Nhà Thám Tử Cô Đơn

Lượt đọc: 12756 | 10 Đánh giá: 9,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Truyện thứ bảy
đức lưới trời lồng lộng

Trong truyện « Sợi dây chuyền 20 triệu », tác giả đề cập tới tổ chức Cảnh sát Quốc tế Interpol. Chúng ta đã nghe nhiều, đọc nhiều về Interpol nhưng thành thật mà nói, chỉ một số ít hiểu rõ Interpol là gì. Vả lại, dư luận tây phương có trình độ kiến thức rộng rãi hơn về các vấn đề quốc tế mà còn i-tờ về Interpol thì sự mít đặc của chúng ta chỉ là dĩ nhiên.

Cách đây không lâu, sự i-tờ của dân chúng tây phương được biểu lộ trong một loạt phim chiếu trên màn ảnh nhỏ, tựa đề « Người của Interpol » (The Man of Interpol), hoặc « Đây Interpol » « Interpol Calling). Loại phim ti-vi này mô tả nhân viên Interpol như là những thám tử mặc áo bành tô rộng, đội mũ phớt mềm, tay luôn luôn thọc túi hườm sẵn cò súng, ngày cũng như đêm đeo kiếng đen sì, có tài bắn bá phát bá trúng, nhu đạo lại cừ khôi một…cây.

Trên thực tế, Interpol chỉ là một tổ chức quốc tế với sự tham dự của gần một trăm quốc gia hội viên có nhiệm vụ tập trung, điều hợp, và phổ biến tin tức, tài liệu nhằm ngăn chặn, trừ khử những hành động trộm cắp, sát nhân, lường gạt trên khắp thế giới. Interpol không có cảnh sát viên hoặc thám tử riêng. Interpol không có quyền bắt ai. Interpol chỉ đảm trách các thường tội, và hoàn toàn tách khỏi những vụ mang tính chất chính trị, chủng tộc, quân sự hoặc tôn giáo.

Interpol chào đời năm 1923 mặc dầu ý kiến thành lập đã manh nha từ năm 1914. Thoạt kỳ thủy, nó là một Ủy ban Hình cảnh Quốc tế, Commission Internationale de Police Criminelle (C.I.P.C.), International Commission of Criminal Police (I.C.C.P.), với 7 nước sáng lập, trong phiên nhóm của 130 đại biểu tại thủ đô Áo quốc.

Năm 1956, vì tầm quan trọng gia tăng, Ủy ban Hình cảnh Quốc tế đổi tên thành Tổ chức Hình cảnh Quốc tế, viết tắt theo tiếng Pháp là O.I.P.C. (Organisation Internationale de Police Criminelle), theo tiếng Anh là I.C.P.O. (International Criminal Police Organization). Gọi tắt trong các bức điện là Interpol.

Interpol thành công nhiều, mà thất bại cũng lắm. Sở dĩ trong vụ lường gạt hột soàn tại Ba lê, nữ bịp chúa đã thoát lưới pháp luật vì lẽ đại chiến thứ hai xảy ra sau đó xóa nhòa hết dấu vết. Kỹ thuật truy diện hồi đó chưa được hoàn bị. Giáo sư Breton và ông chủ tiệm Franck biết mặt nữ chúa bịp nhưng các chuyên viên hình cảnh chưa biết vẽ lại chính xác. Mãi sau này, Identi-kit mới được phát minh.

Identi-kit là một bộ đồ căn cước gồm 525 miếng phim trong suốt, bề dầy 12,5/10cm, mỗi miếng phim biểu hiện cho một đặc điểm của khuôn mặt, và cứ mỗi miếng phim đều được đánh số hoặc ghi chữ. Phim được chia thành nhiều loại : H(hair) là tóc, E(eye) là mắt, N(nose) là mũi, vân vân…Bộ phim được dựng trong các hộp nhỏ, dễ vận chuyển và xử dụng. Dựa vào lời khai của nhân chứng, người ta lập thành khuôn mặt với đầy đủ đặc điểm của kẻ tình nghi, rồi chụp hình lại. Những con số và chữ thứ tự có thể được chuyển đi bằng điện thoại, điện tín…Do đó, diện mạo của kẻ tình nghi có thể được thông báo khắp nơi trong thời gian kỷ lục. Phương pháp Identi-kit này do ông Hugh C. Mac Donald, tòng sự tại sở cảnh sát Los Angles phát minh. Nó được sửa đổi và bổ khuyết lại, và hiện được Interpol cũng như nhiều sở cảnh sát từ đông sang tây xử dụng trong việc truy diện can nhân. Nữ bịp chúa thoát lưới phát luật ở Ba lê phần nào cũng vì quá xảo quyệt và quá giàu kinh nghiệm, luôn luôn đeo găng, nên không để lại dấu vân tay.

Mở lại đống hồ sơ tội phạm Interpol, hầu hết gian phi lỡ để lại dấu tay đều bị thộp cổ. Không sớm thì muộn. Câu chuyện « Lưới trời lồng lộng » sau đâu thuật lại hành  động của hai tên sát nhân. Chúng đã trốn khỏi xứ, lang thang ở hải ngoại. Chúng đã thay đổi tên nhiều lần mà rốt cuộc vẫn không tránh khỏi lưới trời lồng lộng.

Đặc ký « Lưới trời lồng lộng » là bản hùng ca làm rạng rỡ tinh thần hợp tác quốc tế bên trong tổ chức hình cảnh Interpol.

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, thói đời vẫn thế nên Lentnor và Rampfel, hai quân nhân thất trận của Đức quân xã bị Nga giam giữ tại Ba lan, chơi thân với nhau, còn thân hơn cả ruột thịt mặc dầu mỗi người nói một thứ tiếng. Lentnor người Áo, còn Rampfel người Tiệp.

Các sư đoàn thiện chiến của Hitler rầm rộ chiếm đóng Âu châu, đến đâu họ bắt lính tráng và dân công cưỡng bách đến đấy. Tuy nhiên, cặp bài trùng này nhập ngũ chẳng phải vì bị cưỡng bách. Mà vì vi phạm quá nhiều tội. Trộm cắp. Ma cô. Bạc bịp. Họ ẩn núp trong quân đội quốc xã chẳng được bao lâu, đơn vị của họ thua hết trận này đến trận khác để rồi sau cùng họ bị Hồng quân cầm tù.

Hồng quân vốn ghét binh sĩ quốc xã nên Lentnor và Rampfel bị hành hạ đủ điều. Chứng nào tật nấy, Lentnor ở trong trại tập trung được canh phòng cẩn mật mà vẫn trổ mòi ăn trộm. Hắn bị tóm đầu, dẫn đến văn phòng quản đốc lãnh một trận đòn thừa sống thiếu chết trước khi bị cạo trọc đầu, lột hết quần áo, tống giam vào cát-sô. Lệ thường, một khi bị đưa vào cát-sô kỷ luật thì khó sống sót. Chỉ riêng khí lạnh cũng đủ giết chết tù nhân mà sự thiếu ăn, sự đánh đập, và nhất là bệnh hoạn dầm dề đã biến thân thể cường tráng đầy thịt còn bộ xương ma. Phương chi Lentnor còn bị bọn cai ngục bỏ đói nữa.

Luồn lọt, tán tỉnh giỏi, Rampfel lấy lòng được lính Nga, và dùng căn cước giả của một người dân lương thiện để được phóng thích.

Rampfel không quên bạn. Rampfel bố trí cho bạn thoát khỏi xà lim rồi trà trộn vào đám tù được chuyển trại trước khi trả tự do. Phạm nhân lên đến cả ngàn, phần khác đơn vị canh gác quá ít ỏi, ngôn ngữ lại bất đồng nên nhà đương cuộc sô viết không nắm vững được tình hình trại giam. Do đó cặp bài trùng Rampfel-Lentnor đã đào tẩu một cách dễ dàng.

Lentnor có vợ và 2 con nhỏ. Gia đình hắn bị kẹt trong thành phố Bá linh trong khi hắn « giang hồ hành hiệp », gia nhập quân đội và bị cầm tù. Hắn rủ Rampfel về Bá linh. Lentnor chẳng thương gì vợ con, hắn đã có quá nhiều vợ con khắp nơi. Đối với hắn, vợ con chẳng qua chỉ là tai nạn nghề nghiệp. Sở dĩ hắn về thăm vợ con là vì ở nhà giam ra, hắn không có đồng xu dính túi. Lại ốm yếu, bệnh hoạn. Hắn hy vọng mụ vợ đảm đang và chung thủy cung cấp cho ít tiền còm, nghỉ ngơi dưỡng sức một thời gian. Sau đó hắn sẽ vù đi nơi khác. Nếu mụ vợ nghèo kiết thì còn có căn nhà khá xinh xắn, bên trong lại có nhiều đồ đạc ngon lành, đem bán cũng đủ mang lại cho hắn nhiều đêm vui thú.

Nhưng Lentnor chẳng tìm thấy vợ con đâu cả. Trận chiến tàn khốc bên trong thị trấn sụp đổ đã gây ra ly tán và chết chóc. Căn nhà xinh xắn mà Lentnor đặt biết bao tin tưởng cũng đã nằm bẹp dưới đống gạch vụn. Một cơn mưa bom ác liệt đã trúng nóc nhà. Vợ con hắn đã thiệt mạng. Giấc mơ phè phỡn của Lentnor vụt tan ra mây khói.

Hắn đang lang thang trên đường phố lồi lõm giữa cảnh điêu tàn thì nghe tiếng kêu. Hắn giật mình ngoảnh lại. Trời ơi, cứu tinh đã hiện ra đúng lúc để giúp hắn.

Một cô gái phục sức diêm dúa giơ tay vẫy. Lentnor nhận ra một trong những người tình xưa của hắn. Lentnor thuộc hạng bô trai, đàn bà con gái đã loạng quạng với hắn thì nhớ suốt đời không quên. Hắn quên bẵng tên nàng, mặc dầu nàng nhớ rõ tên hắn là Lentnor. Lentnor, anh Lentnor « cưng của em ».

Ngày nọ, Bá linh còn sống thanh bình, ngựa xe như nước áo quần như nêm, kiếm ăn đúng đắn không mấy khó khăn. Vậy mà cô nàng còn chọn cái nghề không vốn, khỏi học. Cái nghề « đi khách ». Huống hồ bây giờ đói rét, tang tóc lan tràn, con gái trinh tơ, đàn bà quý tộc cũng phải làm đĩ. Chẳng cần nhiều, chỉ đổi lấy hộp sữa, thỏi kẹo súc-cù-là, hoặc đôi tất ấm…

Cô bạn gái đứng trước mặt Lentnor có bộ đồ len dầy, đôi găng da mềm, và cả vớ ni-lông, một đại xa xỉ phẩm của Bá linh ngay sau đại chiến. Nghĩa là nàng làm ăn khấm khá. Lentnor chưa cất tiếng, nàng đã nước mắt chạy quanh, rồi lăn xả vào vòng tay hắn. Nàng sụt sùi :

-Em không ngờ anh lại tiều tụy đến thế. Anh sút 20 kílô là ít. Anh được tha từ bao giờ ? Anh về với em nhé ? Dạo này, em có đồng ra đồng vào. Về với em, chịu không ?

Nếu nàng không mời, Lentnor cũng bám cứng lấy nàng. Nàng khẩn khoản mời làm hắn sướng như lạc vào cõi tiên. Hắn đáp là không thể lưu lại lâu ở Bá linh vì còn phải về nơi chôn nhau cắt rốn ở Áo, viếng thăm cha mẹ. Song nàng gạt phắt :

-Được, em không dám giữ anh. Chừng nào khỏe mạnh, anh hãy về xứ.

Lentnor chỉ thằng bạn nối khố co ro trong bộ quần áo mỏng dính, gió thổi bay tơi tả :

-Giới thiệu với em, Rampfel, bạn cùng hội cùng thuyền. Thân kinh khủng. Anh chỉ có thể…

Nàng lại ngắt lời :

-Hiểu rồi. Không lẽ anh về với em, bỏ anh Rampfel ở lại. Em đã có cách. Phòng em thuê cũng ở gần đây. Sát phòng em là phòng một con bạn. Cũng thân kinh khủng, như anh và Rampfel vậy. Tên con bạn tri kỷ này là Charlotte, em thường gọi nó là Lotte.

-Em định giới thiệu Rampfel với Lotte ?

-Dĩ nhiên.

-Sợ Lotte từ chối ?

-Hừ, anh ngây thơ quá. Lotte làm nghề như em. Nó sống cô đơn chịu hết nổi. Nó đang cần được sưởi ấm. Rampfel của anh trông cũng dễ thương. Em đoan chắc với anh là con Lotte sẽ ký nhận cả hait ay.

Cô gái vỉa hè nói đúng. Lotte đã vui vẻ ký nhận cả hai tay. Hai cựu tù  binh khi không được rớt đúng « chĩnh gạo », tha hồ ăn ngủ dưới sự chiều chuộng khéo léo và tận tình của hai ả giang hồ. Gái lầu xanh thường lạnh như đồng. Họ chỉ nghĩ đến tiền. Ái tình đối với họ chỉ là chuyện vớ vẩn, khó thể xảy ra. Nhưng trong trường hợp lòng họ rung động thì thiết tưởng trong vũ trụ chưa có sức mạnh nào mạnh bằng tiếng sét ái tình.

Lotte bàng hoàng trước tiếng sét ái tình của thiên lôi Rampfel. Rampfel có nhiều điều kiện về hôn nhân hơn thằng bạn Lentnor. Vì hắn đã bỏ vợ. Đúng ra vợ hắn đã xé giấy hôn thú ngay sau khi hắn mặc đồ lính. Hắn lại không có con cái chính thức.  Đàn ông ở Âu châu trở nên khan hiếm, còn khan hiếm hơn cả thực phẩm nữa. Nàng Lotte tậu được gã đàn ông to con, khôi ngô, am tường những mánh lới làm tình tuyệt diệu như Rampfel đâu phải dễ. Nàng Lotte lại chẳng phải là giai nhân với sắc đẹp hoa nhường nguyệt thẹn. Nàng hành nghề gái điếm từ lâu, thân thể đã nhão nhoét, nhiều năm lang chạ đã mang lại cho nàng 4 con không cha. Đứa nào cũng gầy còm và còn nhỏ tuổi. Rampfel chẳng dại gì đèo bòng nàng Lotte và đạo binh con nít.

Lotte tâm sự với Rampfel :

-Anh chưa nghĩ đến chắp nối ư ?

Rampfel thở dài :

-Sao lại chưa ? Anh đã nghĩ đến nhiều lần, nhưng em có đàn ông mới hiểu được tâm trạng anh. Cái đau khổ của nam nhi là thất nghiệp, ăn bám vào vợ. Anh đang hoàn toàn thất nghiệp…

-Ờ, anh đừng lo. Đã có em. Lúc này chẳng riêng anh là không có việc. Đàn ông thất nghiệp cả đám.

-Cám ơn em. Nhưng như anh đã nói, anh là đàn ông, và đàn ông có tư cách, không thể làm ký sinh trùng. Anh chỉ đặt thành vấn đề hôn nhân khi nào có việc, có tiền.

Tuy ngoài mặt không bằng lòng, nhưng trong thâm tâm nàng Lotte kính phục Rampfel và yêu thương tin cậy hắn hơn lên. Nàng không thể nào ngờ được hắn là tên sở khanh hạng nhất. Nàng lại tâm sự :

-Sống ở vùng sô viết chiếm đóng bấp bênh lắm anh ạ. Nhiều khi còn nguy hiểm nữa. Bọn Nga dã man một cây, có ngày thộp cổ anh, tống giam chứ chẳng chơi. Em dự định mang lũ con chạy sang Tây Đức. Nghe nói làm ăn ở bên đó tự do và dễ khá hơn. Anh nghĩ sao ?

-Cái đó tùy em.

-Nghĩa là anh đồng ý. Chẳng dám giấu anh, trong những năm chắt bóp, em đã giành giụm được một số tiền. Em đổi thành mỹ kim, cất một nơi. Đồ đạc, nữ trang của em cũng nhiều. Em sẽ đem bán. Chúng mình dồn lại rồi đi.

Nói là làm, nàng Lotte bán đổ bán tháo đồ đạc. Tuy vậy, nàng cũng gom được món tiền lớn. Không chút ngần ngại, nàng trao hết tiền cho người yêu Rampfel. Nàng nghe phong phanh Lentnor sắp từ giã Bá linh nên sợ cuống cuồng, đến hỏi lý do. Lentnor phàn nàn là quá túng thiếu, lại quá xấu hổ vì ăn bám đàn bà (hừ, lại mửng cũ của Rampfel…và của bọn sở khanh) nên định thay đổi chỗ ở.

Lotte bèn dúi vào tay Lentnor 150 mã kim. Nàng năn nỉ hắn ở lại thêm ít ngày. Nàng sợ Lentnor đi sẽ kéo Rampfel đi theo.

Trong những ngày sửa soạn di cư qua Tây Đức, nàng Lotte dẫn Rampfel đến nhà thân quyến, bạn bè. Bất cứ ở đâu nàng cũng mau miệng giới thiệu Rampfel là vị hôn phu.

Đột nhiên nàng Lotte lâm bệnh. Đúng ra nàng mang trong người rất nhiều vi trùng bệnh. Nặng nhất là bệnh giang mai. Như thân cây bị sâu mọt đục ruỗng, nàng ngã gục bất thần. Rampfel đã chán nàng, càng chán nàng hơn vì nàng đã đổ bệnh cho hắn. Hắn nẩy ý định vứt nàng ở lại.

Hắn đem chuyện bàn với Lentnor. Lentnor lắc đầu :

-Mày điên hả ? Mày định đi đâu bây giờ ? Với cái hồ sơ lý lịch chẳng lấy gì làm thơm của mày, còn đến thế kỷ thứ 25 may ra mày mới xoay được công việc. Văn dốt, vũ rát như mày và tao thì ma nào nó mướn…Trời ơi, mày đã nhìn thẳng vào sự thật chưa ? Mày muốn đi đâu, đồng ý, tao sẵn sàng đi theo mày cái rụp song không lẽ bọn mình tiếp tục uống nước sông và nhai lá cây như hồi ấy. Muốn đi, trước hết phải có …xìn. Thiếu cái món xìn thì đừng hòng…

-Tưởng gì chứ tiền…

-Mày đào đâu ra ?

-Của con Lotte.

-Đúng. Tao đang nghĩ đến nó. Nó nhờ tao bố trí cho nó vù qua phía tây. Tao quen biết nhiều. Vấn đề tổ chức vù chẳng có gì gay go, cần có xìn là được. Chừng nào nó đưa tiền rồi liệu.

Rampfel nghe lời bạn khuyên. Gia tài của nàng Lotte còn lại 22 ngàn mã kim. Trong số đó Lotte hứa trích một ngàn để biếu Lentnor về khoản giúp nàng qua phía tây. Nạn trộm cướp xảy ra như rươi, ngày nào cũng có, và hầu như lúc nào cũng có. Thoạt đầu còn là trộm cướp ban đêm. Sau dần, gian phi ngang nhiên hoạt động giữa ban ngày ban mặt. Phần đông là tàn quân quốc xã, phân tán từng nhóm nhỏ hoặc cá nhân có súng đạn hẳn hòi, chặn nạn nhân lại lấy tiền, đồ vật dụng rồi bắn bỏ. Bọn lính Nga cũng chẳng ngoan gì vì họ là dân thiểu số những vùng rừng núi xa lắc xa lơ ở đông bộ Liên Sô được di chuyển đến Bá linh. Có người chưa từng được thấy bóng đèn nê-ông. Tính tình họ còn bán khai nên gặp gì họ cũng lấy, gặp đàn bà con gái là họ hãm hiếp thẳng cánh. Lotte là gái ăn sương chuyên nghiệp mà cũng khiếp sợ bọn lính Nga thiểu số, không những trao tiền, nàng còn trao cả nữ trang vàng bạc cho người yêu. Nàng tỉ tê :

-Trước khi lên đường, em dẫn anh lại nhà cha mẹ em. Dầu sao công việc trăm năm  của mình cũng phải có sự tác thành của cha mẹ. Anh đồng ý không ?

Dĩ nhiên Rampfel đồng ý. Vì Lotte càng rời Bá linh sớm ngày nào, hắn càng sớm được tự do ngày ấy.

Ngày 03/10/1945, mặt trời chưa ló dạng ở chân trời, cặp bài trùng Rampfel-Lentnor và cô gái mãi dâm hoàn lương Lotte đáp chuyến tàu vét từ ngoại ô thành phố Bá linh đến vùng giáp giới Tây Đức.

Vùng này có nhiều rừng. Thuận lợi cho kế hoạch hành động của cặp bài trùng táng tận lương tâm. Lotte xuống tàu. Rampfel nói là nàng cần nghỉ ngơi, chờ chuyến sau.

Nhưng chuyến xe  hỏa sau không bao giờ đến. Không rõ cặp bài trùng đã làm gì trong rừng. Chỉ biết là cả hai đã giết nàng Lotte. Họ vớ được thanh sắt dọc đường, và họ dùng làm khí giới đánh nạn nhân dập óc. Dường như nạn nhân chưa chết ngay, còn van xin, rên rỉ trước khi thở hơi cuối cùng. Nạn nhân bị chôn trong cánh đồng ngày trước được quân đội quốc xã dùng làm trường bắn. Nơi đó toàn là đất cát nên họ đào dễ dàng. Nhưng chỉ hai hôm sau, mưa trút xuống ào ào, xác chết bị lộ thiên.

Cặp bài trùng không quên lột luôn đôi giày của nạn nhân. Vì hồi ấy, giày da đắt như vàng.

Tuy đại chiến mới kết thúc, các cơ sở hành chính còn lộn xộn, cảnh sát liên bang Tây Đức vẫn không xếp xó hồ sơ vụ thảm sát ở trường bắn. Họ chở thi thể nạn nhân về bệnh viện để khám nghiệm. Cặp bài trùng đã dại dột để lại dấu vết. Thật ra họ không đến nỗi dại dột như thế. Chẳng qua họ khinh thường sự mẫn cán hữu hiệu của cảnh sát hậu chiến.

Căn cứ vào dấu vết này, cảnh sát khám phá ra lý lịch nạn nhân. Từ cô gái điếm Lotte, cảnh sát lần mò tới Rampfel. Nhưng gã đàn ông khôi ngô đã biết dạng.

Cặp bài trùng đến vùng Saxe. Rampfel gặp lại người quen. Trước đây người ta đã cho hắn ở nhờ. Bởi vậy, lần này hắn xin trú chân dễ dàng. Tình cờ Lentnor gặp lại cô em ruột làm điều dưỡng viên trong một bệnh viện. Rồi từ cô em ruột hắn lân la kết bạn với một cô gái tên là Monica. Hắn đổi tên mới, trồng cây si người đẹp mới.

Một thời gian sau, Rampfel tái ngộ mẹ ruột. Bà vốn chất phác nên coi bạn thân của con cũng như con đẻ của mình. Bà săn sóc áo quần cơm nước cho Lentnor. Nhưng cuộc sống vật chất phủ phê vẫn làm Lentnor thiếu thốn. Hắn toan mồi chài cả em gái của Rampfel. Đánh đĩ 10 phương phải để lại một phương lấy chồng, Rampfel là đứa bê tha, chà đạp lên nhân nghĩ lễ trí tín. Tuy vậy, hắn không thể cho phép em gái  hắn cặp kè với thằng bạn nối khố. Rampfel bèn sửa lưng cho Lentnor một trận. Hoảng hồn, Lentnor không dám héo lánh đến nhà em gái Rampfel.

Tháng 11/1945, Lentnor thành hôn với Monica. Trên pháp lý, cuộc hôn nhân này vô giá trị vì Lentnor đã có vợ. Nhưng giết người Lentnor còn chưa từ thì xá gì cái tội song hôn.

Cặp bài trùng luôn luôn gần nhau. Họ buôn lậu đủ thứ. Họ xoay tiền gái điếm. Họ ăn trộm tại địa phương. Của thiên trả địa, họ kiếm được nhiều tiền mà lúc nào cũng túng thiếu.

Chuỗi ngày tháng từ từ trôi qua. Bất thần người ta không thấy Lentnor sánh đôi với  Rampfel trong những cuộc chè chén, bài bạc, trá táng mỗi đêm nữa.

Thì ra Lentnor đánh hơi thấy biến đã bỏ trốn. Rampfel trốn theo. Hắn đến Leipzig, chạy đôn chạy đáo xin việc. Hắn cố chôn vùi dĩ vãng, làm ăn chăm chỉ, lương thiện, với hy vọng qua mặt được sở cảnh sát.

Rampfel đã lầm.

Gần một năm sau, ngày 08/09/1946, hắn vừa từ sở làm bước ra thì có hai người cao  lớn chờ sẵn. Hắn sống một mình, không vợ con, không bạn bè. Thậm chí bạn bè cùng sở hắn cũng không có. Hắn không hề đi chơi đêm. Không ai thấy hắn bê tha, say sưa ngoài quán rượu. Rampfel không hề hối cải. Hắn co vòi lại vì lo sợ. Hắn biết sớm muộn lưới pháp luật sẽ chụp xuống. Hắn cảm thấy ngu xuẩn. Trốn khỏi Đức như thằng Lentnor mới thật là khôn. Thằng Lentnor đáo để kinh khủng. Nó ra đi không thèm để lại cho con Monica một chữ. Sáng sớm tỉnh giấc bên mình không  có ai, con Monica mới tá hoả tam tinh…

Rampfel đứng lại châm thuốc lá.

Thời tiết đầu tháng 9 hơi lạnh. Hắn liếc nhìn tấm kiếng lớn. Hai cái bóng đen sì, lực lưỡng, vẫn đứng sững. Họ chưa tỏ thái độ gì hết.

Nhưng khi Rampfel hối hả quẹo vào ngõ hẻm thì một người chặn lại. Tuy họ mặc ba-đờ-suy, đội mũ phớt đen, không đeo phù hiệu, Rampfel vẫn biết. Loại cớm rờ-sẹt này đáng sợ hơn cớm công khai nhiều.

Rampfel cố giữ bình tĩnh :

- Ông muốn gì ?

Người lạ cười nửa miệng :

-Chúng tôi là nhân viên sở Hình cảnh (1).

Y chìa phù hiệu giấu trong ngực cho Rampfel nhìn. Rampfel nín lặng, mặt hơi tái. Người lại hỏi :

-Tên anh ?

Rampfel đáp :

-Hiện tôi là Wober.

-Không hỏi tên hiện thời của anh. Trước tên Wober, anh lấy tên là gì ?

-Tôi là Vahs.(2)

-Trước tên Vahs ?

-Là…là…

-Người ta biết hết, còn chối quanh co gì nữa, vô ích. Nói đi,… trước tên Vahs là tên gì ?

-Rampfel.

-Tốt. Sở hình cảnh hân hạnh được mời ông Rampfel đến lấy lời khai.

-Về việc gì ạ ?

-Đến nơi anh sẽ biết. Vả lại, anh đã dư biết anh được chiếu cố vì chuyện gì rồi.

-Thưa…thưa…chắc các ông lầm. Tôi là Rampfel. Nhưng ở đây thiếu gì người mang tên Rampfel.

-Ha…ha…chúng tôi có thể lầm song nàng Lotte không thể lầm. Anh còn nhớ nàng Lotte chứ ?

Rampfel rùng mình. Điều hắn lo ngại nhất đời đã xảy ra. Hắn cảm thấy thòng lọng bắt đầu thắt chặt lại. Hắn đành chìa tay chịu còng. Hai nhân viên hình cảnh tống Rampfel lên chiếc xe hơi đen sì chạy rừ rừ dọc vỉa hè.

Rampfel bị đưa ra xét xử trước tòa. Người ta đã thu thập được quá đủ bằng chứng cụ thể. Hết bề phủ nhận tội lỗi, Rampfel chỉ còn nước van xin sự khoan hồng của công lý. Nhưng tòa án hậu chiến không thể khoan hồng. Phải nghiêm phạt bọn cướp của giết người để làm gương, nếu không xã hội sẽ ung thối. Vả lại, sát nhân giả tử vẫn là chuyện thường tình. Rampfel giết nàng Lotte. Hắn bị kết án tử hình cũng chẳng có gì lạ.

Hhy vọng chung thân khổ sai đã bay vèo trong phiên xử sau cùng. Quan tòa, cử tọa, mọi người đều có ác cảm với Rampfel. Khi tòa tuyên án tử hình, hắn chết lặng trước vành móng ngựa.

Rampfel làm đơn xin ân xá. Đơn hắn bị bác bỏ.

Và tử tội bị hành quyết.

Lentnor trống qua nước Áo. Hắn đinh ninh thoát khỏi màng lưới công an vì từ ngày bạn hắn bị bắt, bị xét xử, bị hành quyết, hắn đã gia tăng thận trọng. Hắn bật ngửa khi bị cảnh sát Áo tóm cổ.

Đó là tháng 11/1946.

Lentnor bị giam tại nhà lao Kornouburg. Hệ thống lao xá sau đại chiến chưa được kiên cố nên Lentnor tìm cách đưa lén lưỡi cưa vào xà lim. Hắn kiên nhẫn cưa chấn song sắt. Sau nhiều đêm không ngủ, vừa cưa vừa nghe ngóng động tĩnh, Lentnor thành công. Hắn chờ một đêm mưa lớn, rút chấn song sắt, bò ra sân, trèo tường, nhảy xuống bãi cỏ bên ngoài. Hắn lên Vienna, thủ đô Áo quốc, thay đổi tên họ, thay luôn nếp sống. Nhờ miệng lưỡi ngọt ngào, nhất là nhờ bộ mã bô trai, hắn hòa trộn vào sinh hoạt công cộng không mấy khó khăn. Như thường lệ, hắn chớp được trái tim một thiếu phụ đa tình. Tên nàng là Kathy (Katherine). Nàng là gái có chồng, song ham thích của lạ. Lentnor lại là của lạ độc đáo nên nàng say mê điêu đứng vì hắn.

Người chồng mọc sừng bị tử nạn trong một tai nạn xe hơi sau đó. Không rõ tai nạn  này ngẫu nhiên xảy ra hay là do kết quả của một sự sắp xếp độc địa. Lentnor dúng tay vào cái chết của người chồng thì phải. Vì khi ấy hắn rất cần một tấm bình phong an toàn. Katy có nhà cửa đàng hoàng, nàng có thể giúp hắn vượt qua những trở ngại dễ dàng. Nàng yêu hắn tha thiết, bảo nàng nhảy vào đống lửa nàng cũng không từ chối, huống hồ hắn chỉ mượn tạm giấy tờ căn cước của chồng cũ.

Với căn cước mới, Lentnor kiếm được việc làm trong vùng kế cận. Hắn quất ngựa truy phong nhanh như điện xẹt. Katy tưởng hắn bị cảnh sát bắt giữ hoặc bị tai nạn. Nàng không ngờ Lentnor đã vứt bỏ nàng, như thể vứt bỏ một món đồ hư cũ.

Lentnor ở trọ trong nhà một cặp vợ chồng son. Anh chồng đối xử với Lentnor rất tốt, nhưng việc phải đến đã đến. Một lần nữa, Lentnor lại trổ tài tán tỉnh, chinh phục  được bà chủ nhẹ dạ. Cặp vợ chồng son lâm cảnh cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Họ cãi nhau, xung đột với nhau hầu như hàng ngày để rồi họ lôi nhau ra tòa xin ly hôn. Trở ngại chính đã được gạt bỏ, Lentnor ngang nhiên ăn nằm với người tình mới. Hắn làm phép cưới đàng hoàng. Bằng giấy tờ người chồng chết xe hơi của Katy.

Thời gian lại tiếp tục trôi qua, Lentnor sống trong hạnh phúc. Hắn khỏi cần làm nghề ma cô, và cảnh sát cũng không đến quất rầy hắn.

Tuy vậy, Lentnor vẫn không sống được yên ổn một thời gian dài. Gã chồng bị Lentnor cướp vợ mở cuộc điều tra ngầm. Chẳng bao lâu gã phăng ra tông tích bất hảo của Lentnor. Gã bèn mật báo cảnh sát.

Giá anh chồng mất vợ kín tiếng một chút thì Lentnor đã vào nhà đá. Gã hí hửng đến gặp Lentnor, đe dọa tùm lum. Động ổ, Lentnor xách va-li dông tuốt qua  Pháp, và từ Pháp đến Ý đại lợi.

Hắn đào tẩu vội vã nên không quơ được gì mang theo. Có ít tiền, hắn tiêu xài hết sức dè xẻn, nhưng chỉ vài tuần sau đã hết nhẵn. Ý là xứ ngoan đạo, có nhiều nhà thờ, lại rất hiếu khách -đặc biệt là khách từ phương xa đến hành hương lỡ độ đường- Lentnor tạo bộ mặt thiểu não, gõ cửa một tu viện :

-Thưa cha, con là người đạo dòng. Con đi bộ gần một tháng nay. Con đến Tòa Thánh để hành hương. Con đang bị sốt. Mệt quá…thưa cha…

Hắn khỏi cần nói hết, cửa tu viện đã mở rộng. Hắn được mời vào, và ăn ở dầm dề.

Bằng cách trọ không mất tiền tại các tu viện, Lentnor được thảnh thơi vãn cảnh dọc đường. Ngày 19/04/1950 hắn đặt chân lên đất Tòa Thánh ở La mã. Hắn la cà trong các xóm yên hoa ở La mã, và làm quen với hai thanh niên người Áo cũng bị cảnh sát truy lùng như hắn. Bộ ba cấu kết với nhau, kiếm ăn tạm bợ bằng thủ đoạn trộm cắp, trong khi sửa soạn làm một chuyến đi xa, thật xa, tận Úc đại lợi.

Lentnor lại thay họ đổi tên. Hắn xoay được một giấy khai sinh cũ. Gãi đầu gãi tai, hắn đến bót cảnh sát địa phương. Hắn khai trình là trong cuộc hành hương, hắn bị quân gian ăn cắp cả sổ thông hành lẫn tiền bạc. Cảnh sát kị nhất du khách không có tiền. Họ có thể chơi trò « đói ăn vụng, túng làm càn ». Thượng sách là cấp ngay giấy tờ cho họ và vái trời cho họ trèo lên chuyến tàu sớm nhất về nước họ.

Vì vậy cảnh sát không căn vặn lôi thôi. Lentnor chìa giấy khai sinh không dán hình ra, cảnh sát dựa vào đó cấp cho hắn tờ chứng nhận mất sổ thông hành. Với tờ chứng nhận hợp lệ này, Lentnor phây phây đến tòa lãnh sự Áo. Và hắn được cấp thông hành dưới tên Praxmarer.

Bộ ba lên đường xuống miền nam, với dự định xuống tàu biển qua Phi châu, chặng thứ nhất của cuộc viễn du. Bộ ba xin vào làm nhân công trong một trại sản xuất của một dòng nữ tu người Đức. Chỉ sau mấy tuần lễ, họ đã gom góp được số tiền để mua một chiếc thuyền. Đành rằng chiếc thuyền này không đắt lắm, nhưng nếu bộ ba nhịn ăn, nhịn mặc suốt năm cũng vị tất sắm nổi chứ đừng nói là sau mấy tuần lễ nữa. Chẳng qua họ mượn gió bẻ măng, lợi dụng trại sản xuất tôn giáo để làm chuyện mờ ám.

Chương trình viễn du Úc châu bị hủy bỏ nửa chừng vì nhà đương cuộc an ninh Áo quốc mở cuộc điều tra về vụ Praxmarer xin sổ thông hành mới tại La mã. Hai gã bạn mới của Lentnor sợ liên lụy bèn ca bài tẩu mã. Họa vô đơn chí, Lentnor bị dính trong một vụ xét giấy. Cũng may người ta không lôi hắn ra tòa. Người ta chỉ cho hắn kỳ hạn 3 ngày để ra khỏi nước. Lentnor chẳng dám mong gì hơn. Hắn lại trổ tài ngoại giao và được phép nhập cảnh nước Pháp.

Ngựa quen đường cũ, Lentnor táy máy với khách bộ hành và bị phạt 8 ngày tù về tội du đãng vô nghề nghiệp. Được phóng thích, hắn dông xuống Marseille, đăng lính lê dương. Thân thể hắn không còn khỏe mạnh như xưa nữa nên hắn bị ra rìa.

Tháng 5/1951, hắn vẫn lẩn quẩn trong vùng biển phía nam nước Pháp. Hắn đánh bạn với một số người giàu có, rồi chẳng hiểu hắn hót êm tai đến thế nào mà hắn được tham dự một cuộc hành trình kéo dài nhiều tháng trên biển Địa trung hải.

Ngày 04/11/1951, 3 người bị đắm tàu, mệt mỏi, ốm yếu, giạt vào bãi biển Maroc ở Bắc Phi. Trong số 3 người gặp may mắn này có Lentnor. Phải coi đó là vận đỏ vì hầu hết hành khách trên du thuyền đều bị chết đuối.

Hắn không dè vận đỏ ấy cũng là vận đen của hắn. Cảnh sát Maroc chở mọi người về bệnh viện để cấp cứu. Và cũng để tìm hiểu nguyên nhân của tai nạn thảm khốc ngoài khơi.

Lentnor đang nằm trên giường nhà thương cho y tá tiếp nước biển, óc hắn đang nghĩ kế thoát thân thì cảnh sát Maroc lẳng lặng đến ngồi bên :

-Tên ông là Praxmarer ?

-Vâng. Tôi là người Áo.

Một nhân viên cảnh sát chìa cho Lentnor coi một mảnh giấy. Lentnor choáng váng mày mặt. Té ra đó là lệnh tầm nã của Interpol. Quốc tế Hình cảnh hành động từ từ mà chắc. Lentnor không thể ngờ rằng trong thời gian hắn bềnh bồng khắp nơi thì Interpol luôn luôn theo dõi hắn. Cảnh sát Tây Đức gửi toàn bộ hồ sơ vụ giết người năm 1946 lên trung ương Interpol. Cảnh sát Áo quốc được báo động. Rồi cảnh sát Pháp, cảnh sát Ý, các sở cảnh sát khác trên thế giới, trong số có cảnh sát Maroc. Hắn đã lưu lại dấu vết, trừ phi hắn có tài thăng thiên độn thổ hắn không có hy vọng thoát khỏi màng lưới pháp luật.

Ngày 07/5/1954, 8 năm sau khi giết cô gái điếm nhẹ dạ, Lentnor ra trước tòa đại hình ở Áo quốc. Hắn trút hết tội cho thằng bạn nối khố đã bị hành quyết. Không ai còn sống để phủ nhận lời nói của hắn nên hắn chỉ bị kêu án 15 năm cấm cố.

Chú thích:

(1) sở hình cảnh Kriminalpolisal, cơ quan cảnh sát hình vụ của Tây Đức.

(2) những tên giả của Rampfel là Wober, và Vahs.

« Lùi
Tiến »