Nguyên Hồng Toàn Tập 3

Lượt đọc: 973 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cơn Bão Đã Đến
Chương 9

Nhà máy Xi măng của Sấm lại bị bắt thêm hai người. Cơ sở Máy tơ của Xim cũng bị bắt một chị, bạn của Xim, sắp được tổ chức. Bác thợ có tuổi cùng với Xim tham gia ban lãnh đạo cuộc đình công tháng năm, chỉ bị tình nghi gọi lên Sở mật thám tra hỏi mấy ngày rồi cũng bị trục xuất khỏi Hải Phòng với mấy anh nữa trong nhà máy. Máy chỉ, sở Carông sửa chữa máy móc và nhà máy điện cũng bị mật thám giam giữ hàng chục người. Và hơn hai chục chính trị phạm cũ quản thúc ở các huyện bên Kiến An, Quảng Yên lại bị đòi hỏi giam giữ ở Sở mật thám hàng nửa tháng rồi giải lên Hà Nội để chuẩn bị đi trại giam tập trung.

Những anh chị em công nhân trên đây bị Sở mật thám bắt, giam giữ, tra hỏi, trục xuất hay tống lao, tư tòa đều không phải vì cơ sở bị vỡ, bị lộ. Toàn bị tình nghi. Có những anh chị em lại bị chúng nó lục ở những hồ sơ lập từ 1936 - 1937 móc ra những việc như đọc sách báo Dân chúng, Tin tức, Vấn đề dân cày, Ngục Kông Tum, Mười ngày chấn động hoàn cầu v.v... để chúng kết tội đã tuyên truyền cho Đệ tam quốc tế và hoạt động phá rối cuộc trị an. Thậm chí, những người mà chúng nó cho là ở trong tổ chức và có liên lạc với Thành ủy, bị tra tấn chết đi sống lại, thì chỉ là những quần chúng có cảm tình hay những quần chúng thường. Có mấy anh chị em thật ở trong tổ chức và là những cơ sở quan trọng, thì chỉ bị đánh vài trận, hay dọa đánh và bắt khai qua loa thôi!

Khoảng ba tháng, tháng năm tháng sáu và tháng bảy 1940, Sở mật thám và đề lao Hải Phòng giam giữ người đông gần bằng những thời kỳ khủng bố 1930 - 1931. Trong đề lao, trại tù chính trị vẫn là trại cũ.

Tô và Sấm không được ở trại chung với anh em. Chúng giam mỗi người một xà lim, cả hai vẫn bị cùm, ngoài cửa xà lim đề chữ phấn rất to: isolê (1). Hàng tháng bị cùm như thế cho đến ngày ra tòa xử án. Tô bị bảy năm. Sấm bị ba năm. Nhưng lúc tòa tuyên án xong, bọn lính sắp dong bọn Tô ra xe ô tô về đề lao, cả tên chưởng lý và dự thẩm đều hất hàm bảo bọn Tô:

----

[1] Giam riêng.

- Tòa án Hải Phòng chúng tao làm án bọn mày như thế là khoan hồng lắm! Bọn mày có thích chống án lên Hà Nội thì cứ chống án. Chúng tao truyền đời báo danh cho bọn chúng mày biết, thế nào tòa Thượng thẩm Hà Nội cũng không đồng ý với bản án Hải Phòng xử đâu. Họ sẽ kết án bọn mày thằng nhẹ tội nhất cũng mười năm. Mười năm... ha ha, mười năm! Cũng đủ thì giờ để bọn mày nhìn thấy chủ nghĩa cộng sản tốt đẹp thiêng liêng, cao quý, lý tưởng của chúng mày thực hiện không những trên đất thánh Nga Xô viết mà ở cả Đông Dương này chứ?!...

Thằng chưởng lý già hói trán phất cái tay áo chùng thâm rộng ống nói đoạn cười khẩy một tiếng rồi bước qua mặt bọn Tô đi ra ngoài.

Tô và Sấm bị xử án rồi mà vẫn cứ ở xà lim và phạt cùm. Hai người phải tuyệt thực để phản đối. Ngoài trại anh em tuyên bố cũng sẽ tuyệt thực để ủng hộ. Bọn sếp ngục phải gọi têlêphôn cho cả Sở mật thám và tòa án hỏi ý kiến, cuối cùng chúng đành phải "cho" Tô và Sấm ra ở ngoài trại với mọi người. Hôm phiên tòa, từ xà lim ra ô tô, Tô cũng phải để Sấm cõng. Mấy lần Tô đòi Sấm để Tô xuống đi, nhưng Tô chỉ lê được vài bước rồi lại khuỵu cả hai đầu gối, bàn chân Tô càng chói không thể nào chịu được. Ở trại, lúc Tô men mén mép sàn, lúc bíu bíu tay anh em; ra chơi ngoài sân thì Tô vịn tường vịn gốc cây lần lần từng bước. Nhiều lúc Tô buông tay vịn, đi như trẻ nhỏ tênh tênh chập chững ấy. Anh em lại reo lên, thấy Tô bước hẳn hai ba bước mới chịu ngồi thụp xuống. Ban cứu tế của trại đã tập trung tất cả dầu quất thần, dầu cao cho Tô xoa bóp. Nhưng tổ chức chia thêm thức ăn cho Tô thì Tô nhất định không nhận.

Chiều nay chủ nhật.

Anh em trong trại được ra ngoài chơi. Cái sân cũng không rộng hơn lòng trại mấy tí, nhưng có được hai cây bàng, một vòi nước máy, và được trông thấy trời trên những bức tường bao vây cao hàng năm thước cắm mảnh chai, chằng dây điện. Sắp đến giờ ăn. Bữa thịt lợn chỉ ngày chủ nhật mới có, sáng nay mỗi suất lại chỉ được hơn ngón tay thịt mà trong cả sổ nhà thầu và nhà bếp đều ghi là một lạng. Đã thịt lợn sề vừa bèo nhèo vừa hoi lại còn nghi là lợn bệnh nữa. Bởi vậy sự bàn tán của mọi người lại xoay quanh suất ăn buổi chiều xem đế quốc cho ăn ra sao đây. Vẫn đậu phụ rau muống luộc như thường lệ. Khi cỏ vê hàng ngày vừa bưng cái lập là đầu tiên vào sân thì không biết bao nhiêu tiếng nói lại nhao nhao:

- Vẫn cứ ăn cắp!

- Lại càng ăn cắp nữa các đồng chí ơi!

Nhiều người phải bật lên chửi.

Mỗi lập là mười suất cơm mà chưa được lưng lửng cái thùng gỗ nông choèn, loe miệng, to không bằng cái chậu cám cho một con lợn rãu ăn. Mười suất đậu phụ thì miếng nào cũng mỏng như cái lưỡi mèo, kho không hiểu bằng thứ nước hàng gì mà sạm sạm vàng vàng, cũng cứ ghi là đậu phụ một lạng và năm mươi gam nước mắm. Còn rau muống đúng là những búi còn nguyên cả lá úa và rễ. Cái thức chấm được hoàn toàn "nguyên chất" là muối thì đựng lum lủm trên một miếng cháy đen cháy khét...

Gần gốc bàng chỗ Tô ngồi có một người tay khoanh trước ngực, đi đi lại lại, nét mặt rất đăm chiêu nghĩ ngợi như không để ý gì đến bữa ăn và sự xôn xao của anh em cả. Anh chàng Kiều này không phải vì chiều nay chủ nhật và giở giời mới làm ra vẻ như thế. Thường thường cứ đến giờ ra sân, anh em lại thấy Kiều ta diễn cái màn kịch ấy. Thậm chí, có những buổi sáng chủ nhật, anh em ồn ĩ đánh vật, tập võ, kéo co, nhảy ngựa, và những buổi chiều thứ ba được người nhà vào phép, anh em chia nhau quà bánh thức ăn nhộn nhịp hẳn lên, thì Kiều vẫn cứ một mình tha thẩn. Rồi cả những lúc Kiều đứng lại xem anh em nô đùa hay vào ngồi mâm ăn với anh em, Kiều cũng chỉ cười nói đôi câu rồi lại đăm đắm nét mặt như không thể nào dứt khỏi cái sự suy nghĩ u uẩn và đặc biệt của mình.

Tuy vậy, từ phút cái lập là đầu tiên bưng vào đến những lập là bưng sau, lập là nào nhiều cơm, cơm ngon, suất đậu nào không bị tù cỏ vê án thường véo ăn khi sắp cơm, cũng như chỗ đậu nào có nhiều miếng dày và nhỉnh hơn, Kiều đều biết hết để chốc nữa sẽ ngồi vào mâm đó. Càng phải chú tâm chú não đến những miếng ăn một cách tinh vi khổ công như thế, Kiều càng thấy đau xót, uất ức, hờn tủi, - sự hờn tủi, uất ức, đau xót không phải chỉ ở trong tâm trí Kiều mà còn như xoắn như vò như xé cả ruột gan Kiều nữa. Vì Kiều lại phải nghĩ đến phần thức ăn và sự quyết định của ban cứu tế về những phép của Kiều.

Trại có hơn năm mươi người vừa tù đã thành án và đương chờ xử án, vậy mà không được mười người có gia đình vào phép. Đã thế trong số tám chín người này, mấy người lại tuần có tuần không, và có người đúng là gia đình vào thăm cho quà là để làm phép! Cũng phép, nhưng nhà thì cho một nải chuối, một gói xôi, gói cơm nếp, phong bánh khảo. Đấy là của mấy gia đình làm ở nhà máy Xi măng và của bố con ông cụ đi lưới ở dưới làng Đông Khê.

Phép nhiều nhất có ba người. Một anh đương học năm thứ ba trường Thành chung, bố mẹ vừa có cửa hàng tơ lụa, vừa có nhà cho thuê. Người thứ hai là ông Cần lao, ông chủ hiệu thợ may anh họ chị em bà chủ xưởng dệt Thảo Minh. Mỗi lần hai người này ra chuyện với người nhà rồi theo xubadăng hay gác điêng đưa phép về trại, thì cả mấy trại tù án thường đều đổ xô ra xem những thúng phép phải khiêng về với không biết bao nhiêu thứ lạ thứ quý thứ ngon. Của anh học sinh thì gói nhớn gói nhỏ toàn bằng giấy bóng. Nào pa tê, xúc xích, giăm bông, ruốc tôm he, ruốc thịt lợn, kẹo xúc cù là, kẹo bọc sữa, bánh bích quy và các thứ mứt. Bánh bích quy sâm banh đựng hộp sắt làm ở bên Tây bỏ ra cứ đầy bàn, xubadăng ta và gác điêng Tây cứ vừa đỡ, vừa nhai vừa nếm ngau ngáu thêm với xúc cù là, giăm bông, ruốc tôm he một cách rất tự nhiên để... khám xét. Của ông Cần lao thì gáo nhớn gáo bé nào thịt kho tàu, thịt rim, chả tôm he, chả mực, chả quế, giò lụa, kẹo sừu Nam Định, bánh đỗ xanh Hàng Gai và bánh cốm Hàng Than Hà Nội. Hai người lại còn các thứ thuốc bổ thận, bổ tim, bổ gan, bổ phổi... toàn thuốc bắc, thuốc tây rất đắt tiền của những hiệu thuốc nổi tiếng, phải cạy cục mới mua được.

Nhưng của Kiều lại còn đặc biệt hơn nữa. Nhiều thứ ở Hải Phòng đến quan Đốc lý, chánh Nhà đoan, chủ nhì Xi măng, má Chín khách sạn Thiên Tân và bà đầm chủ hiệu Sápphănggiông cũng chưa được ăn, chưa được dùng thì Kiều đã có. Nào cam táo Hoa Kỳ, nho Gia Nã Đại, giăm bông, xúc xích Úc Đại Lợi, vân vân... Bánh tây không chỉ dăm ba cái hạng năm xu, ba xu mà là cả một cái to bằng cái gối tròn đám cưới. Khi bọn gác ngục cắt ra làm nhiều khoanh và giơ lên xem trong ruột có giấu gì không thì mùi bánh phưng phức, gương bánh mịn màng khiến tưởng như đó là bánh Mình thánh Chúa mà thày cả dâng trước ban thờ làm phép cho các con chiên chịu lễ vậy! Còn những mùi xoa, áo lót, xà phòng thơm cũng toàn là những thứ hàng quý hiếm ở Pari gửi sang, còn nguyên tem nhãn hiệu.

Phép của Kiều không phải gia đình cho mà là của một người con gái làm hàng ở ngoài bến Sáu Kho đương say Kiều: Gái đen. Gái đen cháu ông cụ Cam và chị của Cam ấy, bảo rằng y vào phép cho Kiều và cho cả các anh chị em trong ấy nữa. Đã cho như thế, Gái đen còn dặn nếu "trong ấy" có cần gì thì cứ nhắn ra, muốn thứ gì Gái đen cũng xin chạy ngay và sẽ gửi hẳn tay xubadăng cầm vào.

Ban cứu tế đã hai lần họp toàn trại về vấn đề phép. Mặc dầu đã có quyết nghị tập trung thức ăn vào phép, nhưng nhiều anh em làm Xi măng, Máy tơ, Máy chỉ đã lấy riêng hẳn ra ba rổ thức ăn đem đến để ở đầu chỗ nằm của ba nhà "triệu phú" kia. Nhưng họ vẫn cứ nhất định xin theo như anh em, và không những họ chỉ xin để vào kho những thức ăn của họ, mà cả thuốc men và các đồ dùng nữa. Mãi sau anh học trò trường Thành chung mới nhận dùng riêng mấy thứ như thuốc bổ tim, xà phòng thơm, áo lót. Còn ông Cần lao thì nói vì ông có tuổi mà thuở nhỏ hàn vi lam lũ ghê quá nên trong người bị đủ các thứ bệnh, vậy những thuốc bổ thận, bổ phổi, bổ dạ dày mà các đồng chí và anh em cứ quyết định không tập trung thì ông xin "tư hữu" vậy. Và ông cũng chỉ dám xin được nhận một điều khoản đặc biệt nữa, là giữ riêng gáo thịt nạc rim và chả quế, giò lụa để ông ăn dần, vì ông vốn đã kiết lị kinh niên mà phải ăn cá mắm, ăn thịt trâu của đế quốc thì ông chỉ làm phiền ban cứu tế thôi! Sau hết, ông chỉ dám nhận thêm mấy phong bánh đậu xanh và kẹo sừu để ông ăn sáng sau khi ông uống thuốc, kẻo những thứ thuốc nọ uống vào lúc đói làm ông cồn cào lắm.

Ông Cần lao nhận được ba lần phép thì có tin người nhà ông đã lo chạy ở cả Sở mật thám, chánh tòa, biện lý, dự thẩm, sau đó vài ngày ông được tha. Còn người học trò thì chống án lên Hà Nội. Giờ chỉ còn phép của Kiều. Từ tháng sáu tới nay, chế độ nhà tù càng siết chặt, anh em càng ăn uống ngặt nghèo hơn. Chỉ từ chiều hôm thứ ba là hôm anh em có phép đến hết ngày thứ năm là kho phép đã gần hết. Sang hôm thứ sáu thì thức gì mặn muội nhất để dành được đều phải lấy ra ăn. Đến ngày chủ nhật là nhẵn nhụi. Như thế mà nửa tháng nay cả mấy bọn anh em mới bị bắt đều không ai có người nhà gửi gắp gì cả. Ngay chiều hôm thứ ba, anh em chia nhau phép thì cũng gần như là làm phép cho bữa ăn!

*

- Cơm!

Khi Kiều đi quanh sân hẹp đã chán cả chân và Tô ở dưới gốc bàng đã vận động thở hít xong cái bài thể dục tự Tô đặt ra, thì những lập là cơm đã chia xong. Cỏ vê trại hàng ngày liền hô lên với một điệu bộ và một giọng như lính tập đoạn cười ré:

- Cơm! Cơơm!

Anh em cũng reo lên, rồi bọn nào vào lập là ấy. Kiều tuy vẫn đi lửng thửng và ngồi vào sau cùng, nhưng Kiều nhằm không những chỉ được suất đậu phụ ngon mà cả suất tôm của kho phép chia thêm cho anh em cũng là phần tốt nữa. Nhưng chao ôi! Cái suất tôm mà Kiều chú ý và đã nhằm được, đó chỉ là một cái đầu tôm đã có trứng lại còn nhỉnh hơn phần anh em, mặc dầu đồng chí coi kho khét tiếng là "hắc", được coi là người độc nhất trong anh em có tài chia thức ăn vì anh có cả một cái cân tiểu li ở con mắt. Không những thế lại còn mấy tay cũng "hắc" gần bằng anh đã xúm lại chung quanh mâm thức ăn của Kiều mà tham gia ý kiến khi chia!

Không như anh em, họ ăn đậu phụ của đế quốc trước và ăn tôm của công cộng sau vừa cho đủ mặn với lưng gáo cơm gạo hẩm, vừa để nhấm nháp tận hưởng cái vị đậm đà bùi nghịt của con tôm đồng kho tương của nhà làm rất công phu kia, Kiều lại ăn tôm trước ăn đậu phụ sau. Và Kiều chỉ ăn hai ba miếng cơm là hết tôm với một kiểu như là ăn cho qua bữa, ăn thế nào cũng được. Bề ngoài làm ra vẻ như thế, nhưng bên trong thì Kiều thấy mười cái đầu tôm râu chơm chởm và chạt muối ấy, - thứ thức ăn duy nhất để Kiều ăn không những cho hết gáo cơm mà còn đỡ cả kiết lị, - lại như những cái đinh đóng vào tâm trí Kiều. Phải! Đúng mười cái đầu tôm chia thêm cho đúng mười người.

Lập là của Kiều vì có cả Tô, Sấm, ông cụ Vy, ông cụ Coóng nên giữ kho đã chia cho đặc biệt năm con tôm to. Không những lập là Kiều còn tôm ăn chiều nay mà cả bữa trưa mai phiên cá mắm vẫn còn tôm ăn. Ngoài ra cái gáo đựng sẽ được tráng nước rau thật kỹ và sẽ là món nước xuýt cũng tuyệt trần quý báu. Tổ chức ăn dè sẻn lo xa như thế, lập là Kiều đã làm nhiều lập là khác xuýt xoa khen nào "cừ", nào "kiểu mẫu", "khoa học", nào tay coi quỹ thức ăn của mâm ấy với tay giữ kho của trại có thể làm cố vấn cho trường Cao đẳng Thương mại, Đông Dương ngân hàng, hay Hội đồng kinh tế lý tài ở Đông Dương vậy.

Trong khi những cái đầu tôm, cứ như đinh đóng vào tâm trí Kiều thì những câu tấm tắc của anh em khen lập là Kiều nào tổ chức "cừ", "kiểu mẫu", "khoa học", vân vân. Kiều càng nức nở nhớ tiếc những mùi vị xúc xích, giăm bông và bánh kẹo, cam táo của Gái đen vào phép cho Kiều. Không phải mấy chiếc hay mấy lạng một ki lô mà hàng ba bốn ki lô. Vậy mà ngay chiều hôm có phép, Kiều cũng chỉ được hai miếng vừa xúc xích vừa giăm bông chia cho cũng mỏng như hai miếng đậu phụ lưỡi mèo của suất cơm đế quốc. Vì thế còn mấy miếng cơm và cuối cùng Kiều thấy cứ nghẹn ứ lấy cổ.

Bữa nay Tô lại nhường cả suất tôm của mình cho ông cụ Coóng và non bát gáo dừa cơm cho người em họ Sấm. Tô chỉ ăn chỗ cháo thừa của cụ Coóng với suất đậu phụ. Cứ như sức Kiều, Kiều cũng ăn như những thanh niên công nhân. Bởi vậy sắp hết bát cơm, Kiều càng thòm thèm, càng cồn cào trong người. Còn miếng đậu phụ, Kiều phải dúng dúng vào nước rau cho bớt cái mùi tanh tanh và cái vị mặn mặn mà chỉ có thức ăn Sở mật thám, nhà thương và đề lao mới có ấy, để ăn nốt mấy miếng cơm cho ngon miệng và sau đấy hút thuốc lá cho thật thú. Mới bốn giờ rưỡi. Tiếng xào xạc ở các trại án thường lại như ong như ri. Các cửa sắt trại to và xà lim luôn luôn kêu rít lên. Tiếng xóc xách xoang xoảng của những chùm chìa khóa cứ chạy hết trại này đến sân khác, cùng với những tiếng thét, tiếng chửi, tiếng đấm đá ư ứ, bình bịch.

Kiều súc miệng rất kỹ với nước lã hứng bằng tay ở vòi máy nước chứ không dám dùng thứ nước lá vối tươi của nhà bếp. Kiều xếp bát đũa của mình lên trên những bát đũa của anh em để tránh những cái hơi lạ và những giọt nước rửa còn lại ở những bát kia nhỏ xuống rồi lại đi vội ra sân. Còn một nửa que diêm - mỗi que diêm anh em phải chẻ làm đôi - Kiều ghé vào sát gốc bàng đánh lửa châm nửa điếu thuốc lá cuối cùng mà Kiều phải đấu tranh bản thân hết sức ghê gớm mới để dành được đến bữa chiều nay.

Lần này Kiều đi rất thong thả và cố không nghĩ ngợi gì để tận hưởng cái thích thú duy nhất, cái thích thú tuyệt vời là được hút một mẩu thuốc lá quý báu vô cùng một cách lặng lẽ và cách biệt trong nhà tù vào cái buổi chiều chủ nhật làm cháy ruột cháy gan người ta này. Không hiểu lại sắp nổi dông chuyển bão hay sao mà vòm trời cứ ong ong, nắng không ra nắng, râm không ra râm, xám xám như vẩn bụi diêm sinh và sắt gỉ. Và không hiểu khói bên Xi măng, Cốt phát lại dạt cả sang hay sao mà nhiều lúc mây trời đương vần vụ bỗng chìm hẳn đi rất lâu, làm mảng trời trên khu đề lao chỉ còn nhờ nhờ và dưới sân này tối hẳn lại.

Không còn bóng chim chóc nào khác ở trên các mái trại hay trên những cây bàng ngoài những con chim sẻ lách nhách.

Càng thấy cái không khí nặng nề mà mình cứ phải thở hít và các ráng trời u sầu mà mình cứ phải ngước lên trông, Kiều càng cố giữ cho những bước đi thong thả và giữ cho hương vị mẩu thuốc lá tan ngấm rất sâu trong cảm giác. Trong khi ấy, chung quanh Kiều vẫn như không có ai để ý đến Kiều. Một đám gồm mấy tướng cờ đã có tuổi và mấy trai gộc ở Xi măng, Cốt phát, Máy tơ, Máy chỉ - tụi trẻ này đông hơn - lại đánh tiếp ván cờ. Ván này một bên nhất định chỉ có được, còn một bên nhất định sẽ giữ hòa chứ không chịu thua. Không những thế có tay nói cứ để anh chủ động, đừng ai phò tá, góp ý kiến ý cung gì cả, thì anh sẽ đánh thắng. Hai bên đã ầm ầm bàn tính, cãi nhau cả trong bữa ăn, khiến đồng chí trật tự mấy lần phải chạy hẳn đến mà can thiệp. Mấy đám khác lại xúm xít chuyện với nhau. Vẫn các thứ chuyện trên trời dưới biển. Chuyện thôi miên thuật, chuyện chữa bệnh hóc bằng môn chữa hóc gia truyền kiến hiệu như làm phép. Chuyện các bọn tư bản cá mập Mỹ, Anh, Đức; chuyện Nga hoàng; chuyện cách mạng Một ngàn chín trăm linh năm và chính phủ Kêranhxki; chuyện chiến tranh 1914- 1918; chuyện Cách mạng tháng Mười Nga và đồng chí Lênin: Chuyện Vạn lý trường chinh, Quảng Châu công xã, Xô viết Nghệ An, ngục Kông Tum, Côn Đảo. Chuyện tự do luyến ái. Và chuyện nấu nướng các món ăn từ luộc gà, kho cá, làm chả cá mực, chả chó đến làm thịt rắn, thịt khỉ, cày cáo, ba ba và cả chuột nữa... Đầu trò trong các đám chuyện này là Lương phở với một anh nhà báo và mấy anh cựu chính trị phạm ở vùng quê vùng biển Kiến An, Quảng Yên.

Những người không chơi, không chuyện thì học. Một anh cựu chính trị phạm học chữ Nho của anh cháu cụ Coóng để rồi đây phát vãng lên Sơn La hay đi căng sẽ nghiên cứu làm thuốc bắc. Người em họ Sấm, một anh thợ Máy chỉ và hai anh đi lưới dưới làng Đông Khê thì học chữ Quốc ngữ. Bàn học và giấy viết của mấy người này ở một mảnh sân đất cát mịn, còn bút, phấn là những cành bàng, những nõn cỏ và những mẩu gạch non. Những người không chơi cờ, không học, không chuyện thì làm nhẫn bằng mảnh gáo dừa, hay bện dép với những mê chiếu cũ, hay khoét đá làm điếu.

Một anh thợ sắt đương cố mài cho xong cái mẩu thép đai thùng đã gỉ bẻ trộm được sáng hôm thứ sáu khi khiêng nước rửa nhà xí, để làm dao cạo mặt cho anh em. Đồng chí này còn bẻ hai đoạn dây thép phơi ngoài sân, đem đập bẹp, mài làm kéo. Với cái kéo ấy anh tỉa tóc cho anh em, khiến cả bọn gác ngục đều giật mình thấy những tù chính trị hôm ra tòa xử án ai nấy đều đầu tóc chải chuốt như vừa cắt ở một hiệu cắt tóc nào có tiếng vậy. Đồng chí làm dao và thợ cạo kỳ diệu ấy đã khoe với anh em, tài nghệ như anh chưa thấm gì cả! Anh có một ông chú ngày anh còn bé, vẫn cho anh theo đi chăn trâu. Ông chỉ có mảnh chai mà cắt được cả tóc và cạo được cả mặt cho các trẻ trâu, làm những thợ cạo thuộc vào hạng úp nồi úp niêu lên đầu khách phải phát cáu văng tục, khi những đứa trẻ được cắt tóc cạo mặt với mảnh chai nọ cứ diễu ở trước hàng mình.

Trong khi Kiều dành miếng đậu phụ để ăn sau cùng cho ngon miệng hút thuốc lá, thì Tô cũng nhấm nháp miếng đậu phụ lưỡi mèo ấy với suất cháo còn thừa của cụ Coóng. Đến bữa này, Tô lại thấy vừa ngon miệng, trong bụng lại nhẹ nhàng, dù Tô đã cố ăn thêm cả cơm và rau luộc. Rồi trong khi Kiều đi bách bộ, hút thuốc lá một mình, thì Tô đương lần lần ra vòi máy nước rửa cả bát cho cụ Coóng. Rửa xong, Tô không ra ngồi ở gốc bàng mà đến chỗ cụ Vy, cụ Coóng đương khoét đá làm điếu với chiếc đinh xin của anh thợ làm dao. Cả hai ông cụ đều ngẩng lên nhìn Tô men men tường đi đến với mình. Tô run run ngồi xuống cạnh cụ Coóng, cầm lấy cục đá mài nhẵn thín, lỗ để nạp thuốc và cắm xe đều cân nhau vành vạnh.

- Sắp xong rồi hở cụ? Đến tối đã hút thuốc được

chưa ạ?

Cụ Coóng nghiêng mãi tai để nghe Tô. Cụ Vy phải nhắc đi nhắc lại câu Tô hỏi, cụ ghé hẳn miệng vào tai cụ Coóng, nói như hò đò:

- Ày sắp xong rồi lớ! Sắp tược hút thoốc rồi lớ!

Mãi cụ Coóng mới nghe ra. Cụ gật gật cái đầu trọc lơ phơ tóc bạc, cười một cái cười hoan hỉ rất hồn nhiên vừa nói với Tô. Tô còn mân mê mẩu đá, sực nghĩ đến bao nhiêu chuyện ở Hỏa Lò Hà Nội và ở Côn Đảo về thuốc lào và các thứ điếu bằng đá, bằng gạch mài nọ, thì cụ Coóng rút ở cái túi trong gần nách ra một đoạn cành bàng gọt cũng khoằm khoằm như kiểu điếu tẩu của Tây. Ông cụ giơ giơ khoe với Tô rồi cắm vào cái tẩu, mút mút chíp chíp, đoạn thở ra phì phì, vừa lấy đầu ngón tay cái mở mở ấn ấn ở lỗ nạp thuốc!

- Tốt lắm! Hút thôốc tốt lắm! Cái thôồng chí mày chôốc nỡ hút với tôi một tiếu lớ!

Tô cười khanh khách, gật gật đầu. Cụ Vy cũng giơ điếu của mình lên:

- Vậy thì tôi cũng phải cố xong để tối nay hàng trại khánh thành mới được. Lễ khánh thành này chắc vui bằng mấy lễ khánh thành cầu Xi măng ngày thằng Bảo Đại ra Hải Phòng xem hội chợ...

Nghe cụ Vy nhẩn nha nói, Tô không những cười to thêm mà còn cười ngất, và choàng lấy vai ông cụ như thói quen của Tô khi đặc biệt vui thú khoái trá:

- Thế thì kỳ phép này nếu gửi giấu được thuốc lá thuốc lào thì con sẽ đề nghị với anh em chia thêm mỗi cụ một suất nữa, công hai cụ làm điếu.

Cụ Vy xua xua tay:

- Ấy ấy... anh em đừng có lại tư hữu cho chúng tôi như thế nữa! Chúng tôi đã không có phép tắc gì cả mà lại còn...

Tô lay lay vai ông cụ, cười xòa để ngắt lời. Nghe Tô cười, nhìn sắc mặt Tô và nắm lấy cánh tay của Tô đã cứng cáp, nóng ấm, cụ Vy tự nhủ:

- Thế là anh Ba gày anh ấy không thể chết được rồi! - Và ông cụ lại bồn chồn trong dạ: - Làm sao có thêm thuốc men tẩm bổ cho anh ấy, và có thức ăn thức uống để anh ấy ăn giả bữa bây giờ?

Bất giác cụ Vy đưa mắt nhìn Kiều đương dẫn từng bước, mặt mày không ra suy nghĩ, không ra lạnh nhạt, và cũng không ra buồn bực.

- Cái thứ chính trị như ông này không hiểu đã hoạt động những việc gì mà đế quốc cũng bắt chật thêm cả cho đề lao! Mà cũng lạ! Đến như anh Tô anh ấy có vẻ muốn gần cận mấy lần định chuyện trò với anh chàng, không hiểu làm sao anh chàng cứ tránh tránh lẩn lẩn?!

Cụ Vy lại nhớ ngày nào Kiều còn thường trực ở nhà báo, thường đưa sách báo sang bên Xi măng. Hễ ở đâu ông cụ thấy có tiếng người nói choang choang, giọng nói rất đanh thép, khi thì bàn về tình hình thế giới, khi thì lý giải tại sao cách mạng Pháp thua, Cách mạng Nga thắng, khi thì bài bác các đạo, các thuyết từ của phật Thích ca, chúa Giêsu đến Khổng Tử, khi thì tán rộng các chuyện Đông chu liệt quốc, Tam quốc và cổ, kim, đông, tây, thì y như rằng người đó là Kiều. Cái trán của Kiều thót nhưng cao và bóng. Cái mắt của Kiều nhỏ nhưng sắc. Cái cằm của Kiều hơi lẹm, cái miệng chum chúm, khi Kiều nói hàm răng cứ sin sít như có thể nhai nghiến những người tranh cãi với Kiều. Năm xưa, Kiều chỉ đến nhà cụ Vy hai lần chuyện với bác Vy mà nhà cửa ồn ào nhộn nhịp hẳn lên. Bọn thanh niên nhà máy và trong xóm cứ ngẩn người ra nghe Kiều nói rồi tranh nhau hỏi chuyện Kiều. Có anh em khoe với cụ Vy rằng Kiều bận rộn vất vả còn hơn cả mấy đồng chí chính trị phạm chủ chốt ở nhà báo. Hết lần ấy đến lần khác Kiều đã bị Sở mật thám Hải Phòng, Hải Dương và tòa xứ tỉnh nhà dụ dỗ dọa nạt, không những Kiều không nao núng mà còn xạc lại bọn chúng. Họ tấm tắc: "Phong trào mới có khác! Những tay ăn học hoạt động có khác! Kiều phải là vai quan trọng lắm của Hải Phòng, nên anh em mới cử ra để hoạt động công khai, kình lại cả mật thám, công sứ, đốc lý: cả đế quốc!".

Nhưng cuối năm kia lúc bác Vy sắp trốn ra ngoài mỏ than Uông Bí lại dặn cụ phải cẩn thận, sau đó cụ Vy thấy những anh chị em chung quanh cụ hoạt động trước kia kẻ thì bị bắt, kẻ thì bị tù, mà Kiều không việc gì cả. Tháng trước đây Kiều bỗng lò mò đến hỏi thăm cụ, ra cái ý muốn giúp đỡ gia đình cụ, thì cụ Vy nghi ngại quá. Rồi từ hôm cụ bị bắt, cụ gặp cả Kiều ở Sở mật thám nhưng không thấy Kiều bị đánh bị tra gì cả, và sang đề lao đây Kiều sống xa cách hẳn anh em, thì cụ Vy không những nghi ngờ Kiều mà còn thấy khinh, thấy sợ Kiều nữa!

- Lạ thật cái người thật là quan trọng, vào tù ra tội đã ốm lao, bị tra tấn cùm kẹp chỉ còn chờ chết, thì trông người vẫn tinh thần và cứ mỗi ngày một tươi tỉnh phấn chấn hơn. Còn cái người vô bệnh vô tật, chẳng bị qua một đầu thước, một ngọn roi, đá gà đá vịt thời kỳ công khai, án tích có nặng lắm cũng chỉ đến tù năm sáu tháng một năm là cùng, thì người càng ngày càng tã tượi thê thảm, lắm lúc trông cứ như thằng thua bạc, thằng nghiện thuốc phiện nhớ bữa ấy!

Cụ Vy gườm gườm mắt nhìn Kiều đi qua mặt mình. Bàn tay ông cụ vẫn nắm lấy bàn tay Tô. Chợt ông cụ luồn tay vào cái túi áo ngực, móc ra một gói chằng dây gai, lập cập giở ra:

- À... à... tôi có cái này để dành cho anh Ba đây!

Tô nhìn cục đường phèn bằng đầu ngón tay út ở phần đường chia cho ông cụ từ hôm có phép và là phép của Kiều.

- Chết! Chết! Sao ông lại để dành cho con? Ông phải ăn đi chứ!

- Việc gì mà chết chết!... Vốn tôi không mặn với cái giống của ngọt này mà chỉ thích những cái gì là của cay của đắng thôi! Cái phần thuốc lào và ớt của anh Ba cho tôi, tôi còn quý hơn cả nem công chả phượng, hơn cả sâm nhung quế phụ. Phần đường của tôi, anh Ba ho nhiều cứ lấy mà ngậm.

Kiều loáng đưa mắt nhìn cục đường, Kiều đi chậm hẳn lại để nghe. Tô cầm cục đường gói gói lại:

- Vâng thì con xin ông, để tối nay trước khi đi ngủ và tối mai con ngậm với thuốc ho.

Tô thấy những ánh mắt vui sướng và trìu mến của cụ Vy mà nức nở cả tâm trí. Tô lại nghĩ đến việc Xứ ủy điều động Tô về Hải Phòng và Thành ủy Hải Phòng đã bố trí nhà cụ Vy để Tô đến ở gia đình cụ, nhận Tô là cháu họ của ông cụ ở trên Hà Nội xuống làm thợ đóng sách và thợ điện. Biết đâu, nếu Tô đương ở với ông cụ và nhà ông cụ cũng như cả khu làng Chiêu Thương không bị cháy, cơ quan ấn dự bị của Thành ủy chọn lại đóng ở nhà ông cụ chứ không ở nhà Sấm, thì có thể cả bọn Tô không bị bắt cũng nên! Tô lại thấy xót xa và như nung như nấu trong người. Tô lại càng nao nức nghĩ đến cảnh nhà bác Vy.

Nhưng thật lạ lùng, từ khi ông cụ bị bắt giam ở Sở mật thám rồi giải sang đề lao, cụ bị chúng nó hàng chục lần tra hỏi chỉ có mỗi việc "thằng Vy đi đâu, hiện nay làm gì" thì ông cụ không những không tăng bệnh mà còn tỉnh táo hẳn lên. Hai tuần nay, ông cụ vừa ăn được, ngủ được, chuyện trò với anh em lại còn nhiều hơn cả ngày ông cụ chưa đâm quẫn trí. Trong những lúc Tô thủ thỉ với ông cụ, ông cụ đã hỏi Tô nhiều câu về tình hình chiến tranh, về cả triển vọng của phong trào cách mạng. Tô đã bí mật viết thư cho bác Vy biết sự chuyển biến này của ông cụ. Bác Vy cũng bí mật gửi thư cho Tô, nói với Tô rằng: "Trong đời tôi chưa bao giờ tôi lại cảm kích, sung sướng như khi được cái tin ấy của ông tôi"...

- Không phải chỉ có Vy thấy cha như vậy mà cảm kích sung sướng và suy nghĩ nhiều! Cả ta nữa! Cả nhiều đồng chí khác nữa!...

Tô nhìn cặp mắt quắc thước lấp lánh của cụ Vy, siết siết mân mê những mấu chai tay và những ngón tay chẫm mẫm của ông cụ.

Tiếng chùm chìa khóa của lão xubadăng râu vểnh gác phiên hôm nay đã xóc xách leẻng xeẻng đến gần cửa. Rồi then sắt kin kín rút ra, cái bộ mặt như chuột như dơi của lão gác ló vào, giọng hắn thều thào kín kín hở hở nói với đồng chí trật tự:

- Anh em vào trại thôi! Hôm nay tôi để anh em ở ngoài chơi thêm những hơn hai mươi phút đấy! Gác điêng xếp biết thế nào cũng lại xạc tôi!

Vừa lúc nổi gió. Gió sầm sập, đùng đùng, xoáy lốc. Những ngọn cây bàng bỗng như bị tuốt ngược, quật đi vằng lại tơi bời dồn dập. Những lớp dây điện trên bờ tường kêu u u. Bụi không biết từ đâu đổ xuống sân mù mịt. Những tiếng kêu, tiếng gọi, tiếng hét, tiếng chửi thất thanh ở các sân các trại...

Tô đứng dậy loạng choạng. Mặt mày Tô sa sầm, người lạnh toát. Tô vịn ngay vào vai cụ Vy. Thấy Tô mặt mày tái mét người run run, liêu xiêu, cụ Vy liền ôm hẳn lấy lưng Tô, giục:

- Anh em đi trước rảo bước một tí nào! Gió thế này, không khéo anh Ba bị cảm mất!

Tai Tô ù ù. Tô bíu chặt lấy cánh tay ông cụ Vy và một đồng chí thợ trẻ.

*

Mặc dầu tất cả cửa sổ đã cao tít, nhỏ hẹp lại còn bưng lưới sắt và ghép ván gỗ rất sít đến ánh sáng mặt trời lọt vào cũng khó, vậy mà trong trại cứ lộng gió ù ù. Ngọn đèn tù mù ở dưới nóc trại nhiều lúc như sắp bị gió đập vỡ mất hay bị giựt tung ra. Không khí lạnh ngắt. Bên ngoài vòm trời đen kịt, lúc bắt đầu mưa thì như một biển sâu gào thét.

Cả điếu của cụ Vy và cụ Coóng đều làm xong rất tốt. Anh em phải hút lần lượt và chia làm hai đám. Một đám xúm xít chung quanh cụ Vy; một đám chung quanh cụ Coóng. Ai ai cũng nhăm nhăm mồi thuốc và chỉ chực cầm lấy cái đóm bằng cành bàng chẻ ra phơi đốt cứ cháy vèo vèo. Nhiều người đã không cho ai mó vào cái điếu đến lượt mình được hút, lại quay hẳn ra một chỗ, ngồi tựa vào tường rồi hút, tưởng chừng không những nuốt cả khói mà còn như nuốt cả cái điếu vào bụng nữa. Có người hút xong rồi vẫn cứ lảo đảo run run giữ lấy điếu đóm không chịu đưa cho người khác. Một cuộc mặc cả với đủ các giọng kèo nhèo, thiết tha, bẳn gắt, dằn dỗi để vay mượn nhau thuốc lào. Nhiều người đuổi nhau, giằng giật, vật nhau huỳnh huỵch, quá như bắt phu bắt lính, trốn công trốn nợ. Có người vấp cùm ngã lộn xuống nền xi măng. Có người chạy đến cả chỗ Tô nằm, cố dúi dúi giấu giấu gói thuốc nhờ Tô giữ.

Trong cái không khí ran ran tiếng cười tiếng reo nọ, Kiều đương nằm thượt giữa cái chiếu ở một khoảng sàn rộng cũng phải nhỏm dậy cười. Rồi Kiều cũng đến chỗ hút thuốc. Kiều toan vay một điếu thuốc mà Kiều chắc chắn thế nào cũng được nhưng lại thôi. Rồi khi đã nhất định không thèm vay mượn gì cả, Kiều lùi lùi ra khỏi đám đông cố giữ cái nụ cười mà chợt Kiều thấy ngượng ngùng lạc lõng thế nào ấy, đoạn lại về chỗ nằm.

Chỉ vừa nằm im giây phút, Kiều lại càng thấy không thể nào chịu đựng được hơn nữa sự bứt rứt, rời rã trong người.

- Sao ta vẫn chưa được tha thế này? Mà sao lại cũng không thấy trên Sở mật thám chúng nó gọi ta lên nữa? Vẫn biết giấy tha là dự thẩm ký, nhưng cốt tử vẫn là chúng nó. Cụ thể là ở thằng chánh Côlanh hay thằng phó Môê vậy. Thằng Côlanh dạo trước đối với ta còn có vẻ hắc chứ dạo này thì gần như chẳng có chuyện gì với nhau nữa mà!... (Kiều cố không nghĩ đến và không thấy cái vẻ mặt mục hạ vô nhân của Côlanh, nhất là cái nhìn Kiều một cách rất khinh bỉ những lần gần đây khi Kiều lên cầu thang gác hay Kiều ngồi ở ghế chờ trước buồng giấy Môê, Kiều chào Côlanh khi Côlanh đi qua)... Còn thằng Môê, thằng này đối với ta (Kiều nóng hẳn mặt lên) vẫn tỏ ra là một đứa biết điều. Phải! Ta đã nói với chúng nó ta không còn một liên lạc và cũng không hoạt động gì nữa cơ mà! Còn tất cả những công việc từ trước của ta...

Ôi chao! (Kiều như sắp nấc, sắp khóc), tất cả những công việc của ta cũng như lý lịch của ta kia, chẳng cần phải hỏi kỹ ta thì Sở mật thám cũng đã có hàng tập báo cáo của những thằng Nghênh, thằng Phệ, thằng Lắp, và của cả những kẻ có liên lạc hoạt động với ta khai tự bao giở bao giờ ấy rồi! Và khốn nạn! Từ một thằng học sinh nhà quê con một lão lang và một con mẹ dệt cửi, bán thuốc viên ở chợ, thôi học ra tỉnh làm cái tên thư ký bến Sáu Kho rồi làm cái thằng đầu sai công khai của nhà báo, chuyên đi nói khan nói vã mời người ta mua sách mua báo, ăn mày tiền ủng hộ này, tiền ủng hộ kia, và nhặt nhạnh các tin tức nơi này đình công, nơi khác biểu tình, nơi kia chống thuế. Tất cả lý lịch gia đình, sự sống và những hoạt động của ta đều rõ hơn cả ban ngày ấy mà! Nhưng mà, chao ôi! Chao ôi! Thật là rồ dại! Thật là rồ dại! Mấy cái năm đã phí công phí sức kia! Ha ha! Phong trào với đấu tranh, đấu tranh với phong trào, rút cục đổ tan hoang mù mịt đen tối như cảnh này đây. Cũng may mà ta không dính dáng với Tổ chức tổ chiếc bí mật bí mẽo gì, không thì chuyến này còn thật là khốn nạn, còn thật là khốn nạn!

Tuy nghĩ thế nhưng trong tâm trí Kiều vẫn còn hờn cái dạo Kiều đã không được "tổ chức" và được chỉ định ra ứng cử hội viên thành phố Hải Phòng, trong khi đó cũng một anh nhà giáo dạy trường tư, hoạt động có vẻ không bằng Kiều, thì lại được đưa ra tuyên truyền cổ động mà từ trước tới đó chưa một ai ra tranh cử với người của bọn thống trị lại được quần chúng biết tiếng và tín nhiệm đến thế. Cái hờn nữa là Kiều không được giới thiệu với các cơ sở quan trọng và cũng không được "sinh hoạt" như một số người mà Kiều đã chú ý theo dõi, họ đã làm Kiều nhiều lúc ngờ ngợ thấy có một số việc đặc biệt họ đã được tham dự, còn Kiều lại phải đứng ngoài rìa, thậm chí lại còn bị đánh lạc hướng!

Ruột gan Kiều lại như cháy như bỏng. Kiều thở hưng hức:

- Rất có thể cái người đã bí mật quyết định mọi việc của ta từ khi thằng Chấn về quản thúc ở Nam Định là cái thằng Tô, - cái thằng gày như cái mõ, mắt kèm nhèm, cái mặt gẫy gẫy cau cau, mà ta chỉ được nghe láng máng nói đến với cái bí danh rất xoàng thằng Ba, thằng Gày kia! Rất có thể! Rất có thể nó là Xứ ủy, là Thành ủy, thành tích đấu tranh cách mạng còn nhiều gấp mấy thằng Chấn, giữ vai trò quan trọng cũng gấp mấy thằng Chấn, có lần ta đã gặp, gặp ngay trong cuộc hội họp ở bên Xi măng, Máy chỉ hay ở nhà một cơ sở mà ta không ngờ, không biết đấy thôi!

Thấy tâm trí mình quặn lên nhất là nghĩ đến Tô cái người mà Kiều không dám chút coi thường, trái lại, chỉ càng thấy tủi nhục cho mình vô cùng, buồn thảm cho mình vô cùng, Kiều vội lắc đầu, mím mím môi, đưa mắt nhìn thoáng ra chỗ Tô và anh em đương xúm xít chuyện trò, rồi Kiều đưa bàn tay lên day day trán, úp lấy mặt!

- Nhưng mà ta nghĩ ngợi miên man làm gì mãi! Việc trước mắt là cần phải hiểu xem tại sao lần này ta bị gọi đến Sở mật thám, rồi cũng chuyển sang đề lao tưởng chỉ một vài tuần như lần trước, vậy mà đã một tháng hai mươi ba ngày rồi. Tại sao lại như thế?!

Thế là Kiều lại cuồng lên. Kiều thấy hay là thằng Côlanh chơi khăm, bảo dự thẩm bỏ quên Kiều vài tháng ở đề lao, chờ thêm mấy vụ bắt nữa để moi Kiều xem có được cái gì đặc biệt không? Hoặc quái ác hơn nữa, nó để tòa án xử Kiều sáu tháng, một năm, hai năm, Kiều phải lên Hà Nội và cũng đi Sơn La rồi moi Kiều một thể. Kiều rùng mình:

- Thế thì ta chết mất! Giờ mà ta phải như thế thì chết mất!

Nửa năm nay đời sống của Kiều gần như đổi khác hẳn. Kiều dạy cho vợ con Đờvanhxy học tiếng Việt Nam mỗi tuần lễ chỉ có bốn giờ vào hai ngày thứ ba và thứ năm. Cũng hàng tuần, Kiều chỉ phải đi nhặt mấy cái tin viết cho tờ Thời sự Hải Phòng.

Dạy học tuy tính giờ nhưng ít nhất Kiều cũng được ba mươi đồng một tháng. Có buổi chỉ mình con gái Đờvanhxy học, nó vừa học vừa chơi hơn một tiếng, Kiều cũng tính hai giờ, mỗi giờ hai đồng. Còn bài báo, tin nào phải viết dài lắm chỉ đến ba trăm chữ. Có trưa, ngủ xong dậy vừa uống nước cam vừa ăn lê táo, Kiều lia độ mười lăm phút là xong tin, được mèng nhất cũng ba bốn đồng. Hàng tháng như thế Kiều kiếm được hơn năm mươi đồng, bằng ba tháng trước kia Kiều phải nói xa xả năm buổi chiều từ thứ hai đến thứ sáu cho vợ chồng thằng Tây đoan Sáu Kho và làm những tin còm ở báo Đông Pháp.

Mấy tháng nay vì tình hình chiến tranh chuyển biến, tuy vợ con Đờvanhxy đi vào Đà Lạt, nhưng Kiều lại có cái "bổng" khác! Ấy là những món mười đồng, hai mươi đồng, ba mươi đồng của các nhà buôn, chủ thầu đại lý, các hãng các công ty nhờ viết và đưa những tin tức, những quảng cáo của họ lên báo. Kiếm được như thế Kiều lại không phải gửi tiền về làng cho bố nữa. Từ năm ngoái, người vợ nhà quê của Kiều nuôi lợn nái trúng lợn nái, buôn tơ trúng tơ, đong đỗ trúng đỗ, một mình cáng đáng mọi sự ăn uống và giỗ Tết trong nhà, mẹ Kiều đi chợ chỉ việc để thêm tiền gửi ra cho thằng em Kiều đi học trường Thành chung ngoài Hải Phòng. Đã thế người em trai Kiều mấy tháng nay lại không lấy tiền của Kiều. Y nhận giấy tờ của một hiệu buôn người Hoa kiều về nhà dịch ra tiếng Pháp kiếm mỗi tháng cũng được mười lăm, hai mươi đồng. Trong khi ấy cô ả Gái đen vừa kễnh vốn vừa tháo vát kia lại lăn vào với Kiều...

Những buổi chiều thứ bảy và chiều chủ nhật tháng trước đây Kiều và Gái đen hễ không lên Hà Nội thì lại ra Đồ Sơn. Gái đen theo hàng lên Hà Nội, Kiều và Gái đen cùng ngồi ca bin với tài xế, lúc về lại có sẵn vé ô tô ray. Ra Đồ Sơn lại còn thoải mái hơn. Toàn ngồi xe ca chuyên chở Tây đầm. Nhiều khi còn thuê hẳn một chuyến xe sang gần bằng loại xe của Đờvanhxy hay của nhà Thy San để đưa hàng đón hàng mà chỉ có hai người đi. Nếu như Gái đen biết nhảy thì nhất định cả tối thứ bảy, tối chủ nhật hai người sẽ chỉ ăn uống qua quýt buổi chiều ở khách sạn, ở cao lâu rồi cũng đi nhảy cho tới khuya về ăn ngủ ở những ôten to cho đã...

Kiều ấp cả hai cánh tay lên mắt như để bịt lấy và day cho tan đi những hình ảnh nhoi nhói và ngùn ngụt trên kia. Hai bắp đùi của Kiều càng nhũn ra, mỏi nhức ghê gớm. Trong người Kiều, trong tâm trí Kiều càng cồn cào, bứt rứt. Vẫn cái cồn cào bứt rứt Kiều thấy không thể nào chịu hơn được nữa!

Mưa gió càng như dạo thêm sức cho một trận bão lụt lội đêm nay hay sáng mai sẽ tràn đến. Trại giam như một cái thùng khổng lồ vang động. Những tiếng ầm ầm, gào xé, hết đợt này đến đợt khác đập vào các lớp cửa trên tường cao, càng về sau càng dữ dội. Bụi nước bay mờ mờ vào cả trong trại. Anh em lại bọn nào vào bọn ấy đánh cờ đánh bài, chuyện chính trị, chuyện cổ kim, chuyện yêu đương, học chữ, tập viết và cả học hát nữa.

Tô mặc thêm cái áo dệt sợi bông cổ chui và cái áo xanh thợ. Cái quần Tô gấp nhỏ, quấn làm khăn. Tô chỉ nằm một lúc, thấy trong người dễ chịu liền ngồi dậy. Tô nhìn anh em, trở lại những công việc dự định lúc ban chiều Tô đã bàn tính chớp nhoáng với Lương và Sấm ở ngoài sân khi rửa bát. Bức thư thứ hai đồng thời cũng là nghị quyết của Thành ủy gửi vào cho Tô tuần trước, Tô đã đem bàn kỹ với Lương và Sấm rồi. Căn cứ vào tinh thần anh em công nhân và thanh niên bị bắt, và lực lượng trung kiên của trại, có thể tổ chức lớp huấn luyện cho anh em và cả chị em bên trại xà lim phụ nữ về đường lối và công tác cách mạng ở Đông Dương. Nếu như Tô còn yếu quá thì Tô sẽ chỉ trình bày phần nhận định tình hình thế giới và trong nước. Như thế Lương sẽ phân tích tương quan các lực lượng giai cấp để rồi Tô sẽ nói về đường lối cách mạng. Tuần thứ nhất và tuần thứ hai có thể làm xong ba phần trên đây. Tuần thứ ba thì sang phần công tác. Phần nào, mục nào, công việc nào làm được công khai và tập trung được anh em thì cứ làm. Phần nào, mục nào, công việc nào phải làm bí mật thì Lương, Sấm và Tô chia nhau phụ trách từng anh em.

Cùng với Kiều có hai người nữa tổ chức đặt vấn đề phải theo dõi. Ngoài ra còn ba quần chúng cơ sở và một thanh niên có cảm tình Đảng bị đánh, đã khai nhưng không làm thiệt hại quá đáng. Bảy người này cứ để cho nghe những buổi Tô và Lương nói công khai. Điều quan trọng là Tô và Lương phải hết sức cân nhắc các mục nói cho tất cả mọi người nghe. Như thế phải tuyệt đối không được để lộ những anh em "nhân", những anh em tốt còn giữ được "bem" với mật thám, và những anh em án nhẹ rồi đây Tô sẽ giới thiệu để Thành ủy chắp lại mối, giao công tác cho anh em khi được tha.

Tô vừa thì thầm suy tính, vừa nghe những tiếng mưa gió. Ngậm cục đường phèn của cụ Vy cho, Tô càng thấy trong người tỉnh táo trước cái nhộn nhịp vui một cách lạ của chung quanh. Từ đám đánh cờ đến đám tán chuyện đều sôi nổi, ầm ĩ còn hơn cả ở ngoài sân. Nhưng rồi cả mấy đám họ cùng quay ra với đám học hát. Hơn hai chục anh em ngồi làm hai hàng trên hai dãy cùm hai bên sàn. Chân họ bỏ thõng đung đưa, tay vỗ vào nhau, hát theo một anh thanh niên học sinh có giọng tốt nhất và thuộc nhiều bài hát nhất, kể cả những bài hát cũ mà Tô và Lương ở ngoài Côn Lôn đã được nghe, được tập nhưng đến nay mới chắc rằng mình được nghe và dạy đúng. Riêng Tô, nhiều phút Tô đã phải ngừng hẳn sự suy nghĩ để nghe cái giọng trầm trầm rì rầm như sóng khơi xa của anh cất lên ở một góc sàn, hát khẽ bài Quốc tế ca hay Mặt trận đỏ cho mấy anh em thợ Xi măng, Máy tơ, Máy chỉ nghe buổi trưa lúc nhiều người đã ngủ mệt.

... Cùng nhau đi hồng binh

Đồng tâm ta đều bước

Đừng cho quân thù thoát

Ta quyết chí hy sinh.

Anh học sinh đứng hẳn lên thành cùm, hai tay bắt nhịp, xướng lên từng câu cho anh em hát theo:

... Nào anh em nghèo đâu

Liều thân cho đời sướng

Lên thế giới đại đồng

Tiến lên quân hồng...

Những anh em say cờ say chuyện và cả những anh em cắm cúi từ chập tối học chữ, học viết cũng nhập vào nốt đám hát. Tất cả cùng ngồi xuống thành cùm, cùng đung đưa chân, vỗ tay rần rật:

Tiến lên quân hồng... tiến lên quân hồng...

Đột nhiên có mấy người nhảy xuống đất, khoác lấy cánh tay người bên cạnh, tự động đi thành hàng ba và hát lại từ đầu. Ba hàng sáu người nọ vừa bước được mấy bước thì có những tiếng thét lên:

- Anh em ơi! Xuống đường tất cả đi hồng binh thôi!...

Trong số những người nhảy xuống đất khoác cánh tay anh em, bước tiếp vào những hàng hồng binh đầu tiên kia, có cả cháu ông cụ Coóng. Tiếng bước chân, tiếng hát và nhịp vỗ tay giậm chân chuyển ra đến cửa trại. Chợt cả cụ Vy và cụ Coóng choàng người lên. Ba anh thanh niên ở đâu đến, một anh khoác lấy cánh tay ông cụ đi lưới dưới làng Đông Khê, hai anh khoác lấy cánh tay cụ Vy và cụ Coóng.

- Bố ơi! Bố đi hồng binh với chúng con thôi! Nào anh em nghèo đâu. Liều thân cho đời sướng...

Ba hàng sau cùng này chỉ chập choạng một lúc rồi cũng răm rắp như những hàng trên. Ông cụ đi lưới quấn quấn khăn bông vào cổ xong thì vỗ tay ngay. Cụ Vy, cụ Coóng cất điếu xong cũng thế. Cụ Coóng cười hà hà, nói mấy câu tiếng Tàu như là văng tục, như là chửi yêu. Cả ba cụ đều cười, vừa bập bà bập bõm câu được câu chăng, hát theo:

...Lên thế giới đại đồng

Tiến lên quân hồng

Tiến lên quân hồng...

Đến câu chót, không những cụ Vy và cụ đi lưới chỉ vỗ tay, giậm chân cho khớp với anh em mà còn cố hát lên, cũng thật to, rần rật, mỗi nhịp lại cao hơn.

Phải! Trong ngực Tô lại nghẹn nghẹn và tâm trí Tô lại nhức nhói. Nhưng Tô càng thấy khỏe khoắn tỉnh táo hơn, khỏe khoắn tỉnh táo vô cùng. Tô ngồi dậy nhưng hai tay vẫn khoanh trước ngực, càng lặng người đi. Tô lại nghĩ đến mấy điểm căn bản về điều kiện chủ quan, khách quan để bùng nổ cách mạng mà Tô và Lương sẽ phân tích rất kỹ cho từng anh em ở Tổ chức và anh em "nhân" trong lớp huấn luyện sắp tới. Đó là đưa đông đảo quần chúng xuống đường, giằng lấy võ khí trong tay quân thù mà cướp lấy chính quyền, lật đổ tan tành cái chế độ ngục tù này đi.

Khi mà quân thù hoang mang đến cực điểm.

Lúc này đây với tình hình đế quốc Pháp và bọn thống trị ở Đông Dương có thật, có đúng như thế không? Gần một tháng ở Sở mật thám và hơn một tháng ở đề lao, Tô càng thấy rõ sự cuống cuồng của bọn chúng. Ngoài những việc bắt người tra tấn dã man rồi xử tù rất nặng, chúng lại còn đưa người đi tập trung nữa. Những trại giam vô thời hạn, giam không cần tòa án xét xử đã lập rồi ở cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ. Tin nhắn vào gần đây, vợ Sấm đã bị đưa lên trại giam Bắc Mê trên Hà Giang rồi, mà Hà Giang là một trong bốn tỉnh đường ngược thuộc đạo quan binh cai trị, nước độc còn hơn cả Lai Châu, trước đây chỉ chuyên để phát vãng những tù án thường khổ sai và nặng năm thôi. Vợ Sấm khi còn ở Sở mật thám đã phát mê phát sốt, bỏ cả ăn uống, nhiều lúc ỉa đái ra cả chỗ nằm mà không biết, sang đề lao vài hôm thì sẩy thai. Cái thai được hơn năm tháng ấy là con trai. Nghe những chị em cùng giam bên trại xà lim nói thì thằng bé khá to, mặt mày kháu khỉnh lắm. Mặc dù vợ Sấm băng rất nhiều huyết, sốt nặng, bọn gác ngục cũng không cho chị sang nhà thương chỉ cách đề lao có một cái tường và đi đằng cửa chính chỉ độ một trăm thước. Cả thằng bé lên ba đã ở hết Sở mật thám lại sang đề lao ở với mẹ cũng ốm. Nó đi kiết lị. Trước ngày xử án Tô, Sấm và người em họ Sấm, chúng nó tha vợ con Sấm. Nhưng tha để vợ Sấm đem con về nhà, cho chúng nó tiện việc đưa mẹ lên trại giam!

Đến vợ Sấm chúng nó cũng đưa đi như thế, không hiểu rồi đây cụ Vy và cụ Coóng sẽ bị xử án hay cũng lên trại giam. Cụ Vy thì vì chúng nó muốn tìm bác Vy nhưng không thấy nên cụ bị bắt. Chứ cụ Coóng chỉ vì ở cạnh nhà cụ Vy và cụ Coóng có người cháu gọi bằng bác làm thợ ngoài Hòn Gai bị khám nhà, bắt được mấy cuốn sách về duy tâm và duy vật, về kháng Nhật, ngày trước bày ê hề ở các hiệu sách phố Khách. Anh này bồ côi cả cha mẹ, lúc mật thám hỏi ai người thân thích gần gũi nhất, anh khai có ông cụ Coóng là bác ruột, người nuôi anh từ thuở nhỏ, vậy mà ông cụ cũng bị bắt theo. Cụ Coóng năm nay không những bảy mươi nhăm, bảy mươi sáu tuổi, mắt lại gần lòa, chân lại bị đơn, đầu gối ống chân và bàn chân nặng sũng ra. Đến suất cháo ông cụ cũng không ăn hết, và cái đầu tôm mặn cũng không dám ăn cả, tuy ngày trước cơm xong cụ tráng miệng cũng hết nửa phạng cháo và con cá hồng hàng ba bốn lạng phơi khô rán mặn. Chính thằng gác điêng xếp đề lao đã văng tục bằng tiếng ta, và xà lù, meẹc ầm lên, chửi bọn mật thám, hôm gần đây cụ Coóng bị ngất đi nó phải cho người khiêng ra phe mì tiêm thuốc, gọi têlêphôn báo tin cho Sở mật thám về bệnh trạng của cái "lão già quan trọng hoạt động cho cộng sản Tàu trên đất Đông Dương ấy!"

Tô lắc lắc đầu, chuyển sang ý nghĩ khác. Tô lại cân nhắc một điều kiện nữa để bùng nổ cách mạng. "Khi quần chúng nô nức quyết tâm xuống đường, đổ máu chiến đấu để cướp lấy chính quyền!" Phải! Điều kiện này hiện nay chưa có nhưng rồi sẽ có. Đảng Cộng sản Đông Dương, những cán bộ, những đảng viên của Đảng lãnh đạo cách mạng, sẽ tạo ra điều kiện đó bằng tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh. Được tập dượt thử thách, lớn mạnh qua các cuộc đấu tranh từ thấp đến cao, quần chúng do giai cấp vô sản và Đảng của nó lãnh đạo nhất định sẽ kiên quyết hy sinh nổi dậy làm võ trang cách mạng.

Mồ hôi trán Tô vã ra. Gió lạnh hun hút như thổi còi xuống góc tường chỗ Tô ngồi. Tiếng hát, bước chân, nhịp tay càng bùng bùng rần rật sầm sập. Tiếng mưa gió giội xuống mái trại và những bức tường lớp lớp cửa sắt khóa chặt, càng bị át đi. Làn lửa và sức mạnh đặc biệt tràn vào người Tô cuồn cuộn thêm.

*

Những buổi Tô nói, Kiều còn nghe buổi đực buổi cái. Nhưng đến những buổi nói của Lương - cái thằng Lương đánh xe ngựa và bán cả phở kia, vào tù ra đến Côn Lôn mới học đọc viết thông quốc ngữ, người tính nết có vẻ tàng tàng, những lần đến nhà báo chạm trán với các khách từ những thanh niên học sinh đến những công chức chẳng có ai để ý cả - thì Kiều chỉ nằm, cố ngủ lại. Cùng với Kiều có một gã nữa hoàn toàn không dự buổi nào của Lương. Gã này làm thư ký nhà máy nước, em họ chủ hiệu may Cần lao, bị bắt cũng vì "có những hành động làm rối cuộc trị an". Thật ra gã chỉ ba hoa mấy câu về chiến tranh, rồi bị bọn mật thám trù vì không lo lót thết đãi tốt chúng nó khi chúng nó cùng gã đi hát cô đầu. Vừa vào trại, gã ta liền kêu buốt óc, kêu đau ngực. Rồi có lúc lại kêu vừa ho khạc ra máu, vừa sốt âm âm buổi chiều. Trật tự trại xếp chỗ nằm ở giữa trại với mấy anh thợ Xi măng, Máy tơ, Máy chỉ nhưng gã nhất định cắp chiếu nằm ở cuối trại bên cụ Coóng. Thế rồi khi nào cứu tế đem được nước sôi pha chè hay hâm cháo cho cụ Coóng, gã nhổm ngay dậy chìa bát xin và cứ để cụ Coóng sẻ cho mà uống trước, ăn trước.

Cụ Vy và cụ đi lưới cũng dự lớp. Cả anh cháu cụ Coóng nữa. Có ba người này nghe nên cả Tô và Lương càng phải nghĩ, phải tìm cách trình bày các vấn đề sao cho hợp. Anh cháu cụ Coóng chỉ nghe được những câu tiếng ta rất dễ và nói chậm. Còn hai ông cụ thì cười xòa đại khái bảo: "Thôi chúng tôi cứ là xin theo với anh em chứ chúng tôi thật là nghe trước quên sau, chỉ học với ông sáu tấm là thuộc là chắc nhất!".

Tất cả chương trình huấn luyện, chị em bên xà lim trại tù đàn bà đều tham dự hết. Buổi sáng, buổi chiều, Tô và Lương nói xong thì đến trưa đến tối viết thành bài đưa sang cho chị em. Dạo này phép càng bị khám ngặt. Cả khúc cá kho cũng bị dầm nát ra. Quả chuối nào cũng bị bẻ đôi. Không phải để tìm thuốc lào thuốc lá như phép của tù án thường, mà để xem bên ngoài có gửi tài liệu, giấy tờ tin tức gì không. Một mẻo giấy dính vào xôi hay phong bánh khảo đã nhờn bột đậu mỡ cũng bị bóc ra, không cho đem vào trại. Còn những thứ của gia đình gửi dây thép, không ai nhận được bức nào. Bọn xubadăng ta cũng rất nghiệt khi đưa giấu thư từ quà bánh. Gặp phiên gác của hai lão có cảm tình nhất và cũng là bạo nhất, anh em mới được bao thuốc lá, bao chè tàu là nguồn giấy chủ yếu để viết tài liệu. Sau giấy trắng nhờ tù cỏ vê án thường và xubadăng mua không được, thì tất cả các bài đều viết với giấy bao thuốc bao chè.

Chỉ mình Tô viết. Thấy Tô bỏ cả ngủ trưa và đến khuya cứ còm cõm ngồi gò ngực xuống cái bảng con ghi số tù nhân trong trại kê lên đầu gối làm bàn, viết cứ hết tờ này đến tờ khác chữ nhỏ như chân kiến, anh thanh niên dạy hát và mấy anh thợ trẻ nhà máy Carông, Xi măng, Máy chỉ đã nằn nì để họ viết cho nhưng Tô không nghe. Tô bảo mặc dầu nghe Lương và Tô nói, các anh toát yếu được đầy đủ, và chữ các anh rất tốt, nhưng các anh viết vẫn tốn giấy. Mà giấy khó khăn quý hiếm như thế nào các anh biết đấy. Còn một lẽ khác nữa và là lẽ chính chỉ có Lương và Sấm biết thôi: Tô muốn gánh tất cả trách nhiệm về phần Tô. Nếu như gác điêng khám bắt được tài liệu và Sở mật thám truy hỏi, thì Tô lại nhận. Có bị tra tấn lại, bị phạt xà lim hay tăng án tù, Tô cũng chịu hết. Còn mấy anh thanh niên kia đều nhẹ án, Tô phải giữ gìn cho các anh để rồi ra tù tiếp tục hoạt động.

Nhưng cả ngày hôm qua Tô đã phải nghỉ viết. Tô nói với các anh em: "Mình chỉ mệt, nhức đầu vì thời tiết, ngày mai hay ngày kia là khỏe thôi!". Tô vẫn báo cơm. Suất cơm của Tô anh em lại chia nhau. Tô vẫn ăn lưng bát chỗ cháo thừa của cụ Coóng. Đến bữa chiều, cháo Tô cũng không ăn. Tô bảo ăn thấy ì ạch nên nhịn. Cứu tế pha nước chanh cho Tô, Tô uống non nửa, còn nhường cho một anh bị kiết lị và cũng sưng đầu gối sưng bắp chân như cụ Coóng. Tô lại uống nước chè với cụ Coóng. Vẫn chỉ có Sấm và Lương biết Tô nói dối. Hai người đều lo lắng cho sức khỏe Tô. Nhưng hiểu Tô, lo cho Tô hơn vẫn là Lương. Tô lại khái huyết, hay kiệt sức chuyển bệnh thì biết làm sao bây giờ? Dầu cá viên và cốm vôi của tổ chức gửi mối đặc biệt vào cho Tô đều hết. Mấy hôm nay sáng sáng Tô chỉ được mấy thìa potion calmante (2)và potion tonique (3)pha chế gần như chỉ có nước lã mà lão quản phe mì đã cho Tô uống gấp đôi vì nể riêng Tô và nể chung cả ban cứu tế của trại. Mấy thứ thuốc lá bổ huyết và cầm máu nhắn người gửi vào, càng mong càng biền biệt!

⚝ ✽ ⚝

(2), (3) Thuốc ho, thuốc bổ.

Trưa nay lại nắng gắt. Tiếng chim sẻ lách nhách dưới nóc trại bốc hơi sừng sực nghe càng đanh đanh như ở những cái vung hay cái thùng khổng lồ bằng gang vang ra. Ngoài sân đã không có một gợn gió lại còn đọng thêm mùi khói than, mùi hắc ín của khu nhà máy Carông và hai cái lán đóng thuyền ở gần đấy. Trại giam hoàn toàn thành một cái hầm. Cái hầm ấy đương lúc im ắng nhất. Trừ cụ Vy và cụ đi lưới ngồi rì rầm chuyện với nhau, và hai anh tập viết vẫn hấm húi với mẩu gạch non và bát nước ở tấm ván sàn đen bóng, còn tất cả đều hoặc lơ mơ ngủ, hoặc cố vật nhau với sự trằn trọc để nằm yên và không nghĩ đến cái nóng cái ngốt...

Tô nằm dưới một khung cửa. Giữa trưa nắng chang chang mà cả bên trong và phía ngoài gần cửa chỉ mờ mờ. Bụi và hơi người cố dồn ra, lởn vởn như những đám muỗi mát. Trong khi Tô nằm thiêm thiếp như thế thì cái chỗ Tô ngồi viết tài liệu lại càng cách biệt hẳn ra. Nổi rõ như thế không phải nhờ ánh sáng giữa trưa lọt vào mà vẫn là nhờ sự im lặng. Chỗ ấy sát cửa trại, Tô ngồi đây dù bọn xubadăng ta hay gác điêng tây có đi "rỏn" nhìn vào trại để xem xét cũng không thấy, vì tầm mắt chúng bị chắn bởi mép cửa và bức tường của dãy xà lim ngoài kia.

Lương nằm phe phẩy manh chiếu rách cạp lại, kẹp với cành bàng thành cái quạt, vừa nhìn ra chỗ Tô thường ngồi viết, càng thấy tâm trí như bị vò bị nghiến. Trên đầu

Tô, tấm bảng đen tự tay tên gác điêng phó ghi bằng

phấn sau những buổi sáng và những buổi chiều điểm tù: 20-8-1940: 52.

Tới hôm nay hai mươi tháng tám, số tù nhân lên tới năm mươi hai người, và như thế lớp huấn luyện đã được đúng mười ngày mở cho hơn bốn mươi người. Liên miên mười ngày ấy Tô gần như không nghỉ ngơi gì cả. Tô huấn luyện anh em xong lại viết. Nhiều mục Tô còn viết dồn viết cố cho xong sớm để chuyện trò thêm với anh em, giảng lại những điểm anh em đến hỏi Tô mà Tô rất áy náy tại sao mình lại trình bày khó như thế.

... Nhìn Tô và nghe cái nắng hầm hập của không khí giữa ban trưa mờ mờ lởn vởn, Lương lại nhớ đến cảnh hầm xay lúa ngoài Côn Lôn. Ở đây người ta vừa phải đeo xiềng, vừa phải khuân chuyển và xay thóc giã gạo, đi đứng cứ xiêu vẹo, hỏi gọi chuyện trò với nhau cứ lào thào, lào thào. Từ bên ngoài nhìn vào, nhiều kẻ tưởng như những người đương sống trong hầm là những hình ma bóng quỷ nào ấy. Tô cùng với cha Cam và Gái đen là hai người bị phạt hầm lâu nhất, cũng lại là hai người trước nhất đã tổ chức được cuộc đấu tranh làm thay đổi hẳn đời sống nơi đây. Tất cả những cặp rằng tù lưu manh số đỏ và những tù khổ sai án thường nặng năm mà bọn chúa ngục định mượn tay họ để giết anh em tù chính trị, đã được Tô và Quất giác ngộ. Hầm xay thóc trở thành một sở làm việc có phân công, tùy theo sức từng người, nghỉ ngơi có giờ giấc, thổi nấu ăn uống rất ổn thỏa, đặc biệt là không còn cảnh ăn cắp, bóc lột, đè nén lẫn nhau. Cũng chính ở hầm đây, Tô đã ho ra máu nhưng vẫn đều đặn gửi những kinh nghiệm đấu tranh, dịch cả sách gởi về trong banh cho các tổ nghiên cứu học tập, và cùng tham gia các cuộc thảo luận chính trị của anh em.

Từ những kỷ niệm ngoài Côn Đảo sống với Quất và Tô, Lương liền phải trở lại những kỷ niệm cũng phải ghi vào xương vào thịt ở ngay dưới mái trại này, mà hôm đầu tiên khi gác điêng phó lọc xọc mở lớp khóa cửa dãy xà lim, Lương bước vào, không những Lương thấy không lạ lẫm một chút nào mà như vẫn còn đầy đủ cả những anh em cũ vậy.

Ngày đó vào cuối tháng mười một năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt. Hơn trăm anh em sắp phải xuống tàu đày Côn Đảo thì đế quốc mở trận khủng bố để đàn áp cuộc chiến tranh phản đối của anh em. Chúng huy động lính khố xanh đưa hẳn vào trại. Lưỡi lê đã phăm phắp lên đầu súng rồi, nhưng khi chúng ra lệnh họ xông vào thì lần chần kẻ đứng im, kẻ lùi lùi. Chúng tức tốc đuổi đội lính ta về, gọi lính lê dương đến. Trong trại lại cất lên những khẩu hiệu và những lời kêu gọi bằng cả tiếng Pháp, tiếng Đức nữa. Bọn lính lê dương cũng không chịu vào đàn áp anh em! Chúng phải huy động chính ngay lính Pháp. Anh em chỉ có chống lại bằng hò reo. Rồi sau khi chúng phá được cửa trại a la xô vào bắn anh em, dùng lưỡi lê đâm anh em, thì anh em đành phải giở những khí giới độc nhất có được trong tù là gáo dừa và cạy ván sàn lên để tự vệ.

Tất cả bảy anh em bị chết. Người bị bắn toang ngực, người bị xọc suốt bụng, nát hết mạng mỡ. Chính ở cánh cửa sắt mé trái trại chỗ Tô ngồi viết hiện nay, một đồng chí đã lao người ra giữ, khi một tên lính Pháp say rượu như con gấu chó, đầu chũi chũi, bê cái thanh sắt nặng hàng năm mươi cân chạy sầm vào phá bật được cửa ra. Đồng chí ấy bị bắn đầu tiên, người tung hẳn đi. Tô cũng ở trại này, nhưng ra Côn Đảo chuyến sau Lương. Tô ra cùng với Quất...

Cái thằng Sơn đã lao mình giữ cửa trại cho anh em ấy môi cứ đỏ tươi như môi con gái, cuộc đấu tranh nào ở nhà máy cũng như ở trong tù đều xung phong làm trật tự và xích vệ cho anh em. Sơn chết năm nay được chín năm rồi đấy! Mười tám tuổi vào Công hội đỏ... Hai mươi tuổi đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương và bị kết án hai mươi năm cấm cố... Hai mươi mốt tuổi thì hy sinh... Cái thằng Sơn hôm mật thám ập đến nhà, còn gọi: "U ơi! U ơi! Con bị bắt mất rồi! U ơi!"... rồi định giật cả xích để chạy lại với mẹ như kiểu bê, nghé còn bú, nhổng đến với mẹ trước cơn nguy hiểm...

Cả hình ảnh của Sơn, của Quất và bao nhiêu hình ảnh khác, đang nhoi nhói trong tâm trí Lương thì Lương giật thót người, ợ một tiếng rồi ôm bụng, quằn đi quặn lại. Mặt càng nhăn nhó, Lương day day chỗ đau:

- Lại quái quỷ! Lại quái quỷ! Nó lại hành tôi! Nó lại hành tôi!... Mấy tháng nay tôi đã phải ăn cơm tẻ nhưng mỗi lần chỉ dám ăn nắm cơm to bằng một quả cam con thôi mà nó vẫn cứ hành tôi!

Lương xuýt xoa khe khẽ. Vừa xuýt xoa Lương lại mím môi nhưng không phải chỉ để dằn cơn đau mà còn như để tự mình làm khổ thân mình cho cám cảnh:

- Mày tính với toán, lý với luận không bằng cục cứt chó đâu, Lương ơi! Đế quốc đã khủng bố đến như thế mà mày vẫn còn lần chần. Mày cho rằng mày vẫn giữ được không bị lộ gì hết lúc công khai, như thế rút vào bí mật lúc nào cũng được và ở đâu cũng được. Ngây thơ ơi là ngây thơ! Và ngu ngốc cũng không ai bằng mày tên là Lương kia! Những thằng như thằng Sơn thằng Quất chúng nó mà nghe những tính toán, lý luận của mày thì chúng nó cũng phải ngồi dậy mà ỉa vào mũi mày đấy! Và chúng nó phải ngồi dậy để cười xì vào mũi mày không những chỉ vì nghe mày tính toán, lý luận, chính trị, đi guốc ngay trong bụng mày, biết tỏng cái điều sâu kín nhất của mày mà mày vẫn cứ không dám, vẫn cứ không chịu nhìn thẳng vào: "Đó là mày sợ!". Phải! Chỉ vì mày sợ. Sợ những khó khăn, sợ nguy hiểm đi vào bí mật. Sợ lại đi công tác thoát ly. Sợ khủng bố. Sợ đế quốc đấy thôi, cái thằng đương khiếp nhược kia ơi!

Một bàn tay gày guộc, nóng nóng chợt sờ sờ bóp bóp trán Lương nham nháp và nóng sực:

- Lương ơi! Mày lại kéo cơn đau đấy à?

Nghe tiếng Tô nói khàn khàn, Lương ngước mặt lên, vẫn quằn quại:

- Mẹ bố nó! Biết cơ sự này thì cứ để nhà thương nó muốn cắt muốn xẻo thế nào thì cứ cắt cứ xẻo. Còn được một phần ba chứ một phần sáu, phần mười cái dạ dày khốn nạn ấy cũng tốt! Càng ít càng đỡ khổ với cái suất cơm đế quốc!

Tô cười:

- Bố nhăn sao phẫn thế! Linh đơn của tiên cô nhà mày đã gửi được vào kia!

- Ông không thèm uống gì nữa! Cứ cho nó gọn một nhát là hết chuyện! - Nhưng vừa nói xong, Lương đã chìa ngay tay. - Em gái tao nó gửi gì thế? Thuốc muối hay rau bà đẻ?

- Không phải thuốc muối, cũng không phải rau bà đẻ. Bánh chè lam bố nhăn ạ!

- Bánh chè lam, giời ơi! Nó gửi vào làm gì cái quà quái quà quỷ này! Băm nhăm băm sáu tuổi đầu rồi người ta còn bé dại gì mà nó lại gửi bánh với kẹo vào cho người ta cái lúc này!

Lương càng nhăn khi Tô đưa cho mình tấm bánh. Bánh gì mà lạ quá, cũng thơm mùi nước hoa bưởi cũng bùi ngậy nhân lạc, và cũng vuông vắn mịn màng như vừa cắt ở mâm bánh ra, nhưng lại có một cái gì khang khác! Lương cầm bánh hít hít, lật đi lật lại rồi cạy một mẩu ở góc ra nếm. Mắt Lương chớp chớp miệng Lương chèm chẹp, Lương lẩm bẩm bảo Tô:

- Mùi thuốc bắc và lại như là nhân thịt ấy mày ạ.

Tô đưa mắt nhìn chung quanh:

- Đúng là thuốc bắc và thịt chứ còn như với nhiếc gì nữa! Tao đã bảo tiên cô nhà mày gửi linh đơn vào cho mày mà.

Giờ Lương mới tươi tươi nét mặt, cười ngượng nghịu:

- À rau bà đẻ! Chắc nó sao tẩm luyện với thuốc bắc đây. Không hiểu ai bày cách cho nó thế này?!

Tâm trí Tô nao nao lên. Món bánh chè lam này chính là của mẹ con bà cụ Xim làm. Rau bà đẻ thì em gái Lương lấy ở nhà thương cho. Công việc sao tẩm đều tự tay người nữ công nhân già Máy tơ mẹ Xim ấy. Cái lần Xim gửi quà nhờ Tô chuyển về Nam Định cho Chấn, Tô cũng đã ngạc nhiên và cũng phải ngửi phải nếm như Lương. Lần này Xim lại gửi, nhưng người nhận không phải là Chấn mà lại là Tô. Cả Chấn cũng bị bắt rồi! Tin của tổ chức cho biết Chấn vừa nhận được quyết nghị của Xứ ủy điều động đi, trốn đến cơ quan liên lạc nằm chờ thì bị bắt. Nam Định cũng bị bắt thêm một đồng chí bí thư tỉnh ủy nữa. Xim gửi thư vào còn báo với Tô hai cơ sở nhà Máy tơ vừa bị bắt. Đồng chí được Xứ ủy điều về thay Tô lại phải chuyển đi tỉnh khác. Sở mật thám vừa đưa đi trại giam hai chuyến hơn bốn mươi anh chị em.

- Mày chỉ nhận được thuốc chứ có tin tức gì mới không?

- Rồi tao sẽ báo cáo với Sấm và mày... À, con em gái mày nó gửi cả thư nữa, nhưng tờ giấy viết to quá, không tiện đưa vào. Nó nhắn mày cứ yên trí ở Hải Phòng. Vợ mày và công chúa nhăn của mày vẫn khỏe. Còn nó, nó không ở Kiến An mà lại được về Hải Phòng làm rồi. Nó sẽ xin giấy chứng nhận của đốc tờ Phétkê cho mày không phải lên Hà Nội và đi phát vãng.

- Giời giời giời!... Lại quái quỷ!... Lại quái quỷ!... - Lương càu nhàu rền rĩ, xua xua tay, bưng đầu nhăn nhó.

- Tao không nghe chuyện cứt chó ấy đâu!... Mày! Mày cầm lấy chỗ thuốc này. Mày cứ ăn cả tễ thuốc này Tô ạ. Tao có đau về mùa bức cũng nhẹ thôi. Mấy hôm nay giở giời mà tao ăn cơm trưa xong chỉ đau như thế này, bữa tối tao sẽ nhịn chỉ mai là cất cơn thôi. Mày mà không ăn thì tao nói với tổ chức quyết nghị mày phải ăn!

- Hãy cứ biết thế!... Nhưng mà em gái mày gửi cho mày thì mày cứ phải cầm lấy đã...

Tô sẻ cho Lương nửa chỗ nước chè của mình, bưng lại cho Lương. Chờ Lương nằm yên Tô mới trở về. Nhưng Tô chỉ nằm được mấy phút lại phải ngồi dậy. Lần này Tô thấy không thể nào lại nằm và lại ngồi ở cái góc sàn im lìm này được nữa. Tô nhấp nhấp uống thêm ngụm nước chè rồi đứng lên. Tô lần lần đến cửa trại. Tô với lấy tấm bảng số tù rồi ngồi xuống cái chỗ hàng ngày làm việc của mình.

Tiếng chim sẻ ở ngoài sân và nóc trại vẫn lanh lảnh. Trại giam càng lặng đi. Những người trằn trọc chốc chốc lại trở mình thở dài thở giấc cũng đã ngủ. Tiếng thở, tiếng ngáy rền rền càng rõ hơn cùng với tiếng ho tiếng rên. Cụ Coóng vừa bóp chân, vừa rì rầm như kể lể đôi hồi với ai ai. Xa xa, tiếng gà gáy lọng lên đanh đanh. Tiếng máy chạy của khu Xi măng, Cốt phát siết vào không khí đôi lúc lại xé ra.

Những câu hỏi trong tâm trí Tô càng ngùn ngụt, nhức nhói. Nếu Tô không đoán sai thì chỉ năm, sáu ngày hay già lắm hơn tuần lễ nữa bọn Tô sẽ phải lên Hà Nội. Hay không chừng chiều nay có giấy gọi, sáng sớm mai chúng nó đưa bọn Tô đi cũng nên. Chương trình huấn luyện đã sang được nửa phần đề cương cách mạng. Tuy vậy phần các công tác vận động tổ chức đấu tranh cũng không kém quan trọng. Những mục trong đề cương phải nói riêng với một số anh em Tô đã làm xong, nhưng bản viết gửi sang cho chị em bên trại xà lim rồi đây Tô không những phải viết tất cả để gửi gấp sang cho chị em, mà còn phải viết hai bản riêng cho ba chị công nhân Máy tơ, Máy chỉ và một chị trong Thanh niên nghiên cứu học tập. Sang phần công tác, trong mục binh vận có những công việc nếu lộ ra không phải chỉ nguy hiểm đến tính mệnh người được huấn luyện và sẽ đi vận động, mà nguy hiểm vô cùng ngay cho Đảng, cho cuộc tiến hành chuẩn bị võ trang đấu tranh, khởi nghĩa.

Như vậy nguyên phần cuối đề cương, Tô phải viết sáu trang giấy, không kể những bản viết riêng. Còn phần công tác bí mật phải ít nhất mười trang. Vẫn không kể những bản viết riêng. Theo như kiểu tính toán của nghề nhà in hay làm báo, những bản viết của Tô sẽ còn từ một vạn rưởi đến hai vạn chữ nữa. Như thế nếu bọn Tô còn được ở lại đến tuần lễ sau, Tô vẫn phải viết cả trưa và tối, may ra mới kịp. Thời giờ, thời giờ thật như lửa đốt đầu!

Nhưng lại còn cái khó khăn về giấy, về mực. Tất cả kho giấy mực của cái nhà in của Tô chỉ còn mười tờ vừa giấy bao thuốc lá vừa giấy phong bánh khảo. Thêm được hai tờ của phong "bánh chè lam" gửi vào hôm nay là mười hai. Thì giấy bao thuốc lá và bánh khảo chỉ có một mặt trắng còn là mặt xanh, và đã in chữ. Đã thế sáu tờ giấy gói bánh khảo và chè lam lại phải ba tờ thấm đường mứt, thấm mỡ đã hoen ướt và rách mất mấy miếng bằng đầu ngón tay cái. Giấy thì thế, còn mực: cái mẩu bút chì quý báu vô cùng của Tô! Cái mẩu bút chì này chỉ còn đúng một đốt ngón tay cái. Tô đã phải kẹp vào hai chiếc đũa để viết cho dễ. Mỗi khi Tô gọt, tâm trí Tô bị rất căng. Tô phải nương nhẹ hết sức để giữ mẩu bút chì khỏi gãy, khỏi mòn nhiều. Dao gọt vẫn bằng con dao mẩu dây thép của đồng chí thợ cạo. Tuy thận trọng vô cùng nhưng mẩu chì vẫn bị gãy và mòn rất nhanh. Rồi đây Tô phải kẹp lại mẩu chì chỉ còn được hơn hai phân ấy vào hai chiếc đũa mà tận dụng viết cho xong tất cả chương trình huấn luyện. Nhưng cho dẫu Tô bỏ ngủ, quên ăn, cho dẫu Tô cẩn thận dè sẻn từng phân giấy, từng li chì... cho dẫu tất cả tâm hồn, trí tuệ và sinh lực của Tô dồn hết vào những công việc kia, sự hoạt động của Tô vẫn cứ...

"Phải! Tất cả sự hy sinh và làm việc của ta đến mức nào chăng nữa cũng vẫn là chậm; vẫn như muối bỏ biển đối với yêu cầu của Cách mạng, đối với nhiệm vụ của Đảng trước một tình thế như tình thế hiện nay!"

Khi Tô dằn sự váng vất trong người, ngồi xuống đặt tấm bảng gỗ lên đầu gối và vuốt vuốt trải trải tờ giấy bao thuốc lá ra, những ý nghĩ kia cất hẳn lên thành tiếng và là những tiếng dẽ dàng ngân nga trong tâm trí Tô. Đồng thời một mảnh giấy khác chữ ánh ánh như sao, như vàng diệp lại mở vụt ra trước tư tưởng của Tô: bức thư của Xim. Thư này Xim viết đúng một phần tư tờ giấy đánh máy cuộn nhét vào cuộng quả chuối mật phơi khô quắt gửi cùng với phong bánh chè lam. Ngoài những việc Chấn cũng bị bắt, Thành ủy Hải Phòng lại bị động, Xim còn cho Tô biết nhiều tin khác nữa.

Ở Đông Dương, phái đoàn kiểm soát của Nhật gồm rất nhiều võ quan do hẳn một tên tướng dẫn đầu đã chia đi đóng ở các tỉnh biên giới thuộc đạo quan binh quan trọng. Quân Nhật lại đưa cả tàu chiến đóng ở phía ngoài vịnh Bắc Kỳ nữa. Từ Hoa Nam, quân bộ của Nhật đã tràn xuống gần sát biên giới Lạng Sơn. Hai thằng thực dân đế quốc và quân phiệt phát xít xâm lược đang mặc cả với nhau rất gay gắt. Trong khi ấy ở bên Tây, quân phát xít Đức đã quay sang phía Đông. Mũi nhọn mạnh nhất của chúng đương nhằm tiến vào Liên bang Xô Viết. Còn sự đàn áp thợ thuyền và nhân dân Pháp thì càng dã man chưa từng thấy. Không biết bao nhiêu đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Pháp bị bắt làm con tin và bị bắn. Mặc dù bị cả quân phát xít Hítle và bộ máy chính phủ Pháp tay sai khủng bố như thế, nhưng Đảng Cộng sản Pháp vẫn không lùi bước. Nhiều nơi, ngay trong những vòng kiểm soát gắt gao vô cùng của chúng, bọn phát xít Đức và Pháp tay sai vẫn bị trừng trị. Còn ở Đông Dương tinh thần thợ thuyền và quần chúng vẫn hướng về cách mạng, và trước tình thế hiện nay càng tin cậy, trông đợi ở Đảng.

Bức thư ngắn với những dòng chữ nắn nót từng nét nhưng vẫn nguệch ngoạc và sai lỗi của Xim viết theo những mật hiệu và tình ý mà nhiều đoạn Tô phải nghĩ, phải tưởng tượng, phải đoán mãi mới thấy được ấy, lại nổi lên như một bài báo, một trang sách, một bản hiệu triệu ở trước mắt Tô và mở ra không biết bao nhiêu hình ảnh và sự việc. Mồ hôi trán Tô vã ra. Những giọt, những ngấn mồ hôi ấy Tô thấy như từ những dòng chữ ánh ánh nhói nhói kia làm toát ra vậy!

- Chỉ có làm việc thôi! Chỉ có làm việc thôi! Cướp lấy thời gian mà làm việc! Vượt lên hoàn cảnh mà làm

việc. Nếu cần đắp thịt chắp xương cho công việc thì cũng phải làm.

Dưới tay Tô, những dòng chữ đã nối tiếp nhau chi chít như kiến trên mặt giấy hăng hắc mùi thuốc lá rồi, mà những ý nghĩ về công việc vẫn nhức nhói trong tâm trí Tô. Cán bộ và cán bộ... Cán bộ cho cách mạng cho Đảng. Cán bộ để mau chóng đắp vào những lỗ hổng đau xót vô cùng mà đế quốc đã khoét vào phong trào. Cán bộ như mạch máu của thân thể con người. Cán bộ như những người lính, những chỉ huy trên mặt trận. Cán bộ để làm việc ngay, đẩy mạnh cách mạng tiến bước, nắm vững và giơ cao thêm ngọn cờ đỏ búa liềm, cùng quần chúng chiến đấu một sống một chết với quân thù, lật tan chế độ đen tối này đi, xây dựng một chế độ mới sáng tươi hạnh phúc...

Bốn chị em ở trại xà lim bên kia, người trong tháng này, người đến tháng sau sẽ hết hạn tù. Tám anh em, người còn ba tháng, người năm tháng, và một số anh em sẽ bị đưa sang Sở mật thám để về quản thúc ở quê hương, hay phải lên trại giam...

Hơn hai mươi hình ảnh vừa thanh niên vừa phụ nữ, người là thợ Máy tơ, Máy chỉ, Xi măng, người là học sinh, tiểu thương đoàn viên Đoàn thanh niên Dân chủ, người làm phu phen khuân vác ở bến tàu to Sáu Kho được chọn làm cơ sở của mối giao thông từ Hải Phòng ra Móng Cái, người đã bị bắt giữa lúc đương phát truyền đơn, treo cờ, người bị khám thấy trong nhà vẫn giữ đủ những sách báo công khai của Đảng in từ đầu thời kỳ Mặt trận Bình dân, người bị theo dõi hàng sáu bảy tháng rồi mà không biết, lúc bị mật thám đánh chết đi sống lại nhưng cứ nhất định không làm gì, không liên lạc với ai cả, hơn hai mươi gương mặt sao mà khỏe mạnh, tươi sáng, lồng lộng! Bao nhiêu kết quả của bao nhiêu năm đấu tranh mới có được đây! Máu của cách mạng và máu của bao nhiêu đồng chí đã khuất của Tô thành những hạt nhân giao phó lại cho Tô vẫn còn nóng hổi, đỏ rói ở ngay trên sàn gỗ lim, giữa những lớp cửa sắt, trên những cùm những khóa mà giờ đây Tô đương lắng nghe tiếng thở, tiếng đập để suy nghĩ, tưởng tượng lo toan, hy vọng. Máu của thành phố kỹ nghệ và hải cảng Hải Phòng nơi Tô đã được điều về công tác, - một mặt đất đã làm Tô thấy thế nào là nguồn vui và lẽ sống, đã dạy Tô thấy thế nào là đạo đức và nhân phẩm, đã cho Tô cả một niềm tự hào được sống vì nó, chết vì nó, và một vinh dự làm một đảng viên của Đảng bộ của nó, chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của nó trong sự nghiệp giải phóng của giai cấp vô sản, của dân tộc, của nhân loại.

- Chỉ có làm việc thôi! Chỉ có làm việc thôi! Cướp lấy thời gian mà làm việc!

Lại xong được một bản. Khi Tô đặt lại tấm bảng gỗ số tù sơn hắc ín trên đầu gối, Tô vuốt vuốt trải trải miếng giấy bao thuốc lá nữa và đặt đầu bút chì lên góc trên cùng định viết tiếp, thì mặt Tô dần dần tối sầm, từ đỉnh đầu Tô và cũng từ trong ngực Tô cái cảm giác choáng váng trĩu nặng cứ vòng vòng ra chỉ rình kéo người Tô sập xuống. Tô phải nhẹ nhẹ gục đầu lên cánh tay, mắt nhắm từ từ, lắng tâm trí lại, rồi chỉ mấy phút sau đấy Tô lại viết. Ở bàn này những dòng chữ càng sít hơn, nét chữ lại nhỏ thêm như những chân kiến, nhưng càng nhìn càng anh ánh, càng rõ, càng đẹp, và có một cái gì rất lạ khiến những ai lần đầu tiên được trông thấy đều phải tự hỏi.

- Chữ viết gì thế này? Chữ ai viết thế này? Những cái gì viết ở trong này đây?!

*

Chiều nay vùng trời trên cảng Hải Phòng càng xanh càng trong. Mây trắng làm thành những lớp núi non hang động Yên Tử, Hạ Long thứ hai và thành những cánh buồm, những con tàu, những cánh chim, những cá kình, những đàn voi kỳ lạ soi xuống sông Cửa Cấm, sông Bạch Đằng và ngoài khơi. Nước sa đổ về cũng càng đỏ, càng lầm, băng băng, cuồn cuộn, sáng lòa, tràn lên cả các bãi chân núi chân đồi. Gió thổi mạnh. Sóng sông sóng khơi dào dạt. Đường phố cũng ầm ầm, nhiều quãng bụi cuốn lên hàng trăm thước vẫn còn mù mịt. Bốn ống khói lò nung của nhà máy Xi măng dựng lên thành bốn cây nến với bốn dải khói tạt dài về phía đường năm. Những ống khói của các khu Máy tơ, Máy chỉ, Sáu Kho, nhà ga cũng từng lớp đùn lên, quấn quýt với mây trời. Tiếng rung chuyển vang động trên các bến sông và ở các khu nhà máy, xưởng thợ, kho hàng hóa với tiếng sóng gió sông biển dội lên trên thành phố và hải cảng một âm vang cũng đặc biệt như ánh sáng, không khí và trời mây.

Về chiều, trong trại giam tù chính trị càng ngột ngạt. Không còn ai nằm nữa. Lại chơi, lại học, lại hát và bồn chồn đi lại chờ giờ ra ngoài sân. Cái thân hình gày yếu, gương mặt xanh xao và cặp mắt sâu hốc của Tô càng lặng lẽ, cắm cúi. Đã được hai bản viết. Bốn mặt giấy bao thuốc lá đều kín chữ. Trưa nay, suốt từ lúc anh em ngủ yên, Tô lại chỉ ngồi viết, không đứng lên đi uống nước và cũng không ngả lưng vào tường lim dim mắt nghỉ ngơi mấy phút như mọi khi...

Ba giờ rưỡi xubadăng mới mở cửa trại, anh em mới được ra sân. Cỏ vê thường phạm sẽ theo xubadăng vào trại khiêng thùng vệ sinh ra. Giờ độc nhất có liên lạc để chuyển tài liệu sang trại xà lim cho chị em. Bản đề cương chỉ còn một mục hơn năm trăm chữ nữa thì chuyển sang phần tổ chức và công tác. Lương và Sấm cũng bồn chồn. Họ chờ bản viết của Tô và nhăm nhăm ở gần chỗ thùng vệ sinh để rình cái phút xubadăng mở cửa thì giấu bản viết vào một kẽ bí mật của cái hòm thư đã hẹn với hai người tù cỏ vê án thường nọ nhờ họ chuyển.

Chỉ còn nửa giờ nữa Tô vừa nghĩ và phải viết cho xong bản huấn luyện, và như thế cũng chỉ còn ba bốn ngày nữa bọn Tô sẽ bị giải lên Hà Nội. Lên đây, dù y án, hay tăng án, phát vãng Sơn La hay lại đi Côn Đảo, Tô cũng đề nghị với tổ chức bố trí cho một số anh em vượt ngục. Nếu tổ chức đồng ý mà trong số anh em đó lại không có Tô cũng được. Nhưng sao Tô lại không được?

- Ta vẫn đủ sức... Ta lại ra ngoài tiếp tục hoạt động... Ta vẫn đủ sức... Lên Sơn La hay đi Côn Đảo, và được Đảng phân công gì ta cũng vẫn còn đủ sức!

Tiếng cửa sắt đã kéo then kin kít. Tiếng chùm chìa khóa xóc xách đi vào. Trao bản viết cho Sấm, gương mặt Tô tỉnh hẳn lên, Tô lại nhìn ra cánh cửa sắt ngoài trại mở khóa và phía ngoài khoảng trời xanh chói nắng. Những ý nghĩ trên kia lại loáng lên trong tâm trí Tô.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 19 tháng 7 năm 2025

« Lùi
Tiến »