cùng của năm 1997 khá giống vụ áp cuối, trừ mỗi chuyện người ta thấy cái túi đựng xác không phải ở vùng ven phía Tây thành phố, mà ở ven phía Đông, bên con đường đất chạy dọc biên giới rồi tẽ đôi và biến mất khi gặp những ngọn núi và đèo cao đầu tiên. Theo giám định pháp y, nạn nhân chết lâu lắm rồi. Tuổi trạc mười tám, cao từ một mét năm tám đến mét sáu. Xác trần truồng, tuy nhiên trong túi còn có một đôi giày cao gót, bằng da, chất lượng tốt, nên người ta cho rằng cô chắc là điếm. Người ta còn thấy một cái quần lọt khe màu trắng. Vụ này cũng như vụ trước bị khép lại sau ba ngày điều tra quấy quá cho có. Lễ Giáng sinh ở Santa Teresa được ăn mừng như bình thường. Người ta làm tiệc Giáng sinh, người ta đập piñata, uống tequila, uống bia. Cho đến cả những con phố nghèo nhất cũng rộn tiếng cười. Vài con phố tối om, như những cái lỗ đen, và tiếng cười chẳng biết từ đâu ra là dấu hiệu duy nhất, thông tin duy nhất giúp cư dân ở đó và kẻ lạ đi qua không bị lạc đường.

« Lùi
Tiến »