Xin Được Nói Thẳng

Lượt đọc: 123 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN III

❊ ❊ ❊

QUẢN LÝ KHOA HỌC: HƯỚNG TỚI CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

1. “ĐIỀU CỐT YẾU LÀ PHẢI NHẬN THỨC SÂU SẮC VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ, PHẢI THỰC SỰ COI KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ LÀ QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU”

XUÂN 1998

Những năm gần đây Việt Nam đã có nhiều cố gắng đổi mới hoạt động khoa học nhưng cách làm chưa tốt nên hiệu quả còn thấp so với yêu cầu, công sức và tiền của bỏ ra.

Trong số nhiều nguyên nhân, tôi nghĩ cần xem xét lại việc đăng ký, xét duyệt và nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện các đề tài nghiên cứu. Có lần tôi thấy bài báo về việc đánh số nhà ở đường phố cũng được cơ quan hữu trách coi là một đề tài nghiên cứu khoa học. Tuy đó chỉ là một ví dụ cá biệt nhưng nó cũng cho thấy sự tùy tiện trong cách xác định đề tài khoa học. Điều này gắn liền với quan niệm thế nào là một công trình khoa học. Tôi không nghĩ công trình khoa học là cái gì cao siêu ghê gớm, nhưng nếu chúng ta tầm thường hóa đến mức cái gì cũng coi là công trình khoa học cả thì sẽ có hại cho sự phát triển khoa học. Một ví dụ: Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện dự thi nghiên cứu sinh đối với người có bằng cử nhân loại khá trở lên là phải có ít nhất hai công trình khoa học được công bố trên tạp chí ngành. Dĩ nhiên nếu hiểu công trình khoa học theo đúng nghĩa như ở các nước thì đòi hỏi này quá vô lý. Vậy công trình khoa học nói ở đây là công trình như thế nào mà tác giả của chúng còn phải theo học 3-4 năm nữa mới có thể đạt trình độ nghiên cứu độc lập? Tôi nghĩ, mình đang cần hòa nhập tốt vào cộng đồng quốc tế, hơn nữa còn phải cạnh tranh tốt với các nước khác mới tiến lên được, nếu tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn công trình khoa học như vây thì bao giờ chúng ta mới có thể đào tạo chuyên gia giỏi và đuổi kịp người ta?

Về việc đăng ký, xét duyệt thì tôi nhớ năm ngoái, trong một buổi Tổng bí thư Đỗ Mười làm việc với cán bộ khoa học Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, có một giáo sư hóa học đã thẳng thắn thưa với đồng chí rằng: “Tiêu cực trong khoa học cũng dữ dội lắm”. Gọi là đấu thầu đề tài khoa học nghe thì hay, nhưng hình như có những trường hợp thực ra chỉ là nghệ thuật đi cửa sau, giống như đấu thầu trong xây dựng cơ bản. Nguyên nhân tình trạng tiêu cực này ở đâu?

Tại Việt Nam, tiền lương là nguồn sống chủ yếu của người làm khoa học, còn kinh phí cấp cho nghiên cứu chỉ dùng để mua sắm trang thiết bị, tài liệu, tổ chức các hội thảo, mời chuyên gia giỏi của nước ngoài đi dự hội thảo, hội nghị quốc tế, tài trợ cho nghiên cứu sinh (một phần), v.v… Phần kinh phí đề tài để trả công nghiên cứu không đáng kể so với lương. Nếu hợp đồng nghiên cứu được ký với các doanh nghiệp thì có thể được trả công nhiều hơn nhưng cũng chỉ trong giới hạn không ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính ở cơ quan, và càng thu nhập cao thì càng phải trả thuế nhiều. Do đó, người ta chăm chỉ nghiên cứu chủ yếu vì ý thức trách nhiệm, vì đó là nguồn vui, là danh dự. Còn ở ta, do tiền lương chỉ là nguồn thu nhập rất nhỏ không đủ sống, cho nên cán bộ khoa học nếu không dạy/thêm, làm thêm cho các doanh nghiệp, hoặc làm nghề tay trái để kiếm thêm tiền, thì chỉ còn trông vào tiền công nghiên cứu các đề tài mới đủ thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt. Mặt khác, theo quy định về cách trả công nghiên cứu, những ngành có yêu cầu lớn về trang thiết bị thì được trả công cao hơn các ngành khác nhiều lần. Cơ quan quản lý chắc có biết những điều không hợp lý nhưng không thể (hoặc không muốn) sửa. Vì đây không còn đơn thuần là yêu cầu phát triển khoa học mà trở thành nguồn sống của cán bộ khoa học. Lâu ngày tình hình không bình thường đó làm hư hỏng một số người, họ hầu như không còn nhuệ khí làm khoa học chân chính nữa, mà quay sang những thủ đoạn dễ dàng, dù quanh co để tiến thân.

Cũng cần nói thêm rằng việc xét duyệt đề tài quá cảm tính, đề tài nào mang tên có vẻ quan trọng và tác giả hứa hẹn nhiều thì dễ được thông qua hơn. Còn khả năng thực hiện các điều hứa hẹn cũng như hiệu quả thực tế đến đâu thì ít khi được xem xét kỹ. Ở các nước, về những ngành tôi biết, khi xét duyệt một đề tài, cơ quan quản lý hoặc tài trợ gửi bản đăng ký cho một số chuyên gia cùng lĩnh vực, cả trong và ngoài nước nếu cần, để lấy nhận xét (quy trình peer review - nhận xét ngang). Người đăng ký không được cho phép biết ai là người nhận xét, nên người nhận xét có thể yên tâm đánh giá một cách khách quan. Như thế mà nhiều trường hợp vẫn sai, huống hồ làm tùy tiện và cảm tính thì tránh sao khỏi hồ đồ.

Khi duyệt đã thế mà nghiệm thu nhiều khi cũng chỉ có hình thức. Thực tế là phần lớn các đề tài đều được nghiệm thu xuất sắc, ngay cả một số đề tài báo cáo sai sự thật mà thỉnh thoảng báo chí đã phanh phui. Đề tài xuất sắc bây giờ cũng giống như lao động tiên tiến trước đây, hằng năm hầu hết cán bộ công nhân viên ở các cơ quan đều được công nhận lao động tiên tiến, mà nền kinh tế thì cứ xuống dốc. Tôi nghĩ cần rút kinh nghiệm để tránh những việc hình thức như thế, chẳng lợi ích gì mà còn gây nhiều ảo tưởng có hại. Ít ra, đối với các đề tài nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên ở cấp nhà nước, cần đòi hỏi các kết quả quan trọng cần được công bố trên tạp chí quốc tế (bao gồm cả tạp chí của ta nhưng bằng tiếng nước ngoài) chẳng những để trao đổi mà còn để có cơ hội nhận được sự kiểm tra công khai và có hiệu quả của cộng đồng khoa học quốc tế trong lĩnh vực ấy. Nếu các nghiên cứu này chỉ báo cáo và nghiệm thu ở cơ sở hay ở cấp nào đó trong nước thì khó bảo đảm đánh giá chính xác, nhít là khi tác giả là chuyên gia duy nhất hoặc “trùm” trong nước ở lĩnh vực đó. Còn đối với các nghiên cứu ứng dụng thì kết quả có thể thẩm định trong thực tế. Như vậy trữ một số ngoại lệ, nhìn chung kết quả nghiên cứu đều có cách đánh giá tốt hơn cách làm hiện nay.

Ngày nay đúng là dần dần không còn ranh giới rõ rệt giữa khoa học cơ bản và ứng dụng. Như về toán, chúng ta quen nói toàn lý thuyết và toán ứng dụng, nhưng thật ra cách nói đó cũng là quy ước, và ngày càng khó phân biệt.

Trong hoàn cảnh của ta hiện nay, tất nhiên ưu tiên ứng dụng là đúng. Nhưng phải cẩn thận: khoa học là một hệ thống, trong đó khoa học cơ bản là nền tảng, nếu chỉ chú trọng ứng dụng mà coi nhẹ khoa học cơ bản, thì trước sau gì cũng gặp khó khăn. Lĩnh vực nào cũng vậy, “mì ăn liền” chỉ có thể giúp cho đỡ đói tạm thời, không thể giải quyết lâu dài được. Thật ra thì xã hội nào, thời nào cũng vậy, có thực mới vực được đạo, cho nên ứng dụng bao giờ cũng là mối quan tâm ưu tiên. Có điều, khoa học và công nghệ càng phát triển thì quy trình từ cơ bản đến ứng dụng càng rút ngắn, và ngày nay có nhiều thành tựu cơ bản chỉ một hai năm sau đã đi vào thực tiễn và có khi đảo lộn cả thực tiễn. Vả lại, công nghệ hiện đại chỉ có thể được ứng dụng tốt trên cơ sở một nền khoa học cơ bản vững vàng.

Ở nhiều nước, phần lớn các viện nghiên cứu nằm trong các trường đại học. Ở Việt Nam, việc thành lập các viện độc lập với trường có hoàn cảnh lịch sử của nó, và tôi nghĩ rằng trong một số trường hợp việc đó đã có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển khoa học mấy chục năm qua. Bây giờ muốn sáp nhập viện vào trường cũng phải xét hiệu quả cụ thể, không thể tùy tiện được. Cái chính và cấp bách là xây dựng sự hợp tác chặt chẽ, sự liên thông giữa trường và viện. Hãy tạo điều kiện cho các trường hồi phục và tăng cường công tác nghiên cứu mà đã có lúc bị buông trôi do giảng viên phải làm những việc tay trái hoặc dạy thêm quá nhiều để kiếm sống; ngược lại, hãy mở thêm nhiều lớp cao học ở các viện/tạo điều kiện đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ của các viện. Đồng thời khuyến khích cán bộ các viện tham gia giảng dạy ở các trường, và cán bộ các trường và viện tham gia tổ chức nghiên cứu chung (như seminar). Như thế, các viện dần dần trở thành những đơn vị vừa nghiên cứu vừa đào tạo (điều này hiện nay đang được thực hiện tốt ở một số viện), còn các trường thì dần dần trở lại là trường đại học theo đúng nghĩa, tức là đào tạo bằng nghiên cứu và đào tạo thông qua nghiên cứu (có thể bảo đảm chất lượng đào tạo). Lúc đó, tách hay nhập chỉ còn là việc hành chính.

Điều đáng quan tâm hơn là hiện nay nhiều nhà khoa học giỏi ở cả viện và trường đều không có nghiên cứu sinh trẻ và giỏi. Như vậy, chẳng những ít năm nữa Việt Nam sẽ không có tài năng khoa học trẻ, mà các nhà khoa học hiện đang có cũng sẽ mai một dần, vì nhà khoa học giỏi xung quanh mình ít đi thì bản thân cũng rất khó phát triển tài năng.

Việc làm thế nào để đào tạo được đội ngũ những nhà toán học - những người không thể thiếu được trong sự phát triển ở mọi lĩnh vực là vấn đề rất bức xúc hiện nay, những ai thiết tha với sự nghiệp khoa học đều rất lo lắng. Viện Toán là viện nghiêm cứu vào loại trẻ nhất mà tuổi trung bình cũng đã trên 45 tuổi rồi. Rất rõ ràng, nếu không có biện pháp gấp rút cải thiện tình hình thì chỉ trong vòng 15 năm nữa, nền toán học Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên thế giới, vào thời điểm mà toán học được coi là một trong các ngành khoa học thiết yếu cho sự phát triển. Từ ba bốn năm nay đã có nhiều người lên tiếng báo động, mong rằng xã hội và nhà nước sẽ có biện pháp khi còn chưa quá muộn.

Cách đây hai năm, một số anh em chúng tôi đã trình lên chính phủ một đề án về việc mở một trung tâm đào tạo cao cấp về toán học, nhằm đào tạo và bồi dưỡng những tài năng toán học trẻ, đáp ứng nhu cầu của đất nước trong thời gian tới. Đề nghị của chúng tôi đã được Thủ tướng Võ Văn Kiệt hai lần tỏ ý ủng hộ, song đã hai năm rồi đề án vẫn nằm đó, chưa tiến được bước nào. Vừa qua chúng tôi được thông báo Chính phủ giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường đại học quốc gia cùng với chúng tôi xây dựng để án trình Chính phủ xem xét trong quý I năm 1998, song đến nay hai tháng trôi qua mọi việc vẫn im lìm. Trước tình hình đó, nhiệt tình của những người có tâm huyết cũng nguội dần.

Để khoa học-công nghệ trở thành động lực cho sự phát triển của đất nước, cái gốc là nhận thức khoa học là quốc sách hàng đầu như đã ghi trong Nghị quyết Trung ương 2, phải được thấm nhuần sâu sắc và quán triệt trong từng chủ trương cụ thể. Nhưng hiện nay, nhiều người chỉ mới thừa nhận trên lý trí tầm quan trọng của khoa học chứ chưa thật sự tin. Hậu quả của việc tụt hậu về khoa học không thấy rõ ngay mà phải 50 năm hay lâu hơn mới thấm, nhưng khi thấm thì đã quá muộn, cái giá phải trả càng ngày càng đắt và thế là càng ngày càng khó gượng dậy nổi, nên cứ trượt dài. Logic khắc nghiệt đó của sự phát triển không phải ai cũng nhận thức được. Vì thế mà nhiều biện pháp chỉ nửa vời, không đủ liều lượng gây chuyển biến tình hình.

Cái khó nhất là khi bộ máy quản lý không đủ độ tin cậy cần thiết thì nhiều chủ trương đúng là không thực hiên được đến nơi đến chốn hoặc bị bóp méo và đưa lại kết quả trái với mong muốn. Theo tôi nghĩ, bộ máy quản lý chỉ đủ độ tin cậy khi tiền lương là thu nhập chính của mỗi cán bộ, mọi người không bị đẩy vào cái thế xoay sở để kiếm tiền thêm ngoài lương. Hẳn chúng ta còn nhớ cách đây mươi năm không mấy ai tin rằng có thể bỏ tem phiếu được, nhưng sau khi bỏ tem phiếu mọi người đều thấy rõ tất cả sự vô lý của nó. Chế độ trả công cho công chức hiện nay thực hiện cũng không kém vô lý và cũng không khó bỏ hơn chế độ tem phiếu trước đây.

2. CHUYỆN TỬ TẾ 34 TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CƠ QUAN KHOA HỌC

SỐ 8/1999

Tôi nhớ có lần được gặp Bác Hồ để báo cáo với Bác về các ứng dụng của vận trù học, nhân nói đến những thủ tục phiền hà của các cơ quan bày ra để hành tội dân, Bác nghiêm mặt hỏi các vị có trách nhiệm: “Hà Nội mà còn lắm quan thế à?!” Một tháng sau Bác đã ra đi. 30 năm trôi qua, tôi vẫn chưa hết day dứt về câu hỏi của Bác.

Cải cách hành chính là chủ trương đúng đắn của nhà nước nhằm làm cho bộ máy bớt quan liêu và có hiệu lực hơn. Các trường đại học và viện khoa học (mà dưới đây xin gọi chung là cơ quan khoa học) đương nhiên cũng là những đối tượng thực hiện chủ trương đó. Điều cần bàn là thực hiện cải cách hành chính đối với các cơ quan khoa học nên như thế nào?

Câu hỏi này quan trọng, vì công tác khoa học có những đặc thù mà nếu không tính đến thì kết quả cải cách hành chính sẽ không những không nâng cao hiệu suất mà còn có thể kìm hãm khoa học.

Đáng tiếc, từ ngày nói đến cải cách hành chính tôi chưa thấy thay đổi gì tích cực đáng kể trong các cơ quan khoa học. Chỉ thấy cán bộ khoa học của một số cơ quan này ngày càng được đối xử như nhân viên văn thư hành chính, làm nhiều người băn khoăn chưa biết cơ quan khoa học qua cải cách hành chính sẽ biến thành cái gì. Dường như không ai dám cưỡng lại xu hướng áp đặt thô bạo các phương pháp quản lý cơ quan hành chính vào cơ quan khoa học.

Tôi không dám khái quát hồ đồ, chỉ xin kể vài chuyện mà tôi được biết và lấy làm lo lắng. Mong sao những chuyện không tử tế chỉ là cá biệt. Xong cũng xin đừng ai nghĩ rằng cá biệt không thể phát triển thành phổ biến, khi mà cái cá biệt ấy xuất phát từ chính người có chức có quyền. 30 năm trước còn chiến tranh, cuộc sống thiếu thốn là thế mà mấy ai kêu ca nạn tham nhũng hay ma túy. Lúc đầu mới phát hiện vài vụ tiêu cực, nhiều người cứ nghĩ: chẳng có gì quan trọng, những chuyện tiêu cực cá biệt xã hội nào chẳng có. Có ngờ đâu những thứ ấy giờ đã trở thành quốc nạn - nguy hiểm đến mức càng bị lên án nó càng phát triển, khiến có người vốn lương thiện cũng bắt đầu xoay hướng suy nghĩ: đã thế thì dại gì mình phải giữ gìn nữa, thôi thì đi với ma nên mặc áo giấy. Và cái triết lý thực dụng ấy đã len lỏi đến những hạng người nào rồi, đố ai biết được!

Trở lại vấn đề cải cách hành chính trong cơ quan khoa học, chuyện thứ nhất tôi muốn nói là tuyển dụng cán bộ. Có người chủ trương rằng theo kinh nghiêm nước ngoài, cán bộ khoa học chỉ nên tuyển theo hợp đồng năm năm một, không ai có biên chế vĩnh viễn. Có lẽ vị ấy muốn nói: trước khi được tuyển vào biên chế chính thức phải có thời gian năm năm hợp đồng để thử thách. Chứ theo chỗ tôi biết, ở hầu hết các nước phương Tây, phần lớn các giáo sư và phó giáo sư ở các cơ quan khoa học, dù là công hay tư, đều có “tenure” (thường biên chế vĩnh viễn), tức là quyền được làm việc cho đến khi hưu mà không thể bị thải hồi trừ khi phạm tội. Nghe như trái với logic đổi mới quản lý của chúng ta, nhưng cái luật ấy được thi hành ở hầu hết các nước phát triển. Lý do cũng dễ hiểu: không đâu hơn trong khoa học, cần an cư mới lập nghiệp được. Phần đông các nhà khoa học đều làm nên sự nghiệp của mình ở một nơi cố định trong phần lớn cuộc đời, nơi họ có học trò, có đồng nghiệp cùng chí hướng chuyên môn, họ lập nên trường phái, họ xây dựng truyền thống để đến khi họ chết, nơi đó vẫn tiếp tục sự nghiệp của họ, có khi trong nhiều thế hệ kế tiếp. Một đại học, một viện nghiên cứu mà cứ luôn thay biên chế, nay lấy người này trong năm năm, mai lấy người kia năm năm khác thì chẳng bao giờ làm nổi việc lớn vì không xây dựng được truyền thống, mà đối với khoa học thì truyền thống là bảo đảm cho chất lượng, năng suất, tiếng tăm và uy tín. Hợp đồng năm năm chủ yếu áp dụng cho các cán bộ mới vào nghề, không phải để dùng cho những chuyên gia mà trình độ chất lượng công việc của họ đã trải qua thử thách. Đã đi nhiều nước, tôi chỉ biết vài nơi tuyển dụng cán bộ theo phương thức hợp đồng năm năm một, như Học viện Công nghệ châu Á (AIT) nhưng đó không phải là tổ chức khoa học của riêng một quốc gia (do đó ý đồ, mục tiêu của họ khác).

Lao động khoa học hay văn hóa có vẻ tự do vì cần có không gian trí tuệ để tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo, khác với công việc văn thư, hành chính, làm có giờ có giấc, theo những quy định, phép tắc, luật lệ có sẵn, hết giờ thì nghỉ. Cũng vì sự khác nhau đó mà việc tuyển dụng cán bộ khoa học không thể giống như tuyển dụng nhân viên hành chính. Khi một cơ quan khoa học có một chỗ làm trống hay mới lập ra thì ai muốn xin vào chỗ đó phải nộp hồ sơ hội đủ các điều kiện đòi hỏi. Việc xét tuyển do một hội đồng gồm các nhà khoa học trong đơn vị đó thực hiện, chủ yếu căn cứ theo hồ sơ và có thể kết hợp với thẩm vấn các ứng viên. Đó là chút “đặc quyền” của các nhà khoa học được có tiếng nói chính, nếu không phải là quyết định, khi kết nạp những thành viên mới vào cộng đồng của mình. Cái đặc quyền ấy chẳng qua cũng vì lợi ích của công tác khoa học, hàng trăm năm nay đã có ở các nước phát triển, chưa thấy nơi nào muốn xóa bỏ. Tôi hoàn toàn không hiểu vì sao ta đi sau mà cứ tưởng mình giỏi hơn các nước khác, tự đặt ra cái quy chế kỳ lạ khi tuyển cán bộ khoa học hệt như thi tú tài hay thi vào đại học, nghĩa là cũng có hội đồng ra đề thi, có ban giám thị, ban chấm thi, cũng thi viết trong phòng thi có giám thị giám sát: rồi cũng dọc phách bài thi trước khi giao cho ban chấm thi… Đủ hết các khâu của một kỳ thi mẫu mực! Chỉ có điều hội đồng thi gồm hầu hết là quan chức thuộc bộ phận tổ chức và các cơ quan giúp việc thủ trưởng cấp trên, còn viện nghiên cứu có như cầu tuyển cán bộ thì duy nhất chỉ có ông viện trưởng được tham gia hội đồng. Trước đây hội đồng khoa học của viện còn có vai trò quan trọng, nay theo quy chế mới không có tiếng nói gì hết trong suốt quá trình tuyển chọn cán bộ. Có khác gì việc dựng vợ gả chồng cho con cái thời phong kiến, cha mẹ đặt đầu con ngồi đấy.

Thật tội nghiệp cho các nhà khoa học của chúng ta: khi đi học hết thi tiểu học đến thi trung học cơ sở, rồi thi tú tài, thi vào đại học, thi ra đại học, thi cao học, thi nghiên cứu sinh, thi thạc sĩ, tiến sĩ, đến khi đã đủ lông đủ cánh trong khoa học lại cũng thi nữa, thậm chí đã trở thành cán bộ khoa học cũng tiếp tục thi, nào thi chuyển ngạch, thi lên cấp… Cả cuộc đời chỉ có thi, thi và thi, cho đến mụ người vẫn cứ thi (xin hiểu cho: tôi không phản đối thi 35 , chỉ phản đối thi theo kiểu máy móc và lạc hậu của ta). Một nền kinh tế dựa trên áp lực thi cử lạc hậu như thế thì làm sao cạnh tranh nổi với ai trong thời buổi văn minh và trí tuệ này! Chỉ có điều lạ là những vị bắt người khác thi liên miên theo cách đó thì bản thân có khi chẳng bao giờ qua một kỳ thi nghiêm túc nào.

Chuyện thứ hai là khai lý lịch. Trong vòng một năm, cán bộ cơ quan tôi đã hai lần được yêu cầu làm tờ khai lý lịch, theo hai bản khai chẳng khác nhau mấy, mà nội dung kê khai cũng không ngoài những mục đã có trong nhiều bản lý lịch trước đây. Tôi nhẩm tính: nếu cơ quan nào cũng làm như vậy thì mấy triệu công chức, mấy chục triệu tờ giấy in, bao nhiêu tốn phí, đủ nuôi bao nhiêu trẻ em nghèo đi học bao nhiêu năm! Rồi mấy triệu giờ của những con người thông minh mất vào đó để phổ biến, kê khai (tối thiểu mỗi người một tiếng). Tất cả hao tổn như thế để làm gì, ích lợi thế nào, tại sao khai hết lần này đến lần khác, có trời mới biết. Một anh bạn nói với tôi (đúng hay không, cần kiểm tra lại): một để tài nghiên cứu khoa học về tổ chức, được cấp kinh phí hàng tỉ đồng; thù lao (hay chia lại?) cho mỗi người làm tờ khai được 15.000 đồng, mỗi người kiểm tra một tờ đơn được 6.000 đồng, cơ quan được mấy trăm triệu… Cũng là một dịp có thêm chút ít thu nhập bổ sung vào đồng lương còm cỗi chứ có sao! Thật cười ra nước mắt…

Chuyện đáng buồn khác là khi nhân viên hành chính các cấp đi công tác nước ngoài thì được cấp chi phí, còn cán bộ khoa học dự các hội nghị quốc tế, đi trao đổi khoa học với nước ngoài thì coi là việc riêng, chẳng những phải tự túc mọi khoản mà còn bị cắt lương nếu xin đi quá một tháng. Tệ hơn, họ phải ký giấy cam kết bằng lời lẽ khá xúc phạm, mà nội dung là cam kết tự chịu trách nhiệm lấy khi rủi ro đau ốm ở nước ngoài và nếu về nước quá hạn được phép mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị xóa tên khỏi biên chế cơ quan (thải hồi). Bản thân tôi vừa qua khi được các hội nghị quốc tế mời đọc những báo cáo chính (và được họ bao chi phí) cũng bị yêu cầu phải ký giấy cam kết đó.

Nghĩ cũng buồn, nhưng rồi cũng quen đi: khi các kênh truyền hình ngoại quốc bắt đầu được phát tiếp sóng thì trước tiên đối tượng được phép dùng chỉ là một số rất ít quan chức, vì chỉ các vị ấy mới được coi là đủ trí tuệ và và đủ vững vàng để không bị tuyên truyền đế quốc lôi kéo và không bị văn hóa đồi trụy làm hư hỏng; đến khi có dịch vụ Internet thì lại cũng chỉ các quan chức và cán bộ giúp việc các vị ấy mới được dùng miễn phí và tha hồ lang thang trên đó giờ nọ giờ kia, chứ có mấy nhà khoa học chân chính nhưng không chức, không quyền được dùng thoải mái như thế cho công việc nghiên cứu khoa học.

3. NHIỀU NGỘ NHẬN BẰNG CẤP, HỌC VỊ

SỐ 8/1997

Hiện nay, mở bất cứ tờ báo nào cũng thấy đầy phó tiến sĩ, tiến sĩ, giáo sư, viện sĩ. Ở các nước tiên tiến chỉ trường hợp thật cần thiết họ mới nêu rõ học vị, chức danh của ai đó khi nhắc đến họ, hoặc đăng bài của họ trên các báo (nhất là báo hằng ngày). Không nên nghĩ rằng người ta sẽ phục mình vì có nhiều nhà đại khoa bảng, trái lại người ta càng coi thường mình vì chỉ có dân trí kém mới sính bằng cấp, chức danh vậy.

Tôi có cảm tưởng chúng ta quan tâm quá nhiều đến danh vị và cách xưng, cách gọi, mà ít chú trọng các phương diện khác thiết thực hơn như chất lượng đào tạo, quan hệ quốc tế, và tương lai nền khoa học. Thật ra trên thế giới, phần lớn các nước đều chỉ có một bậc tiến sĩ ngang PhD (Doctor of Philosophy) của Mỹ. Không có cái gọi là bằng “Post PhD” như có người nói, tuy nhiều đại học và trung tâm nghiên cứu, không chỉ ở Mỹ mà ở nhiều nước khác, có những học bổng post- doct fellowship dành để mời người bảo vệ tiến sĩ không quá 4-5 năm đến nghiên cứu thêm một hai năm ở các nơi đó. Một số nước có truyền thống khoa học như Pháp trước đây có bằng Tiến sĩ Quốc gia (cao hơn PhD), từ nhiều năm nay cũng đã chuyển qua chế độ một bậc tiến sĩ ngang PhD: Ta hiện có quá nhiều bằng rởm. Đó là thực tế đáng buồn, khiến một số Việt kiều và người ngoại quốc coi phó tiến sĩ của ta chỉ ngang master và tiến sĩ của ta ngang PhD ở các nước. Vấn đề càng phức tạp thêm bởi nhiều sự ngộ nhận về bằng cấp ngay từ các cơ quan quản lý và trong giới khoa học (coi candidate là phó tiến sĩ, PhD của Mỹ, Nhật Bản, thậm chí một số nước trong khu vực là tiến sĩ; xếp tiến sĩ là “cực giỏi”, tiến sĩ là “thầy” phó tiến sĩ, coi SV như học vị trên tiến sĩ, nhầm lẫn post-doct fellowship với bằng tiến sĩ, v.v…), chứng tỏ quan niệm và hiểu biết của chúng ta về bằng cấp, học vị còn nhiều điều nhầm lẫn và chưa ổn. Trên cơ sở hiểu biết đó mà lại sẵn đầu óc quá chuộng bằng cấp, học vị thì tất nhiên rất lộn xộn.

Hiện nay hầu hết các nước tiên tiến đều theo chế độ một bậc tiến sĩ, nên chỉ xét theo yêu cầu hòa nhập quốc tế cũng đủ thấy sự bất tiện khi tiếp tục duy trì hai bậc tiến sĩ. Sở dĩ nhiều nước bỏ chế độ hai bậc tiến sĩ vì trình độ PhD là cơ sở đủ để cho một người bắt đầu một sự nghiệp khoa học độc lập. Sau đó, để họ tự do nghiên cứu tùy theo tình hình, không bị ràng buộc bởi luận án thường đòi hỏi các công trình có tính chất tập trung. Sự mềm dẻo đó có lợi cho khoa học hơn, mà cũng tránh được tình trạng làm xong luận án thì mệt mỏi, không còn sức tiếp tục sáng tạo. Các nước Mỹ, Anh từ lâu chỉ có PhD là bằng cao nhất mà khoa học vẫn phát triển mạnh, nước Pháp sau khi cải cách bằng tiến sĩ cũng không vì thế mà khoa học chậm lại. Điều mà các nhà khoa học lớn thường nhắc nhở là làm việc, nghiên cứu mới quan trọng, chứ không phải đeo đuổi một mảnh bằng, dù là mảnh bằng khó.

Các học vị, chức danh chỉ dùng chủ yếu trong nội bộ các đại học và trong các giấy tờ hành chính, chẳng hạn khi khai lý lịch khoa học, và lúc đó bằng gì khai đúng bằng đó, đỗ ở đâu, năm nào. Không chuyển đổi phó tiến sĩ thành tiến sĩ. Tuy nhiên trong các giấy tờ giao thiệp quốc tế thì phó tiến sĩ hay tiến sĩ mới của ta đều dịch là PhD, tiến sĩ cũ dịch là DSc (Doctor of Science), và kèm theo là bằng của đại học nào. Như thế đủ rõ, không ai bị thiệt vì chừng ấy thông tin đủ cho người nước ngoài biết rõ loại bằng cấp nào. Trong giao dịch quốc tế nên coi phó tiến sĩ là tương đương PhD, vì đó là trình độ đúng của bằng đó nếu không rởm. Còn như trên thực tế ta có nhiều bằng yếu kém và rởm thì có nước nào tránh được hết chuyện đó (dù tất nhiên không tệ hại như ta), không thể vì lẽ đó mà bằng tiến sĩ mới của ta (hay phó tiến sĩ cũ) phải bị lép vế trong giao dịch quốc tế so với PhD của các nước khác.

Cải cách đúng đắn việc đào tạo tiến sĩ và phong học hàm, đảm bảo thật sự văn minh. Tiến sĩ ra tiến sĩ, phó giáo sư ra phó giáo sư, giáo sư ra giáo sư. Tuy không đặt vấn đề kiểm tra tất cả học vị, học hàm nhưng đối với các trường hợp đã có bằng chứng rõ ràng là cấp bằng sai, phong học hàm sai, thì phải kiên quyết sửa.

Cách tổ chức thi tiến sĩ của Việt Nam (và xét duyệt học hàm) còn rất lôm côm, tuy hình thức có vẻ chặt chẽ. Cần hiểu kinh nghiệm của các nước để làm cho đúng. Chẳng hạn, ở một số nước chế độ phản biện kín” (blind refereeing) chỉ được dùng cho việc nhận xét các công trình gửi đăng ở các tạp chí khoa học. Luận án tiến sĩ mà cũng áp dụng biện pháp đó để nhận xét có nghĩa là độ tin cậy của nó còn quá thấp, vậy đã nên cho bảo vệ chưa? Trên nguyên tắc, luận án tiến sĩ phải có kết quả khoa học mà giá trị đã được xác nhận do đã công bố ở các tạp chí khoa học nghiêm túc (các tạp chí này dựa vào các phản biện kín trước khi quyết định cho đăng bất cứ công trình của ai, ngay cả tổng biên tập của tạp chí). Khi công trình đã được công bố thì mọi người có thể đọc và kiểm tra. Thành thử, những gì về nội dung chủ yếu của luận án mà cần kiểm tra tính đúng đắn khoa học thì đã công khai trên các tạp chí rồi. Sau đó phải có ý kiến của vài chuyên gia am hiểu (sau này sẽ thành phản biện) thì mới được cho bảo vệ. Hơn nữa ngay từ đầu, việc ai được quyền hướng dẫn luận án, điều kiện tối thiểu bảo đảm chất lượng khoa học của luận án đã được quy định và giám sát chặt chẽ. Như vậy, việc kiểm tra được thực hiện từng phần nghiêm túc trước rồi (chính vì vậy khi bảo vệ thì thường thành công), chứ không phải đợi đến khi sắp bảo vệ mới tiến hành kiểm tra bằng phản biện kín. Nếu tôi làm phản biện kín cho một bài báo thì tôi có thể dễ dàng bác bỏ bài báo, nhưng nếu tôi làm phản biện kín cho một luận án nay mai sắp bảo vệ, thì tôi phải cân nhắc mặt nhân đạo, mặt tình cảm, làm sao tôi nỡ từ chối một cái gì đang ở tầm với của một đồng nghiệp? (Trừ trường hợp quá đáng lắm). Cho nên nếu buông lỏng các khâu nói trên mà đến khi bảo vệ mới có phản biện kín và lập kiểu hội đồng như ta hiện nay (đông nhưng không thực chất) thì hình thức có vẻ nghiêm túc, kỳ thật chỉ để hợp pháp hóa một sản phẩm chưa có quy trình đảm bảo nghiêm ngặt trong sản xuất. Tôi biết có vị tham gia hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, luận án gì cũng phản biện được, thì làm sao nghiêm túc? Đâu có phải hễ là nhà đại khoa bảng toán học thì luận án tiến sĩ nào về toán học cũng phản biện được? Tiếc thay, đó là quan niệm phổ biến hiện nay của chúng ta. Cần biết rằng ngay cả ở nhiều nước phát triển, hội đồng chấm luận án tiến sĩ chỉ có ba đến năm người, trong đó có cả người hướng dẫn mà thường vẫn phải mời thêm chuyên gia nước ngoài mới có đủ người am hiểu luận án. Vi vậy hội đồng như ta thì tất nhiên phải có nhiều vị chuyên gia vạn năng như tôi vừa kể.

Theo tôi, đào tạo tiến sĩ nên lấy phương châm thà ít mà tinh, tuyệt đối không chạy theo số lượng như vừa qua. Nếu ngành nào còn yếu, chưa bảo đảm chất lượng, thì như có người đã đề nghị, nên tạm ngưng lại một số năm để củng cố, trong thời gian ấy cử người đi đào tạo ở nước ngoài. Trong thời buổi văn minh trí tuệ này, học vị rởm, học hàm rởm là loại rởm tệ hại nhất. Theo tin các nhà báo, 2/3 thiết bị máy móc chúng ta nhập mấy năm qua là đồ cũ, lạc hậu, có người nói 2/3 thuốc tân dược trên thị trường là giả hoặc kém phẩm chất, 2/3 học vị, học hàm của chúng ta không đúng. Cái gì cũng đến 2/3 là rởm thì sống làm sao nổi. Người dân chỉ còn biết hy vọng con số 2/3 cũng là con số rởm.

4. CẦN PHÂN ĐỊNH RÕ THẾ NÀO LÀ ĐỀ TÀI KHOA HỌC

SỐ 10/2009

Tôi cho rằng, việc đầu tiên cần phải làm là phân định rõ thế nào là nghiên cứu khoa học và thế nào là nghiên cứu nghiệp vụ của bản thân từng cơ quan. Ví như, cái bàn và cái ghế đều quan trọng, chúng ta đều cần cả. Nhưng đáng lẽ cái gọi là cái bàn thì lại gọi là cái ghế, rồi chúng ta lại than phiền không có chỗ mà viết dù có đủ sách vở, bút giấy. Tình trạng của Việt Nam cũng giống như vậy.

Tôi đã tham gia nhiều hội nghị về các đề tài khoa học cấp Nhà nước của một số ngành. Theo tôi, những cái gọi là đề tài khoa học ấy thực ra thuộc về chức trách, nhiệm vụ của họ. Chẳng hạn, làm giáo dục thế nào cho tốt thì đấy là công việc mà cơ quan lãnh đạo giáo dục cần phải nghiên cứu. Nhưng rồi, việc đó của họ lại thành một đề tài khoa học cấp Nhà nước, được cấp kinh phí, theo tôi dự đoán là khoảng gấp mười, gấp trăm các đề tài nghiên cứu khoa học tự nhiên. Nhiều cơ quan khác cũng có tình trạng đó. Họ đã được nhà nước cấp cho bao nhiêu phương tiện để làm nhiệm vụ của mình, nhưng rồi họ lại “biến” nhiệm vụ đó thành không biết bao nhiêu đề tài nghiên cứu (vì chúng ta quản lý không minh bạch nên khó mà biết được số lượng thế nào). Chẳng hạn như việc nghiên cứu, giảng dạy và viết sách giáo khoa là việc hết sức quan trọng cho giáo dục. Việc đó cần được Bộ Giáo dục khuyến khích và có kinh phí khuyến khích. Nhưng việc đó là thuộc Bộ Giáo dục. Về phương diện khoa học, không thể coi sách giáo khoa là một công trình khoa học được. Trừ khi trong sách giáo khoa đó có nhiều điểm mới về khoa học thực sự có thể coi là công trình khoa học.

Tôi rất thấy làm lạ khi có nhà báo đưa cho tôi một tập các đề tài khoa học của thành phố Hà Nội, trong đó, nhiều đề tài đọc đầu đề lên đã thấy không đâu trên thế giới này coi là đề tài khoa học. Đấy là ở cấp Thành phố. Ở cấp Bộ, tôi chắc cũng có nhiều trường hợp như thế. Tôi dự tính đến 70-80% kinh phí khoa học là để cấp cho các “đề tài” kiểu đó. Còn lại khoảng 20-30% cấp cho đề tài khoa học công nghệ. Bản thân tôi rất coi trọng tất cả các công trình nghiên cứu nghiêm túc ở tất cả các ngành. Tôi không gộp những cái đó vào đây, nhưng quả thật có nhiều công trình không có một giá trị gì cả. Đã vậy lại nhận kinh phí gấp trăm gấp nghìn lần các đề tài khác.

Liên quan đến vấn đề này là việc đánh giá và xem xét hiệu quả các công trình khoa học. Hiện nay xã hội chúng ta có nhiều cách đánh giá khoa học mà tôi cho là quá ấu trĩ. Có người nói, bao nhiêu công trình nghiên cứu khoa học công bố báo này, báo kia trên quốc tế nhưng có tác dụng gì trong nước đâu, cũng chẳng làm ra cơm áo gì. Đó là những quan niệm hết sức sai lầm. Tất cả các nước trên thế giới, đến 90% các công trình nghiên cứu cũng không ra cơm ra áo ngay được. Khoa học là cả một hệ thống. Sở dĩ bây giờ có nhiều thành tựu khoa học kỳ diệu, như là về sinh học, giải mã bản đồ gene người, phóng vệ tinh, thám hiểm cái này cái nọ, máy vi tính…, đó không phải chỉ do công lao của những người làm trong lĩnh vực ấy. Có một nhà toán học suốt đời không quan tâm và cũng chẳng hiểu gì về máy tính. Ông chỉ chuyên nghiên cứu về lý thuyết đồ thị Graph. Nhưng khi ông mất đi, chính các nhà công nghệ thông tin đã nói rằng, ông là một trong những người đã giúp ích nhiều nhất cho sự phát triển của công nghệ thông tin.

Vì vậy, cần có sự phân biệt giữa Khoa học cơ bản và Khoa học ứng dụng. Trong toán học cũng đâ từng có sự phân biệt đó, nhưng rồi người ta nhận thấy: không có cách nào phân chia rạch ròi toán ứng dụng và toán lý thuyết. Chỉ có hai loại: toán tốt và toán tồi. Tôi cho rằng điều đó đúng với khoa học nói chung. Tại sao lại đòi hỏi những nghiên cứu khoa học phải tiến hành làm ra ngô ra khoai ra lúa ra gạo ngay. Nếu như thế thì không chỉ có ta không làm được mà trên thế giới không có nước nào làm được điều đó. Đó là đòi hỏi những cái không thể, vì như vậy là tách từng cái một ra khỏi hệ thống. Tuy không trực tiếp làm ra lúa ra gạo, nhưng trên thế giới này, nếu không có 90% những công trình không có tác dụng ấy thì cũng không thể có 10% các công trình ứng dụng kia.

Gần đây, tôi thấy có những bước tiến lớn đáng vui mừng trong quản lý nghiên cứu cơ bản của Bộ Khoa học và Công nghệ, dù rằng, chúng ta cần phải cải tiến nhiều nữa, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu triển khai. Thay vì nói chuyện chiến lược, hãy nói chuyện soạn thảo và thực hiện nghiêm túc các chính sách cụ thể.

Ngoài ra, còn có một vấn đề lớn về môi trường và điều kiện làm việc của nhà khoa học. Đây là vấn đề không phải chỉ riêng của Bộ Khoa học và Công nghệ mà là của cả xã hội, mà theo tôi, nguyên nhân chủ yếu là do chính sách tiền lương và tham nhũng gây nên. Như trong ngành giáo dục, tính ra số tiền nhà nước và các địa phương đầu tư cho giáo dục cũng như nhân danh đầu tư cho giáo dục, nếu quản lý tốt và không có tham nhũng thì có thể nói là thừa để đảm bảo mức sống hợp lý cho giáo viên cũng như cán bộ giảng dạy ở đại học, để cho họ có thể sống bằng đồng lương và tập trung làm công việc của họ thay vì phải làm tay trái, thậm chí phải làm nhiều việc phi đạo đức (nhiều người làm như vậy mà bản thân họ cũng rất đau lòng).

Muốn nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học thì một điều không thể không làm là chấm dứt tình trạng lấy một phần không nhỏ kinh phí nghiên cứu khoa học để bù đắp cho tiền lương. Nhưng muốn làm được điều đó thì trước hết lương phải thỏa đáng, phải căn cứ vào trình độ, kinh nghiệm của nhà khoa học, và như vậy phải đánh giá đúng trình độ nhà khoa học ấy. Ở tất cả các nước văn minh mà tôi đã có dịp đến, tôi đều thấy các giáo sư, các nhà khoa học sống trên mức trung bình. Họ không phải làm những việc khác ngoài nghiên cứu. Còn kinh phí khoa học của họ phần lớn để đi trao đổi, nhận nghiên cứu sinh, làm thêm thí nghiệm… chứ không phải để bổ sung vào tiền lương.

Chính sách tiền lương hiện nay của chúng ta là một nguyên nhân chủ yếu đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực. Và một hậu quả khác là, vì cơ chế đó cho nên nhiều nghiên cứu không phải là khoa học cũng xưng là khoa học và nhận kinh phí. Đặc biệt là những đề tài động đến những chuyện to tát như đường lối của nhà nước, chính trị, xã hội… rất dễ được cấp tiền “nghiên cứu”.

5. CÓ NÊN ĐẤU THẦU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC?

SỐ 7/2006

Theo thông báo của Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2006 Bộ sẽ dùng ngân sách cấp kinh phí cho 95 đề tài khoa học cấp Nhà nước thuộc các lĩnh vực khoa học công nghệ. Sau khi công bố danh mục các đề tài ấy và mời các nhà khoa học tham gia đăng ký xin thực hiện các đề tài, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức đánh giá các hồ sơ đăng ký và chọn hồ sơ xứng đáng nhất để cấp kinh phí. Cách làm này, gọi tắt là “đấu thầu”, đang được Bộ Khoa học và Công nghệ xem như một sự đổi mới có tính đột phá để cải tiến phương thức đầu tư cho nghiên cứu khoa học.

Thật ra đây không phải là lần đầu tiên phương thức đấu thầu được áp dụng trong việc phân phối kinh phí thực hiện các nghiên cứu khoa học. Chẳng qua trước đây làm không nghiêm túc, lần này chỉnh đốn lại cách đấu thầu để thật sự tạo cơ hội cho các nhà khoa học trẻ có năng lực được tham gia chủ trì các đề tài cấp Nhà nước trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng với các “cây đa cây đề”. Đó là một cố gắng rất đáng hoan nghênh của Bộ Khoa học và Công nghệ, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư cho khoa học.

Tuy nhiên, vấn đề không ở chỗ đấu thầu như thế nào để đạt được yêu cầu “chọn mặt gửi vàng” mà là cần suy nghĩ kỹ hơn, xét xem ngay cái việc chọn 95 đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước để đưa ra đấu thầu có gì vướng mắc không, và liệu việc đưa ra đấu thầu vài chục nhiệm vụ khoa học cấp Quốc gia theo đề án Bộ Khoa học và Công nghệ dự định trình Chính phủ phải chăng là chính sách thích hợp để thúc đẩy khoa học, công nghệ phát triển trong tình hình hiện nay?

Ngày nay, nghiên cứu (nghiên cứu khoa học) có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị của mỗi quốc gia. Hoạt động nghiên cứu được tiến hành ở các trường đại học và viện nghiên cứu, dưới hình thức các đề tài khoa học mà việc thực hiện thường đòi hỏi phải có kinh phí, đôi khi khá lớn. Không kể mỗi trường hay viện cớ những khoản ngân sách riêng cho nghiên cứu, nhà nước còn dành một khoản ngân sách quốc gia để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu trong cả nước. Ngân sách này do một cơ quan trung ương (Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc tương đương) nắm giữ và quản lý. Hoạt động nghiên cứu muốn có hiệu quả cần dành sáng kiến, chủ động tối đa cho từng nhà khoa học, cho nên ở cấp Quốc gia thường chỉ xác định một số hướng khoa học ưu tiên để tập trung đầu tư, còn những đề tài cụ thể cần nghiên cứu trong từng lĩnh vực thì họ để cho các chuyên gia trong lĩnh vực ấy ở từng trường và viện được chủ động lựa chọn. Nhà nước không áp đặt, không chọn thay, chỉ kiểm tra hiệu quả đầu tư qua kết quả thực hiện từng đề tài để điều chỉnh sự đầu tư nhằm tác động tích cực đến hoạt động nghiên cứu. Sở dĩ như vậy vì kinh nghiệm cho biết chỉ có chuyên gia trong từng lĩnh vực, chứ không phải các quan chức hành chính, mới biết được chính xác cần nghiên cứu cụ thể đề tài gì và nghiên cứu như thế nào. Không nước nào thực hiện quản lý bằng cách cơ quan trung ương ban hành danh mục các đề tài cụ thể cần nghiên cứu trong từng ngành khoa học công nghệ rồi chọn người giao nhiệm vụ và cấp kinh phi thực hiện qua cơ chế đấu thầu hoặc tuyển trực tiếp. Kiểu làm đó, về thực chất, không khác gì kế hoạch hóa tập trung quan liêu trong quản lý kinh tế, mà hiệu quả của việc này thấp kém như thế nào thì chúng ta đã biết. Mặt khác, cho dù việc lựa chọn 95 đề tài là chính xác đi nữa (một khả năng có xác suất thấp), thì bản thân việc đấu thầu các đề tài khoa học cũng tiềm ẩn những yếu tố tiêu cực khó tránh. Xây dựng một nhà máy, làm một con đường cao tốc là những việc mà công nghệ cơ bản đã được biết, chỉ có chất lượng tốt hay xấu và giá thành đắt hay rẻ tùy theo phương án, cho nên có thể đấu thầu để lựa chọn phương án tốt nhất, rẻ nhất, hiệu quả nhất. Điều đó hoàn toàn hợp lý và là cách làm phổ biến trong kinh tế. Còn nghiên cứu khoa học là dò dẫm, tìm cái chưa biết, phát triển tri thức mới để giải quyết một vấn đề chưa có giải pháp sẵn, đó là một quá trình sáng tạo không chắc chắn 100%, thường có những yêu tố bất ngờ, nếu nhà khoa học bị buộc phải hứa hẹn kết quả thì họ sẽ hứa vong mạng hoặc chỉ hứa chung chung, không ích lợi gì.

Vì lý do đó, trong quản lý khoa học ở các nước tiên tiến, người ta không đấu thầu để giao kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu định sẵn. Khi nhà khoa học xin tài trợ cho một đề tài do họ tự đề xuất, họ cũng không bắt buộc phải hứa hẹn kết quả này nọ, mà chỉ cần giải trình rõ nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng và tính khả thi của đề tài. Còn đối với những đề tài có tính cấp thiết quốc gia (như liên quan đến an ninh hoặc quốc phòng) thì phải giao việc nghiên cứu cho những chuyên gia hay tổ chức mà năng lực thực tế đã được kiểm chứng, hoặc treo giải thưởng cho thành tích nghiên cứu xuất sắc về đề tài đó nếu có thể công khai được.

Một vấn đề quan trọng khi chấm thầu là các tiêu chí đánh giá. Cách chấm thầu như đã công bố (cho điểm từng mặt theo một hệ thống tiêu chí khá chi tiết) cũng na ná như cách chấm điểm để xét chọn giáo sư, phó giáo-sư, tưởng là chặt chẽ nhưng thật ra khó đảm bảo chính xác được. Ở các nước tiên tiến, khi xét các hồ sơ xin tài trợ nghiên cứu người ta căn cứ vào sự thẩm định của những chuyên gia giỏi trong cùng ngành, ở trong nước hoặc trên quốc tế (peer review), và phải dành đủ thời gian cho các chuyên gia này xem xét kỹ từng hồ sơ. Cách làm đó chưa hẳn hoàn toàn tốt, song dù sao cũng bảo đảm hơn là đưa ra xét chọn trong một hội đồng mà nhiều thành viên không phải là chuyên gia thật sự am hiểu và không loại trừ có thể có quan hệ đặc biệt với một số tác giả hồ sơ. Tiếc thay, đây là cách làm phổ biến ở Việt Nam, từ việc đánh giá luận án tiến sĩ, xét duyệt giáo sư, phó giáo sư đến hàng loạt hội đồng đánh giá khác, hầu như ở đâu cũng có bóng dáng, xa hay gần, của văn hóa “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Trên đây là giả thiết việc đấu thầu diễn ra đàng hoàng, trong sạch, không có chuyện “đi cổng sau” hay “cảm tình riêng”. Trong tình hình Việt Nam ở giai đoạn này, khi mà ngay cả tòa án, thanh tra hay công an cũng không hoàn toàn miễn dịch với tham nhũng, lối quản lý tập trung bao hàm cơ chế xin-cho, dù ở dạng nào, cũng tiềm ẩn những yếu tố thử thách không dễ vượt qua đối với tính trung thực của nhà khoa học (dự thầu) lẫn cơ quan quản lý (chấm thầu). Ta đã có quá nhiều bài học, và theo kinh nghiệm, nên tránh sự cám dỗ hơn là đương đầu với nó.

6. CÓ NÊN NGHIỆM THU CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CƠ BẢN?

SỐ 23/2007

Ngày 18/9 vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành quy định về việc đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên. Theo tôi không ở đâu trên thế giới có chuyện “nghiệm thu” các đề tài khoa học theo như các điều trong quy định đó.

Ở Việt Nam, hiện có hai loại đề tài được tài trợ của nhà nước. Một là các “đề tài trọng điểm”, các “nhiệm vụ quốc gia”, do Bộ Khoa học và Công nghệ lựa chọn và tổ chức đấu thầu để giao trọn một gói kinh phí lớn cho nhà khoa học trúng thầu được toàn quyền sử dụng. Loại đề tài này, sau thời gian kết thúc, sẽ được nghiệm thu. Cả việc đấu thầu và nghiệm thu đều được tiến hành bởi các hội đồng do Bộ Khoa học và Công nghê bổ nhiệm. Loại đề tài thứ hai là đề tài do các cá nhân và đơn vị tự đề xuất, phải được đưa ra xét duyệt mới được cấp kinh phí (thường rất thấp) và liền sau khi kết thúc thời hạn nghiên cứu (từ một đến ba năm) phải báo cáo để được đánh giá nghiệm thu và xếp hạng thuộc loại “đạt”, “khá”, hay “xuất sắc”.

Trước đây việc xét duyệt và nghiệm thu đều không có tiêu chuẩn rõ ràng mà dựa chủ yếu vào kinh nghiệm, cảm tính, hơn nữa các Hội đồng xét duyệt và nghiệm thu đều phần lớn không đủ thẩm quyền chuyên môn làm việc ấy. Gần đây có nhiều ý kiến đổi mới việc nghiệm thu bằng cách xem xét và cho điểm các bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế (gọi tắt là “công bố quốc tế”) trong thời gian đề tài, theo một “barem” phân các tạp chí thành mấy loại, như: loại 1 (điểm cao nhất) là các tạp chí trong danh sách ISI 36 , loại 2 là các tạp chí quốc tế ngoài danh sách ISI, loại 3 là các tạp chí hàng đầu trong nước, v.v., rồi lấy điểm tổng cộng, từ một hạng nào trở lên thì là “xuất sắc”, hay “khá”, hay “đạt”.

Mặc dù là người từ mấy chục năm nay luôn chủ trương đánh giá các thành tựu khoa học cơ bản trên cơ sở các công bố quốc tế và tiến hành theo các thông lệ quốc tế, tôi không an tâm lắm với cách đánh giá bằng chấm điểm theo barem có phần máy móc đó. Từ ngày làm quen các phương pháp định lượng trong đánh giá cũng như phương pháp trắc nghiệm trong thi cử, nhiều người ở nước ta có vẻ tin tưởng tuyệt đối ở các phương pháp này mà không thấy mặt hạn chế của chúng. Tuy các chỉ số định lượng rất có ý nghĩa khi đánh giá hoạt động nghiên cứu của một cộng đồng lớn (chẳng hạn, một ngành học của một quốc gia), nhưng khi đánh giá một cá nhân mà chỉ xét các chỉ số định lượng là không ổn, mà phải kết hợp với đánh giá định tính của các chuyên gia am hiểu, mà mặt định tính này nhiều khi mới là chính. Chẳng hạn, chỉ một bài báo có giá trị rất cao có thể hơn cả mấy tá bài báo xoàng, nhưng điều đó không thể xảy ra nếu chấm điểm theo barem trên. Và cũng không hiếm bài báo ISI chỉ đáng giá zero vì sai hay sao chép từ một bài báo có giá trị đăng ở một tạp chí ít nổi tiếng hơn. Bất cứ ai đã có kinh nghiệm trong các hoạt động khoa học quốc tế đều không lạ gì những chuyện bất thường như vậy. Có điều là những bất thường đó dù sao cũng hiếm, và khi xét hoạt động nghiên cứu của cả một cộng đồng lớn thì những bất thường trung hòa lẫn nhau, cho nên các chỉ số định lượng có ý nghĩa đúng hơn, đáng tin cậy hơn. Điều cần nói thêm là các tiêu chí đánh giá không thể thống nhất như nhau cho mọi lĩnh vực, thậm chí cho mọi ngành trong cùng một lĩnh vực.

Về chuyện có nên nghiệm thu các đề tài nghiên cứu cơ bản như ta làm hay không thì xin có mấy nhận xét như sau.

1. Không ở đâu trên thế giới, theo tôi biết, có chuyện nghiệm thu các đề tài khoa học theo cách đó. Sở dĩ họ không nghiệm thu là vì: a) Muốn đánh giá đúng một thành tựu khoa học cơ bản thường phải có thời gian để thành tựu ấy được công bố và cộng đồng khoa học trong lĩnh vực ấy kiểm tra tính đúng đắn cùng với ý nghĩa thật sự, tầm quan trọng của nó. b) Thời gian từ lúc làm xong một công trình đến lúc công trình ấy được đăng trên các tạp chí quốc tế thường phải mất vài năm, do đó một bài báo đăng trong thời gian làm đề tài rất có thể và thường là đã được làm trong thời gian trước đó, còn phần lớn những gì làm trong thời gian để tài khó có thể kịp đăng hoặc nhận đăng trước khi kết thúc đề tài. c) Ngay ở các nước tiên tiến nhất cũng không thể có một Hội đồng gồm đủ người có thẩm quyền thẩm định mọi công trình thuộc mọi lĩnh vực trong ngành, vì một nhà toán học, hay vật lý, hay sinh học, v.v., nếu có giỏi, cũng chỉ đủ hiểu biết thẩm định được những gì thuộc chuyên môn hẹp của mình, d) Đánh giá một đề tài vào loại khá hay xuất sắc, ngay sau khi nó vừa thực hiện xong, thường là võ đoán và khó chính xác, mà lại không ích gì nếu việc xét duyệt không làm nghiêm chỉnh. Chính do tính chất hình thức đó nên hàng chục năm qua phần lớn các đề tài đều được nghiệm thu xuất sắc hoặc khá. Chưa kể những yếu tố tiêu cực khác làm méo mó mọi sự nghiệm thu kiểu này.

Tóm lại, nghiệm thu chỉ là sáng tác của riêng Việt Nam. Với ý đồ tốt đẹp muốn các hoạt đôgng khoa học của Việt Nam phù hơp thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tại sao không tập trung làm tốt khâu xét duyệt để cấp kinh phí mà cứ khư khư giữ mãi cách nghiệm thu? Chẳng lẽ các nước họ không nghiệm thu vì họ khờ, họ dốt hơn?

2. Không nghiệm thu không có nghĩa là đề tài khi đã được duyệt và cấp kinh phí rồi thì nhà khoa học muốn làm gì thì làm. Hiểu như thế rất sai. Ở bất cứ nước văn minh nào thì làm xong một đề tài được nhận tài trợ đều phải có báo cáo đầy đủ. Chỉ có điều cơ quan quản lý không làm cái việc vô lý là cho điểm, đánh giá giá trị đề tài đó là xuất sắc, hay trung bình, v.v. ngay khi kết thúc thời hạn nghiên cứu mà chỉ dùng báo cáo đó để theo dõi, kiểm tra đề tài đã được thực hiện nghiêm túc, đúng như đã cam kết khi đăng ký để xin tài trợ hay không. Trong đăng ký này, các nước không đòi hỏi nhà khoa học phải hứa sẽ có mấy bài công bố quốc tế, sẽ giải được bài toán cụ thể này, bài toán toán cụ thể kia, vì những lời hứa như vậy được xem là vô nghĩa.

Chủ trì đề tài chỉ phải cam kết nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề gì và mong (chứ không phải cam kết) đạt kết quả gì. Cơ quan quản lý chỉ đòi hỏi đề tài được thực hiện nghiêm túc, còn giá trị đến đâu thì phải có thời gian cho cộng đồng khoa học phán xét. Đòi hỏi đánh giá vội vã giá trị của những nghiên cứu cơ bản để xếp hạng “xuất sắc”, “đạt”, khá, v.v. là do chưa hiểu đặc thù của nghiên cứu khoa học, đó là áp đặt việc nghiệm thu trong xây dựng cơ bản vào khoa học, tưởng là tiên tiến mà thật ra là thô bạo, ấu trĩ, và có thế cản trở thay vì thúc đẩy khoa học. Làm xong một cây cầu, một nhà máy thì có thể nghiệm thu ngay lập tức, chứ còn kết quả khoa học cơ bản vừa mới làm xong mà muốn biết giá trị của nó, không đợi ý kiến phản biện của chuyên gia am hiểu, là chủ quan, khó tránh sai lầm.

Tuy không nghiệm thu ngay được giá trị của đề tài vừa thực hiện xong nhưng sau một thời gian, giá trị ấy được phản ánh qua các công bố của chính đề tài ấy và phản ứng của cộng đồng khoa học, nên sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp và mức tăng tiến nghề nghiệp của đương sự (qua việc xét thưởng, đề bạt, nâng lương, v.v.). Ngay đối với cơ quan tài trợ nghiên cứu thì tuy không đánh giá ngay giá trị của đề tài vừa thực hiện nhưng có thể đánh giá những kết quả ấy khi xét duyệt để cấp kinh phí đề tài sau đó ba năm. Hơn nữa còn có thể định kỳ đánh giá hiệu quả tài trợ trên cơ sở những công bố đã có trong từng thời gian. Làm như thế thì đối với nhà khoa học nghiêm túc có mất gì đâu, có thiệt gì đâu mà lo, chỉ có tốt hơn, đúng hơn, công bằng hơn thôi. Tại sao Việt Nam muốn áp dụng kinh nghiệm quốc tế, mà lại làm khác thông lệ quốc tế? Ngay ở Hà Nội có một nhà vật lý lớn trên thế giới đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động ở Pháp và Mỹ là Pierre Darriulat. Nếu chúng ta còn nghi ngờ thì nên hỏi ý kiến Pierre. Trước đây Laurent Schwartz, một nhà toán học lớn, cũng đã bàn chuyện đánh giá các nghiên cứu khoa học theo các công bố quốc tế, tôi đã sao các ý kiến đó gửi cho cơ quan quản lý và nhiều đồng nghiệp. Theo tôi Việt Nam nên tham khảo ý kiến của các vị ấy, đừng quá tự tin cho minh là sáng suốt hơn họ trong những việc mà chắc chắn họ có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm hơn chúng ta.

3. Điều cơ bản tôi muốn nhấn mạnh là tính bất khả thi của cách nghiệm thu và đánh giá ngay sau khi kết thúc thời gian thực hiện đề tài, nếu làm trung thực. Muốn đánh giá được theo cách cho điểm các công bố trong thời gian thực hiện đề tài, thì ít nhất phải có giả thiết: mọi nghiên cứu vừa làm xong đều có thể viết thành bài báo và được đăng ngay. Giả thiết này rõ ràng không thực tế cho nên nhiều công bố được xét khi đánh giá là về những nghiên cứu đã làm từ trước chứ đâu phải làm khi thực hiện đề tài? Như thế e không trung thực, điều tối kỵ trong khoa học. Có thể biện minh đó không phải là dối trá gì vì công khai và mọi đề tài đều cùng làm một kiểu. Nhưng thế hóa ra tiêu chuẩn trung thực là: công khai hay giấu giếm chứ không phải nói đúng hay sai sự thật? Đây là một cách nghĩ đơn giản có thể dẫn đến hậu quả nguy hiểm. Nếu làm như vậy mà gọi là đánh giá, nghiêm thu việc thực hiện đề tài, thì có thể bị cho là ngụy biên. Tôi có thể dẫn ra ví dụ để thấy rằng cách nói dối ấy có thể đưa kẻ bất lương đến chỗ phạm tội đánh lừa thật sự, nhưng tôi nghĩ không cần thiết. Nếu vì an ninh quốc gia mà nói dối thì còn có lẽ biên minh, ở đây không có lý do đó.

Lại có người bảo rằng dự thảo khả thi vì làm xong đề tài vẫn công bố ngay được các kết quả, và họ dẫn chứng bài của họ chỉ gửi một, hai tháng hay cùng lắm bốn, năm tháng là đăng được, lại còn khẳng định tạp chí nào mà phải đợi mấy tháng mới đăng được bài là tạp chí “có vấn đề” biên tập! Có lẽ những tạp chí đó là báo lá cải, báo nhảm nhí thì đúng hơn. Còn tạp chí khoa học đứng đắn thì chỉ có một số rất ít tạp chí nhận đăng nhanh những bài rất ngắn, không quá ba, bốn trang với tính cách thông báo tóm tắt. Nhưng cũng không nhanh đến thế.

Sở dĩ phải thay đổi cách đánh giá khoa học là vì cách xét duyệt đề tài và phân bổ kinh phí như lâu nay quá bất công, tiêu cực, dẫn đến khi nghiệm thu thì phần lớn đề tài đều là xuất sắc. Đấu tranh chống lại cách làm đó là hết sức cần thiết và đúng đắn. Không đấu tranh là dung túng, đồng lõa với tiêu cực. Nhưng cần đấu tranh cho đúng. Đã dựa theo thông lệ quốc tế thì không nên đưa ra cách nghiệm thu mà quốc tế không nơi nào làm cả, rồi nói liều: đó là vận dụng chuẩn mực quốc tế. Chẳng lẽ việc đấu tranh thay đổi cách đánh giá khoa học không đủ chính nghĩa hay sao mà phải dùng đến những cách mà người khác có thể vu cho là bịp bợm?

Tại sao không đặt nặng vấn đề đánh giá đúng đắn ở ngay khâu xét duyệt và phân kinh phí cho các đề tài? Cải cách việc xét duyệt cho đàng hoàng hơn, công bằng hơn, hợp với thông lệ quốc tế hơn, mà chỉ tập trung vào khâu nghiệm thu để thay một cách làm tắc trách, bậy bạ, bởi một cách làm chỉ mới có vẻ ngoài là bài bản, hợp lý, nhưng thực ra bất khả thi? Theo kinh nghiệm, trong quản lý kinh tế xã hội cũng như trong quản lý khoa học, những ý tưởng dù tốt nhưng bất khả thi thường biến tướng dần và thoái hóa, dẫn đến những kết quả trái ngược ý tưởng ban đầu. Quản lý bao cấp trước đây cũng xuất phát từ ý tốt nhưng bất khả thi nên đã thoái hóa như thế nào chúng ta đều biết quá rõ.

Cuối cùng, một câu hỏi quan trọng: có nhất thiết mọi thành tựu nghiên cứu cơ bản phải được đánh giá qua công bố quốc tế không? Phải chăng trong hoàn cảnh Việt Nam thì đòi hỏi này không thực tế? Nhưng nếu một ngành khoa học có tính quốc tế như các ngành khoa học tự nhiên, kinh tế, y học, v.v., mà không dựa vào các chuẩn mực quốc tế để đo lường từng bước thành tựu của mình thì căn cứ vào đâu so sánh Việt Nam với thế giới, làm sao biết được ta tụt hậu, tụt hậu đến đâu và cần làm gì để gỡ gạc sự chậm trễ?

Gần 10 năm trước chính phủ Việt Nam đã từng mời một đoàn chuyên gia Canada sang khảo sát và góp ý kiến về phương hướng phát triển khoa học và công nghệ. Đoàn khảo sát đã để lại một bản báo cáo và kiến nghị khá chi tiết và theo tôi có nhiều gợi ý tốt, lúc bấy giờ đã được các quan chức Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá cao. Một trong các khuyến cáo trong bản kiến nghị ấy là: nghiên cứu cơ bản mà không đạt đến công bố quốc tế là lãng phí, không nên làm. Theo tôi đó là một lời khuyên chí lý, nhưng hình như cả lời khuyên đó và bản kiến nghị đối với Việt Nam đều chẳng có tác dụng gì, bởi theo Điều 5 của Quy định mà Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành, kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện bằng các công trình (bài báo, báo cáo khoa học) đã công bố hoặc đã được nhận đăng (có giấy nhận đăng của ban biên tập tạp chí, của ban tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, của nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật) trên các loại ấn phẩm khoa học sau:

1. Tạp chí khoa học quốc tế, gồm các tạp chí có tên trong danh sách chỉ số trích dẫn khoa học (Science Citation Index và Science Citation Index mở rộng) do ISI công bố và các tạp chí chuyên ngành uy tín khác do Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước xác định.

2. Tạp chí khoa học quốc gia, gồm các tạp chí hàng đầu do hội đồng xác định dựa trên cơ sở danh sách tạp chí khoa học quốc gia được Hội đồng quy định để xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư.

3. Kỷ yếu của hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế có phản biện do Hội đồng xác định.

4. Kỷ yếu của hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia có phản biện và có giấy phép xuất bản do Hội đồng xác định.

5. Sách chuyên khảo từ kết quả nghiên cứu được xuất bản tại một nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật và có nộp lưu chiểu do Hội đồng xác định.

Như vậy, Quy định này đồng nghĩa với việc cho rằng nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên không nhất thiết phải công bố quốc tế.

7. NÊN TỈNH TÁO VÀ KHÁCH QUAN

SỐ 2/2013

Sau nhiều lần đổi mới, cuối cùng nhiều quan niệm, tư duy, cung cách hoạt động nghiên cứu và quản lý khoa học ở các nước tiên tiến đã dần dần được tiếp thu và phổ biến, tuy chậm chạp nhưng cũng đã đưa lại nhiều thay đổi tích cực, trong đó sự thành lập và hoạt động của Nafosted là một trong những bước tiến đáng kể nhất. Giờ đây chỉ có vấn đề là trong khi kiên quyết đi theo con đường cải cách đúng đắn, Việt Nam cần tỉnh táo và khách quan để tránh những sai lầm không đáng có có thể làm chậm lại bước tiến của mình.

Đánh giá gần đây của WIPO về hiện tình trí tuệ quốc gia của Việt Nam so với các nước trong khu vực có thể được coi là một cảnh báo về những hạn chế, yếu kém trong giáo dục và khoa học. Về điểm này tôi đồng ý với phát biểu gần đây của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân 37 trong cuộc gặp gỡ 150 tài năng trẻ khoa học và công nghệ ( Tia Sáng số 22). Không ai hơn những người trong cuộc cảm nhận rõ sự tụt hậu và yếu kém của khoa học Việt Nam, nhất là khi sự trì trệ đã kéo dài nhiều thập kỷ. Hằng năm không ít nhà khoa học Việt Nam có thời gian lam việc ở nước ngoài và hợp tác với nước ngoài trên cương vị bình đẳng, do đó chúng ta không xa lạ gì môi trường khoa học quốc tế. Mỗi lần đi ra nước ngoài là một dịp day dứt trông người lại nghĩ đến ta. Khổ nỗi bụt nhà không thiêng, cho nên rất cần các bạn đồng nghiệp ở nước ngoài lên tiếng mạnh mẽ chỉ rõ những yếu kém của khoa học Việt Nam, nhất là về cơ chế và chính sách quản lý, điều hành. Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng nên tỉnh táo nhận định đúng mực tình hình, không nên bảo thủ, nhưng cũng đừng quá bận tâm một số thông tin thiếu cơ sở thường dựa trên phân tích những bảng thống kê không đủ tin cậy mà không có điều tra nghiên cứu thận trọng. Chẳng hạn, những khẳng định như “tổng số công bố quốc tế của Việt Nam không bằng của riêng Đại học Chulalongkorn” hoặc “trước năm 2011 toán học của Thái Lan kém Việt Nam, nhưng năm 2011 Thái Lan đã vượt Việt Nam”, “gần 45% những bài báo toán học của Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn”, “trong số bài của ngành toán Việt Nam được trích dẫn, gần 40% là tự trích dẫn, tỉ lệ này cao nhất thế giới”. Những thông tin loại như vậy theo tôi chẳng giúp được gì mà tính xác thực lại rất đáng ngờ.

Về quan điểm “chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế”, cụ thể hơn là bằng sáng chế Mỹ, trên thế giới không ai lấy số lượng bằng sáng chế làm thước đo năng lực của một nhà khoa học, của một nền khoa học. Số lượng bằng sáng chế phản ánh mức độ, chứ chưa phải chất lượng, của hoạt động sáng tạo công nghệ. Bằng sáng chế quá ít, chứng tỏ công nghệ quá yếu kém, đúng là thế, song không phải nước nào có bằng sáng chế nhiều hơn thì ắt phải có công nghệ phát triển hơn (chẳng hạn Hàn Quốc với số dân ít hơn các nước Đức, Anh, Úc nhưng số bằng sáng chế năm 2011 vượt trội nhiều lần, không có nghĩa công nghệ Hàn Quốc đã vượt các nước đó). Với Việt Nam, ai cũng biết mấy chục năm qua đường lối phát triển kinh tế chỉ dựa chủ yếu vào tài nguyên thô và lao động giá rẻ, không dựa vào tăng chất lượng, năng suất, hiệu quả thì lấy đâu ra bằng sáng chế. Điều quan trọng là không nên lẫn lộn khoa học với công nghệ, dù hai thứ đó liên quan khăng khít. Khác với công nghệ, hoạt động sáng tạo khoa học thể hiện chủ yếu ở các công trình khoa học. Khi hầu hết giáo sư ở các nước phát triển không hề có bằng sáng chế nào thì sao có thể trách mấy nghìn giáo sư Việt Nam không có bằng sáng chế. Hơn nữa đăng ký bằng sáng chế ở Mỹ khá tốn kém, cho nên hàng trăm sáng chế của Việt Nam chỉ đăng ký trong nước. Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ thường đi đôi với sự phát triển của khoa học, cho nên số bằng sáng chế ít đến mức nào đó cũng là dấu hiệu khoa học tách rời với công nghệ - hậu quả từ sự bất cập về chính sách quản lý.

Liên quan vấn đề này cần tỉnh táo với quan điểm thực dụng thiển cận, thường khoác áo chính trị “khoa học phải phục vụ đời sống, phục vụ sản xuất” để bác bỏ sự cần thiết của nghiên cứu cơ bản, đòi hỏi mọi nghiên cứu khoa học phải có ứng dụng ngay, mà không biết rằng hơn 99% công trình khoa học trên thế giới đâu có ứng dụng trực tiếp ngay được. Điều có vẻ như nghịch lý nhưng thuộc bản chất hệ thống của khoa học là nếu không có 99% công trình khoa học tưởng như vô ích kia thì cũng chẳng thể có 1% công trình hữu ích nọ. Chưa kể có những phát minh khoa học phải đến nhiều thập kỷ, thậm chí cả trăm năm sau, mới tìm thấy ứng dụng. Cái khó ở đây cũng như trong mọi chuyện quan trọng ở đời là nhận biết và giữ gìn được sự cân đối hài hòa. Cho nên phải thận trọng và kiên nhẫn, nhất là ở các nước đang phát triển, không thể cực đoan thô bạo đối xử với khoa học được. Mặt khác, về phía nhà khoa học tất nhiên không thể vin vào đó để cứ mải mê nghiên cứu trên mây trên gió mà không chú ý những vấn đề có tiềm năng ứng dụng. Nói thế có vẻ như ba phải, song thực tế cuộc sống là vậy, quá chiều này là bất cập, quá chiều kia là thái quá, đều sai.

Trên báo chí có ý kiến phê phán chủ trương xây dựng Viện nghiên cứu cao cấp về Toán học, coi đó là một sự lãng phí, với lập luận, trong bối cảnh hiện nay Việt Nam chỉ cần phát triển các ngành khoa học dùng Toán học (mathematical sciences), chứ hoàn toàn không cần phát triển ngành Toán học. Trước hết cần khẳng định mọi nhà khoa học nghiêm túc trên thế giới đều biết rằng không thể xây dựng khoa học hiện đại mà không cần Toán học. Đương nhiên phản biện bao giờ cũng cần thiết, trong xã hội ta lại càng cần thiết, cho nên việc phê phán các chủ trương phát triển khoa học như lập Viện nghiên cứu cao cấp về Toán học rất đáng hoan nghênh. Chỉ tiếc lập luân ở đây không được xác đáng, nhiều phần khiên cưỡng, khó thuyết phục. Chẳng hạn, để chứng minh chi tiêu cho Toán học ở Việt Nam là quá sang, tác giả dẫn chứng ở một nước giàu như Úc mà kinh phí tài trợ nghiên cứu không được phép chi cho đi dự hội nghị hay trả tiền máy bay để mời chuyên gia nước ngoài về làm seminar (?!). Tác giả cũng so sánh chi phí xây dựng Viện nghiên cứu cao cấp gấp bao nhiêu lần thu nhập bình quân của một người dân để nói rằng chi phí cho Viện là gánh nặng quá đáng cho dân. Thiết tưởng với lập luận như thế có lẽ Việt Nam không nên xây dựng các trường trung học phổ thông, chứ đừng nói trường đại học hay viện nghiên cứu.

Thông thường, yêu cầu cơ bản khi đầu tư là phải tính hiệu quả, tức là cái lợi thu được so với chi phí bỏ ra. Các nước văn minh đều làm như vậy, các nước nghèo càng phải làm như vậy mới mong mau thoát được nghèo nàn, lạc hậu. Chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm đau thương về chuyện này. Lãng phí trong khoa học ở Việt Nam thì không hiếm nhưng cần khách quan để nhận diện đúng những lãng phí nào cần lên án. Viện nghiên cứu cao cấp vừa mới khai trương, phải đợi xem hiệu quả có tương xứng với đầu tư không mới có cơ sở để đánh giá. Tôi nghĩ nếu các bạn đồng nghiệp ở trong nước hay ở nước ngoài tập trung góp ý kiến cụ thể về ngành chuyên môn mình thông thạo thì sẽ giúp ích được nhiều hơn là lấn sang những lĩnh vực mình không am hiểu tường tận. Nhất là trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, kinh tế khó khăn, khoa học yếu kém đang là nỗi bức xúc của mọi người, thì những lời phê phán mạnh mẽ, dù dựa trên những lý lẽ cực đoan đến vô lý, vẫn dễ được một bộ phận công chúng tiếp nhận. Nếu không tỉnh táo, những ý kiến đó có thể tạo áp lực, gây thêm trở ngại không đáng có cho việc phát triển khoa học vốn đã quá khó khăn 80 với các nước khác.

Sau mấy năm hoạt động của Nafosted, kết quả tích cực đã rõ, nhưng do cách đánh giá nhà khoa học nặng về số lượng công trình ISI, ít chú ý chất lượng nên đã có xu hướng chạy theo các tạp chí ISI nhưng chất lượng thấp để dễ đăng bài, khiến các tạp chí trong nước, dù là tạp chí quốc tế nhưng chưa vào ISI thì vẫn không được các tác giả ưa chuộng đăng bài bằng các tạp chí ISI chất lượng thấp. Điều này tạo bất lợi cho việc cạnh tranh của các tạp chí Việt Nam với các tạp chí quốc tế khác. Trước hết cần khẳng định việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng (số lượng công bố, chỉ số trích dẫn, v.v.) làm tư liệu tham khảo để giúp đánh giá các cộng đồng nghiên cứu và cá nhân các nhà khoa học là xu thế tất yếu tại hầu hết các nước tiên tiến. Nhưng số lượng chưa biểu thị chất lượng, và hơn nữa, như nhiều nhà khoa học đã vạch rõ, làm sao một công trình nghiên cứu 170 trang như của Ngô Bảo Châu có thể đem đi so sánh với 17 bài báo 10 trang. Khi đánh giá một cá nhân thì chỉ tiêu định lượng có thế đánh lừa và không bao giờ thay thế được sự phân tích định tính của những chuyên gia am hiểu. Chỉ tiêu định lượng cũng giống như số đo nhiệt độ và các kết quả xét nghiệm về máu v.v. đều rất cần xem xét khi chẩn đoán bệnh, nhưng không thế thay được thầy thuốc. Hơn nữa có những nhà khoa học lớn mà ít công bố, lại có những nhà khoa học xoàng mà công bố rất nhiều.

Tuy nhiên, khi xét hoạt động nghiên cứu của một cộng đồng lớn (như một viện, một trường đại học, hay một quốc gia) thì quy luật số lớn sẽ khử các dị biệt cá thể nên chỉ tiêu định lượng sẽ có ý nghĩa nhiều hơn là khi xét trên cá nhân, đặc biệt nếu so sánh hai cộng đồng cùng một ngành chuyên môn. Dù vậy, đối với Việt Nam, khoa học xã hội do đặc thù ý thức hệ nên rất khó so sánh với các nước khác chỉ bằng số công bố quốc tế. Cho nên các chỉ tiêu định lượng tuy là tư liệu tham khảo cần thiết nhưng cần được sử dụng thận trọng, đối với từng nước, từng ngành, và luôn phải kết hợp với đánh giá định tính của chuyên gia. 38 Các nước phát triển có điều kiện huy động đủ chuyên gia giỏi, trong nước hoặc ở các nước khác, nên việc xem xét mặt chất lượng khi đánh giá không khó khăn. Còn ở các nước kém phát triển như Việt Nam thì thường thiếu chuyên gia giỏi, có uy tín nên có xu hướng sử dụng một cách máy móc các chỉ tiêu định lượng để đánh giá nhà khoa học và cộng đồng khoa học.

So với cách làm tùy tiện trước đây, cách đánh giá như vậy dĩ nhiên có khách quan, tiến bộ hơn, gần hơn với cách làm ở các nước, nhưng dù sao vẫn còn thô sơ, và tới đây, với trình độ phát triển của khoa học, cũng cần cải tiến để chú ý nhiều hơn đến mặt chất lượng, tức là mặt định tính. Chẳng hạn, việc thiếu chuyên gia giỏi có thể khắc phục bằng cách mời chuyên gia quốc tế tham gia đánh giá. Vì thực tế cho thấy chuẩn dựa trên ISI đơn thuần còn quá thô, nên có thể chuyển dần sang cách xếp hạng các tạp chí quốc tế theo A*, A, B, C 39 mà mỗi ngành đều có thể làm được. Dù theo cách nào các bảng xếp hạng cũng chỉ có giá trị tham khảo.

Còn việc dành một phần kinh phí tài trợ cho nghiên cứu để tăng thêm thu nhập cho những nhà khoa học tham gia đề tài, đúng là trong bối cảnh lương quá thấp, việc Nafosted cấp kinh phí tài trợ nghiên cứu khoa học như hiện nay là cần thiết nhưng về lâu dài có thể tiềm ẩn nhiều hệ lụy tiêu cực không mong muốn như: khuyến khích “chạy đề tài”, giành đề tài bằng vận động không lành mạnh; khuyên khích dối trá, thiếu trung thực, thậm chí đạo văn (bệnh này đã ở mức khá trầm trọng), do áp lực thu nhập từ đề tài quan trọng hơn lương; khuyến khích lơ là với những nhiệm vụ khác ít liên quan các đề tài nghiên cứu, v.v..

Để tránh những hệ lụy đó, tốt nhất về lâu dài là phải tiến tới chế độ tương tự như ở các nước phát triển: lương trả theo năng suất tổng hợp, tức là theo nhiệm vụ chức năng, có tính đến thành tích khoa học từ lúc vào nghề, còn kinh phí cấp cho để tài thì không được dùng phụ thêm thu nhập mà chỉ được dùng để tạo phương tiện thực hiện đề tài nghiên cứu như mua sắm thiết bị, trả lương nghiên cứu sinh nếu có, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn, trả phí mời chuyên gia nước ngoài để hợp tác nghiên cứu, v.v.. Muốn làm được như vây điều kiện cần thiết trước hết là phải cải cách chế độ lương, đảm bảo cho nhà khoa học mức sống xứng đáng với năng suất và nhiệm vụ, để có thể yên tâm thực hiện những nghiến cứu cần thiết, dù lâu dài hay khó khăn, mà không phải chịu áp lực cuộc sống chi phối quá nặng như hiện nay. Khi ấy tài nặng khoa học mới có thể được phát huy tối ưu. Xem ra hiện nay triển vọng thực hiện còn thấp, nhưng đó là mục tiêu đúng đắn cần phấn đấu hướng tới.

8. KHÔNG CAO NHƯNG PHẢI HỢP LÝ

SỐ 4/2010

Thời gian gần đây, trên các diễn đàn, người ta nói nhiều về vấn đề lương của giới khoa học. Có ý kiến cho rằng, khó mà làm khoa học trong điều kiện lương bổng như hiện nay, đồng thời lại có ý kiến cho rằng nhà khoa học phải biết dấn thân và hy sinh để làm nghiên cứu. Giáo sư Hoàng Tụy đã có cuộc trao đổi với Tia Sáng xung quanh chủ đề này. (Tạp chí Tia Sáng)

KHÔNG CAO NHƯNG PHẢI HỢP LÝ

Không nhà khoa học nào đòi hỏi đời sống vật chất cao mới làm việc - những người như thế cũng không thể làm khoa học. Nhưng nhà khoa học mà phải chạy ăn hằng ngày hoặc phải làm thêm mới đủ sống thì cũng không thể làm chuyên môn tốt được. Lương của nhà khoa học vì thế cần bảo đảm cho họ một mức sống hợp lý, trên mức trung bình của xã hội, để họ được giải phóng khỏi nỗi lo cơm áo gạo tiền.

Đồng lương thấp dễ gây ra chảy máu chất xám. Các nhà khoa học có tài sẽ ra nước ngoài sống hoặc không về nước sau khi được gửi đi đào tạo. Tuy nhiên tôi không nghĩ những người đó là không yêu nước. Với đồng lương thấp, họ không thể yên tâm làm việc, giao thiệp quốc tế khó khăn; trong khi ở nước ngoài lương cao, điều kiện làm việc tốt, năng lực của họ tiếp tục được phát triển - việc họ không quay về cũng là chính đáng. Thay vì phê phán họ, chúng ta nên có chính sách thiết thực để tránh mất dần đội ngũ cán bộ khoa học có tài.

Mặt khác, đồng lương thấp cũng khó giữ tài năng cho các nhà khoa học trẻ. Muốn làm khoa học có kết quả, ít nhất trong 10 năm đầu, nhà khoa học trẻ phải dành toàn tâm, toàn ý và toàn thời gian cho nghiên cứu. Nếu không được như vậy, năng lực của họ sẽ bị phân tán và mai một.

HAI PHẦN TÁCH BẠCH

Phải thấy rằng, ngoài nhu cầu vật chất như bất kỳ người bình thường nào, nhà khoa học còn có những nhu cầu đặc thù khác.

Trước hết, đó là nhu cầu trao đổi với bạn bè đồng nghiệp, nhu cầu được làm việc trong những nhóm khoa học để cùng nhau hình thành nên những ý tưởng độc đáo. Điều kiện sống chưa dư dả rõ ràng là một nguyên nhân khiến lâu nay trong nước chưa hình thành được các nhóm khoa học mạnh, bên cạnh việc không ít nhà khoa học có tài đã chọn sống và làm việc ở nước ngoài. Tôi biết ở Pháp có một nhóm các nhà toán học trẻ hằng năm gặp nhau cả tháng trời để cập nhật tình hình và để phê phán nhau triệt để. Ở Việt Nam thì khó mà làm như vậy, nếu không có nhà nước tài trợ, nhà khoa học lấy đâu ra kinh phí để vào Huế hay Sài Gòn họp với đồng nghiệp trọn tháng.

Ngoài ra, bất kỳ nhà khoa học nào cũng đều có nhu cầu giao du với bạn bè quốc tế. Nếu mức sống giữa họ và các bạn đồng nghiệp nước ngoài quá chênh lệch sẽ dễ nảy sinh mặc cảm. Ví dụ, tôi được bạn mời nhưng đến khi muốn mời lại bạn thì tôi không có tiền. Trước đây mấy chục năm, các bạn hiểu cho ta thôi và và chúng tôi cũng thấy có vấn đề gì, nhưng ngày nay, sự mặc cảm đó, giống như những gì các nhà khoa học Đông Âu từng trải nghiệm trong mối quan hệ với đồng nghiệp Tây Âu một thời, không phải ai cũng dễ dàng vượt qua.

Nhà khoa học còn có nhu cầu đăng bài trên các tập san quốc tế. Viết báo thông thường thì được nhuận bút, trong khi viết các bài khoa học đã tốn công sức mà không bao giờ có nhuận bút, đó là chưa kể một số tập san còn đòi trả hàng trăm đô-la mới đăng bài. Với các nhà khoa học nước ngoài có kinh phí nghiên cứu thì không thành vấn đề, nhưng các nhà khoa học của ta hầu như chưa có khoản đó, mà nếu có, lại thường được coi như khoản bù đắp thêm cho chi phí sinh hoạt.

Bất kỳ ai làm khoa học đều phải lo lưu trữ tư liệu. Ở các nước tiên tiến, các nhà khoa học vững rồi đều có thư ký giúp việc, ít thì cũng 3-4 nhà khoa học chung một thư ký. Nếu nhà khoa học tự làm lấy mọi việc thì sẽ mất thời gian cho khoa học và hăng suất nghiên cứu sẽ giảm. Trước đây từng có một so sánh về năng suất làm việc giữa giáo sư Liên Xô và giáo sư Mỹ chỉ ra rằng năng suất của giáo sư Liên Xô kém giáo sư Mỹ một phần do ở Mỹ, những việc không cần đến trí óc của giáo sư thì đều có người khác làm thay, trong khi ở Liên Xô, chỉ những nhà khoa học làm lãnh đạo mới được hưởng điều kiện đó.

Vì nhiều lẽ như thế, chính sách về lương cho nhà khoa học cần tách bạch thành hai phần, phần để bảo đảm điều kiện sinh hoạt bình thường, phần để bảo đảm điều kiện nghiên cứu. Ở ta, trong khoa học cơ bản mãi gần đây mới thực hiện việc đó nhưng bản chất vẫn nhằm tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho nhà khoa học.

KHÔNG THỂ ĐÒI HỎI AI CŨNG LÀ PERELMAN

Cái nhìn thực tế là như vậy. Khi bàn vấn đề chính sách lương cho cán bộ khoa học, tôi không bao giờ nhằm đến hai đối tượng: một là những người quá chú trọng tiền tài, đặt tiền tài lên trước sự nghiệp; hai là những người dấn thân bất chấp mọi trở ngại (nhân đây, tôi xin nói thêm, theo tôi, dấn thân không có nghĩa là chấp nhận làm việc trong những điều kiện sống và làm việc tồi tệ). Hai đối tượng này đều thuộc số ít, trong khi theo tôi, làm chính sách là phải hướng đến số đông của cộng đồng.

Một chính sách về khoa học chỉ nhằm vào những người có tinh thần hy sinh thì chính sách đó không thực tế, chỉ là hô hào suông; nó đồng thời cũng hết sức vô lý khi đòi hỏi sự hy sinh đơn phương từ phía các nhà khoa học, một vấn đề không được đặt ra với các ngành nghề khác.

Mới đây, nhà toán học nổi tiếng người Nga Grigori Perelman từ chối giải thưởng trị giá một triệu đô-la của Viện Toán học Clay với tuyên bố: “Tôi không cần gì hết. Tôi đã có tất cả những gì mình muốn”, mặc dù ông sống trong căn hộ quá sức giản dị. Trong khoa học luôn có những con người đáng nể phục như vậy, tuy nhiên lấy đó làm gương để theo thì bản thân tôi, một người làm khoa học mấy chục năm, thú thật là không thể. Nếu ở địa vị của ông ấy, tôi không làm như vậy và tôi không mặc cảm hay xấu hổ gì khi nói ra điều này. Không nên và không thể đòi hỏi nhà khoa học nào cũng phải như Perelman, coi thường vật chất đến cực đoan.

Cách đây ít lâu, tôi nghe kể một vị lãnh đạo khi bàn về vấn đề lương cho các nhà khoa học đã nói đại ý, lương của lãnh đạo như ông mới được 7-8 triệu một tháng thì lương nhà khoa học làm sao có thể 10-12 triệu/tháng được. Có lẽ vị lãnh đạo đó chưa biết, ngay ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, lương của ông Chủ tịch Viện Hàn lâm đã cao ngang lương Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tôi nhớ, ông Trần Bạch Đằng từng viết trong một bài báo rằng, lương nhà khoa học cao ngang lương Chủ tịch nước hay Thủ tướng cũng là bình thường bởi đóng góp trí tuệ của họ là nền tảng cho các tiến bộ trong xã hội.

9. QUAN TRỌNG HƠN CẢ LÀ PHẨM CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT

SỐ 4/2017

Gần đây lại nổi lên vấn đề tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư, theo tôi tại các nước phát triển chẳng mấy nơi có tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư viết thành văn thật cụ thể. Tại sao như vậy? Vì người ta tin rằng hội đồng tuyển chọn có trình độ phù hợp để hiểu đúng yêu cầu đối với đối tượng cần chọn mà không cần dựa vào những tiêu chuẩn tường minh nào cả.

Trong thực tế chỉ khi hội đồng tuyển chọn chưa đủ độ tin cậy về độ công tâm và/hoặc trình độ thì mới cần đưa ra tiêu chuẩn. Cho nên cái đáng quan tâm là hội đồng tuyển chọn gồm những ai, có đáng tin cậy về trình độ và công tâm hay không, chứ không phải tiêu chuẩn cụ thể đã hợp lý chưa hay cần sửa đổi như thế nào. Tiêu chuẩn nếu chỉ coi là điều kiện cần (chứ không đủ) thì cũng nên có, nhưng khi ấy thì phải cụ thể để không thể vận dụng tùy tiện.

Tôi còn nhớ cách đây 30 năm, khi Việt Nam bắt đầu xúc tiến phong các chức danh giáo sư, phó giáo sư, có lần ông Tổng thư ký Hội đồng Xét duyệt Giáo sư-Phó Giáo sư hãnh diện tuyên bố trước bàn dân thiên hạ rằng các giáo sư, phó giáo, sư vừa được xét phong đều ngang tầm quốc tế. Tưởng rằng một tuyên bố như thế được hoan nghênh chào đón, không ngờ nó làm dấy lên một cuộc tranh luận gay gắt xung quanh trình độ của bản thân: Hội đồng Xét duyệt. Nhiều người đặt câu hỏi thẳng thắn: Hội đồng Xét duyệt đã chắc đâu ngang tầm quốc tế, ngay chính ông Tổng thư ký cũng chắc đâu xứng đáng giáo sư theo chuẩn mực quốc tế, nên cái tuyên bố nói trên chẳng có ý nghĩa gì hơn là biểu thị sự huênh hoang khoác lác của người quản lý kém cỏi.

Sau này khi việc xét phong giáo sư, phó giáo sư được chỉnh đốn dần mới rõ ra một bộ phận khá đông thành viên Hội đồng Xét duyệt trước đây chưa nắm được thế nào là giáo sư theo chuẩn mực quốc tế thông thường. Thậm chí ngồi trong Hội đồng Xét duyệt Giáo sư còn có cả một số người mới chỉ là ứng viên, mà cũng chưa phải ứng viên sáng giá gì, cho chức danh phó giáo sư! Sở dĩ có chuyện kỳ quặc như vậy một phần quan trọng là do thời ấy danh sách Hội đồng không được bầu chọn dân chủ nghiêm túc mà do Ban Tổ chức Trung ương quyết định võ đoán dựa trên những tiêu chuẩn nặng về chính trị. Oái ăm nhất là việc xét duyệt danh sách đề cử giáo sư, phó giáo sư ở mấy cơ quan lớn như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Viện Khoa học Việt Nam (ngày nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), đều do phòng tổ chức ở đấy quyết định, mà phụ trách phòng này ở cả ba cơ quan không may đều là cán bộ chính trị trình độ học vấn chỉ đến cấp hai phổ thông.

Với tình hình ấy dĩ nhiên cần có các tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư cụ thể được chừng nào hay chừng ấy để hạn chế bớt những sai lầm. Khổ nỗi phần đông cũng chẳng có mấy ai có khái niệm rõ về giáo sư theo chuẩn mực quốc tế để nêu ra tiêu chuẩn đúng đắn. Nhiều người vẫn quan niệm giáo sư, phó giáo sư là những phẩm hàm để vinh danh, chứ không nghỉ đó là những chức vụ cụ thể. Ngay cả nhiều lãnh đão cấp cao của hai ngành giáo dục, khoa học lúc bấy giờ, khi đã được trao quyền xét duyệt thì cũng tự cho mình hiểu biết hết, cho nên nhiều tiêu chuẩn định lượng đưa ra có vẻ chặt chẽ chính xác mà thật ra máy móc đến mức ấu trĩ. Đã thế Hội đồng Xét duyệt lại gồm nhiều người thiếu công tâm, thích ai thì dễ dãi, ghét ai thì khó khăn. Tôi nhớ có một trường hợp có bằng tiến sĩ ở Pháp, chuyên về tối ưu, đã giảng dạy mấy năm ở Đại học Quy Nhơn, có nhiều công bố quốc tế được các chuyên gia tối ưu ở Viện Toán đánh giá cao, nên khi đưa ra xét để phong Phó Giáo sư thì toàn Hội đồng cơ sở nhất trí ủng hộ (khi ấy Hội đồng này là Hội đồng ở Viện Toán vì Đại học Quy Nhơn chưa đủ điều kiện thành lập Hội đồng riêng), thế mà đưa lên Hội đồng ngành thì bị bác chỉ vì một thành viên của Hội đồng Chức danh nhà nước nhất quyết chống lại mà không có lý do xác đáng nào cả. (Trong trường hợp này, ý kiến ủng hộ của cả một tập thể gồm những chuyên gia tối ưu hàng đầu cả nước vẫn không có giá trị gì trước ý kiến cá nhân một ông Tổng thư ký chẳng hiểu tí gì về tối ưu.) Chuyện vô lý, bất công như vậy nhưng hệ thống cứng nhắc đến mức nhiều nhà khoa học có uy tín kiến nghị đi kiến nghị lại vẫn không thay đổi được.

Cho nên kinh nghiệm của các nước cũng như của chính chúng ta đều cho thấy không nên mất nhiều thì giờ thảo luận về tiêu chuẩn mà nên quan tâm nhiều hơn lựa chọn đúng đắn hội đồng xét duyệt. Thật ra không có tiêu chuẩn định lượng nào có thể thay thế được sự đánh giá định tính của chuyên gia đủ thầm quyển học thuật.

10. CHỐNG GIAN DỐI, BẢO VỆ LIÊM KHIẾT KHOA HỌC

- XUÂN 2014

Gian dối khoa học cũng cùng một loại bệnh như tham nhũng. Cho nên việc chống gian dối trong khoa học để bảo vệ sự trung thực, liêm khiết khoa học là yêu cầu bức thiết, cần quyết liệt ngay từ sớm, đừng để nó phát triển đến giai đoạn di căn không kiểm soát nổi.

Một hình thức khá phổ biến của gian dối khoa học là đạo văn. Căn bệnh này trong xã hội ta đã từng bị phát hiện từ nhiều thập kỷ trước, khởi đầu trong toán học. Lý do có lẽ vì trong toán học, khi một kết quả khoa học bị phát hiện là sao chép từ một công trình đã công bố thì rất khó chối cãi được.

Dù sao thì những vụ đạo văn trong khoa học tự nhiên thuở ấy vẫn còn hiếm. Một phần vì thuở ấy các nhà khoa học ta chưa có nhiều công trình công bố quốc tế, và cũng chưa bị nhiều áp lực phải có công bố quốc tế. Nhưng khoảng 10 năm nay, tình hình đã thay đổi. Do xu thế hội nhập, công bố quốc tế ngày càng quan trọng đối với nhà khoa học. Từ đó đã nảy sinh không ít hiện tượng tiêu cực, và đạo văn xuất hiện ngày càng nhiều.

Cách đây ba nam trong ngành Vật lý từng có một vụ đạo văn rất tai tiếng. Một bài nghiên cứu vật lý của một số tác giả Việt Nam đã được đăng trực tuyến trên một tạp chí quốc tế có uy tín nhưng sau đó không lâu đã bị gỡ, với cáo buộc nặng nề là sao chép từ công trình của các tác giả khác ở nước ngoài. Tạp chí quốc tế có uy tín tất nhiên có cơ chế bình duyệt khắt khe, nhưng cũng không thể tránh khỏi thỉnh thoảng có trường hợp bài kém hoặc đạo văn vẫn lọt lưới. Có điều khi đã phát hiện ra có đạo văn thì họ xử lý thẳng tay, không chút nể nang, vì đó cũng là cách bảo vệ uy tín của tạp chí.

Tiếp theo vụ đạo văn tai tiếng đó, năm sau (2012) trong toán học lại xảy ra một vụ lùm xùm về đạo văn. Tuy vụ này chưa gây tai tiếng trên quốc tế vì cả bài gốc lẫn bài sao chép đều là của tác giả Việt Nam và đăng ở những tạp chí không mấy tiếng tăm, nhưng đáng tiếc việc xử lý trong nước không dứt khoát nghiêm minh, để tranh cãi kéo dài quá lâu làm mọi người tham gia ý kiến đều mệt mỏi, cuối cùng đành bỏ cuộc. Mà vấn đề thật ra cũng đâu có phức tạp gì lắm. Khi ông A đăng một bài báo mà hết ba phần tư là sao chép nguyên si từ một bài báo khác đã công bố trước thi theo chuẩn mực quốc tế dứt khoát về lý đó là đạo văn, chưa cần xét nguyên nhân. Nhưng sau một hồi truy tìm được biết nội dung phần bài mà ông A sao chép là kết quả chung của một nhóm nghiên cứu trong đó A có tham gia tích cực, nhưng khi công bố kết quả này thì ông B - người hướng dẫn nhóm - đã phạm sai lầm khi không ghi A là đồng tác giả. Như vậy cả hai người đều vi phạm đạo đức khoa học vì đã tìm cách tước đoạt kết quả nghiên cứu của nhau. Lẽ ra cả hai đều cần đăng bài công khai giải trình và nhận lỗi trước công luận thì việc cũng chỉ dừng ở đó. Nhưng đáng tiếc chúng ta đã không làm được như vậy. Vụ lùm xùm không được xử lý đúng đắn đã tạo một tiền lệ không hay về bảo vệ sự liêm khiết khoa học.

Điều nguy hại nhất hiện nay là hiện tượng bùng nổ đạo văn trong khoa học xã hội. Theo báo chí, trong vòng ba, bốn năm gần đây đã có đến hàng chục vụ luận án tiến sĩ về khoa học xã hội bị phát hiện đạo văn. Đặc biệt đáng chú ý, có một luận án tiến sĩ từng được bảo vệ xuất sắc cách đây 10 năm (và tác giả nhờ đó đã được công nhận chức danh PGS), bỗng nhiên bị phát hiện có đến một phần ba nội dung sao chép nguyên si từ một công trình của tác giả khác đã công bố trước, ở nước ngoài trong trường hợp này vị tiến sĩ bị phát hiện đạo văn thường tự giác nhận lỗi và từ chức ngay chứ không cần đến tòa án phán xử. Nhưng ở nước ta, với nhận thức kém cỏi về đạo đức khoa học, người bị phát hiện đạo văn chẳng những không nhận ra lỗi mà còn kịch liệt phản đối, thậm chí kiện cả ra tòa cơ quan hữu trách đã xử lý họ.

Công bằng mà nói, đạo văn không hoàn toàn chỉ là vấn đề ý thức đạo đức khoa học. Có thể còn do nhận thức chưa đúng đắn, chưa chặt chẽ về đạo đức nghề nghiệp, hay do trong một vài ngành chưa có chuẩn mực rõ về cách viết, cách công bố một công trình nghiên cứu khoa học. Nhiều người đạo văn dù biết rõ hành vi đó cũng xấu xa như ăn cắp, nhưng cũng nên tin rằng có người khác chỉ đạo văn một cách vô tư, không hề nghĩ rằng sao chép một kết quả nghiên cứu khoa học đã được công bố vào một bài được ký tên mình chẳng khác gì công khai chiếm hữu kết quả đó. Trong khoa học tự nhiên, một luận án tiến sĩ mà có đến một phần ba nội dung sao chép nguyên si từ công trình của người khác thì dù có ghi rõ nguồn trích dẫn hay không cũng đều không thể coi là công trình nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng trong khoa học xã hội có vẻ điều đó chưa được coi là hiển nhiên lắm. Ngoài ra, đối với công bố quốc tế trong khoa học thi từ lâu đã có những quy ước cụ thể, tuy bất thành văn nhưng đã được chấp nhận rộng rãi, về cách bố cục, cách dẫn nhập vào đề tài được khảo sát, cách trích dẫn tư liệu, v.v. sao cho rạch ròi đâu là kết quả của chính tác giả, đâu là kết quả của người khác. Có thể do chúng ta ít có công bố quốc tế về khoa học xã hội nên chưa quan tâm đúng mức đến các quy ước đó chăng. Tóm lại, muốn bảo vệ liêm khiết khoa học thì trước hết cần tôn trọng những chuẩn mực về công bố quốc tế ngay cả trong lĩnh vực khoa học xã hội.

11. THIẾU CƠ HỘI THAM GIA SINH HOẠT QUỐC TẾ, NỀN KHOA HỌC SẼ BỊ CÔ LẬP

SỐ 11/2016

Theo tôi, cơ chế quản lý các viện nghiên cứu cơ bản như hiện nay cũng đã tương đối ổn, ít nhất đối với các viện về khoa học tự nhiên. Tuy nhiên nhiều việc còn phụ thuộc vào cấp trên trực tiếp (như viện hàn lâm hay bộ chủ quản) mà ở cấp này vẫn còn một số mắc mứu chưa được giải quyết thỏa đáng. Và một trong số đó có lẽ là mức độ hội nhập quốc tế ở khoa học cơ bản của ta nói chung còn yếu và thiếu cơ chế khuyến khích ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cơ bản.

1. THU HÚT CHẤT XÁM

Nhớ lại những năm 1970, chúng ta cũng đã từng có một chương trình phát triển toán học trong 20 năm, na ná như “Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước phát triển Toán học”, trong đó điểm nhấn quan trọng là thành lập Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM), tuy không hoành tráng bằng. Chương trình này với điểm nhấn là xây dựng Viện Toán, nhưng không được dành riêng một khoản kinh phí lớn nào. Thời ấy, đất nước bị cô lập với khối tư bản nên khởi đầu chỉ có thể gửi được người đi đào tạo hoặc nâng cao trình độ ở Liên Xô, Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Dân chủ Đức. Dần dần, nhờ quan hệ với Pháp, Nhật Bản được tái lập, việc hợp tác với hai nước này dễ dàng hơn, qua đó họ đã giúp Việt Nam rất hiệu quả trong việc đào tạo cán bộ nghiên cứu trình độ cao.

Trong giai đoạn đất nước đang chiến tranh, phải trải qua vô vàn khó khăn, trở ngại, một số nhà toán học hàng đầu như Laurent Schwartz, Alexander Grothendieck, Didier Dacunha-Castelle, Bernard Malgrange, Klaus Krickeberg - những trí thức vốn có cảm tình đặc biệt với Việt Nam từ lâu - cùng với một số giáo sư Việt kiều có lòng với đất nước như Bùi Trọng Liễu, Nguyễn Xuân Lai (Charles Castaing), Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng, rồi về sau thêm cả Neal Koblitz trong ủy ban Mỹ về Hợp tác Khoa học với Việt Nam, đã không quản gian lao và cả nguy hiểm mang đến cho chúng ta, cùng với tri thức và kinh nghiệm nghiên cứu, nhiều sách báo, tài liệu khoa học - những thứ chúng ta không mua được vì không có ngoại tệ. Grothendieck mở lớp giảng suốt ba tuần lễ, hằng ngày trừ chủ nhật, lên lớp buổi sáng, tiếp người học buổi chiều, ngay bên miệng hầm tránh máy bay. Sau đó đến lượt hai ông bà Schwartz cũng sang Hà Nội giảng dạy suốt một tháng, các anh Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng, Alain Chenciner mở seminar liền mấy tuần lễ. Đồng thời họ cũng cố gắng tìm cơ hội đưa một số cán bộ Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài. Đặc biệt anh Frédéric Phạm còn biệt phái sang công tác hẳn ở Viện Toán trọn cả năm từ năm 1980 đến năm 1981 (đem theo cả vợ con), xây dựng một nhóm nghiên cứu mạnh theo chuẩn mực quốc tế. Sự giúp đỡ tận tình đó đã tạo một cú hích thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của Toán học trong một thời gian ngắn, đặc biệt trong một số ngành lý thuyết hiện đại sở trường của Pháp và từ đó lan tỏa ảnh hưởng sang các lĩnh vực khác. Tiếp theo đó, từ giữa những năm 1980, Viện Toán tranh thủ được một số khá lớn suất học bổng nghiên cứu Humboldt có tính cạnh tranh quốc tế cao của Cộng hòa Liên bang Đức (17 suất trong vòng mấy năm), đồng thời hợp tác có hiệu quả với Nhật Bản và Viện Hàn lâm Thế giới Thứ ba ở Italy. Từ đó, từng bước, Viện Toán tiến lên thành một cơ sở nghiên cứu nghiêm túc, vững vàng, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu và nhà khoa học thành danh trên quốc tế.

Tất nhiên, thời đó ở cấp quốc gia cũng có những nhà lãnh đạo khoa học như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, vừa có tấm lòng vừa có đầu óc chiến lược, tầm nhìn xa. Tình hình ngày nay đã khác nhiều, trong nước cũng như trên thế giới. Nhưng chắc vẫn có vài kinh nghiệm thời ấy còn giá trị. Chẳng hạn, việc thu hút các nhà khoa học lớn trên thế giới và chất xám Việt kiểu như thế nào cho có hiệu quả thiết thực. Về vấn đề này vừa qua chúng ta đã làm được một số việc tốt. Tuy nhiên tôi nghĩ lẽ ra có thể làm tốt hơn. Đành rằng bây giờ sẽ không thực tế nếu đòi hỏi những Việt kiều có danh tiếng về nước cả năm trời như Frédéric Phạm, hay gắn bó thường xuyên với đất nước như Lê Dũng Tráng, nhưng có lẽ VIASM cũng không nên, như tôi đã có lần góp ý kiến, mất công mời người nước ngoài về chỉ để hướng dẫn anh em khoa học trong nước cách viết bài công bố quốc tế như thế nào.

2. ĐÀO TẠO CÁC NHÀ KHOA HỌC TRẺ THÀNH DANH

Một vấn đề lớn của đội ngũ nghiên cứu khoa học cơ bản (và Toán học nói riêng) của Việt Nam là tuổi tác của những nhà khoa học đã thành danh trên quốc tế. Nói chung so với nhiều nước, đội ngũ này tuổi trung bình tương đối cao mà ngày càng tăng, trong khỉ lực lượng trẻ tiếp sức ở trong nước hình như còn khá mỏng, tuy tiềm năng có lẽ không thiếu. Trong điều kiện của một nước như Việt Nam, một nhà khoa học trẻ muốn thành danh trên quốc tế không thể chỉ quanh quẩn ở trong nước. Chúng ta đã có không ít nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài (Nga, Pháp, Mỹ, Đức) nhưng đến khi thành tài thì số đông họ không trở về, chủ yếu vì đã quen sống và làm việc có hiệu quả trong môi trường khoa học nước ngoài, về nước ngại tài năng khó phát triển.

Không thể trách cứ những anh em đó, nhưng lẽ ra chúng ta nên chú ý nhiều hơn đào tạo cả những nhà khoa học trẻ phát triển và thành danh quốc tế ngay từ quá trình làm việc trong nước - một điều không dễ nhưng không đến nỗi không làm được.

Trong nước thường có thể đào tạo giai đoạn đầu cho những nhà khoa học trẻ xuất sắc, nhưng để họ trưởng thành nhanh và có vị trí trên quốc tế thì chỉ môi trường ở trong nước là không đủ. Trường hợp chỉ nghiên cứu cô độc trong nước mà nổi tiếng thế giới như Srinivasa Ramanujan của Ấn Độ là ngoại lệ vô cùng hiếm hoi. Cho nên cần tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ trong nước được tiếp xúc, giao lưu rộng rãi với đồng nghiệp nước ngoài, được tắm mình trong môi trường quốc tế, hòa mình thật sự vào đó mà hoạt động và trưởng thành, chỉ có thế tài năng của họ mới có thể phát triển hết cỡ.

Thời gian qua, chúng ta đã chú ý khuyến khích công bố quốc tế, và từ khi có Nafosted, số lượng và chất lượng công bố quốc tế đã tăng đáng kể. Đó là một thành tích đáng ghi nhận. Nhưng vị trí quốc tế của một nền khoa học không chỉ ở số lượng công bố quốc tế mà chủ yếu ở số lượng và tầm cỡ những nhà khoa học thành danh quốc tế. Giai đoạn bây giờ là phải tiến lên xa hơn trước, phải có khát vọng cao hơn, tiến đến có nhiều nhà khoa học tầm cỡ quốc tế chứ không chỉ có nhiều công bố quốc tế nhàng nhàng, bởi nếu không có lực lượng khoa học tinh nhuệ làm nòng cốt thì trong thế giới biến chuyển cực nhanh này, chúng ta sẽ mau chóng bị bỏ lại sau.

3. TẠO MÔI TRƯỜNG TRAO ĐỔI QUỐC TẾ

Bất cứ khoa học nào cũng đều cần môi trường trao đổi quốc tế rộng rãi thể hiện qua các tạp chí khoa học quốc tế, hội thảo, hội nghị và nhiều hình thức sinh hoạt học thuật khác được tổ chức thường xuyên trên thế giới. Thi thoảng cũng có những hội thảo quốc tế được tổ chức ở Việt Nam, đó là những cơ hội rất tốt cho giới khoa học trong nước. Cho nên phải dành kinh phí thích đáng và huy động lực lượng khoa học của ta, ở cả trong nước và nước ngoài, để tổ chức tốt những hội thảo đó. Song dù thế nào thì phần lớn các sinh hoạt học thuật quốc tế quan trọng ít nhiều đều ở nước ngoài, chủ yếu ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Úc hay châu Âu. Chi phí cho các nhà khoa học Việt Nam, nhất là người trẻ, tham dự các sinh hoạt học thuật đó thường vượt quá xa đồng lương hiện nay của cá nhân, nên phải có cơ chế tài trợ bao gồm hội nghị phí, vé máy bay khứ hồi và tiền ăn ở tại hội nghị. Cho đến nay chúng ta chưa có cơ chế đó (hoặc đã có nhưng xem ra còn nhiều khó khăn khi thực hiện), và hình như rất ít người quan tâm chuyện này, nên các nhà khoa học trẻ tài năng nhưng rất khó có cơ hội tham gia các sinh hoạt khoa học quốc tế, do đó cũng khó có sức bật phát triển như mong muốn. Trong khi đó, ngay cả ở các nước tiên tiến mà đồng lương của các nhà khoa học cao hơn hẳn chúng ta, hằng năm các đại học và viện nghiên cứu vẫn dành nhiều nguồn kinh phí tài trợ cho những thành viên của họ tham gia các sinh hoạt học thuật quốc tế, coi việc đó là nhiệm vụ cần thiết, đôi khi còn là vinh dự để đảm bảo và nâng cao uy tín của họ trên trường quốc tế.

Trường hợp cụ thể thường xảy ra trong chuyện này là thỉnh thoảng có những hội thảo quốc tế ở nước ngoài về một chuyên ngành nào đó, chuyên gia của ta có tiếng trong lĩnh vực ấy được mời làm báo cáo chính hoặc tham gia ban chương trình quốc tế rất muốn giúp cho các bạn đồng nghiệp trẻ trong nước có công trình nghiên cứu đặc sắc đến đó trình bày để có cơ hội vừa quảng bá kết quả nghiên cứu của mình vừa làm quen với môi trường quốc tế và qua đó thiết lập những quan hệ hợp tác nghiên cứu có lợi sau này. Nhưng rất ít có hy vọng tìm được nguồn tài trợ cần thiết cho những việc như vậy, dù mỗi chuyến đi ấy cũng chỉ tốn bốn năm chục triệu - tương đương chi phí trung bình cho một công bố quốc tế.

Do vậy, cần có cơ chế giúp đỡ thiết thực các nhà khoa học của Việt Nam, đặc biệt là người trẻ, tham gia các sinh hoạt học thuật quốc tế cần thiết theo từng ngành. Việc tham dự này không những có lợi cho uy tín khoa học của đất nước đối với thế giới mà còn cần thiết, vì thông qua các sinh hoạt học thuật quốc tế sôi động, các nhà khoa học Việt Nam mới theo dõi được hết tình hình, nắm bắt các xu hướng phát triển trên thế giới, đồng thời thấy rõ hơn những nhược điểm, ưu điểm của mình để khắc phục hoặc phát huy. Bằng cách đó mới giúp cho khoa học của ta tránh được sự phát triển cô lập, dễ lâm vào tình trạng chủ nghĩa tỉnh lẻ (provincialism) trong nghiên cứu khoa học, tức là tác phong nghiên cứu đi vào những đề tài quá cũ kỹ, quá xa lạ với các trào lưu chung, không còn ai quan tâm nghiên cứu nữa. Về tổ chức quản lý khoa học, có lẽ đây là một vấn đề quan trọng cần chú ý hiện nay.

4. KHUYẾN KHÍCH ỨNG DỤNG NHỮNG THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU Cơ BẢN

Tất nhiên, những điểm chưa ổn về cơ chế và cách quản lý các viện nghiên cứu cơ bản còn phụ thuộc tình hình chung của đất nước. Chẳng hạn như chuyện lương của cán bộ nghiên cứu khoa học còn quá thấp. Bên cạnh đó, cơ chế khuyến khích ứng dụng những thành tựu nghiên cứu cơ bản còn rất yếu, hầu như không có gì. Các ngành kinh tế, công nghiệp, dịch vụ trong nước hầu như chẳng có liên hệ gì với giới khoa học. Tất nhiên lỗi ở nhiều bên. Song, quản lý cần thấy vấn đề đó và suy nghĩ để tác động tích cực đến tình hình, chứ cứ để tự nhiên thì thường bên nghiên cứu chỉ lo nghiên cứu, bên kỹ thuật, công nghệ chỉ lo những ứng dụng đã quen thuộc. Ví dụ, lý thuyết tối ưu toàn cục nói chung và lý thuyết tối ưu đơn điệu nói riêng do tôi và nhiêu cộng sự dày công xây dựng trong khoảng vài mươi năm lại đây, từ lâu đã tìm thấy những ứng dụng thực tế bổ ích ở nước ngoài, đặc biệt gần đây đã được các nhóm khoa học ở Đức, Thụy Điển, Canada, Hồng Kông, Singapore,… ứng dụng khá tốt trong lĩnh vực công nghệ truyền thông không dây và các hệ thống mạng. Nhưng ở Việt Nam là nơi khai sinh ra các lý thuyết đó thì hầu như không ai trong các ngành kỹ thuật, công nghệ nói trên biết đến. Vừa thiệt hại ở chỗ mình làm ra nhưng không khai thác được, vừa đáng tiếc rằng với tình hình ấy khoa học cơ bản thiếu hẳn động cơ thiết thực để phát triển. 40

Thật ra việc hầu như không có ứng dụng nào của những thành tựu nghiên cứu cơ bản cũng có một nguyên nhân, đó là đường lối phát triển công nghiệp của đất nước ngay từ đầu đã không quan tâm đúng mức đến xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để từ đó đi lên dần những công nghiệp hoàn chỉnh, mà chỉ muốn đi tắt ngay vào những công nghiệp loại sau này. Hệ quả của đường lối này là sau mấy chục năm, tuy Việt Nam đã có những xí nghiệp công nghiệp hiện đại (như về điện tử) nhưng chỉ là những cơ sở công nghiệp do nước ngoài đầu tư và xây dựng từ A đến Z, còn phía Việt Nam chỉ đóng góp chủ yếu khâu lắp ráp tức khâu có giá trị gia tăng thấp nhất.

Vì thiếu công nghiệp phụ trợ nên việc đổi mới sáng tạo cũng khó phát triển. Tinh thần sáng tạo có thể không thiếu (dẫn chứng là những máy móc nông nghiệp, thậm chí máy bay, tàu ngầm, do người trong nước mày mò tự chế), nhưng không có nền công nghiệp phụ trợ đi kèm thì làm sao tiến xa được? Làm chơi để thử sức thì được nhưng tiến lên sản xuất công nghiệp thì quá khó.

Điều này cũng ảnh hưởng một phần đến khoa học, vì trong quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ sẽ nảy ra nhiều vấn đề, nảy sinh ra nhiều nhu cầu đối với khoa học. Trong giai đoạn đầu, những vấn đề loại này thường vừa sức giải quyết của Việt Nam hơn là những vấn đề trong thời đại công nghiệp hiện đại. Bắt đầu với những loại vấn đề dễ, vừa sức, rồi dần dần tiến lên, đó mới là cách đi khôn ngoan.

Đặc biệt, khi thế giới đã bước sang giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0 thì càng có nhiều vấn đề đặt ra phải suy nghĩ kỹ để khỏi bị lạc hậu quá đáng, đồng thời tránh lặp lại các thất bại và những bước đi không cần thiết của các nước đi trước, ở một số nước phát triển, người ta lập hẳn nhân viên đặc nhiệm (task force) bên cạnh Thủ tướng về chuyện này, vì họ đã thấy nhu cầu cấp bách. Ở Việt Nam, đáng mừng là cấp lãnh đạo cũng đã bắt đầu quan tâm, nhưng việc làm cụ thể thì chưa có gì rõ ràng đáng kể, trừ việc xây dựng thành phố Hồ chí Minh thành một thành phố thông minh.

Kết lại mấy ý tản mạn trên về phát triển khoa học trong tình hình hiện nay, vì Việt Nam đang mò mẫm nên luôn phải vừa đi vừa ngoái nhìn lại chính mình cũng như nhìn rộng ra thế giới để khỏi bị lạc hậu quá xa. Dù thế nào vẫn cần đủ tự tin để dám dấn bước, không ngập ngừng, không ngần ngại, phải biết chấp nhận rủi ro, dám đương đầu với thách thức để đuổi kịp và đi lên cùng thiên hạ. Trước hết phải khắc phục tư duy thủ cựu, giáo điều, ngay từ cấp lãnh đạo phải làm gương, cởi mở với cái mới, dấn thân tìm tới cái mới, đoạn tuyệt với cái cũ đã tỏ rõ không còn hợp nữa với cuộc sống hiện đại. Hệ thống chính trị cần phải thay đổi, phải dũng cảm nhìn nhận lỗi hệ thống ở đâu để dù khó khăn, dù đau đớn cũng quyết tâm sửa, thì xã hội mới có đột phá về phát triển như người Việt Nam ai cũng mong muốn. Còn không thì ngay cái mục tiêu rất khiêm tốn đến năm 2030 mà World Bank đã cùng vạch ra với chúng ta cũng khó đạt được, nói gì lặp lại kỳ tích trước đây của Hàn Quốc và một vài nước Đông Nam Á.

12. VÀI SUY NGHĨ VỀ TOÁN HỌC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

SỐ 6/2000

Sau một thời kỳ phát triển tốt đẹp và đạt được một trình độ nhiều nước xung quanh ta rất mong muốn mà chưa có, Toán học Việt Nam bắt đầu có những dấu hiệu suy thoái trầm trọng đáng lo ngại. Nhiều người đã lên tiếng, và tôi cũng có nhiều dịp phát biểu về vị trí của Toán học trong sự nghiệp phát triển đất nước. Trong bối cảnh thế giới bước vào nền kinh tế tri thức, để khỏi lặp lại những điều biết-rồi-khổ-lắm-nói-mãi, sau đây chỉ nêu vài suy nghĩ về một số điểm có thể còn ít người để ý.

1. Chúng ta có chủ trương phát triển công nghệ phần mầm. Đây là một chủ trương đúng đắn, đã được nhiều người trong nước và bạn bè khoa học ở nước ngoài đề xuất từ vài chục năm nay. Cơ sở đề xuất đó đến từ nhân định đã hình thành từ lâu là Việt Nam có nhiều tiềm năng toán học và cũng đã xây dựng được một lực lượng toán học đáng kể. Rất tiếc điều trớ trêu là tuy xuất phát của chủ trương dựa trên đánh giá tiềm năng toán học, nhưng thực tế nhiều năm qua, càng lo phát triển tin học và chú ý công nghệ phần mềm bao nhiêu thì chúng ta càng lơ là toán học bấy nhiêu, dường như có người nghĩ rằng có thể phát triển tin học và công nghệ phần mềm tách rời với toán học, không cần toán học. Tôi chỉ đơn cử một thí dụ: trong hệ thống các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia ở nhiều nước (như Trung Quốc) đều có phòng thí nghiệm tính toán khoa học (scientific computing). Thực chất đấy là đơn vị chuyên nghiên cứu phần toán học liên quan đến tính toán. Còn tại Việt Nam, chẳng mấy ai mặn mà với đề nghị thành lập một phòng thí nghiệm như thế.

Gần đây các báo trong nước tuyên truyền nhiều về công nghệ phần mềm của Ấn Độ, mỗi năm xuất khẩu hàng tỉ đô-la, và triển vọng mấy năm tới có thể đưa Ấn Độ tiến lên vị trí cường quốc phần mềm trên thế giới. Chúng ta muốn học tập kinh nghiệm Ấn Độ, song chỉ chú ý kết quả sau cùng của họ. Còn con đường đi tới kết quả có được một nền công nghiệp phần mềm như ngày nay của họ thì chúng ta không quan tâm. Tiện đây xin nhắc lại con đường ấy, để chúng ta rút kinh nghiệm:

Công nghệ phần mềm của Ấn Độ bắt đầu xây dựng dưới sự bảo trợ trực tiếp của Viện nghiên cứu Cơ bản Tata (Tata Institute of Fundamental Research) ở Bombay, nơi tập trung nhiều nhà toán học Ấn Độ hàng đầu thế giới.

Ấn Độ có truyền thống lâu đời về toán học, và từ 50 năm nay đã là một cường quốc về toán học hiện đại. Ấn Độ còn có cả một hậu phương toán học và tin học vững chắc ở Mỹ. Hiện tượng đập vào mắt các nhà khoa học nước ngoài khi đến Mỹ là ở nhiều nhà toán học hay tin học và các viện nghiên cứu về những ngành liên quan, đứng đầu là người Ấn Độ hoặc một số khá đông người giỏi cũng là người Ấn Độ.

Với các lợi thế ấy, Ấn Độ xây dựng được một nền công nghiệp phần mềm như ngày nay là điều dễ hiểu. Trong khi đó ở Việt Nam, một phần ít ỏi may mắn gây dựng được theo những hướng ấy trước đây thì nay đang sa sút dần vì chẳng có ai quan tâm. Liệu chúng ta sẽ có cách nào phát triển công nghệ phần mềm mà không cần toán học?

2. Chúng ta công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh thế giới bước vào nền kinh tế tri thức với đặc điểm là vai trò không ngừng tăng lên của trí tuệ. Đồng thời, các thành tựu khoa học, công nghệ ngày càng mang theo một hàm lượng lớn về khoa học. Có nhiều trường hợp toán học cổ điển không đủ sức giải quyết, dù phải vận dụng đến những máy siêu tính cực mạnh, nên hàng loạt bộ môn toán học mới đã ra đời để đáp ứng những yêu cầu đó. Và cũng không ít trường hợp những bộ môn toán học thuần túy lý thuyết trước đây bỗng trở nên đắc dụng.

Trong khung cảnh ấy, muốn du nhập và thích ứng công nghệ tiên tiến, rõ ràng phải có trình độ toán học. Hơn nữa, muốn nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, phải không ngừng tăng hàm lượng chất xám trong các sản phẩm xuất khẩu. Có thể chăng thực hiện được điều đó mà không cần phát triển khoa học cơ bản và toán học?

3. Một đất nước muốn tiến lên phồn vinh cần thường xuyên chăm lo để có: dân trí cao; nhân lực lành nghề; nhân tài cao cấp trong mọi lĩnh vực; và bộ máy quản lý có năng lực.

Tất cả các điều kiện trên đều chỉ có thể đạt được thông qua một nền giáo dục tốt được tổ chức, xây dựng phù hợp yêu cầu xã hội hiện đại. Nhưng ở bất cứ nước nào trên thế giới, trình độ và hiệu quả giáo dục cũng phụ thuộc rất nhiều chất lượng giảng dạy các môn khoa học cơ bản và toán học ở mọi cấp học, từ phổ thông, chuyên nghiệp, đến cao đẳng, đại học, cũng như về khoa học kỹ thuật và cả nhân văn-xã hội. Cho nên không chăm lo phát triển khoa học cơ bản và toán học thì không thể bảo đảm một nền giáo dục có chất lượng. Kinh nghiệm 20 năm qua cho thấy chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy toán học ở mọi cấp học của Việt Nam có nhiều phần quá cổ lỗ, lạc hậu, không theo kịp bước tiến của thế giới. Ngày nay không có hiểu biết tối thiểu về toán, lý, hóa, sinh, thì thậm chí không thể hiểu và tận dụng được những tiện nghi sinh hoạt và lao động luôn luôn đổi mới, chưa nói thích ứng mau lẹ với những biến đổi nghiệp vụ thường xuyên diễn ra theo đà tiến của công nghệ trong mỗi ngành nghề.

Ngay cả quản lý kinh tế xã hội cũng vậy. Không có tư duy logic, không phân biệt nổi điều kiện “cần” và “đủ”. Chẳng hạn, không biết tính toán hiệu quả thì rất khó quản lý hành chính tốt. Luật lệ, thủ tục rườm rà, vừa không nhất quán, cái nọ hạn chế, phủ định cái kia, mở đường cho quản lý tùy tiện, vừa phiền hà nhũng nhiễu dân, tạo kẽ hở cho kẻ gian phạm tội (chế độ tài chính, trả công cho người lao động hiện nay là vậy). Từ những việc cụ thể về quản lý đô thị (đánh số nhà, mạng lưới điện, mạng lưới cấp thoát nước, mạng giao thông trong thành phố, v.v.) cho đến những chuyện lớn hơn như các quyết định đầu tư (điển hình là xây dựng vô tội vạ để rồi đóng cửa hàng loạt nhà máy đường thua lỗ ở các địa phương thời gian qua), lựa chọn các chính sách kinh tế, v.v. Nói chung, có quá nhiều chuyện bê bối, giải quyết kém hiệu quả, lãng phí to lớn, một phần quan trọng cũng do dân trí và trình độ quản lý của các cơ quan quá thấp, không có thói quen tư duy logic, tư duy hiệu quả, tối ưu và hợp lý. Đã có thời đọc báo, chúng ta bắt gặp những tính toán kinh tế dựa trên đồng tiền quái gở “rúp - đô- la”, và cả những cuộc thảo luận quanh “hộp đen” để đẩy mạnh sản xuất phát triển, ấy thế mà phải mất bao nhiêu thì giờ mới rút được bài học. Đương nhiên bây giờ đã khác nhiều, nhưng cũng không nên vội nghĩ những việc tương tự không còn có thể xảy ra nữa.

4. Nên bớt chủ quan và tỉnh táo hơn khi đánh giá trình độ toán học của Việt Nam so với các nước trong khu vực. Trong vài chục năm gần đây, có thể nói trên mặt trận toán học Việt Nam đã lùi dần và rời bỏ một số vị trí quan trọng, nhường chỗ cho Singapore, Hồng Kong hay Hàn Quốc. Các nhà toán học giỏi có tâm huyết đã “kêu cứu” liên tục nhiều năm, nhưng vô vọng. Đơn cử một việc đơn giản là nhằm tận dụng trí tuệ toán học trong nước đã tích lũy được, khắc phục một phần sự lão hoa nhanh cả về tuổi tác lẫn sức sáng tạo của đội ngũ toán học, giới toán học đã có đề nghị khẩn thiết mở một trung tâm đào tạo cao cấp về toán học ứng dụng. Thế mà yêu cầu nhỏ nhoi đó, tính ra có tốn kém là bao, cứ nằm im trên giấy từ năm năm nay. Không khí tuổi trẻ hăm hở, sung sức, hăng hái và đầy tham vọng đang chiếm ưu thế ở các cơ quan nghiên cứu và đại học của một số nước trong khu vực. Còn ở Việt Nam, nhìn vào các cơ quan khoa học chỉ thấy một màu những mái đầu bạc hay lốm đốm bạc, cùng một số người tuy chưa già dặn gì trong khoa học mà tuổi đời đã không còn trẻ. Theo đánh giá của tờ Asiaweek cách đây không lâu, Đại học Quốc gia Việt Nam xếp thứ 62 trên 65 trong khu vực. Tuy chưa có căn cứ đáng tin cậy lắm, ngôi thứ ấy vẫn có thể khiến ta xấu hổ. Nếu chỉ so sánh riêng các khoa toán, tôi e rằng Việt Nam vẫn thua bạn bè.

Ta thường tự hào về những giải thưởng Olympic quốc tế, nhưng xin nói thật, các giải thưởng ấy dù rất đáng tôn trọng song không có ý nghĩa nhiều như báo chí tuyên truyền. Và tôi thà đổi lấy tất cả các giải thưởng ấy để có một đội ngũ làm toán trẻ trung, sung sức, thật sự say mê làm khoa học một cách nghiêm túc để cống hiến, chứ không chỉ biết hướng cả sức lực tuổi trẻ vào việc luyện tập thi đấu giật một giải thưởng quốc tế trình độ phổ thông, xong rồi học gì và ra đời làm gì chẳng ai biết. Không có nước văn minh nào mà trên mặt báo hay các buổi lễ long trọng xuất hiện một mật độ học vị, bằng cấp, chức danh khoa học dày đặc nhưng không mấy tương xứng với thực chất như ở ta.

Cùng lúc đó, nước ta đã lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực về các mặt quan trọng như giảng dạy toán học ở cấp phổ thông và đại học, tổ chức nghiên cứu toán học nghiêm túc, hay ứng dụng toán học.

Xin hãy bớt thi giờ thảo luận những vấn đề to tát nhưng quá chung chung về chiến lược, quan điểm, phương châm, v.v., mà dành nhiều thì giờ, công sức, điều kiện vật chất để đầu tư các mặt hoạt động thiết thực. Điều nghịch lý là dường như càng bàn thảo nhiều về giáo dục thì giáo dục càng bị bỏ mặc để lún sâu hơn vào thương mại hóa, càng bàn nhiều về tầm quan trọng của khoa học cơ bản thì khoa học cơ bản càng được ít người quan tâm. Khi chỉ có những ngành bị bỏ rơi ngồi lại than thở với nhau, còn các cơ quan hữu trách không chịu khó lắng nghe tìm hiểu thực chất những lời than đó có gì đáng suy nghĩ, thì rốt cuộc hội thảo là hội thảo, ai nói cứ nói, ai làm cứ làm. Và tất nhiên, con cháu chúng ta sau này sẽ thiệt thòi nhiều nhất vì sẽ phải trả giá đắt cho sự thiển cận của cha chú.

Tôi nhớ hồi mới thành lập Trung tâm Phân tích Hệ thống ở Viện Quản lý Kinh tế Trung ương cách đây gần 20 năm, những người nghiên cứu hệ thống đã từng nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng then chốt của kết cấu hạ tầng và cơ chế quản lý, nhưng không được mấy ai nghe. Đến khi mở cửa và hội nhập, các vấn đề ấy mới dần dần được nhận thức rõ và mỗi ngày càng rõ hơn, cho đến hôm nay thì đã rõ ràng là chuyện thời sự của xã hội. Nhưng ở đây, kết cấu hạ tầng không nên hiểu chỉ có giao thông, đường sá, điện lực, bưu điện, viễn thông, mà còn có giáo dục, y tế, cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ. Giáo dục và y tế đã có thời được chú ý vì mọi người ý thức được tầm quan trọng cơ bản của các ngành ấy đối với tương lai dân tộc, còn bây giờ bị thả nổi vì trong kinh tế thị trường được hiểu một cách lệch lạc, ai cũng muốn xếp nó vào phạm trù hàng hóa để bán chác trao đổi.

Khoa học cơ bản cũng lâm vào tình cảnh ấy. Trước kia, ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, khoa học cơ bản vẫn phát triển vì hồi ấy chúng ta biết nhìn xa trông rộng, tin tưởng ở chiến thắng và lo nghĩ đến tương lai con cháu sau khi nước nhà độc lập, thống nhất. Còn bây giờ, đối với nhiều người, mối quan tâm dường như đã chuyển hướng. Khi chúng ta đã không ngần ngại đi vay tiền để thuê nhiều “chuyên gia” nước ngoài cố vấn cả việc soạn thảo chương trình và sách giáo khoa trung học cơ sở (!), với mức lương gấp hơn trăm lần mức lương cao nhất của các nhà khoa học nước nhà, thì trách gì khoa học không mòn mỏi sống dở chết dở. Nhà giáo còn có thể dạy thêm, luyện thi, bác sĩ còn khám chữa bệnh tư được, chứ nghiên cứu toán học thì ai cần. Cho nên việc nghiên cứu toán học chưa kiệt quệ còn là may. Âu cũng là một an ủi, vì ít ra nó cũng chứng minh phẩm chất của đội ngũ toán học đã được đào tạo và rèn luyện trong một thời kỳ hoàng kim.

13. XÂY DỰNG VIỆN NGHIÊN CỨU TOÁN HỌC ĐÀNG HOÀNG

-SỐ 5/2015

Sau 40 năm xây dựng và phát triển, Viện Toán học đã có một vị trí xứng đáng trong nước cũng như trên thế giới. Kết quả đó, theo tôi có bốn yếu tố quan trọng: chiến lược đúng đắn trong xây dựng Viện; quan hệ giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng thực tế; hội nhập và hợp tác quốc tế; và trên hết là luôn giữ được nội bộ đoàn kết và dân chủ.

Tôi can dự vào việc thành lập Viện Toán học từ khi nó còn nằm trong ý tưởng, quan niệm, và được manh nha thực hiện ở Ủy ban Khoa học Nhà nước vào đầu những năm 1960. Ban đầu, chúng tôi chọn một số sinh viên giỏi tốt nghiệp khoa Toán trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đưa về ủy ban Khoa học Nhà nước và lập ra một nhóm nghiên cứu nhỏ, làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Toán (lúc bấy giờ GS Tạ Quang Bửu là Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng Thư ký ủy ban Khoa học Nhà nước, GS Lê Văn Thiêm làm trưởng Ban Toán, tôi là ủy viên thường trực của Ban). Nhóm này về sau được bổ sung vài phó tiến sĩ ở Liên Xô về, nâng cấp lên thành Phòng nghiên cứu Toán, và đến năm 1970 thì trở thành cơ sở đầu tiên của Viện Toán học ngày nay.

Lúc mới khai trương, từ Phòng trở thành Viện, biên chế chỉ gồm khoảng 15 cán bộ nghiên cứu, trong đó chỉ hai người có trình độ nhà nghiên cứu, số còn lại hầu hết chỉ mới tốt nghiệp đại học, chưa có khái niệm, nói gì kinh nhiệm, về nghiên cứu khoa học. Về cơ sở vật chất, lúc đầu nơi làm việc của Viện Toán là một căn phòng nhỏ khá ấm cúng ở địa chỉ số 39 Trần Hưng Đạo, sau đó ít năm chuyển tới căn nhà lá ở đường Đội Cấn - một căn nhà lá ọp ẹp mà khi trời mưa thì anh em phải phân tán để tránh dột, lúc nắng đẹp lại có thể nhìn qua kẽ hở trên mái nhà để ngắm mây bay mà mơ mộng, lấy cảm hứng cho trí tưởng tượng làm toán.

Xuất phát từ những điều kiện ban đầu nghèo nàn đó, đến nay Viện Toán học đã có được cơ ngơi vật chất khang trang như thế này, trước hết là nhờ sự quan tâm trực tiếp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Còn về chuyên môn khoa học và xây dựng đội ngũ cán bộ là nhờ sự giúp đỡ tận tình của GS Tạ Quang Bửu, và đặc biệt công lao của GS Lê Văn Thiêm, nhà toán học đầu tiên của Việt Nam và là nhà khoa học yêu nước hết mực, mà sự đóng góp to lớn với đất nước đã có những lúc chưa được hiểu hết và đánh giá xứng đáng.

Từ một tổ chức nghiên cứu hết sức sơ khai ban đầu trở thành một Viện Toán học có vị trí xứng đáng trong nước cũng như trên thế giới, đó là một quá trình hoàn toàn không đơn giản, nhất là trong hoàn cảnh đất nước có những lúc khó khăn cực kỳ căng thẳng như những thập kỷ qua. Trong buổi kỷ niệm 40 năm của Viện, tôi đã có dịp nhắc lại cả giai đoạn lịch sử vất vả đáng ghi nhớ đó. Hôm nay, với tư cách một người đã tham gia sáng lập và quản lý Viện một thời gian dài, tôi muốn nêu lại một số bài học xây dựng Viện để chúng ta cùng suy ngẫm và rút kinh nghiệm.

Theo đánh giá khách quan của nhiều người, Viện Toán học là một trong những viện thành công nhất của Trung tâm Khoa học Công nghệ Quốc gia, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam. Năm 1994, Viện được Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ Ba công nhận là một trong mười viên nghiên cứu xuất sắc ở các nước đang phát triển. So trong khu vực Đông Nam Á, Viện cũng có vị trí vững vàng được bạn bè nể trọng. Để đạt được kết quả đó, theo tôi có mấy yếu tố quan trọng sau đây.

Thứ nhất, ngoài sự ủng hộ của các vị lãnh đạo nhà nước, chúng ta đã có một quan niệm chiến lược đúng đắn về xây dựng Viện ngay từ đầu. GS Lê Văn Thiêm và tôi, những người được giao trách nhiệm xây dựng Viện Toán học trong 20 năm đầu, luôn nghĩ rằng nhiệm vụ chính trị lớn nhất của Viện là phải phấn đấu trở thành một viện nghiên cứu Toán học đàng hoàng - đàng hoàng trước hết là về mặt khoa học, chuyên môn. Trong suốt quá trình tồn tại của Viện, chúng tôi không một ngày nào tự cho phép mình lơ là nhiệm vụ đó. Nói lên điều này bây giờ nghe có vẻ lạ, nhưng thời đó, do ảnh hưởng dai dẳng của quan niệm “chính trị là thống soái” từng có giai đoạn dài chi phối giáo dục và khoa học, một chủ trương như vậy dễ dàng bị quy chụp là chuyên môn thuần túy - một sai lầm - mà lúc bấy giờ bị coi là rất nghiêm trọng. Huống chi, trước đó vài năm, anh Thiêm và tôi khi ở Đại học Tổng hợp đã từng bị kiểm điểm “lên bờ xuống ruộng” về cái gọi là “thiên tài chủ nghĩa”, xu hướng chuyên môn thuần túy, xa rời đường lối công nông trong giáo dục và khoa học.

Thứ hai là đấu tranh chống quan điểm đối lập giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng thực tế. Mặc dù xuất thân từ nghiên cứu lý thuyết thuần túy (anh Thiêm về hàm phức, tôi về hàm thực), chúng tôi đã sớm thấy ngay từ đầu những năm 1960 cần thiết phải quan tâm đến việc ứng dụng kiến thức Toán học vào thực tế đời sống và kinh tế trong nước. Do đó, anh Thiêm đi sâu vào các vấn đề nước thấm, nổ định hướng để ứng dụng vào xây dựng và giao thông, còn tôi đi sâu vào tối ưu và vận trù học, lý thuyết hệ thống, toán kinh tế, để tìm cách vận dụng vào kinh tế và đời sống. Chúng tôi không chỉ nghiên cứu, tìm hiểu cặn kẽ những vấn đề vốn xa lạ với sở thích và chuyên môn của mình, mà còn tích cực tổ chức, động viên, hướng dẫn các đồng nghiệp trẻ và sinh viên thực hiện các dự án ứng dụng thực tế. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn luôn giữ quan niệm sử dụng người làm khoa học phục vụ thực tế mà không dùng đến trí tuệ khoa học của họ là sự lãng phí lớn. Đương nhiên, trong một số trường hợp khẩn cấp thời chiến, điều đó có thể là cần thiết, nhưng không nên viện cớ chính trị để thường xuyên huy động cán bộ khoa học đi làm thực tế kiểu đó. Bởi dù thế nào, một tập thể khoa học muốn phục vụ tốt phải tập trung trước hết vào việc xây dựng chuyên ngành khoa học được phân công. Viện Toán học thì phải vững vàng về nghiên cứu Toán học mới có khả năng đề xuất và thực hiện những ứng dụng của Toán học thật sự có ý nghĩa. Còn nêu chỉ dễ dãi chạy theo các ứng dụng chủ yếu bằng lao động cơ bắp không dùng gì kiến thức và tư duy Toán học, thì chẳng những về lâu dài không phát triển được lý thuyết mà cũng sẽ mãi mãi lạc hậu về ứng dụng. Quan niệm đó trùng hợp với lời khuyên của các nhà toán học hàng đầu Liên Xô khi tôi được tham gia đoàn công tác của Ủy ban Khoa học Nhà nước do GS Trần Đại Nghĩa dẫn đầu sang làm việc với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1968 để tham vấn về kế hoạch và chiến lược xây dựng khoa học, kỹ thuật trong 20 năm. Đáng tiếc, quan điểm này không được sự đồng tình của một số quan chức cấp trên, ít nhất về mặt hình thức. Những khó khăn kinh tế chồng chất thời đó tạo áp lực tinh thần rất lớn, khiến người ta dễ nghĩ ra cách đối phó hạ sách là khua tất cả đám cán bộ khoa học lý thuyết đi làm thực tế. Tôi còn nhớ một hôm được Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia mời đến để yêu cầu Viện Toán học phải chuyển mạnh hoạt động sang ứng dụng và huy động cán bộ đi làm thực tế. Mặc dù rất thông cảm với cấp trên nhưng tôi đành phải thẳng thắn đáp lại: “Nếu vậy thì cần thay Viện trưởng Viện Toán chứ tôi không làm được việc đó”.

Cuộc đấu tranh bảo vệ quan niệm đúng đắn làm ứng dụng như thế nào cũng khá gay go, quyết liệt. May nhờ những nghiên cứu về lý thuyết hệ thống và toán kinh tế đã giúp tôi có được một cách tư duy hệ thống về các vấn đề quản lý kinh tế xã hội, nên nhiều lần tôi đã được các vị lãnh đạo cấp cao mời đến tham vấn. Năm 1978, Ban nghiên cứu Chiến lược Phát triển Kinh tế do Thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ trì cũng để nghị Viện Toán học tham gia một đề tài nghiên cứu. Chưa kể Viện Toán học còn đã đề xuất và tham gia thành lập Viện Toán Kinh tế ở Ủy Ban Kế hoạch Nhà nước và Trung tâm Phân tích Hệ thống Ứng dụng ở Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (tuy về sau các tổ chức này không phát huy được tác dụng mong muốn, nhưng điều đó không phải lỗi ở Viện Toán). Với những hoạt động như vậy, không thể nói Viện Toán học co mình trong tháp ngà nghiên cứu lý thuyết xa vời.

Thứ ba là vấn đề hội nhập và hợp tác quốc tế. Ngay từ những ngày đầu thành lập, chúng tôi luôn chủ trương phải hội nhập quốc tế, lấy các chuẩn mực quốc tế làm thước đo để tiến lên. Thời nay, dù là nước phát triển cũng không thể đóng cửa với thế giới mà xây dựng thành công một viện nghiên cứu khoa học, huống hồ là một nước đi sau như Việt Nam. Hơn nữa, không thể chỉ bó hẹp quan hệ và hợp tác trong khối Liên Xô và các nước Đông Âu cũ, mà phải mở rộng ra với các nước phát triển phương Tây, ở đó đang có biết bao điều hay để học tập. Cho nên, từ sớm Viện đã khuyến khích anh em học tiếng Anh để công bố công trình trên các tạp chí quốc tế, phát triển giao lưu, hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Phải nói lúc đầu, việc này vô cùng vất vả vì vấp phải vô số rào cản về tư duy và cơ sở vật chất. Thời đó, trong nước không khuyến khích cán bộ khoa học quan hệ nhiều với phương Tây. Trên nguyên tắc, thư từ, bài vở muốn gửi ra nước ngoài phải báo cáo và xin phép. Nhưng rất may là trong thực tế, chúng tôi vẫn thường xuyên vi phạm lệ đó mà vẫn được cho qua. Khó khăn lớn nhất là thiếu hẳn những phương tiện và điều kiện tối thiểu cần thiết để giao lưu bình thường với các đồng nghiệp quốc tế. Nghiên cứu Toán học tuy không đòi hỏi thiết bị, máy móc đắt tiền, nhưng cần nhiều sách vở, tài liệu, giấy bút và các phương tiện truyền thông hiện đại. Chẳng hạn, hồi đó công trình khoa học muốn gửi đăng ở các tạp chí quốc tế phải đánh máy trên giấy trắng A4 và gửi kèm theo ba bản sao cũng trên giấy trắng A4. Chỉ chừng ấy điều kiện cũng đã rất khó đáp ứng, chưa kể thư từ gửi máy bay ra nước ngoài thường mất cả tháng mới đến, còn theo chiều ngược lại thì mất vài tháng, có khi không bao giờ nhận được. Điều đó dễ làm nản chí những ai muốn có quan hệ với Việt Nam. Cho nên chúng tôi phải vắt óc nghĩ ra mọi cách để khắc phục các khó khăn ấy, kể cả có lúc phải bất đắc dĩ cầu cứu sự can thiệp của Thủ tướng để giải quyết những việc nhỏ nhặt. Viện trưởng mỗi chuyến đi công tác ở Đông Âu phải cố gắng mang về nhiều giấy trắng A4 để cả Viện dùng khi cần đánh máy, sao chụp các tài liệu cần thiết (may là lúc bấy giờ Viện đã có được một máy sao chụp hiện đại duy nhất của cả nước, nhờ sự giúp đỡ chí tình của ủy ban Mỹ về Hợp tác Khoa học với Việt Nam do ông Edward Cooperman và bà Judith Ladynsky chủ trương). Đã thành lệ, mỗi khi có khách quốc tế đến làm việc thì anh em tập hợp tất cả thư từ cần gửi đi nước ngoài để nhờ họ khi về nước gửi hộ, kèm theo một danh sách các tài liệu cần cho nghiên cứu để nhờ họ sao chụp giúp. Về sau, những khó khăn như thế giảm dần, nhờ một số thành tựu nghiên cứu tốt của Viện bắt đầu được biết đến rộng rãi trên thế giới, và ngày càng có nhiều cán bộ của Viện được mời ra nước ngoài hợp tác dưới nhiều hình thức khác nhau: đọc báo cáo mời (nhiều khi là báo cáo đọc trong phiên toàn thể) trong các hội thảo chuyên ngành quốc tế, tham gia biên tập các tạp chí quốc tế có uy tín, hợp tác nghiên cứu và giảng dạy ở các đại học lớn của nước ngoài, hoặc trong khuôn khổ của Quỹ tài trợ Nghiên cứu Humboldt nổi tiếng của Đức (tài trợ của Quỹ này có tính cạnh tranh quốc tế rất cao, và chỉ trong mấy năm cuối thập kỷ 1980, riêng Viện Toán học đã giành được mười mấy suất tài trợ này). Lúc cao điểm, thường xuyên có đến khoảng một phần tư số cán bộ nghiên cứu của Viện luân phiên được mời đi công tác nước ngoài. Sinh hoạt học thuât của Viện nhờ đó ngày càng phong phú và nâng cao chất lượng, đồng thời cơ sở vật chất của Viện cũng được cải thiện mạnh mẽ, đời sống của anh em ngày càng dễ chịu.

Kinh nghiệm ở đây là ngay trong giai đoạn kinh tế trong nước bế tắc, đồng lương không đủ sống, nhiều người phải bươn chải, làm thêm đủ thứ việc ngoài giờ và phi khoa học để kiếm sópng, Viện vẫn cổ vũ anh em tích cực nghiên cứu, và tìm giải pháp cải thiện đời sống ngay trong hội nhập và hợp tác quốc tế. Điều quan trọng là qua con đường tiếp xúc và hợp tác quốc tế, mọi người hiểu hơn các chuẩn mực quốc tế, học tập được phong cách, văn hóa làm khoa học trên thế giới, và cũng nhờ đó tránh được thói quen “tỉnh lẻ” (provincialism) trong nghiên cứu để mở rộng tầm nhìn, thường xuyên cập nhật được những xu thế và đề tài nghiên cứu thời sự trên thế giới.

Trên hết, một yếu tố cơ bản bảo đảm sự thành công của Viện Toán là luôn giữ được nội bộ đoàn kết và dân chủ. Tôi phải thành thật mà nói, trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Toán học đi đầu trong việc chuyển giao trách nhiệm lãnh đạo giữa các thế hệ. Khi đã hoàn thành sứ mạng của mình, thế hệ đi trước luôn sẵn sàng nhường lại trách nhiệm đó cho thế hệ đi sau. Trong Viện không có lệ đấu đá giành giật chức vụ vì mọi người không coi đó là quyền lợi mà chủ yếu là trách nhiệm.

Đó là mấy yếu tố mà theo tôi sự hội tụ có thể là cần và đủ cho sự thành công của Viên Toán học.

14. NÓI ÍT, LÀM NHIỀU HƠN

SỐ 6/2009

Bao nhiêu thất bại cay đắng của chúng ta trong nhiều việc, đặc biệt là trong việc đào tạo toán học ứng dụng và ứng dụng toán học, bỏ lỡ nhiều cơ họi vươn lên, sa sút dần mà vẫn bình chân như vại, rồi đổ hết lỗi cho khó khăn khách quan và cho người làm toán, theo tôi đều có một nguyên nhân quan trọng: thích nói những chuyện to tát, thích đưa ra những mục tiêu xa vời, mà lời nói không đi với việc làm; thích bàn chiến lược này nọ, mà không thích, không quan tâm chính sách và thực hiện chính sách. Vì vậy, mong rằng trong Chương trình trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học đến năm 2020, chúng ta sẽ rút kinh nghiêm, nói ít, làm nhiều hơn.

Tôi hết sức ủng hộ chủ trương hồi sinh và phát triển toán học trong mươi năm tới và đánh giá cao bản dự thảo công phu Chương trình trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học đến năm 2020. Bản dự thảo này có nhiều ý tưởng mạnh dạn và hoàn toàn khả thi nếu thật sự có quyết tâm chính trị từ cấp lãnh đạo cao nhất muốn thông qua việc phát triển một ngành khoa học cụ thể để rút kinh nghiệm chấn hưng khoa học và giáo dục sau nhiều năm buông lơi khiến hai lĩnh vực này sa sút một cách thảm hại.

Nhớ lại cách đây hơn 40 năm, tôi được Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước giao nhiệm vụ soạn thảo phương hướng phát triển toán học trong vòng 20 năm kể từ năm 1968. Hồi đó mỗi ngành khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật đều được giao nhiệm vụ xây dựng phương hướng phát triển, nhưng bản dự thảo của ngành toán học được Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đánh giá tốt nhất nên tôi được mời trực tiếp báo cáo trong một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ, tổ chức chỉ vài ngày sau khi mở đầu cuộc tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân ở miền Nam.

Trong giờ phút trọng đại của đất nước khi ấy, tưởng được Chính phủ chỉ nghe qua một cách hình thức cũng đã là một sự động viên lớn, nhưng thật cảm động và khích lệ là buổi họp hoàn toàn không có tính hình thức. Hội đồng Chính phủ và đặc biệt Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chăm chú lắng nghe, đặt nhiều câu hỏi và góp nhiều ý kiến.

Trước đó, bản dự thảo đã được bàn bạc khá kỹ trong Ban Toán với sự tham gia tích cực của hai anh Lê Văn Thiêm và Tạ Quang Bửu. Vả lại, năm 1967, tôi đã được cử đi trong đoàn đại biểu khoa học kỹ thuật Việt Nam do anh Trần Đại Nghĩa dẫn đầu sang Liên Xô tham khảo ý kiến của bạn về sự phát triển khoa học kỹ thuật ở Việt Nam. Trong chuyến đi này, tôi đã được tiếp xúc và nghe lời khuyên bảo tân tình của những nhà toán học chẳng những hàng đầu của Liên Xô cũ mà của cả thế giới lúc đó như Lev Pontryagin, Igor Shafarevich, Ivan Vinogradov.

Bản phương hướng khá ngắn gọn, tất cả chỉ mươi trang đánh máy, gồm mấy điểm chính là:

1) Về nội dung. Nêu ra năm hướng toán học cần tập trung xây dựng: Toán học tính toán, tối ưu và điều khiển, giải tích và phương trình, xác suất và thống kê, cùng một số hướng chọn lọc về đại số, hình học và topo học. Trong một thời gian dài, toán học Việt Nam vẫn kiên trì các phương hướng đó tuy thành công không đều, và đặc biệt về xác suất và thống kê thì yếu hơn cả. Về mối quan hệ giữa lý thuyết và ứng dụng, tuy có lúc tranh cãi gay gắt nhưng cuối cùng vẫn giữ vững được sự cân đối cần thiết và hợp lý. Thể theo lời khuyên của Pontryagin và Vinogradov, chúng tôi vẫn quan niệm phải vững về lý thuyết thì đi vào ứng dụng mới có kết quả thật sự (Pontryagin trước khi phát minh ra nguyên lý cực đại - đỉnh cao của toán ứng dụng hồi ấy - đã là một nhà topo học hàng đầu thế giới, giống như Leonid Kantorovich trước khi đi vào toán kinh tế và nhận giải Nobel Kinh tế đã là một chuyên gia kiệt xuất về giải tích hàm).

2) Về tổ chức. Thành lập Viện Toán học, củng cố Hội Toán, bất kể khó khăn nào cũng duy trì bằng được và phát triển các tạp chí Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics. Thành lập phòng máy tính rồi Viện Tính toán và Điều khiển, Viện Toán kinh tế, Viện Hệ thống ứng dụng. Như chúng ta biết, Viện Toán thì thành công, nhưng Viện Toán kinh tế và Viện Hệ thống ứng dụng thì thất bại hoàn toàn do những nguyên nhân bên ngoài toán học và bên ngoài khoa học.

3) Về đào tạo nhân tài. Phát triển các lớp chuyên toán, tham gia Olympic Toán Quốc tế 41 ; tranh thủ gửi cán bộ đã có bằng phó tiến sĩ đi bổ túc nghiên cứu ở Liên Xô, Pháp và Nhật Bản để đào tạo thành những nhà toán học thành thạo (established mathematicians).

4) Phát triển quan hệ quốc tế. Tham gia Hội Toán học Thế giới (IMU) (Việt Nam tham gia sớm hơn Hàn Quốc); tham dự các đại hội Toán học quốc tế từ năm 1966 trở đi, hồi ấy Đông Nam Á và Hàn Quốc hầu như chưa nước nào có mặt. Tranh thủ sự giúp đỡ hiệu quả của giới toán học quốc tế và Việt kiều như Laurent Schwartz, Alexander Grothendieck, André Martineau, Klaus Krickeberg, Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng. Mặc dù khó khăn, đoàn Việt Nam vẫn cố gắng tham gia các hoạt động, hội thảo quốc tế do Ba Lan chủ trì, diễn ra ở Trung tâm nghiên cứu Banach - tổ chức hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào tạo toán học. Nhờ đó, ngay trong thời kỳ 1975-1985, tuy kinh tế muôn phần khó khăn, toán học Việt Nam vẫn không mất liên hệ với thế giới bên ngoài (chỉ riêng việc duy trì tạp chí Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics đã hết sức khó khăn, ngay giấy trắng cỡ A4 để đánh máy bài gửi đăng trên quốc tế cũng không mua được trong nước, Viện trưởng Viện Toán mỗi lượt đi công tác Liên Xô hay Đông Âu phải tranh thủ mang về 5-7kg giấy trắng để dùng trong Viện). Với những cố gắng liên tục đó, thời kỳ này riêng Viện Toán đã có 17 suất học bổng nghiên cứu Humboldt nổi tiếng, một loại học bổng nghiên cứu của Cộng hòa Liên bang Đức, có tính cạnh tranh quốc tế rất cao (cả nước và về tất cả các ngành hồi đó chỉ có hơn 20 suất), và trong kỳ đại hội Toán thế giới ở Kyoto (Nhật Bản) năm 1986, trong số các nhà toán học trẻ được ban tổ chức mời và tài trợ chi phí, Việt Nam đã chiếm số đông, riêng Viện Toán đã có mười mấy suất.

Bao trùm lên tất cả, có một ý tưởng then chốt được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đặc biệt tâm đắc: Cố gắng sau 20 năm vươn lên vị trí quốc tế trong một vài hướng, và dựa vào đó lôi kéo dần toàn bộ ngành Toán học tiến lên. Phải chứng minh sự tồn tại của Toán học Việt Nam với thế giới, mà sự chứng minh đó phải thực hiện trước hết thông qua một số chuyên gia và một số công trình được sự thừa nhận quốc tế rộng rãi, giành được chỗ đứng vững chắc trong một số lĩnh vực, thì từ đó sự hợp tác quốc tế mới phát huy hết tác dụng và lan tỏa sang các lĩnh vực khác. Mục tiêu này đã được hứa long trọng với Thủ tướng và thực tế đã thực hiện được trong thời gian hứa hẹn. Ở đây cần hiểu rõ thế nào là sự công nhận quốc tế. Uy tín quốc tế trong một ngành khoa học không phải bằng khoa bảng đỗ đạt cao, chức vụ cao trong nước, mà trước hết từ những đóng góp khoa học được thừa nhận rộng rãi bởi các đồng nghiệp trên thế giới, thể hiện không chỉ ở số lượng các công bố quốc tế mà chủ yếu ở chất lượng, ở việc được mời làm những báo cáo chính (plenary lecture, key lecture) tại các hội thảo lớn của chuyên ngành, ở sự tham gia hội đồng biên tập các tạp chí có uy tín, được mời thỉnh giảng ở các đại học có uy tín, v.v.. Đó là một khái niệm rõ ràng, nhưng thời gian gần đây đã trở nên mập mờ qua những thảo luận về đại học đẳng cấp quốc tế.

Cũng nhân đây cần thấy sự tương đối của việc xếp thứ hạng. 30 năm trước người ta đánh giá Toán học Việt Nam khá hơn tất cả các nước trong khu vực, và trong Thế giới thứ Ba chỉ thua kém Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil. Nhưng Laurent Schwartz, nhà toán học lớn của thế kỷ XX và từng giúp đỡ nhiều cho Việt Nam, đã cảnh báo rằng tuy lúc ấy (khoảng đầu những năm 1990) Việt Nam còn khá hơn các nước trong vùng về số chuyên gia trình độ cao (Viện Toán đã được công nhận là viện xuất sắc trong Thế giới thứ Ba), nhưng đã bắt đầu thua kém nhiều nước về trình độ trung bình, mà điều này kéo dài sẽ đưa đến hậu quả là sẽ thua kém toàn diện, kể cả về số chuyên gia trình độ cao. Trường hợp rõ nhất là Hàn Quốc so với Việt Nam. Khoảng 30 năm trước, trên thế giới người ta đã biết có một nền Toán học Việt Nam, thậm chí có báo nước ngoài đăng tin coi Việt Nam như một trong mấy trung tâm Toán học mới nổi, nhưng không hề ai nghĩ có một nền Toán học Hàn Quốc. Ngày nay thế trận đã thay đổi, về trình độ trung bình thể hiện ở số lượng công bố quốc tế, Hàn Quốc đã vượt Việt Nam quá xa, tuy rằng về cống hiến khoa học đối với nền Toán học thế giới thì họ còn phải kính nể chúng ta nhiều.

Bấy nhiêu thành công và thất bại đều là những bài học cho Việt Nam khi xây dựng phương hướng phát triển Toán học trong 10 năm tới (tôi không muốn nói “chiến lược” - một từ đã bị lạm dụng quá nhiều thời gian gần đây, theo tâm lý thùng rỗng muốn kêu to).

Thành công đạt được là nhờ đã có lúc có những nhà lãnh đạo tuyệt vời, ngay trong những giai đoạn vô cùng khó khăn của đất nước, vẫn không bỏ qua bat cứ tiềm năng nào dù nhỏ, và vẫn sáng suốt nhìn xa trông rộng, không vì những thành tích thiển cận mà lơ là lợi ích lâu dài và cơ bản. Xây dựng một ngành khoa học, đào tạo một chuyên gia lành nghề phải mất ít ra vài chục năm, nhưng để cho nó tụt dốc thì chỉ mấy năm là quá đủ. Bao nhiêu thất bại cay đắng của ta trong nhiều việc, đặc biệt là trong việc đào tạo toán học ứng dụng và ứng dụng toán học, bỏ lỡ nhiều cơ hội vươn lên, sa sút dần mà vẫn bình chân như vại, rồi đổ hết lỗi cho khó khăn khách quan và cho người làm toán, theo tôi đều do một nguyên nhân quan trọng: thích nói những chuyện to tát, thích đưa ra những mục tiêu xa vời, mà lời nói không đi với việc làm; thích bàn chiến lược này nọ, mà không thích, không quan tâm chính sách và thực hiện chính sách.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng là việc cạnh tranh quốc tế, phát triển và thu hút nhân tài. Hoàn cảnh đặc biệt phải có biện pháp đặc biệt (ví dụ trong khi chưa có điều kiện trả lương đàng hoàng cho mọi người thì hãy chọn ra 10 người giỏi nhất, đang sung sức, dưới 60 tuổi, có triển vọng nhất, tạo điều kiện đặc biệt cho họ làm việc không kém lắm so với ở nước ngoài, hết ba năm chọn lại), làm như thế cho đến khi nào điều kiện làm việc trung bình đã được cải thiện rõ rệt. Hết sức tránh đầu óc tỉnh lẻ (provincialism) và tư duy tiểu nông.

15. TỐI ƯU TRONG KHOA HỌC KỸ THUẬT, KINH TẾ VÀ ĐỜI SỐNG

- NĂM 2007

Bài viết này của Giáo sư Hoàng Tụy đăng trên Tia Sáng cách đây tám năm (1999), trong đó Giáo sư đã phát biểu trong nỗi niềm trăn trở trước sự tụt hậu ngày càng xa về một số lĩnh vực trong khoa học, giáo dục của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa, đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Tia Sáng đăng lại bài viết này cùng với lời bàn thêm của tác giả. (Tạp chí Tia Sáng)

Năm 1969, hơn một tháng trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tôi đã vinh dự và may mắn được gặp Chủ tịch và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Sau buổi làm việc bàn về các biện pháp cải tiến một số dịch vụ trong thành phố lúc bấy giờ, khi bắt tay ra về, Chủ tịch căn dặn chúng tôi hãy cố gắng áp dụng vận trù học. Suốt 40 năm qua, tôi không bao giờ quên được hình ảnh vị Chủ tịch nước cho đến những ngày cuối cùng trong đời vẫn còn quan tâm thiết tha tới việc ứng dụng các phương pháp khoa học vào những vấn đề cụ thể phục vụ đời sống của dân. Tuy vậy, đến hôm nay tôi vẫn chưa hết day dứt vì sự thể câu chuyện sau đó đã không có sự tiếp tục xứng đáng. Nếu trước đây hơn 30 năm, trong hoàn cảnh chiến tranh, nước ta vẫn đi đầu ở Đông Nam Á về giáo dục, y tế và một số lĩnh vực khoa học (trong đó có vận trù học và lý thuyết tối ưu) thì ngày nay Việt Nam không còn giữ được vị trí đó, thậm chí có mặt đã tụt hậu so với họ và có xu hướng ngày càng tụt hậu xa hơn. Đã đến lúc không còn chỗ để thụt lùi thêm nữa. Tình hình phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và cạnh tranh kinh tế ngày càng gay gắt đang đặt ra cho Việt Nam một lựa chọn khắc nghiệt: hiệu quả và tối ưu, hay sa sút và lụn bại. Những ý kiến dưới đây xin được phát biểu trong nỗi niềm trăn trở đó.

Lý thuyết tối ưu là một ngành Toán học đang phát triển mạnh, và ngày càng có nhiều ứng dụng quan trọng trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và quản lý hiện đại. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin tạo điều kiện thuận lợi chưa từng có để ứng dụng tối ưu hóa một cách rộng rãi và thiết thực. Ngược lại, nó cũng nêu lên nhiều vấn đề mới và quan trọng về khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản lý, không thể xử lý tốt nếu không sử dụng công cụ và tư tưởng tối ưu hóa.

Việt Nam là một trong số các nước nghèo nhưng đã ứng dụng vận trù học (chủ yếu là các phương pháp tối ưu) sớm nhất. Những năm 1960, đã có thời ngành khoa học này được phổ biến khá rộng rãi ở miền Bắc, đến mức các từ “vận trù”, “tối ưu”, “hệ thống” đi vào ngôn ngữ hằng ngày của người dân lúc bấy giờ. Sau đó, những năm 1970, vượt qua nhiều khó khăn trở ngại, các phương pháp tối ưu bắt đầu được nghiên cứu vận dụng vào kế hoạch hóa và quản lý kinh tế vĩ mô. Song, rất tiếc vì những nguyên nhân không thuộc quyền chủ động của giới khoa học, công việc chưa thu được kết quả cụ thể thì đã không thể tiếp tục duy trì mà ngày càng sút kém qua cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội của đất nước, rồi gần như tan rã khi chuyển sang kinh tế thị trường.

Tuy vậy, cũng phải ghi nhận rằng những nghiên cứu về hệ thống và tối ưu thời kỳ đó đã có đóng góp tích cực vào việc xây dựng một cách nhìn thực tế và một tiếp cận khoa học đối với các vấn đề kinh tế xã hội nhằm đưa đất nước vượt qua khó khăn và ra khỏi cuộc khủng hoảng. Bây giờ nhìn lại có thể thấy rõ những ý kiến phân tích và các kiến nghị về cải cách quản lý kinh tế của giới toán học thời kỳ đó (như những ý kiến đóng góp ở Đồ Sơn trước Nghị quyết Trung ương 6 năm 1979, hay những ý kiến đóng góp về chiến lược kinh tế xã hội những năm 1985-1989) là rất đúng đắn và có tác dụng tích cực.

Hơn hai thập kỷ qua, ngành khoa học về các phương pháp tối ưu đã có những bước tiến lớn. Thông qua các phần mềm ứng dụng, quy hoạch tuyến tính đã trở thành công cụ cơ bản của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quản lý, thiết kế kỹ thuật và cung cấp dịch vụ, nhất là từ khi máy vi tính được phổ biến rộng rãi và có tính năng ngày càng mạnh. Nhờ các thành tựu đột phá của Leonid Khachian (năm 1978) và Narendra Karmarkar (năm 1983), ngày nay người ta đã có những “phương pháp điểm trong” (interior point methods), hữu hiệu hơn “phương pháp đơn hình” cổ điển, để giải những bài toán cực lớn trong khoa học, kỹ thuật và quân sự hiện đại. (Chẳng hạn, một bài toán 150.000 biến với 12.000 ràng buộc giải bằng phương pháp điểm trong chỉ mất một giờ trong khi một bài toán tương tự với 36.000 biến và 10.000 ràng buộc giải theo phương pháp đơn hình phải mất bốn giờ).

Mặt khác, thế giới đầy rẫy những hiện tượng phi tuyến và những quan hệ qua lại phức tạp. Trước đây do tầm nhìn hạn hẹp về cả không gian lẫn thời gian nên mọi cái xung quanh ta đều được coi như bằng phẳng, biến thiên tỉ lệ, quan hệ giản đơn một chiều, nhưng khi mở rộng tầm mắt và đi sâu hơn vào bản chất sự vật thì ở đâu cũng gặp những quan hệ chằng chịt phức tạp, và các hiện tượng phi tuyến, toàn cục. Càng đi sâu vào tổ chức của xã hội, thiên nhiên, vũ trụ, càng phân tích hoạt động của máy tính, bộ não, càng thấy sự phổ biến của cấu trúc tổ hợp, rời rạc, cấu trúc mạng phân cấp, liên kết, và phát hiện khả năng biểu diễn mọi hình ảnh âm thanh bằng số. Chính trên nền tảng đó mà cuộc cách mạng số hóa đã bùng nổ và đang làm đảo lộn toàn bộ công nghệ hiện đại, đồng thời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và liên tục suốt 20 năm qua của các ngành tối ưu phi tuyến, tối ưu rời rạc (tổ hợp), và gần đây nữa là tối ưu toàn cục. Nếu giữa những năm 1960 các bài toán phi tuyến khoảng 10 biến còn được coi là cỡ quá lớn, rất khó giải, thì nay nhiều bài toán hàng trăm, hàng nghìn biến có thể được xử lý dễ dàng. Cách đây 30 năm, bài toán “người du lịch” (traveling salesman problem) còn được xem như chỉ có tính chất thuần túy lý thuyết, vì chỉ với 50 điểm bài toán đã vượt quá khả năng tính toán thực tế lúc bấy giờ. Thế mà đến giữa những năm 1980 đã trở thành bài toán thường ngày trong công nghệ sản xuất vi mạch, với số điểm phải đi qua lên tới mấy chục nghìn hay mấy trăm nghìn thậm chí cả triệu. Còn nhiều bài toán tối ưu khác, vốn có vẻ viển vông xa thực tế, đã có ứng dụng rất thiết thực trong công nghiệp sản xuất vi mạch, robot, viễn thông và nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác.

Bài toán “quy hoạch lõm” mà tôi bắt đầu nghiên cứu năm 1964 xuất phát từ suy ngẫm trên các vấn đề giao thông vận tải hồi ấy ở một đất nước kinh tế lạc hậu lại đang có chiến tranh, không ngờ đã có ứng dụng trong nhiều vấn đề kinh tế, kỹ thuật hiện đại. 12 năm sau, trong Hội thảo Quốc tế lần thứ IX về Quy hoạch Toán học ở Budapest năm 1976, mấy bạn đồng nghiệp Nhật Bản ở hãng NEC đã thông báo cho biết họ đã gặp bài toán ấy trong ngành công nghiệp của họ và đã dựa vào các ý tưởng trong bài nghiên cứu của tôi để xử lý. Ngày nay, quy hoạch lõm có nhiều ứng dụng và đã trở thành bài toán cơ bản của lý thuyết tối ưu toàn cục tất định. Song song với nó và ít nhiều nhờ sự kích thích của nó, nhiều phương pháp tối ưu toàn cục phi tất định cũng đã ra đời, như phương pháp mô phỏng luyện kim (simulated annealing), phương pháp di truyền (genetic algorithm), phương pháp tabu (tabu search).

Như chúng ta đều biết, bài toán tối ưu đặt ra trong bất cứ hoạt động nào mà ở đó việc thực hiện mục tiêu phải tuân thủ những điều kiện ràng buộc nhất định và phải hao tốn phương tiện, cần tìm ra phương án hoạt động sao cho thực hiện được mục tiêu với hiệu quả cao nhất mà hao tốn phương tiện thấp nhất. Những tình huống như thế rất phổ biến trong các hoạt động kinh tế, kỹ thuật, tổ chức và quản lý. Song ít người biết rằng các phương pháp tối ưu còn được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nữa, mà thoạt nhin tưởng chẳng có quan hệ gì đến tối ưu.

Chẳng hạn, trong Y học, sau khi thu thập các dữ liệu quan sát về những trường hợp ung thư ở một số bệnh nhân, để phân tích mớ dữ liệu ấy và tìm ra quy luật giúp cho sự chẩn đoán bệnh chính xác nhanh chóng mà ít phải dùng đến những phương pháp kiểm tra vật lý nặng nề tốn kém mà có khi đau đớn cho bệnh nhân, người ta biểu diễn mỗi trường hợp bằng một điểm trong không gian các thông số cơ bản, rồi dùng phương pháp chia cụm (clustering) để phân tích, rút ra kết luận giúp chẩn đoán trường hợp nào chắc chắn ung thư, trường hợp nào chỉ là u lành. Đó là một bài toán cụ thế về khai thác dữ liệu mà về hình thức toán học là đồng nhất với bài toán định vị (optimal location - lựa chọn vị trí tối ưu), tức cũng là một bài toán tối ưu toàn cục nằm trong đề tài nghiên cứu mươi năm nay của các chuyên gia tối ưu. Một lần năm 1994, tôi có dịp trình bày cách tiếp cận mới đối với bài toán này trong seminar tại Học viện Công nghệ Tokyo, chỉ sau đó vài hôm tôi nhận được thư của hãng Toshiba mời đến giảng lại vấn đề đó cho nhóm nghiên cứu của họ, chứng tỏ bài toán đó đang trong tầm theo dõi của các nhà công nghệ điện tử.

Một vấn đề khác liên quan kỹ thuật cao hiện đại dẫn tới tối ưu toàn cục là bài toán cấu hình phân tử (molecular conformation) hay cũng gọi là bài toán cuộn protein (protein folding - một đề tài khoa học được xem như giai đoạn hai của việc giải mã di truyền). Muốn tổng hợp những hóa chất mới, dược phẩm mới, vật liệu mới, hay protein mới, nhiều khi phải tìm cực tiểu của một hàm thế năng phi tuyến phức tạp, mà phải là cực tiểu toàn cục mới ra được chất mong muốn, còn cực tiểu địa phương sẽ ra chất khác hẳn hoặc không đạt mục tiêu.

Đấy là một bài toán tối ưu toàn cục cực kỳ khó, nếu không có phương pháp nào tốt thì đành phải tính hết các điểm tối ưu địa phương rồi so sánh chọn ra tối ưu toàn cục. Nhưng tìm được một cực tiểu địa phương đã khó, mà số cực tiểu địa phương của các hàm thế năng này lại là con số khổng lồ, cho nên theo cách đó người ta phải dùng máy siêu tính Cray-2 chạy liên tục hàng tháng trời mới giải nổi bài toán trong một trường hợp tương đối đơn giản. Vì bài toán này cũng là mấu chốt giải quyết vấn đề cuộn protein, cho nên thực tế đây là một trong các vấn để thời sự hóc búa nhất của một loạt ngành khoa học cơ bản như Hóa học, Sinh học, Vật lý, Toán học, và có lẽ phải chờ vài thập kỷ nữa mới có được phương pháp xử lý thỏa đáng.

Sự xuất hiện những bài toán thực tế như thế cộng với nhiều ứng dụng khác trong công nghệ và quản lý là lý do thúc đẩy tối ưu toàn cục phát triển mạnh ở các nước công nghiệp. Nhân đây cũng xin kể thêm một việc để thấy tính thời sự của vấn đề. Tháng ba năm ngoái tôi được mời tham gia một số hội thảo và làm một số seminar ở Đại học Florida và Học viện Công nghệ Georgia (Mỹ). Tại các hội thảo và seminar đó, tôi đã trình bày lý thuyết mới về tối ưu đơn điệu mà những ý tưởng đầu tiên đã nảy sinh qua một chuyến đi hợp tác và trao đổi ở Úc năm 1998. Các bạn đồng nghiệp Mỹ đặc biệt chú ý các kết quả này, họ liền đề nghị và chỉ sau hai tháng đã được Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) của Mỹ chấp nhân tài trợ một đề tài nghiên cứu ứng dụng tối ưu đơn điệu vào một số vấn đề khoa học kỹ thuật thời sự, trong đó có bài toán cấu hình phân tử và tính toán ổn định trong kỹ thuật chế tạo turbine máy bay phản lực. (NSF là cơ quan tài trợ nghiên cứu khoa học của Mỹ thường rất chặt chẽ trong việc xét duyệt các đề tài.)

Qua vài việc cụ thể như trên đủ thấy sự nhạy cảm của giới công nghệ trên thế giới đối với từng thành tựu nhỏ của các phương pháp tối ưu, và vai trò ngày càng tăng của các phương pháp ấy trong thời đại kỹ thuật cao hiện nay.

Ở nước ta dễ thấy rất nhiều lĩnh vực rõ ràng rất lãng phí, hiệu quả hoạt động thấp, khiến nền kinh tế vận hành khá xa trạng thái tối ưu.

Quá trình đi lên của các nước công nghiệp bao giờ cũng là quá trình liên tục hạ chi phí và nâng cao chất lượng so với mức trung bình của thế giới. Nhưng ở Việt Nam thì thế nào? Chỉ lấy ví dụ tiêu biểu là ngành điện, tổn thất điện năng hiện nay của Việt Nam cao gấp 1,8 lần Thái Lan, năng suất lao động trong ngành điện lại chỉ bằng 1/5 của họ, trước đây 10 năm, chỉ tiêu điện năng tính theo đầu người của Thái Lan cao gấp 5,1 lần Việt Nam, nay gấp 5,3 lần. Vậy làm sao Việt Nam đuổi kịp được các nước? Mà Thái Lan đâu phải là nước tiên tiến gì ghê gớm. Nhiều cơ quan quốc tế đánh giá đại bộ phận khoa học của Việt Nam chỉ mới ở mức của Thái Lan cách đây 30 năm, không phải chỉ vì nước ta thiếu điều kiện phát triển, mà chủ yếu vì chưa biết khai thác hết tiềm năng. Một cách thẳng thắn, họ muốn nói rằng Việt Nam chưa sử dụng một cách thông minh các điều kiện nhân tài, vật lực của đất nước.

Từ nhiều năm nay các công ty trên thế giới đã quen áp dụng quản lý chất lượng toàn diện đi đôi với hạ thấp chi phí, còn ở Việt Nam đã làm gì? Tôi thường được nghe giới chuyên gia kinh tế ở các nước nhận định rằng trong nền kinh tế hiện đại, lĩnh vực đòi hỏi nhiều trí tuệ quản lý nhất là lĩnh vực tài chính, tiền tệ (cứ xem sự thăng trầm của kinh tế Nhật Bản, Hồng Kông và các nước ASEAN vừa qua đủ rõ). Đã có cả một ngành gọi là công nghệ tài chính ra đời phục vụ cho quản lý tài chính, đòi hỏi vận dụng khá nhiều tính toán tối ưu. Nhưng ở Việt Nam đây lại là lĩnh vực rất lạc hậu so với các nước, và không nghi ngờ gì, những khó khăn lớn nhất đã xuất phát từ sự yêu kém trong quản lý nguồn tiểề. Không ở đâu trên thế giới lương chính thức chỉ đủ trang trải một phần năm nhu cầu sinh hoạt mà chế độ tài chính lại cho phép rút tiền ngân sách vô tội vạ bằng trăm nghìn cách khác nhau, cả gián tiếp và trực tiếp, hợp pháp và phi pháp, để rồi tuy không ai sống nổi bằng tiền lương mà vẫn có không ít người sống quá ung dung, đồng thời tham nhũng, buôn lậu và bạn đồng hành của chúng là tệ nạn xã hội thì phát triển vượt tầm kiểm soát của xã hội.

Do đó vận dụng các quan điểm và phương pháp khoa học, bao gồm cả tư duy logic, hiệu quả tối ưu trong quản lý kinh tế là việc có quan hệ trực tiếp và quyết định đến sự phồn vinh của đất nước.

Thông thường có hai loại vấn đề tối ưu, nói đúng hơn hai hình thức ứng dụng:

Một là những vấn đề riêng lẻ, độc lập, không lặp đi lặp lại ở một tổ chức hay đơn vị nào đó. Chẳng hạn, vấn đề chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung hay vấn đề chiến lược phát triển năng lượng. Những vấn đề ấy đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu và thường có tính liên ngành chặt chẽ nên phải dùng cách tiếp cận hệ thống. Hà Lan đã có kinh nghiệm xử lý bằng phân tích hệ thống vấn đề lũ tương tự như ở đồng bằng sông Cửu Long (năm 1952, Hà Lan bị một trận bão ở Bắc Hải gây lũ lớn, làm chết hàng nghìn người, ngập 130.000 héc-ta, sau đó phải lập cả một tập thể khoa học để nghiên cứu trong nhiều năm mới để ra được cách xử lý và phòng chống). Đặc điểm các vấn đề này là thường có những hiệu ứng phụ (side effect), gọi là phụ nhưng rất quan trọng, nếu không phân tích và tính toán cẩn thận theo quan điểm hệ thống thì khó dự đoán được và có thể gặp những bất ngờ tai hại. Điều đáng nói là các nước chậm phát triển hầu như chẳng bao giờ quan tâm các hiệu ứng phụ, hơn nữa, nếu có biết thì cái tư duy sống ngày nào lo ngày ấy (theo phương châm “sau đời ta là hồng thủy”!) cũng cản trở, không cho phép các phương pháp khoa học được có tiếng nói ở những nơi và lúc quyết định.

Hai là loại vấn đề có tính chất tác nghiệp, lặp đi lặp lại thường xuyên trong hoạt động của cùng một tổ chức hay đơn vị. Từ khi công nghệ vi tính ra đời và phát triển mạnh, cách xử lý đối với các vấn đề này là xây dựng phần mềm ứng dụng để giải nó theo những thông số đầu vào thay đổi tùy tình hình. Còn nhớ những năm 1960, khi chúng tôi giúp các xí nghiệp áp dụng vận trù thì phải tính toán bằng tay từng phương án cụ thể, cho nên hễ cán bộ khoa học rút đi thì xí nghiệp không tự tiếp tục áp dụng được. Ngày nay điều kiện thuận lợi hơn nhiều, và để ứng dụng thành công chỉ cần xây dựng phần mềm giải quyết từng loại vấn đề đó trên máy vi tính. Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển, nhiều công ty phần mềm ở các nước đã ra đời, không chỉ sản xuất phần mềm ngày càng hiệu quả về các công cụ tổng quát như quy hoạch tuyến tính, phi tuyến, tổ hợp, mà cả những phần mềm ứng dụng từng loại vấn đề thường gặp trong quản lý xí nghiệp, và những module phần mềm làm sẵn để có thể vận dụng vào từng loại vấn đề đó khiến cho việc áp dụng ngày càng dễ dàng và hiệu quả. Điều đó mở ra triển vọng rộng lớn đưa các phương pháp vận trù và tối ưu, nói rộng ra là các phương pháp khoa học, vào mọi lĩnh vực kinh tế và đời sống.

Cũng như mọi hoạt động khoa học, ứng dụng toán học cần phải có đầu óc tìm tòi, phân tích, nhất là nhiều trí tưởng tượng sáng tạo. Khi máy photocopy Xerox mới được phát minh, người ta chỉ nghĩ đến công dụng của nó thay thế giấy than, đến nỗi ngay cả hãng IBM có tiếng là nhìn xa trông rộng cũng đánh giá thấp tác dụng của máy nên đã từ chối không mua phát minh này. Về sau, đầu óc tưởng tượng của người kinh doanh đã nghĩ ra biết bao nhiêu ứng dụng lúc đầu chẳng ai ngờ. Nhờ đó Xerox phát triển mạnh đến mức ngày nay máy photocopy đã đi vào đời sống thường ngày của mọi xã hội. Nghèo đến như Việt Nam mà gần đến ngày thi đại học, các máy photocopy trên mọi miền đất nước đều được huy động hết công suất để phục vụ nhu cầu quay cóp. Đủ biết, khi một phát minh ra đời, dần dần sẽ xuất hiện nhiều cách sử dụng mà trước đó đố ai có thể nghĩ đến. Rồi máy vi tính, Internet, cũng theo con đường như vậy. Ai có đầu óc tưởng tượng để nghĩ ra những ứng dụng mà người khác không nghĩ đến, người đó có công với khoa học không khác những nhà phát minh lớn. Và lại chính những ứng dụng mới sẽ kích thích những phát minh mới hơn. Không có những nhân vật như Bill Gates thì làm gì máy vi tính phát triển như ngày nay. Cho nên, cứ làm đi, cứ phát triển tưởng tượng để nghĩ ra những ứng dụng rồi tìm cách thực thi kỳ được, đó là con đường hầu như bắt buộc phải trải qua để đưa các thành tựu khoa học vào thực tế một cách sáng tạo.

Không lạ gì tối ưu toàn cục khi xuất phát chỉ bó hẹp trong vài vấn đề kinh tế nay đã mở rộng phạm vi ứng dụng vào nhiều vấn đề khoa học kỹ thuật mới như cuộn protein, NMR (cộng hưởng từ hạt nhân), khai thác dữ liệu (data mining), viễn thông, v.v.. Tiếc rằng mặc dù ngành tối ưu của Việt Nam đã chiếm được một vị trí đáng nể trong khoa học thế giới nhưng mấy năm qua không tiến lên được về ứng dụng do thiếu những điều kiện tối thiểu về nhân lực và phương tiện. Điều đáng buồn là những điều kiện này cũng không mấy khó khăn gì, chẳng qua do thiếu sự quan tâm cần thiết của các cơ quan hữu trách.

Ngoài các ứng dụng vào từng việc cụ thể, các khoa học về tối ưu, hệ thống và các phương pháp toán học nói chung, còn có tác dụng rèn luyện và hồi dưỡng tư duy khoa học rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại. Nhiều việc, dù không có kiến thức cụ thể và không biết tính toán chính xác chặt chẽ, song nếu có tư duy logic, có khái niệm về hệ thống, tối ưu, hiệu quả, có khái niệm về mô hình, thống kê, thì sẽ có cách suy nghĩ đúng đắn hơn để tiếp cận hàng loạt vấn đề thực tế hằng ngày, chẳng hạn như cân nhắc lợi hại, tính toán rủi ro, dự trữ, làm các kế hoạch dự phòng trong các môi trường nhiều yếu tố bất định. Chỉ đơn cử vài ví dụ. Từ lâu trong khoa học người ta đã biết cái gọi là “nghịch lý Braess”: mở thêm đường trong một mạng giao thông không nhất thiết bao giờ cũng làm giảm ách tắc, tăng hiệu quả, làm cho xe cộ đi lại thông suốt hơn, mà có khi có tác dụng ngược lại. Kinh nghiệm thành phố Stuttgart ở Cộng hòa Liên bang Đức cách đây vài chục năm cho thấy khi người ta mở thêm nhiều đường mới với hy vọng giảm bớt ách tắc giao thông thì trái lại đã làm cho giao thông ách tắc thêm, và chỉ sau khi đóng bớt một đường mới mở thì giao thông mới thật sự được cải thiện. Chúng ta không biết nghịch lý đó nên khi mở thêm đường Chùa Bộc ở Hà Nội cũng tưởng giảm bớt, không ngờ đã làm tăng thêm ách tắc giao thông, và mãi sau khi tích cực giải quyết một số nút chai thì mới giải tỏa được. Trong kinh tế xã hội có những hiện tượng không hoặc rất khó đảo ngược nhà quản lý phải hết sức tránh, và nếu đã lỡ để xảy ra một hiện tượng xấu thuộc loại đó thì ít khi có thể giải quyết bằng cách cố quay về trạng thái cũ. Các tệ nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước, việc dạy thêm học thêm tràn lan, gian trá trong học đường, đều thuộc loại hiện tượng đó. Khi đã thành tật thì như một bản tính mới (seconde nature, nói theo người Pháp), không dễ gì thay đổi nếu không kiên quyết.

ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG TOÁN HỌC NÓI CHƯNG VÀ TỐI ƯU NÓI RIÊNG: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

1. Cần có một cơ chế quản lý tốt (trước hết về tài chính, tiền tệ) để tạo một môi trường kinh tế xã hội lành mạnh, thuận lợi cho các hoạt động khoa học chân chính, khuyến khích áp dụng khoa học, từ việc nhỏ trở đi (nhiều việc tưởng nhỏ mà thật ra vô cùng quan trọng như có những điểm chi tiết trong cơ chế quản lý hiện nay đủ sức vô hiệu hóa các chủ trương lớn).

2. Cần nâng cao nhận thức trong các cấp lãnh đạo đối với khoa học, phù hợp với yêu cầu thời đại công nghệ. Làm sao để sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với khoa học ít ra cũng ngang như thời kỳ những năm 1960. Không có gì quan trọng hơn chất lượng và hiệu quả, mà hai thứ đó chỉ đạt được nhờ phát triển khoa học.

3. Cần đẩy mạnh đào tạo cán bộ. Phải có những người trẻ đủ kiến thức, tài năng và nhiệt huyết. Đội ngũ khoa học của ta nhiều người tuổi đã cao, khó xông xáo, và ít nhạy cảm với những cái mới, dễ có xu hướng làm theo lối mòn, do lỗi của chúng ta trong nhiều năm đã buộc họ phải vất vả kiếm sống bằng nghề phụ và nhiều việc làm phụ có khi không liên quan gì đến nghề nghiệp. Do đó phải giúp họ quay lại với chuyên môn, đồng thời cần có những hình thức đào tạo mới, mạnh dạn thoát ra khỏi các khuôn khổ hiện tại để có thể nhanh chóng xây dựng được một đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực, đáp ứng được nhu cầu phát triển.

4. Giáo dục là căn bản. Không chấn hưng giáo dục bằng những biện pháp kiên quyết để thật sự nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài theo những yêu cầu của thời đại kinh tế tri thức, thì không thể có sáng tạo trong khoa học công nghệ, mà ngay cả những điều đã thành thông thường sơ đẳng ở các nước, Việt Nam cũng khó ứng dụng có hiệu quả. Singapore đang có kế hoạch cải cách giáo dục để biến đảo quốc này thành một đất nước học thức, lẽ nào truyền thống nghìn năm văn hiến của Việt Nam đến thế hệ này là chấm dứt?

Thật đáng mừng mà cũng đáng lo là chưa bao giờ toán học cần cho sự phát triển của các quốc gia như bây giờ. Không phải vô cớ mà UNESCO đã bảo trợ tuyên bố của Hội Toán học Quốc tế lấy năm 2000 làm năm Toán học của thế giới. Trong các hành trang để bước sang thế kỷ XXI, Toán học nói chung và khoa học tối ưu nói riêng không thể thiếu được. Chúng ta không thể bỏ lỡ cơ hội phát triển trí tuệ của dân tộc vào thời buổi mà đâu đâu trên thế giới trí tuệ cũng được huy động tối đa để đạt hiệu quả, chất lượng, và tăng sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế. Nếu như phi tuyến, nhảy vọt là đặc trưng của nhiều hiện tượng kinh tế, xã hội, khoa học và công nghệ trong thế kỷ tới thì tại sao ta không có quyền hy vọng điều đó cho đất nước?

*

LỜI BÀN THÊM NĂM 2007

Gần 10 năm đã qua kể từ lúc tôi viết bài trên đây. Trong thời gian đó, cùng với các ngành khoa học khác, lý thuyết tối ưu đã có nhiều bước phát triển mới. Thế kỷ XXI đã mở màn với một thành tựu khoa học tuyệt vời: giải mã bộ gen người. Thành tựu này là kết quả hợp tác nghiên cứu của hơn 1.000 nhà khoa học trên khắp thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó các công cụ toán học nói chung và các thuật toán tối ưu nói riêng đã có phần đóng góp quan trọng. Dần dần đã hình thành rõ nét một khoa học liên ngành mới - khoa học tính toán (computational science) - mà các chiến lược gia khoa học đánh giá sẽ là một trụ cột của khoa học thế kỷ XXI, quyết định năng lực cạnh tranh của các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa.

Trong khi cả thế giới đang sôi nổi lao vào cuộc chinh phục những biên giới tri thức mới thì dải đất chữ S này xem ra vẫn hết sức im ắng. Từ vài thập kỷ nay, khoa học ở Việt Nam hình như chỉ là một thứ xa xỉ phẩm, bỏ thì thương, vương thì tội. Chẳng lẽ thời nay không nhắc đến khoa học và giáo dục hay sao; hơn nữa, Nghị quyết đã ghi rõ việc phát triển hai lĩnh vực này phải là quốc sách hàng đầu. Nhưng cái gốc có lẽ vì chúng ta chưa thật sự tin tưởng ở đường lối đó, nên thực hiện không nghiêm chỉnh, khiến cho đến nay, tuy đã đầu tư không ít song tiền đầu tư không rõ đi đâu mà khoa học vẫn còi cọc không gượng dậy nổi. Thậm chí tình hình tồi tệ thảm hại khi bước vào sân chơi quốc tế. Ngành tối ưu tuy thuộc loại thiết thực lại có tiềm lực, nhưng những tiếng kêu liên tiếp của chúng tôi từ 20 năm nay (mà bài viết trên đây chỉ là một) cũng chỉ rơi vào thinh không, dù có lúc đã kêu thấu đến cấp lãnh đạo cao nhất.

Thông thường khi tham nhũng hoành hành mấy chục năm mà chưa có cách nào kìm hãm nổi, đồng thời có quá nhiều chuyện gây bất an trong cuộc sống thường ngày của dân như tai nạn giao thông tăng liên tục, môi trường ô nhiễm nặng, thực phẩm kém an toàn vệ sinh, lũ lụt, dịch bệnh liên miên, hành vi gian dối lừa đảo tràn lan, thì chỉ cần có chút tư duy hệ thống cũng đủ nhận ra đằng sau bấy nhiêu sự cố ấy ắt phải có một nguyên nhân sâu xa bao trùm. Không thể chỉ là trục trặc vận hành, trục trặc có tính cục bộ, tạm thời, mà là trục trặc hệ thống, trục trặc ngay trong cấu trúc, trong cơ chế. Những trục trặc đó chỉ có thể khắc phục bằng biện pháp sửa chữa căn cơ đi vào gốc của sự vật. Ít ra đó là cách nhìn theo tư duy hệ thống hiện là chỗ yếu kém nhất trong văn hóa quản lý của Việt Nam. Vì tầm mắt hạn hẹp, cò con, chỉ nhìn thấy lợi ích cục bộ, trước mắt, không nhìn thấy lợi ích cơ bản, toàn cục, lâu dài, không tính đến các hiệu ứng phụ, không nhìn rõ những mối liên quan chằng chịt của sự vật, nên mới sinh ra bao nhiêu khó khăn phức tạp không đáng có, rồi cứ đổ cho đó là những khó khăn không tránh khỏi. Trong chiến tranh, Việt Nam đã chăm lo cho khoa học, giáo dục bao nhiêu, thì ngày nay, trong hòa bình, lại lơ là bấy nhiêu, để mặc cho khoa học, giáo dục tụt hậu.

Khoảng 10 năm về trước, với mong muốn khôi phục những hoạt động ứng dụng tối ưu đã có thời sôi nổi hồi những năm 1960 nhờ được sự quan tâm, khuyến khích của các nhà lãnh đạo khi ấy, chúng tôi đã kiến nghị mở một trung tâm đào tạo tiến sĩ về toán ứng dụng theo trình độ quốc tế thật sự, làm cơ sở cho việc đào tạo nhân lực trình độ cao đáp ứng các nhu cầu ngày càng bức thiết về nghiên cứu và ứng dụng toán học trong khoa học, kỹ thuật, kinh tế và đời sống hiện đại. Giá như để nghị ấy được chấp thuận, dù chỉ để tỏ lòng thành kính đối với vị Chủ tịch đã từng lo nghĩ đến khoa học ngay trong những ngày cuối đời, thì tôi tin chắc, nếu không làm được gì nhiều ít ra cũng gây dựng được một trung tâm khoa học chất lượng cao, làm bàn đạp tiến xa hơn nữa, đồng thời gợi ra trong xã hội một tâm lý, một nếp nghĩ, một tư duy hệ thống, hiệu quả, may ra tránh được hay giảm thiểu nhiều khó khăn hiện đang mắc phải mà chắc chắn phần lớn do quản lý kém cỏi chứ không phải khách quan gây ra.

16. XÂY DỰNG MỘT TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ

SỐ 9/2014

Dư luận ồn ào gần đây về việc tranh chấp quyền sở hữu tạp chí Asian-Pacific Journal of Computational Engineering giữa Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng và Đại học Tôn Đức Thắng đã ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của giới khoa học Việt Nam, đồng thời cho thấy có những sự hiểu sai về quyền sở hữu một tạp chí đẳng cấp quốc tế.

Từ xưa, các tạp chí khoa học vốn do các đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội khoa học lập ra và tự xuất bản. Đến bây giờ số tạp chí như vậy vẫn rất nhiều. Nhưng khi đã xuất hiện những nhà xuất bản lớn chuyên kinh doanh việc xuất bản và phát hành sách và tạp chí khoa học, nhiều tạp chí thấy việc tự xuất bản và phát hành không hiệu quả bằng hợp tác với một nhà xuất-bản có uy tín để nhượng hẳn việc xuất bản và phát hành tạp chí cho họ. Trong trường hợp này, tạp chí vẫn thuộc quyền chủ quản của tổ chức đã lập ra nó, nhà xuất bản chỉ lo việc xuất bản. Cũng có trường hợp một nhóm nhà khoa học về một chuyên ngành nào đó muốn ra một tạp chí chuyên ngành, sau khi họ thỏa thuận với nhau về tổng biên tập và thành phần ban biên tập thì ban biên tập chịu trách nhiệm thay mặt đứng ra thương thảo với nhà xuất bản để lập ra tạp chí. Khi đó, tạp chí là của nhà xuất bản (tức là bản quyền thuộc nhà xuất bản), tuy nhà xuất bản vẫn không can thiệp vào việc tổ chức biên tập, việc này vẫn để thuộc quyền tổng biên tập. Trong mọi trường hợp, mỗi bài được đăng đều do tác giả ký nhượng bản quyền bài đó cho tổ chức (nhà xuất bản, trường, viện) chủ quản tạp chí.

Trong khoảng chục năm gần đây đã ra đời loại tạp chí tự do truy cập (open access). Muốn đăng bài ở tạp chí loại này, tác giả phải trả tiền cho nhà xuất bản, nhưng khi đã đăng thì có thể truy cập tự do trên mạng. Trái với các tạp chí thông thường đã có trước đây là loại phải “đặt mua”, tác giả không mất tiền để được đăng bài nhưng độc giả phải trả tiền đặt mua từng năm hoặc truy cập từng bài. Ngày nay, các tạp chí loại “đặt mua” quá nhiều rồi, lập ra thêm một tạp chí loại đó rất khó tiêu thụ, nên các nhà xuất bản thường hiếm nhận. Trái lại, kinh doanh tạp chí tự do truy cập thu lãi lớn, cho nên các nhà xuất bản dễ chấp nhận. Cũng vì lẽ đó, thị trường tạp chí rất sôi động, đã xuất hiện những nhà xuất bản chỉ chuyên cho ra tạp chí tự do truy cập. Trong tình hình đó tất nhiên nảy ra xu hướng thương mại hóa tiêu cực, cho nên có những tạp chí tự do truy cập có chất lượng rất thấp.

Tạp chí Vietnam Journal of Mathematics là ví dụ về một tạp chí loại “đặt mua” mà trước đây do Việt Nam tự xuất bản, còn từ vài năm nay do nhà xuất bản Springer hợp tác xuất bản. Tạp chí Acta Mathematica Vietnamica cũng như vậy. Phía Việt Nam là chủ của tạp chí, cử tổng biên tập và ban biên tập phụ trách toàn bộ nội dung tạp chí và bản thảo điện tử, còn Springer lo việc xuất bản và phát hành theo những điều khoản đã thỏa thuận.

Một ví dụ khác là gần đây, có tờ Vietnam Journal of Computer Science là một tạp chí tự do truy cập đã ra đời, do Đại học Nguyễn Tất Thành mời GS Nguyễn Ngọc Thanh, một nhà khoa học Việt kiều Ba Lan có tiếng, nhận đứng ra làm tổng biên tập và thành lập ban biên tập, đồng thời cử một người của Đại học Nguyễn Tất Thành làm trợ lý biên tập (assistant editor), rồi liên hệ với Springer đề nghị nhà xuất bản này nhận thành lập tạp chí theo những điều kiện trên. Trong trường hợp này, Springer là chủ của tạp chí và xuất bản tạp chí với sự hợp tác của Đại học Nguyễn Tất Thành (điều này được ghi rõ trên trang bìa của tạp chí).

Giới khoa học Việt Nam luôn mong đợi sự ra đời của những tạp chí trong nước lọt vào danh sách ISI, trong đó người ta thường kỳ vọng nhiều ở Toán học và Vật lý, những ngành mà Việt Nam có thế mạnh. Song, chúng ta vẫn chưa xây dựng được các tạp chí trong danh sách ISI thuộc hai ngành này. Trước đây chúng ta có những khó khăn, hạn chế rất lớn về nguồn lực, khả năng và điều kiện kỹ thuật trong việc xuất bản các tạp chí khoa học chất lượng cao, cả về nội dung và hình thức. Ví dụ như hai tạp chí Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics tuy đã ra đời được mấy chục năm nay, nhưng trước đssy điều kiện thông tin liên lạc còn hạn chế, kỹ thuật in lạc hậu, việc xếp chữ mang tính thủ công nên rất khó cho việc in ấn các ký hiệu toán học, báo thường xuyên phát hành trễ, giấy in xấu, chữ in lem nhem nên bán rất khó khăn, chủ yếu chỉ dùng để trao đổi với các đại học nước ngoài mà cũng vô cùng vất vả và gian nan. Dễ hiểu là trong những điều kiện đó làm sao thu hút được bài vở có chất lượng. Dù vậy ngay thời đó, hai tạp chí cũng đã được Math Review điểm duyệt thường xuyên và cũng đã có một số ít bài được đồng nghiệp quốc tế quan tâm, trích dẫn và đánh giá cao.

Hơn chục năm nay, hai tạp chí toán của ta đã được cải tiến đáng kể, về cả nội dung và hình thức, đang tiến nhanh tới chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, trở ngại vẫn còn nhiều. Bên cạnh đó, việc đăng bài trên các tạp chí quốc tế gần đây được coi là điều kiện để được xét duyệt các đề tài nghiên cứu - ví dụ Quỹ Nafosted yêu cầu các đề tài trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đều phải có công bố quốc tế trên các tạp chí ISI. Việc xét chức danh giáo sư, phó giáo sư cũng dần dần đi theo xu hướng đó. Phải nói đó là xu hướng lành mạnh, tích cực. Nhưng đồng thời, mặt trái của nó là đối với những nhà khoa học có năng lực, đăng bài trên tạp chí trong nước ít nhiều là một sự hy sinh. Không mấy người thích đăng ở tạp chí trong nước, những bài viết tốt đều tìm cách đăng ở tạp chí nước ngoài, khiến chất lượng bài đăng trên các tạp chí trong nước không cao. Tất nhiên đây cũng là điều tự nhiên, từ trình độ lạc hậu đi lên không thể tránh được những chuyện như vậy.

Tôi đã nghe nói nhiều về chuyện một số tạp chí của các nước trong khu vực như Malaysia và Thái Lan có chất lượng không hơn tạp chí của Viện Toán học nhưng vẫn được nằm trong danh sách ISI, nhưng thật tình tôi chưa có dịp kiểm chứng, ở Thái Lan hay Malaysia, những người lập ra tạp chí phần lớn học từ Mỹ về, và khi trở về nước họ vẫn giữ mối quan hệ tốt với thầy, bạn ở Mỹ. Đất nước họ từ lâu đã hội nhập quốc tế, tờ báo của họ ít nhất về hình thức không khác quốc tế mấy. Nhờ những yếu tố đó, việc được lọt vào danh sách ISI thuận lợi hơn Việt Nam nhiều. Chưa kể tiền bạc cũng đóng vai trò nhất định. Tôi nghĩ việc có tạp chí lọt vào danh sách ISI hay có đại học lọt vào tốp mấy trăm trong các bảng xếp hạng quốc tê’ cũng chỉ nên được quan tâm vừa phải thôi. Một số nước phát triển dùng một bảng xếp hạng các tạp chí khoa học, không phụ thuộc danh sách ISI mà chỉ căn cứ trên chất lượng thật, chia các tạp chí trên thế giới làm bốn hạng: A* cao nhất, rồi đến A, B, C; C là hạng cuối trong thang đó. Trên bảng này các tạp chí của Malaysia và Thái Lan được xếp cùng hạng C với hai tạp chí của Việt Nam. Cho nên tôi có đề nghị Nafosted nên tham khảo bảng này, thay vì chỉ chú ý ISI.

Muốn giúp các tạp chí khoa học trong nước được xuất bản bởi những nhà xuất bản nổi tiếng - một trong những yếu tố quan trọng để tạp chí dễ vào danh sách ISI, chỉ có cách là tự cải thiện năng lực và tăng cường các mối quan hệ với cộng đồng khoa học quốc tế, từ đó giành được sự quan tâm của những nhà xuất bản quốc tế có uy tín cùng tham gia xuất bản và quảng bá các tạp chí khoa học của Việt Nam. Chẳng hạn, mấy năm qua, mối quan hệ giữa Viện Toán học và giới toán học quốc tế có cải thiện rõ rệt do một số nhà toán học Việt Nam tạo được uy tín tốt với cộng đồng toán quốc tế. Đặc biệt đối với các nhà xuất bản lớn như Springer, nhiều nhà khoa học Việt Nam có vai trò trong ban biên tập nhiều tạp chí của họ, hoặc có sách chuyên khảo do họ xuất bản. Bên cạnh đó, một số thành tích nổi bật của các nhà toán học Việt Nam thời gian gần đây, những hội thảo quốc tế về Toán có chất lượng cao do Việt Nam tổ chức, có sự tham gia của nhiều người nổi tiếng thế giới, kể cả Chủ tịch hay Tổng Thư ký Hội Toán Quốc tế, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại đã gây ấn tượng mạnh mẽ, và hai năm gần đây, tạp chí Vietnam Journal of Mathematics do phía Việt Nam tự xuất bản đã được xuất bản bởi Springer.

Với những tiến bộ đáng kể ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, cùng với giới khoa học của Việt Nam cũng có ý thức chăm lo hơn đến chất lượng của tạp chí mình, tôi tin trong vòng ít năm nữa Việt Nam sẽ có tạp chí lọt vào danh sách ISI.

Nhân đây, tôi xin chia sẻ về khó khăn lớn nhất mà tôi từng trải qua khi tham gia ban biên tập hoặc làm tổng biên tập một số tạp chí khóa học quốc tế. Tôi nhớ lần đầu tiên được mời tham gia một tạp chí quốc tế là năm 1976. Hôm ấy, ở Budapest, trong phiên họp toàn thế của Hội thảo Quốc tế về Quy hoạch Toán học (mathematical programming), sau khi tôi đọc xong báo cáo mời, Michel L. Balinski, tổng biên tập tạp chí Mathematical Programming, đã đến gặp và tỏ ý mời tôi tham gia ban biên tập của tạp chí. Thời đó, liên hệ với phương Tây rất khó, các nhà khoa học muốn hợp tác chuyên môn với nước ngoài phải xin phép trước, mà việc này phải qua nhiều tầng nấc, nhiều cơ quan, mất rất nhiều thời gian vẫn không chắc được chấp thuận, cho nên tôi đành nhận liều với Balinski. Hai tuần sau, họ gửi bài cho tôi xử lý với tư cách thành viên ban biên tập, nhưng phải đến ba tháng sau tôi mới nhận được bài. Hóa ra là một bài khá dài, tôi phải chọn ít nhất hai chuyên gia am hiểu nhờ họ bình duyệt, rồi trên cơ sở đó viết đề nghị tổng biên tập đăng hay không đăng. Rõ ràng việc quá khó, tôi đành nghĩ cách tự làm cái việc bình duyệt đó, nhưng nhờ hai bạn đồng nghiệp trong nước đứng tên. Tôi đang loay hoay với mấy việc đó thì bỗng nhận được thư của tổng biên tập phê bình thời hạn xử lý bài báo đã hết lâu rồi mà họ vẫn chưa nhận được đề nghị của tôi, cách làm việc chậm trễ như vậy không thể chấp nhận được, cho nên có lẽ họ phải tính đến chuyện chia tay với tôi. Tôi bực quá, bèn viết thư phản đối, báo cho họ biết bản thân tôi trước đó đã gửi đến Mathematical Programming một bài báo để nhờ đăng nhưng sau mãi tám tháng vẫn chưa nhận được tin tức gì từ tòa soạn thì chẳng sao cả, mà khi với tư cách một người trong ban biên tập xử lý bài chỉ chưa đầy năm tháng đã bị phê bình gay gắt như thế, tôi cảm thấy bị xúc phạm bởi sự kỳ thị, cho nên nếu dừng hợp tác tôi cũng chẳng tiếc gì. Sự phản đối có tác dụng ngay, tổng biên tập viết thư xin lỗi và từ đó quan hệ giữa chúng tôi khá tốt đẹp.

Cho nên, một trong những khó khăn lớn nhất cho các nhà khoa học trong nước thời đó khi hợp tác với nước ngoài là vấn đề thông tin liên lạc. Cũng vì khó khăn này mà tôi phải từ chối làm tổng biên tập tạp chí JOGO (Journal of Global Optimization) về tối ưu toàn cục mà chỉ nhận làm cố vấn biên tập (advisory editor), chuyện đó là năm 1986, trong lần đầu tiên cộng đồng tối ưu toàn cục gặp nhau ở Nhật Bản. Công việc tổng biên tập đòi hỏi phải thường xuyên liên hệ qua thư từ với các tác giả, với các thành viên ban biên tập và nhà xuất bản. Nhưng thời đó chưa có e-mail, mà một thư từ nước ngoài đến Việt Nam thường mất vài tháng, nwwau may mắn không bị mất, thư từ trong nước gửi ra nước ngoài cũng mất từng ấy thời gian; thường chúng tôi phải đợi có khách nước ngoài đến Việt Nam thì dồn hết các thư cần gửi và nhờ họ đem về nước gửi hộ. Đó là một trở ngại lớn, cần phản ánh lên cấp trên mới mong giải quyết được, nên cứ mấy tháng tôi lại tập hợp tất cả các phong bì của các thư từ nước ngoài gửi đến, trên đó có dấu bưu điện ghi ngày gửi từ nước ngoài và ngày trong nước nhận được, thường cách nhau ba, bốn tháng, có khi nửa năm. Tôi đưa lên cho cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tất cả những gói phong bì đó để báo cáo và nhờ Thủ tướng giải quyết. Ông ấy gọi Tổng cục Bưu điện đến chỉ thị phải tìm cách khắc phục, nhưng mấy năm trời vẫn không thay đổi được chút nào. Vấn đề là thời đó ta bị cô lập nặng nề, mọi thư từ từ nước ngoài gửi đến Việt Nam đều phải qua Bangkok, rồi họ phải đợi dịp mới chuyển về Việt Nam được. Chưa kể thời bao cấp, bưu điện của chính chúng ta cũng làm việc rất “tài tử”.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang