Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 320 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGƯỜI MẤT LINH HỒN

Một tiếng tù và chói tai vang lên rồi ngưng bặt. Sự im lặng theo sau âm thanh ấy chỉ bị phá vỡ bởi tiếng chân bước theo nhịp trống nhè nhẹ, chậm rãi như tiếng tim đập. Qua những kẽ nứt trên mái Đại sảnh Ngai vàng, những khe hở giữa các hàng cột nơi cả loạt gạch đá và ngói đã sụp xuống, ánh nắng chiếu xiên qua chập chờn. Mặt trời mới mọc được một giờ. Không khí vẫn tĩnh lặng và se lạnh. Những lá cỏ khô mọc xuyên qua các phiến đá hoa cương lát sàn đều phủ một lớp sương giá, và gãy vụn ra khi vướng phải tà áo đen dài của nữ tu.

Từng nhóm bốn người, họ bước tới gian đại sảnh rộng mênh mông nằm giữa hai hàng cột đôi. Tiếng trống nện đều đều. Không một ai lên tiếng, không người nào đưa mắt nhìn. Cây đuốc trên tay các thiếu nữ áo đen cháy đỏ quạch dưới ánh mặt trời và sáng hơn khi họ tiến vào giữa khoảng tranh tối tranh sáng. Đàn ông - lính canh, người thổi kèn, người đánh trống - đứng bên ngoài, trên các bậc thềm của Đại sảnh Ngai vàng; chỉ phụ nữ mới được đi qua hai cánh cửa lớn, những phụ nữ áo choàng đen, mũ trùm kín đầu, chậm rãi bước theo từng nhóm bốn người về phía Ngai vàng Trống không.

Hai người nữa đi tới, hai phụ nữ khá cao mặc đồ đen, một người gầy, cứng nhắc, người kia nặng nề, chân lắc lư. Đi giữa hai người này là một cô bé khoảng sáu tuổi. Cô bé mặc chiếc váy suôn màu trắng. Cả đầu lẫn tay chân đều để trần, và cô đi chân đất. Hai người phụ nữ khá cao đó dừng lại ở chân thềm dẫn lên ngai vàng, nơi những người khác đang đứng đợi thành từng hàng dày đặc. Họ khẽ đẩy đứa bé lên trước.

Chiếc ngai đặt trên bục cao dường như được che kín hai bên bằng những tấm rèm lớn màu đen rủ từ trên trần nhà tối om xuống; nhìn bằng mắt thường thì chẳng thể chắc chắn được đó là rèm hay những mảng tối dày đặc. Chiếc ngai cũng màu đen, hai bên tay và lưng ghế lờ mờ ánh sáng của vàng hay đá quý, và nó rất to. Người thường ngồi vào đó hẳn sẽ bị lọt thỏm; nó không dành cho khổ người bình thường. Chiếc ngai trống trơn. Không có gì trên đó ngoài bóng tối.

Cô bé một mình trèo lên bốn trong số bảy bậc thang bằng đá hoa cương vân đỏ. Chúng cao và rộng đến nỗi nó phải đặt cả hai chân lên một bậc trước khi trèo lên bậc tiếp theo. Ở bậc giữa, ngay trước chiếc ngai, là một khúc gỗ xù xì, bên trên lõm vào. Cô bé quỳ cả hai chân xuống và đặt đầu vào chỗ lõm này, hơi nghiêng sang một bên. Nó quỳ bất động ở đó.

Một người mặc áo len dài trắng có thắt lưng đột ngột bước ra từ bóng tối bên phải chiếc ngai và bước xuống bậc thềm đến chỗ cô bé. Mặt người đó bôi phấn trắng bệch. Y giơ cao thanh gươm thép bóng loáng dài năm thước. Không nói một lời, không chút lưỡng lự, y nắm thanh gươm bằng cả hai tay vung lên trên cổ cô bé. Tiếng trống ngừng lại.

Khi lưỡi gươm vung lên đến điểm cao nhất và lơ lửng ở đó, một người khác mặc đồ đen lao ra từ bên trái chiếc ngai, nhảy xuống bậc thềm và giơ hai cánh tay mảnh dẻ ngăn đôi tay viên chủ tế. Lưỡi gươm sắc lấp lánh giữa không trung. Họ đứng yên như vậy hồi lâu, người áo trắng và kẻ áo đen, cả hai đều không lộ mặt, như hai vũ công bên trên đứa bé bất động mà mái tóc đen rẽ ra đã để lộ cái cổ trắng ngần.

Hai dáng người kia im lặng nhảy sang hai bên và lại bước lên bậc thềm, biến mất trong bóng tối đằng sau chiếc ngai khổng lồ. Một nữ tu bước tới trước và đổ thứ chất lỏng gì đó từ trong một cái bát lên bậc thềm cạnh cô bé đang quỳ. Thứ chất lỏng trông đen sì trong ánh sáng lờ mờ của gian sảnh.

Cô bé đứng dậy và khó nhọc bước xuống bốn bậc thềm. Khi nó đã đứng ở bậc cuối cùng, hai nữ tu dáng khá cao kia khoác cho nó một chiếc áo đen có mũ trùm và áo choàng, rồi quay người nó lại để đối diện với các bậc thềm, với thứ chất lỏng sẫm màu và chiếc ngai.

“Xin các Thần Vô danh hãy nhìn ngắm người con gái đã được dâng cho các thần, nhìn ngắm kẻ vô danh ngay từ lúc chào đời. Xin các thần hãy đón nhận tính mạng và cuộc đời nó cho đến lúc nó chết đi, tất cả những thứ đó đều thuộc về các thần. Xin các thần hãy chấp nhận nó. Xin hãy để nó bị mất linh hồn!”

Những giọng nói khác phụ họa, lanh lảnh và chói tai như tiếng kèn đồng: “Nó đã mất linh hồn! Nó đã mất linh hồn!”

Cô bé đứng ngước đôi mắt khuất dưới cái mũ trùm đầu màu đen nhìn lên chiếc ngai. Những viên đá quý nạm trên tay ghế khổng lồ hình móc và trên lưng ghế đều phủ lớp bụi dày, còn trên lưng ghế chạm trổ bám đầy mạng nhện và những vết phân cú trăng trắng. Chưa người trần nào từng đặt chân lên ba bậc thềm cao nhất nằm ngay phía trước ngai, phía trên bậc thang cô bé vừa quỳ. Ba bậc thang phủ bụi dày đến nỗi trông như một dải đất xám, những phiến đá hoa cương vân đỏ bị che kín bởi lớp bụi suốt bao nhiêu năm, bao nhiêu thế kỷ qua vẫn chưa hề bị khuấy động, chưa hề bị giẫm lên.

“Nó đã mất linh hồn! Nó đã mất linh hồn!”

Giờ tiếng trống lại bất thình lình nổi lên theo nhịp điệu nhanh hơn.

Một cách lặng lẽ, chỉ nghe thấy tiếng chân loạt xoạt, đám rước lại thành hình và rời khỏi chỗ chiếc ngai, theo hướng Đông về phía ô cửa vuông sáng rực ở đằng xa. Ở mỗi bên, hàng cột đôi lớn, trông như những bắp chân khổng lồ nhợt nhạt, vươn lên hòa vào bóng tối dưới trần nhà. Cô bé đi giữa các nữ tu, giờ cô cũng mặc đồ đen như họ, hai bàn chân trần nhỏ nhắn nghiêm trang bước trên lớp cỏ đóng băng và các phiến đá lạnh ngắt. Khi ánh mặt trời xiên qua mái nhà đổ nát chiếu ngang qua đường đi của đứa bé, nó không hề ngẩng lên.

Lính canh mở rộng hai cánh cửa lớn. Đoàn người mặc áo đen bước vào trong ánh sáng lạnh lẽo mờ nhạt và làn gió ban mai. Mặt trời tỏa sáng chói mắt, bồng bềnh trên khoảng trời Đông bao la. Ở phía Tây, dãy núi và mặt tiền của Đại sảnh Ngai vàng đều được tắm trong ánh nắng vàng. Những tòa nhà khác nằm ở khoảng đồi thấp hơn vẫn chìm trong bóng tối tim tím, ngoại trừ Đền thờ các Thần Huynh đệ trên một gò đất nhỏ phía đối diện: mái đền mới được mạ vàng phản chiếu ánh nắng sớm mai rực rỡ. Đoàn nữ tu áo đen, đi thành hàng bốn, vừa men theo con đường uốn khúc xuống Đồi Lăng tẩm vừa khe khẽ cầu nguyện. Bài kinh chỉ có ba nốt, và cái từ được lặp đi lặp lại đã cổ đến nỗi không còn ai biết nó có nghĩa gì, giống như một tấm biển chỉ đường vẫn đứng đó trong khi con đường đã biến mất. Họ cứ hát đi hát lại một từ trống rỗng. Suốt ngày hôm ấy, Lễ Thụ phong Nữ tu tràn ngập tiếng phụ nữ lầm rầm cầu nguyện, một âm thanh đều đều khô khan không dứt.

Cô bé được dẫn từ phòng này sang phòng khác, từ ngôi đền này sang ngôi đền khác. Ở nơi này người ta rắc muối lên lưỡi nó, ở nơi khác nó phải quỳ xuống hướng mặt về phía Tây trong khi tóc được cắt ngắn rồi được gội bằng dầu và dấm thơm; ở chỗ khác nó lại phải nằm úp mặt xuống một tấm đá hoa cương đen đặt sau bàn thờ trong khi những giọng hát chói tai cất lên than khóc cho người chết. Suốt ngày hôm ấy cả cô bé lẫn các nữ tu đều không ăn uống gì. Khi những ngôi sao buổi tối hiện ra, cô bé được đưa về giường, trần truồng giữa lớp chăn da cừu, trong một căn phòng nó chưa bao giờ ngủ trước đó. Căn phòng nằm trong một ngôi nhà bị khóa cửa suốt nhiều năm, chỉ ngày hôm ấy mới được mở. Chiều cao của căn phòng lớn hơn chiều dài, và không có cửa sổ. Căn phòng bốc mùi tử khí, im lìm và lưu cữu. Những người phụ nữ câm lặng bỏ mặc cô bé lại đó trong bóng tối.

Cô bé lặng lẽ nằm nguyên ở vị trí người ta đã đặt nó xuống. Hai mắt mở to. Nó nằm như vậy suốt một lúc lâu.

Rồi nó trông thấy ánh sáng rung rinh trên bức tường cao. Ai đó đang lặng lẽ đi dọc hành lang, che cây nến lõi bấc để nó không sáng hơn một con đom đóm. Một tiếng thì thào khàn khàn, “Này, con có đó không, Tenar?”

Đứa trẻ không trả lời.

Một cái đầu thò qua cánh cửa, một cái đầu kỳ lạ, nhẵn bóng như củ khoai tây đã gọt vỏ, và cũng có màu vàng vàng như vậy. Cặp mắt cũng giống như mắt khoai tây, nâu và nhỏ xíu. Mũi lọt thỏm giữa hai cái má to tướng, phẳng lì, và cái miệng chỉ là một khe hở không có môi. Cô bé nhìn khuôn mặt ấy chằm chằm, không nhúc nhích. Đôi mắt to, sẫm màu và bất động.

“Này, Tenar, viên sáp ong bé nhỏ của ta, con đây rồi!” Giọng nói khàn đục, the thé như tiếng phụ nữ nhưng lại không phải tiếng phụ nữ. “Lẽ ra ta không nên đến đây, chỗ của ta là ở ngoài cửa, trên hiên nhà, ta phải ra đó. Nhưng ta phải xem Tenar bé bỏng của ta thế nào, sau cả một ngày dài dằng dặc như thế, viên sáp ong nhỏ bé tội nghiệp của ta thế nào rồi?”

Y tiến về phía cô bé, thân hình lực lưỡng di chuyển không một tiếng động, và giơ tay ra như thể muốn vuốt ve mái tóc nó.

“Ta không còn là Tenar nữa,” đứa trẻ nói, nhìn y chằm chằm. Bàn tay kẻ nọ sững lại; y không chạm vào cô bé nữa.

“Không,” một lát sau y thì thầm. “Ta biết. Ta biết. Giờ con đã thành Người Mất Linh hồn bé nhỏ. Nhưng ta...”

Cô bé không nói gì.

“Hôm nay cô bé đã phải vất vả lắm rồi,” người đàn ông nói và khẽ cựa mình, đốm sáng nhỏ xíu chập chờn trong bàn tay to xù vàng vọt của y.

“Ngươi không nên xuất hiện trong Nhà này, Manan ạ.”

“Không. Không. Ta biết. Lẽ ra ta không nên có mặt trong Nhà này. Thôi được, chúc cô bé ngủ ngon... Chúc ngủ ngon.”

Cô bé không nói gì. Manan chậm rãi quay người bước đi. Ánh sáng yếu ớt tắt ngấm trên bức tường cao vút của gian phòng. Cô bé, giờ không còn cái tên nào khác ngoài Arha, Người Mất Linh hồn, vẫn nằm ngửa chằm chằm nhìn bóng tối.

« Lùi
Tiến »