Trời cao mây nhạt, đàn nhạn bay về phương nam. Tiết trời tháng mười nhuộm sắc vàng, lập đông đã qua, gió lạnh từng đợt thổi về. Giữa dãy Đại Biệt Sơn giáp ranh hai tỉnh Ngạc, Dự, núi non trùng điệp, lá rụng bay đầy, cỏ dại ngả vàng, một khung cảnh đầu đông tiêu điều xơ xác.
Một thợ săn nhỏ chừng mười sáu, mười bảy tuổi sau khi bán hết thú săn, mua được ít gạo, rời khỏi Lý Gia Tập, men theo con đường núi quanh co đi sâu vào vùng núi mây mù bao phủ. Tiểu thợ săn này mắt hổ mày én, tay chân nhanh nhẹn, đuôi mắt chân mày lộ rõ vẻ thông tuệ lanh lợi, nhìn qua là biết ngay một tay leo núi vượt đèo cừ khôi.
Lý Gia Tập nằm dưới chân núi Kê Công, cách cửa ải danh tiếng Vũ Thắng Quan không xa, là một huyết mạch giao thông quan trọng của người qua lại phương nam phương bắc. Tuy Lý Gia Tập không lớn, chỉ có một con phố chính lát đá xanh, nhưng cũng đủ trà quán, tửu lâu, khách điếm và sòng bạc, tiện cho khách qua đường ăn ở giải trí. Núi Kê Công là thắng cảnh nổi tiếng của Đại Biệt Sơn, đỉnh núi kỳ lạ, suối trong rừng biếc, mây mù quấn quýt, đường núi u tịch, nên người qua lại Lý Gia Tập mỗi ngày không ít.
Tiểu thợ săn rời khỏi Lý Gia Tập, đi được chừng hai mươi dặm, đến một bãi cỏ tương đối thoáng đãng. Phía trước là một rừng cây thưa, một lối nhỏ xuyên qua rừng. Lúc này mặt trời đã ngả về tây, ráng chiều đỏ rực, núi rừng vắng lặng, từ xa đã thấy khói bếp của các thôn làng bay lên. Bằng khứu giác nhạy bén đặc thù, tiểu thợ săn bất ngờ ngửi thấy mùi máu tanh nồng nặc trong rừng. Cậu đưa tay che mắt nhìn về phía trước, không ngờ lại thấy hai cái xác nằm vắt ngang lối đi. Cách đó không xa lại có thêm hai cái xác nữa, trong lòng hoảng sợ, cậu vội ngoái đầu nhìn lại, có lẽ vì lúc nãy vội vã về nhà nên không để ý xung quanh, giờ mới phát hiện ra hai cái xác nam nữ nằm trong đám cỏ bên cạnh. Cậu thầm nghĩ: "Mẹ ơi! Sao hôm nay mình đen đủi thế này! Gặp phải nhiều người chết như vậy". Ai đã giết họ? Cậu sợ đến mức không dám nhìn thêm, thầm bảo: "Mình phải nhanh chóng rời khỏi nơi thị phi giết chóc này, bằng không, đụng phải quan binh, họ lại bảo mình cướp của giết người thì có nước mang đầu đi chém". Vả lại trên người mình còn có một con dao săn, đến lúc đó có trăm miệng cũng không phân trần nổi.
Tiểu thợ săn không dám đi tiếp trên đường núi. Cậu từng nghe người già kể, tuyệt đối không được bước qua xác chết, bước qua rồi xác sẽ bật dậy, ôm chặt lấy mình. Thế là cậu chạy vào rừng cây thưa, định vòng qua đây để về nhà. Ai ngờ vừa chạy vào rừng chưa được bao xa, chân cậu vướng phải vật gì đó, "phịch" một tiếng, ngã nhào xuống đất, túi gạo nhỏ treo trên vai cũng văng ra một bên. Cậu nghĩ: "Sao mình lại bất cẩn vấp ngã thế này? May mà đây là đất bằng, chứ ở trên núi hay bên khe suối thì chẳng phải mất mạng rồi sao?".
Tiểu thợ săn định bò dậy, nhưng một chân cậu như bị thứ gì đó quấn lấy, không sao cử động được. Ngoái đầu nhìn lại, cậu sợ đến hồn bay phách lạc, suýt chút nữa ngất đi. Thứ túm lấy cậu không phải cỏ dại hay dây leo gai góc, mà là một bàn tay to lớn đẫm máu. Bàn tay này chìa ra từ trong bụi cỏ, nơi đó cũng đang nằm một người chết.
Một người đã chết mà lại chìa tay ra túm lấy chân mình, mình đâu có bước qua người ông ta! Tiểu thợ săn vốn gan dạ, lúc này cũng không khỏi kinh hãi, cậu kêu lên: "Đại thúc, cháu không có nhảy qua người ông đâu! Ông đừng giữ cháu, tha cho cháu đi, sau này cháu sẽ mua giấy tiền hương nến cúng bái, mong ông sớm ngày siêu thoát".
Một giọng nói yếu ớt truyền ra từ bụi cỏ: "Tiểu huynh đệ, đa tạ, ta không cần giấy tiền hương nến".
"Ông, ông, ông muốn gì? Muốn, muốn, muốn cháu mời hòa thượng, đạo sĩ đến làm lễ? Cháu, cháu không có nhiều tiền đâu, cháu chỉ là một thợ săn nghèo thôi".
"Tiểu huynh đệ, ta vẫn chưa chết".
Tiểu thợ săn trợn tròn mắt: "Cái gì? Ông chưa chết? Thế ông túm lấy cháu làm gì? Cháu không có giết ông đâu!".
"Tiểu huynh đệ, ta cầu cậu một việc".
"Được rồi ông đừng nói nữa, cháu biết ông muốn cầu việc gì, là muốn cháu cứu ông. Đại thúc, ông không nói cháu cũng sẽ cứu ông. Đại thúc, ông buông cháu ra trước đi, rồi cháu đỡ ông dậy, cõng ông vào trấn tìm lang trung chạy chữa".
"Tiểu huynh đệ, ta bị thương quá nặng, e rằng dù là Đại La Thần Tiên cũng không cứu nổi ta nữa".
"Không đâu, lang trung ở Lý Gia Tập y thuật cao lắm, người trong trại chúng cháu có gãy tay gãy chân ông ấy cũng chữa khỏi được".
Người kia cười khổ: "Tiểu huynh đệ, đa tạ lòng tốt của cậu. Ta biết mình không còn nhiều thời gian, chỉ cần cậu hứa làm cho ta một việc, ta chết cũng nhắm mắt".
"Đại thúc, ông nói đi, ông muốn cháu làm việc gì?".
"Mang giúp ta một tấm vải máu".
"Một tấm vải máu?".
"Phải! Một tấm vải máu, trong ngực ta đó. Sau khi lấy ra, làm phiền cậu đến Quảng Châu một chuyến, tìm Tổng tiêu đầu Phùng của Võ Uy tiêu cục, đích thân giao tấm vải máu này cho ông ấy. Tuyệt đối không được giao cho người khác, càng không được nói với bất kỳ ai là cậu có tấm vải này".
"Phủ Quảng Châu ở đâu? Có xa không?".
"Tiểu huynh đệ, phủ Quảng Châu nằm ở ven biển Nam Hải, cách đây khoảng mấy ngàn dặm, cậu cứ đi về hướng nam, dọc đường hỏi thăm người ta là tìm được thôi".
Tiểu thợ săn khó xử: "Xa thế này, cháu đi sao nổi! Cháu lớn thế này còn chưa từng đi đến Vũ Thắng Quan hay thành Tín Dương nữa là".
"Tiểu huynh đệ, ta biết làm khó cậu quá. Nhưng ta đã là người sắp chết, chỉ còn biết cầu xin cậu, cậu nhất định phải hứa, bằng không ta chết cũng không nhắm mắt, làm ma cũng sẽ quấn lấy cậu".
"Không không! Đừng quấn lấy cháu, cháu, cháu hứa với ông là được chứ gì".
Người kia cười an lòng: "Tiểu huynh đệ, họ Hoắc ta đa tạ cậu. Trong ngực ta còn ít bạc vụn, cậu cầm lấy mà dùng dọc đường".
"Đại thúc! Cháu không cần đâu, dọc đường cháu săn bắn kiếm sống, không chết đói được đâu".
"Tiểu huynh đệ, cậu cứ cầm lấy đi, cậu không cầm thì người khác cũng lấy mất thôi, ta đưa cho cậu, lòng ta cũng thấy nhẹ nhõm hơn. Tiểu huynh đệ, nhớ kỹ, sau khi gặp Tổng tiêu đầu Phùng, hãy nói với ông ấy: Mỹ Nhân Lam nằm trong tấm vải máu".
"Mỹ Nhân Lam? Mỹ Nhân Lam gì cơ?".
Nhưng người họ Hoắc đã nhắm mắt lìa đời, không còn trả lời được nữa, bàn tay túm lấy tiểu thợ săn cũng buông lỏng. Tiểu thợ săn ngẩn người một hồi lâu mới chậm rãi bò dậy, thầm nghĩ: Việc ông ấy nhờ, mình có nên làm không? Không làm, liệu ông ấy có biến thành oan hồn quấn lấy mình không? Còn nếu làm, Quảng Châu cách xa mấy ngàn dặm, mình phải đi bao nhiêu ngày mới tới? Nhưng mình đã hứa rồi, không làm thì có lỗi với ông ấy không? Thôi được, coi như mình xui xẻo tột cùng, hướng nào không đi lại đâm đầu vào cái rừng này, rồi lại bị ông ta túm lấy, không làm không xong. Cậu thật không hiểu, người chết này sao không nhờ việc gì khác mà cứ bắt mình mang một tấm vải máu? Tấm vải này quan trọng lắm sao? Lại còn phải đưa đến tận phủ Quảng Châu xa xôi.
Tiểu thợ săn lại nhớ đến câu "Mỹ Nhân Lam nằm trong tấm vải máu". Cậu cảm thấy mông lung, sao một Mỹ Nhân Lam lại nằm trong tấm vải máu được? Mỹ Nhân Lam là thứ gì? Là bảo vật hay là người? Là người? Không thể nào, người sao có thể bọc trong một tấm vải máu. Xem ra chắc là một món bảo vật quý giá nên mới cầu mình đưa đến Quảng Châu. Mình phải xem rốt cuộc nó là bảo vật gì.
Dưới sự thúc đẩy của tính tò mò, tiểu thợ săn do dự một lát rồi đưa tay vào ngực người chết, quả nhiên lấy ra được một tấm vải máu không lớn lắm. Tấm vải này như thể được người chết cắt ra từ chính quần áo của mình. Cậu nhìn dưới ánh hoàng hôn, đâu có thấy Mỹ Nhân Lam nào? Chẳng có gì cả, trên vải chỉ vẽ vài ký hiệu bằng máu. Tiểu thợ săn có chút thất vọng: Chỉ là một tấm vải máu như thế này mà bắt mình mang đến tiêu cục ở Quảng Châu sao? Hay là mình sờ nhầm, trong ngực ông ta còn một tấm vải khác bọc Mỹ Nhân Lam?
Tiểu thợ săn không yên tâm, lại đưa tay vào ngực người chết lục lọi, cuối cùng rút ra một túi vải nhỏ ở thắt lưng, túi vải cũng dính máu, bên trong như có vật cứng. Cậu thầm nghĩ: Có khi Mỹ Nhân Lam ở trong này. Thế là mở ra xem. Bảo vật thì đúng là bảo vật, nhưng không phải Mỹ Nhân Lam, chỉ là mấy mảnh bạc vụn và hơn mười đồng tiền đồng. Tiểu thợ săn lại ngẩn người, xem ra trên người người chết chẳng có Mỹ Nhân Lam bảo vật gì cả, chỉ có một tấm vải máu và một cái ví tiền mà thôi.
Hết cách, đã hứa rồi thì chỉ còn nước mang tấm vải máu có ký hiệu và ví tiền này đến Quảng Châu. Dù có vất vả chút cũng còn hơn là tâm bất an bị oan hồn quấn thân. Vả lại cha lúc sinh thời cũng thường dạy, đã hứa với người ta việc gì thì nhất định phải làm, không được thất tín, không làm được thì đừng hứa. Người ta nói "nhân vô tín bất lập". Ai bảo mình nhát gan, vội vàng hứa với người ta làm gì?
Tiểu thợ săn cẩn thận cất tấm vải máu và túi tiền vào ngực, nhặt lại túi lương thực lúc nãy bị vấp ngã văng ra, định chạy đi. Cậu không nhịn được ngoái đầu nhìn người chết trong bụi cỏ, chợt nghĩ: Mình cứ thế đi mất, để ông ấy nằm đây, nửa đêm không bị thú dữ tha đi sao? Hoặc bị cắn xé không ra hình thù gì? Thế thì tàn nhẫn quá? Thôi thì làm phúc, chôn cất ông ấy cho xong. Thế là cậu lại đặt túi lương thực xuống, rút dao săn ra định đào một cái hố chôn cất vị đại thúc đã khuất này.
Tiểu thợ săn đào được một lúc lại nhớ đến sáu cái xác trên đường núi kia. Cậu nghĩ: Mình không thể chôn người này mà bỏ mặc họ được? Họ chẳng phải cũng bị thú dữ tha đi sao? Họ không trách mình thiên vị à? Thôi, đã làm việc tốt thì làm cho trót, chôn hết cả bọn họ, kẻo họ bị thú dữ ăn thịt rồi lại chạy xuống Diêm Vương gia kiện mình thiên vị. Nhưng chôn nhiều người thế này, mình phải tìm một cái hố lớn mới được, cứ đào thế này thì đến bao giờ?
Tiểu thợ săn nhân lúc hoàng hôn mờ mịt tìm kiếm khắp nơi, muốn tìm một chỗ trũng. Quả nhiên không xa có một cái hố lớn, thế là cậu khiêng từng cái xác trên đường núi vào hố. Khi khiêng cái xác thứ sáu, cậu lại phát hiện gần đó còn một cái xác lão già áo đen. Cậu nghĩ: Sao lại thêm một cái xác nữa thế này? Rốt cuộc trong rừng này đã chết bao nhiêu người vậy! Hết cách, đã nhúng tay vào rồi thì thêm một người cũng chẳng sao. Cậu khiêng hết sáu cái xác bên kia, rồi lại khiêng vị đại thúc nhờ việc vào hố, sau đó mới đi khiêng lão già kia. Ai ngờ khi đi khiêng lão già, lại phát hiện thêm một cái xác nằm cách đó hai ba bước chân. Tiểu thợ săn lại ngẩn người, sao lúc nãy mình không thấy? Chẳng lẽ mình nhìn nhầm? Không được, mình phải xem cho kỹ, rốt cuộc trong rừng này có bao nhiêu người chết.
Tiểu thợ săn đi quanh khu vực có xác chết một vòng, không thấy thêm người nào nữa, thế là khiêng xác lão già chạy đến bên hố đặt xuống, rồi quay lại tìm cái xác thứ chín. Ai ngờ khi đi khiêng cái xác thứ chín, bên cạnh lại có thêm một cái xác nữa. Lần này tiểu thợ săn càng ngẩn người hơn. Lúc nãy mình rõ ràng nhìn kỹ rồi, đâu còn xác nào nữa, sao lại thêm một cái? Chẳng lẽ cái xác này từ dưới đất chui lên? Hơn nữa cái xác này giống hệt cái xác lão già mình vừa khiêng đi, cũng là một lão già mặc áo đen. Chẳng lẽ lúc nãy mình vội quá nên nhìn nhầm? Đành phải khiêng cái xác này vứt xuống hố, rồi chạy về khiêng cái xác cuối cùng. Tiểu thợ săn trước sau khiêng tổng cộng chín người, đã gần xong, định khiêng nốt cái cuối rồi ngồi xuống nghỉ ngơi, sau đó lấp đất chôn cất. Khi cậu chạy về định khiêng cái xác cuối cùng, bên cạnh lại xuất hiện thêm một cái xác nữa. Lần này tiểu thợ săn sợ chết khiếp. Trời ơi! Sao người chết cứ khiêng mãi không hết thế này? Đừng nói là mình gặp quỷ nhé! Cậu cố nhìn kỹ dưới ánh hoàng hôn mờ ảo, lại là một lão già áo đen, giống hệt hai lão già trước đó. Tiểu thợ săn sợ đến mức mềm nhũn người, cậu không thể không tin là có quỷ, bèn quỳ xuống dập đầu nói: "Lão nhân gia, ông gia, cháu thành tâm thành ý chôn cất ông, ông đừng dọa cháu, nếu ông không muốn chôn cùng họ, cháu sẽ đào cái hố khác chôn ông! Ông đừng chạy qua chạy lại nữa".
Trong rừng vang lên một giọng nói già nua: "Ta đương nhiên không thích chôn cùng bọn họ rồi!". Giọng nói này lúc xa lúc gần, như từ trong rừng truyền đến, lại như văng vẳng bên tai. Tiểu thợ săn không khỏi nổi da gà toàn thân. Đây đích thị là quỷ nói chuyện, vì hai cái xác trước mắt cậu vẫn nằm thẳng đuỗn, miệng không hề cử động, nhất là lão già kia, miệng càng không nhúc nhích. Cậu run rẩy nói: "Thế, thế, thế cháu đào cái hố khác chôn ông vậy. Lão nhân gia, ông muốn cháu chôn ở đâu?".
"Ta không muốn chôn ở đâu cả!".
"Thế, thế thì cứ để đây à? Không sợ thú dữ tha ông đi sao?".
"Thằng nhãi ranh! Ngươi tưởng ta chết rồi à?".
"Ông, ông, ông chưa chết?".
"Đúng! Ta chết rồi, nhưng Diêm Vương gia không muốn nhận ta, lại đuổi ta về. Ngươi là thằng nhãi ranh cứ ném ta vào hố xác chết, ta không chạy qua chạy lại thì để ngươi chôn sống à?".
Tiểu thợ săn không thể tin vào mắt mình, người chết rồi mà Diêm Vương cũng không nhận, lại đuổi về sao? Trên đời có chuyện quái đản thế này à? Đã đuổi về rồi sao lại còn nằm thẳng đuỗn trên đất không động đậy? Ông ta thực sự sống lại, hay là quỷ hồn đang nói chuyện?
Tiểu thợ săn không phải người trong võ lâm, tất nhiên không biết những môn võ công thượng thừa như Quy Tức Pháp, Phúc Ngữ Công. Nếu cậu là người võ lâm thì đã chẳng thấy lạ lùng gì. Lão già áo đen trước mắt rõ ràng là cao thủ võ lâm tuyệt đỉnh, biết Quy Tức Pháp, cũng biết Phúc Ngữ Công, dĩ nhiên khinh công lặng lẽ của ông ta cũng thuộc hàng nhất nhì võ lâm hiện nay, bằng không, tiểu thợ săn khiêng thân thể ông ta vứt xuống hố, chớp mắt đã lại nằm ở chỗ cũ sao được?
Tiểu thợ săn vẫn kinh nghi hỏi: "Lão nhân gia, ông thực sự sống lại rồi à?".
"Thằng nhãi ranh, người chết rồi mà biết nói chuyện à?".
Tiểu thợ săn nghĩ cũng phải, người chết rồi sao biết nói chuyện! Cha mẹ mình chết rồi đâu có nói được. Bèn hỏi: "Ông, ông đã sống lại rồi thì, thì, sao không ngồi dậy?".
"Ta đi mệt, ngủ một lát không được à? Thằng nhãi ranh, ngươi mau khiêng cái xác bên cạnh ta đi chôn đi, đừng có làm phiền ta ngủ nữa".
"Dạ! Dạ!".
Tiểu thợ săn thực không biết lão già áo đen này là quỷ hay người, cậu vừa sợ vừa tò mò, không dám nói thêm lời nào, khiêng cái xác bên cạnh lão già rồi vội chạy đi, dùng dao săn đào đất xung quanh cái hố lớn, chôn cất xong bảy cái xác. Lúc này cậu đã mệt đến mức mồ hôi đầm đìa, tay chân bủn rủn, ngồi bên ngôi mộ lớn nghỉ ngơi.
Một vầng trăng non đã lên cao, ánh trăng như nước, tưới lên những vách đá kỳ dị của núi Kê Công một màu sáng bạc. Tiểu thợ săn nằm tựa vào gốc cây nghỉ ngơi. Gió lạnh núi rừng từng đợt thổi tới, khắp núi đồi toàn là tiếng thông reo "hì hì". Mồ hôi trên người tiểu thợ săn bị gió lạnh thổi khô, cậu cảm thấy toàn thân ớn lạnh, bèn đứng dậy, nghĩ: Lão già áo đen chết rồi sống lại kia giờ thế nào rồi? Ông ta vẫn ngủ ở đó à? Không sợ lạnh chết sao? Đừng nói lại chết rồi đấy chứ?
Tiểu thợ săn vốn định cõng túi lương thực rời đi, nhưng tính tò mò lại thôi thúc cậu quay lại con đường núi kia xem sao. Tiểu thợ săn không phải là thằng nhãi ranh như lão già nói, cậu bắt gà rừng, thỏ rừng rất lanh lợi, ngay cả loài sói hoang tàn bạo, hung ác, xảo quyệt trong núi cậu cũng dám săn, cũng biết tự tính toán cho mình. Nhưng rốt cuộc cậu vẫn là người lớn lên trong núi sâu rừng già, có sự đôn hậu, thuần phác, chân thành của người miền núi, hơn nữa chưa từng đi lại trong chốn giang hồ, đừng nói là phủ thành lớn, ngay cả mấy thị trấn lớn cũng chưa từng đi qua, không biết lòng người hiểm ác, gian trá, lừa lọc, cậu càng không biết tính toán hay ám hại người khác. Tiểu thợ săn đi xem lão già áo đen, một mặt là tò mò, mặt khác là quan tâm. Cậu thấy lão già áo đen vẫn nằm thẳng đuỗn ở đó không động đậy, thầm nghĩ: Lão già này là ngủ rồi, hay chết thật rồi? Hay ông ta vốn dĩ là người chết, lúc nãy chỉ là quỷ hồn nói chuyện? Cậu không nhịn được tiến lại gần xem cho rõ. Quả thực là một cái xác, không nghe thấy tiếng ngáy như người ngủ, ngay cả hơi thở nhẹ cũng không có. Cậu không khỏi nói: "Lão nhân gia, không phải cháu không muốn chôn ông, mà là quỷ hồn của ông bảo cháu đừng chôn ông, để ông nằm đây. Lão nhân gia, ông cứ an nghỉ ở đây đi, cháu đi đây, quỷ hồn của ông nhất định đừng đi theo cháu đấy".
Tiểu thợ săn lạy lão già áo đen mấy cái, rồi dưới ánh trăng men theo đường nhỏ đi tiếp. Nơi cậu ở còn cách đây hơn mười dặm, dọc đường không một bóng người. Tiểu thợ săn này quả thực là một thanh niên gan dạ, điều này liên quan đến nơi cậu lớn lên. Cậu mất mẹ từ nhỏ, theo cha vào rừng sâu săn bắn, thường xuyên ăn gió nằm sương, có khi nửa tháng không về nhà, cứ mãi theo dấu vết thú dữ trong rừng, hang đá, miếu hoang, cổ tự, trên cây đều đã từng ngủ, có khi còn nhóm lửa bên khe suối sâu nơi thú dữ hay xuất hiện, dựa vào cha mà ngủ. Không những luyện cho cậu một thân thể cứng cáp, bền bỉ, mà còn rèn cho cậu tính cách gan dạ, dũng cảm khác người và kỹ năng săn bắn. Không có cung tên, cậu có thể dùng đá ném trúng thỏ rừng đang chạy, dùng một con dao săn ngắn có thể hạ gục một con sói dữ. Trong giới thợ săn, cậu quả thực là một tay săn cừ khôi, dao săn trong tay, ba năm gã tráng hán bình thường khó mà lại gần người, nên cậu mới dám một mình đi đường núi trong đêm tối.
Tình huống cậu gặp đêm nay, nếu là người bình thường thì không chết cũng ngất đi rồi. Cậu tuy giật mình, cũng có chút sợ hãi, nhưng không hề cuống cuồng bỏ chạy, còn có thể chôn cất người chết. Cái cậu sợ chỉ là quỷ hồn vô hình, nếu quỷ hồn thực sự muốn hại cậu, cậu cũng sẽ liều mạng để sinh tồn, tuyệt đối không ngồi chờ chết.
Năm cậu mười bốn tuổi, cha vì lao lực quá độ, có bệnh nhỏ không chịu tìm lang trung, tự tìm thảo dược trong núi chữa trị, cuối cùng bệnh nặng kéo dài, bỏ lại cậu mà lìa đời. Hai năm nay, cậu một mình săn bắn kiếm sống trong núi rừng, càng rèn luyện thêm sự dũng cảm và lanh lợi. Ngoài quỷ thần ra, cậu gần như chẳng sợ gì cả. Dĩ nhiên, chuyện giết người phóng hỏa thì cậu không bao giờ làm.
Đi được chừng năm dặm, với sự cảnh giác của một thợ săn, cậu dường như phát hiện phía sau có thú dữ nào đó đang lén lút theo dõi, bèn âm thầm rút dao săn ra phòng thân. Đến góc núi ngoặt, cậu đột nhiên thân hình lóe lên, ẩn mình sau một tảng đá xem kẻ theo dõi là thú gì. Ai ngờ nhìn lại, trên con đường phía sau mình chẳng có thú dữ nào, trái lại ngay chỗ mình đang ẩn nấp lại có một bóng người đứng đó. Cậu vội ngoái đầu nhìn lại, lại kinh ngạc, người đứng sau lưng mình không ngờ chính là lão già áo đen đã chết kia. Lão già áo đen trái lại không vui nói: "Thằng nhãi ranh, ngươi làm gì thế? Sao lại lóe thân trốn sau tảng đá này? Thằng nhãi ranh, ngươi gặp phải cái gì à?".
Tiểu thợ săn ngẩn người một hồi lâu: "Ông, ông, ông, ông rốt cuộc là người hay là quỷ?".
"Ta bây giờ cũng không biết mình là người hay là quỷ nữa".
"Lão nhân gia, cháu không đắc tội gì ông, sao ông cứ quấn lấy cháu?".
"Thằng nhãi ranh, ngươi còn bảo không đắc tội ta?".
"Cháu, cháu đắc tội ông lúc nào?".
"Sao ngươi bỏ mặc ta ngủ trong rừng rồi tự mình chạy mất? Ít nhất lúc đi ngươi cũng phải gọi ta dậy chứ, nhỡ ta bị thú dữ tha đi thì sao?".
Tiểu thợ săn lại ngẩn người một hồi lâu, nghĩ: Ông là người đã chết, cháu gọi ông dậy thế nào được? Người chết mà gọi dậy được thì đâu phải người chết! Cậu chắp tay nói: "Lão nhân gia, cháu thừa nhận đắc tội ông, xin ông tha lỗi cho".
"Hừ! Thế còn tạm được".
"Ông chịu tha lỗi cho cháu rồi?".
"Được rồi! Ta tha cho ngươi là được chứ gì".
Tiểu thợ săn vội vã cảm tạ: "Cháu Nhiếp Thập Bát đa tạ đại ân của ông, xin ông đi cho, đừng theo cháu nữa, ngày mai cháu sẽ đốt thêm nhiều giấy tiền cho ông hưởng dụng".
"Thằng nhãi ranh, nói cái gì?".
"Cháu đốt thêm giấy tiền cho ông mà, không thì ngày mai cháu vào trấn mua ít vàng thỏi bạc nén đốt cho ông".
"Ngươi coi ta là loại người nào? Ta là người chết à?".
"Ông không phải người chết sao?".
"Ai bảo ta chết? Chẳng phải ta nói Diêm Vương gia không nhận ta, lại đuổi ta về sao?".
"Thế, thế, thế ông là người sống?".
"Diêm Vương gia đuổi ta về, ta không phải người sống thì là gì?".
Tiểu thợ săn Nhiếp Thập Bát không thể tin nổi. Ông là người sống? Người sống đi đứng sao không có tiếng động? Người sống sao chớp mắt đã từ dưới hố chạy ra nằm ở chỗ cũ? Chỉ có quỷ mới làm được thế thôi. Tiểu thợ săn vốn định hỏi thêm: Ông không phải quỷ à? Nhưng cậu sợ câu hỏi này làm lão già nổi giận, không dám nói ra, đành hỏi: "Ông thực sự là người sống?".
"Thằng nhãi ranh, đừng nói nhảm nữa! Ta đi đường cả ngày, lại còn đi một chuyến đến cửa Quỷ Môn Quan, bụng đói rồi, muốn theo ngươi về nhà ăn no bụng, ngươi không định mời ta ăn bữa cơm chứ?".
Nhiếp Thập Bát thầm nghĩ: Quỷ mà cũng biết ăn cơm ư? Thật là lạ lùng! Được! Ta cứ để ngươi theo ta về nhà, xem ngươi ăn cơm kiểu gì. Vả lại, trong nhà ta có thờ một vị Quan Âm đại từ đại bi, bất cứ ác quỷ nào cũng không dám bén mảng tới. Đến lúc đó, xem ngươi có sợ hay không. Thế là hắn hỏi: "Ngươi thực sự muốn theo ta về nhà ăn cơm?"
"Ta không ăn cơm thì theo ngươi làm gì?"
"Lão nhân gia, trong nhà ta có thờ một pho tượng Quan Âm, ngươi nhìn thấy không sợ sao?"
"Ta sợ Quan Âm làm gì?"
Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người, thầm nghĩ: Lão quỷ này sao lại không sợ Bồ Tát Quan Âm? Nghe người già kể lại, bất cứ ác quỷ tà thần nào, hễ thấy Bồ Tát Quan Âm đều không ai là không tránh xa từ sớm. Chẳng lẽ ngươi còn hung ác hơn cả những ác quỷ khác, đến cả Bồ Tát Quan Âm cũng sợ ngươi? Không thể nào. Bồ Tát Quan Âm pháp lực vô biên, bà chỉ cần hiển linh, bất cứ ác quỷ tà thần nào cũng đều bị thu phục. Ngươi không sợ, trừ khi tượng Quan Âm nhà ta không còn linh nghiệm nữa.
Vừa nghĩ đến chuyện Quan Âm Bồ Tát hiển linh, lòng Nhiếp Thập Bát lại thấp thỏm không yên. Phụ thân thờ phụng Quan Âm Bồ Tát cả đời, vô cùng thành kính, nhưng không chỉ bản thân phụ thân, mà ngay cả hắn cũng chưa từng thấy Quan Âm Bồ Tát hiển linh lấy một lần. Thậm chí khi phụ thân lâm bệnh nặng, Quan Âm cũng chẳng hiển linh cứu giúp, uổng phí công phụ thân thắp hương cả đời. Nếu lần này lão quỷ này tìm đến tận cửa mà Quan Âm Bồ Tát vẫn không hiển linh, thì ta còn thờ phụng Quan Âm để làm gì nữa?
Lão giả áo đen hỏi: "Thằng nhóc khờ, ngươi đang nghĩ gì thế? Còn không mau đi?"
Nhiếp Thập Bát trấn tĩnh lại: "Được, được, chúng ta đi. Lão nhân gia, trên đường ngươi sẽ không hại ta chứ?"
"Ta hại ngươi làm gì?"
"Vậy... vậy ngươi không phải là con quỷ hại người sao?"
"Nói nhảm! Ta muốn hại ngươi thì chẳng phải đã hại từ lâu rồi sao? Còn đợi đến bây giờ à? Thằng nhóc khờ, có phải ngươi muốn hại ta không?"
"Không không! Sao ta dám hại lão nhân gia chứ!"
"Thằng nhóc khờ, ngươi nhớ kỹ cho ta, nếu ngươi có lòng muốn hại ta, ta không những lột da ngươi, mà còn móc cả tim ngươi ra ăn đấy."
Nhiếp Thập Bát không khỏi rùng mình một cái. Xem ra lão quỷ hung ác này không thể đắc tội, tốt nhất là sớm cho lão ăn no, mong lão mau chóng rời đi thì hơn. Nhiếp Thập Bát không dám nói thêm lời nào nữa, dẫn lão giả áo đen về nhà.
Nhà của Nhiếp Thập Bát nằm trong núi Kê Công, gần một ngôi làng nhỏ cách thác nước suối núi không xa. Ngôi làng nhỏ này không lớn, chỉ có bảy tám hộ dân, tất cả đều sống dựa vào việc săn bắn, đốn củi, đồng thời cũng trồng một ít rau củ trước cửa hoặc bên cạnh nhà. Đi khoảng nửa canh giờ thì tới nhà. Nhiếp Thập Bát chỉ vào một túp lều tranh cô độc nói: "Lão nhân gia, đó chính là nhà của ta." Thế nhưng không nghe thấy lão giả áo đen trả lời, quay đầu nhìn lại thì bóng dáng lão đâu còn nữa? Lòng hắn lại kinh ngạc: Vừa rồi lão còn đi theo sau mình, sao chớp mắt đã không thấy đâu? Chẳng lẽ Quan Âm Bồ Tát nhà mình hiển linh, dọa lão không dám đi theo nữa? Nếu vậy, mình phải thờ phụng Quan Âm Bồ Tát thật tốt mới được, sau này lên đường, tốt nhất nên mang theo Quan Âm Bồ Tát bên mình, để mọi ác quỷ tà thần không dám lại gần.
Nhiếp Thập Bát gọi thêm vài tiếng, không thấy lão giả áo đen trả lời, đành một mình mở cửa gỗ, đẩy cửa bước vào, dùng liềm sắt đánh đá lửa, châm bùi nhùi rồi thắp đèn dầu.
Đúng là nhà của người miền núi, túp lều đơn sơ, tất cả đồ đạc đều là tự làm, hơn nữa cũng chẳng có mấy món, chế tác lại thô sơ, chỉ có một cái bàn và bốn chiếc ghế đẩu thấp. Phía chính diện là một bàn thờ dài, thờ bài vị tổ tiên các đời nhà họ Nhiếp, còn có một pho tượng Quan Âm bằng gỗ.
Nhiếp Thập Bát thắp đèn lên, việc đầu tiên là nhìn lên pho tượng Quan Âm trên bàn thờ, cảm kích bà đã âm thầm hiển linh khiến lão quỷ không dám đến quấy nhiễu mình. Pho tượng Quan Âm bằng gỗ này cao chưa đầy bốn tấc, không biết xuất thân từ bàn tay nghệ nhân dân gian nào, điêu khắc khá sinh động, ngũ quan rõ ràng, mặt nở nụ cười, tay cầm nhành liễu. Đây là tượng đứng, xem ra đã có từ lâu đời, tượng Quan Âm bị khói hương hun đến đen bóng. Có vẻ như món đồ giá trị nhất trong nhà Nhiếp Thập Bát chính là pho tượng Quan Âm bằng gỗ này, không biết là tổ tiên đời nào của hắn truyền lại.
Nhiếp Thập Bát đang ngắm nhìn pho tượng Quan Âm trên bàn thờ thì phía sau vang lên một giọng nói già nua: "Thằng nhóc khờ, ngươi nhìn gì thế? Sao không đi nấu cơm?"
Hắn quay người lại, kinh ngạc đến mức không nói nên lời. Lão giả áo đen này không biết đã bước vào từ lúc nào, hiển nhiên là không hề sợ hãi Bồ Tát Quan Âm trên bàn thờ! Xem ra Bồ Tát Quan Âm căn bản chưa từng hiển linh, mình đã vui mừng hụt rồi. Một lúc lâu sau, hắn mới kinh ngạc hỏi: "Ngươi, ngươi... ngươi vào bằng cách nào vậy?"
"Thằng nhóc khờ, lúc ngươi vào thì ta cũng vào đấy thôi?"
"Thế... thế sao ta không thấy ngươi?"
"Lúc ngươi đẩy cửa thì ta đã vào rồi, sao ngươi thấy ta được?"
Nhiếp Thập Bát càng khẳng định lão giả áo đen này là một con quỷ, hơn nữa còn là một con quỷ không sợ Quan Âm, lại càng không thể đắc tội. Hắn ấp úng nói: "Ta... ta đi nấu cơm ngay đây, ngươi... ngươi cứ ngồi nghỉ một lát."
Nhiếp Thập Bát mò vào bếp nhóm lửa, đong gạo nấu cơm, còn cắt thêm một ít thịt muối, trộn với ớt, đặt lên mặt cơm để hấp. Ớt có thể xua tan cái lạnh, người trong núi sâu thường thích ăn món này. Thật ra không cần lão giả áo đen thúc giục, hắn cũng định nấu cơm ăn, từ sáng đến giờ hắn chỉ ăn một bữa rồi vội chạy đến tập trấn Lý Gia bán thú săn, đến tận bây giờ vẫn chưa ăn gì. Cộng thêm việc chôn cất bảy cái xác kia, hắn đã vừa mệt vừa đói. Hắn vừa nấu cơm vừa nhìn về phía bàn thờ Táo quân bên cạnh bếp, thầm nghĩ: Đến Bồ Tát Quan Âm trên bàn thờ còn chẳng có tác dụng gì, e rằng vị Táo quân nhỏ bé như ngươi sớm đã sợ chạy mất tăm rồi!
Chẳng bao lâu, Nhiếp Thập Bát nấu xong cơm canh, bưng lên bàn, cung kính mời lão giả áo đen dùng bữa, thầm nghĩ: Ngươi là quỷ, ta xem ngươi ăn cơm thế nào. Nghe người ta nói, quỷ không biết ăn cơm, chỉ ngửi mùi cơm, mùi thức ăn là được, cuối cùng vẫn là người ăn chỗ cơm canh đó.
Thế nhưng, lão giả áo đen ngồi đối diện hắn không những bưng bát cơm lên, mà còn gắp thức ăn, ăn một cách ngon lành.
Lòng Nhiếp Thập Bát lại kinh nghi, chẳng lẽ lão không phải là quỷ? Thực sự là một người sống chết đi sống lại ư? Trên đời này thật sự có chuyện kỳ lạ đến thế sao? Hèn gì lão không sợ Bồ Tát Quan Âm. Nhưng một người sống, sao lại có thể đột nhiên biến mất, đột nhiên xuất hiện? Lúc ngủ còn không có hơi thở? Chẳng lẽ lão là thần tiên? Thần tiên cũng biết đói bụng sao? Nhiếp Thập Bát nhất thời không phân biệt được lão giả trước mắt là người, là quỷ hay là thần tiên.
Nhưng dưới ánh đèn, nhìn rõ khuôn mặt lão, đó là một ông lão gầy gò, mày trắng, tóc trắng, râu trắng, đôi mắt như điện lạnh, thần thái nghiêm nghị, khiến người ta nhìn vào có chút sợ hãi.
Nhiếp Thập Bát vừa ăn vừa thăm dò hỏi: "Lão nhân gia, ngươi thực sự từ chỗ Diêm Vương trở về sao?"
"Ta không trở về thì làm sao ngồi đây ăn cơm được?"
"Ngươi gặp Diêm Vương rồi ư?"
"Gặp rồi!"
"Ông ta trông như thế nào?"
"Chẳng ra sao cả, cũng giống người thôi, có mũi, có mắt và có miệng."
"Tại sao ông ta lại tiễn lão nhân gia ngươi trở về?"
"Ông ta sợ ta vặn đứt đầu ông ta, dỡ bỏ điện Diêm Vương của ông ta, thả hết tất cả oan hồn quỷ chết oan ra ngoài."
Nhiếp Thập Bát lại sợ đến mức không dám nói lời nào. Ông lão này sao lại hung ác đến thế, đến cả điện Diêm Vương cũng dám dỡ bỏ? Không sợ Diêm Vương đày xuống mười tám tầng địa ngục, vĩnh viễn không được siêu sinh sao? Chẳng lẽ Diêm Vương cũng giống như người, bắt nạt kẻ yếu sợ kẻ mạnh?
Lão giả áo đen lại hỏi hắn: "Thằng nhóc khờ, ngươi hỏi mấy chuyện này làm gì?"
"Ta... ta chẳng làm gì cả, chỉ là tò mò, muốn biết Diêm Vương tiễn lão nhân gia ngươi trở về như thế nào thôi."
"Giờ ngươi biết rồi đấy?"
"Ta biết rồi!"
"Ngươi có muốn đi gặp Diêm Vương không?"
"Không, không, ta không muốn đi, ngươi cũng đừng kéo ta đi."
Nhiếp Thập Bát thầm nghĩ: Ta đi rồi thì còn về được nữa không?
Lão giả áo đen ăn cơm xong, Nhiếp Thập Bát hỏi: "Lão ăn no chưa? Có cần ta xới thêm bát nữa không?"
"Không cần nữa!"
"Vậy... vậy ta rót cho lão bát nước."
"Ngươi đừng bận rộn nữa, ta có chuyện muốn hỏi ngươi."
"Ồ? Lão nhân gia, lão có chuyện gì muốn hỏi ta?" Nhiếp Thập Bát lầm bầm trong lòng: "Ngươi sẽ không ở lại nhà ta không đi chứ?"
Lão giả áo đen liếc nhìn hắn một cái: "Thằng nhóc khờ, có phải ngươi định mang một thứ gì đó đến Quảng Châu cho tên tiêu sư họ Hạ kia không?"
"Phải! Ta định ngày mai sẽ lên đường." Nhiếp Thập Bát nói câu này ý tứ rất rõ ràng, ý muốn nói, lão đừng quấn lấy ta nữa, ngày mai ta rời khỏi đây rồi, đồng thời thầm nghĩ: Ngươi chắc sẽ không đi theo ta đến Quảng Châu chứ?
"Thằng nhóc khờ, trước đây ngươi quen biết tiêu sư họ Hạ này à?"
"Không quen."
"Vậy sao ngươi lại mang đồ đến Quảng Châu cho ông ta?"
"Lão nhân gia, không còn cách nào khác, vì ta đã hứa với ông ta thì ông ta mới nhắm mắt xuôi tay, nếu không, ông ta chết không nhắm mắt, hơn nữa còn biến thành quỷ đến quấn lấy ta."
"Thế nên ngươi sợ, mới hứa với ông ta?"
"Thằng nhóc khờ, ngươi đừng nghe ông ta dọa ngươi, người chết như đèn tắt, trên đời này căn bản không có quỷ."
"Cái gì!? Không có quỷ? Thế... thế... thế sao lão lại gặp được Diêm Vương? Diêm Vương chẳng phải là hoàng đế cai quản quỷ sao!"
"Thằng nhóc khờ, ngươi tưởng ta thực sự chết rồi à?"
"Ngươi chưa chết?"
"Ngươi nhìn xem, tinh thần ta rất tốt, trên người không có vết đao chém, cũng không chảy máu, giống người đã chết sao?"
Nhiếp Thập Bát nghĩ cũng phải, những người chết trong rừng, có người bị chém đứt nửa thân, có người bị đâm trúng ngực, ai nấy đều đầy máu, trên người lão giả này không có một vết thương, lại không có bệnh, sao có thể chết được! Hắn hỏi: "Thế... thế... thế sao lão lại nói là gặp được Diêm Vương?"
"Thằng nhóc khờ, ta cố ý dọa ngươi, xem ngươi có gan dạ hay không. Không ngờ thằng nhóc khờ như ngươi lại gan to thật đấy."
Nhiếp Thập Bát kêu lên: "Thế lão dọa ta làm gì? Ta mà gan nhỏ hơn một chút, chẳng phải bị lão dọa chết rồi sao?"
"Dọa chết thì đáng đời, một kẻ tham sống sợ chết, để lại trên đời này cũng chẳng có tác dụng gì, chỉ làm khổ người khác, khổ chính mình."
Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người, đây là đạo lý gì thế? Dọa chết người mà còn có lý à!
Lão giả áo đen cười nói: "Thằng nhóc khờ, ngươi không chết mà!"
Một lúc lâu sau, Nhiếp Thập Bát hỏi: "Vậy là lão chưa từng gặp Diêm Vương rồi?"
"Trên đời này cũng không có Diêm Vương, sao ta gặp được?"
"Cái gì? Không có Diêm Vương?"
"Đúng vậy! Không chỉ không có Diêm Vương, mà ngay cả Quan Âm trên bàn thờ của ngươi cũng không có."
Lão giả áo đen nói vậy càng khiến Nhiếp Thập Bát há hốc mồm, trố mắt nhìn, đây là lần đầu tiên trong đời hắn nghe thấy có người dám xúc phạm thần linh, không sợ Quan Âm nổi giận giáng tai họa sao? Nếu phụ thân còn sống mà nghe được câu này, chắc chắn sẽ đuổi cổ lão ra ngoài.
Lão giả áo đen lại hỏi: "Thằng nhóc khờ, ngươi từng nhìn thấy Quan Âm chưa?"
"Ta... ta chưa. Quan Âm dễ nhìn thấy đến thế sao?"
"Ngươi chưa nhìn thấy sao biết có Quan Âm? Thằng nhóc khờ, có phải ngươi nghe các hòa thượng trong chùa nói không?"
"Phải! Là các đại sư trong chùa Linh Hoa nói. Không chỉ các đại sư nói, mà người trong làng ai cũng nói như vậy."
"Phụ nữ và trẻ em trong làng nói là do bị người khác lừa; còn bọn hòa thượng trọc đầu trong chùa nói, bọn họ không phải nói nhảm thì cũng là tự lừa mình dối người. Thằng nhóc khờ, đừng nghe mấy thứ nhảm nhí đó, trên đời này căn bản không có yêu ma quỷ quái hay thần tiên gì cả, đều là do con người bịa đặt ra thôi."
"Bọn họ bịa đặt làm gì?"
"Không thế thì làm sao có người đến thắp hương bái thần, cúng tiền dầu đèn? Làm sao có bạc để xây dựng những ngôi chùa lớn như vậy cho bọn hòa thượng ở? Thằng nhóc khờ, ngươi nhìn xem gia đình ngươi vất vả bao nhiêu năm, vẫn ở trong một túp lều tranh rách nát đơn sơ như thế này, còn chùa chiền miếu mạo của bọn hòa thượng, đạo sĩ kia, ngay cả cái nhà kho của họ cũng tốt hơn gấp mười lần túp lều mà thằng nhóc khờ như ngươi đang ở."
Nhiếp Thập Bát không nói gì, hắn nửa tin nửa ngờ những lời của lão giả áo đen. Lão giả áo đen lại hỏi: "Thằng nhóc khờ, trên đời này căn bản không có quỷ, càng không quấn người, ngươi còn đi Quảng Châu không?"
Nhiếp Thập Bát suy nghĩ một chút rồi nói: "Đi!"
"Cái gì? Ngươi vẫn đi?"
"Lão nhân gia, phụ thân lúc còn sống dạy ta, làm người phải giữ chữ tín, đã hứa với người ta việc gì thì nên làm, tuyệt đối đừng thất hứa, huống hồ vị đại thúc kia lúc lâm chung đã cầu xin ta, ta đã hứa mà không làm thì trong lòng có an yên không?"
Lão giả áo đen nhìn Nhiếp Thập Bát bằng ánh mắt kỳ lạ, thầm gật đầu tán thưởng, hỏi: "Từ đây đến Quảng Châu ở Lĩnh Nam, có mấy ngàn dặm, ngươi không sợ vất vả sao?"
"Ta không sợ vất vả, có vất vả cũng không quản được nhiều như vậy, ai bảo ta đã hứa với ông ấy chứ?"
"Được, được, thằng nhóc khờ, đây là cái khổ do ngươi tự chuốc lấy, sau này đừng oán trách người khác."
"Ta oán trách người khác làm gì?"
"Thằng nhóc khờ, vậy sau này trên đường đi hãy cẩn thận, ta đi đây!"
Lão giả áo đen nói xong, thân hình lóe lên rồi biến mất, ngay cả ngọn đèn cũng không hề lay động. Nhiếp Thập Bát cảm thấy mơ hồ, kinh ngạc, sao lão giả áo đen này lại biến mất nhanh như vậy? Chẳng lẽ người mình gặp đêm nay không phải là quỷ? Mà là một vị thần tiên đến thử thách mình? Nếu lão là thần tiên, sao lại nói trên đời này căn bản không có yêu ma quỷ quái và thần tiên?
Nhiếp Thập Bát luôn sống cuộc đời đơn giản, chất phác của người miền núi, ngoài niềm vui khi bắt được thú rừng và sự nguy hiểm khi đấu tranh với dã thú, có thể nói cuộc sống của hắn luôn bình lặng, đối nhân xử thế hòa nhã, nhưng từ khi gặp những xác chết trong rừng và bị một người sắp chết nắm lấy chân, hắn đã chứng kiến một loạt những chuyện không thể tin nổi. Một mảnh vải máu, Mỹ nhân xanh, cùng với lão giả áo đen không biết là người, là quỷ hay là thần tiên này, tất cả những điều đó đã phá vỡ cuộc sống bình lặng của hắn. Hắn nghi ngờ mình có phải đang nằm mơ không, cắn vào ngón tay mình, cảm thấy đau nhói, hiển nhiên không phải nằm mơ, mà là chuyện có thật.
Thế nhưng sau khi lão giả áo đen đi rồi, Nhiếp Thập Bát lại muốn gặp lại lão, cảm thấy những lời lão nói là những điều mình chưa từng nghe thấy bao giờ, lại càng muốn xem hành động biến mất rồi lại xuất hiện đột ngột của lão vào ban ngày sẽ như thế nào, xem lão rốt cuộc là người hay là quỷ.
Nhiếp Thập Bát không tìm thấy bóng dáng lão giả áo đen, trong lòng có chút hụt hẫng, thế là hắn thu dọn hành lý, chuẩn bị thực hiện lời hứa của mình, đến Quảng Châu một chuyến, hoàn thành tâm nguyện mà tiêu sư họ Hạ đã cầu xin trước khi chết. Hắn giống như những lần vào núi sâu săn bắn, mang theo cung tên, dao săn và một số vật dụng thiết yếu hàng ngày, đầu đội nón lá Tín Dương, chân mang giày cỏ, một thân trang phục thợ săn, nói với dân làng một câu: "Lần này ra ngoài, e rằng phải một thời gian nữa mới về được." rồi tạm biệt ngôi làng nhỏ, rời khỏi núi Kê Công nơi mình sinh ra và lớn lên, bước lên con đường dài vạn dặm, bước vào thế giới chưa từng tiếp xúc. Hắn biết từ tập trấn Lý Gia đi về phía bắc là thành Tín Dương, đi về phía nam qua quan ải Vũ Thắng là huyện Ứng Sơn của Hồ Quảng, ngoài ra hắn không biết gì cả. Nhưng hắn có được kinh nghiệm từ lời phụ thân: Đường ở dưới chân, chỉ cần chịu khó hỏi han người khác thì không có nơi nào là không đến được.
Nhiếp Thập Bát qua quan ải Vũ Thắng đã quá trưa, mặt trời đỏ đã ngả về tây, quan ải Vũ Thắng là một cửa ải hiểm yếu giữa những dãy núi cao, dù từ Ngạc vào Dự, hay từ Dự xuống Ngạc, đều phải đi qua quan ải Vũ Thắng, là nơi yết hầu của người đi kẻ lại, khi chiến loạn nổ ra, nó càng trở thành nơi tranh giành của binh gia.
Đây là lần đầu tiên Nhiếp Thập Bát nhìn thấy một cửa ải hùng vĩ hiểm trở như vậy, vừa qua quan ải Vũ Thắng là đến địa phận huyện Ứng Sơn, Tùy Châu, Hồ Quảng, chỉ thấy núi non trùng điệp, một con đường trạm chạy quanh co, lúc ẩn lúc hiện trong những dãy núi cao, kéo dài đến tận tầng mây sâu. Nhiếp Thập Bát đi dọc theo con đường trạm hơn một canh giờ, dọc đường rất ít khi gặp xe ngựa và người đi đường, thầm nghĩ: Sao con đường lớn này lại không có mấy người đi? Lúc này, mặt trời lặn đã sớm khuất núi, bóng tối bao trùm mặt đất, những ngọn núi phía xa đã trở nên mờ ảo. Nếu ở núi Kê Công, Nhiếp Thập Bát hoàn toàn có thể tranh thủ ánh trăng để đi đường, hắn rất quen thuộc địa hình và những con đường nhỏ ở vùng đó. Bây giờ, đã đến một nơi xa lạ, không dám mạo hiểm đi đường dưới ánh trăng, phải tìm một nơi trọ mới được. Phóng mắt nhìn quanh, thấy không xa có một ngôi làng, liền vội vàng sải bước chạy tới.
Đây là một khu chợ nhỏ trên con đường trạm, tên là Đông Hoàng Điếm, cũng giống như tập trấn Lý Gia, không lớn, chỉ có một con phố, có quán cơm, cũng có quán trọ. Nhiếp Thập Bát bước vào Đông Hoàng Điếm, nhưng trên đường phố lại không có lấy một người đi đường, nhà nhà đóng cửa cài then, ngay cả tiếng gà chó cũng không nghe thấy, dường như bước vào một khu chợ không người, trong lòng lấy làm lạ, chuyện này là sao? Đột nhiên, từ trong ngõ nhỏ lao ra hai gã đàn ông mặc đồ xanh, tay cầm đao sáng loáng, quát: "Không được động đậy!"
Nhiếp Thập Bát giật bắn mình, thầm nghĩ: Chẳng lẽ mình gặp phải bọn cướp chuyên đi đánh phá nhà dân rồi? Hèn gì khu chợ này không có người! Hỏi: "Các... các ngươi là người thế nào?"
Một gã hừ một tiếng: "Chúng ta chính là đang muốn hỏi ngươi là người thế nào đấy!"
"Ta... ta là một thợ săn."
"Thợ săn? Vậy ngươi chạy đến đây làm gì?"
"Ta đi ngang qua đây tìm chỗ trọ."
Hai gã áo xanh đánh giá Nhiếp Thập Bát một hồi lâu, một gã nói: "Xem ra hắn đúng là một thợ săn." Gã kia nói: "Lão đệ, ngươi đi lại trên giang hồ không nhiều, không biết lòng người giang hồ hiểm ác, quỷ kế đa đoan, ngươi dám đảm bảo hắn không phải là thám tử của bọn cướp, cố tình cải trang thành thợ săn không."
Nhiếp Thập Bát kêu lên: "Sao ta lại là thám tử của bọn cướp được?"
"Bớt nói nhảm, đi theo chúng ta!"
"Các... các ngươi định đưa ta đi đâu?"
"Chuyện đó phải xem ngươi có thành thật hay không! Đi!"
Nhiếp Thập Bát không biết hai người trước mắt là ai, nhưng chắc chắn không phải là bọn cướp lớn. Vì bọn cướp sẽ không nói mình là thám tử của bọn cướp, đã không phải là cướp, người không sợ người, mình theo bọn họ thì có sao?
Nhiếp Thập Bát ngoan ngoãn đi theo họ, đến trước cửa một quán trọ tên là Vân Lai, hai gã đẩy hắn vào trong, một gã canh gác nhìn Nhiếp Thập Bát hỏi: "Hai vị sư huynh, bắt được kẻ nào thế?"
"Một tên tiểu tặc cải trang thành thợ săn."
Nhiếp Thập Bát lại kêu lên: "Sao ta lại là tiểu tặc? Các ngươi đừng hiểu lầm."
"Đi! Đợi ngươi gặp thiếu tiêu đầu của chúng ta rồi nói sau."
Nhiếp Thập Bát thầm nghĩ: Sao đám người này lại không nói lý lẽ như vậy? Là một quan chức trong triều đình sao? Nhưng bọn họ lại không mặc trang phục quan binh, chẳng lẽ là tuần bộ trong huyện? Họ đến đây để bắt cướp sao?
Nhiếp Thập Bát bị đưa vào một căn phòng lớn, giữa phòng ngồi một cô gái trẻ thần thái uy nghiêm, sau lưng cô còn đứng hai thiếu nữ đeo kiếm, Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người, một cô gái trẻ như vậy chính là thiếu tiêu đầu sao? Là tuần bộ trong quan phủ sao?
Một gã nói: "Thiếu tiêu đầu, chúng tôi bắt được kẻ có hành tung đáng ngờ này ở đầu trấn."
Vừa vào cửa, cô gái trẻ uy nghiêm đã nhìn chằm chằm đánh giá Nhiếp Thập Bát dưới ánh đèn, cô gật gật đầu: "Phiền hai vị sư huynh tiếp tục canh gác bên ngoài, người này giao cho ta là được."
"Rõ! Thiếu tiêu đầu."
Hai gã áo xanh lui ra ngoài, Nhiếp Thập Bát lại là lần đầu tiên bị các cô gái nhìn chằm chằm như vậy, khiến hắn vội vàng cúi đầu, không dám nhìn họ, thầm nghĩ: Sao họ không thấy ngại, lại nhìn đàn ông như vậy chứ?
Cô gái trẻ quát hỏi hắn: "Nói! Ngươi là người thế nào?"
"Chẳng phải ta đã nói ta là thợ săn trong núi sao?"
"Nhà ngươi ở gần đây? Là người của sơn trại nào?"
"Ta không sống ở gần đây, nếu ta sống ở gần đây thì chạy đến khu chợ này làm gì vào đêm hôm thế này?"
"Nhà ở đâu?"
"Trên núi Kê Công phía bên kia quan ải Vũ Thắng."
"Ngươi chạy đến đây làm gì?"
Nhiếp Thập Bát vốn định nói là chịu người ủy thác, muốn đến Quảng Châu một chuyến, sau đó hắn nghĩ đến bảy người chết trong rừng, nhỡ đâu cô gái này truy hỏi đến, không nghi ngờ là mình giết thì sao? Chuyện này không nói được, liền nói: "Ta đi săn khắp nơi, không thể đến đây sao?"
"Hừ! Đi săn không ở trong núi sâu, lại mò đến khu chợ vào ban đêm? Ngươi săn cái gì?"
Một thiếu nữ sau lưng cô gái trẻ nói: "Khu chợ này có thú để săn sao? Xem ra ngươi không phải đến để săn thú, mà là đến để cướp vàng bạc tài vật."
Cô gái trẻ uy nghiêm quát lớn một tiếng: "Nói! Rốt cuộc ngươi là tai mắt của con đường nào, đến đây để dò xét hư thực?"
Nhiếp Thập Bát cuống lên: "Tôi rõ ràng là một thợ săn, các người sao lại hồ đồ vu oan cho người khác thế này?"
"Xem ra ngươi là tên tiểu tặc này, không cho ngươi nếm chút mùi vị lợi hại, ngươi sẽ không chịu khai ra đâu. Tiểu Linh! Lên dạy dỗ tên tiểu tặc này cho ta."
"Vâng, đại tiểu thư."
Một thiếu nữ áo xanh phía sau rút kiếm bước tới, vung kiếm khua khoắng trước mắt Nhiếp Thập Bát, mỉm cười hỏi: "Tiểu tặc! Ngươi muốn ta cắt tai hay cắt mũi ngươi thì mới chịu khai ra đây?"
Nhiếp Thập Bát mở to mắt: "Cô đừng có làm bậy!"
"Vậy là ngươi chịu nói rồi?"
"Cô bảo tôi nói cái gì?"
"Ngươi là do băng trộm nào phái tới đây thám thính hư thực của chúng ta?"
"Tôi tới đây thuê phòng trọ, thám thính hư thực các người làm gì? Vả lại, tôi còn chẳng biết hư thực là người nào."
"Tiểu tặc, ngươi thật biết cách ngụy biện."
"Tôi nói lời thật lòng, sao lại là ngụy biện?"
"Ngươi có tin ta cắt lưỡi ngươi xuống trước không?"
"Cắt lưỡi tôi rồi, tôi còn nói chuyện được sao?"
"Đương nhiên là không nói được, càng không thể ngụy biện nữa."
Đại tiểu thư uy nghiêm lên tiếng: "Tiểu Linh, đừng nói nhảm với hắn nữa, rạch một nhát lên mặt hắn, cho hắn biết thế nào là đau đớn."
Nhiếp Thập Bát kêu lên: "Rạch một nhát lên mặt, đương nhiên là đau rồi! Có chỗ nào mà không đau chứ? Hơn nữa còn chảy máu nữa. Hay là cô đưa mặt đây tôi rạch một cái, xem có đau không?"
Đại tiểu thư và hai thiếu nữ nghe thấy lời lẽ ngây ngô như vậy của Nhiếp Thập Bát, cũng không nhịn được mà bật cười. Lúc này, một lão giả gần năm mươi tuổi bước vào nói: "Thiếu tiêu đầu, xem ra tiểu ca này không phải tai mắt của bọn trộm, cũng chẳng phải người trong võ lâm, đúng là một thợ săn, thả cậu ta đi thôi."
Đại tiểu thư vốn là thiếu tiêu đầu đứng dậy hành lễ nói: "Sử thúc, mời ngồi!"
Sau khi Sử thúc ngồi xuống liền bảo Nhiếp Thập Bát: "Tiểu ca, ủy khuất cho cậu rồi! Mời ngồi!"
Nhiếp Thập Bát thở phào nhẹ nhõm: "Đa tạ lão bá."
Đại tiểu thư hỏi Sử thúc: "Thúc, sao thúc biết hắn không phải tiểu tặc?"
Sử thúc mỉm cười: "Thiếu tiêu đầu, tiểu ca này phong trần mệt mỏi, lời nói hoàn toàn không có chút hơi hướng giang hồ nào, hơn nữa mặt mũi ngây thơ, không chỉ là thợ săn trong thâm sơn, mà còn là một chàng trai chưa từng trải sự đời, xin thiếu tiêu đầu đừng làm khó cậu ta nữa."
"Đã thúc nói vậy, thì thả hắn đi."
Nhiếp Thập Bát trút được gánh nặng trong lòng, chắp tay với Sử thúc và đại tiểu thư: "Đa tạ đại bá và đại tiểu thư, vậy tôi đi đây."
Sử thúc hỏi: "Tiểu ca, cậu định đi đâu?"
"Tôi đi tìm chỗ ở chứ sao!"
"Tập trấn này đã không còn người, cậu đi đâu tìm chỗ ở?"
"Sao tập trấn này lại không có người?"
"Tiểu ca, cậu còn chưa biết sao? Có mấy toán trộm sắp tới cướp phá thị trấn nhỏ này."
Nhiếp Thập Bát kinh ngạc: "Có mấy toán trộm sắp tới cướp phá thị trấn này ư?"
Sử thúc mỉm cười: "Nếu không, sao người trong trấn này lại bỏ đi hết sạch?"
Nhiếp Thập Bát ngẩn người, thầm nghĩ: Hèn chi mình đi dọc đường chẳng thấy bóng người, hóa ra là có bọn trộm lớn tới, cũng hèn chi họ bắt mình như bắt trộm. Sao mình vừa ra khỏi nhà đã xui xẻo, đụng phải chuyện đen đủi thế này?
Sử thúc lại nói: "Tiểu ca, cậu bây giờ ra ngoài, đừng nói là không tìm được chỗ ở, nhỡ đụng phải bọn trộm, không sợ chúng chém chết cậu sao?"
"Vậy, vậy, vậy tôi phải làm sao đây?"
Thiếu nữ áo xanh Tiểu Linh nói: "Ngươi muốn không bị người ta chém đầu, thì phải cầu xin chúng ta rồi!"
"Cầu xin các người? Các người không sợ bọn trộm lớn sao?"
Tiểu Linh khinh khỉnh: "Trộm lớn cái gì, đám ô hợp cả thôi, dù chúng có một hai trăm tên, tiểu thư nhà ta cũng chẳng thèm để vào mắt."
Nhiếp Thập Bát bối rối nhìn họ. Từ nhỏ cậu đã nghe cha và các chú bác trong làng nói, binh với trộm chẳng khác gì nhau, trộm đi như lưới, binh đi như lược. Bọn trộm cướp phá làng mạc, thường chỉ cướp những nhà giàu có rồi vội vã rời đi; còn đại binh vừa tới, hầu như cái gì cũng cướp, như chiếc lược chải qua, quét sạch sành sanh, không còn lại gì, hơn nữa thường là trộm đi rồi binh mới tới, khiến bách tính chịu cảnh cướp bóc kép, nên người trong núi thường không sợ trộm, mà lại sợ quan binh hơn. Nhiếp Thập Bát tưởng họ là tuần bổ và bộ khoái của quan phủ, nên mới vội vã rời đi để tránh rước họa vào thân. Biết đâu tất cả mọi người trong trấn này vì sợ trộm cũng sợ quan binh nên mới bỏ chạy hết. Nhiếp Thập Bát đâu ngờ, người cậu đụng phải hoàn toàn không phải tuần bổ hay bộ khoái gì cả, mà là thiếu tiêu đầu của Hùng Phong tiêu cục ở Trường Sa cùng bốn vị tiêu sư và hơn mười gã đường tử thủ. Họ hộ tống một lô tiêu từ Trường Sa đến Khai Phong phủ, đi ngang qua thị trấn Đông Hoàng Điếm này, vào trấn lúc hoàng hôn, thấy nhà nhà đóng cửa, hộ hộ không người, như lạc vào một thị trấn chết. Sử thúc có kinh nghiệm giang hồ cực kỳ phong phú vừa nhìn đã biết có chuyện lạ. Tìm hiểu từ một hai người chưa kịp bỏ chạy trong trấn, mới biết có mấy toán trộm không rõ lai lịch sắp tới cướp phá các thôn trại vùng này, hơn nữa còn nghe ngóng được hôm qua Võ Uy tiêu cục từ Lĩnh Nam đi lên phía bắc cũng đi ngang qua thị trấn này, thấy trong trấn không người liền vội vã lên đường, ai ngờ vừa qua Vũ Thắng Quan, trong Kê Công Sơn đã xảy ra chuyện.
Lão tiêu sư giàu kinh nghiệm giang hồ như Sử thúc vừa nghe đã nhạy bén nhận ra đây là cái bẫy của bọn trộm, mục đích là ép người của Võ Uy tiêu cục không dám dừng lại ở thị trấn này, cướp phá thị trấn là giả, cướp tiêu ở nơi hiểm yếu mới là thật. Đừng nói bây giờ đã là hoàng hôn, dù là chính ngọ cũng không thể đi tiếp, phải ở lại thị trấn, ngày mai mới lên đường, dùng một ngày đi tới Vũ Thắng Quan rồi nghỉ lại, thì không sợ bị bọn trộm cướp nữa. Bởi vì Vũ Thắng Quan có quan binh trú đóng, là nơi đặt tuần kiểm ty. Sau đó ban ngày đi xuyên qua Kê Công Sơn từ Vũ Thắng Quan tới thẳng thành Tín Dương, rủi ro sẽ thấp hơn nhiều. Võ Uy tiêu cục sở dĩ xảy ra chuyện, e là vì tưởng rằng rời khỏi thị trấn là tránh được bọn trộm, qua Vũ Thắng Quan là xong chuyện, có thể tiếp tục lên đường, nghỉ lại tại Lý Gia Tập. Ai ngờ vừa vặn rơi vào cái bẫy bọn trộm đã giăng sẵn.
Sử thúc lập tức nói với thiếu tiêu đầu Dư Tái Phượng: "Dù thế nào, tối nay cứ ở lại trấn này, dù bọn trộm có tới, chúng ta cũng có nơi hiểm yếu để thủ, không như ở nơi đồng không mông quạnh, dễ bị bọn trộm tập kích."
Dư Tái Phượng nói: "Thúc cứ quyết định đi, cháu là lần đầu áp tiêu, mọi việc đều trông cậy vào thúc cả!"
Dư Tái Phượng là đệ tử phái Võ Đang, Thái Cực Lưỡng Nghi Kiếm lĩnh hội được tinh túy của chưởng môn Võ Đang Bạch Hạc đạo trưởng, là một trong những cao thủ của phái Võ Đang. Cô xuống núi không lâu đã đánh bại không ít cao thủ võ lâm, trong giang hồ có danh hiệu Kỳ Hồn Phượng, là con gái cả của tổng tiêu đầu Hùng Phong tiêu cục ở Trường Sa, Dư tổng tiêu đầu lấy Kim Đao mà uy trấn giang hồ, đi nam về bắc chưa từng mất một chuyến tiêu nào, gây dựng nên sự nghiệp của Hùng Phong tiêu cục. Những tiêu sư ông thuê đều là những người có danh tiếng và địa vị trong giang hồ, mỗi người đều có một tuyệt kỹ độc bộ võ lâm, Kim Đao Dư còn có năm vị đệ tử, ai nấy đều là tay đao cừ khôi, cũng trở thành tiêu sư của Hùng Phong tiêu cục.
Sử thúc là tiêu sư có tư cách lâu đời nhất trong Hùng Phong tiêu cục, có thể nói ông cùng Dư tổng tiêu đầu sáng lập ra tiêu cục này, Dư tổng tiêu đầu coi ông như anh em ruột thịt, cây thép roi của ông không biết đã đánh bại bao nhiêu nhân vật có danh tiếng trong hắc đạo, trong giang hồ có danh hiệu Hoạt Uất Trì. Ông trải đời sâu, kiến thức rộng, quan hệ rộng, cả hắc đạo và bạch đạo đều có bạn bè. Lần này, Hùng Phong tiêu cục bảo vệ một chuyến tiêu quý giá tới Khai Phong, tuy do thiếu tiêu đầu Dư Tái Phượng dẫn đội, nhưng thực chất là lấy ông làm chủ. Dư Tái Phượng sở dĩ muốn áp chuyến tiêu này, chủ yếu là muốn đi lại trong giang hồ, học hỏi bản lĩnh từ Sử thúc, hơn nữa cô còn là đệ tử phái Võ Đang, do cô đứng ra, người trong võ lâm sao dám không nể mặt? Dù muốn ra tay cũng không thể không kiêng dè phái Võ Đang.
Chuyến tiêu này khá quý giá, có Dư Tái Phượng và Sử thúc hộ tống, Dư tổng tiêu đầu rất yên tâm, một người kiếm pháp thượng thừa, một người cơ trí lão luyện. Họ tới Vân Lai khách sạn ở Đông Hoàng Điếm, phá cửa vào ở, đồng thời phái người canh gác ở hai đầu trấn, không ngờ lại đón được Nhiếp Thập Bát...
Nhiếp Thập Bát nghe thiếu nữ áo xanh nói giọng điệu lớn lối, một hai trăm tên trộm mà chẳng thèm để vào mắt, vô cùng kinh ngạc, không nhịn được hỏi: "Các người là người thế nào?"
Thiếu nữ áo xanh hỏi ngược lại: "Ngươi thấy chúng ta là người thế nào?"
"Các người là người của quan phủ phải không?"
"Sao chúng ta lại là người của quan phủ được?"
Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người: "Các người không phải?"
"Chúng ta không phải người quan phủ, ngươi không cầu xin chúng ta sao?"
Sử thúc nói: "Tiểu ca, chúng ta không phải người quan phủ, là người làm nghề áp tiêu trong giang hồ."
Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người: "Làm nghề áp tiêu? Đây là nghề gì?"
Thiếu nữ áo xanh nói: "Áp tiêu mà ngươi cũng không biết? Tức là bảo vệ tài sản hàng hóa của người ta từ nơi này sang nơi khác. Chúng ta đến cả lô hàng lớn còn dám bảo vệ, chẳng lẽ không bảo vệ được ngươi sao?"
Nhiếp Thập Bát "Ồ" một tiếng: "Hèn chi các người không sợ bọn trộm lớn, tôi còn tưởng các người là người quan phủ."
"Cái gì? Người quan phủ thì sợ bọn trộm lớn sao?"
Nhiếp Thập Bát ngượng ngùng nói: "Vì tôi nghe các bậc cha chú trong làng nói, quan binh sợ bọn trộm nhất, thường thì trộm đi rồi họ mới đem quân tới."
Sử thúc hỏi: "Tiểu ca, cậu luôn ở trong núi săn bắn, chưa từng đi lại trong giang hồ bao giờ sao?"
"Chưa từng, giang hồ là nơi nào?" Dư Tái Phượng và hai thiếu nữ nghe vậy không khỏi bật cười, đến hai chữ "giang hồ" cũng không hiểu, đúng là gã nhà quê trong núi sâu, hai vị sư huynh sao lại bắt cậu ta như bắt trộm chứ? Vẫn là Sử thúc nhìn chuẩn, nhìn một cái là ra ngay. Sử thúc hỏi: "Tiểu ca, cậu làm nghề săn bắn, mang theo cung tên, tài bắn cung có chuẩn không?"
"Không chuẩn thì làm sao tôi bắt được thỏ rừng và hoẵng?"
"Vậy tài bắn cung của tiểu ca rất chuẩn rồi, không biết có thể biểu diễn vài chiêu cho chúng tôi xem không?"
"Ở đây không có thú rừng, cũng không có chim bay, tôi bắn vào đâu?"
"Tiểu ca, chuyện đó có gì khó? Tôi ném một chiếc chén trà ra ngoài cửa sổ, không biết tiểu ca có bắn trúng không?"
"Được! Tôi thử xem." Nhiếp Thập Bát hạ cung xuống, lắp một mũi tên, "Đại bá, ông ném chén trà đi." "Tiểu ca, chuẩn bị nhé!"
Cổ tay Sử thúc kình lực khá mạnh, một chiếc chén trà trắng bay ra ngoài cửa sổ, lao vút vào bầu trời đêm như sao băng. Nhiếp Thập Bát "Bạch" một tiếng, mũi tên còn lao đi nhanh hơn sao băng, chỉ nghe "Đoàng" một tiếng, chiếc chén đang bay bị mũi tên bắn trúng, vỡ tan thành nhiều mảnh, rơi xuống đất. Dư Tái Phượng và hai thiếu nữ bên cạnh cùng kinh ngạc, không ngờ gã thợ săn nhỏ này tài bắn cung lại chuẩn đến vậy, nằm ngoài dự đoán của họ. Sử thúc khen một câu: "Tiểu ca, thật là thần tiễn!"
Nhiếp Thập Bát hỏi: "Đại bá, lần này ông tin tôi là thợ săn rồi chứ?"
Sử thúc sững người, nhận ra ngay Nhiếp Thập Bát đã hiểu lầm ý mình, cười nói: "Tiểu ca, đừng hiểu lầm! Sao tôi lại không tin cậu là thợ săn? Vừa rồi tôi chỉ muốn xem tài bắn cung của cậu, không có ý gì khác."
Thiếu nữ áo xanh nói với cậu: "Nếu đại thúc không tin ngươi là thợ săn, thì đã bảo chúng ta thả ngươi ra sao? Biết đâu ta đã cắt tai cắt mũi ngươi bằng một nhát kiếm rồi."
Dư Tái Phượng vội quát nhẹ: "Tiểu Linh, không được vô lễ với người ta! Còn không mời tiểu ca ngồi?"
Tiểu Linh lè lưỡi, cười với Nhiếp Thập Bát: "Tiểu ca, mời ngồi ạ!"
"Không, không! Tôi đứng là được rồi!"
Vừa rồi Sử thúc mời ngồi, Nhiếp Thập Bát đã không dám ngồi, đứng đối thoại, giờ thiếu nữ lại mời ngồi, cậu liền vội vàng từ chối.
Dư Tái Phượng tuy tính tình bướng bỉnh, đôi khi không nói lý lẽ, nhưng dù sao cũng là đệ tử danh môn chính phái, rất tôn trọng những người có tài nghệ, mỉm cười hỏi: "Tiểu ca! Có phải cậu vẫn còn trách chúng ta vì hành động bất lịch sự vừa rồi không?"
"Không, không! Trước khi bọn trộm tới, tôi đột ngột xông vào, không thể trách các người được."
"Đã vậy, sao tiểu ca không ngồi xuống?"
"Vậy... vậy tôi đa tạ tiểu thư."
Một thiếu nữ áo xanh khác dâng lên một chén trà: "Tiểu ca, mời dùng trà."
Nhiếp Thập Bát lại vội vàng đứng dậy, tỏ ra hơi lúng túng, vội nói: "Không cần, không cần! Tôi tự làm được." Quả thật, Nhiếp Thập Bát từ bé tới lớn chưa từng có ai dâng trà cho mình, cậu khát nước thì hoặc là uống nước suối trong núi, hoặc là xin một bát nước ở nhà người ta, người ta thường bảo cậu tự ra giếng mà múc uống, làm gì có ai dâng trà cho cậu? Huống hồ người dâng trà lại là một thiếu nữ xinh đẹp.
Dư Tái Phượng lại nói: "Tiểu ca luyện được tài bắn cung tốt như vậy, không biết còn luyện qua môn võ công nào khác không?"
"Võ công? Võ công là gì ạ?"
"Tức là đao pháp và kiếm pháp dùng để giao phong, chém giết với người khác ấy? Tiểu ca chưa từng luyện sao?"
"Chưa, tôi ngoài việc bắn cung, ném đá, vung gậy gỗ, chẳng luyện cái gì cả, tôi lại không muốn đi lính đánh trận, luyện đao pháp kiếm pháp làm gì?"
"Tiểu ca săn bắn trong thâm sơn đại dã, nhỡ đụng phải kẻ xấu, đạo tặc, không có tuyệt kỹ phòng thân, chẳng nguy hiểm sao?"
"Trong thâm sơn đại dã rừng sâu, tôi sẽ không gặp nguy hiểm gì đâu."
"Ồ? Đụng phải bọn trộm cũng không nguy hiểm?"
"Tôi sẽ không đụng phải chúng đâu."
"Tại sao?"
"Vì chúng còn chưa tới gần tôi, tôi đã phát hiện ra chúng rồi, sớm đã trốn đi thật xa, trong núi sâu cỏ cây nhiều như vậy, chỗ nào cũng có thể ẩn nấp được."
"Trên đất bằng đụng phải thì làm sao?"
"Tôi có thể chạy mà!"
Thiếu nữ áo xanh Tiểu Linh hỏi: "Ngươi chạy nhanh lắm sao?"
"Không tệ, tôi chạy rất nhanh, có khi còn nhanh hơn cả thỏ."
Dư Tái Phượng và mọi người không nhịn được cười. Bất thình lình, một tín hiệu màu đỏ bay vút lên bầu trời đêm, Sử thúc vừa thấy liền nói: "Không xong! Bọn trộm tới rồi!"
Dư Tái Phượng nhíu mày: "Được! Để tôi đi gặp chúng!"
Sử thúc nói: "Thiếu tiêu đầu, cô đừng ra mặt trước, để tôi ra chào hỏi chúng, nếu có thể tránh được trận giao tranh này, chúng ta tốn chút bạc cũng đáng." "Nếu chúng không đồng ý thì sao?"
"Nếu vậy, chỉ còn cách nói chuyện bằng đao kiếm với chúng thôi!"
"Được! Đại thúc, vậy thúc mau đi đi." Theo đó Dư Tái Phượng nói với thiếu nữ áo xanh còn lại, "Tiểu Bình, đi thông báo cho mọi người chuẩn bị, trông coi nhà xe tiêu, không có việc gì, tuyệt đối không được rời đi." Tiểu Bình đáp lời rồi đi, Sử thúc cũng bước ra ngoài. Lúc này, một hán tử mặc đồ bó màu xanh chạy vào, Nhiếp Thập Bát nhìn một cái, chính là người đã đưa mình tới khách sạn này ở đầu trấn. Dư Tái Phượng hỏi: "Vương sư huynh, xảy ra chuyện gì rồi?" "Thiếu tiêu đầu, bọn trộm tới không ít, có hơn một trăm người, đã bao vây tứ phía thị trấn rồi." Đôi mắt phượng của Dư Tái Phượng bắn ra tia sát khí, nghiến răng nói: "Nếu chúng không biết điều, thì đừng trách ta tàn nhẫn! Vương sư huynh, bảo người bên ngoài rút về khách sạn, không có lệnh của ta, ai cũng không được ra tay."
"Tuân lệnh!" Hán tử họ Vương xoay người rời đi.
Dư Tái Phượng nhìn Nhiếp Thập Bát đang ngẩn người như gà mắc tóc, hỏi: "Tiểu ca! Cậu định tính sao?"
"Tôi, tôi phải tính sao đây?"
Tiểu Linh nói: "Cùng chúng ta giết trộm chứ sao!"
Nhiếp Thập Bát vội xua tay: "Tôi, tôi không được đâu."
"Ngươi bắn cung chuẩn như vậy, sao lại không được?"
"Cô muốn tôi dùng để giết người?"
"Ngươi tưởng ở đây có thú rừng cho ngươi bắn giết à?"
"Không! Không! Cha tôi đã dặn tôi, cung tên của thợ săn chỉ dùng để giết thú rừng, không được làm hại người."
Dư Tái Phượng không khỏi nhíu mày: "Tiểu ca, vậy cậu tự tìm chỗ nào trốn đi! Đừng để bọn trộm giết cậu."
"Các, các người không trốn sao?"
Tiểu Linh nhìn cậu đầy khinh bỉ: "Chúng ta không nhát gan, tham sống sợ chết như ngươi."
Câu này thực sự đã chạm vào lòng tự trọng của một thợ săn dũng cảm, khơi dậy sự kiêu ngạo của Nhiếp Thập Bát, đặc biệt là ánh mắt coi thường của Tiểu Linh, còn khó chịu hơn cả việc bị đánh đòn, cậu bật dậy: "Ai nhát gan như chuột, tham sống sợ chết chứ?"
"Được thôi! Ngươi không tham sống sợ chết, thì cùng chúng ta giết trộm đi!"
Dư Tái Phượng nói: "Tiểu Linh, đừng ép người ta. Tiểu ca không biết võ công, sao có thể cùng chúng ta giết trộm? Ngươi làm thế chẳng phải là bảo cậu ấy đi chịu chết vô ích sao?" Tiểu Linh nói: "Tiểu thư, tôi không ép cậu ta mà! Tôi chỉ muốn cậu ta dùng cung bắn trộm từ xa, đừng để bọn trộm giết vào là được."
Lúc này, ngoài khách sạn lửa cháy rực trời. Sử thúc đang nói chuyện với bọn trộm ở ngay cửa chính khách sạn. Sử thúc không hổ là lão giang hồ, ông chắp tay nói: "Các vị anh hùng, hảo hán, tại hạ họ Sử xin chào! Nếu trước đây tiêu cục chúng tôi có gì đắc tội và không chu đáo, mong các vị lượng thứ, sau này họ Sử nhất định mang lễ vật, đích thân viết thiệp bái phỏng, tới tận cửa nhận tội."
Nhiếp Thập Bát nghe xong cảm thấy kinh ngạc, họ không phải một bọn trộm sao? Sao lại là anh hùng hảo hán? Sử thúc có gì đắc tội với họ chứ? Cậu nhìn qua cửa sổ ra ngoài, chỉ thấy trong ánh lửa, hơn mười gã đại hán vạm vỡ đang đứng trên bãi đất trống trước cửa khách sạn, trong đó một đại hán bịt mặt mặc đồ bó màu cẩm y chắp tay đáp lễ: "Sử tiêu sư đừng khách sáo, tại hạ và các huynh đệ đột ngột mạo muội tới đây, có gì kinh động, mong Sử tiêu sư thứ lỗi."
"Anh hùng khách sáo rồi! Tiêu cục chúng tôi từ trước tới nay có thể đứng vững trong giang hồ, đều nhờ các vị anh hùng hào kiệt các nơi nể mặt chiếu cố, mới kiếm được bát cơm ăn. Tối nay tiêu cục chúng tôi mượn quý địa nghỉ lại một đêm, ngày mai mượn đường đi qua, mong các vị giơ cao đánh khẽ, tha cho họ Sử này. Sau này các vị có gì bất tiện, tiêu cục chúng tôi và họ Sử sẽ dốc toàn lực, để báo đáp ơn chiếu cố đêm nay."
Nhiếp Thập Bát nghe xong càng mơ hồ không hiểu, đây không phải thị trấn do quan phủ quản lý sao? Con đường đi lại không phải đường quan đạo sao? Sao lại là nơi của bọn anh hùng hảo hán gì đó? Phải mượn đất mượn đường của họ?
Một tiêu cục, sở dĩ có thể đứng vững trong giang hồ, đi nam về bắc hộ tiêu thông suốt, ngoài việc người mở tiêu cục võ công cực tốt ra, còn cần một chỗ dựa vững chắc phía sau. Chỗ dựa vững chắc này, không phải là môn phái có uy danh cực lớn trong võ lâm, thì cũng là những nhân vật có quyền thế trong quan phủ, mới khiến bọn người hắc đạo khắp nơi không dám dễ dàng mạo phạm. Nếu không, dù bạn có nhận được tiêu, thì cao thủ phái đó tất sẽ tìm tới tận cửa trả thù, hoặc san bằng hang ổ của bạn, kết quả là mất cả mạng sống. Nếu chỗ dựa là người có quyền thế trong quan phủ, còn sẽ phái đại binh tới vây quét, treo bảng truy nã khắp nơi, khiến bạn càng không còn chỗ dung thân. Tất nhiên, điều này đối với bọn đại đạo giang hồ số lượng không nhiều, độc lai độc vãng, hành tung bất định thì không có tác dụng lớn lắm. Vì vậy người mở tiêu cục đều giỏi giao thiệp với các tầng lớp nhân vật, nhất là những hào cường có thế lực khắp nơi và những nhân vật hắc đạo có danh tiếng, càng phải giữ quan hệ tốt, lễ tết đều phái người đi tặng lễ khắp nơi, chia sẻ một phần tài sản kiếm được cho họ, để cầu sự bình an trên đường. Có khi những đại đạo này tới nơi tiêu cục đóng quân, tiêu cục không những tiếp đãi nhiệt tình, còn phải bảo đảm sự an toàn cho họ, nếu không, dù võ công của tiêu đầu có tốt tới đâu, chỗ dựa có lớn tới đâu, cũng khó mà áp tiêu trong giang hồ.
Vì vậy, tiêu cục thường có qua lại với bọn đại đạo, lợi dụng lẫn nhau, bảo vệ lẫn nhau. Trong mắt họ, đây chính là cái gọi là nghĩa khí giang hồ. Từ khi Hùng Phong tiêu cục ở Trường Sa thành lập, chưa từng mất một chuyến tiêu nào, có thể thông suốt không trở ngại, chính là nhờ xây dựng được mối quan hệ tế nhị này với các nhân vật hắc đạo khắp nơi, hàng năm đều tốn một khoản tài sản để hiếu kính những nhân vật hắc đạo này. Từ đó khiến tiêu cục ngày càng phát đạt, xây dựng phân cục riêng ở khắp các phủ lớn, và cũng liên lạc với các tiêu cục khác khắp nơi, chuyển tiêu cho nhau. Một số tiêu cục nhỏ địa phương cũng bị nó nuốt chửng.
Nhiếp Thập Bát sao biết được những mối quan hệ tế nhị này? Vì thế một số danh môn chính phái không cho phép đệ tử của mình mở tiêu cục, làm nghề áp tiêu, chính là vì lý do này, để tránh việc đệ tử của mình giao du với người hắc đạo, trở nên đen trắng lẫn lộn, thị phi không rõ, làm tổn hại uy danh của môn phái.
Tất nhiên, với tư cách là chủ tiêu cục, nếu tổng tiêu đầu không có võ công thượng thừa, dưới tay không có một đám cao thủ võ lâm, sau lưng không có chỗ dựa nhất định, thì nhân vật hắc đạo cũng chẳng thèm nể mặt.
Khi nhóm đạo tặc này xuất hiện tại Vân Lai Khách Sàn, trong lòng Sử đại thúc đã thầm lẩm bẩm: Những tay hào kiệt trên đường này, bất kể là trên sông hay trên cạn, như Cái Bang ở Quân Sơn hồ Động Đình, Song Nghỉ ở Trường Sa, Tam Hùng ở Đồng Bách, trại nhà họ Tiêu ở núi Đại Hồng, Tùy Châu, hay Ngũ Hổ nhà họ Tưởng ở Thiên Trung Sơn, Trú Mã Điếm, mỗi dịp lễ tết đều đã nhận lễ vật, tuyệt đối sẽ không ra tay với tiêu cục. Vậy đây là đám cường nhân từ nơi nào tới? Liệu có phải là đám đạo tặc mới vào nghề, không biết danh tiếng của Trường Phong Tiêu Cục nên mới dám đến cướp tiêu của chúng ta?
Lúc Sử đại thúc chào hỏi bọn đạo tặc, để ý thấy tên cầm đầu che mặt, trong lòng liền hiểu ra đôi chút. Đây có khả năng là đám đạo tặc mới xuất đạo, không muốn để lộ chân diện mục, cực kỳ muốn phô trương thực lực để ép tiêu cục phải chuẩn bị lễ vật cho chúng vào các dịp lễ tết. Với lần đầu giao thiệp, người của tiêu cục không tiện hỏi đối phương thuộc phe phái nào. Nếu không sẽ khiến đối phương hiểu lầm rằng tiêu cục muốn tìm bọn họ tính sổ sau này, dẫn đến một trận chém giết đẫm máu. Thế nên Sử đại thúc dùng lời lẽ thăm dò ý đồ của đối phương đêm nay. Chỉ cần không phải cố tình đến cướp tiêu, mọi chuyện khác đều dễ nói. Đây là điều mà Nhiếp Thập Bát mãi vẫn không hiểu nổi.
Tên hán tử mặc áo gấm che mặt nói: "Báo đáp thì chúng ta không dám mong, Sử tiêu sư, ý chúng ta đến đêm nay là..." Sử đại thúc vội nói: "Biết rồi! Biết rồi, chắc là các vị đang có chút khó khăn, tại hạ đặc biệt chuẩn bị hơn một trăm lượng bạc để hiếu kính các vị, mong các vị tạm thời nhận cho, sau này mỗi dịp lễ tết, nhất định sẽ có lễ vật hậu hĩnh dâng lên."
Nhiếp Thập Bát không thể tin nổi, hơn một trăm lượng bạc cứ thế mà dâng không cho đám anh hùng hảo hán cầm đao cướp bóc này sao? Hơn một trăm lượng bạc, đủ cho tất cả mọi người trong thôn của mình ăn tiêu suốt hai ba năm, mà lễ tết còn phải có quà cáp nữa ư?
Dư Tái Phượng cũng là lần đầu tiên thấy Sử đại thúc giao thiệp với đạo tặc, nàng thầm nghĩ thảo nào phụ thân mỗi dịp lễ tết đều phái không ít người mang từng đợt lễ vật và bạc đi khắp nơi lo liệu. Làm tiêu cục kiểu này thì vẻ vang gì? Chẳng phải là tiếp tay cho đạo tặc, trở thành đồng bọn của chúng sao? Thế thì trên đời này còn chính nghĩa gì để nói nữa?
Thực ra đây cũng là cách chẳng còn cách nào khác khi lăn lộn trong giang hồ của Sử đại thúc. Trừ khi đừng mở tiêu cục trên giang hồ, nếu không thì hắc bạch lưỡng đạo đều phải mua chuộc quan hệ, bằng không thì một tấc cũng khó đi. Đúng như người ta vẫn nói là "phá tài tiêu tai", tiền kiếm được trên giang hồ thì dùng trên giang hồ, ngươi sống được thì ta cũng sống được.
Tên mặc áo gấm che mặt cười ha hả: "Sử tiêu sư, đừng hiểu lầm ý đồ của tại hạ và các huynh đệ, chúng ta không phải đến để xin xỏ bạc tiền."
Sử đại thúc hơi sững người, nói: "Các vị không phải chê ít đó chứ? Chuyện này dễ bàn, Sử mỗ mạo muội thêm năm mươi lượng nữa, không để các vị đến đây tay không."
"Sử tiêu sư, ngài cứ yên tâm, chúng ta tuyệt đối không có ý định ra tay với chuyến tiêu mà quý cục đang bảo vệ."
Sử đại thúc kinh ngạc: "Ồ? Ý của các vị là..." Sử đại thúc thầm nghĩ: Không lẽ đến tìm kẻ thù báo oán?
"Không biết các vị muốn mượn Sử mỗ thứ gì?"
"Lam Mỹ Nhân!"
Đến đây, không chỉ Sử đại thúc kinh ngạc, Dư Tái Phượng kinh ngạc, mà Nhiếp Thập Bát nghe xong còn kinh ngạc hơn. Lam Mỹ Nhân? Chẳng lẽ là người mà vị Sử đại thúc kia lúc lâm chung đã nhờ mình mang theo mảnh vải máu nhắc tới sao? Lam Mỹ Nhân sao lại ở đây? Không phải ở trong mảnh vải máu đó sao? Hơn nữa, Lam Mỹ Nhân rốt cuộc là một mỹ nhân, hay là một món bảo vật quý giá? Nhiếp Thập Bát không khỏi nghi hoặc lắng nghe tiếp.
Sử đại thúc kinh ngạc: "Lam Mỹ Nhân!"
"Không sai, tại hạ đến vì Lam Mỹ Nhân, tuyệt đối không phải vì chuyến tiêu này của quý cục."
"Anh hùng xin thứ lỗi, trong số tiêu chúng ta hộ tống lần này, không có người nào tên là Lam Mỹ Nhân cả." Tên mặc áo gấm che mặt cười lạnh: "Sử tiêu sư, đừng có giả ngốc với tại hạ! Lam Mỹ Nhân là một món bảo vật hiếm có trên đời, không phải là một nữ tử. Chuyện này người trong giang hồ ai cũng biết, với thân phận của Sử tiêu sư, chẳng lẽ lại không biết?"
"Sử mỗ thực sự không biết."
"Được! Tại hạ không quan tâm ngài biết hay không biết, chỉ muốn mượn Sử tiêu sư dùng một chút, sau này sẽ trả lại nguyên vẹn, tại hạ nghĩ Sử tiêu sư sẽ không đến mức không nể mặt chứ?"
"Sử mỗ quả thực không có món bảo vật này, nếu có, cho các vị mượn xem thì đã sao?"
"Sử tiêu sư là không muốn cho mượn?"
"Sử mỗ phải nói thế nào các vị mới tin?"
"Sử tiêu sư, ngài có thể mở tất cả các rương trên xe tiêu ra cho tại hạ xem được không?"
Yêu cầu tiêu cục mở tất cả các rương đang bảo vệ ra, đây chẳng khác nào một sự sỉ nhục và khinh thường cực lớn đối với tiêu cục, là điều mà người làm nghề bảo tiêu không thể nào dung thứ. Đừng nói là trên rương có niêm phong của chủ hàng và khóa tốt, dù không có cũng không thể để người khác mở ra. Nếu không, hàng hóa khi đến tay người nhận sẽ khiến họ nghi ngờ, làm tổn hại danh dự của tiêu cục. Một ngọn lửa giận dữ bốc lên trong lòng Sử đại thúc, đây quả thực là khinh người quá đáng, đối phương căn bản không coi mình ra gì. Nhưng Sử đại thúc lại nghĩ, không nhẫn nhịn được chuyện nhỏ sẽ làm hỏng việc lớn, cố gắng đè nén cơn giận xuống, nói: "Các hạ yêu cầu như vậy là phá vỡ quy củ của tiêu cục, thứ cho Sử mỗ không thể đáp ứng."
"Tại hạ cũng biết quy củ của tiêu cục, nhưng xin Sử tiêu sư yên tâm, dưới tay tại hạ có không ít cao nhân, có người biết mở khóa, có người giỏi gỡ niêm phong rồi dán lại như cũ, sau khi mở ra xem xong, mọi thứ vẫn như nguyên trạng, sẽ không làm tổn hại danh dự của quý cục."
"Nếu sau khi các hạ xem xong mà không có thì sao? Có chịu thu tay rút lui không?"
"Xin lỗi, trong rương không có, tại hạ đành phải lục soát hành lý và thân thể của tất cả mọi người trong quý cục."
"Cái gì? Các hạ muốn lục soát tất cả chúng ta?"
"Tại hạ quyết tâm phải mượn được món bảo vật này."
Lục soát thân thể, đây lại càng là sự sỉ nhục lớn lao. Nếu để đạo tặc lục soát, sau này còn mặt mũi nào đi lại trên giang hồ? Hùng Phong Tiêu Cục còn có thể tồn tại được nữa không? Sử đại thúc dù là người gỗ cũng phải nổi giận, lạnh lùng nói: "Ta thấy các hạ không phải đến mượn bảo vật gì, mà là cố tình đến gây sự."
"Sử tiêu sư muốn nói sao cũng được."
Một tên đạo tặc phía sau tên mặc áo gấm nói: "Chúng ta chính là cố tình đến gây sự thì đã sao? Chọc giận chúng ta, chúng ta không chỉ cướp luôn số tiêu này, mà còn tiễn tất cả xuống âm phủ."
Đột nhiên, một bóng người bay xuống, nói: "Sử đại thúc, chú tránh ra, để cháu nói chuyện với bọn chúng."
Người đến không phải ai khác, chính là thiếu tiêu đầu đang vô cùng phẫn nộ - Dư Tái Phượng. Nàng đã nghe rõ mồn một trên lầu khách sạn, thấy bọn đạo tặc ngang ngược vô lễ như vậy, làm sao còn nhịn được nữa, từ cửa sổ nhảy xuống, mắt như điện lạnh, mặt tựa sương giá, giọng nói trong trẻo chứa đầy sát ý: "Các ngươi muốn xem xe tiêu của chúng ta cũng được, nhưng bổn cô nương lại muốn mượn các ngươi một thứ trước."