Nguyên Hồng Toàn Tập 3

Lượt đọc: 970 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cơn Bão Đã Đến
Chương 6

Trong đám anh em thợ về tầm ấy có một người cũng mặc quần áo xanh tuy không két cáu dầu mỡ, mồ hôi nhưng cũng rách vá, lấm láp. Còn gương mặt cùng dáng người anh tuy không lam lũ quá nhưng cũng gày hốc và có vẻ yếu mệt hơn mấy người cùng trạc đi bên mình. Cái mũ của anh lõi bằng bấc không lợp vải mà sơn xám, đội chụp xuống gần nửa trán để tránh nắng cho cặp mắt đã bị lông quặm kinh niên, tuy vậy mỗi khi liếc nhìn thì vẫn quăng quắc, tinh sáng một cách lạ. Anh cặp ở nách tờ báo hàng ngày Đông Pháp và một miếng vải xanh bọc một kìm điện và một lắc lê nhỏ. Cả mấy bọn thợ về quãng đường ấy đều không quen anh, nhưng cứ cái nét mặt và dáng đi của anh, thì người ta tưởng như anh làm cùng sở với những anh em nọ và đương cùng họ bàn tán chuyện trò ở dọc đường một cách khá là sốt sắng, hồ hởi.

- Thôi! Chỉ chịu khó hơn tháng nữa là ta cũng có thể khá hơn cả về điện về máy nổ để vào làm việc nếu không được ở nhà máy Xi măng thì cũng ở Máy điện, Máy chỉ. Như thế chính giờ này là giờ ta sẽ cùng những anh em thợ đây về tầm, chuyện nhà máy, chuyện gia đình, chuyện làm, chuyện ăn phải biết là rôm rả!

Tô, cái người gày hốc có vẻ yếu mệt cũng mặc quần áo xanh đi trong đám anh em thợ ấy, tự nhủ. Những ý nghĩ trên đây vừa thoáng qua thì Tô loáng mắt lên nhìn hai thanh niên ở phía đầu cầu nhà máy Xi măng đi lại.

- "Thế nào, cả ông tướng Vy nhớn, ông tướng Cam cũng đến nhà Sấm? Báo cáo hay có việc gì gấp mà sầm sầm đi thế kia? Căn dặn mãi vẫn chẳng chịu giữ gìn, xem xét, ý tứ gì cả!"

Tô giả vờ quên chưa mua mấy điếu thuốc lá để hút sau bữa cơm trưa, rẽ vào một hàng nước bên đường. Tô ngồi nép vào một bọn đương xúm xít lật bát cho bà hàng rót nước chè tươi, không cho Vy nhớn và Cam trông thấy mình. Trong khi ấy Tô vẫn không bỏ sót một vẻ mặt, một tiếng nói, một cử chỉ gì của hai cậu nọ. Chờ cả hai đi khuất vào trong ngõ, Tô mới ngồi hẳn xuống ghế, cũng lật bát gọi mua bát nước và một xu kẹo bột.

- "Hoàn thành nhiệm vụ rồi, làm gì mà chả phởn, chả khoái! Nhất là lại được thử thách đấu tranh trong lúc này!"

Gương mặt trẻ trung lồng lộng tinh thần chiến đấu hy sinh dũng cảm của Vy nhớn và Cam lại roi rói trong trí nghĩ của Tô. Tô lại càng thấy trách nhiệm của Tô nặng nề và nghiêm khắc vô cùng. Tô đã uống hết hai bát nước và ăn cả xu kẹo bột. Nhưng Tô cố ngồi nán chút nữa rồi mới đứng dậy. Tô mua thêm hai xu vừa kẹo vừng vừa kẹo bột để làm quà cho các con Sấm. Tô sắp sửa vào ngõ nhà Sấm vừa lúc Vy nhớn và Cam đi ra, về lối đằng kia. Tô trông trước trông sau để xem xét cả cho Tô và Vy nhớn, Cam. Mặc dầu đã có Vy nhớn và Cam vào nhà Sấm trước rồi, Tô vẫn để ý đến cái ám hiệu ở tấm mành mành trước cửa nhà Sấm. Thấy vẫn y nguyên, Tô mới vào thẳng nhà.

Nghe tiếng con chó xích ở giậu nứa cắn rồ lên và bên trái cái mành có người vén, Sấm vắt vội mũi cho thằng bé đương bíu lấy mình, chạy ra đón:

- Anh Ba gày!

Cả vợ Sấm đương nằm võng với thằng bé út cũng reo lên:

- Anh Ba giờ mới đến!

Tô lại nhìn đồng hồ nhà Sấm: một giờ kém mười lăm. Giờ hẹn như thế chậm mất mười lăm phút. Tô đón tay thằng bé thứ năm của vợ chồng Sấm, cho nó một cái kẹo vừng. Tô đến võng vợ Sấm, đưa cả kẹo cho Sấm và thằng bé đương ru bú. Sấm cười, nụ cười của một vẻ mặt chất phác gần như là dại nguếch. Sấm cũng chìa bàn tay ra:

- Thế phần quà tôi đâu? Tổ trưởng bảo vệ phụ nữ và nhi đồng mà không được gì cả!

- Có đây! Có đây! Mà lại là quà đặc biệt!

Vợ Sấm vội quài cánh tay ra:

- Ấy ấy anh Ba phải đưa tôi giữ, đưa tôi giữ! Có gì tôi chỉ phát cho ông ấy năm điếu; một sáng sớm dậy đi tầm, một lúc bữa cơm trưa, một dậy đi tầm chiều, một lúc ăn cơm tối và một lúc sắp đi ngủ.

Tô suýt phát sặc lên vì cười:

- Thế thì ông ấy thành ông ăn xin của bà Sấm mất!

Vợ Sấm cũng bặm miệng lại để nhịn cười:

- Khốn nhưng dạo này ông ấy cứ ho quàng quạc. Tôi giấu điếu đi thì lại mò sang hàng xóm hút. Nắng bức về nhà cơm cháo đã chẳng ăn được lại còn cứ hút thuốc cho phát ho phát suyễn lên!

- Thế bà đã ăn trầu vỏ lại còn hãm cả thuốc lào cứ từng nạm từng nút thì sao? Thôi nhé, anh Ba cứ chia cho tôi nửa non còn bà ấy nửa già, cho bà ấy bằng lòng. Và cấm chỉ không ai được xin ai.

Cả vợ chồng Sấm đều túm lấy nửa bánh thuốc lào chính cống Tiên Lãng của Tô cho, cứ giằng giữ nhau như trẻ con cướp phần. Cuối cùng, Sấm đưa cả cho vợ cất vào một hộp sắt tây rồi cùng Tô vào gian nhà trong ngồi xuống cái giường kê áp với bàn trông ra cửa sổ. Trong cái phút im lặng vào công việc, gương mặt bầu bầu của Sấm vẫn giữ cái vẻ chất phác đôn hậu và như lúc nào cũng cười với bà con anh em ở chung quanh. Sấm chậm rãi nói trước. Sấm báo cáo về cuộc rải truyền đơn treo cờ của Vy nhớn, của Cam... Sấm báo cáo về cuộc phát truyền đơn treo cờ của Sấm. Sấm báo cáo giờ giấc diễn biến công việc của từng cuộc từng người. Sấm báo cáo tình hình và tinh thần quần chúng, đặc biệt là của anh em công nhân khi thấy cờ kéo lên và truyền đơn rải ra. Sấm báo cáo tình hình thái độ bọn mật thám đội xếp và bọn chủ, bọn đốc công nhà máy khi ta nổ đấu tranh, theo báo cáo của Vy nhớn, của Cam, của các cơ sở gần đấy, và lời bàn tán của quần chúng.

Tô hồi hộp ghi nhớ từng sự việc, từng giây phút, từng chi tiết, từng câu nói của quần chúng, của anh em công nhân, của các cơ sở, và từng phản ứng của bọn thống trị. Có nhiều việc, nhiều chi tiết, Tô sợ mình sau đây báo cáo lại trước thành ủy và báo cáo tổng kết lên xứ ủy sẽ không lột hết được tinh thần và cụ thể từng con số, từng địa danh địa điểm, Tô đều hỏi lại Sấm, nhắc lại nguyên văn câu Sấm nói và còn hỏi thêm Sấm: "Như thế mình ghi nhớ có thật đúng không?...". Sắp xếp thật rõ ràng, đầy đủ lại bản báo cáo của Sấm ở trong trí xong, Tô báo cáo lại với Sấm những cuộc đấu tranh ở khu vực Tô trực tiếp lãnh đạo. Giờ đến lượt nét mặt Sấm đăm đắm và hồi hộp. Nhiều lúc Sấm phải cắn lấy môi và mở ra nắm lại bàn tay, vừa thở rít lên khe khẽ.

- Cũng đúng bốn giờ rưỡi sáng?! Cũng treo hết được các cờ, rải hết được truyền đơn?! Lại còn dán thêm hai áp phích và căng thêm một biểu ngữ nữa?

Sấm hỏi, Sấm nói thầm trong tâm trí, vừa phải cố sức nén xuống một sự căng thẳng gần như có thể làm đứt mất mạch óc của Sấm.

Những hình ảnh, những ý nghĩ cứ phùn phụt rực lên, bay đi, rồi lại rực lên, rồi bay đi ở trước mắt Sấm.

Ngoài trời càng nắng. Khói lò nung và bụi than nhà điện của khu Xi măng càng mờ mịt, đen ngòm, rừng rực. Cát bụi ở con đường số Năm bốc lên, trộn theo. Bãi than xỉ ở cạnh đường phố và cạnh đầm nước nóng nhà điện phía sau ngõ nhà Sấm, vừa chang chang nắng vừa ngun ngút khói bụi, càng đông thêm những người sàng than, nắm than. Toàn là đàn bà trẻ con. Hai đứa con gái lớn và thằng con thứ ba nhà Sấm cũng chen chúc ở đây. Chẳng đứa nào có cái nón cái mũ ra hồn cả. Đứa đội cái mê nón cũ của mẹ. Đứa cắm một cành cây buộc mảnh giấy bao xi măng để che đầu. Đứa bện mấy cành dâm bụt kết trên đầu và phủ thêm một tàu lá chuối khô. Cũng như những trẻ con các gia đình làm nhà máy, ba đứa nọ đãi than như thế để cố kiếm lấy ngày hơn hào, đỡ nhà đong gạo và may lấy cái quần đùi, cái áo may ô, chứ cũng chẳng dám ăn lấy xu bánh đúc hay xu chuối. Trong đám nhặt than này, ba mẹ con nhà bác Gái mù ở cạnh nhà Sấm đem cả cơm đi ăn, riêng người mẹ đã chẳng nghỉ trưa lại còn bắt đứa con gái lớn dắt bà gánh một gánh than lên tận bến đò Xi măng để bán cho nhà hàng phở họ đã cho vay tiền trước để mẹ con ăn gạo.

Sấm chợt nhìn bốn ống khói lò thân thuộc của Sấm. Cả bốn lò khói đều trắng lóa, nghi ngút trong nắng chói. Sấm nghe những tiếng ầm ì rung chuyển của khu nhà máy về chiều đương như rên, như xé và cũng như gầm lên vì phải dốc sức ra cho chiến tranh. Phải! Nhà máy Xi măng của Sấm không chỉ như rên như xé vì phải dốc sức ra cho cuộc chiến tranh kiếm lời của đế quốc mà nó còn gầm lên để đón mừng ngọn cờ đỏ búa liềm từ năm 1930 đã xuất hiện và đúng mười năm sau, giữa lúc gọng kìm của thống trị lại bắt đầu siết chặt, thì ngọn cờ lại vừa kéo lên. Không như năm 1930, Sấm chỉ được trông thấy ngọn cờ chói rọi bay phần phật giữa khu Lò nung và khu Máy điện. Cũng không như năm 1930 cùng lúc với những truyền đơn những áp phích hô hào đấu tranh, Sấm chỉ được nhận, được đọc cái tờ báo bằng khổ giấy học trò, chữ in thạch mờ nhòe cũng vẽ hình búa liềm lấy ngay tiếng Ximoong làm tên báo. Ngày nay, chính tay Sấm đã kéo cờ lên, và chính tay Sấm còn trao cờ cho những tổ viên của Sấm treo nữa. Truyền đơn và áp phích bây giờ cũng làm thế. Nghĩa là Sấm không những được hoàn toàn chủ động vận mệnh của mình, mà trước bão lốc đen tối của khủng bố, Sấm còn được tham dự vào một tổ chức chiến đấu, đứng trong một đội ngũ xung kích và được tham gia trực tiếp vào một bộ phận lãnh đạo chiến đấu.

Sấm nheo nheo mắt trông ba đứa con rách rưới đen nhẻm ngồi đầy ngoài nắng bên cạnh ba mẹ con nhà bác Gái mù cùng làm trước đây dưới gầm lò với vợ Sấm, và đám đàn bà trẻ con vợ con các bạn thợ của Sấm. Rồi Sấm trông hút vào cái khối chói chang, mù mịt, ầm ầm chuyển động của khu nhà máy. Tòa nhà như lâu đài vua chúa của thằng chủ nhất và cái biệt thự đẹp nhất Hải Phòng của thằng chủ nhì sở Xi măng bán lại cho thằng chủ thầu kiêm chủ báo Đờvanhxy, và cả khu khách sạn Ba Lê, Thương Mại, Thiên Tân tầng tầng lớp lớp bỗng rùng rùng nổi lên. Tất cả những tường, những thềm, những bệ, những buồng nọ phòng kia rõ ràng là những khối giấy bạc đúc lại bằng da thịt xương tủy của công nhân bị hàng mấy chục năm nay bóc lột, đã phơi đã ép trong lửa, trong than, trong máy, trong bụi...

- "Toàn Hải Phòng đấu tranh kỷ niệm ngày Một tháng Năm rồi thì Xi măng phải làm gì chứ?"

Câu hỏi đó không phải chỉ thì thầm trong tâm trí Sấm mà như cất lên thành chữ lấp lánh trong mắt và trên gương mặt Sấm, rồi như truyền sang cả mặt Tô và tâm trí Tô. Chợt con chó xích ngoài bờ rào lại cắn, cái mành bị giằng giằng. Tôi vội đập chát quân xe xuống bàn cờ, cười:

- Chiếu tướng!... Chiếu tướng này!

Sấm ra cái giọng bực tức:

- Hãy gượm... Hãy gượm!... Xem khách nào vào chơi

kia kìa.

- Khách nợ đây y y y... khách nợ đây y y y... Ông Sấm ông Sét ơi! Ông có hộ tôi, không tôi đến chết mất vì cửa với giả bây giờ!

Một bà lễ mễ bê một tấm gỗ lim trên mặt lỉnh kỉnh nào bản lề, nào đinh và cả búa cả kìm nữa.

Vợ Sấm quay ra cười hô hố:

- Lại bà Khổ thân khổ đời! Bà Khổ thân khổ đời ơi, bà làm gì mà lại khổ thân khổ đời thế kia?!...

Bà nọ lại càng rền rĩ:

- Ông Sấm, ông Sét ơi! Ông có rỗi, ông lắp hộ tôi bản lề cái cửa này bây giờ hay đến chiều thì ông hộ. Nhưng chỉ nội nhật tối nay thôi, để tôi còn đi làm ca đêm. Thôi tôi đành chịu khổ cái thân cái đời ngủ như ở xà lim, ở hầm lò cũng được. Chứ không lắp cái cửa... thì cha tiên nhân những quân chó má khốn nạn, chúng nó cũng hai chân hai tay như người ta, chúng nó có đói thì phải làm mà ăn, chứ đừng ăn cắp của người ta. Hay chúng nó có thèm ăn thèm uống, thì phải vắt cái dãi đi chứ đừng có cờ bạc để cướp lấy tiền của người ta không được, thì về nhà về xóm mà xoay giở, làm cho người ta khổ cái thân cái đời, hai ông ạ!...

Bà nọ vừa dứt nhời, một bà hàng xóm nữa vào nhà, chẳng chào hỏi gì ai, cứ nói sa sả như cả Tô và Sấm đương chăm chú nghe chuyện mình vậy:

- Bác Sấm xem, tháng trước nó đã ăn đứt mất hai đồng đầu thẻ của cái gái nhà tôi, tháng này nó tính toán thế nào lại ăn mất của con bé hẳn hai công nữa. Nó mà cứ ăn uống bẩn thỉu như thế thì cha con đẻ mẹ nó, nó là cai, nó là chú mật thám, chứ nó là... giời thì tôi cũng cho nó ăn một xe đá... rồi muốn ra sao thì ra!

Đã hai giờ ba mươi nhăm. Tô xóa bàn cờ đi, chào hai bà cùng làm chỗ với vợ Sấm nọ, chào vợ chồng Sấm, xoa đầu hai thằng bé con Sấm rồi đi. Vợ Sấm còn cố chọn thêm mấy quả vải vừa to vừa đỏ mọng, chạy theo dúi vào túi áo Tô. Còn Sấm sau khi bắt tay Tô và lại thấy Tô cấu cấu vào tay mình mà đưa mắt vào trong buồng chỗ Sấm giấu tài liệu và là cơ quan in dự bị thứ hai của thành ủy, thì Sấm nhìn theo Tô, cái gương mặt bầu bầu cười cười của Sấm như muốn nói:

- Anh Ba gày đừng lo quá cho chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ chủ quan lộ liễu đâu! Nếu như cơ sở của anh đương ở mà không tiện, anh cứ đến nhà tôi hay một nhà quần chúng trong xóm tôi. Chính con gái bà khách thứ hai này đã đọc truyền đơn nhặt được trong nhà máy rồi còn đem về nhà giấu đọc cả cho mẹ nghe đấy!

Tô ra đến đầu đường lại quay lại nhìn cái xóm Đình Hạ của Sấm. Xóm Đình Hạ của Sấm cũng như xóm Chiên Thương cũ của ông cụ Vy ở bên kia đường số Năm dưới chân nhà máy Xi măng, hầu hết người trong xóm là người đi làm cho nhà máy. Họ làm từ đời cha đến đời con. Lắm nhà có cả đời ông. Từ lúc bến sông Cửa Cấm còn là mấy xóm vạn chài heo hút, và sông Xi Măng còn là con ngòi bùn lầy, các cụ đã làm phu khơi sông, quật đất chuyên đá, xây kè, đóng móng rồi xây nhà máy. Sau đó các cụ làm cu li đội đất, đội đá ở lò đứng, làm cu li đóng thùng, khuân vác xi măng để nuôi con, nuôi cháu thành các thợ máy ngày nay. Sấm quê ở Thái Bình, còn vợ Sấm là người Đình Hạ. Ông bố vợ Sấm cũng là cu li lò nung. Còn ông bố Sấm làm khuân vác ngoài bến Sáu Kho. Mến cái tính cái nết của Sấm và của cả ông bố Sấm, cùng cảnh lầm than với nhau, ông bố vợ Sấm cho không Sấm vợ, và cho cả hai gian nhà ở này nữa... Chiều đã ngả bóng râm nhưng xóm Đình Hạ vẫn cứ nắng ngột nắng ngạt. Nhiều nhà dọn cơm ở bờ đầu hè, bờ ao, gốc cây, bờ giậu ăn để đi tầm. Họ làm tầm đêm và làm khoán từ sáu giờ chiều hôm nay đến sáu giờ sáng mai. Không những Tô chỉ để ý đến bọn mật thám, chỉ điểm mà khi qua từng ngõ, từng xóm Tô còn đặc biệt chú ý đến những bữa cơm, những câu chuyện, những tiếng nậng nịu dỗ dành hay chửi mắng gắt gỏng con cái, và những nét mặt, cách ăn nói của những anh chị em làm nhà máy.

Tô không đi ngõ chính ra đường cái - Tô đi quặt quẹo, vòng vèo xiên qua mấy ngõ nhỏ rồi qua lối bến đá để đi đò sang phố chứ không qua cầu Xi măng. Vừa kịp chuyến đò. Chuyến này toàn anh chị em công nhân. Người chở là một bà Hoa kiều. Cả hai người bán quà ở bến là hai bà già. Bọn trẻ bế em chơi chắt chuyền ở những đống đá đống gỗ quanh đấy cũng toàn là con cái mấy nhà quen trong ngõ. Đò vừa chống sào ra khỏi bờ, sóng nước đã ì oạp đập vào mạn, Tô bất giác nhìn ngay lại khu nhà máy Xi măng và cái cầu trên sông. Cái cầu làm toàn bằng xi măng cốt sắt, có bốn trụ cột chót vót trông như hai cái thang khổng lồ để kéo nhịp cầu ở giữa lên cho tàu bè qua lại hàng ngày đến những giờ nhất định. Trên bốn cái trụ cao chóng mặt, chằng chịt những dây điện ấy, có lẽ chưa ai trèo lên, đặc biệt là trèo lên gỡ những cái vướng víu vào các mớ dây điện chỉ trong nháy mắt là làm cháy đen người lại kia.

Tô nhíu nhíu cặp mắt lông quặm lâu nay lại còn có cả nhử nữa để nhìn, để thấy lại trong trí tưởng lá cờ búa liềm bay đỏ rói treo hôm kia ở giữa những lớp dây điện trên thượng tầng cột cầu mà người ta không cứ phải đứng giữa sông và trông thẳng lên nhịp cầu giữa mới thấy rõ. Từ mãi tít đầu đường Bônbe, từ cổng sau chợ Sắt, từ dốc cầu xe lửa, trên ngã ba sông Tam Bạc, và ở cả ngoài các cầu tàu to đỗ bến Sáu Kho, cũng thấy lá cờ đỏ búa liềm phấp phới. Cờ này Sấm treo. Sấm còn rải truyền đơn, dán áp phích, làm xong mọi việc vào quãng hai giờ sáng, lúc ba cái xe "vệ sinh" đi lấy phân ình ình về qua cầu.

Tô lại nhìn lên nóc bể chứa bùn và hai cột đèn trước cổng Nhà máy Xi măng. Trên nóc bể bùn cũng treo cờ, ở hai cột đèn và cổng nhà máy thì dán áp phích. Vy nhớn và Cam được Sấm phân công việc này. Hai thằng con lớn của hai đồng chí của Tô - một người đương công tác thoát ly, một người cùng tù đày với Tô nhưng đã hy sinh - còn treo cờ, dán áp phích ở cả Nhà hát Tây, trước trại lính khố xanh, và giữa bãi ô tô hàng Mỹ ngoài Sáu Kho nữa. Thế là cuộc kỷ niệm Quốc tế lao động của toàn Hải Phòng năm 1940 đã nổ. Từ ba giờ sáng, thợ thuyền và dân chúng Hải Phòng đã thấy cờ đỏ, áp phích và truyền đơn của Đảng cộng sản Đông Dương lại xuất hiện chiến đấu với bọn đế quốc thống trị ngay giữa thành phố.

Phải! Năm 1930, khi Đảng cộng sản Đông Dương thành lập, Tô còn là một thanh niên cũng vào trạc Vy nhớn và Cam bấy giờ. Tô cau cau trán:

- Hai cậu này qua mấy đợt thử thách tiến bộ hẳn lên. Nhưng vẫn còn tếu, chỉ thích mạo hiểm. Cả hai đều chưa được dự lớp huấn luyện dài nào về lý luận và công tác cách mạng. Mình cũng phải sắp xếp sao cho hai cậu ấy được học sơm sớm rồi giao thêm công tác, qua mấy cuộc đấu tranh nữa thì giới thiệu vào tổ chức để chính thức sinh hoạt với Sấm.

Con đò bỗng tròng trành vì hai cô nhà than không hiểu thích thú cái gì mà cứ vừa cười vừa đấm nhau thùm thụp. Tô cũng cười, ngồi nhích lại chỗ một bác thợ già cho đò thăng bằng. Tô nghĩ tiếp:

- Có thì phải chuẩn bị cho cậu Cam trước. Bọn thanh niên Máy đá và cả các bà, các bác thợ già đều tín nhiệm Cam. Nhưng Cam làm sao phải vẫn hăng hái, tích cực mà lại chín chắn, khéo léo trong công việc tuyên truyền vận động... Vẫn chỉ phải dự lớp huấn luyện thôi! Còn ta thì phải hợp lý hóa công việc hơn nữa để sớm mở được lớp này!

Đò cập bến trước cổng nhà máy Cốt phát. Tô lại để ý xem xét tình hình ở bến đò suốt dọc đường xuống gần ngõ nhà cụ Vy. Tô trông theo hai chị làm nhà than, một chị cũng bé nhỏ như Xim nhưng nhanh nhẹn và sắc sảo một cách lạ. Không biết người con gái bà cụ hàng xóm của Sấm đã nhặt truyền đơn giấu đem về đọc cho mẹ nghe kia có giống chị nhà than này không? Làm sao vợ Sấm liên lạc chặt chẽ hơn nữa với mấy phụ nữ có cảm tình ở nhà máy để Tô sẽ giới thiệu cho Xim. Còn Xim, Tô phải trao đổi thêm với Xứ ủy nên để Xim vẫn ở công vận hay đi binh vận hơn. Rồi cả công tác của Chấn nữa...

Chỉ vừa rẽ ra đầu đường cái, Tô đã thấy các mùi thức ăn của khách sạn Thiên Tân ngào ngạt trong gió. Tô ngước mắt lên thấy trên tầng sân thượng của khách sạn treo đèn kết hoa căng vải căng lụa rực rỡ tưng bừng còn hơn cả những sân đình sân chùa to và sân nhà thờ lớn những buổi vào đám hay rước lễ trọng thể. "Không hiểu ông cụ nhà Vy xây xong mấy bức tường, lắp cửa, sửa sang lại lối đi và sân sướng, sẽ còn làm thêm những gì nữa ở trong cái ngõ đằng sau khách sạn Thiên Tân kia? Nếu mấy gian nhà của cụ Vy ở xóm Chiên Thương năm xưa mà không bị cháy thì thành ủy bố trí cho ta đến ở nhà Vy đấy! Những công nhân già như cụ Vy và những gia đình như nhà Sấm sao mà quý! Đúng là ruột thịt của cách mạng, của tổ chức!"

Tô mím môi, trong tâm trí càng thấy da diết. "Bác Vy vẫn gửi đều báo cáo lên xứ ủy. Tình hình ngoài mỏ than Vàng Danh sau vụ hai đồng chí làm nhà sàng ở Uông Bí bị bắt tuy bị thiệt hại nặng nhưng cả mấy cơ sở ở trong mỏ cũng như ở nhà máy vẫn vững. Những cán sự như Sấm, như bác Vy càng ngày càng có nhiều triển vọng. Nhưng cảnh nhà ông cụ Vy thì thật là... Mấy hôm nay nắng bức ông cụ càng bần thần, càng như mất trí. Ông cụ phải nghỉ hai hôm rồi! Mình còn sáu đồng! Phải! Đúng sáu đồng! Tiền ăn cả tháng sáu! Thôi, cả tháng ăn này, mình đưa giúp gia đình ông cụ!"

- Thế thì lấy món nào để đập vào hở Ba gày?

Trước câu hỏi thầm này, Tô phải làm ngay những con tính toán. Mình còn ba đồng của nhà gửi cho mua thuốc! Thôi, giời bức này mà ăn cốm can xi om và tiêm păng xi lông không khéo lại háo người thêm. Ba đồng để mua thuốc ấy với hai đồng tiền công mình đóng sách trên phố chúng nó nhận về cho là năm đồng. Như thế thì bốn đồng mình đóng tiền cơm cho xê quy (1). Còn tiền quà mỗi ngày nhất định chỉ được tiêu ba xu mua xôi hay chuối buổi sáng, mua nước chè tươi uống trưa và mua thuốc lá, để dành đến khuya thết anh em khi đọc, khi dịch và in các tài liệu. Tháng tiêu như vậy mất chín hào. Còn một hào thì năm xu cắt tóc và năm xu xà phòng. Cắt tóc ở chợ Vườn hoa đưa người hay ở dốc Đầu cầu xe lửa càng dễ bắt chuyện và nghe các thứ chuyện trên đời. Còn sáu hào đảng phí, mình sẽ nói với chúng nó nhận về thêm cho ba quyển sách nữa để làm lấy tiền mà đóng. Thế là năm đồng của tổ chức cho ta hàng tháng để ta ăn uống vẫn còn nguyên, hoàn toàn gửi trả lại quỹ của xứ ủy.

⚝ ✽ ⚝

[1] Cơ quan (CQ).

Tô thấy vui vui trong lòng.

Tháng này phải nhắc chúng nó mua đầu gà, đầu vịt, cánh gà, cánh vịt của nhà Thiên Tân mới được. Mua một hào những thức kia về mà nấu với hành tây khoai tây của các bà đi mót ở ngoài Sáu Kho, và thêm xu cà rốt, xu tỏi mua ở bến đò chiều chợ Sắt thì cũng được ít ra một nồi bọng xúp. Xúp này vừa ngon vừa bổ còn hơn cả yến tần, long tu các món tiệc ở các nhà Thiên Tân, Đông Hưng Viên!...

Tô mỉm cười, có cảm giác như đương cùng anh em bưng cái nồi xúp tuyệt vời, sao nhấp nhánh, hơi nóng nghi ngút từ dưới bếp lên, và loáng cái đã đánh vèo nồi cơm mà bữa này phải thổi thêm hàng hai bát gạo, đồng chí đóng vai làm thằng quýt nhà bếp phải hỏi đến lần thứ hai ý kiến anh em, còn đồng chí giám sát tài chính cơ quan phải suy tính mãi mới dám để lấy thêm gạo.

Chợt Tô vội ngắt những hình ảnh trên đây lại. Tô đã đi khỏi khu sửa chữa tàu của hãng Sacờrích. Một bãi bỏ hoang có một hồ rộng mở ra ở bên đường phía tay trái Tô. Con sông đào và khu nhà máy Xi măng lại nổi lên ở trước mặt Tô, khói bụi mờ mịt. Tất cả những ống khói, tầng máy, cần trục, cột điện, hầm lò, cửa kho, quầy tàu, đường sắt, xe goòng... đều như đang cuồng lên, gầm rít, rền rĩ, nghiến ngáu, tắc nghẹn vì cuốn hút hơi sức của con người.

Tô trông ra phía bến tàu Sáu Kho. Cái hải cảng trên con sông Cửa Cấm nắng chói chang cũng đen rầm và rùng rùng như thế. Mặt sông nước sa đổ về đỏ nhờn những váng dầu của các tàu chở hàng, tàu chiến, sà lúp, sà lan, ca nô, boọc. Từng mảng trời ngụt hẳn lên như đám cháy đã vạc lửa, mờ mịt những khói tàu, khói xe, bụi than, bụi thóc gạo ngô đỗ và hơi người. Tiếng chuyển động ở đây còn thêm tiếng súc vật kêu hét, rống rít lùa xuống các hầm tàu.

Xa xa, biển Đông như có hàng ngàn hàng vạn cỗ máy đương chạy đua với tiếng sóng, tiếng gió.

Những ý nghĩ về chiến tranh lại xoáy lấy tâm trí Tô. Quân của phát xít Hítle đã tràn qua cả Hà Lan, Bỉ rồi. Mặc dầu các báo, đặc biệt là hãng Aríp của Pháp, đưa tin một cách hết sức quái quỷ và trắng trợn, nhưng sự thật vẫn cứ không thể bưng bít được. Đó là sức mạnh tàn bạo của quân Đức trên những đất nước chúng tới. Nước Pháp đương từng ngày từng ngày làm cái đích của cơn bão đen phát xít đổ xuống. Trong khi đó quân Anh, bạn đồng minh hùng hậu ghê gớm của Pháp, vẫn cứ như ma trơi. Cái hạm đội vô địch của Hoàng gia đế quốc Anh Cát Lợi mà từ phía chân trời lúc rạng đông đến phía chân trời lúc vầng ô lặn đều có bóng cờ kia, vẫn cứ rập rình diễu lượn ở không biết phía nào ngoài biển Măngxơ, và không phải để sửa soạn giáp chiến với quân Hítle mà chính vẫn là nhằm gạt cái mũi nhọn phát xít vào... Liên bang Xô Viết, thành trì của cách mạng thế giới, đất nước đầu tiên của xã hội chủ nghĩa.

Chiến tranh bùng nổ đã hơn sáu tháng rồi! Sau ngày quân Quốc xã tràn vào Ba Lan, Hítle đứng ở ngoại vi kinh đô Vácxôvi giữa các đại tướng của y đã giơ ngang cánh tay mà nói:

- "Con đường đông tiến qua trên những đống than tro và hoang tàn của lâu đài vua chúa, của tất cả nền văn minh và văn hóa Ba Lan..." Lịch sử nhân loại phải ghi sâu thêm một tội ác của cuộc chiến tranh xâm lăng. Trước bầy thú vật vị chủng Đức quốc xã, thật là một mảng da thịt của nhân loại đã bị những móng vuốt của một sức mạnh dã man nhất, hung hãn nhất, phản tiến hóa nhất quắp giữ và xâu xé.

Tô rảo bước. Trán Tô nhíu lại. Tô càng tự hào và cũng càng thấm thía vì những nhận định của Đảng, và càng thấy trách nhiệm nặng nề của mình. Đúng! Cái nguy cơ và thảm họa khốc liệt do bọn phát xít chính danh là sen đầm của đế quốc ấy gây nên, đã được Quốc tế cộng sản gióng chuông báo hiệu với toàn thể nhân loại. Bọn chúng đã bị vạch mặt ngay từ ngày Hítle được lên nắm chính quyền, phát xít hóa nước Đức,.... từ cuộc tấn công của bọn Fờrăngcô mà bè lũ đế quốc ngang nhiên và tích cực giúp đỡ với cái chính sách tối phản động của chúng gọi là bất can thiệp nhưng thật là trâng tráo can thiệp, hùa nhau vào mà can thiệp. Rồi tháng tám năm 1938, diễn ra cuộc ký kết hiệp ước Muyních mà hai tên lái buôn xương thịt là Đalađiê và Sămbéclanh, đã bán một phần thân thể của đất nước Tiệp Khắc, vùng Xuy Đét, cho tên tướng cướp Hítle để làm lễ thiêu cho Hítle đánh Liên Xô, thì tất cả những người chính trực đều thấy tiếng nói duy nhất của chính nghĩa là tiếng nói của Quốc tế vô sản.

Bước chân của Tô như gấp lên. Trong tâm trí Tô lại rành rẽ những câu nói vừa là của những ai kia nói với Tô, vừa là của chính Tô nói với Tô, hay của chính Tô nói với chung quanh vậy:

- Nhưng thấy cái thảm họa của chiến tranh phát xít mà các dân tộc bị xâm lược và quần chúng lao động đương phải chịu đựng và còn phải chịu đựng đau khổ không biết chừng nào nữa ấy, thấy như thế không phải để thành con đà điểu trước những cơn nguy biến thì rúc đầu vào cánh! Thấy như thế, những ai là những người suy nghĩ và đã được giác ngộ về vận mệnh cùng sự sống của mình, càng phải tin tưởng hơn ở cách mạng, càng phải chuyển hết sức mình ra mà chiến đấu cho Chân lý, cho Cách mạng. Thấy như thế những đảng viên cộng sản, những chiến sĩ cách mạng càng phải hết sức làm việc, làm việc ngày đêm, làm việc không được thấy mình mệt, yếu, để lay động mạnh hơn nữa tâm hồn ý thức và tinh thần đấu tranh của quần chúng... Thấy như thế để những đảng viên cộng sản và những chiến sĩ cách mạng nhận thức được một cách triệt để và tích cực hơn về vai trò lãnh đạo của mình, về vị trí của hàng ngũ chiến đấu của mình trước bước ngoặt nghiêm trọng của lịch sử, và cũng để tự hào hơn nữa, hy sinh hơn nữa trong cuộc chiến đấu một sống một chết với quân thù của giai cấp vô sản, của quần chúng lao động, của các dân tộc bị áp bức, của cả nhân loại, là bọn phát xít đương hoành hành, ngạo nghễ, điên cuồng và nhất thời chiến thắng kia!...

Chợt Tô quay lại nhìn phía trời đằng tây với cái ráng đỏ bầm bầm, oi ả rừng rực. Tô cũng nhìn lại khu Nhà máy Xi măng và khu hải cảng Sáu Kho giờ này càng khói, càng bụi, càng ầm ầm. Tâm trí Tô càng xoắn lại vì nghĩ đến các công việc... Kỷ niệm ngày Một tháng Năm đã thực hiện đúng nghị quyết của thành ủy. Một cuộc đấu tranh khác, lớn mạnh và có phần gay go hơn, chỉ ba hôm nữa sẽ nổ. Nhà Máy tơ của Hải Phòng với hơn bốn ngàn công nhân sẽ đình công. Sau cuộc đình công này, những lớp huấn luyện đặc biệt sẽ mở gấp cho những anh chị em vừa được qua hai cuộc thử thách mà thành ủy nhằm sẽ tổ chức và chuẩn bị cho một số đi công tác thoát ly... Tô nao nức hẳn lên cả vui sướng và lo âu, và tâm trí Tô lại nhức nhói. Sự nhức nhói những khi Tô nghĩ đến, Tô thấy mình vẫn làm việc như chậm quá, ít cố gắng quá. Tô chưa phát huy được nhiều những kinh nghiệm xương máu, những bài học xương máu của bao nhiêu đồng chí đã hy sinh, của bao nhiêu phong trào quần chúng đã tiến bước. Nghĩa là nhiệm vụ của xứ ủy, của Trung ương giao cho Tô, Tô vẫn chưa làm được theo kịp yêu cầu của cách mạng trước giai đoạn nghiêm trọng khẩn cấp giờ đây.

... Khách sạn Thiên Tân chất ngất, choáng lộng đã dập dìu ngay trước mặt Tô. Tô vào một ngõ phía trên ngõ Vinh Phát Tường nhà cụ Vy. Đây là nhà một đồng chí cơ sở cũng ở Nhà máy Xi măng. Đồng chí này làm thợ điện, bác Vy giới thiệu lại cho Tô. Tô vào, cũng lấy báo cáo về tinh thần chung của nhà máy và riêng của nhà điện sau ngày đấu tranh kỷ niệm ngày Một tháng Năm, và tin tức hoạt động của bọn mật thám, bọn chỉ điểm cài ở nhà máy, ở trong các xóm thợ chung quanh nhà máy. Đồng chí cơ sở báo cáo xong công việc với Tô, Tô dặn dò thêm mấy việc, Tô đương nghĩ về việc phát triển tổ chức cả đồng chí nọ và hai người thợ bạn làm cùng chỗ, thì đồng chí nọ quay ra loay hoay định gửi con cho bà mẹ để ra ngoài đường mua nước đá về pha với chanh đường. Tô vội bảo không nên, đoạn nghển người ghé mắt vào bên khung cửa trông ra ngoài. Nhà cụ Vy ở cách một cái bãi xếp gỗ đóng tàu, đóng thuyền và một lán thợ xẻ. Vy nhớn đi làm, bác Vy gái đi sàng than, bà cụ Vy nhặt rau dưới bếp, nhà chỉ còn ông cụ ngồi chuyện với một người khách trẻ tuổi rất sắc sảo, tinh quyệt mà cũng rất đạo mạo: Kiều.

- Sao thằng Kiều lại đến nhà ông cụ Vy thế này? Kiều có quen gì với Vy nhớn đâu? Thời kỳ còn công khai, bác Vy cũng không liên lạc với Kiều cơ mà! Ngày thằng Kiều đi phát hành sách báo, đến nhà bác Vy hai lần, bác Vy đã báo cáo với tổ chức rồi cơ mà! Hay bác Vy gái gặp Kiều, mời Kiều đến chơi nhà? Hay Kiều có người quen với Vy nhớn và Vy nhớn có đi lại chơi với Kiều mà Tô không biết?

Tô bứt rứt quá. Ngay cả Tô cũng không đến nhà cụ Vy và không để Vy nhớn biết Tô có một chút gì liên lạc ở gần đây. Bác Vy đương thoát ly đi hoạt động bí mật. Vy nhớn cũng đương có công tác bí mật và là một trong những thanh niên tích cực mà tổ chức nhằm phát triển ở Nhà máy Xi măng. Địa điểm nhà cụ Vy chỉ độc một lối ngõ ra vào như cái túi, cái rọ, và là cái túi cái rọ khai thối ghê người kia ở đây cụ Vy như càng ngày càng quẫn trí, thì còn cái gì thích thú cần thiết để Kiều phải mò đến?!

Tô giả vờ khịt khịt mũi, quay vào bức vách nhổ để nhìn sát hơn nữa, nhận xét thêm vẻ mặt Kiều và tình hình bên nhà cụ Vy. Tô chỉ nhận uống nước chanh đường không thôi. Tô đọc lại hai giấy báo cáo của cơ sở gửi lên thành ủy rồi xé vụn, vo viên búng vào cái bếp lò đương cháy. Tô nhắc lại hẹn kỳ tới và ám hiệu ở trước nhà, chào bà mẹ đồng chí rồi đi. Qua khỏi một máy nước, sắp đến ngõ nhà cụ Vy, Tô lại phải một lần nữa trông trước trông sau, rồi khi đến chiếc cọc xi măng ở chân tường bên trái ngõ, Tô vờ vấp ngã. Tô cúi nhìn chiếc cọc nọ, xoay lại cái nắp cống cập kênh cạnh chiếc cọc để làm ám hiệu hẹn Vy nhớn đến nhà Sấm có việc cần. Khóa lại săng đan, Tô còn phủi phủi gấu quần rồi mới đi. Qua khách sạn Thiên Tân, Tô nhìn vào cái đồng hồ to bằng cái tủ đứng bên bàn giấy của người gác cầu thang, thấy kim chỉ năm giờ rưỡi. Bảy giờ Tô sẽ phải có mặt ở cuộc họp. Tô sẽ về cơ quan tắm rồi ăn cơm là vừa. Nhưng Tô phải đến nhà dây thép gửi một bức thư cần, nhân thể xem những tin cuối cùng của hãng Aríp để tối nay, như thường lệ, Tô sẽ ghi thêm vào cuốn sổ tay tình hình thời sự, chuẩn bị cho buổi báo cáo hàng tuần sinh hoạt của cơ quan.

Trừ người thư ký già túc trực ở chỗ đánh dây thép, cả tòa nhà thênh thang lúc đó không còn ai làm việc. Bỏ thư vào thùng xong, Tô đến một góc tường gần đấy. Giữa tấm bảng đen, lay lắt một tờ giấy màu vàng xỉn, lúc gió lùa

vào lại lất phất chỉ rình bong đi. Ở tờ giấy, báo những tin cuối cùng của những sự kiện trong ngày xảy ra trên thế giới, đặc biệt là của chiến tranh, vỏn vẹn có mấy dòng chữ như sau viết tay loằng ngoằng bằng thứ mực tím vừa nhờ vừa cặn:

Binh đoàn 2 - Quãng bị thọc phá ở mặt trận Xê đăng đã được lấp lại ngay ở tuyến ngăn chặn. Người ta đương tổ chức chiến đấu ở phía sâu, quãng sông đào trận địa 2. Phản công có nhiều phương tiện mạnh đã mở sáng nay hồi bốn giờ ba mươi.

Tô đọc đi đọc lại câu "Phản công có nhiều phương tiện mạnh đã mở sáng nay hồi bốn giờ ba mươi". Trán Tô lại cau cau:

- Nghĩa là cuộc tấn công của quân Đức vẫn ở tít tịt đâu đâu ấy và chẳng ra cái cứt gì cả! Quân Pháp, trận địa của Pháp vẫn vững chắc. Nước Pháp chiến tranh không có gì đáng lo ngại hết! Đông Dương lại càng không có gì đáng sợ cả! Cứ vững như Thái Sơn, âu ca như thiên đường vậy!...

*

- Mẹ mày lại bỏ chậu nước bồ kếp đấy à?!

Bà cụ Xim vừa hỏi vừa thu dọn mâm bát. Xim lại vội vàng uống nước; không kịp cả rửa mặt, Xim chỉ kéo cái khăn ướt vắt ở dây thép đầu bờ hè lau qua mặt:

- Chốc nữa con về con gội, không có sáng mai con dậy sớm con gội đi làm càng mát!

Cái bé của Xim và cái gái nhà mẹ La vẫn ngồi ở một đầu chõng, chia nhau ăn chùm vải bà cụ để phần cho Xim. Xim bóc trước cho gái Lê ăn một quả rồi bóc cho cái bé Xim. Xim lấy khăn lau mặt lau tay cho con, đưa quả vải dặn:

- Con ăn quả này nữa thôi nhé! Còn quả chưa bóc kia con cho thêm chị.

- Không! Con để dành cho u cơ. U khâu đêm u ăn cho mán cái ruộn (mát cái ruột).

Xim cúi thơm vào má vào tay con. Tâm trí Xim càng

nao nao.

- Chuyến này còn nhiều việc làm mẹ mát cái ruột hơn nữa con ạ!

Bà mẹ già lại lom khom ngồi xuống chõng với cháu bé. Xim ra ngõ còn trông lại, cố ý nói cho mấy người ở nhà bên nghe thấy:

- Bà nhớ lúc cháu sắp đi ngủ thì bà pha cái thuốc ở chai cho cháu súc miệng. Con phải đi lấy cho cháu mấy hào thuốc cam răng nữa.

Bà mẹ nghe câu dặn dò nọ lại nghĩ đến công việc của Xim:

- Giá lúc này mình được gánh vác một vài công tác cho nó? Hay trước kia mình cũng được Đoàn thể giao công giao việc như nó bây giờ.

Cái đồng hồ to của một hiệu chữa đồng hồ ở đầu đường mới chỉ có sáu giờ mười lăm. Xim tính từ nhà đến địa điểm họp đi chậm lắm cũng chỉ hai mươi phút. Như thế Xim đến sớm mất hơn hai mươi phút, trái với kỷ luật hội nghị, với nguyên tắc bí mật. Xim toan quay lại nhà để chơi với con hay thu dọn nhà cửa đỡ mẹ, nhưng lại thôi. Xim rẽ vào đường Dư Hàng hỏi tào lao mấy hiệu khách bán thuốc để nghe tin tức mấy nhà có người bị bắt. Xim nhẩm đi nhẩm lại mấy câu nói quan hệ của mấy người trong xóm chuyện với nhau để rồi báo cáo thêm lên thành ủy. Xim còn ghi thầm cả số nhà và những đặc điểm ăn ở của mấy nhà nọ, phòng khi thành ủy cần điều tra thì Xim có thể chỉ dẫn được rõ ràng, không cần phải đưa người đi cùng với mình, và người đi điều tra ấy tìm đến nhà được nhanh chóng, cẩn thận.

Xim còn đương uất ức xót xa cho mấy gia đình anh chị em công nhân có người bị bắt, và Xim đương phải đi men vào bờ hè vừa để tránh các xe, vừa để ý xem mình có bị ai theo dõi không, chợt thấy có tiếng còi lanh lảnh âm âm như tiếng còi tầm của một nhà máy. Nhưng không, đó chỉ là tiếng còi tàu ở bến tàu Hòn Gai, Nam Định dội đến. Trống ngực Xim càng đập mạnh. Chỉ chốc nữa, ngày giờ nổ cuộc đình công toàn thể tới đây của nhà Máy tơ sẽ do hội nghị quyết định. Rồi khi bản yêu sách đưa xong thì hồi còi tầm nhất của nhà máy sẽ là hồi còi của thợ thuyền tuyên bố chính thức trận đấu tranh mở màn vậy. Giữa một tình hình như tình hình hiện nay, vừa kỷ niệm ngày Một tháng Năm xong, Hải Phòng lại nổ ngay một cuộc đình công lớn. Vừa qua, Xim được thành ủy phân công đi rải truyền đơn, dán áp phích ở trại lính khố xanh, ở khu Lạc Viên ở chợ Sắt. Còn trong cuộc đấu tranh tới đây của những anh chị em thợ hơn mười năm chung vai sát cánh với Xim ở nhà Máy tơ kia, Xim sẽ được phân công gì vậy?

Xim lại nhớ đến hai cuộc đấu tranh trước của nhà máy. Cuộc đầu năm 1937 Chấn lãnh đạo. Ngày ấy Xim vừa đoạn tang chồng, cái bé vừa mới cai sữa. Cũng ngày ấy Xim chỉ là một nữ công nhân rất chịu khó trong bất kỳ công việc chung nào nên được mọi người tín nhiệm. Chính trong hội nghị của ban đại biểu đấu tranh của nhà máy mà Chấn chủ tọa, Xim đã được bác thợ ở máy điện, bạn già của mẹ Xim, giới thiệu. Sau cuộc đấu tranh này, Xim được đi học hai lớp huấn huyện và được giao các công việc điều tra tuyên truyền, vận động và tổ chức ở ba cơ sở anh chị em nhà máy.

Bác bạn già của mẹ Xim và cùng làm đại biểu trong cuộc đấu tranh ấy với Xim đã chết. Sắp sửa đến giỗ ông cụ. Hôm kia Xim gặp người con gái ông cụ làm ở Máy chỉ đi chợ nhà quê mua gạo, đỗ, gà, nhưng Xim không dám gọi... Còn Chấn... người tù cộng sản đi đày về giác ngộ Xim và giới thiệu Xim vào tổ chức kia, nay là người yêu của Xim, Xim thấy nhiều lúc như lại ngồi ở trước mặt Xim, trong hội nghị ngay bên Tô và Tô thì nhiều nét, nhiều vẻ sao giống Chấn thế?!

Đến cuộc đình công năm ngoái của nhà máy Xim lại ở trong ban lãnh đạo bí mật. Không kể Tô, người của phong trào nhà máy còn lại, trong cuộc đấu tranh sắp tới, nay chỉ còn Xim và Cao thợ máy nguội. Thằng chủ nhà máy cũng định đuổi Cao từ năm kia. Nhưng Cao bị máy kẹp giập mất nửa bàn tay trái, Cao phải xuống làm ở nhà kho chỉ được ăn có nửa lương, Cao đã mấy lần đòi sở Thanh tra lao động can thiệp, đặc biệt là anh chị em nhà máy nhất định không để chủ thải Cao, nên Cao vẫn đi làm. Cao được tổ chức trước Xim, giờ là bí thư chi bộ nhà máy, mới được bổ sung vào thành ủy.

... Kẻ bị bắt, bị tù, kẻ bị thải phải đi làm nhà máy khác, tỉnh khác... phong trào tuy càng ngày càng bị khủng bố nhưng hàng ngũ cách mạng vẫn cứ được thêm các chiến sĩ. Chị thợ trong ban vận động, tổ chức đình công sắp họp với Xim kia chính là người bạn đứng máy cũ của Xim, Xim đã tuyên truyền và giới thiệu tổ chức. Còn bác thợ đã có tuổi cũng sẽ vào ban lãnh đạo đấu tranh là cậu họ Vy nhớn, cơ sở của Công hội đỏ từ năm 1930... Tiếng máy chạy lại sầm sập rầm rầm trong tâm trí Xim. Cả hai cuộc đấu tranh trước, địa điểm họp của ban lãnh đạo bí mật và của các đại biểu nhà máy ở ngay xóm thợ, cạnh nhà máy. Người đến họp còn mang cả các báo công khai của Đảng và các sách mác xít đi đọc. Mấy người vừa mua được ảnh của đồng chí Các Mác và Lênin, các lãnh tụ Đảng cộng sản Pháp và tổ chức công đoàn thế giới, đều mỏi miệng vì phải nói năng với các người đòi xem ảnh, đòi mua lại ảnh, và định giấu cả ảnh đi để rồi trả bao nhiêu tiền cũng được! Trong khi ấy các đường trong xóm trong ngõ, bọn xú doóc, bọn tay chân chỉ điểm và xe đạp của bọn adăng mật thám lượn như diều hâu, vè vè như bọ chó. Mặc dầu các gia đình công nhân đấu tranh nghỉ việc đã sang ngày thứ hai, thứ ba, vẫn cứ như không thấy có chúng nó, biết có chúng nó. Nhiều nhà cứ oang oang tiếng đọc sách, đọc báo...

Phải! Cuộc đình công của nhà Máy tơ của Xim nhất định sẽ nổ. Nghĩa là lại một lần nữa trận đấu tranh mặt đối mặt, một bên là quân thù, một bên là anh chị em thợ, nhất định phần thắng lợi sẽ phải giành về phía những người bị bóc lột, áp bức... Thế là tâm trí Xim lại phải xoáy vào những công việc sắp tới, đặc biệt vẫn là bản yêu sách. Trong buổi họp tuần trước các đồng chí ở ban vận động tổ chức cũng đều nêu lên mục quan hệ là mục những yêu sách chính của cuộc đình công. Nhiều lúc buổi họp đã phải ngừng lại, lặng đi. Tô lại càng ít nói, Tô càng gợi ý thêm cho anh chị em bàn bạc. Tô càng chú ý đến Xim. Từ Cao đến bác thợ cậu họ Vy nhớn đều nhẩm: "Tăng lương lên ba mươi phần trăm. Tuyệt đối không được đuổi thợ sau cuộc đình công. Không được cúp lương, không được phạt tiền thợ. Phải tôn trọng và thi hành đúng luật bảo hiểm trong nhà máy."

- Thế còn yêu sách "ngày vẫn làm việc tám giờ" sao không thấy nêu lên?

- "Ý kiến anh Tô thế nào, anh cho biết ngay đi!" - Xim đã phải băn khoăn trước sự chậm nói của Tô về cái yêu sách này mà Xim thấy cũng sinh tử như tăng lương vậy.

Vì chính thật là chúng nó cướp lại một phần ba cơm áo của thợ từ ngày chúng nó vin vào sắc lệnh mới về tình thế chiến tranh mà bắt thợ ở nhiều nơi đương ngày làm tám tiếng lên làm mười tiếng, mười hai tiếng, và rút thợ đương ngày làm ba kíp xuống làm hai kíp!...

Xim lại còn phải nghĩ hay Tô thấy tinh thần thợ Máy tơ không được cao, đưa yêu sách ra đấu tranh với chủ sẽ bị khó khăn, cuộc đình công sẽ kéo dài, anh chị em sẽ không theo được trong tình thế này chăng?

Đặc biệt là khi Xim nghe bác thợ có tuổi người đồng chí đã tham gia phong trào từ lâu nọ, đặn đà nhắc Tô cái yêu sách đòi ngày vẫn làm tám tiếng, rồi hỏi Tô cái câu trúng ngay với ý định của Xim, thì Xim càng náo nức cả người.

Đúng! Đề ra một khẩu hiệu đấu tranh phải xem xét tính toán rất khoa học tình hình khách quan và lực lượng chủ quan. Nhưng nếu như điều kiện khách quan hạn chế, thì chủ quan mình càng phải cố gắng, càng phải tích cực. Điều gì còn phải nghi ngại chứ tinh thần thợ Máy tơ của Xim thì thật tin cậy chắc chắn. Không kể những trận đấu tranh trước kia, trong phong trào Hải Phòng suốt từ cuối 1936 đến nay, bao giờ thợ Máy tơ cũng là trong số anh chị em thợ đi tiên phong, cũng là đội xung kích. Bốn nghìn sáu trăm thợ làm ba kíp, có kíp nào phải một người bỏ dở đấu tranh đâu? Từ ngày bị khủng bố mạnh, tất cả những đại biểu và những đồng chí trong tổ chức của Máy tơ bị bắt vào Sở mật thám vào đề lao, có ai suy sụt đâu? Báo cáo của các đồng chí bị giam ở Sở mật thám ở đề lao gửi ra thành ủy về thợ Máy tơ, chính đồng chí Tô đã kể cho Xim nghe đấy. Còn có cả Cao nữa... tinh thần các đồng chí các cơ sở và quần chúng Máy tơ thế nào Cao cũng nắm rõ hết. Cao vốn là người rất sát với anh chị em lúc này, Cao càng phải sát nữa với anh chị em mà cân nhắc những yêu sách quyền lợi sống còn của anh chị em!

Về chiều càng gió. Đường phố lắm lúc mù mịt và như có những đợt sóng ập đến. Bên tai Xim càng vang âm những tiếng quen thuộc của thành phố và sông bến. Bước chân Xim như dồn lên và Xim nói hẳn lên thành những tiếng thì thầm nhưng rất rành rẽ, vang mạnh trong

tâm trí:

- Anh Tô ơi! Anh tù ở Côn Lôn chắc cũng đã nghe chuyện nhà máy dệt Ba quả núi ở Mạc Tư Khoa mà những đồng chí đi học bên ấy về kể. Tôi nhớ như thế này có thật đúng không, đồng chí? Nhà máy dệt Ba quả núi mở đã hơn trăm năm nay, có những đồng chí tuổi đảng bằng tuổi đảng của đồng chí Lênin mà vẫn còn sống, vẫn còn hoạt động trong nhà máy. Lúc cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, nhà máy thành lập ngay chính quyền Xô viết đầu tiên và chuyển xưởng sửa chữa máy móc của mình thành xưởng khí giới, đúc súng đúc đạn cho công nhân. Khi cách mạng bị tấn công, nhà máy thành ngay pháo đài, dựng ngay chiến lũy. Hàng mười đồng chí công nhân của nhà máy đã bị quân thù bắn và bắt giết ngay ở cổng? Hiện nay nhà máy Ba quả núi thành như một nhà Bảo tàng cách mạng, những đồng chí hoạt động cách mạng sang học ở Nga hay những người khách đến thăm Mạc Tư Khoa, thường được dẫn đi đến nhà máy dệt Ba quả núi. Lịch sử và truyền thống của một nhà máy dệt của Nga Xô viết là như thế đấy! Nhà Máy tơ của Hải Phòng sẽ lấy đó làm gương. Chi bộ nhà Máy tơ Hải Phòng cùng với anh chị em công nhân trong nhà máy nhất định cố gắng xây dựng nhà máy của mình thành một cơ sở cũng có nhiều thành tích, nhiều truyền thống. Trong cuộc đấu tranh đình công mai đây sẽ nổ, nhất định lại sẽ là một dịp để nhà Máy tơ Hải Phòng thử thách chiến đấu thắng lợi và lại nêu cao tinh thần. Phong trào còn nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt, rồi lại nổi cách mạng còn bạo động đổ máu. Vậy nay có khó khăn bao nhiêu chăng nữa thì công nhân cũng phải tập dượt, kiên quyết hy sinh mà vượt lên. Anh Tô ơi!... Anh Cao ơi!... Các đồng chí ơi!.. Tôi nghĩ như thế đấy! Tôi muốn nói với anh Tô, anh Cao và các đồng chí như thế đấy, có được không?!

*

Đèn phố đã bật. Ráng chiều và ánh đèn làm ngùn ngụt thêm cảnh vật tất bật, nhộn nhịp. Phía trời đằng khu Nhà máy Xi măng và khu Sáu Kho, khói bụi tỏa lên như một tòa thành đương có hỏa trận. Còn khu Máy tơ của Xim, tiếng máy rùng rùng dội đến càng rõ. Người đi tầm, đi chợ về đông nghịt cả mấy ngã tư. Chợt Xim chờn chợn rồi lạnh toát cả người. Cái ô tô xám có cả thằng Tây cậu cao lớn và con chó lài móm, lông vằn vằn mầu khói át xít, cùng với mấy thằng mật thám Tây lai và mật thám ta vẫn đi bắt người, bỗng nhô lên từ trong cái ngõ ở trước mắt Xim, nổ máy rin rít đi ra. Mắt Xim như hoa lên nhưng Xim vẫn nhận ra người đàn ông gày còm mặc áo xanh đương bị chúng nó đấm bôm bốp vào thái dương, vào miệng, vào gáy là anh thợ quen bên Máy chỉ. Còn anh mặc sơ mi trắng dệt cụt tay, quần soóc, bị xích tay là anh học trò lừng tiếng học giỏi ở trường Sông Lấp con nhà ông ký đầu bàn giấy sở Đờvanhxy, hình như Xim thấy một lần anh đi bán báo Dân chúng và một lần đi theo cuộc tuần hành thị oai của các anh chị em thợ, sở Máy dệt len Hàng Kênh, sở chè Buynle, Côtêxích và nhà Máy tơ kéo lên tận sở Thanh tra lao động đấu tranh năm xưa. Anh thanh niên học sinh này cũng bị đấm đá nhưng không được ngồi trên ghế mà bị chúng nó ấn khòm lưng xuống dưới ghế để một thằng mật thám Tây lai ngồi đè lên, và một thằng mật thám Tây lai nữa cứ dận gót giày xuống đầu, xuống gáy anh. Cả anh thợ Máy chỉ và anh thanh niên học sinh đều đỏ ngòm máu ở mặt mũi, quần áo...

Giữa phút đó lại có một người ở trong xóm nhà lá cạnh ngõ đi ra, và hình như tất cả bọn mật thám đều nghển lên và phân vân dồn mắt nhìn vào người nọ.

- Anh Ba gày ơi!

Xim kêu thầm lên. Xim kêu thầm lên và cuống quýt tự hỏi sao Tô ở đâu ra mà lại đi vào đường này thế này? Và sao Tô lại cứ thủng thẳng đi đến trước ô tô chúng nó, để chúng nó nhìn vào mặt mình như vậy?

Trong khi những tiếng nói và những ý nghĩ kia như xé ra trong tâm trí Xim, thì có một thằng mật thám ta nhô hẳn ra ngoài cửa xe và như muốn nhảy xuống để chặn Tô lại. Bánh ô tô cũng đã chuyển hết một vòng rồ rồ sắp ra đường. Vừa lúc đó có một bà cụ già đi vào ngõ. Thấy ô tô đâm ra, bà cụ cuống quýt buột cả cái nón cắp ở tay đổ vương hết rau dưa mắm muối ra đường. Không để lỡ dịp, Xim liền chạy sầm đến trước mũi ô tô, kêu lên:

- Bà cụ ơi! Bà cụ ơi! Chết bây giờ!... Chết bây giờ!... Để cháu nhặt cho.

Xim vừa kêu, vừa kéo giật bà cụ lại, rồi cứ lúi húi ở trước ô tô mà nhặt nhạnh các thứ ăn của bà cụ không quen biết nọ, bỏ vào nón đưa cho bà cụ. Cái xe vừa suýt đâm phải bà cụ lại bị Xim liều lĩnh chặn hẳn lấy đường phải hãm phanh lùi giật bắn lại, người trong xe xô vào nhau lảo đảo tưởng chừng đến đổ xe. Tên mật thám Tây lai ngồi cạnh chỗ người lái xe, hét lên, chửi cả Xim và bà cụ già.

Nó mở cửa xe nhoài tay bợp hai người mấy cái, vừa hạ lệnh cho tài xế cứ phóng xe. Cái xe xám đi bắt người ấy, không rẽ ra đường cái mà quặt sang con đường vào chợ. Chắc chúng nó còn đi bắt thêm người nữa.

Trong lúc túi bụi ầm ĩ, người kêu kẻ gọi, đứa chửi bà cụ già lọ mọ và người đàn bà dại dột nọ, thì Tô đã tạt vào cái ngõ hẻm ở cạnh đường: cái ngõ rất quen thuộc của Tô có cả lối đi lên phố nữa.

Mười phút sau, Xim đến địa điểm hội nghị. Đúng bảy giờ. Còn Tô chậm mười lăm phút. Tất cả ban đại biểu đấu tranh, trước khi Xim đến, đã bàn nhau chỉ chờ Tô thêm mười lăm phút nữa. Nếu Tô không đến thì hội nghị đình lại, anh chị em phải giải tán ngay, trở về cơ quan chuẩn bị báo động. Tô không bao giờ để cuộc hẹn, cuộc họp nào bị chậm dù chỉ năm mười phút. Cũng chưa bao giờ Tô lộ tung tích và để chúng nó bắt chợp nhận mặt cả! Không những hội nghị đình lại và anh chị em giải tán, mà ám hiệu đặt trước nhà sẽ thay ngay. Tức là cái mành rách treo ở cửa ra vào sẽ tụt xuống chấm đất, báo tin địa điểm hội nghị đã chuyển đến chỗ dự bị...

*

Quên bẵng cả giữ gìn ý tứ, cả hội nghị xúm lại chung quanh Tô, kẻ nắm tay, người lay vai, hỏi chuyện Tô và nói sự lo lắng của mình. Tô bảo các đồng chí đừng làm ồn quá và hỏi lại đồng chí được phân công bố trí địa điểm hội nghị về việc canh gác, bảo vệ. Tô dặn thêm anh chị em mấy việc phải làm khi động hay có xảy ra điều gì không hay. Đoạn Tô bảo rót nước ra đủ các chén, còn những đĩa xôi, những bát chè, những đĩa trầu cau thuốc lá phải bày san làm ra vẻ đương ăn uống vậy. Đèn trên bàn thờ cũng vặn to thêm, hương thắp nữa. Chị vợ đồng chí nhà có cơ quan đóng cứ phải ở dưới bếp vờ đun nước để nghe ngóng đằng phía sau vườn. Còn đồng chí giữ vai người em chị vợ ngồi gẫu chuyện ở hàng nước ngoài ngõ, thì phải chú ý nhận xét kỹ, từ các kẻ ra vào trong ngõ, các kẻ đi ngoài đường, đến các xe cộ ở xa tới, hễ thấy có gì nghi ngại thì phải rất bình tĩnh báo hiệu cho hội nghị.

Như thế là cuộc đình công của nhà Máy tơ Hải Phòng nhất định nổ! Ngày kia là ngày mười bảy cuộc đình công sẽ nổ!

Cuộc đình công của nhà Máy tơ được quyết định nổ. Ban lãnh đạo trực tiếp anh chị em thợ là chi bộ nhà máy. Cao và Xim cùng chị thợ trẻ bạn Xim và bác thợ điện có tuổi chịu trách nhiệm chính trước thành ủy. Bản yêu sách điểm căn bản là tăng lương lên ba mươi phần trăm và ngày làm việc vẫn phải tám tiếng. Đó cũng là hai khẩu hiệu đấu tranh sẽ in thành truyền đơn, viết thành áp phích, truyền đi khắp anh chị em công nhân và gia đình, phát ở cả nhà máy. Lương tăng lên ba mươi phần trăm để bù cho công nhân cái mức chênh lệch của giá sinh hoạt đắt đỏ một cách quái quỷ hiện nay. Còn ngày vẫn làm tám tiếng, vì chưa nổ cách mạng được, đời sống chưa thay đổi được, thì bốn tiếng bóc lột lao động mà bọn chủ đã phải nhả ra cho thợ thuyền, không thể nào thợ thuyền để chúng cướp lại. Không giữ vững ngày làm tám tiếng với số lương tăng lên ba mươi phần trăm, thợ thuyền sẽ là tù tội nô lệ, và nhà máy sẽ là địa ngục cướp thêm máu, ánh sáng, tự do, cơm áo của thợ thuyền mất!

Gương mặt Xim tươi hẳn lên, Xim chỉ chực ứa nước mắt:

- Đồng chí Ba gày ơi! Đồng chí Cao đen ơi! Các đồng chí ơi!... Xong cuộc đấu tranh này chúng ta lại kiểm điểm rút kinh nghiệm ngay rồi phải chuẩn bị để nổ cuộc đấu tranh khác chứ! Trong bất cứ tình thế nào thợ nhà Máy tơ cùng toàn thể thợ thuyền Hải Phòng cùng toàn thể giai cấp vô sản ở Đông Dương cũng kiên quyết đi hàng đầu đấu tranh với quân thù cho đến ngày cách mạng bùng dậy.

Không phải chỉ mình Xim tự nhủ như thế. Mọi người cũng đều nói với mình như thế.

⚝ ✽ ⚝

Ngày mười tháng năm 1940 toàn thành phố Hải Phòng mở đấu tranh để kỷ niệm Quốc tế lao động.

Một tuần lễ sau thợ Máy tơ Hải Phòng đình công. Còi Máy tơ rúc lên như thét, như xé, như gầm rú, như rên xiết, hết tầm nhất đến tầm hai, nhưng cả ba kíp bốn ngàn sáu trăm thợ vẫn không vào làm. Tất cả các máy đều tớp lại. Một góc Hải Phòng kỹ nghệ đương nhộn nhịp thịnh vượng mà từ trước tới nay chưa từng thấy, bỗng im lìm, tan hoang, lạnh lẽo. Nó bị hoàn toàn tê liệt. Nó như chết. Tất cả các nhà máy và các khu Xi măng, Máy chỉ, Sở dầu, Máy gạch, Máy ngói, Sở chè, dệt thảm, xưởng đan len, xưởng sửa chữa tàu bè, xưởng sửa chữa máy móc, hải cảng Sáu Kho, đường xe lửa Công ty hỏa xa Vân Nam, vân vân... đều rùng rùng như ở một triền núi lửa đã có ngọn phụt cháy rồi. Bọn thống trị lại bàng hoàng hơn cả khi bị bất chợt những trận bom, trận đại bác dữ dội nhất tấn công.

Nhưng ngay buổi sáng thợ Máy tơ đình công ấy, ở tất cả chỗ làm việc nhà máy xưởng thợ và kho bãi đường sá kể trên, các nguồn tin cứ lan chuyển dần dần, dâng lên như thủy triều. Công nhân thành phố Hải Phòng vừa gạt mồ hôi mặt, vừa nghe trong ngực mình đập những tiếng đập rần rật thấp thỏm vô cùng.

Những ngày tháng năm của Hải Phòng.

Những ngày tháng năm của năm 1940 ở Hải Phòng.

*

Lại những tin đồn và tin đồn...

Nào đương đêm ở Hà Nội có một chuyến xe lửa đặc biệt đã chuyển tất cả sổ sách "mật" của Phủ toàn quyền vào Đà Lạt rồi. Nào Toàn quyền đương đêm phải đi máy bay ở Sài Gòn ra Hà Nội họp: Một cuộc họp chỉ riêng có các chánh, phó công sứ và các quan tư quan năm cai trị các đạo quan binh ở các nơi là được triệu về dự, mà chính ngay các quan đó cũng không được biết mật điện triệu về có việc gì. Còn trong cuộc họp mọi người đều đội mũ đỏ, choàng áo đỏ, buồng họp cũng lót toàn nỉ đỏ, khi khai mạc và bế mạc, ai nấy đều phải giơ tay lên trước một lưỡi kiếm mà thề... Nào sẽ có những vị đô đốc hay đại tướng giỏi lắm, vừa có vai vế lại vừa ăn cánh với toàn những nước lớn như Anh, Mỹ sẽ sang thay chức Toàn quyền Đông Dương và còn được thêm nhiều quyền hành đặc biệt nữa... Nào hàng không mẫu hạm bao nhiêu ngàn tấn với những tuần dương hạm cũng bao nhiêu ngàn tấn và không biết bao nhiêu diệt ngư lôi, tiềm thủy đĩnh v.v... lắp toàn những súng tối tân ghê gớm của Anh, Mỹ đã bí mật đến ngoài khơi Đông Dương rồi!

Ngoài những tin quan trọng và bí mật, bí mật và quan trọng kia truyền đi trong dân gian, còn có những tin khác được rất nhiều người bàn tán cũng không kém phần quan trọng bí mật. Những tin giá gạo, giá muối, giá dầu tây, giá đường, giá sữa, giá thuốc phiện và giá vàng, giá giấy bạc.

Người ta đồn gạo Sài Gòn sẽ không chở ra Bắc Kỳ nữa. Bao nhiêu gạo Sài Gòn sẽ đưa lên Đà Lạt chứa ở những kho bí mật đục vào hàng mấy quả núi. Những kho đường, sữa, cà phê, phó mát, xúc xích, giăm bông, rượu vang và các thứ rau khô cũng được tích trữ như thế cùng với những kho súng đạn để quân Pháp ở Đông Dương đánh nhau hàng mấy mươi năm cũng không lo gì. Ở nhiều tỉnh, các thứ gạo tám thơm người nghèo đừng hòng mà đong. Muối phải chạy mua từ đầu tỉnh nọ sang cuối tỉnh kia mới được mấy cân. Càng nhà nghèo càng phải cố sống cố chết lo trữ muối. Đường thì chỉ còn vài hiệu khách to và vài cửa hàng lớn của Tây là còn, nhưng chỉ để bán cho Tây. Sữa cũng thế. Và thuốc phiện. Thuốc phiện đắt lên gấp năm. Công nhân ăn no nê một ngày cả quà sáng quà trưa mất có năm hào, thì một điếu thuốc phiện cũng năm hào. Nhiều thằng Tây cai ngục, kiểm lâm, thanh tra đoan, thanh tra mật thám, sáng ra phải hút một chặp hàng ba mươi điếu thuốc với hai bàn đèn hai người tiêm, vừa dứt điếu này tiếp ngay điếu khác, thì mới mở được mắt và mới ăn sáng được. Lễ những bọn này, đầu vị là tiền và thuốc phiện.

Rồi vàng... Các hiệu khách hàng vàng to phải làm vội thêm lần cửa sắt, mỗi ngày chỉ mở tiếp khách mua bán từ chín giờ đến mười hai giờ trưa. Vàng Hồng Kông, vàng Xiêm chạy vào Hải Phòng cứ từng giờ, từng giờ lên một giá hay ngược lại. Các hàng đổi bạc tha hồ tăng giá "các". Giấy một trăm đồng hình bà đầm xòe đổi cho người có bạc lẻ, có tiền xu, được "các" thêm hai mươi đồng. Giấy hai mươi đồng, giấy năm đồng khổ to cũng được "các". Muốn mua vàng phải có những giấy bạc to. Tiện nhất là mua vàng bằng văn tự nhà, văn tự đất. Để lễ các quan to, chạy các công việc lớn, chỉ có vàng, phải có vàng. Từ toàn quyền, thống sứ, công sứ, chánh tòa thượng thẩm, chưởng lý, chánh cẩm mật thám chính trị... đều chỉ thích ăn vàng, đòi ăn vàng... ăn cả xuyến vàng, kiềng vàng, ông phỗng vàng, chim cò, sư tử hổ báo vàng.

Bởi vậy còn cả những chuyện, những tin đồn có những tay giật luôn hai bằng tiến sĩ, hay đỗ thạc sĩ đầu bảng ở Ba Lê, hay đỗ đốc tờ lưu trú cừ nhất ở bên Anh, Mỹ về, vừa được ông nhạc, bà nhạc quẳng cho hàng ki lô vàng và hàng nắm văn tự nhà ở Hà Nội, ruộng ở Phú Thọ, ở Bắc Giang, vì trong lễ đón dâu đã quỳ xuống trước sập mà lạy sống nhạc gia...

Trong khi những chuyện những tin trên kia cứ rần rật khắp nơi khắp chốn, thì trên các ngả đường vận tải cũng có một sự vội vàng cuống cuồng vô cùng. Toa xe lửa để hàng không còn một ai xin được, và cũng không phải sếp nhà ga cấp giấy cho toa nữa. Có một bọn người độc quyền nắm lấy việc này, và thức ăn nuôi sống bọn chúng có một tên riêng gọi là: hỏa hồng. Hỏa hồng cứ tùy theo thứ hàng xin toa chở mà đánh. Hỏa hồng lại còn qua mấy nấc, mấy cửa nữa. Người ta bảo không biết những súng ống đạn dược thuốc men và ô tô của Mỹ bán cho chính phủ Tưởng Giới Thạch là bao nhiêu chứ như những món tiền chuyên chở, thuế má, đút lót, chấm mút chung quanh những hàng hóa đó thì không còn thể ai tính được, và nhiều bọn giàu thêm, ăn chơi cực kỳ xa xỉ trong cái dịp làm ăn có một không hai từ trước tới nay ấy. Vì vậy Hải Phòng như không còn giờ giấc nào cả. Hải Phòng cứ rầm rập, ình ình, đen bầm cả trời, sáng rực cả đất, nung nấu thiêu đốt, túi bụi ngột ngạt vì các nhà máy chạy và các hàng xuất nhập.

Giữa Hải Phòng đương quay cuồng trong một không khí như thế, nhà Máy tơ vẫn đình công.

Cuộc đấu tranh của hơn bốn nghìn thợ hầu hết là phụ nữ ấy đã bước sang ngày thứ ba.

Trời càng nắng. Trận mưa rào vừa qua càng làm những vầng hoa xoan tây đỏ rực mặt đường, và bờ hè xi măng càng bỏng rẫy. Dưới những bóng cây ở bờ đường trước khu nhà máy và ở những bãi cỏ, những ngã tư ngã ba đổ về đây, mọi khi thường túm tụm những người nhà, những trẻ con đi đưa cơm nước cho thợ nhà máy, nay chỉ còn từng đám từng đám người làm xe ba gác, xe bò, chở sắt gỗ và phu khuân vác ở ngoài bến Sáu Kho về nghỉ, nằm ngủ la liệt. Lác đác có mấy bọn trẻ con nhớ tầm nhớ bạn, ẵm em cõng cháu ra đây chơi chắt chuyền, đánh đáo, đánh ô với nhau.

Nhưng chỉ quá trưa, khi bóng các hàng hiên vừa nhô ra khỏi bờ hè chừng một thước, thì các hàng rau, hoa quả, quà bánh cơm nước đã lại ồn ồn đến tụ tập ở những chỗ râm mát cây cối. Những người đi làm tầm muộn Nhà máy Xi măng và ngoài bến Sáu Kho đã về. Ở những cổng xưởng máy cưa, xưởng sửa chữa ô tô chung quanh đấy, lại tấp nập túi bụi hơn cả ban sáng. Những người làm việc cũng như những người nghỉ ngơi ăn uống và những người mua bán, lại bàn tán, chỗ thì ồn ĩ, chỗ thì rì rầm, về những tin tức, những câu chuyện quan trọng và bí mật, bí mật và quan trọng trên kia.

Từ cái xóm của những thợ thuyền và các hàng người cùng khổ làm đủ mọi nghề, gọi là xóm Cấm kia trên quãng đường lên khu nhà Máy tơ, có một ông cụ già cứ đi đi về về giữa đường nắng, hậm hụi cả ngày như chẳng biết, chẳng để ý gì đến mọi người mọi việc chung quanh cả. Ông cụ người cao lớn, đầu trọc quấn một khăn bông dọc đỏ đã cũ, cởi trần, giữa mỏ ác và dưới ngấn rốn bụng hơi xệ xoắn xuýt từng nạm lông. Quần lá tọa, ống thấp ống cao, ông cụ đi khập khiễng, một tay chống cây gậy hèo to như cái côn của những tay đại hán trong truyện Thủy hử, một tay xách cái thùng tôn to cũng quá khổ.

Ông cụ tuy mù phải chống gậy và đi khập khiễng, nhưng nhìn bước chân và dáng dấp ông cụ giữa đám xe cộ và người đi lại gồng gánh tấp nập, người ta thấy không phải xe cộ và người sáng mắt tránh cho ông cụ, mà chính ông cụ tránh cho xe cộ và người sáng mắt. Cứ mé đường, ông cụ đi không chệch choạc quãng nào. Đến quãng có cống, có ngõ, có hàng dọn nhô ra hay có đống gạch đống đá vừa mới đổ, ông cụ cũng vẫn cứ đều bước. Nhưng ít người để ý đến sự tàn tật và sự đi lại đặc biệt này của ông cụ. Người ta thường chỉ ngạc nhiên vì cái vóc người, cái sức khỏe của ông cụ. Tuy da dẻ ông cụ nhăn nheo, lông ngực, lông bụng cũng bạc gần hết, và tuy ông cụ đã móm mém, gò má nhô cao làm sâu lút hai lòng mắt trũng, nhưng không thấy ông cụ yếu đuối chút nào.

Nhưng thấy thế không phải chỉ căn cứ vào dáng dấp ông cụ cứ đi băng băng với một thùng tôn nước gạo đầy, chính còn vì người ta thấy ở cái vẻ người, cái tinh thần toát lên từ toàn thân, tầm vóc, sắc mặt và sự hoạt động của ông cụ. Cùng với cái dáng đi chắc chắn, đường hoàng, sắc mặt của ông cụ khi đi đường vào những lúc mọi người đều bải hoải, hổn hển vì nắng, cũng vẫn thanh thản ung dung.

- "Không hiểu cái nhà ông cụ mù ở xóm Cấm đi lấy nước gạo ấy, ông cụ ăn uống và ngủ ngáy ra sao, khí huyết gân cốt của ông cụ thế nào, mà ngoài bẩy mươi tuổi ông cụ cứ còn làm quần quật cả ngày như thế? Nếu như trời đất mà không có đêm có lẽ ông cụ cũng chẳng cần ngủ nữa!"

Người ta chuyện với nhau, người ta tự nhủ như thế. Nhưng có ai biết được cái chân trái khập khiễng của ông cụ người trông còn khỏe hơn cả trai tráng kia thỉnh thoảng lại đau chói đau buốt vì một mảnh đạn trái phá nằm thích vào cạnh ống xương như một mũi dao sắc nhọn bọc mỡ sống ở trong gân thịt ông cụ?! Cũng nào ai biết được trên mé thái dương bên trái ông cụ quấn khăn kéo trễ xuống kia, sâu hoắm một vết sẹo và cũng là vết một mảnh đạn trái phá suýt cắt thủng sọ ông cụ ra? Chao ôi! Những vết thương từ hơn ba mươi năm nay của một ông cụ già phải lìa bỏ quê hương, mai danh ẩn tích vì trước đây làm lính của một vị tướng chống nhau với quân Pháp hàng hơn hai mươi năm ở một vùng núi rừng hiểm trở kia, những vết thương ấy sao dám để tiết lộ và ai mà biết được?!...

Cũng ai biết được ông cụ làm việc quần quật, làm việc như không còn biết trời đất ngày đêm, chính là để ít ngủ, và ít ngủ để nghĩ ngợi, để sống thêm mà nghĩ ngợi giữa lúc bao nhiêu kẻ đương tối tăm cả mặt mày, cuống cuồng tính toán, tay năm tay mười, bầy mưu lập chước, để làm sao kiếm được thật nhiều tiền trong cái tình thế không hiểu sẽ thay thày đổi chủ ra sao này. Và ông cụ già mù ấy vẫn nghe, vẫn ghi nhớ và cả "trông thấy" nữa, "trông thấy" nhiều cái rất rõ, rất lạ mà nhiều kẻ sáng đủ cả hai con mắt lại không trông thấy gì hết!

Cụ Cam ơi! Cụ mù ở xóm Cấm đi lấy nước gạo ơi! Có phải như vậy không?

Đường từ nhà cụ Cam lên các nhà cho nước gạo thường nhật là lối những người làm ở bến Sáu Kho và nhà Máy tơ đi về. Hôm nay thợ Máy tơ vẫn đình công nhưng cụ Cam vẫn luôn luôn gặp những người quen làm ở Sáu Kho chào hỏi cụ. Mấy bà hàng nước, hàng quà bánh và nhiều khách ăn hàng thấy cụ Cam đi qua còn gọi cụ lại thăm xem đôi lợn của cụ nuôi đẫy niên đã bao nhiêu cân rồi, cuối năm nay cụ sẽ cho thợ thịt cân hay lại để hàng xóm đánh đụng. Có bà hàng và người làm Sáu Kho lại dặn cụ chốc về qua họ sẽ gửi quà về cho con dâu, cho thằng cháu bé của ông cụ và bảo cụ có cần những vị trọng để ngâm rượu thuốc thì họ mua thêm, lấy thêm cho. Cụ Cam nhẩn nha chào hỏi và đôi hồi với mấy bà con thân họ cứ nắm lấy cánh tay, lấy bàn tay cụ mà chuyện và ép cụ nhận trầu cau quà bánh.

Qua khỏi mấy ngõ gần nhà, cụ Cam mới vãn người chào hỏi. Nắng xế xế. Ông cụ lừng lững đi, tay chống gậy hèo, tay xách thùng tôn to, đầu trọc quấn khăn bông dọc đỏ, trông càng như đội mũ đâu mâu, mảng lưng vậm vạp rắn chắc như lim như gụ thì loáng ánh nắng và bóng hoa xoan tây. Tâm trí ông cụ càng trầm trầm như mặt biển xa kia lộng nắng gió. Mấy tin tức về tình hình chiến tranh đọc trong những báo hàng ngày mà người đọc cố lấy giọng ngâm nga thưởng thức, thoáng thoáng bên tai ông cụ. Cụ Cam ghi hết, nhớ hết. Nhiều tin khác, người đọc chỉ lướt qua nhưng ông cụ lại rất chú ý. Cả những mẩu chuyện, những lời kể lể kêu ca về đời sống, về sự làm ăn, ông cụ đều lắng hết vào tai.

Cụ Cam vào nhà hàng phở và hàng bánh cuốn ở ngõ trên lấy xong một thùng đầy nước gạo định xách ra đường thì có tiếng người gọi từ khoảnh vườn rau ở một mé đầm:

- Cụ ơi! Cụ hãy để thùng đấy. Cụ vào cháu xơi nước đã. Cháu vừa pha được ấm chè mới.

"À ông làm vườn đẻ nhà anh Cao làm Máy tơ... Ừ thì mình vào uống nước rồi hỏi xem tin tức đình công ra sao".

Cụ Cam vừa đặt thùng vào một gốc cây định ra vại múc nước rửa tay, đứa con gái ông chủ nhà đã mở cái cửa ở bờ rào ra, chạy lại cầm lấy gậy của ông cụ:

- Cụ để cháu dắt cụ nào.

- Mặc ông, con cứ đi trước đi.

Ông đẻ Cao cũng chạy ra:

- Cháu mới mua được gói chè đầu xuân, cháu pha cụ xơi. (Ông Cao quay ra quát bảo đứa con gái). Mày múc thau nước mưa để cụ rửa tay.

Ngay lúc đó có tiếng cười nói khơ khớ và tiếng hắng giọng chào nói từ ngoài cổng vào. Cụ Cam nhận ra ngay thằng đội Nhị chuyên cho vay lãi và làm cả mật thám riêng cho Tây cậu, và ông lang trẻ có con làm thư ký ở Máy tơ người cùng xóm Cấm với ông cụ. Thoạt thấy ông lang đeo kính lão, khép nép cái quạt giấy to ở trước ngực, ông Cao quay ra nhìn, nét mặt đã tươi thêm. Nhưng sực biết còn có cả con "dê già" đội Nhị mặt mày lồm lộp, nhìn nhìn cười cười nói nói tỏn hoẻn kia, ông Cao choáng cả người, đứng hững ra, luống cuống chào:

- Mời... mời ông vào chơi nhà...

Đội Nhị đã dộng thình thịch cái đầu ba toong bịt sắt nhọn xuống thềm nhà lại còn gõ côông côốc vào tường:

- Bọn thợ nào bó cái thềm, trát cái vách này khớ đây!

Hắn cứ đội sùm sụp cái mũ vơ lua vành cuộn bè bè bước vào nhà. Vẫn cái đầu ba toong bịt sắt nhọn ấy, hắn khua lên gõ các xà, các đầu cột, các vì kèo và cả những cái đố trên nóc nhà.

- Khớ đấy! Khớ đấy! Mộng mẹo khít cứ như in... Chỉ toàn gỗ xoan mà nhà vừa chắc vừa đẹp còn hơn cả nhiều nhà bằng gỗ lim. Con mẹ cái bọn chữa lại nhà bếp cho tôi! Thật là những quân cơm toi! Mộng mẹo cứ vênh váo đút được cả cái đầu lâu bố chúng nó vào. Còn xây thì chưa chi tường đã nứt cả rồi. Ông mà cho người về nhà quê tìm gọi lên được thì ông cứ cho ăn no cái ba toong này từ thằng già đến đứa trẻ!

Đội Nhị vừa nói vừa dứ dứ, khua khua, quay quay cái ba toong ngay trước bàn thờ nhà chủ. Ông lang cầm quạt đứng sau hắn chỉ cười tủm. Còn ông Cao càng tái mặt đi. Đội Nhị ngồi xuống cái ghế chõng bằng tre ngâm, gác một chân lên tay vịn, vẫn khua khoắng cái ba toong bịt sắt:

- Ông Cao này! Ông xem có bọn thợ quen nào thật khớ nữa, ông mách tôi. Chuyến này tôi làm thêm cái nhà ở bãi đất cạnh đền Tiên Nga đấy. Tôi gọi thợ về làm và trông nom lấy, chứ chẳng nhờ cai cú bao thầu bao khoán gì cả! Tôi xây hai tầng để mở ôten. Có gì thì phải nhờ ông chiết cho mấy cây lưu niên như đào, mận, lựu, thanh trà, cam, quất, ngọc lan, dương liễu... để trồng quanh nhà cho đẹp. Ô ten của tôi cũng có đủ cả đầu bếp Bắc Kinh, Quảng Đông và cả bếp Pari nữa...

Cụ Cam ngồi ở mé giường bên kia bàn nước nói thầm:

- Ngữ nó chuyến này làm thêm cai săm, chủ nhà thổ, tiệm hút và sòng bạc nữa, thì không còn để chệch đi đâu một đồng Bảo Đại!

Chợt đội Nhị cười xòa như một hoạn quan đắc chí, đắc thế, ở sân triều đi ra:

- Không hiểu các cậu các cô làm Máy tơ nhà ta còn định đình công đến bao giờ nữa cơ chứ? Sáng nay tôi gặp người nhà đốc công, tôi có nhắn với đốc công rằng nhà máy nên tăng lương cho thợ, cho cu li. Nghe đâu nhà máy cũng nhận tăng cho rồi đấy! Tôi thì tôi cho rằng trong lúc này mình cũng phải biết điều một tý. Cảnh bên Mẫu quốc Pháp cũng như nhà con trưởng đương bị quân cướp kéo đến cướp nhà. Bên ta mà biết đường ăn ở phải chăng, tiếp ứng giúp gập cho bên ấy, thì thế nào sau đây Đại Pháp cũng không quên ơn. Giữa lúc chiến tranh, tiêu pha tốn kém, chỉ nuôi một com ba nhi, chỉ bay một cuốc máy bay, chỉ nã một loạt ca nông... cũng phải mất hàng vạn hàng ức tiền bạc. Vậy mà mình đình công xin thêm lương, người ta cũng tăng, thế mới biết cái lượng của người ta ăn ở đối xử với người lao động của mình như thế nào. Không phải là nước Pháp cách mạng dân quyền, dân chủ, không phải là người Pháp bình đẳng, bác ái, xã hội, khó mà mình lại được như thế! Ở Đức ấy à... thợ mà nho nhoe thì a lê hấp... bòm bòm bòm... chỉ có ăn đạn và sống thì đi tù. Không xem như nước Ba Lan cũng bị cai trị rồi đấy, thợ thuyền thì làm việc không còn giờ giấc, dân cư thì phải chia nhau từng thanh củi, từng cái bánh bột mì đen, vậy mà chỉ động đến lông chân người Đức thôi là bị treo cổ ngay, không cần tòa tiếc gì xử cả, và cứ hàng chục hàng trăm người treo cổ rồi lấp chung một hố. Cứ bảo rằng đế quốc cai trị với tư bản bóc lột vô sản, đế quốc nào tư bản nào, chứ người Pháp người ta cai trị mình và bóc lột vô sản của mình, thì chỉ những quân khố rách áo ôm ăn trộm ăn cắp là còn bị tù tội, còn vô sản của mình có bị bóc thì chỉ có cái khố rận với cái váy mốc bị bóc chứ còn có cái gì nữa?!...

Ông đẻ Cao vừa chuyên chè ra bốn cái chén, định bưng một chén sang mời cụ Cam thì đội Nhị đã quờ lấy, tợp luôn hai chén. Chưa đủ, hắn vớ lấy siêu, rót nước sôi vào ấm, rồi đứng lên lấy cái chén vại ở nóc tủ, rót cả ấm chè vừa chế nước sôi vào chén ấy, cứ xì xụp vừa uống vừa quạt phành phạch vào nách, và lấy dáo quạt thọc thọc gãi gáy gãi lưng:

- Cụ với hai ông này - đội Nhị đã nốc hết chén nước, lại cười hô hố - cứ như sấm các cụ Trạng thì đến cái hội này là nước Nam ta chuyển vận đấy! Chả có thế mà người Pháp người ta đã phải tính đến việc giả lại nước An Nam cho vua An Nam và các quan An Nam! Tôi nghĩ nếu người mình mà được thế này nhé: văn thì mươi người giỏi như Phạm Quỳnh, võ thì dăm người tài như Hoàng Cao Khải, Lê Hoan và quan ba tàu bay gì người Sài Gòn vào làng Tây ấy, thì triều đình ta nhận cai trị lấy nước chắc sẽ chỉ dăm chục năm là không kém gì nước Nhật. Còn người Pháp người ta cũng chả rước lấy làm gì cái tội lo toan bận bịu mọi việc cho mình, mà họ chỉ buôn bán mở mang các sở các mỏ thôi!

Đội Nhị ngừng lại chế lấy nước sôi, lại rót lấy nước chè vào cái chén vại, lại ừng ực, sì sà sì sụp uống, rồi quạt nách phành phạch, và sồn sột gãi gáy gãi lưng:

- Thôi... thôi tôi phải ra ôten Mácxây ở Ngã sáu làm mấy chai bia cổ vàng gờlátxê không thì đến chết khát mất! Ông Cao nhé, cứ như thế nhé, ông có thấy bọn thợ nào khớ, và cần nhất là hiền lành thật thà, thì ông mách mối ngay cho tôi. Chỉ tháng sau tôi ra bốn lò gạch, mua về ba bè gỗ Quảng Yên thì tôi khởi công. Còn những cây tôi nhờ ông chiết, ông cố chọn cho những giống thật quý ấy, hết bao nhiêu tiền cũng được, tôi không để ông phải nghĩ ngợi đâu! Còn mảnh đất của tôi ở dệ đầm sau nhà ông, ông có muốn quật lên trồng trọt thì cứ tự yên...

Đội Nhị đứng dậy, khạc một cái váng cả nhà và nhổ ngay giữa cửa. Tuy chân bước nhưng mắt đội Nhị vẫn đảo lại nhìn, đặc biệt là gian buồng sau giường cụ Cam ngồi mà từ lúc vào nhà, hắn chuyện vẫn chuyện nhưng không phút nào hắn rời mắt. Ông lang ngồi nán lại, trịnh trọng nói vài câu chuyện về thời tiết, về giá cả thuốc men, về một số con bệnh nhà giàu trên phố đã nhờ ông chữa chạy, rồi ra vườn xin ít rễ xoan để về làm thuốc giun. Ra đến cổng, ông ta còn chắp tay khép nép cái quạt vái đi vái lại cụ Cam và ông chủ nhà. Ông đẻ Cao cài cổng lại, bảo con gái chất bếp đun siêu nước khác, rồi lễ mễ bê bộ khay chén đến chỗ cụ Cam:

- Giờ mới thật rảnh rang ngồi chuyện với cụ. Khiếp quá! Khiếp quá... cụ ạ! Cái nhà đội Nhị nó nói ra câu gì, cháu thấy cũng đều là khẩu khí của những quân ba que xỏ lá!

Cụ Cam mãi sau mới lên tiếng, nét mặt ông cụ vẫn như thường, giọng nói nhẩn nha như còn để những ai nghe nữa:

- Hừm! Bên Mẫu quốc Pháp như là nhà con trưởng đương bị quân cướp quân giặc đến cướp đến phá! Bên ta mà biết đường ăn ở phải chăng thì sau đây thế nào cũng được đền ơn. Được đền ơn! Được đền ơn như sau cái trận thế giới thứ nhất ấy. Bao nhiêu ruộng đất lại về thêm tay các chủ đồn điền. Vợ chồng con cái lại bồng bế nhau đi Tân thế giới, đi cao su đất đỏ. Lại được đóng thêm thuế thân, thuế ruộng, thuế cư trú, thuế nước, thuế đèn, thuế môn bài, thuế nhà thuế cửa, thuế chó... lại thêm đề lao, thêm tòa án, hội đồng đề hình, tù, đày án chém. Còn nước An Nam đến lúc chuyển vận, chuyển vận mà được những tài giỏi văn như Phạm Quỳnh, võ như Hoàng Cao Khải, Lê Hoan cai trị thì thật là được đền thêm những cái gông, cái gông, cái gông!... Tài giỏi đức độ Phạm Quỳnh thế nào tôi không được rõ lắm, chứ quan khâm sai Hoàng Cao Khải và quan thượng Hoan thì quả là thừa tài chó săn, thừa đức chim mồi.

Cụ Cam ho sặc. Ông cụ thở hổn hển, những đường gân ở cổ họng giật lên chìm xuống như sắp đứt. Ông cụ chưa dứt cơn ho đã nói, dần dần lại dẽ dàng, bình tĩnh:

- Hoàng Cao Khải thì lĩnh bạc mộ quân đi triệt hạ Bãi Sậy, săn bắt cụ Tán Thuật. Còn Lê Hoan thì đưa lính theo Tây mở câu lơn lùng giết cụ Đề Thám. Cụ Đề Thám bị thằng lý Bắc đánh thuốc độc cắt đầu nộp Tây rồi, Lê Hoan còn mách nước với Tây bêu đầu cụ Đề ở chợ Nhã Nam, đốt đầu cụ thành than rồi đổ xuống cái ao gần đấy. Lê Hoan nó sai giết nhiều dân quá! Ở cái suối dưới chân núi Án cách Nhã Nam chỉ hơn hai cây số thôi, ngày xưa cứ đến đêm ba mươi tết là các cụ người làm ấp gần suối lại nghe thấy tiếng khóc của oan hồn những người dân bị Lê Hoan đưa ra đấy chém rồi đẩy xác xuống khe... Chuyển vận... Chuyển vận... nước An Nam trả về cho vua An Nam và các quan An Nam cai trị... chuyển vận... chuyển vận... chuyển vận như thế chỉ tổ rước thêm gông thêm cùm... thêm xiềng thêm xích... và mạt kiếp làm thân trâu ngựa... Bảy mươi nhăm, bảy mươi sáu tuổi... mắt thấy tai nghe và ngẫm đã nhiều về vận hội nước non... tôi thấy mình phải bảo nhau làm thế nào chứ không thể ngửa tay ăn mày chuyển vận như thế được... ông Cao ạ!

Ông đẻ Cao bưng chén chè mời cụ Cam. Tay ông cụ đã cầm lấy chén nước chè vừa xanh vừa thơm mát lên miệng rồi, nhưng cổ họng ông cụ vẫn phào phào, hừng hực chừng như chưa dứt xong câu nói.

Trong buồng, giáp với bức vách cạnh giường cụ Cam ngồi, có một người đương nằm áp mặt vào khe vách vừa nhìn, vừa nghe bên ngoài chuyện trò, bỗng nhỏm dậy. Trong cổ họng người này cũng thơm mát hương vị chè và cũng phào phào hừng hực vì xúc cảm. Một sự nghẹn ngào đã chặn lên ngực anh:

- Quất xi măng ơi! Thật mày không chết đâu! Mày vẫn sống bên cạnh ông bố già của mày! Mày vẫn sống bên cạnh thằng con lớn của mày! Mày vẫn sống giữa phong trào của thành phố quê hương của mày! Quất ơi! Mày vẫn sống, vẫn được nghe bố mày nói những gì về sự thật, mày vẫn được thấy thằng con lớn của mày tiếp tục sự nghiệp của mày, giương cao ngọn cờ thiêng liêng mà mày vẫn thấy rực rỡ ở trước mắt. Mày vẫn thấy giai cấp của mày, quần chúng của mày, Đảng của mày chiến đấu và nhất định chiến thắng. Quất ơi! Quất ơi!

Tô tự nhủ. Tô kêu lên trong tâm trí như thế. Tô càng thấy ruột gan thắt lại. Vì điều kiện, vì nguyên tắc mà Tô không được ra giáp mặt, nắm lấy bàn tay và ôm lấy người cha già mà Tô thỉnh thoảng lại gặp ngoài đường, trong xóm. Người cha ấy hậm hụi, tay chống gậy hèo, tay xách thùng nước vo, chân đi khập khiễng, hai trũng mắt nhìn hút vào khoảng không trước mắt, khiến Tô lúc nào gặp cũng rưng rưng cả tâm trí, chỉ muốn gọi, chỉ muốn ôm. Phải! Tô chỉ mong được ôm lấy cái thân hình cao lớn, bả vai bắp tay vậm vạp mà từ ông đến cha đến cháu như khuôn như đúc nhau ấy. Tô chỉ mong được áp mặt mình vào cái gương mặt gồ xương, lòng mắt sâu lút, cằm lẹm móm mém, da dẻ nhăn nheo mốc mác ấy. Tô chỉ mong được gục trán mình, gối đầu mình lên cái mỏ ác xồm lông hay lên cái bên chân trái gày teo ấy. Tô chỉ mong được xoa nắn hôn hít tất cả cái thân hình, tất cả da thịt ấy và nói lên một câu như thế này thôi mà không thể được:

"Cha ơi! Con cũng là con của cha đây! Con là Tô, thằng Tô gày cùng chiến đấu, tù đày với thằng Quất xi măng của cha, và cùng là đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương. Cha ơi! Cha hãy nhìn vào mặt con để vẫn thấy hơi hướng ấm áp của thằng Quất. Cha hãy ôm lấy con để vẫn thấy máu thịt của thằng Quất vẫn dạt dào! Cha ơi! Con cũng là con của cha! Thằng Quất thứ hai của cha đây! Thằng bố thứ hai của thằng cháu Cam đây!".

... Chỉ như thế thôi mà không sao được! Cũng như mấy lần Tô đi qua làng mình, Tô hẳn hoi được gặp mẹ Tô vậy. Làng Tô chính ở cái vùng mà người cha già khi nhắc đến đã nghẹn ngào vì đau xót căm thù: làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên của phong trào Bãi Sậy đã bị đàn áp. Tô về hẳn cánh đồng thôn nhà, thấy mẹ Tô cũng đương hậm hụi ở bờ ruộng. Cái giỏ cua đeo bên người, trời nắng như đổ lửa xuống bùn nước và xuống đầu người mẹ. Đầu người mẹ chỉ có mỗi cái mê nón. Với cái mê nón, bà mẹ lom khom một mình giữa cánh đồng chói chang ngun ngút hơi nước, chỉ là một con cò con diệc hay một cụm cỏ may mà mắt người nhìn chỉ lóa đi một giây là không thấy nữa. Vậy mà Tô cũng không được lội xuống cái biển bùn nước mênh mông chói chang ngun ngút ấy mà ôm lấy mẹ, mà nắm lấy bàn tay lấy cánh tay mẹ, áp mặt gục trán mình vào má vào mỏ ác của mẹ và cũng hôn hít xoa nắn tất cả thân hình, tất cả da thịt và cũng kêu lên:

- Bu ơi! Thằng Tô út ít khòm khày (2)của bu đây! Thằng con đi làm cộng sản và đi đày Côn Lôn của bu đây! Bu ơi! Làm sao con được về nhà ở với bu chỉ một chập tối, ăn với bu một bữa cơm độn ngô độn khoai nhưng có canh cua cà ghém hay tôm bống, và được ngủ cạnh cái chõng của bu, bu con đôi hồi với nhau đến gà gáy canh một... là con lại ra đi thôi!!

⚝ ✽ ⚝

[2] Mẹ nói nậng con (Còm gày) chệch đi thành khòm khày.

*

Buổi sáng hôm ấy lúc còn tối đất, còi tầm thứ nhất của nhà Máy tơ quen thuộc của Tô vừa rúc lên thì cũng là lúc Tô vùng dậy, nhất định không nằm nữa, nhất định chấm dứt cái đêm mắt căng lên nóng rực và tâm trí cũng căng lên rực nóng. Ở nhà ông đẻ Cao lấy báo cáo của Cao về, Tô đã viết báo cáo lên xứ ủy từ mười một giờ đêm. Và bản truyền đơn Tô viết đưa cho Sấm, Sấm cũng đã in xong, trưa tới vợ Sấm sẽ đem đến cơ quan của Xim phụ trách giao cho Xim phân phát. Như thế chỉ trong tối nay sẽ lại bay đi, sẽ lại chuyển động cả Hải Phòng tin tức cuối cùng của cuộc đấu tranh thắng lợi. Cuộc đình công đã phải kéo dài sang ngày thứ tư của bốn ngàn sáu trăm thợ, mà hơn ba ngàn là phụ nữ làm ở nhà Máy tơ ấy đã hoàn toàn thắng lợi! Lương được tăng đúng ba mươi phần trăm. Thợ vẫn đi làm ba kíp, ngày làm tám tiếng.

Còi tầm thứ hai của Máy tơ vừa rúc tiếp, Tô ra mở cửa sân thượng gian gác xép của cơ quan, nhìn về phía nhà máy. Rạng đông hôm nay cũng đỏ rực đỏ gắt. Sáng sớm mà không khí vẫn cứ như một lò lửa âm ỉ. Chỉ nhô ra nhìn thoáng một tý như thế đoạn Tô phải tụt ngay vào. Tô nép bên cửa, vươn vai thở ra hít vào nhẹ nhẹ cho đầu đỡ nhức, cho ngực đỡ tức. Đến bảy giờ là Tô phải đi gặp thành ủy. Tô báo cáo thêm về thắng lợi của nhà Máy tơ. Tô trao lại mối giao thông từ Hải Phòng ra Uông Bí, Quảng Yên, Hòn Gai và Móng Cái mà Tô cùng bác Vy đã tổ chức xong cho thành ủy. Rồi Tô sẽ thảo luận với thành ủy về việc vận động và chuẩn bị cho cuộc đình công của Nhà máy Xi măng nếu đã làm được tốt và thành ủy thông qua, thì sẽ nổ đấu tranh vào cuối tháng sáu đầu tháng bảy tới...

« Lùi
Tiến »