Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 322 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TÙ NHÂN

Tiếng bước chân của Kossil vang lên dọc hành lang Nhà Nhỏ, đều đặn và chậm rãi. Thân hình cao lớn, nặng nề choán hết ngưỡng cửa, co lại khi nữ tu cúi xuống, chạm một đầu gối xuống sàn, rồi lại phồng to lên khi bà ta đứng thẳng dậy.

“Nữ chủ.”

“Gì vậy, Kossil?”

“Từ trước đến giờ, ta đã được phép chăm lo một số vấn đề liên quan đến Lãnh địa của các Thần Vô danh. Nếu người muốn thì giờ đã đến lúc người được biết, được nhìn, và được quyền cai quản những vấn đề này, những việc mà trong kiếp này người vẫn chưa nhớ được.”

Cô gái ngồi trong căn phòng không cửa sổ của mình, tưởng như đang thiền định, nhưng thực ra nàng không làm gì và cũng gần như không nghĩ gì hết. Phải mất một lúc vẻ mặt cứng đờ, vô cảm và ngạo mạn của nàng mới thay đổi. Nó đã thay đổi, dù nàng cố che giấu. Nàng hỏi, với một thoáng ranh mãnh, “Mê cung ư?”

“Chúng ta không vào Mê cung. Nhưng sẽ cần phải đi qua Hầm mộ.”

Trong giọng Kossil có một vẻ gì đó giống như sợ hãi, hay có lẽ là giả vờ sợ hãi, nhằm khiến cho Arha cũng phải sợ. Cô gái khoan thai đứng dậy và hờ hững nói, “Được thôi.” Nhưng khi đi theo dáng người nặng nề của nữ tu phục vụ Thần Vương, trong thâm tâm nàng reo lên hoan hỉ: Rốt cuộc! Rốt cuộc! Rốt cuộc thì ta cũng được tận mắt nhìn thấy lãnh địa của mình!

Nàng đã mười lăm tuổi. Hơn một năm đã trôi qua kể từ khi nàng làm lễ trưởng thành và đồng thời được giao trọn quyền lực Đại Nữ tu của Lăng tẩm xứ Atuan, người có quyền lực cao nhất trong tất cả nữ tu tối cao của Vương quốc Kargad, người mà ngay cả Thần Vương cũng không thể sai khiến. Giờ tất cả bọn họ đều phải quỳ gối trước mặt nàng, ngay cả hai nữ tu lạnh lùng Thar và Kossil. Tất cả đều dùng giọng tôn kính trau chuốt khi nói chuyện với nàng. Nhưng chẳng có gì thay đổi. Chẳng có gì xảy ra. Khi các nghi lễ thụ phong đã xong, ngày tháng vẫn trôi qua như trước. Vẫn có những cuộn len phải xe, những mảnh vải đen phải dệt, bột phải xay, nghi thức phải thực hiện; Chín Bài kinh phải được tụng mỗi tối, các ô cửa phải được yểm bùa, Bia mộ phải được tắm tiết dê hai lần mỗi năm, điệu vũ lúc trăng non phải được múa trước Ngai vàng Trống không. Và một năm tròn đã trôi qua như vậy, chẳng khác gì những năm trước, và liệu những năm tháng tiếp theo của đời nàng có tiếp tục trôi qua như thế không?

Nỗi buồn chán của nàng nhiều khi mạnh mẽ đến độ giống như nỗi khiếp sợ: nó thít chặt họng nàng. Cách đây không lâu, nàng đã buộc phải bộc lộ nỗi buồn chán ấy ra bằng lời. Nàng nghĩ mình phải nói với ai đó, nếu không nàng sẽ phát điên mất. Nàng đã nói với Manan. Lòng kiêu hãnh ngăn không cho nàng thổ lộ với các cô gái khác, và sự thận trọng ngăn không cho nàng thú nhận với các nữ tu lớn tuổi hơn, nhưng Manan thì chẳng là gì cả, chỉ là một thái giám già trung thành; sẽ chẳng có vấn đề gì nếu nàng nói với y. Trước sự ngạc nhiên của nàng, y có một câu trả lời dành cho nàng.

“Cách đây đã lâu lắm rồi,” y nói, “con biết đấy, cô bé, trước khi tứ xứ được hợp nhất thành một vương quốc, trước khi có một Thần Vương cai quản tất cả chúng ta, đã có rất nhiều vị vua, hoàng tử và tù trưởng ít quyền hơn. Họ luôn luôn tranh cãi với nhau. Và họ sẽ đến đây để phân xử các cuộc tranh cãi đó. Mọi việc là như thế đấy, họ đến xứ Atuan của chúng ta, từ Karego-At, từ Atnini, thậm chí từ Hur-at-Hur, tất cả các tù trưởng và các ông hoàng, cùng với kẻ hầu người hạ và binh lính của họ. Họ sẽ hỏi con xem họ nên làm gì. Và con sẽ đến trước Ngai vàng Trống không, ban cho họ lời chỉ bảo của các Thần Vô danh. Ờ, nhưng đó là trước kia. Sau này các Quốc vương-Tu sĩ đến cai trị Karego-At, và chẳng mấy chốc họ cai trị cả Atuan nữa; và giờ thì đã trải qua bốn hay năm đời Thần Vương thống trị cả tứ xứ, hợp nhất chúng thành một vương quốc. Và mọi việc đã thay đổi. Thần Vương có thể đàn áp các tù trưởng bất kham, có thể tự mình dàn xếp các cuộc tranh chấp. Và con thấy đấy, vì là thần nên ông không phải thường xuyên hỏi ý kiến các Thần Vô danh.”

Arha dừng lại để ngẫm nghĩ về điều đó. Thời gian chẳng có mấy ý nghĩa ở vùng sa mạc này, dưới những Bia mộ không bao giờ đổi thay, khi ta sống một cuộc sống muôn đời vẫn vậy, kể từ thuở ban đầu của thế gian. Nàng không quen nghĩ về những thay đổi, những thói quen cũ biến mất và những thói quen mới xuất hiện. Nàng không thích nhìn mọi việc dưới ánh sáng ấy. “Quyền lực của Thần Vương không thể bằng quyền lực của các Vị Thần ta phụng sự,” nàng nhíu mày nói.

“Chắc chắn rồi... Chắc chắn rồi... Nhưng người ta không được nói thế với một vị thần, viên sáp ong bé nhỏ ạ. Cũng không được nói thế với nữ tu của ông ta.”

Và khi nhìn vào con mắt nhỏ màu nâu long lanh của y, nàng nghĩ đến Kossil, Nữ tu Tối cao của Thần Vương, người nàng đã khiếp sợ ngay từ phút đầu đặt chân đến Thành; và nàng hiểu y muốn nói gì.

“Nhưng Thần Vương và thần dân của ông ta đã lơ là việc thờ phụng Lăng tẩm. Chẳng ai đến đây nữa.”

“Ờ, ông ta vẫn đưa tù nhân đến đây để hiến tế. Ông ta không lơ là việc đó. Cũng không lơ là việc dâng các quà lên các Thần Vô danh.”

“Quà! Ngôi đền của ông ta năm nào cũng được sơn lại, trên bàn thờ thì có đến cả tấn vàng, đèn thì được đốt bằng dầu hoa hồng! Và nhìn Đại sảnh Ngai vàng mà xem - mái thủng lỗ chỗ, vòm nứt rạn, tường thì đầy chuột, cú, dơi... Nhưng dù thế nào thì nó cũng sẽ đứng vững lâu hơn Thần Vương, hơn tất cả đền đài của ông ta, và tất cả các vị vua đời sau nữa. Nó đã đứng đó trước khi họ xuất hiện, và sẽ vẫn còn đứng đó khi họ đã biến mất. Nó là trung tâm của mọi vật.”

“Trung tâm của mọi vật.”

“Ở đó có nhiều kho báu; thỉnh thoảng Thar đã kể cho ta nghe. Đủ để đổ đầy mười ngôi đền của Thần Vương. Vàng và các chiến lợi phẩm được cống nạp cách đây rất lâu, hàng trăm đời, không ai biết rõ đã bao lâu rồi. Tất cả đều được khóa chặt trong các kho và hầm chứa, dưới lòng đất. Họ vẫn chưa dẫn ta tới đó, họ bắt ta phải chờ đợi, chờ đợi mãi. Nhưng ta biết nó như thế nào. Có nhiều căn phòng phía dưới Đại sảnh, dưới toàn bộ Thành, dưới nơi chúng ta đang đứng nữa. Có một mê lộ đầy những lối đi ngầm, gọi là Mê cung. Nó giống như một thành phố vĩ đại, tối tăm, nằm dưới lòng đồi. Ở đó đầy vàng, đầy gươm của các anh hùng đời xưa, các vương miện cổ, những bộ xương người, năm tháng và sự im lặng.”

Nàng nói say sưa như đang bị thôi miên. Manan nhìn nàng. Bộ mặt bèn bẹt của y không thể hiện gì nhiều ngoài vẻ buồn bã lờ đờ, thận trọng nhưng giờ y còn có vẻ buồn hơn thường lệ. “Phải, và con là nữ chủ của tất cả những thứ đó,” y nói. “Sự im lặng, và bóng tối.”

“Đúng thế. Nhưng họ không cho ta thấy gì cả, chỉ dẫn ta đến những căn phòng trên mặt đất, đằng sau Ngai vàng mà thôi. Họ còn không thèm chỉ cho ta lối vào đường hầm dưới đất nữa; chỉ thỉnh thoảng họ mới lúng búng nhắc đến chúng. Họ đang che giấu, không cho ta thấy lãnh địa của chính ta! Tại sao họ bắt ta chờ đợi hoài như vậy?”

“Con vẫn còn trẻ. Và có lẽ,” Manan nói bằng cái giọng nam cao khàn khàn của mình, “có lẽ họ sợ, cô bé ạ. Dù sao thì đây cũng không phải là lãnh địa của họ. Nơi này thuộc về con. Khi họ đặt chân vào đó, họ cũng đặt mình vào nguy hiểm. Không người thường nào mà lại không sợ các Thần Vô danh cả.”

Arha không nói gì, nhưng mắt nàng lóe lên. Một lần nữa Manan đã chỉ cho nàng một cách nhìn mới. Với nàng, Thar và Kossil luôn có vẻ đáng sợ, lạnh lùng, mạnh mẽ đến nỗi nàng thậm chí còn chưa bao giờ tưởng tượng ra rằng họ cũng biết sợ. Nhưng Manan nói đúng. Họ sợ những nơi ấy, sợ những quyền năng mà Arha cũng có một phần trong đó, thứ quyền năng mà nàng thuộc về nó. Họ sợ phải đi vào những nơi tối tăm, sợ sẽ bị mất linh hồn.

Giờ đây, khi nàng cùng Kossil đi xuống những bậc thang của Nhà Nhỏ rồi trèo lên con đường dốc đứng uốn lượn dẫn đến Đại sảnh Ngai vàng, nàng nhớ lại cuộc trò chuyện với Manan, và trong thâm tâm nàng lại hoan hỉ reo mừng. Cho dù họ có dẫn nàng đến đâu, có chỉ cho nàng thấy gì đi chăng nữa thì nàng cũng không sợ. Nàng sẽ biết rõ lối đi.

Cách sau nàng một quãng ngắn, Kossil lên tiếng. “Một trong những phận sự của nữ chủ, như người đã biết, là phải hiến tế một số tù nhân nhất định, những kẻ tội phạm có dòng dõi quý tộc, đã phạm tội báng bổ hoặc phản lại vị chúa tể Thần Vương của chúng ta.”

“Hoặc phản lại các Thần Vô danh,” Arha nói.

“Đúng vậy. Khi Người Mất Linh hồn còn nhỏ thì không thích hợp để thực hiện phận sự này. Nhưng nữ chủ của ta không còn là đứa trẻ nữa. Trong Phòng Xiềng xích hiện đang có tù nhân, một tháng trước chúng đã bị Thần Vương đày đến đây, từ thành phố Awabath.”

“Ta không biết là các tù nhân đã đến đây rồi đấy. Tại sao ta lại không được biết?”

“Các tù nhân được bí mật dẫn đến vào ban đêm, theo con đường đã được quy định từ trước theo các nghi thức của Lăng tẩm. Đó cũng chính là con đường bí mật mà nữ chủ sẽ đi, nếu người bám theo lối đi dọc theo bức tường.”

Arha rẽ khỏi con đường rồi đi theo dãy tường đá cao viền quanh khu Lăng tẩm phía sau gian sảnh mái vòm. Đá dùng để xây tường đều khổng lồ; tảng nhỏ nhất cũng nặng hơn một người đàn ông, và tảng lớn nhất thì to bằng cả một cỗ xe. Mặc dù không có hình thù gì, chúng vẫn được khéo léo xếp vừa khít với nhau. Tuy nhiên có chỗ bức tường đã sụp xuống và đá nằm thành một đống dị dạng. Chỉ một khoảng thời gian rất dài mới làm được điều đó, những thế kỷ hoang mạc với ngày cháy bỏng và đêm buốt giá, sự vận động khôn lường suốt hàng ngàn năm của chính dãy đồi này.

“Quá dễ dàng trèo qua Bức tường Lăng tẩm này,” Arha nói khi họ đi ngang qua bên dưới.

“Chúng ta không có đủ người để xây lại,” Kossil đáp lại.

“Chúng ta có đủ người để canh gác nó.”

“Chỉ toàn nô lệ thôi. Không thể tin chúng được.”

“Có thể tin tưởng chúng nếu chúng khiếp sợ. Hãy dành cho chúng cùng một hình phạt được dành cho những kẻ lạ mặt mà chúng cho phép đặt chân vào vùng đất thánh bên trong ranh giới của bức tường.”

“Đó là hình phạt gì?” Kossil không hỏi để biết câu trả lời. Chính bà ta đã dạy nó cho Arha, lâu lắm rồi.

“Bị chặt đầu trước Ngai vàng.”

“Nữ chủ muốn có người canh gác Bức tường Lăng tẩm ư?”

“Đúng vậy,” cô gái đáp. Bên dưới hai ống tay áo đen dài, những ngón tay của nàng siết chặt lại vì phấn khích. Nàng biết Kossil không muốn dành ra một nô lệ để canh gác bức tường, và quả thực đó là một nhiệm vụ vô ích, vì kẻ lạ mặt nào bén mảng tới đây được chứ? Sẽ chẳng có người nào, dù là vô tình hay cố ý, lang thang quanh Lăng tẩm trong phạm vi một dặm, mà không bị phát hiện; chắc chắn hắn không thể mò tới gần Lăng tẩm. Nhưng nơi này xứng đáng có một lính canh, và Kossil không thể phản bác lại điều đó. Bà ta phải vâng lời Arha.

“Đây,” giọng nói lạnh lùng của bà ta cất lên.

Arha dừng lại. Nàng đã nhiều lần đi theo con đường quanh Bức tường Lăng tẩm này và biết rõ nó cũng như nàng biết rõ từng mét đất trong Thành, từng hòn đá, từng bụi gai, từng cây kế. Phía bên trái, bức tường đá vươn cao lên gấp ba nàng; còn bên phải, ngọn đồi võng xuống thành một thung lũng nông, khô cằn, rồi ngay sau đó lại nhô lên ở rặng đồi phía Tây. Nàng nhìn quanh mặt đất gần đó, chẳng trông thấy gì khác ngoài những thứ nàng đã thấy trước kia.

“Dưới đống đá đỏ kia, thưa nữ chủ.”

Cách đó mấy thước, bên dưới con dốc, một cụm nham thạch đỏ nhô lên tạo thành một bậc thang hay một vách đá nhỏ bên sườn đồi. Khi đi xuống đó và đứng ngang đống đá, đối mặt với nó, Arha nhận ra trông chúng giống một ô cửa xù xì, cao bốn thước.

“Ta phải làm gì?”

Từ lâu, nàng đã học được rằng ở những nơi linh thiêng thì đừng có cố tìm cách mở một cánh cửa cho đến khi ta biết cánh cửa ấy được mở ra như thế nào.

“Nữ chủ có tất cả chìa khóa mở những nơi tăm tối.”

Từ sau lễ trưởng thành, Arha đã đeo ở thắt lưng một vòng sắt trên có treo một con dao găm nhỏ và mười ba chiếc chìa khóa, có chiếc dài và nặng, có chiếc lại nhỏ như móc câu. Nàng liền nhấc cái vòng lên và xòe những chiếc chìa khóa ra. “Cái này,” Kossil nói, chỉ vào một chiếc chìa; rồi đặt ngón tay trỏ ngắn mập mạp của mình lên khe hở giữa hai mặt đá đỏ thủng lỗ chỗ.

Chiếc chìa khóa, một thanh sắt dài với hai răng khóa phức tạp, cắm vào khe hở vừa khít. Arha phải dùng cả hai tay để quay chiếc chìa sang bên trái, vì nó rất rít; nhưng chiếc chìa lại quay hết sức nhẹ nhàng.

“Bây giờ ư?”

“Cả hai chúng ta...”

Họ cùng đẩy tảng đá xù xì sang bên trái lỗ khóa. Nặng nề, nhưng không hề bị kẹt và cũng không gây ra tiếng động lớn, một khoảng đá đỏ gồ ghề dịch chuyển vào phía trong cho đến khi để lộ ra một kẽ nứt hẹp. Bên trong chỉ tuyền một màu đen.

Arha cúi xuống và bước vào.

Kossil, người to béo, quần áo tùm hum, phải cố lách mình chui qua khe hở nhỏ ấy. Ngay khi vừa bước vào, bà ta lùi sát cánh cửa và gồng mình đẩy nó đóng lại.

Chỉ còn lại bóng tối. Không có chút ánh sáng nào. Bóng tối đè nặng lên đôi mắt mở to của họ như một tấm màn ẩm ướt.

Họ khom người, gần như gập đôi xuống, vì chỗ họ đứng cao chưa đầy bốn thước, và hẹp đến nỗi đôi tay đang sờ soạng của Arha chạm phải lớp đá ẩm ở cả bên phải lẫn bên trái.

“Người có đem theo đèn nến gì không?”

Nàng thì thào, như người ta vẫn thì thào trong bóng tối.

“Ta không đem theo đèn nến,” Kossil đáp lại sau lưng nàng. Giọng Kossil cũng hạ xuống, nhưng trong giọng nói ấy có một sắc thái kỳ lạ nào đó, như thể bà ta đang mỉm cười. Kossil không cười bao giờ. Tim Arha thót lại; mạch máu rần rật ở cổ. Nàng dữ dằn tự nhủ: Đây là lãnh địa của ta, ta thuộc về nơi này, ta không phải sợ gì hết!

Nàng không nói gì cả. Nàng bước về phía trước; chỉ có một con đường duy nhất mà thôi. Lối đi dẫn vào lòng đồi, hướng xuống dưới.

Kossil đi theo nàng, thở phì phò, áo quệt lên đá và đất.

Đột nhiên trần hang cao hẳn lên: Arha đã có thể đứng thẳng, và khi vươn tay ra nàng không sờ thấy vách đá nào. Bầu không khí, ban nãy còn ngột ngạt đầy hơi đất, giờ phả vào mặt nàng một hơi ẩm mát lạnh hơn, và những làn gió nhẹ thoảng qua khiến ta cảm nhận được lòng hang trải ra rất rộng. Arha thận trọng bước mấy bước vào trong bóng tối dày đặc. Một viên sỏi lăn tròn dưới bàn chân đi dép của nàng, chạm vào một viên sỏi khác, và âm thanh nhỏ xíu ấy vang thành vô số tiếng vọng, nhỏ hơn, xa hơn, rồi xa hơn nữa. Cái hang hẳn phải rất lớn, cao và rộng, nhưng không trống trải: trong bóng tối của nó, trên bề mặt những sự vật hay vách ngăn vô hình, một thứ gì đó đã đập tiếng vọng nọ thành hàng ngàn mảnh vụn.

“Hẳn chúng ta đang ở dưới Bia mộ,” cô gái thì thầm, và tiếng thì thầm của nàng bay vào bóng tối trống rỗng trước mặt rồi bị xé tan thành những sợi âm thanh mỏng mảnh như tơ nhện nhưng vang vọng mãi trong tai.

“Đúng thế. Đây là Hầm mộ. Đi tiếp thôi. Ta không thể ở lại đây. Hãy bám theo vách đá bên trái. Đi qua ba khe hở.”

Tiếng thì thầm của Kossil rít lên (và những tiếng vọng nhỏ xíu cũng rít lên theo). Bà ta đang khiếp sợ, quả thật bà ta đang khiếp sợ. Bà ta không muốn ở đây giữa các Thần Vô danh, trong mộ của họ, trong hang của họ, trong bóng tối. Đây không phải chỗ của bà ta, bà ta không thuộc về nơi này.

“Ta sẽ đem theo một cây đuốc khi ta đến đây,” Arha nói, dò dẫm tìm đường dọc theo vách hang, kinh ngạc trước hình thù kỳ lạ của đá, của chỗ lõm chỗ lồi, những đường cong uốn lượn và những đường gờ, ở đây thì xù xì như đăng ten, ở kia lại nhẵn mịn như đồng thau: chắc hẳn chúng là nét chạm khắc. Có lẽ toàn bộ lòng hang này là tác phẩm của những nhà điêu khắc từ thời xa xưa nào đó chăng?

“Ở đây ánh sáng bị cấm.” Tiếng thì thào của Kossil có vẻ gay gắt. Ngay khi bà ta vừa dứt lời, Arha hiểu điều đó phải được tuân theo. Nơi này chính là cội nguồn của bóng tối, là trung tâm sâu thẳm của màn đêm.

Trong bóng tối dày đặc, ba lần tay nàng lướt qua khe hở trên mặt đá. Đến lần thứ tư thì nàng dò dẫm xem khe hở đó cao rộng bao nhiêu, rồi bước vào. Kossil đi theo sau.

Đường hầm hướng lên trên con dốc thoai thoải, và họ đi qua một khe hở bên trái, rồi một lối rẽ bên phải: tất cả đều được thực hiện bằng cảm giác, bằng cách mò mẫm trong bóng tối của hang ngầm và trong sự im lìm nơi lòng đất. Trong một đường hầm như thế này, hầu như lúc nào người ta cũng phải dang tay ra chạm vào cả hai bên vách, đề phòng bỏ lỡ mất một khe hở hay một ngả rẽ. Xúc giác là tất cả những gì người ta có để tìm phương hướng; người ta không nhìn thấy lối đi, mà nắm nó trong tay mình.

“Đây có phải Mê cung không?”

“Không. Đây là một mê lộ nhỏ hơn, nằm dưới Ngai vàng.”

“Lối vào Mê cung nằm ở đâu?”

Arha thấy thích trò chơi trong bóng tối này, nàng muốn giải đáp một câu đố hóc búa hơn.

“Ở khe hở thứ hai chúng ta đi qua trong Hầm mộ. Giờ hãy tìm một cánh cửa ở bên phải, một cánh cửa gỗ, có khi chúng ta đã đi qua nó mất rồi cũng nên...”

Arha nghe thấy tiếng bàn tay Kossil lo lắng mò mẫm dọc vách hang, sột soạt trên mặt đá thô ráp. Nàng lướt đầu ngón tay lên lớp đá, và một lát sau cảm thấy những thớ gỗ nhẵn mịn dưới tay mình. Nàng đẩy, và cánh cửa kẽo kẹt mở ra một cách dễ dàng. Nàng đứng yên một lúc, lóa mắt vì ánh sáng.

Họ bước vào một căn phòng rộng, thấp, tường xây bằng đá tảng và được thắp sáng bởi một cây đuốc đang tỏa khói trên sợi xích. Căn phòng dày đặc khói đuốc không có lối thoát. Mắt Arha cay xè, nước mắt giàn giụa.

“Bọn tù nhân đâu?”

“Ở kia.”

Rốt cuộc thì nàng cũng nhận ra ba đống gì đó ở đầu kia căn phòng là ba người đàn ông.

“Cửa không khóa. Không có ai canh chừng sao?”

“Không cần.”

Nàng ngập ngừng bước vào sâu hơn, cố nhìn xuyên qua màn khói mù mịt. Bọn tù đều bị xích hai cổ chân và một cổ tay bằng những vòng sắt lớn đóng vào bức tường đá. Nếu một tên tù muốn nằm xuống thì cánh tay bị xiềng của hắn sẽ vẫn phải giơ lên, lủng lẳng trên chiếc cùm. Râu tóc chúng rối tung dính bết, hợp sức với bóng tối để che kín mặt mũi chúng. Một tên trong số đó đang nửa nằm nửa ngồi, hai tên kia đang ngồi xổm hay ngồi bệt xuống đất. Chúng không có áo quần gì. Mùi hôi hám bốc ra từ thân thể chúng còn mạnh hơn cả mùi khói.

Hình như một tên trong bọn tù đang nhìn Arha; nàng nghĩ mình nhìn thấy ánh mắt long lanh, nhưng không dám chắc. Hai tên kia không hề cựa quậy hay ngẩng đầu lên.

Nàng quay đi. “Chúng không còn là người nữa,” nàng nói.

“Chúng chưa bao giờ là người. Chúng là ác quỷ, là những linh hồn dã thú, đã âm mưu chống lại Thần Vương linh thiêng!” Mắt Kossil lóe lên trong ánh đuốc đỏ khé.

Arha quay lại nhìn bọn tù với vẻ tò mò và ghê sợ. “Làm sao một người thường có thể tấn công một vị thần được? Làm sao có thể như thế được? Tên kia: sao ngươi dám tấn công một vị thần sống?”

Kẻ nọ chằm chằm nhìn nàng qua mớ tóc đen rối bù, nhưng không nói gì.

“Chúng đã bị cắt lưỡi trước khi bị dẫn từ Awabath đến,” Kossil nói. “Xin nữ chủ đừng nói gì với chúng. Chúng chỉ là bọn cặn bã. Chúng thuộc về người, nhưng không phải để người trò chuyện, nhìn hay nghĩ về chúng. Chúng thuộc về người để cho người dâng lên các Thần Vô danh.”

“Chúng sẽ bị hiến tế như thế nào?”

Arha không nhìn ba tên tù nữa. Thay vào đó nàng đối mặt với Kossil, lấy lại sức lực của mình từ thân hình đồ sộ và giọng nói lạnh lùng của bà ta. Nàng thấy chóng mặt, và mùi khói cộng với mùi ô uế khiến nàng buồn nôn, nhưng nàng suy nghĩ và nói một cách hết sức bình thản. Chẳng phải trước kia nàng đã từng làm điều này rất nhiều lần sao?

“Nữ tu của Lăng tẩm biết rõ cái chết nào sẽ làm các Chủ nhân của người hài lòng nhất, và người được toàn quyền lựa chọn. Có rất nhiều cách.”

“Hãy ra lệnh cho Gobar chỉ huy đội lính chặt đầu chúng. Và lấy máu của chúng tưới lên các bậc thềm trước Ngai vàng.”

“Như thể đó là lễ hiến tế bầy dê ư?” Kossil dường như đang chế nhạo trí tưởng tượng kém cỏi của nàng. Nàng đứng đờ ra. Kossil nói tiếp, “Hơn nữa, Gobar là đàn ông. Hẳn nữ chủ phải nhớ rằng không gã đàn ông nào được đặt chân vào Lăng tẩm Tăm tối chứ? Một khi đã bước vào thì y sẽ không được phép ra khỏi đây...”

“Ai đưa chúng đến đây? Ai cho chúng ăn?”

“Các thái giám phục vụ ở đền của ta, Duby và Uahto; chúng là hoạn quan và có thể vào đây với tư cách người phụng sự các Thần Vô danh, cũng như ta vậy. Lính của Thần Vương đã để bọn tù bị trói lại bên ngoài bức tường, rồi ta và các thái giám đưa chúng vào đây qua Cửa Tù nhân, cánh cửa trong đống đá đỏ ấy. Việc này luôn được thực hiện theo cách ấy. Nước và thức ăn được thả xuống qua ô cửa sập trong căn phòng sau Đại sảnh.”

Arha ngẩng lên và nhìn thấy trên trần nhà bằng đá, bên cạnh sợi xích treo cây đuốc là một tấm ván gỗ hình vuông. Nó quá nhỏ, người thường không thể trèo qua được, nhưng một sợi thừng thòng qua đó rủ xuống vừa tầm với của tên tù ngồi giữa. Nàng vội quay đi.

“Thế thì bảo chúng đừng đem nước và thức ăn đến nữa. Cứ để cho cây đuốc cháy hết.”

Kossil cúi đầu. “Còn các thi thể, khi chúng đã chết?”

“Bảo Duby và Uahto chôn chúng trong cái hang lớn chúng ta đã đi qua, trong Hầm mộ,” nàng trả lời, giọng trở nên nhanh và cao hơn. “Chúng phải được chôn trong bóng tối. Các Chủ nhân của ta sẽ ăn những thi thể đó.”

“Xin tuân lệnh.”

“Như thế có được không, Kossil?”

“Rất được, thưa nữ chủ.”

“Vậy thì ta đi khỏi đây thôi,” Arha nói, giọng the thé. Nàng quay người và vội vã trở lại chỗ cánh cửa gỗ, rời khỏi Phòng Xiềng xích để bước vào bóng tối của đường hầm. Bóng tối đó có vẻ ngọt ngào và yên ả như một đêm không trăng, tĩnh lặng, không tầm nhìn, không ánh sáng, không sự sống. Nàng lao vào bóng tối dày đặc, vội vã chạy tới trước xuyên qua nó như bơi trong dòng nước. Kossil cũng vội bám theo, nhưng tụt lại phía sau mỗi lúc một xa hơn, thở hổn hển, cơ thể ì ạch. Không chút đắn đo, Arha vượt qua những ngả rẽ họ đã đi qua lúc trước, men theo Hầm mộ mênh mông đầy tiếng vang, rồi bò, cúi lom khom rồi lại đi thẳng vượt qua đường hầm dài cuối cùng dẫn đến cánh cửa đá đóng chặt. Đến đó, nàng cúi xuống, mò tìm chiếc chìa khóa dài trên cái vòng ở thắt lưng. Nàng tìm được chiếc chìa, nhưng không thấy lỗ khóa đâu. Trên bức tường không thể nhìn thấy trước mặt nàng không có lấy một đốm sáng, dù là nhỏ nhất. Ngón tay nàng dò dẫm trên mặt đá, tìm một cái khóa, một cái chốt hay một nắm đấm, nhưng không thấy gì cả. Chiếc chìa phải cắm vào đâu? Nàng ra khỏi đây bằng cách nào?

“Nữ chủ!”

Giọng nói của Kossil, được tiếng vọng khuếch đại, rít lên oang oang khá xa sau lưng nàng.

“Nữ chủ, cánh cửa này không thể mở từ phía trong. Không có lối ra. Không có đường quay lại đâu.”

Arha dựa sát vào vách đá. Nàng không nói gì.

“Arha!”

“Ta đây.”

“Lại đây!”

Chống cả tay và đầu gối như một con chó, nàng bò dọc đường hầm đến chỗ chiếc váy của Kossil.

“Đi sang bên phải. Nhanh lên! Ta không chần chừ ở nơi này được. Đây không phải chỗ của ta. Hãy đi theo ta!”

Arha đứng dậy, nắm chặt áo Kossil. Họ tiến lên phía trước, đi một quãng đường dài men theo vách hang bên phải chạm trổ kỳ lạ và xuyên qua một lỗ hổng đen sì trong bóng tối. Rồi họ leo lên dãy cầu thang nằm trong đường hầm. Nàng vẫn bám chặt áo người đàn bà. Mắt nàng nhắm nghiền.

Có ánh sáng đỏ xuyên qua mí mắt nàng. Nàng tưởng đó lại là căn phòng tràn ngập khói đuốc, và không dám mở mắt ra. Nhưng không khí có mùi ngọt dịu, khô ráo, mốc meo, một thứ mùi quen thuộc; và chân nàng đặt lên những bậc cấp dốc như một cái thang. Nàng buông áo Kossil và mở mắt nhìn. Một ô cửa sập đang mở trên đầu nàng. Nàng theo Kossil trèo qua đó. Nó dẫn vào một căn phòng nàng biết rất rõ, một phòng nhỏ bằng đá bên trong có hai cái hòm và tủ sắt, thuộc dãy phòng sau Phòng Ngai vàng của Đại sảnh. Ánh sáng ban ngày xam xám chiếu mờ nhạt dọc hành lang ngoài ô cửa.

“Cánh cửa kia, Cửa Tù nhân, chỉ có lối vào đường hầm thôi. Nó không dẫn ra ngoài. Đây là lối ra duy nhất. Nếu có bất kỳ lối nào khác thì cả ta và Thar cũng đều không biết. Người phải tự nhớ lối đi ấy, nếu có. Nhưng ta không nghĩ là nó tồn tại.” Kossil vẫn nói thấp giọng, vẻ hằn học. Khuôn mặt nặng sa sầm dưới chiếc mũ trùm đen của bà ta tái nhợt, ướt mồ hôi.

“Ta không nhớ các ngả rẽ dẫn đến lối ra này.”

“Ta sẽ cho người biết. Chỉ một lần thôi. Người phải nhớ cho kỹ. Lần tới ta sẽ không đi cùng người nữa. Đây không phải chỗ của ta. Người phải đi một mình.”

Arha gật đầu. Nàng nhìn mặt người đàn bà, và thầm nghĩ trông nó kỳ quặc làm sao, tái mét vì nỗi khiếp sợ không thể che giấu, thế nhưng vẫn lộ rõ vẻ đắc thắng, như thể Kossil khoái trá vì sự yếu đuối của nàng.

“Sau lần này ta sẽ đi một mình,” Arha nói, và khi cố gắng quay đi khỏi Kossil, nàng bỗng thấy chân mình khuỵu xuống, và căn phòng quay tít quanh mình. Nàng ngất lịm, ngã xuống thành một đống đen sì nhỏ bé dưới chân nữ tu.

“Người sẽ học được thôi,” Kossil nói khi đứng bất động ở đó, hơi thở vẫn còn hổn hển. “Người sẽ học được.”

« Lùi
Tiến »