Xin Được Nói Thẳng

Lượt đọc: 86 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THẾ NÀO LÀ ĐẠI HỌC ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ?

❊ ❊ ❊

Để xác định phạm vi thảo luận, xin nói rõ đại học bàn ở đây có người gọi là “đại học mới”, có người gọi là “đại học hàng đầu” (“top tier university”) hay “đại học chất lượng cao”, gần đầy nhiều người thường nói “đại học đẳng cấp quốc tế”, nên tôi cũng xin tạm dùng từ này. Tuy nhiều tên gọi khác nhau, nhưng nội dung chính, theo tôi hiểu, là đại học đạt các chuẩn mực quốc tế về các mặt: Hơn nữa, đó phải là loại đại học nghiên cứu (research university), nghĩa là không những chỉ có giảng dạy, đào tạo, mà đồng thời là một trung tâm nghiên cứu khoa học tầm cỡ. Một đại học như thế, về cơ bản, có thể sánh ngang các đại học trung bình ở các nước tiên tiến phương Tây. Như thế cũng đã quá tốt và không dễ gì thực hiện. Cụm từ “top tier” tuy có nghĩa là hàng đầu nhưng ở đây chỉ nên hiểu là hàng đầu trong khu vực chứ chưa phải lúc nhằm tới hàng đầu trên thế giới.

7. GIÁO DỤC LÀ HÀNG HÓA?

SỐ 4/2005

Hiện nay, xung quanh việc chấn hưng giáo dục, có ý kiến cho rằng dù muốn hay không thì trên thực tê đã có thị trường giáo dục rồi. Vì vậy, không nên né tránh việc xem giáo dục là hàng hóa.

Quả thật, trong lúc nhiều biểu hiện tiêu cực, trục lợi với danh nghĩa xã hội hóa giáo dục đang phổ biến và từ nhiều năm qua luôn gây bất bình trong xã hội và làm mất lòng tin của dân, thì đây là một lối thoát quá tiện: việc gì phải úp mở, hãy cứ tuyên bố giáo dục là hàng hóa, mọi thắc mắc sẽ không còn lý do tồn tại. Thật tuyệt diệu, rất hợp với chủ trương xã hội hóa giáo dục, dựa vào dân, nhà nước và dân cùng làm, đúng quá; hơn nữa, thế mới là đổi mới tư duy giáo dục.

Bỗng nhiên, trong một đất nước mà giáo dục chưa kịp trọn vẹn là phúc lợi xã hội, là sự nghiệp trồng người cao quý, là quốc sách hàng đầu, thì đã có nguy cơ biến thành một ngành kinh doanh hứa hẹn siêu lợi nhuận. Một số đại học, thay vì quan tâm xây dựng uy tín, danh tiếng của trường như ở các nước tiên tiến 17 (như không để cho giảng viên được dán quảng cáo các lớp luyện thi ngay tại cổng trường), thì buồn thay, nay lại bàn nhiều hơn đến việc xây dựng “thương hiệu”!

Xin nói ngay: vì nhiều lý do, việc phát triển trường tư thục là cần thiết và cần được khuyến khích mạnh mẽ (15 năm trước đây tôi đã cùng bốn anh chị khác kiên nhẫn đi hầu các cơ quan quản lý giáo dục để nài xin được mở trường tư đầu tiên ở nước ta 18 ). Tôi cũng không phản đối quan điểm giáo dục là hàng hóa, mà chỉ nghĩ rằng đây là vấn đề phức tạp, ngay bây giờ chưa có đủ cơ sở để khẳng định hay bác bỏ. Chỉ có điều tôi tin chắc đây chưa phải là chuyện cấp bách nhất của Việt Nam, chưa phải là cốt lõi của việc đổi mới tư duy giáo dục như một vài người chủ trương. Cũng có thể sau này sẽ đến lúc cần mặc nhiên thừa nhận giáo dục là hàng hóa để danh chính ngôn thuận về một số chủ trương phát triển giáo dục, nhưng ít ra hiện nay chưa phải là lúc đó. Vì sao? Cái đích mà công cuộc chấn hưng giáo dục cần nhằm tới là một nền giáo dục Việt Nam hiện đại như ở các nước tiên tiến, mà một nền giáo dục hiện đại đâu có hàm ý phải là giáo dục-hàng hóa, phải “mang tính thị trường”. Thật ra, chưa có một cách hiểu thống nhất đối với cụm từ “giáo dục là hàng hóa”, cho nên thảo luận về chuyện này dễ rơi vào tình trạng ông nói gà bà nói vịt. Song, theo tình hình từ nhiều năm qua, trong một xã hội mà việc buôn chữ, bán bằng còn quá phổ biến và nặng nề, dưới nhiều hình thức tinh vi, trước mắt chưa có dấu hiệu giảm bớt chứ đừng nói chấm dứt, nay nếu lại tiến xa thêm, “thừa nhận và thúc đẩy thị trường giáo dục” thì e rằng lợi bất cập hại, mức độ rủi ro rất lớn, chưa biết cái nghề giáo cao quý rồi sẽ còn gì đáng trọng trên mảnh đất tự hào là nghìn năm văn hiến này.

Một số người cho rằng trong kinh tế thị trường giáo dục cần phải được nhìn nhận là một loại hàng hóa, vậy hãy thử nhìn lại quá trình phát triển giáo dục ở các nước tiên tiến như thế nào?

Từ hàng trăm năm nay, cơ chế thị trường ở các nước ấy phát triển khá hoàn chỉnh, mà trong cả thời gian dài đó chưa thấy ở đâu dư luận xã hội (chưa nói chính quyền) coi giáo dục là một món hàng để mang ra trao đổi, bán chác, kiếm lời. Ngay ở Mỹ là nơi mà các đại học nổi tiếng nhất như Harvard, Stanford, MIT đều là trường tư, khiến nhiều người tưởng rằng trường tư chiếm đa số và giáo dục là một thị trường đem lại lợi nhuận cao, thì sự thật ra sao? Theo thống kê năm 2003, số học sinh trường tư từ lớp 1 đến lớp 8 chỉ chiếm 12% tổng số, từ lớp 9 đến lớp 12: 9% và đại học: 23%, có thể thấy giáo dục ở Mỹ về cơ bản là giáo dục công lập, và hầu hết các đại học ở Mỹ, dù công hay tư, đều không có mục đích kinh doanh, không có cổ phần viên hưởng lợi nhuận 19 . Phần lớn các trường tư được tổ chức thành những công ty bất vụ lợi, mà lợi nhuận được giữ lại để đầu tư phát triển, chứ không chia chác cho ai hết. Ở châu Âu trường tư càng ít, đại học chủ yếu là công lập. Mặc dù vậy, sự cạnh tranh giữa các trường không thiếu, vì mỗi đại học có quyền tự chủ rất cao, nhất là ở Mỹ, và đều chăm lo gìn giữ uy tín, danh tiếng của mình (nhưng không ai nói “thương hiệu” của đại học). Xem như vậy thì không cứ phải tư nhân hóa giáo dục mới có cạnh tranh và chất lượng. Gần đây ở châu Âu và Nhật Bản đang diễn ra những cải cách nhằm tăng tính tự quản của các đại học công, bằng cách áp dụng các phương pháp quản lý doanh nghiệp tư nhân cho các đại học này. Đặc biệt ở Nhật Bản cải cách rất triệt để, khiến cho về hình thức quản lý các đại học công hoạt động gần như các công ty tư nhân (và do đó khái niệm “đại học công” như trước đây không còn nữa). Với cải cách này các đại học Nhật Bản sẽ rất giống các đại học Mỹ. Tuy nhiên điều đáng chú ý là không thấy ở đâu các đại học-công ty ấy chuyển thành sở hữu tư nhân, hay được cổ phần hóa để chia lợi nhuận cho các cổ đông. Vả lại những cải cách ấy cũng chỉ mới bắt đầu, mà theo tin mới nhận được thì không phải mọi chuyện đều suôn sẻ.

Tóm lại, ngay ở các nước có cơ chế thị trường phát triển, từ lâu người ta đã rất quen với sự cạnh tranh lành mạnh, dân trí cũng như mức sống đều rất cao, thế mà tính thương mại, tính hàng hóa trong các hoạt động giáo dục cũng chỉ đến như vậy. Thế tại sao lại rộ lên vấn đề giáo dục-hàng hóa? Một mặt, toàn cầu hóa dẫn đến nhu cầu trao đổi giáo dục xuyên quốc gia, rồi công nghệ thông tin phát triển, thúc đẩy kinh doanh giáo dục qua mạng. Mặt khác, nhu cầu học tiếng Anh, dùng tiếng Anh làm chuyên ngữ tăng mạnh làm phát sinh nhu cầu xuất khẩu giáo dục từ các nước phương Tây (chủ yếu các nước nói tiếng Anh) sang các nước đang phát triển. Do đó, một số nước phương Tây đã ra sức tác động vào các tổ chức kinh tế và văn hóa quốc tế để tuyên truyền và biện minh cho việc tự do hóa dịch vụ giáo dục, chấp nhận giáo dục như một hàng hóa có thể buôn bán giữa các nước.

Liên hệ với tình hình trong nước, Việt Nam chỉ mới chuyển sang cơ chế thị trường chưa lâu, sự cạnh tranh lành mạnh còn chưa quen lắm, dân trí cũng như mức sống còn thấp, thế mà xu hướng tiêu cực đã phát triển khá mạnh. Có người đã đề nghị sau mấy năm trường tư phải chiếm tỉ lệ 40-50% (về số học sinh), phải chuyển một số trường công thành ngoài công lập, cho phép cổ phần hóa các đại học công, tạo ra một thị trưởng giáo dục sôi động, theo họ đó là “khoán 10” 20 trong giáo dục! Thú thật, tôi khó hiểu tại sao, trong lúc Việt Nam còn quá dè dặt trong chủ trương đối với các doanh nghiệp nhà nước mà phần lớn đang làm ăn thua lỗ, gây món nợ khổng lồ trên đầu người dân, trong lúc chưa mạnh tay chống độc quyền, chưa hết sức khuyến khích kinh doanh ở nhiều lĩnh vực, trong lúc tham nhũng còn tràn lan - thì đối với giáo dục là lĩnh vực nhạy cảm mà các nước đều rất thận trọng, Việt Nam lại muốn chủ trương hết sức “thoáng”, tân tiến hơn cả các nước tân tiến nhất.

Đương nhiên, cần mở rộng quy mô đại học để thỏa mãn nhu cầu học tập của xã hội, huy động tích cực sự đóng góp của nhân dân, cải cách mạnh mẽ quản lý giáo dục, tăng quyền tự quản của các đại học, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục, và còn nhiều việc khác nữa phải làm để hiện đại hóa nhà trường. Nhưng theo kinh nghiệm của các nước đã đi trước, đâu cứ phải biến giáo dục thành một ngành kinh doanh mới thực hiện được những điều trên.

Giáo dục, nếu ngày nào đó, trong phạm vi nào đó, nên được xem là hàng hóa thì cũng phải là một thứ hàng hóa đặc biệt, chứ không thể là một loại hàng hóa như mọi loại hàng hóa khác. Nhà nước phải có trách nhiệm chính cung ứng cho dân thứ hàng hóa này và xã hội phải có cơ chế hữu hiệu kiểm soát chất lượng của nó.

8. GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRƯỚC ÁP LỰC THƯƠNG MẠI HÓA

- Số 5/2005

Thời gian gần đay trong nước đã nảy ra nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề giáo dục là hàng hóa, mà thực chất là thị trường hóa, thương mại hóa giáo dục. Trước đây đã có một thời rộ lên chuyện kinh tế tri thức, được chào đón như cơ hộ nghìn vàng để đi tắt đón đầu, đưa đất nước mau chóng vươn lên giàu có, thịnh vượng. Nhưng rồi, sau những rạo rực ban đầu và nhiều mơ mộng trên mây, khi trở về thực tại, mọi sự lại lắng xuống, im ắng một cách dễ sợ, mặc cho giáo dục, khoa học là những thứ cốt tử trong kinh tế tri thức cứ tụt hậu dài dài. Nay lại đến lượt chuyện tự do hóa giáo dục đại học được coi như phép màu có khả năng cứu nền đại học Việt Nam giống như “khoán 10” đã cứu nông nghiệp trước đây vậy. Dù hưởng ứng hay phản đối ý kiến này cũng nên thấy đây là vấn đề hệ trọng, không thể dựa theo cảm tính hời hợt để xét đoán, mà cần bình tĩnh, xem xét nhiều mặt một cách nghiêm túc mới có thể có quyết sách đúng đắn, thích hợp.

I. CẢI TỔ GIÁO DỤC DẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI MẤY NĂM GẦN ĐÂY

Trong khi ở Việt Nam, giáo dục đại học còn ì ạch từng bước nhọc nhằn, thì khắp nơi trên thế giới, các trường đại học đang trải qua những biến động sâu sắc chưa từng có để thích ứng với toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế quyết liệt.

Cộng đồng châu Âu, Nhật Bản, và ngay cả một vài nước ASEAN đều đang nỗ lực cải tổ giáo dục đại học nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các trường đại học, gắn kết đại học chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, trao quyền tự chủ rộng rãi và tự chịu trách nhiệm cho các trường. Các nước trong Cộng đồng châu Âu tổ chức lại nền đại học của họ theo những nguyên tắc đã thống nhất trong tuyên bố chung Bologna năm 1999 (chẳng hạn, tổ chức lại đại học theo khung 3-5-8 21 cho tương đồng với đại học Mỹ). Bên cạnh những trường bình thường, người ta đặt trọng tâm xây dựng những trung tâm xuất sắc, nhằm tăng uy tín và sức hút để cạnh tranh với các đại học Mỹ, và giảm bớt, tiến đến chấm dứt dòng chảy chất xám sang Mỹ. Theo hướng đưa các phương pháp quản lý trong khu vực doanh nghiệp tư nhân vào khu vực giáo dục đại học, các đại học được tăng quyền tự quyết về mọi mặt, kể cả về tài chính và nhân sự, để hoạt động gần như một doanh nghiệp, vẫn do nhà nước cấp kinh phí nhưng có thể tự tìm thêm nguồn tài chính bổ sung khác. Nhật Bản là nước thực hiện các cải cách này triệt để nhất. Bắt đầu từ tháng 4/2004, các đại học công của Nhật Bản trở thành những đơn vị có quy chế pháp nhân của những tổ chức hành chính độc lập, và từ nay giáo chức và nhân viên hành chính ở đại học công sẽ không còn thuộc biên chế công chức nhà nước nữa. Một tổ chức đánh giá chất lượng đại học được thiết lập, và kinh phí cấp cho từng đại học sẽ căn cứ trên hiệu quả hoạt động theo sự đánh giá đó, buộc các đại học muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm nhiều hơn nữa đến hiệu quả và chất lượng.

Ở châu Âu rất ít đại học tư. Ở Nhật Bản và Mỹ đại học tư nhiều hơn, nhưng ở Mỹ cũng chỉ chiếm khoảng 23% (về số sinh viên). Hầu hết các đại học tư ở các nước đều là tổ chức vô vị lợi (non-profit), không có cổ phần, không mưu tìm lợi nhuận, cho nên cũng được nhà nước cấp một phần kinh phí, dĩ nhiên họ được tự chủ hoàn toàn. Như vậy, sau khi cải tổ, các đại học công sẽ chỉ còn khác các đại học tư chủ yếu ở chỗ vẫn do nhà nước quản lý, dù sự quản lý này đã được nới lỏng rất nhiều (như hiệu trưởng vẫn do chính quyền bổ nhiệm). Vì thế cũng có khi sự cải tổ này được gọi là tư thục hóa (privatisation), hay nữa, tư thục hóa (semi-privatisation), dù không hề có chuyện cổ phần hóa hay bán lại các đại học công cho tư nhân. Ở Mỹ, xu thế tư thục hóa kiểu đó đã bắt đầu: năm 2004, đã có vài đại học công lâu đời (như Đại học Virginia, Đại học William and Mary, Virginia Tech) xin hưởng quy chế tự trị giống như đại học tư, và để đổi lại, họ chịu rút bớt kinh phí tài trợ của nhà nước.

Trước tình hình đó, dư luận xã hội ở các nước phản ứng ra sao? Tất nhiên có người hoan nghênh, nhưng không phải ai cũng thích thú. Chẳng hạn, ở Mỹ, nhiều người nói thẳng: giáo dục là vô cùng quý giá, đáng giá hơn hàng hóa nhiều, và chắc chắn không thể là một món hàng bán kèm, một thứ để khuyến mãi 22 . Trong một báo cáo mới nhất (tháng 2/2005) của nhóm nghiên cứu “Futures Project: Policy for Higher Education in a Changing World” (tạm dịch: “Dự án tương lai: Chính sách cho Giáo dục bậc cao trong một Thế giới đang thay đổi”) ở Đại học Brown, các tác giả viết: “Giáo dục đại học đang có nguy cơ từ bỏ sự cam kết truyền thống đối với các nhu cầu lâu dài của xã hội để chạy theo những lợi ích ngắn hạn. Đã đến lúc cần đảo ngược cái xu thế này trước khi trượt đến một tình thế mà rồi sẽ rất khó khăn, nếu không phải là không thể, thay đổi…”

Nhiều người vẫn quan niệm sứ mạng giáo dục đại học không chỉ là đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, mặc dù đó là nhiệm vụ căn bản, mà còn phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện con người, giúp cho sinh viên ý thức được vai trò của họ là những công dân và những thành viên có trách nhiệm của cộng đồng. Cho nên, “tuy các phương pháp quản lý và hạch toán của doanh nghiệp rất có ích cho quản lý giáo dục đại học, song không thể biến giáo dục đại học thành một doanh nghiệp mà vẫn giữ được đặc điểm khiêh nó khác biệt và đáng giá trước hết…” 23

2. NHỮNG BÀI HỌC GIÁO DỤC CHO VIỆT NAM

Ở Việt Nam, tuy nền đại học còn rất lạc hậu, song làn sóng tân tự do cũng đã lan tới. Có ý kiến cho rằng đổi mới tư duy giáo dục hiện nay chính là phải đổi mới cách nhìn đối với việc thương mại hóa giáo dục, chính thức nhìn nhận giáo dục là hàng hóa, khuyến khích mạnh mẽ tư nhân đầu tư kinh doanh giáo dục, phát triển đại học tư, tiến tới cổ phần hóa một bộ phận đại học công, lấy đó làm giải pháp “khoán 10” cởi trói giáo dục đại học.

Riêng tôi nghĩ cần thận trọng hơn, vì đây là vấn đề rất phức tạp và hết sức nhạy cảm của xã hội. Chống một cách mù quáng thì không nên, nhưng nhắm mắt đón nhận vì tin rằng cả thế giới đều nhất trí như vây thì cũng quá liều. Thiết thực hơn, hãy xét xem kinh nghiệm của các nước đi trước có thể rút ra những bài học gì cho Việt Nam?

Bài học tổng quát là trong khung cảnh toàn cầu hóa, cần duyệt lại, xác định lại sứ mệnh (nhiệm vụ) giáo dục đại học, đường lối (triết lý, quan niệm, phương châm), sao cho phù hợp nhất với điều kiện mới của thế giới, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều này là cần thiết vì những thiếu sót bất cập của nền đại học của Việt Nam suy cho cùng bắt nguồn từ những mơ hồ về sứ mệnh và đường lối giáo dục đại học trong tình hình mới.

Trước mắt cần phải cố gắng cao nhất phi tập trung hóa quản lý và tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học.

Các trường đại học trên thế giới vốn đã được tự trị khá cao từ lâu, mà vẫn thấy bức thiết phải tăng cường tự trị thêm nữa mới bảo đảm hiệu quả hoạt động trong kinh tế thị trường ở thời toàn cầu hóa, thì ở Việt Nam, trong hàng chục năm qua, mặc cho nhiều kiến nghị của những người tâm huyết, cung cách quản lý đại học vẫn hết sức cũ kỹ. Đã đến lúc không nên chần chừ nữa mà phải khẩn trương phi tập trung hóa (phân cấp) mạnh mẽ quản lý, trao quyền tự quản rộng cho các đại học lớn, đồng thời thiết lập một cơ chế hậu kiểm và đánh giá có hiệu quả để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan trung ương không nên ôm hết mọi việc lớn nhỏ để rồi xử lý rất quan liêu, trên hình thức thì quá chặt chẽ nên trói buộc sáng kiến của những đơn vị nghiêm túc, trên thực tế lại quá lỏng lẻo, tạo nhiều sơ hở dễ bị lợi dụng. Đó là lý do cảnh tượng hỗn loạn về bằng cấp, chức danh và bao nhiêu những tiêu cực khác không thể kiểm soát được. Cần phải nới lỏng rất nhiều quy định cứng nhắc về tuyển sinh vào đại học, tuyển nghiên cứu sinh cao học, tiến sĩ, quản lý tài chính, nhân sự, công nhận, tuyển dụng giáo sư, phó giáo sư, v.v… Cần phải trả về cho các đại học quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm trong hàng loạt các vấn đề ấy, làm sao cho quyền tự quản của các đại học lớn của Việt Nam không quá thấp so với các đại học ở nước ngoài. Không thể viện cớ các trường chưa đủ trình độ tự quản, vì trình độ, năng lực của những tổ chức cấp trên đâu có gì hơn họ. Cần phải giữ đúng nguyên tắc: cái gì, việc gì mà trường đại học có thể giải quyết tốt nhất thì họ phải được quyền quyết định, Bộ Giáo dục và Đào tạo hay cấp trên không nên ôm lấy để rồi phạm nhiều sai lầm, như việc công nhận giáo sư, phó giáo sư, quản lý thống nhất việc thi cử, đào tạo tiến sĩ, v.v. thời gian qua.

Một vấn đề mấu chốt là việc quản lý, sử dụng đội ngũ giảng dạy. Hiện nay, lương chính thức của giảng viên đại học Việt Nam thấp xa so với mức sống hợp lý theo tính chất và vị trí công tác của họ trong guồng máy xã hội, cho nên bắt buộc họ phải xoay xở làm việc gấp ba, bốn lần số giờ bình thường: dạy thêm, dạy sô, dạy liên kết, v.v. mới có được mức sống ấy. Vì vậy họ hầu như không có thì giờ nghiên cứu khoa học, năm này qua năm nọ, trình độ vẫn không nhích lên nổi. Chính vì cách sử dụng như thế nên đội ngũ giảng dạy đại học ngày càng già nua, lạc hậu với khoa học thế giới, chất lượng đào tạo quá thấp, không đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế, mà chưa thấy rõ khả năng có thể cải thiện nhanh. Hơn nữa, đó cũng chính là một nguyên nhân hạn chế khả năng phát triển quy mô đại học và đa dạng hóa các loại hình đại học theo nhu cầu của xã hội. Bài toán về chất lượng, quy mô, công bằng, với ba yếu tố không phải lúc nào cũng đồng hành nhịp nhàng, không thể có giải pháp thỏa đáng chừng nào còn chế độ sử dụng và trả lương cho giáo chức đại học bất công và lãng phí như hiện nay.

3. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC TƯ: GIẢI PHÁP NÀO HỢP LÝ CHO VIỆT NAM?

Trong lúc nhiều vấn đề mấu chốt nêu trên của đại học còn chưa được giải quyết mà nhiều người đã muốn đặt cược tất cả vào giải pháp tự do hóa giáo dục đại học, phát triển đại học tư, cổ phần hóa đại học công, thì e rằng không thực tế và nếu không cẩn thận, kết quả dẫn đến có thể đẩy giáo dục đại học tụt hậu thêm nữa. Dù trong ngắn hạn có thể tạo được sự năng động nào đó thì lâu dài sự năng động ấy có nguy cơ sẽ thoái hóa thành rối loạn, đưa đến hậu quả tai hại khôn lường.

Tại sao như vậy?

Để hiểu rõ điều này cần biết Việt Nam muốn phát triển đại học tư kiểu nào. Nếu là kiểu trường tư vô vị lợi, như hầu hết trường tư ở các nước phát triển thì nghìn lần nên, và nhà nước có chính sách tài trợ bao nhiêu cho những trường tư đó cũng đúng, không ai có thể nói gì. Đó là cách xã hội hóa đúng nghĩa nhất, tức là để xã hội chia sẻ với nhà nước chi phí, công sức, phục vụ cộng đồng. Trường tư như vậy phải được tự quản ngang như các trường tư ngoại quốc được phép mở ở Việt Nam, nghĩa là tự quản cả về nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, tuyển sinh, cấp phát văn bằng, và dĩ nhiên cả tài chính và nhân sự, bao gồm chế độ trả lương giảng viên và thù lao cho các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, cũng như liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các chương trình đào tạo cần thiết. Với mức độ tự quản cao đó, trường tư sẽ có cơ hội thực hiện nhiều sáng kiến đổi mới về quản lý, tổ chức, nội dung, phương pháp đào tạo, mà trước mắt, do sự cồng kềnh khủng long của bộ máy giáo dục công lập, các đại học công khó bề thực hiện tốt. Chẳng hạn trường tư sẽ không bị bắt buộc phải dạy những kiến thức vô bổ, có khi chiếm tới 20% thời lượng học ở trường công; sẽ dễ dàng thực hiện phương pháp đào tạo theo tín chỉ, học trình, mà hiện ở trường công tuy biết là tốt vẫn chưa làm được nhiều; sẽ có quyền trả lương cho giảng viên đúng với công sức để họ tập trung vào nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học được giao, thường xuyên nâng cao chất lượng, đáp ứng các yêu cầu đào tạo. Tóm lại, trường tư kiểu đó sẽ có điều kiện hoạt động đúng với đòi hỏi của đại học, và những trường tốt nhất sẽ đóng vai trò tiên phong trong công cuộc cải cách nền đại học để tiến lên hiện đại.

Nếu quan niệm trường tư phải được thu lợi nhuận (trường tư vị lợi), và kinh doanh giáo dục như hàng hóa (dù là hàng hóa ít nhiều đặc biệt chăng nữa), thì không nên phát triển mạnh các loại trường tư ấy là chính, và phải coi các trường tư ấy cũng như các loại doanh nghiệp khác, để họ tự lo, không nên đòi hỏi nhà nước phải hỗ trợ đất đai, kinh phí. Chuyện này cần rõ ràng, sòng phẳng, minh bạch để đảm bảo công bằng. Sự bình đẳng giữa công và tư chỉ nên hiểu là các bằng cấp đại học có giá trị đến đâu là tùy thuộc vào uy tín, chất lượng của từng trường, không phân biệt công hay tư. Đồng thời trường tư, dù vị lợi hay vô vị lợi, cũng nên được quyền tự quản như các doanh nghiệp tư nhân. Không nên như hiện nay, một mặt trường tư vì lợi nhuận vẫn được nhà nước hỗ trợ và ưu đãi, mặt khác lại chịu sự quản lý quá chặt chẽ và khi thấy cần thiết, chính quyền có thể can thiệp sâu vào công việc quản trị nội bộ của họ (như cách chức, bổ nhiệm hiệu trưởng, giải thể, thành lập hội đồng quản trị, dù là tạm thời). Theo tôi, quy chế trường tư vừa được ban hành có nhiều điểm chưa thật hợp lý, cần được xem xét lại và sửa đổi kịp thời.

Còn một lý do kinh tế quan trọng khác, khiến giải pháp trường tư vì lợi nhuận khó có tương lai lâu dài, đó là trong hoàn cảnh thực tế hiện nay của Việt Nam, lợi nhuận mà trường tư có thể thu được khá cao nếu phân tích kỹ ra, chủ yếu là do chưa tính hết, tính đúng mọi chi phí, chứ nếu tính đúng, tính hết mọi chi phí, kể cả đất đai, và những ưu đãi khác, thì trường tư muốn bảo đảm được một chất lượng ngang trường công, tổng chi phí sẽ rất cao, do đó muốn có lãi, học phí sẽ phải tăng cao quá mức chấp nhận được, và sẽ không thể thu hút được sinh viên. Như thế có nghĩa, với mức học phí và chất lượng đào tạo chấp nhận được, cái lãi của trường tư thật ra đã do xã hội và nhà nước gián tiếp bù vào nhiều khoản chi phí. Đó là một sự bất công trá hình, có nên và có thể kéo dài mãi được không?

Về vấn đề này, đã có một nghiên cứu rất xác đáng của TS Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế gốc Việt đang sống và làm việc ở Mỹ 24 . Theo nghiên cứu này, ở Mỹ chi phí đào tạo trung bình cho một sinh viên là 40.000-75.000 đô-la một năm, học phí ở đại học công là khoảng 3.000-5.000 đô-la, ở đại học tư 15.000-35.000 đô-la. Như vậy, ở Mỹ đại học tư muốn có lãi thật sự mà bảo đảm một chất lượng trung bình ắt phải thu một học phí rất cao (không ít hơn 35.000 đô-la), vượt quá mức chấp nhận được, và trường sẽ không thể hy vọng có đủ sinh viên để tồn tại. Đó là lý do giải thích một phần vì sao ở Mỹ, tuy trường tư vì lợi nhuận vẫn được phép mở, mà hầu hết các trường tư đều vô vị lợi (chỉ trừ một số ít trường đào tạo nghề cụ thể). Và cũng chính vì lý do tương tự, ở Việt Nam giải pháp trường tư có lợi nhuận về lâu dài sẽ đưa đến một trong hai kết cục: hoặc là chất lượng giáo dục ngày càng tụt thảm hại, hoặc là ngày càng có nhiều trường tư đóng cửa vì lỗ.

*

Đúng là Việt Nam cần gấp rút chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục. Nhưng trước khi muốn áp dụng những điều mới mẻ mà ngay ở các nước tiên tiến cũng đang còn mò mẫm, như việc thị trường hóa, thương mại hóa giáo dục hiện nay, xin hãy quan tâm những vấn đề thiết thực, sơ đẳng mà Việt Nam còn chưa làm được, hãy cố gắng khắc phục lãng phí, tham nhũng, cùng những xu hướng thương mại hóa tiêu cực đang làm nhân dân rất lo lắng và bất bình.

Các vấn đề của giáo dục phải giải quyết một cách hệ thống và toàn diện, không thể cứ gặp đâu làm đó, thí điểm đi rồi thí điểm lại, hết cải tiến đến cải lùi, cứ thế năm này qua năm khác, học sinh, sinh viên phải giơ lưng ra làm vật thí nghiệm mà chưa biết bao giờ mới được hưởng một nền giáo dục sánh được với các nước tiên tiến.

9. TĂNG HỌC PHÍ - ĐẨY GÁNH NẶNG CHO DÂN?

SỐ 8/2007

Không sa vào tranh cãi lý thuyết, tôi chỉ suy nghĩ đơn giản thế này: tham nhũng, lãng phí, quan liêu từ hàng chục năm nay chưa giảm chút nào, thậm chí còn nhiều mặt trầm trọng hơn, đời sống người dân đang còn bao chuyện bất an như tai nạn giao thông luôn rình rập, thực phẩm thiếu an toàn, y tế lắm sự cố, vật giá leo thang mỗi ngày, dịch bệnh lợn gà phát triển, mà chính lúc này lại tăng học phí, lấy cớ nhà nước không đủ tiền lo cho giáo dục, thì quả tình không ổn, khiến lòng dân thêm bất an.

Lý do tăng học phí mà ngành giáo dục đưa ra là vì kinh phí nhà nước cấp cho giáo dục quá thấp, lương thầy cô giáo không đủ sống, nếu cứ giữ học phí ở mức hiện nay thì chất lượng giáo dục khó có thể cải thiện. Thoạt nghe tưởng có lý nhưng suy xét kỹ hơn, đó là cái thiếu trách nhiệm của cơ quan quản lý. Chưa vội đi sâu vào lý luận có nên xem giáo dục là hàng hóa không, và điều đó hàm nghĩa gì, có hệ lụy gì đến trách nhiệm của nhà nước đối với quốc sách hàng đầu này, tôi chỉ xin nêu lên mấy sự việc sau, mong tất cả chúng ta cùng suy nghĩ để có thái độ thân trọng trước một vấn đề mà ý nghĩa có thể vượt quá tác động trực tiếp của nó đến đời sống người dân.

1. Phải chăng vì thiếu tiền nên chất lượng giáo dục sút kém, do đó cần tăng học phí để nâng cao chất lượng giáo dục? Rõ ràng tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích rởm, làm láo báo cáo hay, học sinh ngồi nhầm lớp, giáo viên đứng nhầm lớp, vi phạm đạo đức nghề giáo, chương trình giảng dạy và sách giáo khoa sai sót nhiều, không ổn định, dạy thêm học thêm tràn lan, chạy trường, chạy lớp, học giả bằng thật, đều không phải do thiếu tiền. Có ý kiến cho rằng nhà nước hiện chi cho giáo dục 20% ngân sách nhưng giả dụ có tăng lên 30-40% ngân sách và tăng học phí nhiêu, nhiều lần nữa, cũng chẳng có tác dụng gì mấy nếu không thay đổi phong cách làm giáo dục. Vì sao? Từ năm 1998 đến năm 2007, đầu tư của nhà nước cho giáo dục tăng gấp sáu lần (từ 11.754 tỉ lên 67.000 tỉ), chưa kê tiền vay của nước ngoài 1,1 tỉ đô-la, trong khi đó số lượng học sinh, sinh viên không tăng bao nhiêu. Cho nên không thể viện cớ khung học phí 10 năm nay không thay đổi để biện minh cho đề nghị tăng học phí.

2. Phải chăng cần tăng học phí để tăng lương cho giáo viên đủ sống? Chỉ cần phân tích số liệu thực tế một cách khách quan cũng đủ rút ra kết luận 25 : gộp cả phần ngân sách chi cho lương và các khoản thu nhập khác của giáo viên với tiền đóng góp của dân qua học phí đủ loại, thì lương trung bình của thầy cô giáo phổ thông phải gấp ba bốn lần lương chính thức. Điều cực kỳ phi lý đó của cơ chế sử dụng tài chính công chính là thủ phạm số một của tệ nạn tham nhũng đang hoành hành trong bộ máy hành chính của chúng ta, và riêng trong ngành giáo dục, nó cũng là thủ phạm số một của mọi sự tiêu cực, khuất tất ở đây. Theo nhận định chung, trên cơ sở các kết quả điều tra thực tế, hiện nay thu nhập của phần đông giáo viên đã đủ sống tương đối, đã có không ít giáo viên ở thành phố có thu nhập trên dưới 10 triệu đồng/tháng, thậm chí cá biệt vài chục triệu đồng/tháng. Vậy vấn đề cấp bách không phải ở chỗ lương thấp mà ở chỗ lương chỉ là một phần nhỏ thu nhập, mà thu nhập này thì không phụ thuộc nhiệm vụ chính, lại được phân phối khá tùy tiện, gây ra nhiều bất công, và hơn nữa, khiến quan chức ngày càng quan liêu, còn thầy cô giáo thì luôn đầu tắt mặt tối để làm những việc ngoài trách nhiệm trực tiếp. Sao không tìm cách xóa bỏ cái nghịch lý đó trên cơ sở chấn chỉnh cơ chế tài chính cho minh bạch, công bằng, và giảm thiểu tối đa những chi tiêu lãng phí đang làm thất thoát biết bao tài sản? Đó mới thật là giải pháp căn cơ để tiến đến đồng lương công bằng cho giáo viên. Tuy giải pháp này khó thực hiện, song không khó vì bản chất bất khả thi mà chỉ khó vì đụng chạm tới lợi ích của những nhóm người đã quen được ưu đãi bởi cơ chế tài chính thiếu công bằng và thiếu minh bạch tồn tại bấy lâu.

3. Phải chăng chỉ cần có chính sách học bổng thích hợp thì tăng học phí vẫn bảo đảm cho người nghèo đi học được? Trước hết, cấp học phổ cập phải hoàn toàn miễn phí, còn các cấp học khác, nếu bắt buộc phải tăng học phí thì tối thiểu cũng cần có chính sách học bổng cho người nghèo, đồng thời học phí không thể tăng đồng loạt, mà cần có phân biệt theo vùng, miền. Lý thuyết thì vậy, song khi nhìn vào thực trạng bộ máy hành chính quan liêu, tham nhũng trầm trọng mà từ nhiều năm rồi vẫn chưa thay đổi, ai dám chắc sẽ không xảy ra điều trái ngược: người giàu hay có quyển chức lại chạy được học bổng, hoặc trả học phí thấp, còn người nghèo không trả nổi học phí, có khi đành bỏ học. Có thể những trường hợp oái oăm như thế không đến nỗi là đa số, nhưng ai dám bảo đảm không nhiều, không phổ biến, và dù cho chỉ là số ít thì nhà nước có thế dửng dưng được chăng?

Thật ra kinh nghiệm thực tế không cho phép hy vọng quá nhiều ở chính sách học bổng. Mặc dù chính sách ấy đã có từ lâu, song mấy năm gần đây số học sinh tiểu học giảm (từ 9,7 triệu năm 2000 còn 7,8 triệu năm 2004) trong khi dân số vẫn tăng có thể là do có nhiều học sinh bỏ học. Học phí chưa tăng mà còn như thế thì tới đây, nếu học phí tăng lên, tình hình sẽ ra sao? Theo tính toán của TS Vũ Quang Việt 26 có thể dự đoán bức tranh rất tối màu nếu học phí đổ đồng tăng từ 66.000 đồng lên 200.000 đồng/tháng. Đến mức đó, người dân sẽ tự hỏi mục tiêu của chính sách giáo dục là vì ai? Nếu chúng ta nhớ rằng ngoài học phí, còn có bao nhiêu khoản phí khác về sách vở, về học thêm, nếu không chi thì cơ hội học được trường tốt, và lọt được vào cấp học cao hơn rất mong manh, thì mới thấy hết sự bất công còn tồn tại trong nền giáo dục của Việt Nam.

4. Phải chăng do nhà nước không thể bao cấp hết cho giáo dục, nên phải đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tăng cường huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục trong đó có việc tăng học phí? Ngay ở các nước giàu OECD, phần đóng góp của dân cho giáo dục cũng chỉ quanh quẩn 20%, trong khi ở nước ta tỉ lệ ấy đã vượt 40%, thế vẫn chưa đủ sao? Có người còn cho rằng quan niệm giáo dục là hàng hóa đã chiếm ưu thế trên thế giới, ta không nên né tránh thị trường giáo dục, mà phải trả giáo dục về cho xã hội. Trong thực tiễn quản lý giáo dục điều đó thường dẫn đến giảm thiểu trách nhiệm của nhà nước và trút hết gánh nặng tài chính giáo dục về cho dân. Thật là trớ trêu, trong lúc hằng trăm doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ gây nên những món nợ khổng lồ không biết bao giờ mới thanh toán nổi, các tổng giám đốc vẫn điểm nhiên hưởng lương mấy chục triệu đồng/tháng, thì ngành giáo dục lại đang bàn tính chuyện tăng học phí, cổ phần hóa đại học công, khuyến khích tư nhân góp vốn kinh doanh giáo dục lấy lãi, lấy cớ hội nhập xu thế quốc tế. Trong khi đó, ở các nước văn minh, những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải đóng cửa, và tuyệt đại đa số đại học tư đều vô vị lợi, thảng hoặc có vài cái vị lợi thì chẳng có chút uy tín gì.

Nói cho cùng, một chính quyền vì dân nhiều hay ít chủ yếu phải thể hiện ở mấy mặt: 1) trong sạch, ít tham nhũng; 2) thân thiện với dân, không hành dân; 3) bảo đảm cho dân các quyền dân chủ trong đó có quyền được học hành. Xin kiến nghị Chính phủ và Quốc hội cho tạm dừng để án tăng học phí, để giảm bớt lo lắng cho các gia đình lao động.

10. CHẤN HƯNG, CẢI CÁCH GIÁO DỤC LÀ MỆNH LỆNH CUỘC SỐNG

SỐ 8/2006

Ai cũng biết 30 năm qua giáo dục trên thế giới biến chuyển sâu sắc chưa từng thấy, trong lúc đó, giáo dục Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng triền miên. Quá bức xúc trước tình hình trì trệ đó nên vì trách nhiệm chung, chúng tôi buộc phải bày tỏ ý kiến với cấp lãnh đạo cao nhất trước khi quá muộn qua bản kiến nghị “Chấn hưng, cải cách Giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống”. Dưới đây là những ý kiến về nội dung bản kiến nghị đó.

Thiếu quyết tâm từ cấp cao thì cải cách giáo dục khó thành công. Trong ý nghĩa đó, tôi đánh giá cao ý kiến của nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải khi từ nhiệm đã can đảm nhìn nhận sự không thành công trong hai lĩnh vực giáo dục và khoa học-công nghệ thời gian qua. Nếu tới đây giáo dục tiếp tục không thành công thì đó sẽ là điều bất hạnh lớn cho dân tộc, vì không ai lường hết được hâu quả của nó đối với mọi mặt đời sống khi đất nước hội nhập. Thực tố ngày càng xác nhận đúng như chúng tôi đã nêu trong bản kiến nghị. Hy vọng giờ đấy, với nhận thức đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo mới sẽ có điều kiện thuận lợi hơn người tiền nhiệm để thực hiên nhiệm vụ của minh.

Thứ hai, giáo dục Việt Nam đã tụt hậu ở mức không bình thường và trong thời gian quá dài. Do đó, muốn khắc phục nhanh sự lạc hậu, giáo dục phải được cải cách, xấy dựng lại từ gốc, tức là từ nhận thức, quan niệm và tư duy cơ bản về mục tiêu, phương hướng, nội dung, phương pháp, tổ chức và quản lý, để phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới. Không thể làm tùy tiện, gặp đâu làm đó, nay sửa, mai sửa, gây bất ổn liên miên như đã làm trong 20 năm qua, mà phải nghiên cứu nghiêm túc, có một kế hoạch chu đáo và chuẩn bị kỹ lưỡng để thực hiện từng bước chắc chắn, theo một lộ trình thống nhất được Quốc hội thông qua trước khi thực hiện.

Trong bản kiến nghị chúng tôi có nêu ra 10 vấn đề cấp bách cần và có thể giải quyết ngay để cải thiện tình hình và ngăn chặn sự suy sụp hơn nữa của giáo dục. (Ba vấn đề cho phổ thông: thi cử, dạy thêm học thêm, sách giáo khoa. Bảy vấn đề cho đại học: thi cử, đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ, chức danh giáo sư và phó giáo sư, chính sách đối với người dạy đại học, đổi mới sư phạm, xây dựng mới một đại học hiện đại làm “hoa tiêu”, tăng và nâng cao hiệu quả đầu tư cho đại học.)

Xin ghi nhận rằng, ngay từ đầu, bản kiến nghị đã nhận được sự quan tâm của người đứng đầu Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thủ tướng đã có buổi làm việc trực tiếp với chúng tôi để nghe trình bày về từng để nghị cụ thể. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã tham dự nhiều buổi thảo luận để nghe trực tiếp các ý kiến. Qua thực tế, tôi nghĩ rằng dù ít hay nhiều những đề nghị của chúng tôi cũng đã có tác động trực tiếp đến các chủ trương giáo dục hai năm qua.

Trên nhiều mặt công tác, ngành giáo dục đã có một số thay đổi theo chiều hướng tốt, phù hợp với các đề nghị của chúng tôi (mà cũng là của nhiều người khác), song những thay đổi ấy còn quá chậm, quá vất vả, trầy trật, và còn xa yêu cầu. Tình trạng chung là dùng dằng nửa muốn đổi mới nửa còn luyến tiếc lối cũ (phần vì trình độ, vì quán tính, phần vì lo phải chia sẻ quyền lợi), đồng thời cũng xuất hiện xu hướng chạy theo những giải pháp tự do quá trớn, coi nhẹ nghĩa vụ của nhà nước và biến giáo dục thành một ngành kinh doanh kiếm lời đơn thuần.

Trước hết và thời sự nhất là chuyện cải cách thi cử và đánh giá. Chúng tôi kiên trì kiến nghị bỏ các ký thi cuối cấp (tiểu học, trung học cơ sở, tú tài) mà thay vào đó thực hiện thi, kiểm tra nghiêm túc thường xuyên và đều đặn từng chặng, từng môn, đến cuối cấp xét kết quả học tập và đánh giá tổng hợp để cho tốt nghiệp. Không tổ chức thi đại học như hiện nay mà chỉ nên có một kỳ thi nhẹ nhàng bằng trắc nghiệm với mục đích sơ tuyển, để loại những người quá kém, không đủ trình độ tối thiểu theo học đại học. Còn việc tuyển sinh vào đại học thì do từng trường đại học tự làm, chủ yếu dựa trên hồ sơ học trung học phổ thông, và phỏng vấn hoặc thi nếu cần thiết.

Kết quả là đến nay đã bỏ được hai kỳ thi tiểu học và trung học cơ sở, như vậy đã có tiến bộ, nhưng vẫn cố giữ thi tú tài và thi đại học, hai kỳ thi vừa tốn kém, căng thẳng, vừa phơi bày biết bao chuyện tiêu cực đáng xấu hổ lặp đi lặp lại không dứt.

Vấn đề thứ hai thể hiện sự dùng dằng là phân ban chương trình trung học phổ thông. Đây là vấn đề đã nhức nhối hơn 10 năm nay. Bộ Giáo dục và Đào tạo từ đầu những năm 1990 đã cho thí điểm khá rộng một chương trình “chuyên ban” quá “chuyên” nên bị phản đối, và đến năm 1996 phải đình lại để nghiên cứu thêm. Sau đó vài năm lại tiếp tục nghiên cứu, thí điểm, và từ đó thí điểm đi thí điểm lại nhiều lần mà vẫn chưa thành công. Năm 2005, dự thảo phân ban chính thức đưa ra hỏi ý kiến rộng rãi vẫn theo phương án chia nhiêu ban. Sau khi góp ý kiến mà không thấy có phản hồi tích cực, một chiều tháng 11/2005, tôi đã đến trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo để trình bày và trao đổi ý kiến với Bộ trưởng và các bộ phận hữu trách về cách tổ chức chương trình trung học phổ thông. Dựa theo kinh nghiệm nhiều nước tiên tiến, tôi đề nghị chương trình trung học phổ thông cần tạo điều kiện cho học sinh có nhiều sự lựa chọn để học sao cho phù hợp với sở thích, khả năng riêng của mình, mà vẫn bảo đảm được học vấn phổ thông cần thiết, đồng thời cách tổ chức chương trình phải uyển chuyển để cho phép học sinh điều chỉnh sự lựa chọn khi cần thiết. Theo tinh thần đó không chia ban cứng nhắc, mà mỗi môn có thể có hai chương trình: một bình thường, và một nâng cao, học sinh tùy chọn mà học. Từng năm, học chương trình nào thì thi theo chương trình đó. Chỉ chú ý là ai muốn sau này học đại học ngành nào thì cần chọn chương trình nâng cao về những môn cần thiết theo ngành đó để ghi vào học bạ khi tốt nghiệp phổ thông (học bạ này phải đính trong hồ sơ xin vào đại học). Như vậy, chỉ có một ban là ban cơ bản, chứ không có hai ban kia (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội). Trong thực tế, học sinh chỉ cần chọn hai hay ba môn để học chương trình nâng cao. Như thế cho phép sự khác nhau giữa hai chương trình nâng cao và bình thường tăng dần lên, để đến lớp 12 thì những học sinh có khả năng đã có thể học hết một phần chương trình đại học về môn sở trường của mình.

Sau buổi thảo luận đó tôi hy vọng sẽ không còn cách phân ban cứng nhắc đã thất bại qua nhiều đợt thí điểm trước đây. Thế nhưng rất tiếc, cuối cùng thi chương trình trung học phổ thông chính thức vẫn theo phương án chia ba ban cứng nhắc, chỉ có tiên bộ so với trước là bây giờ có ban cơ bản linh hoạt như phương thức chúng tôi đã đề nghị. Vừa qua khi đưa ra thực hiện thì đúng là đại đa số học sinh chọn ban cơ bản. Thật ra, nếu không có hai ban khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội học sinh vẫn có thể chọn ban cơ bản rồi học nâng cao về các môn họ cần. Nhưng điều cứng nhắc bất lợi là đã chọn các ban này thì phải học nâng cao về tất cả các môn của ban đó - một sự lãng phí không cần thiết đối với nhiều học sinh chỉ cần học nâng cao hai ba môn trong đó. Sở dĩ vẫn cố giữ hai ban khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có lẽ là vì nhiều năm nay đã trót có hai ban đó và sách giáo khoa về hai ban đó đã biên soạn và in sẵn cả rồi, nay bỏ đi thì không nỡ.

Một vấn đề khác là cải cách đại học. Từ lâu chúng tôi đã báo động sự tụt hậu của đại học còn nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần so với giáo dục phổ thông. Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nhận ra sự yếu kém bất thường đó, nên đã bắt tay xây dựng “Đề án đổi mới đại học”. Tuy nhiên, trong tình hình Việt Nam hiện nay, cải cách giáo dục không nên tách rời đại học với phổ thông, và hơn nữa, đây là việc lớn có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ, nên không thể làm vội vã và bỏ qua sự chấp thuận của Quốc hội, tức là, theo một nghĩa nào đó, sự đồng thuận của xã hội. Trước đây đã có kinh nghiệm từ bản Chiến lược Giáo dục 2000-2010 tuy còn nhiều điểm chưa được tính toán cân nhắc kỹ vẫn được thông qua, để rồi sau vài năm thấy rõ đó là một chiến lược tụt hậu.

Về đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư, thì công tác này vốn bê bối lộn xộn từ hàng chục năm nay, lẽ ra phải được chấn chỉnh để khắc phục nạn lan tràn học vị và chức danh rởm, nhưng suốt nhiều năm, các đề nghị tâm huyết của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều bị bỏ ngoài tai. Lần này, những đề nghị ấy được nhắc lại khẩn thiết, và nhờ thế đến năm 2005 đã có ít nhiều kết quả. Một đề án cải tổ công tác chức danh giáo sư, phó giáo sư, trên căn bản phù hợp các đề nghị của chúng tôi, đã được đem ra bàn thảo, những tưởng sẽ là một bước tiến lớn đối với đại học, song cuối cùng vẫn không vượt qua được tư duy bảo thủ lạc hậu, và công việc này đã phải quay 180 độ để trở về những kiểu làm việc kỳ quặc cũ. Ở đây cũng như trong những trường hợp tương tự, cái người ta quan tâm là tôi còn quyền gì, mất quyền gì, chứ không phải lợi ích sự nghiệp khoa học, giáo dục.

Một vấn đề nữa, tôi quan niệm tiêu cực trong giáo dục không chỉ ở việc gian lận thi cử, mà ở mọi biểu hiện gian dối trong các hoạt động giáo dục như chạy điểm, chạy bằng, báo cáo thành tích ảo, trục lợi bất chính. Đó thực chất cũng là tham nhũng nhưng với những biểu hiện đặc thù trong giáo dục. Cho nên, muốn chống tiêu cực trong giáo dục hiệu quả thì phải triệt cái mầm sản sinh ra nó ngay từ cơ chế quản lý.

Thi đua là một biện pháp động viên tinh thần lao động để nâng cao năng suất, về ý nghĩa không khác gì các biện pháp khuyến khích năng suất vẫn được thực hiện ở các xí nghiệp tư bản. Nhưng cách thi đua của Việt Nam khá đặc thù nên trước đây bao giờ cũng nói là “thi đua xã hội chủ nghĩa” để nhấn mạnh tinh thần tự giác xã hội chủ nghĩa và kèm theo nó là cách tổ chức: cá nhân hay đơn vị tự báo, rồi bình bầu, rồi khen thưởng. Tuy vậy, ngay thời đó cũng đã thấy rằng nó không thích hợp với ngành giáo dục nên ngay ở Liên Xô cũ là xuất xứ của thi đua, người ta đã bỏ thi đua trong giáo dục từ những năm 30 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam trước đây ở miền Bắc cũng không phải không thấy khó khăn của thi đua trong giáo dục, nhưng dẫu sao thời chiến tinh thần tự giác xã hội chủ nghĩa nói chung khá cao cho nên chuyện bóp méo thành tích để tăng điểm thi đua không nghiêm trọng. Còn bây giờ, khi thang giá trị trong xã hội đã thay đổi thì thi đua, với cách tổ chức như đang làm, là một cơ chế tạo ra những thành tích ảo như đã thấy trong nhiều năm qua. Vì vậy nên mạnh dạn bỏ thi đua trong giáo dục và nên học tập kinh nghiệm các nước tiên tiến, dùng những biện pháp quản lý thích hợp hơn để động viên tính tích cực của người lao động.

Gắn với thi đua là chế độ lương cực kỳ phi lý, không thể biện minh bằng bất cứ lý do nào, mà phải xem là một cơ chế “đục nước béo cò” chỉ thích hợp để nuôi dưỡng tham nhũng. Trong nhiều bài viết trên các báo và phát biểu với các vị lãnh đạo ở cấp cao, tôi đã nói rõ vì sao cơ chế trả lương này là thủ phạm chính gây ra tham nhũng tràn lan, làm một vỏ bọc kiên cố bảo đảm cho tham nhũng đi dần từ dưới lên cao một cách “an toàn”. Riêng về giáo dục thì trong một bài viết có nhan đề “Những chỉ tiêu giật mình trong giáo dục” đăng trên trang báo Vietnamnet năm 2005, TS Vũ Quang Việt, dựa trên cơ sở phân tích số liệu thống kê nghiêm túc, đã chứng minh rằng chỉ cần chấn chỉnh các khoản ngân sách chi tiêu cho giáo dục là hoàn toàn đủ để trả lương đàng hoàng cho cán bộ, giáo viên, chứ không chỉ trả cho họ một đồng lương còm cõi rồi buộc họ xoay xở kiếm thêm thu nhập cho đủ sống.

Vì vậy, nếu thật tâm muốn chống tiêu cực trong giáo dục thì một việc cần làm ngay là hãy mở một cuộc tổng điều tra về các cách chi tiêu tiền ngân sách và các khoản thu khác (tiền nhân dân đóng góp, tiền vay cho các dự án) trong giáo dục. Trên cơ sở đó, lập lại kỷ cương tài chính và giải quyết chế độ lương cho cán bộ, giáo viên một cách cơ bản, đúng như đã ghi trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng. Chỉ khi mọi người lao động giáo dục đều có lương đủ sống theo mức phù hợp với năng suất của mình thì mới có cơ sở pháp lý và đạo lý buộc ai nấy phải làm việc nghiêm túc. Còn như hiện nay thì có chống được tiêu cực cũng chỉ chống ở phần ngọn, không thể giải quyết được vấn đề một cách cơ bản.

11. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

SỐ 1/2007

Thời gian vừa qua dư luận có khá nhiều ý kiến khác nhau về đổi mới một số chính sách quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Dưới đây là mấy quan điểm của tôi về những đổi mới đó.

Từ nhiều năm nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng không ngớt có những cuộc tranh luận về các mặt sai, mặt tiêu cực trong giáo dục. Điều này chứng tỏ mối quan tâm sâu sắc của xã hội đối với giáo dục và ước vọng tha thiết của người dân hướng tới một nền giáo dục lành mạnh, phát triển đúng hướng.

Khi tranh luận tất nhiên có ý kiến đúng và sai, nhưng bao giờ cũng nên đứng trên mặt bằng khoa học, cố gắng tránh những thái độ thiếu khách quan, thiếu thận trọng khi phát biểu về những vấn đề nhạy cảm, và trong mọi trường hợp tránh đưa ra những thông tin mang tính bịa đặt gây hiểu lầm.

Gần đây, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có phát biểu: “Biếu thầy cô giáo một ít tiền nhân Ngày Nhà giáo cũng không có gì đáng ngại nếu điều đó xuất phát từ tấm lòng. […] Hệ tại chức là ‘nồi cơm’ của các trường đại học, không thể triệt ngay mà phải từ từ”. Nếu đặt những câu nói này trong bối cảnh cuộc vận động chống tiêu cực mà ngành giáo dục đã phát động thì đúng là phần nào thiếu nhất quán.

Ai cũng thấy các hệ tại chức, từ xa đang có nhiều bê bối cần kiên quyết chấn chỉnh. Nơi nào đào tạo nhăng cuội chỉ cốt lấy tiền thì cần kiên quyết xử lý. Nhiều người trong đó có tôi đều cho rằng không thể vì nồi cơm mà thỏa hiệp với tiêu cực, trái lại càng phải quyết liệt để giữ kỷ cương thì mới mong có những nồi cơm lớn hơn. Tuy nhiên, tôi không tán thành ý kiến của một số ít người đòi xóa bỏ các hệ tại chức, từ xa. Đó là những hình thức đào tạo đáp ứng nhu cầu thực sự của một bộ phận trong xã hội không có điều kiện kinh tế và thời gian để theo học các lớp chính quy. Ở một số nước, thậm chí đầu tư của toàn xã hội cho các hình thức học tập ngoài chính quy còn vượt cả đầu tư cho hệ chính quy truyền thống. Vấn đề là phải chấn chỉnh để làm cho có hiệu quả, chứ không phải phát triển bừa bãi, biến thành một sự lãng phí lớn và góp phần vào sự sa sút chung của đạo đức trong xã hội.

Tôi cũng đã nhiều lần đề cập chuyện dạy thêm học thêm khi bàn về giáo dục. Gần đây nhất tôi đã phát biểu trên báo Sài Gòn Giải Phóng. Đại thể tôi vẫn luôn cho rằng dạy thêm học thêm như đã nảy sinh và tồn tại ở ta trong 20 năm qua là một trong những nét lạc hậu nhất của giáo dục Việt Nam. Nói gì thì nói, sở dĩ dạy thêm học thêm cứ phát triển, mặc cho mọi nghị quyết phê phán nó và mọi lệnh cấm, chủ yếu là do nó đáp ứng một nhu cầu giả tạo của xã hội tạo nên do đồng lương giáo viên không đủ sống, kết hợp với chương trình quá tải không hợp lý, nhất là khi xung quanh nhà trường, công chức mọi ngành đều có cách kiếm thêm thu nhập ngoài lương để nâng cao mức sống. Không nên viện cớ ở một số nước tiên tiến như Nhật Bản đều có học thêm với một tỉ lệ cao (70%?) để biện minh vì học thêm ở các nước đó khác hẳn dạy thêm học thêm của Việt Nam. Trừ trường hợp đặc Biệt khi những học sinh vì đau ốm hay lý do nào đó không theo kịp được lớp, còn họ chỉ học thêm những thứ ngoài chương trình chính khóa (nhạc, họa, nghệ thuật, ngoại ngữ, v.v.) để phát triển năng khiếu, hoặc để chuẩn bị thi vào những trường lớn, thường đòi hỏi cao hơn chương trình trung học phổ thông. Học như thế thường theo từng nhóm nhỏ, dưới hình thức học sinh phải chủ động nhiều hơn là nghe giảng thụ động, gần như một cách tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Không có kiểu như Việt Nam là học ở lớp qua loa, sơ sài rồi trả tiền để học ngoài giờ kỹ hơn về những thứ trong chương trình, và học theo những lớp khá đông, người kém học chung với nguời giỏi, và thường cũng nghe giảng thụ động không khác gì ở lớp chính khóa. Thậm chí luyện thi trong những phòng chật như nêm, thiếu cả điều kiện vệ sinh tối thiểu. Học thêm như vậy nếu có thu lượm thêm được chút kiến thức nào thì cái giá phải trả cũng quá đắt, giáo dục ngày càng lún sâu vào kiểu học từ chương, khoa cử, học vẹt, bắt chước, làm theo, chứ làm sao phát triển được tính chủ động, sáng tạo. Ham học theo kiểu xưa đó chẳng có lợi gì cho đất nước, nhất là trong thời đại này. Cho nên cần có nhận thức dứt khoát về tính chất lạc hâu của dạy thêm học thêm tràn lan.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là nên ủng hộ việc cấm đoán dạy thêm học thêm. Chừng nào các nguyên nhân sinh ra dạy thêm học thêm còn tồn tại, thì không thể dùng mệnh lệnh hành chính để xóa bỏ. Đặc biệt, trong lúc tiền lương giáo viên không đủ sống thì không có pháp lý cũng như đạo lý nào cấm được họ dạy thêm để kiếm thêm thu nhập. Đó là nỗi đau chung của xã hội, không nên để một mình giáo viên gánh chịu. Do đó, giải pháp đúng đắn là tạm thời chấp nhận dạy thêm học thêm để quản lý tốt hơn, và hạn chế các tiêu cực. Đồng thời đừng quên đây chỉ là giải pháp trước mắt, cốt lõi giải quyết vấn đề này là phải tìm biện pháp nhanh chóng sửa đổi chế độ lương nhằm tiến tới xóa bỏ dần dạy thêm học thêm, chỉ để tồn tại kiểu học thêm lành mạnh như ở nước khác. Mà sửa đổi chế độ lương thì đầu phải khó đến mức không làm được, tuy phương án Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đề nghị chưa phải là hay và cơ bản.

Chắc rằng khi tuyên bố kế hoạch đào tạo tiến sĩ với quy mô 20.000 tiến sĩ trong mười năm tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những tính toán cụ thể. Tuy vậy, cũng như nhiều người, tôi e rằng ta chỉ mới tính toán ước lượng nhu cầu, chứ chưa cân nhắc kỹ về tính khả thi của kế hoạch. Ví dụ, có thể xúc tiến mạnh gửi người nhờ các nước giúp đỡ đào tạo, song khó khăn của giải pháp này là chọn người gửi đi học từ những nguồn nào trong khi đại học trong nước còn yếu kém như hiện nay và chắc chắn với đội ngũ giảng dạy hiện có khó có thể nâng cấp nhanh chóng được. Không phải chỉ có tài chính mà còn nhiều yếu tố phức tạp khác không thể dễ dàng vượt qua.

Một lần nữa cần nhắc lại bài học từ việc đào tạo tiến sĩ quá cẩu thả chỉ cốt số lượng mà hàng chục năm nay Việt Nam vẫn coi như một thành tích, thật ra đang gây ra những khó khán trở ngại chưa lường hết. Cả việc công nhận giáo sư, phó giáo sư không theo các chuẩn mực quốc tế bình thường, trong khi gạt ra ngoài nhiều người trẻ xứng đáng, cũng đang làm chậm tiến trình hội nhập quốc tế của các đại học Việt Nam. Cái vòng luẩn quẩn thầy kém đào tạo ra trò kém, trò kém trở thành thầy kém, rồi lại đào tạo ra trò kém chỉ có thể chấm dứt bằng những biện pháp mạnh mẽ, kiên quyết. Trước hết ở các khâu đào tạo sau cử nhân và tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư.

Chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm thất bại do bệnh thành tích, chạy theo hình thức, số lượng, mà coi nhẹ thực chất. Lần này nên chăng phải thực tế hơn. Đây cũng là một biểu hiện căn bệnh thành tích không thể tiếp tục duy trì trong đời sống giáo dục.

Về vấn đề được thảo luận nhiều và gần đây xem ra đã ngã ngũ là xóa bỏ độc quyền in và phát hành sách giáo khoa của Nhà xuất bản Giáo Dục, tôi đã có nhiều dịp phát biểu ý kiến (xem Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, số 50/2006). Ở hầu hết các nước trên thế giới không có chuyện một nhà xuất bản của nhà nước hay tư nhân được giao độc quyền xuất bản sách giáo khoa, mà giáo dục của họ tốt hơn Việt Nam nhiều. Vậy không có lý do gì lo ngại rằng xóa bỏ độc quyền này sẽ dẫn đến kết quả tiêu cực cho giáo dục. Nói chung không chỉ trong lĩnh vực này mà trong nhiều lĩnh vực khác nữa, độc quyền là một hình thức quản lý lỗi thời đang bị xóa bỏ dần. Nếu có ai phản đối độc quyền vì thèm khát “miếng bánh” khổng lồ (như trong bài báo đã nêu trên Tia Sáng) thì điều đó cũng chẳng có gì xấu. Cạnh tranh kinh tế đều vì “miếng bánh” cả, chỉ đáng lên án là cạnh tranh không lành mạnh. Tôi thiết tưởng thời nay mà cứ lập luận quanh co để bảo vệ độc quyền là đi ngược lại xu hướng tiến bộ. Còn làm sao để thị trường sách giáo khoa không rối loạn, bát nháo, thì mấu chốt không phải là bám giữ độc quyền mà là tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, để cho mục tiêu lợi nhuận đi đôi với trách nhiệm cộng đồng. Những lo ngại rằng xóa bỏ độc quyền sách giáo khoa sẽ gây rối loạn cũng chẳng khác gì lo ngại phát triển kinh tế tư nhân sẽ làm suy yếu nền kinh tế. Đó thực chất là ý muốn quay lại kiểu quản lý bao cấp mà mọi chúng ta đều quá rõ tác hại.

Về sách giáo khoa, ngoài chuyện độc quyền xuất bản còn nhiều vấn đề khác nữa, như: nên tổ chức biên soạn chương trình và sách giáo khoa như thế nào là hợp lý, có nên quy định một cuốn sách duy nhất cho cả nước về mỗi môn, mỗi lớp, và giáo viên có bắt buộc phải dạy theo đúng sách đó không, v.v… Phải thừa nhận 20 năm qua các vấn đề này được giải quyết chưa tốt, gây ra quá nhiều lãng phí, khiến nhiều người có ý kiến. Rất tiếc cuộc tranh luận gay gắt đang diễn ra về sách giáo khoa đã đi tới giai đoạn cãi vã thiếu bình tĩnh, khách quan. Chẳng hạn, tôi cũng bị vô cớ gán cho là tác giả bộ sách giáo khoa toán 50 năm trước, chẳng lẽ tôi không cải chính mà cải chính tất sẽ bị lôi vào cuộc tranh luận chẳng có gì hay ho cả, vì tôi cảm thấy thiếu thiện chí và trung thực. Tốt nhất Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội nên vào cuộc để hướng cuộc tranh luận vào mục tiêu xây dựng hơn, nhằm cải tổ lại việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa cho hợp lý và có hiệu quả, không chỉ cho giáo dục phổ thông mà cả cho đại học.

Trên thế giới đã có quá đủ kinh nghiệm về các vấn đề này, khi hội nhập Việt Nam không thể bỏ qua các kinh nghiệm đó. Tôi chưa biết mai đây vào WTO rồi, mà cái gì của Việt Nam cũng chẳng giống ai, cứ đường ta ta đi, sách ta ta học, cho đến nỗi có những kiểu dạy người ta đã bỏ mấy chục năm rồi mà Việt Nam vẫn cố giữ, ngược lại có những kiến thức học sinh phổ thông các nước đều được học mà ở Việt Nam vẫn có giáo sư còn lơ mơ, thì làm sao chống đỡ nổi với làn sóng toàn cầu hóa.

Bộ Giáo dục và Đào tạo dự định trong vài năm tới sẽ bỏ thi tuyển đại học. Có thể đồng ý hoặc không, nhưng không thể coi đây là một cuộc phiêu lưu. Cũng như vào WTO có thể thích hay không, nhưng không thể coi là mạo hiểm. Tôi không biết trên thế giới có nước tiên tiến nào còn thi tuyển đại học chung cho cả nước như Việt Nam. Ở Mỹ hay Anh có những kỳ thi như SAT hay GCSE, nhưng đó chỉ là kỳ thi sơ tuyển nhẹ nhàng để loại bớt những người quá kém, và vì vậy yêu cầu của các kỳ thi này cũng không phải để tuyển vào một ngành đại học cụ thể, mà chỉ là kiểm tra một số kỹ năng tổng quát.

Ở Việt Nam, có điều kỳ lạ là học thì không nghiêm chỉnh, thi thì tiêu cực đủ cách, nhưng lại rất thích nhiều kỳ thi chung cả nước. Hết năm này đến năm khác, mỗi mùa thi tuyển sinh đại học là cả nước đi thi, với biết bao chuyện dở khóc dở cười và tốn kém tiền của. Từ hơn 10 năm rồi chúng tôi đã kiên trì thuyết phục bỏ bớt các kỳ thi, đến bây giờ mới bỏ được thi tiểu học và thi trung học cơ sở. Nay Bộ Giáo dục và Đào tạo dự định tiếp tục bỏ thi tuyển sinh đại học, tôi rất hoan nghênh, tuy rằng theo tôi tốt hơn là nên bỏ thi tú tài và thay kỳ thi tuyển sinh đại học bằng một kỳ thi sơ tuyển kiểu như SAT của Mỹ. Lý do vì sao chúng tôi đã nêu rõ trong bản kiến nghị năm 2004 và gần đây trên Tia Sáng số 15 ra ngày 5/8/2006.

Tôi vẫn cho rằng nên bỏ thi tú tài, nói đúng hơn chỉ nên thi học kỳ ở lớp 12 cho nghiêm chỉnh, đủ điểm thì cho tốt nhiệp. Nếu nói rằng cái bằng phải bảo đảm giá trị chất lượng thì khi thi nghiêm túc giá thử chỉ 50% thi đỗ giá trị tấm bằng đã đúng yêu cầu chưa? Mà nếu nhờ thế giá trị tấm bằng có được nâng lên tí chút, thì liệu cái lợi đó có đáng để đánh đổi bằng việc cả mấy trăm nghìn học sinh học lớp 12 thi trượt, với những hệ lụy xã hội kèm theo? Hơn nữa, trong một hệ thống giáo dục mà bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, cho đến trình độ giáo sư, phó giáo sư đều thấp tệ hại so với chuẩn, thì liệu đánh trượt 40-50% học sinh lớp 12 có ý nghĩa gì. Nên chăng, thà chấp nhận giá trị bằng tú tài chỉ là trình độ trung bình thực tế của 12 năm học, rồi có biện pháp nâng cao dần chất lượng một cách trung thực, từng bước nhưng kiên quyết, từ lớp 1 cho đến tiến sĩ.

12. CHUYỆN HỌC VÀ THI: MỪNG VUI MỘT NỬA

SỐ 7/2007

Một điều đáng mừng là kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm nay có tiến bộ nhiều. Sau hàng chục năm, lần đầu tiên mới có một kỳ thi trung thực, nghiêm túc. Song mừng vui cũng chỉ mới được một nửa. Vì tuy thi cử có cải tiến nhưng cũng chỉ mới là cải tiến để bảo đảm tính nghiêm túc, chứ chưa thật sự có đổi mới căn bản.

Không ở đâu trên thế giới, đặc biệt ở những nước văn minh, có những kiểu thi kỳ lạ như ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua. Mất biết bao thời gian bàn thảo về thi cử, về cải cách, hiện đại hóa giáo dục, nhưng rốt cuộc thi cử vẫn cứ loay hoay ba chung, hai chung, rồi trắc nghiệm, tự luận mà không kỳ thi nào cho nghiêm túc, và kỳ thi nào cũng cực kỳ tốn kém, cho cả nhà nước và nhân dân. Khó hiểu tại sao chúng ta cứ duy trì mãi kiểu thi cử căng thẳng đó, mà không chịu khó suy nghĩ xem có cần thiết phải thi kiểu này không? Tại sao các nước văn minh không có nhiều kỳ thi như vậy mà học hành tốt hơn? Sau nhiều buổi tranh cãi trong Quốc hội, mãi đến gần đây mới bỏ được hai kỳ thi tiểu học và trung học cơ sở, bây giờ còn lại kỳ thi trung học phổ thông và thi tuyển đại học-cao đẳng. Vì thi cử quá nhiêu khê như thế nên cách đây một năm, tôi có để nghị nên theo kinh nghiệm nhiều nước bỏ hẳn kỳ thi trung học phổ thông, thay vào đó học hành nghiêm chỉnh ngay từ những lớp dưới, học tới đâu kiểm tra tới đó, theo dõi từng học kỳ, từng lớp, không cho lên lớp bừa bãi, đến cuối lớp 12 học sinh nào đủ điểm thì được cấp bằng tốt nghiệp. Làm được như vậy thì tỉ lệ tốt nghiệp càng cao càng tốt chứ đâu sợ bệnh thành tích! Còn làm như hiện nay, cứ để ngồi nhầm lớp thoải mái, rồi kết thúc bằng kỳ thi hình thức như mọi năm thì tai hại đã đành, mà dù có thi nghiêm túc như năm nay cũng chỉ vớt vát được một phần.

Bộ Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch vài năm tới sẽ hợp nhất hai kỳ thi trung học phổ thông với tuyển sinh đại học-cao đẳng thành một, nhưng theo tôi thi tuyển vào đại học thì dù thi riêng hay thi chung với trung học phổ thông cũng bất cập. Dựa theo kinh nghiệm các nước, tôi đã nhiều lần đề nghị chỉ nên có một kỳ thi sơ tuyển nhẹ nhàng để loại bớt những người quá kém, sau đó việc xét tuyển vào đại học giao cho từng đại học quyết định, dựa trên kết quả điểm số trong kỳ thi sơ tuyển, kết hợp với xem xét học bạ ba năm cuối trung học phổ thông. Trên thế giới phần lớn các trường đại học không tổ chức thi tuyển sinh, chỉ trừ những trường rất danh tiếng ở một số nước thì phải thi vào, nhưng thi của họ cũng không giống mình. Kỳ thi sơ tuyển ở Mỹ như SAT chủ yếu là kiểm tra năng lực diễn đạt, phân tích, suy luận logic, rất cần thiết để học đại học. Vượt qua được kỳ thi đó không có nghĩa đã trúng tuyển vào đại học, mà cùng với kết quả tốt ở kỳ thi SAT còn phải có học bạ tốt ở phổ thông, đáp ứng được yêu cầu của trường thì mới được nhận. Cách làm như thế ít tốn kém mà chọn được người học đúng yêu cầu đào tạo hơn là thi tuyển.

Vừa qua thi trung học phổ thông nghiêm túc là một dịp bộc lộ rõ thực trạng yếu kém của giáo dục. Nhớ lại những năm trước, hiện tượng đáng xấu hổ phao rải trắng sân trường sau mỗi buổi thi còn trong khi thi thì quang cảnh nhốn nháo, người dân bắc thang qua tường, trèo tường, ném bài giải vào phòng thi. Để ngăn chặn cảnh đó năm nay có nơi như Hà Tây xây tường rất cao quanh một số trường thi, làm cho các trường trông giống trại tập trung hơn là trường học. Tốn kém xây bức tường có nơi lên tới cả mấy trăm triệu đồng. Thật kỳ quái, chống tiêu cực thi cử bằng biện pháp xây tường cao “cũng chẳng khác nào thời bao cấp chống nạn ăn cắp thìa trong các quán ăn mậu dịch bằng cách đục lỗ tất cả các thìa. Để bảo đảm kỳ thi nghiêm túc chẳng lẽ phải trả bằng cái giá hạ thấp văn hóa như thế ư?

Với phần đông thí sinh, 12 năm đèn sách được kết quả gì? Để thi dễ thế mà cũng chỉ 2/3 đỗ, nhiều người đánh giá nếu đề thi thật sự nghiêm túc thì tỉ lệ đỗ có lẽ chỉ khoảng 30% đến 40%. Như vậy một nửa số thí sinh được cấp bằng tốt nghiệp không xứng đáng. Cái ý tốt cấp bằng xứng đáng cuối cùng chỉ mới thực hiện nửa vời.

Không biết kỳ thi lần thứ hai sắp tới sẽ như thế nào nhưng khi đã đặt thêm một kỳ thi tốn kém thì chắc người ta cũng phải hy vọng vớt thêm được một số đáng kể thí sinh nữa. Thực ra đấy cũng là cách làm rất hình thức. Đề thi lần thứ nhất dễ như vậy mà không qua nổi, làm sao chỉ học thêm vài tháng mà khá được.

Đã lâu quá rồi chúng ta quen cho lên lớp thoải mái, thi cử lấy lệ, không nghiêm túc. Bây giờ siết chặt thì đúng, nhưng cũng chỉ mới nghiêm túc ở đoạn cuối. Khác nào một quy trình sản xuất gồm nhiều công đoạn mà chỉ đến khi ra thành phẩm mới kiểm tra chất lượng thì hết sức lãng phí. Dẫu sao cái tốt là bây giờ thấy rõ chất lượng tồi tệ của giáo dục. Điều này trước đây cũng đã có nhiều người cảnh báo, nhưng một số vị lãnh đạo và quan chức cấp cao, cứ một mực khẳng định thành tựu tuyệt vời, thành tựu vĩ đại của giáo dục, cho nên mới đến nông nỗi này âu cũng là bài học.

Đương nhiên tình trạng này không thể chấn chỉnh một sớm một chiều. Khi đã vô trách nhiệm để chất lượng sút kém kéo dài tích lũy qua nhiều năm, thì bây giờ có hậu quả đó, cần phải nghĩ cách khắc phục cho hợp lý, chứ không nên đổ hết tai họa lên đầu học sinh và cha mẹ các em. Đối với cả hệ thống quản lý, đương nhiên phải chấn chỉnh nghiêm túc ngay từ lớp 1. Chúng ta nói hai không rất hay nhưng thiếu kiểm tra ráo riết mọi khâu mà chỉ tập trung lo cho kỳ thi nghiêm túc, trong khi đáng ra phải theo dõi chỉ đạo việc học tập thường xuyên trong từng trường theo tinh thần nghiêm túc ngay từ đầu năm, ngay từ lớp dưới. Việc tổ chức thi lần thứ hai xuất phát từ ý tốt, song sẽ tốn kém, căng thẳng, mà kết quả có thể nhìn thấy trước sẽ chẳng bao nhiêu, trừ khi lại ra để thật dễ để vớt hết đa số. Bấy nhiêu vấn đề phức tạp, căn bản đều do vẫn cố bám những quan niệm cũ kỹ về học và thi. Vì vậy, tuy những cải tiến vừa qua rất đáng trân trọng, nhưng thật lòng tôi vẫn cảm thấy chưa ổn. Trong thời buổi hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu chúng ta cứ mải mê luyến tiếc những cái cũ kỹ, lỗi thời, không chịu bứt ra để có những đột phá lớn thì bao giờ mới theo kịp thiên hạ. Còn nhớ cách đây khoảng tám, chín năm, có vị ở Bộ Giáo dục còn lớn tiếng tuyên bố thi cử như Việt Nam là tối ưu rồi! Không hiểu vị ấy giờ đây nghĩ thế nào. Muốn thật sự chấn hưng giáo dục thì trước hết lãnh đạo cấp cao phải có quyết tâm thay đổi tư duy, xác định lại quan niệm về dạy, học, thi cử cho hợp với xu thế thời đại và yêu cầu phát triển của đất nước. Người ta đi nhanh thì ít ra mình cũng phải cố chạy, đừng ai nghĩ trong cuộc chạy đua này người ta đều là “thỏ con” ham chơi, còn mình là “rùa già” kiên nhẫn bò từng bước chắc ăn.

Đối với số học sinh thi trượt cả lần thứ hai nghe nói sẽ có thể có ba giải pháp: hoặc là cho học lại lớp 12, hoặc chuyển qua học ở các trường bổ túc, hoặc tập trung lại để dạy thêm (bao lâu?). Song giải pháp nào là tốt nhất không phải là vấn đề chính. Căn bản là quan niệm học hành và thi cử như thế nào, từ đó mới có hướng xử lý đụng đắn các vấn đề cụ thể. Còn trong khuôn khổ hiện tại, giải quyết mấy vấn đề trên theo cách này hay cách khác, nếu có tốt hơn thì cũng chỉ tốt hơn một tí chút chứ chẳng có ý nghĩa gì lớn. Để thi dễ thế mà không qua được tức là đã mất cơ bản rồi, dù có học lại phổ thông hay bổ túc thêm một năm cũng chẳng mấy hy vọng, tốt hơn nên để các em ấy học nghề rồi ra làm việc, sau này khi đủ điều kiện và nếu muốn vẫn còn có cơ hội học thêm lên đại học qua các hình thức đào tạo liên thông hoặc giáo dục thường xuyên. Khó khăn ở đây là không có đủ trường dạy nghề đàng hoàng. Lẽ ra trong một đất nước như Việt Nam, phải chăm lo phát triển từ sớm để có được những trường dạy nghề hiện đại, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Học nghề để có nghề vững vàng giúp ích cho xã hội còn tốt hơn nhiều lần học đi học lại phổ thông để cố vào đại học, trở thành những ông cử ông nghè rởm.

Mặc dù tất cả những điều không hay nói trên, tôi vẫn mừng rằng từ một năm nay ngành giáo dục đã có một số chuyển biến rõ, nhờ người lãnh đạo năng nổ và có tinh thần phụ trách. Tuy nhiên vẫn còn quá nhiều cái đáng lo. Muốn thay đổi mạnh theo hướng đúng đắn còn quá nhiều việc phải làm, nhiều quan niệm phải xác định lại, nhiều tổ chức phải sửa đổi, nhiều chức trách phải thay người, chỉ sợ một mình ông bộ trưởng khó kham nổi, nếu thiếu sự hỗ trợ tích cực và đầy đủ từ cấp lãnh đạo cao nhất. Tôi tin rằng trước xu thế hội nhập, muốn hay không giáo dục phổ thông rồi cũng phải sớm ổn định và đi vào quỹ đạo đúng đắn. Mối lo lớn nhất hiện nay tập trung vào dạy nghề và đại học gắn liền với nghiên cứu mà xem ra Việt Nam đang gặp nguy cơ bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển quý báu.

13. CẦN GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ TRONG HỌC VÀ THI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

SỐ 8/2008

1. GIẢM TẢI VÀ NÂNG CAO CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG GIẢI PHÁP PHÂN BAN MỀM

Từ nhiều năm nay chương trình trung học phổ thông không ngớt bị kêu ca quá tải, nhưng vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng. Đương nhiên quá tải không chỉ do chương trình mà còn do cách dạy không thích hợp, nhưng theo tôi, còn có một nguyên nhân cơ bản nữa là tổ chức học và thi chưa hợp lý.

Suy cho cùng vấn đề này liên quan tới một điểm hệ trọng về triết lý giáo dục là quan hệ giữa hai mục tiêu văn hóa (bồi dưỡng văn hóa phổ quát, “dạy người”) và kinh tế (đào tạo nghề nghiệp, “dạy nghề”) của giáo dục. Trên nguyên tắc hai mục tiêu này phải kết hợp hài hòa, nếu chỉ chú trọng một bên mà coi nhẹ bên kia, gây sự xung đột hay lệch pha giữa hai mục tiêu thì trước sau gì giáo dục cũng sẽ cản trở sự phát triển lành mạnh của xã hội.

Trước đây trung học phổ thông chỉ có một chương trình thống nhất, nhằm mục tiêu cung cấp văn hóa phổ quát. Đến năm 1994, với mục đích hướng nghiệp sớm cho học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra chủ trương phân ban ở trung học phổ thông. Nhưng suốt 15 năm trời, tiêu tốn khá nhiều tiền của, công sức để thí điểm liên tục các chương trình phân ban mà vẫn không thành công. Nhiều người kiên quyết phản đối phân ban vì vẫn giữ quan điểm giáo dục phổ thông phải tập trung bảo đảm văn hóa phổ quát.

Sự phản đối này không phải không có lý, vì khoa học, công nghệ càng phát triển, thế giới càng tràn ngập thông tin thi văn hóa phổ quát càng cần thiết để khỏi bị lạc hướng trong rừng thông tin và giúp cho con người được thật sự tự do, làm chủ vận mệnh của mình. Viện cớ kinh tế đòi hỏi nhân lực ngày càng phải được trang bị nhiều kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu để xem nhẹ văn hóa phổ quát là một sai lầm.

Tuy nhiên vấn đề không đơn giản chỉ có thế. Ít ra trong vài thập kỷ gần đây cuộc sống trong xã hội hiện đại đã có những thay đổi lớn: một mặt các vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ có xu hướng cá tính hóa, cố gắng phù hợp nhất có thể được với điều kiện, tính tình và sở thích của từng người dùng; mặt khác, trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, lứa tuổi 15-17 có tâm lý muốn tự lập sớm, suy nghĩ sớm về tương lai nghề nghiệp, phát triển mạnh cá tính, ôm ấp nhiều hoài bão, ước mơ táo bạo. Muốn giáo dục có kết quả, nhà trường phổ thông phải chú ý hai đặc điểm đó, không thể gò bó tất cả học sinh ở lứa tuổi này vào một chương trình thống nhất, mà cần có nhiều hướng lựa chọn khác nhau tùy theo sở thích, xu hướng, nguyện vọng từng cá nhân. Do đó phân ban dưới một hình thức nào đó đã trở nên thật sự cần thiết.

Cái dở của các chương trình thí điểm trước đây của Bộ Giáo dục và Đào tao không phải ở chỗ phân ban, mà ở chỗ phân ban cứng, buộc học sinh phải chọn ban dứt khoát quá sớm (ngay từ đầu cấp 3) và khi đã chọn ban nào rồi thi phải theo ban đó tới cùng. Ở cái tuổi đang dò dẫm chưa tự hiểu hết bản thân mình, học sinh rất khó chọn đúng ban thích hợp ngay từ đầu, nhưng với cách phân ban cứng nếu lỡ chọn nhầm ban thì không có cách sửa chữa sai lầm. Không phân ban thì nhiều học sinh phải học quá kỹ nhiều điều không cần thiết cấp bách đối với họ, nhưng phân ban cứng thì lại bắt buộc học sinh học chuyên quá nhiều môn cùng một lúc (như ban Khoa học Tự nhiên phải học chuyên cả bốn môn Toán, Lý, Hóa, Sinh). Thành ra trong cả hai cách, chương trình đều quá nặng đối với số đông học sinh, trong khi đó đối với số ít học sinh có thiên hướng mạnh về một vài môn nhất định lại không được học đủ sâu về các môn đó mà phải mất quá nhiều thì giờ học kỹ những môn họ không có nhu cầu và sở thích.

Để tránh những khuyết điểm ấy, giải pháp tối ưu, theo kinh nghiệm nhiều nước tiên tiến, là phân ban “mềm”: về mỗi môn như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, v.v. có hai chương trình, một bình thường, một nâng cao, còn các môn khác chỉ cần một chương trình thống nhất. Tùy sức và thiên hướng mỗi học sinh có thể chọn, về mỗi môn, một chương trình, bình thường hay nâng cao, để đăng ký xin học. Đăng ký chương trình nào thì học và thi lấy tín chỉ chương trình đó, mỗi năm có thể chọn khác nhau, năm nay chọn chương trình nâng cao về môn nào đó, năm sau thấy khó có thể đổi sang chương trình bình thường, hay ngược lại. Đến lớp 12 (cuối cấp), đủ số tín chỉ cần thiết thì được cấp bằng tốt nghiệp, không cần thi tốt nghiệp nặng nề, vất vả như hiện nay.

Thường mỗi học sinh chỉ chọn học nâng cao vài môn. Điều đó cho phép chương trình nâng cao càng lên lớp trên càng khác (cao hơn) chương trình bình thường, thậm chí lớp 12 có thể có hai hay ba chương trình nâng cao để lựa chọn, với mức cao nhất có thể ngang chương trình năm thứ nhất đại học. Kết quả học tập chương trình nâng cao này được bảo lưu, khi lên đại học khỏi phải học lại. Làm như vậy, vừa hợp sức của số đông (đơn giản nhất có thể học chương trình, bình thường về mọi môn), vừa cho phép học sinh tự điều chỉnh kế hoạch học từng năm một, không phải bị ràng buộc cứng nhắc vào sự lựa chọn ban đầu thường khó chính xác được ngay. Hơn nữa, ai có khả năng đặc biệt về một môn nào đều có thể tranh thủ học được một phần chương trình đại học để về sau rút ngắn thời gian học đại học.

Sau nhiều năm các phương án phân ban cứng kế tiếp đưa ra thí điểm đều không đạt kết quả, chúng tôi đã đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nên nghiên cứu thực hiện phân ban mềm như ở nhiều nước phát triển đã làm. Đáng mừng là năm học 2007-2008, chương trình phân ban mới đã có những thay đổi bước đầu theo hướng đó. Tuy nhiên, thật đáng tiếc, do vẫn còn muốn giữ các chương trình và sách giáo khoa đã lỡ soạn và in theo kiểu phân ban cứng, nên giải pháp đưa ra có tính chất nửa vời: vẫn duy trì hai ban cứng (ban Khoa học Tự nhiên, và ban Khoa học Xã hội), chỉ thêm ban cơ bản mềm hơn, cho phép học mọi môn theo chương trình bình thường, ngoài ra học nâng cao về vài môn tùy chọn. Vì tính chất linh hoạt đó ban cơ bản được đại đa số học sinh (70%) hưởng ứng. Đó là một tiến bộ đáng hoan nghênh, đồng thời nó cũng cho thấy trong năm học tới cần mạnh dạn tiến thêm bước nữa, bỏ hẳn các ban cứng, còn ban cơ bản nên để học sinh khi đã chọn học nâng cao môn nào thì không cần phải học chương trình bình thường môn ấy nữa. Tóm lại, nên phân ban mềm hoàn toàn như ở nhiều nước phát triển. Với cách phân ban đó, tổ chức việc học ở trung học phổ thông sẽ gần giống với đại học, bước đầu thực hiện phân luồng để giảm bớt khó khăn khi tuyển sinh đại học và cao đẳng.

Có người e ngại điều kiện thực tế ở Việt Nam chưa cho phép thực hiện phân ban mềm, song kinh nghiệm vừa qua cho thấy với 70% học sinh chọn ban cơ bản các trường không có khó khăn gì đặc biệt, nên việc tiến lên phân ban mềm chắc chắn cũng sẽ khả thi. Cái lợi căn bản là việc học bớt nặng nề nhờ phù hợp hơn với sở thích và khả năng từng người, đồng thời như sau đây sẽ trình bày rõ, với cách tổ chức việc học như thế, thi tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ không còn cần thiết.

2. THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG: KHÔNG CẦN THIẾT VÀ NÊN BỎ

Học sinh phải thi cử liên miên và nặng nề, tốn kém, mà chất lượng giáo dục Việt Nam lại thua kém thiên hạ. Vậy không phải cứ thi nhiều thì mới bảo đảm chất lượng giáo dục. Trái lại, chính vì tập trung lo thi nhiều hơn lo học cho nên mới sinh ra xu hướng tiêu cực học chỉ cốt để thi, đặc trưng của một nền giáo dục hư học.

Sau nhiều năm đấu tranh vất vả, Việt Nam đã bỏ được thi tiểu học và thi trung học cơ sở. Còn lại hai kỳ thi trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo có dự kiến kết hợp hai kỳ thi đó làm một, song không được sự ủng hộ của dư luận vì xét ra việc kết hợp đó không hợp lý. Nhưng vấn đề không chỉ ở chuyện kết hợp hai kỳ thi mà quan trọng hơn là cần xem xét lại chính sự cần thiết của mỗi kỳ thi ấy.

Để có giải pháp hợp lý, trước hết cần hiểu ý nghĩa việc kiểm tra và thi trong quá trình học. Mỗi môn học có hai phần: một phần, tạm gọi là “cứng”, gồm các khái niệm cơ bản, các sự kiện, công thức cần ghi nhớ (thậm chí thuộc lòng), các kỹ năng đặc biệt cần nắm vững, phần này phải luyện tập thành thạo và kiểm tra, nghiêm túc trong từng chương và thi khi kết thúc giáo trình. Còn phần kia, tạm gọi là “mềm”, thuộc về tư duy logic, năng lực trừu tượng, khái quát, tiếp cận các vấn đề phức tạp, liên kết, tổng hợp các tri thức, phát triển trực quan, trí tưởng tượng, đầu óc tìm tòi sáng tạo, và cả khả năng biểu đạt tư tưởng chuẩn xác, rành mạch – phần này phải chắt lọc, tích lũy qua nhiều môn, tổng hợp thành cốt lõi của cái thường được hiểu là “văn hóa phổ quát”, hay như có người nói, là cái còn lại trong đầu sau khi quên hết các kiến thức cụ thể về từng môn đã học. Phần này tuy khó kiểm tra hay thi theo từng môn nhưng lại có ích cho suốt cả đời người và là cái nền bảo đảm sự vươn xa của từng chuyên gia trong thế giới trí thức ngày nay.

Chương trình mỗi cấp học, phổ thông hay đại học, gồm nhiều môn, mỗi môn chia ra nhiều học trình sắp xếp theo một trình tự nhất định. Nếu từng phần của học trình đều có kiểm tra và khi kết thúc từng học trình đều có thi nghiêm túc, thì cuối cấp không cần kiểm tra hay thi lại một lần nữa: phải biết quên đi nhiều thứ đã học mà không cần lâu dài thì mới nhớ được thêm nhiều thứ cần thiết khác khi ra đời và làm việc thực tế. Nói như Alvin Toffler, mù chữ thời nay không phải là những người không biết đọc, biết viết, mà là những ai không biết học (learn), biết giải học (unlearn, cởi bỏ cái đã học), và biết học lại (relearn)!

Vậy thi tốt nghiệp để làm gì? Có người bảo phải có thi tốt nghiệp việc học mới nghiêm túc, đó chỉ là ngụy biện. Muốn việc học nghiêm túc, điều cần làm là kiểm tra thường xuyên, nghiêm túc suốt từ dưới tới lớp cao nhất, chứ không phải cứ cho lên lớp bừa bãi, rồi đến cuối cấp tổng kiểm tra bằng một kỹ thi tốt nghiệp.

Dù sao kết quả học tập 12 năm trời không thể dồn lại được quyết định chỉ trong một kỳ thi năm ba ngày. Điều đó gây căng thẳng tâm lý không cần thiết, lại mang nhiều yếu tố may rủi (thí sinh nào nhỡ ốm đau đúng vào dịp thi tốt nghiệp thi quá thiệt). Vả lại, thi trắc nghiệm tuy đang được tích cực áp dụng vì có một số thuận tiện cho cơ quan quản lý, nhưng bản chất nó chỉ thích hợp để kiểm tra trình độ tối thiểu, còn muốn phân biệt giỏi dở thì đòi hỏi nhiều nghiên cứu công phu rất khó thực hiện tốt trong điều kiện Việt Nam (giàu có như Mỹ mới có khả năng tổ chức thi trắc nghiêm có hiệu quả, mà không phải mọi sự đã ổn).

3. BỎ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÌ ĐỔI MỚI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG NHƯ THẾ NÀO?

Cùng với việc bỏ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, điều hết sức cần kíp là thay đổi cách tuyển sinh đại học-cao đẳng. Trong lúc các trường đại học và cao đẳng ngày càng phức tạp, đa dạng về tính chất cũng như trình độ mà việc tuyển sinh lại theo một quy trình, cách thức thống nhất như hiện nay thi không hợp lý. Do tư tưởng quản lý tập trung quan liêu còn rất nặng nên từ việc đăng ký thi, ra đề thi cho đến việc coi thi, giám sát thi, chấm thi, tất cả thành một hệ thống phức tạp vượt quá tầm kiểm soát hữu hiệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khiến cho mặc dù đã được liên tục chỉnh sửa, đến nay kỳ thi tuyển sinh đại học-cao đẳng vẫn rất nhiêu khê, tốn kém và còn nhiều bất cập. Việc tổ chức thi tập trung ở các thành phố khiến thí sinh ở nông thôn và vùng xa phải chịu thêm một áp lực tâm lý nặng nề và một gánh nặng chi phí về tiền trọ, đi lại, ăn ở và cả học luyện thi trước ngày thi. Đó là một bất công lớn đối với họ, mà cho đến nay các cơ quan quản lý không hề quan tâm.

Vậy giải pháp hợp lý nên như thế nào? Theo tôi, tốt nhất nên thay kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng hiện nay bằng một kỳ thi sơ tuyển nhẹ nhàng như SAT ở Mỹ, chỉ nhằm kiểm tra xem trình độ văn hóa phổ quát của thí sinh có đạt mức tối thiểu cần thiết để theo học ở đại học hay không. Vì chỉ có mục đích sơ tuyển nên chỉ thi về khả năng đọc, viết, tư duy logic, ngoại ngữ (cho nên có thể thi trắc nghiệm một phần), và có thể thi ở nhiều nơi phân tán khắp nước, bất cứ ai cũng có thể xin dự thi, chứ không chỉ học sinh lớp 12 trung học phổ thông; thậm chí có thể tổ chức hai, ba lần thi, cách nhau mấy tuần, vào mấy tháng hè. Ai qua được kỳ thi sơ tuyển thì mới có thể nộp đơn xin dự tuyển vào một hay một số đại học hay cao đẳng, còn việc có được tuyển hay không thì sẽ do từng đại học xét cụ thể, dựa trên học bạ và kết quả thi sơ tuyển của đương sự. Mỗi đại học thông báo rõ những điều kiện dự tuyển vào trường đó. Có đại học chỉ đòi hỏi kết quả thi sơ tuyển, nhưng phần lớn các đại học có chất lượng đều đòi hỏi thêm học bạ trung học phổ thông của thí sinh phải ghi rõ kết quả học tập chương trình nâng cao về một số môn phù hợp với hướng đào tạo của chuyên ngành mà thí sinh muốn xin vào học. Gặp trường hợp chưa rõ thì thí sinh có thể được gọi đến phỏng vấn, hoặc phải qua một cuộc sát hạch tùy trường quy định.

Cách tuyển sinh như thế linh hoạt (ai cũng dự thi sơ tuyển được, chứ không nhất thiết phải có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông), nhẹ nhàng (thi sơ tuyển không đòi hỏi phải học thuộc lòng hay phải luyện thi vất vả như lâu nay), ít tốn kém, thuận tiện cho số đông (không phải tập trung ở các thành phố lớn) và phù hợp với yêu cầu cụ thể của

từng trường đại học hay cao đẳng (từng trường được tự quyết định và tự chịu trách nhiệm tuyển sinh), cho nên có hiệu quả hơn. Có thể có lo ngại là khó kiểm soát tiêu cực, nhưng kinh nghiệm cho thấy chính phương thức tuyển sinh nặng nề, phức tạp, tập trung như hiện nay mới tiềm ẩn nhiều tiêu cực khó kiểm soát. Trong chuyên này cũng như nhiều chuyện khác về quản lý kinh tế, thủ tục càng rườm rà, phức tạp, càng dễ bị lợi dụng.

*

Việc học và thi của con em chúng ta ở trung học phổ thông như hiện nay quá nặng nề, vất vả so với các nước khác, tạo ra cho họ một thế bất lợi lớn khi ganh đua với bạn bè cùng trang lứa ở các nước khác. Do đó, đổi mới tổ chức học và thi cũng là một nhiệm vụ cần kíp để tạo thuận lợi cho việc hội nhập, hợp tác và cạnh tranh quốc tế.

14. KHÔNG THỂ QUAY LẠI KIỂU THI CŨ

SỐ 11/2015

Mặc dù được long trọng tuyên bố là quốc sách hàng đầu nhưng trong một thời kỳ dài cách đây không lâu, chất lượng sút kém của giáo dục là nỗi lo thường xuyên của mọi gia đình, của toàn xã hội. Tuy nhiên rất may, từ vài năm nay, giáo dục đã bắt đầu chuyển mình, tuy còn xa với yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, năm nay giáo dục đã có một thành công đáng ghi nhận: bắt đầu đổi mới mạnh mẽ kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học-cao đẳng.

Xưa nay trong xã hội Việt Nam thường phổ biến một quan niệm lạc hậu, cũ kỹ về học và thi, nhất là thi tốt nghiệp các cấp. Trong khi ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, thi cử chỉ là một khâu kiểm tra để bảo đảm kết quả một quy trình học tập thì ở Việt Nam không biết tự bao giờ nó đã biến thành một khổ dịch nặng nề đối với cả giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh. Đất nước còn nghèo, đời sống người dân còn khó khăn mà chỉ nguyên một mùa thi hằng năm đã ngốn một khối lượng công sức và tiền của khổng lồ, không kể những hệ lụy tinh thần do áp lực tâm lý gây ra cho thế hệ trẻ. Vì thế, đổi mới thi cử từ lâu đã trở thành một trong những yêu cầu bức thiết để chấn hưng giáo dục.

Đó là lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, vừa qua đã tổ chức kỳ thi quốc gia trung học phổ thông thay cho hai kỳ thi riêng biệt tốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh đại học-cao đẳng như mọi năm trước đây. Chủ trương này hoàn toàn đúng đắn và việc thực hiện nhìn chung cũng khá suôn sẻ, đó là một thành công đáng ghi nhận. Tất nhiên, vì là lần đầu thực hiện nên không tránh khỏi một số khuyết điểm, đặc biệt trong khâu tuyển sinh, gây ra phản ứng tiêu cực của một bộ phận đáng kể dư luận xã hội đối với chủ trương này. Cho nên việc đánh giá bình tĩnh, khách quan, có cơ sở khoa học, là cần thiết để biết những cái hay cần giữ lại và những cái dở cần tránh cho năm sau.

1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG ÁN ĐỔI MỚI THI CỬ

Trước hết, đổi mới thi cử cần xuất phát từ quan niệm đúng đắn về thi tốt nghiệp ở mọi cấp học, trong một nền giáo dục tiên tiến. Theo tôi, thi cử trong nhà trường cũng giống như kiểm tra chất lượng trong nhà máy. Sản phẩm cuối cùng (thành phẩm) của một nhà máy thường gồm nhiều bộ phận (module) lắp ráp lại mà thành. Mỗi bộ phận làm ra ở phân xưởng nào thì phải kiểm tra chất lượng ngay ở phân xưởng đó. Đến khi quy tập các bộ phận để lắp ráp ra thành phẩm thì chỉ cần chú ý xem khâu lắp ráp có vấn đề gì không chứ không có chuyện đến lúc đó lại lôi ra từng bộ phận để kiểm tra lại chất lượng lần nữa.

Tương tự như thế, một quy trình học tập, đào tạo gồm nhiều học phần (môn), mỗi học phần học đến đâu phải kiểm tra nghiêm túc đến đó, đến năm cuối cấp nếu mọi học phần đều đã đạt yêu cầu kiểm tra thi cấp bằng tốt nghiệp, chứ không cần bắt phải thi lại từng học phần. Nghĩa là không cần thi tốt nghiệp, hoặc có chăng chỉ cần một cách thi có tính chất tổng hợp (ví dụ bảo vệ một tiểu luận), giống như kiểm tra khâu lắp ráp trong nhà máy. Nhiều nước, chẳng hạn Mỹ, đã làm như vậy từ lâu rồi. Rất ít thấy có nước nào thi tốt nghiệp mà phải thi lại hầu hết các môn một cách nặng nề như Việt Nam đã làm suốt nhiều năm.

Như vậy, việc đầu tiên là phải xem lại cách dạy và học của Việt Nam, cần bỏ cách dạy và học lơ mơ, không kiểm tra thường xuyên nghiêm túc từng học phần để bảo đảm kết quả vững chắc mà chỉ dồn hết mọi cố gắng vào kỳ thi tốt nghiệp nặng nề, căng thẳng, rất hình thức mà thiếu nghiêm túc. Từ cách dạy và học này đã sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục Việt Nam: gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy, chủ yếu là học thuộc lòng các loại bài mẫu, các đáp án mẫu. Thêm nữa, vì chỉ mấy ngày thi mà quyết định tốt nghiệp hay không cả một quá trình học tập nhiều năm trời, nên may rủi nhiều, dù học nghiêm túc suốt cả quá trình cũng không chắc thi tốt, điều đó dễ dẫn đến tư tưởng phòng vệ tiêu cực bằng “phao” hay những cách gian lận, quay cóp khác. Thi nhiêu khê, mất nhiều công sức nhưng kết quả thực tế là thường chỉ rớt một số rất ít thí sinh quá kém mà thật ra không cần thi, chỉ cần xét học bạ cũng loại ra được ngay.

Đó là những lý do xác đáng khiến nhiều người đã đề nghị bỏ hẳn kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Trong tình hình cụ thể của Việt Nam, trước mắt chưa thể bỏ ngay được, nhưng trong bước quá độ để tiến tới đó, có thể và cần giảm nhẹ đến mức tối thiểu bằng cách: chỉ thi hai môn chính bắt buộc (Văn, Toán), và cho thí sinh được tự chọn thi một số môn khác, đồng thời để xét tốt nghiệp, không chỉ dựa duy nhất vào kết quả thi mà còn căn cứ vào học bạ nữa. Mặt khác, để phục vụ việc tuyển sinh đại học-cao đẳng, những môn thi do thí sinh tự chọn sẽ dùng để tổ hợp thành các nhóm môn thi theo yêu cầu từng khối thi xét tuyển đại học-cao đẳng. Có thể nói phần thi tự chọn đóng vai trò giống như thi ba chung trước đây, nhưng nhẹ nhàng hơn nhiều.

Phương án này khi mới đưa ra rất được học sinh hoan nghênh. Theo tôi hiểu, đây hoàn toàn không phải là sự kết hợp máy móc hai kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học-cao đẳng. Quả thật, nếu giữ thi tốt nghiệp như kiểu cũ thì hai kỳ thi này có yêu cầu khác biệt hẳn nhau, kết hợp gượng ép chỉ có thể gây ra thảm họa cho cả hai, như nhiều người đã cảnh báo từ lâu. Song vì yêu cầu thi tốt nghiệp trung học phổ thông đã thay đổi, được giảm nhẹ đến mức gần như bỏ hẳn, cho nên sự kết hợp hai kỳ thi trở thành tự nhiên, khả thi và hợp lý. Hoàn toàn không phải là làm ngược với thế giới, mà tôi nghĩ đây thật sự là một giải pháp tốt, vừa tiếp cận với kinh nghiệm quốc tế, vừa thích hợp với thực tế trong nước. Thực chất đây không phải là kết hợp hai kỳ thi trong một, mà là bỏ kiểu thi ba chung trước đây và thay vào đó, cải tiến cách thi tốt nghiệp trung học phổ thông để một mặt làm cho kỳ thi nhẹ nhàng vì có chú ý thích đáng các sở thích, xu hướng nghề nghiệp tương lai khác nhau của thí sinh; mặt khác có thể dùng các kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông phục vụ luôn cho tuyển sinh đại học-cao đẳng. Theo tôi, cách thiết kế kỳ thi như vậy khá hợp lý và khoa học. Trái lại, nếu vẫn tiếp tục giữ kiểu thi tốt nghiệp trung học phổ thông nặng nề như cũ, và sau đó một tháng là thi ba chung căng thẳng, thì e rằng đó mới chính là cách làm không giống ai, đi ngược lại xu thế phổ biến của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

2. HIỆU QUẢ THỰC TẾ CỦA KIỂU THI MỚI

Về phương diện học thuật, như trên đã phân tích, việc tổ chức chỉ một kỳ thi quốc gia vừa để xét tốt nghiệp trung học phổ thông vừa để lấy kết quả phục vụ tuyển sinh đại học - cao đẳng là một sáng kiến đổi mới rất hợp lý, có cơ sở khoa học. Nhưng quan trọng hơn, về phương diện thực tế kỳ thi năm nay so với những năm trước đã giảm đáng kể áp lực tinh thần, tâm lý cho thí sinh và phụ huynh, đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và một khối lượng công sức, tiền của rất lớn cho xã hội. Đó là cái được đáng kể nhất của cuộc đổi mới thi cử.

Để thấy rõ sự khác biệt, chỉ cần nhớ lại cảnh tượng hãi hùng một mùa thi trước đây, hàng triệu con người cả sĩ tử và cha mẹ hoặc anh chị sĩ tử, dắt díu nhau đến các thành phố lớn, thuê ở trọ hàng tháng trời trước kỳ thi để tìm một chỗ học khả dĩ trong các lò luyện thi chật chọi, nóng bức, không chắc có giúp học thêm được chút gì không nhưng mọi người cứ tin là cần thiết. Có ai thử tính tất cả gánh nặng những chi phí lớn lao về thời gian, công sức và tiền của mà mỗi gia đình có con em đi thi phải chịu đựng trong mỗi mùa thi như vậy, chưa kể biết bao hệ lụy tiêu cực gây ra từ áp lực tâm lý trong một xã hội từ xưa vốn rất nặng tư tưởng khoa bảng, bằng cấp? Cho nên, chí ít thì cuộc cải cách thi cử vừa qua đã giúp giải thoát cho xã hội khỏi một cảnh tượng lạc hậu phi lý mà chỉ ở Việt Nam mới có.

Vài con số để minh chứng rõ hơn cho nhận định đó. Năm 2014 có khoảng 900.000 thí sinh dự thi tốt nhiệp trung học phổ thông và 1,3 triệu thí sinh dự thi cả ba đợt tuyển sinh đại học-cao đẳng. Năm 2015, trong khoảng một triệu thí sinh dự thi kỳ thi quốc gia chỉ có khoảng 700.000 thí sinh đăng ký dự thi tuyển sinh đại học-cao đẳng. Như vậy năm nay, con số thí sinh đã giảm chỉ còn một nửa, kèm theo đó là sự tiết kiệm những khoản chi phí không nhỏ về ra đề thi, chấm thi, tổ chức thi, v.v…

Rất tiếc việc tuyển sinh đại học-cao đẳng sau đó làm không được tốt đã gấy ra cảnh hỗn loạn, rắc rối, nộp rút, rút nộp hồ sơ rất tốn kém và căng thẳng tinh thần cho một bộ phận thí sinh. Do đó đã phát sinh nhiều luồng ý kiến trái chiều, lẻ tẻ có ý kiến đánh giá việc đổi mới thi cử này là thất bại, thậm chí đòi dừng đổi mới và quay lại kiểu thi cử lạc hậu trước kia.

Đương nhiên sự bất bình đối với một số bất cập của khâu tuyển sinh là hoàn toàn chính đáng, ngành giáo dục cũng đã rút kinh nghiệm sâu sắc về việc đó. Nhưng nếu vì thế mà phủ nhận thành công căn bản của kỳ thi là quá vội vàng. Với cách suy nghĩ thiếu bình tĩnh, nặng cảm tính đó thì chẳng bao giờ có thể đổi mới được giáo dục.

Thật ra, những bất cập trong tuyển sinh cũng có mức độ chứ không đến nỗi quá nghiêm trọng như một số ý kiến đã cường điệu.

Theo thống kê, số lượt thí sinh phải rút hồ sơ để nộp vào trường khác chỉ chiếm 9% tổng số, mà số này nếu thi theo kiểu cũ chắc chắn phải đổ về các thành phố lớn, chui vào các lò luyện thi hàng tháng trời, cái khổ đó còn gấp mấy việc đi rút và nộp lại hồ sơ như vừa qua. Nếu thi theo kiểu cũ, đâu chỉ có số hơn 30.000 thí sinh đó mà cả mấy trăm nghìn thí sinh sẽ cùng chịu cảnh khổ như thế. Chưa kể còn bao nhiêu căng thẳng, tốn kém phức tạp khác liên quan đến việc tổ chức liền mấy kỳ thi quy mô cả nước trong vòng chỉ hơn một tháng. Cho nên nếu tính đầy đủ, khách quan mọi mặt thì ngay cả những căng thẳng và tốn kém gây ra do các bất cập trong tuyển sinh, kỳ thi vừa qua so với kiểu thi cũ vẫn là nhẹ nhàng và tiết kiệm hơn rất nhiều - điều mà, như tôi đã kiên trì kiến nghị từ cả chục năm trước, lẽ ra cần phải thực hiện từ lâu rồi đối với một đất nước nghèo và còn nhiều khó khăn như Việt Nam.

Đáng nói nhất là kiểu thi cũ tạo ra một tâm lý học chỉ cốt để thi đỗ, để giành giật một mảnh bằng, chứ không cốt mở mang trí tuệ, phát triển kỹ năng, rèn luyện tư cách và phẩm chất. Nhiều người ngoại quốc đã nói rất đúng: cả thời kỳ dài trước đây, muốn hiểu giáo dục Việt Nam lạc hậu đến đâu chỉ cần quan sát một mùa thi. Cho nên tôi thật sự nghĩ rằng, ngày nay mà còn tiếp tục duy trì kiểu thi cũ kỹ, cực kỳ tốn kém và lạc hậu đó, là một tội ác đối với con em chúng ta. Dù thế nào cũng không thể quay lại kiểu thi cũ, cũng phải thay đổi, mà thay đổi như vừa qua, với tất cả những sai sót khó tránh hoàn toàn của nó, thì cái giá ấy thật chẳng có gì là cao so với thiệt hại nêu duy trì kiểu thi cũ. Mặt khác cũng cần thấy rằng những bất cập trong cách tuyển sinh không gắn liền với cách thi mới mà hoàn toàn có thể khắc phục được với khả năng hiện nay.

Mọi lộn xộn chỉ bắt nguồn từ việc không có biện pháp thích hợp và công việc xử lý hồ sơ đều làm phần lớn theo phương thức thủ công, lợi thế của công nghệ thông tin như hiện nay đã phổ biến khắp nơi trên thế giới và hoàn toàn trong tầm khả năng của ngành giáo dục chưa được khai thác. Trong khi đó, thí sinh năm nay lại được nhiều tự do hơn trong việc lựa chọn trường, chứ không phải chỉ ba nguyện vọng như những năm trước.

Rất may, khó khăn đó sẽ không còn nếu áp dụng phương pháp có cơ sở khoa học vững chắc dựa trên phân tích toán học mà GS Hà Huy Khoái đã đề nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo, và vừa mới đây đã trình bày lại trước một cử tọa khá đông tại Viện Toán học. Do đó, có thể tin rằng nếu củng cố nền tảng công nghệ thông tin để tuyển sinh hoàn toàn trên mạng và áp dụng phương pháp khoa học như GS Hà Huy Khoái đã đề nghị, sẽ không còn những khó khăn vấp váp như vừa qua.

Thay đổi một kiểu thi đã thành tập quán từ nhiều chục năm không phải là chuyện đơn giản, vì phải vượt qua không ít rào cản tư duy, tâm lý. Bên cạnh đó, cũng phải nhìn nhận, do sự sa sút kéo dài nhiều năm trước đây của giáo dục (khiến riêng tôi cũng đã nhiều lần góp ý khá gay gắt) nên nhiều người ít nhiều đã mất tin tưởng, không nhìn thấy hết những cố gắng và tiến bộ của giáo dục mấy năm gần đây. Mặc dù giáo dục còn nhiều tồn tại lớn, nhất là bậc đại học, nhưng công bằng mà nói, một số những tồn tại đó xét ra có phần không chỉ do lỗi Bộ Giáo dục và Đào tạo mà còn do nhiều mắc mứu trong cơ chế quản lý kinh tế xã hội hiện nay của Việt Nam nữa. Lấy ví dụ tự do học thuật là điều kiện tối cần thiết để phát triển đại học đang bị nhiều hạn chế, và hệ lụy chủ nghĩa lý lịch chưa phải đã xóa hết; hay tình trạng thất nghiệp hằng năm của một số khá lớn cử nhân, thậm chí cả thạc sĩ, gây bức xúc cho xã hội. Đây là những vấn đề lớn, rất đáng đưa ra mổ xẻ, phân tích kỹ các nguyên nhân liên quan đến cả đường lối phát triển kinh tế xã hội, thay vì chỉ suy nghĩ đơn giản và quy hết cho yếu kém của giáo dục và đào tạo.

15. THỰC HIỆN MỘT CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC TOÀN DIỆN, TRIỆT ĐỂ

SỐ 6/2008

1. KHỦNG HOẢNG HAY THÀNH TỰU?

Giáo dục là một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, cấu trúc tổ chức (bao gồm các phần tử và các hệ thống con), phương thức vận hành và hiệu quả hoạt động. Nếu về mỗi yếu tố ấy đều có quá nhiều trục trặc nghiêm trọng kéo dài hàng thập kỷ mà không khắc phục được, khiến mọi sự điều chỉnh cục bộ theo cơ chế phản hồi đều không cứu vãn nổi, thì tình trạng ấy phải được xem là sự khủng hoảng toàn diện. Nhìn lại hệ thống giáo dục Việt Nam, những dấu hiệu khủng hoảng đã lộ rõ từ lâu và ngày càng đậm nét.

Từ chỗ trước đây dù sao cũng là sự nghiệp toàn dân, là “bông hoa của chế độ”, nay giáo dục đã dần dần mất phương hướng, không còn rõ giáo dục cho ai, vì ai, để làm gì. Trách nhiệm của nhà nước đối với giáo dục có nguy cơ sút giảm để nhường chỗ cho quan niệm tư nhân hóa cực đoan, phủ nhận giáo dục với tư cách lợi ích công hòng biến nó thành một thứ hàng hóa thuần túy, thuận mua vừa bán theo cung cầu của một thị trường vô cảm. Giữa mục tiêu lý thuyết và thực tiễn thực hiện tồn tại khoảng cách ngày càng gia tăng, có nguy cơ đẩy giáo dục xa rời lý tưởng công bằng, dân chủ, văn minh mà xã hội đang muốn hướng tới.

Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mất cân đối, rối loạn trầm trọng giữa giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học, giữa trường tư, trường công, giữa chuyên tu, tại chức, đào tạo liên kết, tất cả làm thành một hệ thống tạp nham, rối ren không đồng bộ, thiếu nhất quán, hoạt động phân tán, rời rạc, mà mỗi đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ và thiển cận nhiều hơn là quan tâm đến lợi ích cơ bản và lâu dài của cộng đồng (gần đây nhất, giữa lúc người dân đang khốn đốn trong cơn bão giá thì ngành giáo dục tăng giá sách giáo khoa 10%).

Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học những kiến thức lạc hậu vô bổ (sau nhiều lần bàn cãi cũng chỉ mới giảm được thời lượng bắt buộc), lại quá thực dụng thiển cận, thiên về triết lý mì ăn liền mà coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản suốt đời cho mỗi người như: hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, và khả năng cảm thụ. Đồng thời, coi nhẹ kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, đức tính trung thực, năng lực sáng tạo và trí tưởng tượng, vốn là những đức tính thời nào cũng cần nhưng đặc biệt thời nay càng cần hơn bao giờ hết. Bằng cách đặt nặng quá mức bằng cấp và thi cử, nhà trường đã vô tình thải ra xã hội rác rưởi độc hại như bằng giả, học giả, v.v…

Chất lượng giáo dục sa sút một thời gian dài, nhất là ở đại học, cao đẳng và dạy nghề, khiến nhân lực đào tạo ra còn rất xa mới đáp ứng được đòi hỏi thực tế về cả ngành nghề, chất lượng và số lượng, do đó đang trở thành nhân tố kìm hãm nghiêm trọng sự phát triển kinh tế. Dân trí thấp - hệ quả tất nhiên của giáo dục yếu kém - tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn giao thông, và hàng loạt vấn nạn khác. Sau cùng, chất lượng giáo dục quá thấp là nguyên nhân quan trọng gây ra nạn chảy máu chất xám đang làm xã hội mất đi những nguồn lực trí tuệ quý giá.

Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì chi phí giáo dục tăng liên tục, trở thành gánh nặng phi lý không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà còn cho mọi gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ngoài thuế lên đến hơn 40% tổng chi phí giáo dục.

Bấy nhiêu vấn nạn kéo dài hàng chục năm mặc cho mọi cố gắng khắc phục, chứng tỏ đây chủ yếu là sự khủng hoảng từ bên trong hệ thống giáo dục.

Tuy nhiên, còn may là vượt lên trên tình hình chung không mấy sáng sủa đó vẫn có những điểm sáng nhất định (lác đác trong từng cấp học đều có những đơn vị khá thành công), chứng tỏ tiềm năng phát triển giáo dục ở đất nước còn nhiều. Hai năm gần đây đã có một số chuyển biến tích cực, nhưng vì chưa động tới các vấn đề cốt lõi - nơi sức ì đã bám rễ nhiều năm - nên chưa tạo đủ xung lực cho một cuộc lột xác của giáo dục mà đang là đòi hỏi cấp bách của xã hội.

2. NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG

Điều gì đã khiến nền giáo dục của một đất nước vốn có truyền thống hiếu học lâu đời rơi vào suy thoái trầm trọng vào đúng thời điểm mà lẽ ra nó phải là bệ phóng cho kinh tế cất cánh? Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thất thoát hằng năm vô cùng lớn. Nguyên nhân khủng hoảng phải thẳng thắn nhìn nhận là do quản lý, lãnh đạo dưới tầm. Từ quan niệm, tư duy cơ bản (triết lý giáo dục, theo cách nói gần đây) cho đến thiết kế hệ thống và quản lý, điều hành, mọi khâu đều có những bất cập, sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống.

Cái gốc của phần lớn sai lầm ấy là quan niệm, tư duy xơ cứng, quá cũ kỹ về giáo dục mà qua hai thập kỷ hầu như không thay đổi. Vẫn cách suy nghĩ thiển cận, vẫn những quan điểm giáo điều thời bao cấp, được biến tấu ít nhiều để thích nghi với những xu hướng phiêu lưu du nhập từ bên ngoài phù hợp với từng nhóm lợi ích chi phối các hoạt động giáo dục.

Mọi người đều biết thời nào, chế độ nào thì một nền giáo dục chân chính cũng có sứ mạng cao cả giống nhau về giáo dục con người hướng tới chân, thiện, mỹ. Đồng thời trên cái nền chung đó mỗi thời, mỗi xã hội đặt những nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể khác nhau cho giáo dục. Không thấy hai mặt đó mà chỉ thiên một mặt này hay mặt kia, thậm chí để hai mặt đó xung đột, sẽ dẫn đến một nền giáo dục hoặc thoát ly thực tế hoặc thực dụng thiển cận, hoặc vừa có cả hai tính chất đó. Chẳng hạn, thời nào thì con người sống trong xã hội lành mạnh cũng cần trung thực, và muốn đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng phải ít nhiều có đầu óc sáng tạo, nhưng chưa bao giờ hai đức tính đó thiết yếu như bây giờ trong thế giới toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Điều đó tiếc thay đã không được chú ý trong suốt quá trình xây dựng giáo dục ở Việt Nam.

Trong khi xã hội và môi trường quốc tế đã biến đổi cực kỳ sâu sắc mà từ mẫu giáo đến đại học, nhà trường vẫn dựa vào kinh nghiệm giáo dục tư tưởng chính trị thời đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội để rèn luyện nhân cách, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, thì với sự vênh đó giữa lý thuyết và đời sống, cộng thêm sự xuống cấp nhanh đạo đức xã hội, làm sao có thể giáo dục trung thực và sáng tạo có hiệu quả? Đó là nguyên nhân sâu xa khiến sự giả dối và nạn giáo điều lan tràn, từ tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích, bệnh thi đua hình thức, cho đến nạn sao chép, dạy mẫu, học thuộc lòng, cứ tồn tại dai dẳng bất chấp sự lên án của dư luận xã hội.

Gần đây, những cuộc tranh cãi xung quanh đề án tăng học phí, nạn học sinh bỏ học, ngồi nhầm lớp, cho thấy rõ một nguyên nhân căn bản của nhiều vấn nạn là do nhận thức về công bằng, dân chủ trong giáo dục còn quá hời hợt và thô sơ. Chỉ mới chú ý yêu cầu sơ đẳng bảo đảm quyền học tập (nói chính xác là quyền bình đẳng về cơ hội học tập), mà ngay việc này cũng chưa được hiểu đúng và làm tốt. Trong khi đó, với chế độ học tập như hiện nay, buộc học sinh phải học thêm ngoài giờ rất nhiều (kể cả làm bài tập ở nhà và học thêm ngoài giờ có trả học phí), thì con em các gia đình nghèo làm sao có được cơ hội học tập thành công bình đẳng với con em các gia đình khá giả. Cho nên được đi học mới chỉ là bình đẳng một phần. Bình đẳng về cơ hội học tập không thôi chưa đủ mà phải bình đẳng về cơ hội học tập thành công. Vì vậy hiện tượng học sinh bỏ học nhiều cần được nhìn nhận là dấu hiệu đáng lo ngại của một nền giáo dục thiếu công bằng.

Khủng hoảng giáo dục chủ yếu là từ bên trong, tức là do hậu quả của hàng loạt lỗi hệ thống. Trong đó đáng nêu nhất có một số sai căn bản như sau.

Chính sách đối với giáo viên. Xuất phát từ quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò của giáo viên trong nền giáo dục hiện đại. Phản ứng lại tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ, gán cho giáo viên quyền uy tuyệt đối theo quan niệm “không thầy đố mày làm nên”, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, đã xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của giáo viên đối với chất lượng giáo dục. Với cách hiểu giáo dục thô sơ nặng về cảm tính, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm”, khi khác tôn chương trình và sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhân định chất lượng đại học thấp “không phải do giảng viên mà do chương trình”, dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ giáo viên theo chuẩn mực giáo dục hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng nhà giáo, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương. Ngay từ đầu đã bỏ qua kinh nghiệm muôn thuở “có thực mới vực được đạo”, trả lương cho giáo viên dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (thật ra chỉ là sử dụng ngân sách không hợp lý), bỏ mặc các nhà giáo “tự cứu” kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm, đến nỗi không hiếm giảng viên đại học dạy trên 30 giờ/tuần). Rốt cuộc phần thu nhập thêm đó cũng từ ngân sách hoặc tiền đóng góp của dân mà ra, nhưng cái giá phải trả cho cái nghịch lý lương/thu nhập đó là chất lượng giáo dục bị hy sinh, đạo lý xuống cấp, cần kiệm liêm chính mất dần, gây ra tình trạng hỗn loạn rất khó đảo ngược để lập lại trật tự, dân chủ, văn minh trong giáo dục.

Chú trọng thi hơn học, quá nhiều kỳ thi “quốc gia”, mà thi theo cách học thuộc lòng, sao chép bài mẫu, lại thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục Việt Nam, tái diễn cảnh lều chõng xa xưa ngay giữa thời toàn cầu hóa và kinh tế tri thức (với tâm lý trượt thi đặc trưng “đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng, hổ bút hổ nghiên, hổ lều hổ chõng” 27 ). Có thể nói không ngoa, muốn hiểu thực chất việc học ở Việt Nam như thế nào chỉ cần quan sát xã hội Việt Nam trong mùa thi. Thực học hay hư học, học để biết, để làm, để sống cuộc sống hữu ích, hay học để làm gì, tất cả đều phơi bày ra hết ở mùa thi. Trên thì Bộ Giáo dục và Đào tạo có cả một bộ máy đồ sộ để nghiên cứu nghĩ ra cách tổ chức thi, ra đề thi, chấm thi, thanh tra, giám sát thi, mỗi năm một kiểu, dưới thi các lò luyện thi, các lớp học thêm, dạy thêm, các máy photocopy đua nhau hoạt động phục vụ học sinh đi thi. Suốt mấy năm trời hết ba chung rồi hai chung, hết tự luận rồi trắc nghiệm, thảo luận không dứt, nhưng khống hề băn khoăn: có cần thiết bấy nhiêu kỳ thi và thi căng thẳng như vậy không? Mặc dù đã có nhiều ý kiến đề nghị bỏ bớt các kỳ thi và thay đổi cách thi, nhưng với sức ì cố hữu của cơ quan quản lý, phải mất tám năm mới bỏ được cách thi kỳ quặc dựa theo bộ đề thi có sẵn, sau đó nhiều năm mới bỏ được thi tiểu học, thi trung học cơ sở. Còn lại hai kỳ thi căng thẳng tốn kém nhất là thi trung học phổ thông và thi tuyển sinh đại học, dự kiến sẽ kết hợp lại làm một, cũng là một tiến bộ dù chỉ mới nửa vời. Ở đại học, do đào tạo theo niên chế nên “thi tốt nghiệp” một cách nặng nề, hình thức mà ít hiệu quả. Từ cách thi nhiêu khê đẻ ra lắm dịch vụ ăn theo ky lạ ở mọi cấp: kỹ nghệ “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, bằng thật nhưng học giả, v.v.. Cho nên chừng nào còn thi kiểu này, còn học chỉ để thi, thi hư học còn phát triển, gây lãng phí lớn cho nhà nước và xã hội. Nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi thì tốn kém lên tới con số khủng khiếp khó có thế chấp nhận.

Chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng, bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiêm quốc tế, khiến việc hội nhập khó khăn và không cạnh tranh nổi ngay với giáo dục các nước trong khu vực. Điều này rõ nhất, nghiêm trọng nhất ở cấp đại học và cao học (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ). Thật ra, từ giữa thế kỷ XX mâu thuẫn gay gắt giữa số lượng và chất lượng đã xuất hiện phổ biến trong phát triển giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới. Việt Nam càng không phải là ngoại lệ, nhưng Việt Nam đi sau, có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước để tránh sai lầm. Tiếc rằng nhiều kinh nghiệm tốt ở các nước đã không được áp dụng, hoặc áp dụng không thành công, chủ yếu vì thiếu nghiên cứu thấu đáo và không có cách nhìn hệ thống (đào tạo nghề, đại học đại cương là những ví dụ). Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn hội nhập thành công, phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Thế nhưng từ việc xây dựng một trường đại học về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy, cho đến việc tuyển chọn, đánh giá giáo sư, phó giáo sư tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trình nghiên cứu khoa học, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá các đại học v.v. phần lớn đều không theo chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, nặng về cảm tính thô sơ, rất thấp và rất khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ích riêng cho từng nhóm thay vì phục vụ sự nghiệp chung. Với cách quản lý xô bồ đó, số phế phẩm tuôn ra xã hội ngày càng đông, tài năng làng nhàng chiếm ưu thế, rồi phế phẩm thế hệ thứ nhất sản xuất ra phố phẩm thế hệ thứ hai, cứ thế thành cái vòng xoáy trôn ốc nhấn chìm giáo dục trong một mớ bòng bong, không gỡ ra được (tình hình lộn xộn về các bằng cấp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trong nước và các chức danh giáo sư, phó giáo sư hay các danh vị khác đã khiến các sản phẩm giáo dục Việt Nam mất giá thảm hại trên trường quốc tế).

Năng lực yếu kém của bộ máy tham mưu, quản lý và điều hành có thể là nguyên nhân quan trọng nhất, tuy khó khắc phục nhất. Xây dựng giáo dục để hội nhập thành công trong thời toàn cầu hóa và kinh tế trí thức đòi hỏi một trình độ chuyên nghiệp cao và một tinh thần trách nhiệm lớn. Đó là khâu đầu tiên phải giải quyết đúng, phải “thắng”, thì mới bảo đảm thành công. Cho nên khi giáo dục lâm vào khủng hoảng toàn diện thì nguyên nhân thất bại đầu tiên phải tìm ngay trong khâu mấu chốt đó. Không thể đổ cho thiếu tiền, vì tuy một số lĩnh vực như đại học cần thật sự được tăng đầu tư, nhưng nhìn chung, quản lý tài chính trong toàn ngành yếu kém, thiếu minh bạch, không tạo được niềm tin rằng tăng đầu tư cho giáo dục sẽ tăng chất lượng tương ứng. Một ví dụ: một đề án sáu năm để phát triển giáo dục đại học được đầu tư 115 triệu đô-la (trong đó vay của WB 85 triệu đô-la), mới thực hiện được vài năm đã bị WB dọa đình chỉ vì quản lý quá kém, thế nhưng sau đề án đó lại tiếp tục một đề án khác đầu tư 70,5 triệu đô-la trong đó khoảng gần 5 triệu đô-la chỉ để… nâng cao năng lực quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chỉ một thông tin như thế đủ cho thấy trình độ chuyên nghiệp của bộ máy quản lý yếu kém đến mức nào. Mà đó chỉ là một đề án. Xung quanh Bộ Giáo dục và Đào tạo có nhiều vụ, viện với biên chế rất lớn, từng có thời gian dài có bộ phận biên chế đến 500 người mà năng suất rất thấp, mặc dù đã tốn hàng nghìn chuyến đi nước ngoài với danh nghĩa học tập kinh nghiệm viết sách giáo khoa. Hằng năm khoản chi để “bồi dưỡng năng lực quản lý” theo kiểu đó đã ngốn một phần công quỹ lớn thì còn đâu ngân sách trả lương đàng hoàng cho thầy cô giáo, ở trung ương đã vậy thì ở các địa phương cũng lặp lại mô hình đó, sự thiếu chuyên nghiệp, cộng với thiếu công tâm, là đặc trưng nổi bật của bộ máy quản lý, đẻ ra một kiểu quản lý tập trung quan liêu, thiếu trách nhiệm và kém hiệu quả.

Bên cạnh Bộ Giáo dục và Đào tạo thiếu chuyên nghiệp mà rất cồng kềnh, còn có một Hội đồng Quốc gia về Giáo dục với nhiệm vụ giúp thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và một Hội đồng Chức danh Giáo sư lo việc xem xét công nhận các chức danh. Thành phần chủ chốt của cả hai hội đồng đều có nhiều người chỉ hiểu biết hời hợt về giáo dục hiện đại, nhất là đại học, cho nên có thể nói tình trạng sa sút của giáo dục đại học vừa qua có một phần trách nhiệm rất quan trọng của chính hai hội đồng này.

3. LỐI RA NÀO?

Thật ra không phải chỉ mấy năm qua khủng hoảng giáo dục mới được nhận dạng, mà ngay từ năm 1995, trong một hội nghị lớn do Thủ tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy triệu tập và chủ trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu cho ngành này. Nhiều nhận định và kiến nghị tâm huyết đề xuất trong hội nghị đó và một loạt hội thảo tiếp theo đã được tiếp thu và ghi nhận trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nhận thức và tư duy lãnh đạo đối với giáo dục. Nhưng từ đó đến nay giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế trì trệ triền miên.

Sức ì và tinh thần ngại thay đổi, cộng với tính thiếu chuyên nghiệp biểu hiện rõ nhất trong vấn đề thi cử và phân ban. Suốt hơn hai chục năm trời, những cải cách về thi cử chỉ đạt được kết quả là bỏ thi theo bộ đề thi (mất tám năm), bỏ thi tiểu học, thi trung học cơ sở (mới cách đây vài năm), kết hợp thi trung học phổ thông với thi tuyển sinh đại học làm một (giải pháp nửa vời chưa tốt lắm), nhưng chưa bỏ được mà còn tăng cường thi tốt nghiệp ở đại học. Về việc chương trình trung học phổ thông có nên phân ban hay không, và phân ban như thế nào, thì loay hoay mãi 15 năm trời, thí điểm đi thí điểm lại các phương án phân ban kiểu cũ (theo hướng chuyên môn hóa dứt điểm từ lớp 10 hay 11), sau thất bại nhiều lần đến năm 2006 mới bắt đầu sửa theo kinh nghiệm các nước tiên tiến, nhưng cũng chỉ sửa nửa vời vì vẫn tiếc rẻ chương trình, sách giáo khoa đã trót soạn và in theo tinh thần phân ban cũ từ mấy năm trước. Trong cả hai chuyện (thi cử và phân ban), sở dĩ mò mẫm mãi và cải cách chỉ đến nửa vời là vì xuất phát từ tư duy giáo dục cũ kỹ: không thấy tầm quan trọng của văn hóa phổ quát, muốn chuyên môn hóa dứt điểm rất sớm, do đó phổ thông thì phân ban, đại học thi học theo niên chế (đào tạo theo chuyên môn hẹp), cả phổ thông và đại học đều phải thi tốt nghiệp. Trong khi đó nếu xuất phát từ quan điểm coi học chứ không phải thi là chính, trọng văn hóa phổ quát, không chuyên môn hóa dứt điểm quá sớm, nhằm tạo điều kiện cho người học có khả năng hợp tác liên ngành và khả năng thích nghi với môi trường ngành nghề thường xuyên biến động trong thời kinh tế tri thức, do đó học theo chế độ tín chỉ, thi theo từng học phần dứt điểm, không có thi tốt nghiệp mà cứ hội đủ số tín chỉ theo yêu cầu thì tốt nghiệp. Như vậy, thích hợp hơn với các điều kiện làm việc thực tế hiên đại, không bị áp lực thi cử quá nặng nề, giảm bớt stress học tập cho giới trẻ (không ai biết stress này ảnh hưởng bao nhiêu đến tình trạng bạo lực gia tăng trong xã hội).

Hai vấn đề lớn khác là chế độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, và chế độ xét duyệt, công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư. Đây là hai lĩnh vực công tác có nhiều sai lầm nghiêm trọng tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhưng trong suốt 30 năm vẫn được duy trì hầu như không thay đổi. Nhiều kiến nghị liên tục của chuyên gia trong nước và Việt kiều kêu gọi chấn chỉnh hai công tác này đều bị bỏ qua. Mãi đến mấy năm gần đây, một số kiến nghị ấy mới bắt đầu được nghiên cứu và chấp nhận một phần, nhưng khi thực hiện lại cũng trì hoãn thêm một số năm nữa, không ai hiểu vì lý do gì. Sự ngập ngừng, tiến vài bước rồi lại lùi, có khi quay ngược 180 độ, biểu hiện tư duy lấn cấn, chưa thông suốt, chưa sẵn sàng đổi mới, ngay cả khi sự cấp thiết phải thay đổi đã quá rõ và đã được chính thức thừa nhận.

Bấy nhiêu kinh nghiệm thất bại là những bài học cho thấy không thể chấn hưng giáo dục bằng những cải cách nửa vời, chậm chạp, tùy tiện, như ngành giáo dục đã làm hơn 20 năm qua. Ngay những biện pháp tích cực hai năm gần đây, tuy rất cần thiết và đáng hoan ngênh, cũng chỉ mới có tác dụng sửa sang bề ngoài bộ mặt nhà trường cho dễ coi, chứ thật sự chưa động tới cốt lõi. Chẳng hạn, chống tiêu cực trong thi cử chỉ mới làm cho quang cảnh thi cử sạch sẽ hơn chứ chưa động tới cái gốc của hội chứng thi; chống hành vi xâm phạm nhân phẩm học sinh của một bộ phận nhà giáo chỉ mới cải thiện chút ít hình ảnh giáo viên chứ chưa động tới các nguyên tắc giáo dục trong nhà trường hiện đại (giáo viên chẳng những không được đánh đập, mà cũng không được quở mắng, làm nhục học sinh trước lớp, dù chỉ với ý tốt để răn dạy các em). Quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm tràn lan, giải quyết vấn nạn bỏ học, ngồi nhầm lớp chưa hề động tới nguyên tắc công bằng trong giáo dục; kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ chưa động tới cốt lõi vấn để tuyển chọn, sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đại học.

Trong khi những đề nghị cải cách nhằm tới một nền giáo dục hiện đại, công bằng, dân chủ, văn minh, đều rất khó được tiếp thu thì ngược lại nhiều ý tưởng về tự do hóa và thị trường hóa giáo dục lại được hưởng ứng với một nhiệt tình mù quáng, tưởng như đó là chiếc đũa thần để chữa mọi căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam. Đặc biệt, chưa nghiên cứu kỹ để hiểu đúng tinh thần cuộc cải cách quản lý đại học gần đây ở các nước phát triển đã vội vã đề ra chủ trương phiêu lưu cổ phần hóa đại học công và phát triển đại học tư vì lợi nhuận mạnh hơn cả ở các nước ấy, gây lo lắng cho nhiều tầng lớp xã hội trước sự buông lơi trách nhiệm của nhà nước đối với giáo dục.

Trước tình hình khủng hoảng kéo dài của giáo dục, chỉ có một lối ra tiết kiệm và nhanh chóng là thực hiện một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để, nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc, tiến tới một nền giáo dục thật sự hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, và tạo tiền để cho đất nước hội nhập quốc tế thành công.

Đây thật sự là mệnh lệnh cuộc sống nếu chúng ta không muốn bị đẩy ra ngoài lề thế giới văn minh ngày nay. Tốt nhất Chính phủ nên thành lập một tổ đặc nhiệm, độc lập với Bộ Giáo dục và Đào tạo, chịu trách nhiệm xây dựng trong thời hạn 12 tháng một đề án cải cách giáo dục toàn diện kèm theo một lộ trình thực hiện đề án đó sau khi được Chính phủ đồng ý để trình Quốc hội thông qua. Tổ đặc nhiệm này cần có một nòng cốt gồm một số không nhiều (dưới năm người) những chuyên gia thật sự có năng lực và thật sự am hiểu giáo dục hiện đại, làm việc toàn thời gian, và bên cạnh đó một hội đồng rộng hơn, làm việc bán thời gian, gồm có đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nhà khoa học, nhà văn hóa, và doanh nhân.

Trong thời gian chuẩn bị đề án cải cách căn cơ, nên gác lại việc xây dựng Chiến lược Phát triển Giáo dục 2008-2020 (rút kinh nghiệm việc xây dựng không thành công Chiến lược Phát triển Giáo dục 2000-2010 trước đây). Đồng thời, để tạo cơ sở và mở đường chuyển sang cải cách toàn diện, cần tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách liên quan những lỗi hệ thống trầm trọng đã nêu ở trên:

a. Giải tỏa nghịch lý lương/thu nhập bằng biện pháp chấn chỉnh quản lý tài chính của ngành giáo dục, rà soát lại mọi khoản chi công quỹ và tiền đóng góp của dân, trên cơ sở đó tăng lương cho giáo chức, bảo đảm lương là thu nhập chính của mỗi người. Chống tham nhũng, lãng phí trong giáo dục;

b. Chỉnh sửa phân ban trung học phổ thông, không chia ban mà cho phép học sinh được nhiều tự do lựa chọn học theo chương trình bình thường hay nâng cao, trên cơ sở đó bỏ thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Không kết hợp thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học làm một mà chỉ tổ chức một kỳ thi sơ tuyển vào đại học giống như SAT của Mỹ, sau đó từng đại học tự tổ chức xét tuyển trên cơ sở kết quả sơ tuyển và học bạ trung học phổ thông;

c. Chấn chỉnh việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Rà soát lại danh sách các trường, viện được quyền đào tạo, đồng thời rà soát lại các quy định về toàn bộ quy trình từ tuyển chọn học viên, đến việc bảo vệ luận văn, nhằm bảo đảm phù hợp chuẩn mực và thông lệ quốc tế;

d. Cải tổ bộ máy quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực hiện quyền tự chủ cho các đại học, trả việc tuyển chọn và bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư về các đại học và viện nghiên cứu (sau khi được cấp trên có thẩm quyền chuẩn y). Cải tổ Hội đồng Chức danh Giáo sư, để hội đồng này chỉ xét công nhận trình độ khoa học tối thiểu cần thiết cho các chức danh này, dựa theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Cải tổ Hội đồng Quốc gia về Giáo dục thành một tổ chức tư vấn có năng lực và trình độ chuyên nghiệp tương xứng với nhiệm vụ;

e. Tạm dừng mọi kế hoạch cổ phần hóa đại học công. Xóa bỏ những rào cản hành chính về mở trường tư. Trường tư vì lợi nhuận cần được đối xử như doanh nghiệp tư nhân về mọi phương diện. Nhà nước chỉ nên hỗ trợ đất đai hay tài chính cho các trường tư vô vị lợi.

Trên thực tế, từ hai năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cố gắng để kéo cỗ xe giáo dục ra khỏi sa lầy, vực giáo dục lên nhằm đáp ứng các yêu cầu bức thiết hội nhập và phát triển kinh tế và nguyện vọng chính đáng của người dân được hưởng một nền giáo dục công bằng, dân chủ và hiện đại. Giờ đây cả nước, từng gia đình, không ai không thấm thìa những hậu quả khủng hoảng giáo dục. Mong rằng trong họa này cũng có cái may, và đây chính là cơ hội lịch sử để ngành giáo dục tự ý thức đầy đủ sự yếu kém của minh, tìm thấy trở lại động lực mạnh mẽ phát huy tiềm năng và vươn lên hoàn thành sứ mạng cao cả trong giai đoạn đầy trách nhiệm đối với tương lai đất nước.

16. NĂM MỚI, BUỒN VUI VỚI GIÁO DỤC

- XUÂN 2008

Trong bài viết “Năm mới, chuyện cũ” đăng trên tạp chí Tia Sáng đầu năm 2007, nhân bàn về hướng giải quyết những chuyện cũ tồn đọng trong giáo dục và khoa học từ nhiều năm trước, tôi có bày tỏ hy vọng sẽ được thấy trong năm 2007 những biến chuyển mạnh mẽ và nhanh chóng bù lại sự chậm trễ của chúng ta so với thế giới trước yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng gay gắt. Nhưng nay nhìn lại, dường như chúng ta vẫn còn loay hoay chưa tìm thấy lối ra để thoát khỏi tình trạng rối ren bùng nhùng từ lâu đã kìm hãm giáo dục và khoa học Việt Nam.

Công bằng mà nói trong năm qua đã có một số sự kiện tích cực đáng ghi nhận: chống tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích, phát hiện và khắc phục hiện tượng ngồi nhầm lớp, bước đầu chú ý chất lượng thay vì mù quáng chạy theo số lượng, bước đầu nhận thức rõ sứ mệnh của giáo dục về nhân lực, nhân tài, và dân trí của đất nước. Tuy đấy mới chỉ là những chuyện trên bề nổi, thật ra ai cũng đã biết, đã thấy từ lâu, nhưng dù sao việc đặt nghiêm túc những vấn đề này trên bàn nghị sự của lãnh đạo cũng cần nhìn nhận là bước tiến đáng kể so với nhiều năm trước.

Song những bước tiến còn rụt rè, và như còn dùng dằng, ngập ngừng, luyến tiếc nhiều cái cũ nến cứ tiến vài bước lại lùi một bước, có khi quay ngược lại 180 độ, nhất là chưa hề động tới những vấn đề cốt lõi, những lỗi hệ thống, mà càng lẩn tránh càng trầm trọng thêm, khiến mọi biện pháp dù hay đến đâu cũng khó bề thực hiện hiệu quả.

Đương nhiên không thể ngay một lúc giải quyết được mọi vấn đề phức tạp tích lũy từ hàng chục năm nay. Nhưng người dân có quyền đòi hỏi phải nhìn rõ hướng ra cho những khó khăn đó, phải thấy được triển vọng sáng sủa để đặt niềm tin vào tương lai. Lãnh đạo giáo dục mà thiếu một tầm nhìn chiến lược thì dễ sa vào sự vụ nay thế này mai thế khác, “cải cách” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cuộc lãng phí công sức mà kết quả có khi chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu sinh khí.

Rõ nhất là chuyện thi cử. Năm nào cũng vậy, cứ đến khoảng thời gian này thi cử trở thành để tài bàn tán sôi nổi trong các hội nghị lớn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trên các báo chí và phương tiện truyền thông, trong sinh hoạt mọi gia đình có con em lên đến năm cuối trung học phổ thông và chuẩn bị vào đại học.

Xưa nay các nhà giáo dục đều coi học gì, học như thế nào mới là chính, còn thi chỉ là một khâu trong quá trình học. Nhưng ở ta thì ngược lại, từ nhiều năm nay ít lo học, chỉ lo thi. Thật kỳ lạ, không ở đâu trên thế giới việc thi cử lại tốn kém và gây nhiều căng thẳng trong xã hội như ở nước ta. Đến nỗi muốn hiểu thực chất việc học ở Việt Nam như thế nào chỉ cần quan sát xã hội Việt Nam trong mùa thi. Thực học hay hư học, học để biết, để làm, để sống cuộc sống hữu ích, hay học để làm gì, tất cả đều phơi bày ra hết ở mùa thi. Trên thì Bộ Giáo dục và Đào tạo có cả một bộ máy đồ sộ để nghiên cứu cách tổ chức thi, ra để thi, chấm thi, mỗi năm một kiểu, dưới thi các lò luyện thi, các lớp học thêm, dạy thêm, các máy photocopy đua nhau hoạt động hết công suất để phục vụ học sinh đi thi. Hết ba chung rồi hai chung, hết tự luận rồi trắc nghiệm, thảo luận triền miên, nhưng không ai nghĩ: có cần thiết nhiều kỳ thi và thi căng thẳng như vậy không? Công sức tiền của bỏ ra, kể cả của nhà nước và người dân, có tương xứng với lợi ích thu được hay không?

Từ cách thi kiểu đó phát sinh các dịch vụ bằng giả, bằng thật học giả, thi thuê. Mọi cách gian dối tinh vi tàn phá giáo dục cũng từ đó mà ra, nếu tính cả những ảnh hưởng gián tiếp thì lãng phí lên đến con số khủng khiếp, tại sao cứ tiếp tục duy trì kiểu thi cử cổ lỗ đó? Đằng sau cái thành tích ấn tượng năm 2007 đã tổ chức được một kỳ thi trung học phổ thông nghiêm túc đầu tiên sau hàng chục năm, có ai thử tính toán cái giá đắt đã phải trả cho thành tích ấy không?

Nghĩ cũng buồn tủi cho một đất nước luôn tự hào về truyền thống văn hiên. Hóa ra người ta quan niệm học là chỉ để có kiến thức, cố tình quên đi rèn luyện nhân cách, rèn luyện kỹ năng làm việc, kỹ năng sống, cho nên mới coi việc thi là mục tiêu cao nhất. Chẳng những thế mà mọi kỳ thi khác, cho đến thi thạc sĩ, tiến sĩ, rồi thi công chức, rồi tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư cũng đều bị chi phối bởi cùng một kiểu văn hóa thi cử tệ hại như vậy cả. Ở đâu cũng tùy tiện, cũng một kiểu đánh giá máy móc, hình thức và cũng đầy rẫy tiêu cực, lạm dụng.

Trong khi đó, chất lượng giáo dục sút kém từ nhiều năm vẫn chưa cải thiện được bao nhiêu, mà đáng lo nhất là trung học phổ thông tuy thế vẫn còn nghiêm túc hơn đại học.

Hiện nay, với cách hiểu rất hời hợt về các chuẩn mực của một trường đại học “đẳng cấp quốc tế”, nhiều người, kể cả trong giới lãnh đạo đại học, tưởng chừng chỉ cần du nhập các chương trình của các đại học tiên tiến trên thế giới (việc này không khó), và thu hút được vài chuyên gia tầm cỡ (việc này đâu dễ) thì chẳng lâu la gì một số đại học lớn của ta sẽ lên “đẳng cấp quốc tế” ngay, và mươi năm nữa sẽ lọt vào top 200 trường trên thế giới. Xin thưa: với cung cách quản lý xơ cứng này, với trình độ đội ngũ giáo chức đại học như hiện có, cái viễn cảnh đẹp đẽ đó e chỉ ru ngủ được những bộ óc lãng mạn thiếu trách nhiệm, chứ không thể làm yên lòng những người tâm huyết tỉnh táo.

20 năm qua, chúng ta đã đào tạo được bao nhiêu chuyên gia thật sự xứng tầm giáo sư ở một trường đại học trung bình tại các nước phát triển? Tôi nghĩ con số lạc quan nhất cũng chỉ là một tỉ lệ rất nhỏ trong đội ngũ hàng nghìn những người đang dạy ở các đại học lớn của cả nước. Vì sao như vậy? Nên có cuộc điều tra và phân tích khách quan mới thấy được hướng giải quyết đúng đắn để chấn hưng giáo dục đại học Việt Nam.

Việt Nam không thiếu người tài, điều đó luôn luôn được khẳng định trong lịch sử. Việt Nam không thiếu người thật sự tâm huyết với đất nước. Thế nhưng ta đang tụt hậu xa so với thiên hạ, mà mỉa mai là tụt hậu về trí tuệ ngay vào cái thời trí tuệ đã trở thành vũ khí sinh tồn cho mọi dân tộc. Riêng tôi, với kinh nghiệm qua mấy chục năm gắn bó với giáo dục, tôi vẫn tin rằng nguyên nhân trực tiếp gây ra thảm họa đại học không gì khác là chính sách đối với giáo viên, một chính sách thiển cận, hoàn toàn thiếu khôn ngoan, mà hậu quả của nó là nhiều thầy cô giáo đại học vốn có tài năng và biết tự trọng đành phải ngậm ngùi “chữ trinh còn một chút này…”, cay đắng tự biến mình thành những robot giảng bài theo lập trình định sẵn để có thể tồn tại qua ngày và tự nuôi sống một cách thanh bạch. Đó là cái lỗi hệ thống nghiêm trọng nhất trong quản lý giáo dục đại học. Và trong đó cơ chế đào tạo tiến sĩ và tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư đã góp phần đắc lực nhất tạo ra ảo tường hệ thống vẫn hoạt động trong chế độ an toàn, và củng cố niềm tin ở những thành tựu vĩ đại của giáo dục mà mãi đến gần đây mới thấy rõ chẳng qua chỉ là ảo giác.

Biết làm thế nào, đầu năm mới, ôn lại cái buồn vui trong năm cũ may ra mới chữa được căn bệnh mãn tính sống bằng ảo giác để trở lại với cuộc sống thật - thật như người dân, như đất nước vẫn phải sống với chính nó từ bao năm nay.

17. GIÁO DỤC: XIN CHO TÔI NÓI THẲNG

SỐ 10/2009

1. GIÁO DỤC SA SÚT KHÔNG PHẢI VÌ THIẾU TIỀN MÀ VÌ QUẢN LÝ KÉM

Sau một mùa thi trung học phổ thông và đại học-cao đẳng nặng nề, căng thẳng giả tạo và lãng phí vô lối, không có ở đâu ngoài Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI, trường học chưa kịp nghỉ ngơi cho lại sức đã bước vào khai giảng năm học mới, khởi động một chu kỳ khổ dịch đầy lo âu cho cả giáo viên lẫn học sinh.

Giữa lúc đời sống trăm mối tơ vò mà trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đầy rẫy những bản tin chữ to nào là học phí cao, tiền trường leo thang, tiểu học công lập có nơi thu học phí 70.000-80.000 đồng/tháng, trung học cơ sở, trung học phổ thông vừa đầu năm học phụ huynh phải è cổ đóng góp cả chục khoản tiền “tự nguyện” bắt buộc. Trong khi đó chương trình học đã nhiều năm bị phê phán quá tải vẫn chưa hể giảm tải, sách giáo khoa sai sót đến mức đính chính không xuể vẫn cứ phải dùng, chương trình phân ban trung học phổ thông bộc lộ bất cập ngay khi mới đưa ra thực hiện nhưng vẫn sẽ giữ nguyên cho đến năm 2015. Khẩu hiệu “trường học thân thiện, học sinh tích cực” nghe thì hay, nhưng băn khoăn lớn là làm thế nào trong hai năm tới chấm dứt được nạn “đọc, chép” trong khi mọi thứ khác, từ chương trình, sách giáo khoa, tổ chức học tập cho đến thi cử và nhiều chuyện cốt lõi khác về tư duy giáo dục vẫn căn bản gần y nguyên như nửa thế kỷ trước. Thật xót xa khi học sinh được khuyên “học làm người trước khi học chữ” mà có nơi nhân danh chuẩn hóa giáo viên người ta buộc các thầy cô chưa đạt chuẩn phải đeo trước ngực tấm biển “giáo viên chưa đạt chuẩn” khi vào lớp. Quản lý thiếu nhân tính như thế tránh sao được những chuyện đau lòng như giáo viên bắt học sinh liếm ghế, học sinh tạt axit giáo viên, học sinh lớp 11-12 đâm chém nhau ngay trước cổng trường, v.v… Nói chống bệnh thành tích mà trước kia tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông đạt trên 90%, nay sau hai năm thi cử nghiêm túc hơn, tỉ lệ đó cũng đã dần dần trở lại xấp xỉ 90%, không biết phép lạ nào đã nâng cao chất lượng học tập nhanh chóng như vậy.

Giáo dục phổ thông đã thế, giáo dục đại học, cao đẳng còn nhiều chuyện ly kỳ hơn: khắp nước, kể cả đại học quốc gia, tràn lan và bát nháo “đào tạo liên kết”, môn học một học kỳ chỉ cần ba, bốn ngày là xong hết cả học và thi, nên ai cũng học được, trường trung cấp cũng đào tạo thạc sĩ là chuyện hy hữu trên thế giới. Hóa ra ta hiểu đại chúng hóa, thị trường hóa đại học là thế. Chẳng lạ gì chỉ trong vài năm đã xuất hiện mấy trăm trường đại học mới. Lạ nhất là đề án tiến sĩ hóa, thạc sĩ hóa 100% cán bộ công chức của thủ đô để “đột phá tư duy lãnh đạo” (may mà kế hoạch này đã tạm rút lại sau khi bị phản đối kịch liệt). Cái não trạng sính bằng cấp và thói hư học thâm căn cố đế bị lợi dụng triệt để, biến kinh doanh chữ nghĩa thành một nghề phát đạt chưa từng thấy: trường công chiêu sinh “ngoài ngân sách” một số lượng lớn sinh viên với học phí gấp mấy lần bình thường, rồi nay mai theo xu hướng đó sẽ tiến lên cổ phần hóa theo chiến lược đổi mới đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo; trường tư được tự do chạy theo lợi nhuận, bất kể chất lượng nào chỉ cần trưng biển “đại học quốc tế …” tha hồ đặt ra những khoản thu kỳ dị bóc lột người học. Gần 400 trường đại học chỉ mới thỏa mãn được chưa đến 20% yêu cầu, trong lúc đó, trường nghề tuy rất ít vẫn sống ngắc ngoải vì ai cũng chỉ muốn làm thầy, hoặc làm công bộc của dân, không ai thích làm thợ. Có nơi như ở Dung Quất, các nhà máy cần rất nhiều thợ hàn, mở lớp đào tạo được một khóa 160 người đã đóng cửa, dù đời sống người dân địa phương vẫn rất lam lũ do không có nghề sau khi nhường đất xây dựng khu công nghiệp.

Các quan chức giáo dục bảo những hiện tượng không hay chỉ là riêng lẻ, và để cho công bằng phải nhắc đến biết bao gương tốt hằng ngày vẫn âm thầm diễn ra. Đúng thế thật, song tiếc thay điều đó chỉ càng nói lên khoảng cách lớn giữa tiềm năng với thực tế - một khoảng cách không thể chấp nhận được mà nguyên nhân, như Chính phủ đã chỉ rõ gần đây, là do quản lý bất cập.

2. CẦN CẢI CÁCH CÓ HỆ THỐNG, CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỔI MỚI VỤN VẶT

Nói cho đúng, thực trạng giáo dục như thế nào đã rõ như ban ngày, chẳng qua chúng ta mê ngủ nên chưa thấy, hoặc có thấy nhưng vì những ràng buộc, áp lực nào đó nên cứ phải bịt mắt, giả mê để tự dối mình, dối người khác và yên vị.

Giờ là lúc cần trung thực nhìn thẳng vào sự thật. Đó là lương tâm, là trách nhiệm chẳng những đối với xã hội hiện tại mà còn đối với lịch sử, đối với nhiều thế hệ mai sau.

Xin cảnh báo: tình hình giáo dục hiện nay cũng tương tự như tình hình kinh tế xã hội của đất nước giữa những năm 1980. Thử tưởng tượng lúc đó nếu Việt Nam cứ một mực nhắm mắt trước thực tế đời sống bi đát của người dân mà không đổi mới thì đất nước có tồn tại được đến ngày nay không? Rõ ràng chỉ nhờ nhìn thẳng vào khủng hoảng kinh tế xã hội mới thấy được giải pháp, mới có đầy đủ quyết tâm thoát ra bế tắc, cứu đất nước khỏi sự sụp đổ.

Thật đáng tiếc, ngành giáo dục chưa học được bao nhiêu bài học đắt giá đó. Qua 20 năm, hết đời bộ trưởng này đến đời bộ trưởng khác vẫn tiếp tục ca cái điệp khúc “thành tựu giáo dục là vĩ đại, bên cạnh đó còn nhiều bất cập”. Căn nhà giáo dục đã cũ nát thảm hại nhưng cứ loay hoay nay cơi nới chỗ này, mai sửa chữa chỗ kia, rốt cuộc thành ra căn nhà dị dạng chẳng ai muốn ở. Gia đình nào có khả năng đều tìm cách gửi con em ra nước ngoài để chạy trốn giáo dục trong nước. Chẳng thế mà có người nói vui nhưng thật cay đắng: nên có luật cấm quan chức cấp cao gửi con em du học nước ngoài thì may ra giáo dục mới có cơ hội được chấn hưng.

Điều rất lạ là các nghị quyết của Đại hội Đảng và các Hội nghị Trung ương 3, 7, 9 đều đòi hỏi phải tiến hành cải cách giáo dục như một yêu cầu bức thiết của xã hội, nhưng những vị nhận trách nhiệm trực tiếp thì lại chẳng hề quan tâm thực hiện các nghị quyết ấy, thậm chí còn nói ngược lại. Chiến lược giáo dục dự thảo đến lần thứ 15 vẫn chỉ thấy lặp lại những quan niệm, tư duy cũ, tuy ngôn từ và số liệu có thay đổi cho hợp thời trang (như từ “đổi mới” xuất hiện với tần số kỷ lục). Bên cạnh đó, có những mục tiêu nghe thật hoành tráng, nào là từ nay đến năm 2020 (tức trong 11 năm tới) đào tạo 20.000 tiến sĩ, xây dựng bốn trường đại học đẳng cấp quốc tế, một trường vào tốp 200 thế giới, v.v… Song người dần vẫn phân vân: ba năm qua ta đã làm được gì mà có thể đặt kỳ vọng cao như thế cho 11 năm tới? Hay là ta đang mơ mộng thiếu thực tế, thiếu trách nhiệm, và căn bệnh thành tích từ ngoài da đã đi vào xương tủy?

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nhiều lần đỏi hỏi phải thực hiện những biến đổi có tính cách mạng để chấn hưng giáo dục. Trong một bài viết đăng trên báo Tiền Phong số 25 ngày 18/6/2006, cố GS Lê Văn Giạng, một cựu lãnh đạo có uy tín của ngành đại học, cũng đã phát biểu: “Đã đến lúc phải chuẩn bị tiến hành một cuộc cải cách giáo dục thực sự nghiêm túc và thực sự khoa học để ra khỏi tình hình khủng hoảng triền miên của giáo dục 20 năm vừa rồi, để bước vào thời kỳ chấn hưng giáo dục như Nghị quyết của Đại hội Đảng X vừa yêu cầu” 28 . Đó là chưa kể nhiều kiến nghị tương tự của nhiều bậc thức giả trong nước và Việt kiều, đặc biệt bản điều trần của 24 trí thức năm 2004 và bản kiến nghị đầu năm 2009 của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (nay đã giải thể). Thiết nghĩ chỉ những ai quá vô tâm với đất nước mới có thể yên lòng trước tình hình giáo dục hiện nay.

Có ý kiến biện bạch rằng hàng loạt cải tiến, đổi mới lớn nhỏ mà ngành giáo dục đang thực hiện cũng là cải cách. Phải công nhận hai chữ “đổi mới” nhan nhản trong hầu hết các đề án công tác của ngành giáo dục, nào là đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ chế tài chính, đổi mới phương thức triển khai hoạt động khoa học công nghệ, v.v… Chỉ có điều đổi mới thế nào thì chẳng ai giải thích nổi, chẳng ai biết rõ, cho nên cứ đổi mới tùy hứng, tùy tiện, tùy nghi, theo kiểu đầu Ngô mình Sở. Vả chăng cần thấy rằng cái cày chìa vôi dù có cải tiến giỏi đến đâu vẫn không thể biến thành cái máy cày hiện đại được; căn nhà tập thể thời bao cấp dù sửa chữa tân tạo hết mức vẫn không thể thành một chung cư tiên nghi hiện đại.

3. GIÁO DỤC KHÔNG PHẢI LÀ PHÒNG THÍ NGHIỆM

Từ lâu ngành giáo dục đã có thói quen xem học sinh như những con chuột bạch để làm thí nghiệm thoải mái, mà điển hình là mười mấy năm liền thí nghiệm các chương trình phân ban trung học phổ thông. Thí nghiệm đi thí nghiệm lại không biết bao nhiêu lần, tốn kém bạc tỉ và không tính được hết thiệt hại cho các thế hệ học sinh nạn nhân thí nghiệm. Rất khó hiểu tại sao lợi ích của học sinh bị xem thường đến vậy.

Thử nghĩ có hãng hàng không nào dám mạo hiểm đưa máy bay mới ra chỉ để thí điểm xem chở khách có an toàn không? Vậy tại sao Bộ Giáo dục và Đào tạo có quyền thực hiện thí điểm các chương trình phân ban cho hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn học sinh trong cả hơn chục năm trời? Mỗi lần thí điểm đều kết luận chưa thành công, kết quả chưa tốt, thế mà người ta vẫn vô tư tiếp tục thí điểm.

Tại sao sau 30 năm mà các quy chế đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, hay công nhận, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm ấu trĩ so với ngay cả một số nước trong khu vực? Tại sao nhiều quy định sai lầm đến buồn cười trong các quy chế ấy vẫn tồn tại dai dẳng thời gian dài trước đây và có nhiều cái tồn tại mãi đến tận hôm nay? Có người bảo rằng Việt Nam không thể máy móc sao chép cách làm của nước ngoài cho nên phải sáng tác cách làm riêng phù hợp với điều kiện trong nước. Nghe rất có lý, nhưng phải xét hậu quả thực tế là với cách quản lý ấy Việt Nam đã đào tạo ra hàng nghìn tiến sĩ giấy và xây dựng nên một đội ngũ giáo sư, phó giáo sư với trình độ, chất lượng ra sao ai cũng biết. Ngay gần đây tôi được biết Việt Nam có cả những cơ sở đào tạo tiến sĩ về quản lý giáo dục. Cái tin ấy thật sự làm tôi ngỡ ngàng: rồi đây số tiến sĩ ấy đương nhiên sẽ đóng góp vào con số 20.000 tiến sĩ dự định đào tạo trong 11 năm tới.

Quan điểm coi thường lợi ích của xã hội thể hiện trong nhiều chủ trương giáo dục mà nêu mô tả là “ngoan cố” có lẽ cũng không sai lắm. Về hàng loạt vấn đề quan trọng như quy chế công nhận, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, quy chế tổ chức Hội đồng Quốc gia về Giáo dục, chuyện biên soạn, xuất bản và phát hành sách giáo khoa, chuyện thi cử, đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, v.v… đã có biết bao đề xuất hợp lý bị bỏ ngoài tai, phải chờ đợi đến cả chục năm trời hay hơn mới được nghiên cứu để tiếp thu. Dù là bậc trí lực cao siêu, thì những người lãnh đạo ngành giáo dục và đào tạo cũng không thể luôn luôn sáng suốt. Huống chi, nhìn vào bảng chi tiêu của ngành giáo dục thấy quá nhiều khoản chi lớn để nâng cấp “năng lực quản lý”, cử cán bộ đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở các nước, chứng tỏ điều ngược lại có lẽ đúng hơn.

Như đã nói trên, nguyên nhân sa sút của giáo dục là quản lý yếu kém, song cần nói cụ thế hơn là quản lý yếu kém như thế nào.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, giữa muôn vàn khó khăn, giáo dục nói chung và đại học nói riêng vẫn phát triển tốt là nhờ có được những vị tư lệnh hiểu biết sâu sắc giáo dục, có tầm nhìn xa, có uy tín cao trong ngành về cả đức độ và tài năng. Sau này chúng ta thường xuyên gặp khó khăn cũng chính là vì tâm và tầm của cơ quan quản lý giáo dục. Nếu xem giáo dục là quốc sách hàng đầu thì phải hết sức coi trọng nhiệm vụ lãnh đạo giáo dục. Người được giao phó nhiệm vụ này chẳng những phải hiểu biết sâu sắc giáo dục hiện đại mà còn phải có điều kiện tập trung toàn tâm toàn ý cho nhiệm vụ ấy. Không thể giao nhiệm vụ quan trọng trong quản lý giáo dục cho những người chưa biết việc, chưa thạo việc.

Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn văn hóa phổ quát quá khác nhau. Cho nên cần, rất cần chờ đợi và lắng nghe nhau, song trước hết phải được thẳng thắn trao đổi ý kiến.

18. CẢI CÁCH HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ DẠY NGHỀ

SỐ 11/2012

Hệ thống giáo dục trung học phổ thông hiện có hai lãng phí lớn:

Lãng phí lớn thứ nhất là hằng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp trung học phổ thông không qua lọt cánh cửa đại học-cao đẳng, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ trung học cơ sở. Trong khi đó vì thiếu công nhân lành nghề và kỹ thuật viên thông thạo nên công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, sau mấy thập kỷ xây dựng công nghiệp mà cuối cùng chỉ có lắp ráp, xuất khẩu tài nguyên thô, thì làm sao giàu được. Tình trạng lãng phí đó vừa thiệt hại cho xã hội vừa tạo mầm mống bất ổn trong thanh niên.

Lãng phí lớn thứ hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn là cách học và thi quá lạc hậu ở trung học phổ thông gắn liền với thói hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. Trẻ em học hết 12 năm trung học phổ thông thì mệt nhoài, lên đại học và trên nữa thường mau đuối sức khi đua tranh với bạn bè các nước mà ở đó thanh thiếu niên vừa được học vừa được chơi, chơi mà học, để dành sức sau này có thế tiến xa hơn vào những giai đoạn quyết định của cuộc đời.

Để khắc phục những bất hợp lý trên, cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau trung học cơ sở có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng hai phần ba) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ một phần ba vào trung học phổ thông. Học xong trung học hướng nghiệp có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề nhưng nếu muốn cũng có thể học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) vì chương trình học, ngoài phần hướng nghiệp, vẫn bảo đảm phần văn hóa cơ bản cần thiết. Còn trung học phổ thông có nhiệm vụ chủ yếu chuẩn bị đầu vào cho đại học. Theo hướng đó cần phát triển mạnh trung học hướng nghiệp, đồng thời cấu trúc lại chương trình và cách học ở trung học phổ thông cho phù hợp với nhiệm vụ của cấp học này. Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban bất cập hiện nay để tổ chức lại việc học như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Với cách học đó học sinh cả trung học hướng nghiệp và trung học phổ thông đều không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến. Đó mới là cách thực tế và có hiệu quả giảm tải ở cấp học phổ thông, chứ không phải như hiện nay, chương trình bị kẹt giữa hai yêu cầu mầu thuẫn: vừa giảm tải vừa không hạ thấp chất lượng. Hơn nữa về những môn hợp với xu hướng sở thích thì học sinh có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp có đủ hiểu biết tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên đại học và cao đẳng có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Như thế tránh được nhiều sự lãng phí cho cả xã hội lẫn cho từng cá nhân học sinh. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân một mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiện nay ở trung học phổ thông.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »