Colombo không về nghỉ ở một lâu đài và hưởng của cải ông đã kiếm được. Trong tâm trí ông, không có chỗ cho bất cứ nơi nào, ngoài thế giới mà ông đã phát kiến. Ông bị ám ảnh bởi ý nghĩ ông đã không thực hiện đầy đủ giấc mộng của mình, kế hoạch ban đầu của mình. Hiện giờ ông bận tâm làm sao hoàn thành được công việc chưa hoàn thành là cuối cùng phải tới được Ấn Độ. Ý nghĩ này luôn theo đuổi ông Và như vậy Colombo nghĩ đến thực hiện cuộc phát kiến cuối cùng, một cuộc thăm dò mới về biển cả, lúc này không còn gì là mới nữa, bao quanh những đảo và đất liền bên kia Đại Tây Dương. Ông đã trông thấy ở bên kia Đại Tây Dương về phía Nam đường xích đạo, một lục địa khổng lồ, đẹp. Và cũng có đất ở bên kia Đại Tây Dương, phía Bắc đường xích đạo; những người Taino ở Hispaniola, Giamaica và Cuba đã nói về vùng đất ấy, và họ không nói dối. Bây giờ tin tức đã tới Tây Ban Nha nói rằng một người Liguria, vào quốc tịch Anh, tên là John Cabot, đã phát hiện ra đất liền trên vĩ độ nước Pháp. Nếu tất cả những vùng đất này thực sự nằm trên rìa phía đông châu Á - như người ta vẫn tưởng - thì phải có một lối đi sang Ấn Độ Dương ở một nơi nào đó.
Người châu Âu một thời đã tin là có một eo biển ở rìa cực Đông-Nam của châu Á. Đó là eo biển Cattigara (ngày nay là Eo biển Malacca) giữa bán đảo Mã Lai và Sumatra, con đường biển ngắn nhất, thực tế là con đường duy nhất, cho tàu bè qua lại từ biển nam Trung Hoa (ngày nay chúng ta biết là một phần của Thái Bình Dương) tới vịnh Bengal và Ấn Độ Dương. Eo biển dẫn đến Ấn Độ phải ở một nơi nào đó Điều đó vẫn là một vấn đề bí ẩn, một vấn đề làm lao tâm khổ trí hơn bao giờ hết. Cuộc đi biển lần thứ tư sẽ được thực hiện không phải để tìm ra những vùng đất mới. Cuộc đi đó phải có một mục tiêu duy nhất: phát hiện ra eo biển giữa biển Trung Hoa với Ấn Độ Dương và tới Ấn Độ.
Một sự phát triển mới quan trọng đã làm dự án được chú ý nhiều về mặt chính trị: Người Bồ Đào Nha đã tới Ấn Độ bằng cách đi tàu biển về phương Đông. Đầu tháng 9-1499 đầu tàu nhỏ của Vasco da Gama ra đi hai năm trước, lại vào Tago và đến Calicut của Ấn Độ, thị trường hương liệu nổi tiếng. Mặc dù dài, con đường này đã mở rộng và đầy hứa hẹn. Kết quả việc làm của Colombo không được hâm mộ vì việc tìm ra con đường ngắn dễ dàng, đi về phương Tây và tới Ấn Độ trước người Bồ Đào Nha không có gì lôi cuốn. Tuy nhiên Colombo không bỏ ý định. Ông đã viết thư cho Đức Giáo hoàng yêu cầu có những thầy tu để dạy Kinh Phúc Âm cho người Anh-diêng, hy vọng Đức Giáo hoàng có thể thuyết phục những nhà vua Công giáo cung cấp tàu biển cho ông. Nhưng Alexander VI đang có những vấn đề khác để toan tính. Rồi Colombo viết một luận án ngắn về nghệ thuật đi biển, dưới hình thức một bức thư gửi cho Vua và Hoàng hậu. Mục đích của ông là thuyết phục Vua và Hoàng hậu tin cậy ông và cho ông những tàu biển.
Colombo đã không thành công bằng những phương pháp gián tiếp này. Ông chỉ thành công khi ông quyết định thảo ra một kế hoạch chi tiết về một chuyến đi mới. Ông đã làm như vậy trong một giác thư đề ngày 26 tháng 2-1502, không may hiện nay đã thất lạc. Tuy nhiên để tưởng tượng bức giác thư đó chứa đựng những gì: một đề nghị tìm eo biển đi từ biển Trung Hoa đến Ấn Độ Dương; Colombo đã vẫn coi biển Ca-ri-bê là biển Trung Hoa. Vua và Hoàng hậu trả lời tán thành ngay tức khắc. Một mặt Vua và Hoàng hậu muốn thoát khỏi con người bây giờ đã trở thành một gánh nặng đối với họ; mặt khác họ nghĩ rằng có lẽ chỉ một người thông minh như Colombo mới có thể giúp họ đến được vùng Ấn Độ mà người Bồ Đào Nha đã tới. Thế là ngày 14 tháng 3-1502, Vua và Hoàng hậu đã đồng ý rõ ràng đối với chuyến đi thứ tư của Colombo. Trong một bức thư lịch sự và tâng bốc, Vua và Hoàng hậu nói rằng việc bỏ tù Colombo làm cho họ đau buồn; họ muốn và cần ông luôn luôn được đối xử trong vinh dự, không ai được đụng đến những đặc quyền của ông và, nếu cần thiết, phải được khẳng định để ông và những người thừa kế của ông có thể hưởng thụ một cách tự do. Tuy nhiên, trước mắt Colombo đã không thể thực hiện những chức năng đáng lẽ có thể thực hiện do những đặc quyền của ông - điều này không được nói rõ nhưng có hàm ý một cách rõ ràng.
Trong bức thư Vua và Hoàng hậu không nêu mục đích cơ bản của chuyến đi là tìm con đường đi đến Ấn Độ. Nhưng một bức thư gửi cho Vasco da Gama "thuyền trưởng của Vua Portugal hết sức trong sáng, con của chúng tôi" được trao cho Colombo, nói một cách rõ ràng rằng Đô đốc "Cristóbal Colón" (tức Cristoforo Colombo) cùng đi tới cùng một nước, bằng cách đi về phía Tây, "và có khả năng ông sẽ gặp Gama trên đường đi". Như vậy chắc chắn Vua và Hoàng hậu đã đồng ý dự án tìm ra một eo biển và trở về Tây Ban Nha bằng con đường của Gama.
Để tránh những cuộc xung đột mới và có thể tiên đoán được, Colombo bị cấm đổ bộ tại Hispaniola trên chặng đi ra của cuộc vượt biển này. Chỉ trong trường hợp cuộc đi tỏ ra không thành công và Colombo phải quay trở về bằng con đường mà ông ta đã đến, ông mới được phép dừng lại tại Hispaniola, và chỉ "khi có vẻ cần làm như vậy", Từ điều kiện này, có thể hiểu là nếu kế hoạch không thất bại và nếu Colombo không buộc phải trở về bằng con đường Hispaniola, thì kế hoạch đó không chỉ tìm ra con đường đi sang Ấn Độ mà còn đi vòng trái đất nữa (những nhà sử học đã không chú ý đầy đủ đến điểm này). Đúng như thế!
Việc chuẩn bị cho chuyến đi thứ tư đã tiến hành với tốc độ khác thường và ngày 9 tháng 5 năm 1502, một hạm đội nhỏ gồm bốn tàu đã đi từ Cadice. Có 150 người, trong đó có người con trai của Colombo, Fernando, mười ba tuổi và Bartolomeo. Diego đã chán ngấy những sự kiện trên đảo Hispaniola nên đã chọn cuộc sống tôn giáo và ở lại Tây Ban Nha. Cuộc vượt biển này là cuộc đi nhanh nhất trong tám lần Colombo đã thực hiện. Chỉ sau mười sáu ngày, ngày 15 tháng 6 ông đã đến St. Lucia tại quần đảo Tiểu Antilles. Từ đó ông đã tới Martinino (Martinique); tại đây thủy thủ được lên bờ để giặt quần áo, nghi ngơi và bổ sung nước, gỗ và thức ăn. Ba ngày sau, bốn tàu đã đi.
Đi dọc theo bờ biển vòng cung quần đảo Tiểu Antilles, ngày 24 tháng 6 họ đã tới ngoài khơi bờ biển phía nam Puerto Rico. Ngày 29 tháng 6, họ ở ngoài khơi Santo Domingo. Colombo biết việc Vua và Hoàng hậu cấm đổ bộ lên Hispaniola, nhưng ông lấy lý do ông phải đổi một chiếc tàu tỏ ra chậm và cột buồm không tốt. Đây là trường hợp tiêu biểu về hoàn cảnh ép buộc, điều mà thủy thủ gọi là bị ép buộc dừng lại. Tại Santo Domingo có sẵn một số tàu. Nếu Colombo không thể đổi chiếc tàu, ông sẽ mua, hoặc thuê một chiếc khác bằng tiền riêng của ông.
Từ trước đến giờ tôi đã theo việc kể lại cuộc đi do Don Fernando và Las Casas cung cấp. Tuy nhiên, ta không khỏi nghi ngờ rằng Colombo nói quá sự thật để có thể đặt chân lên thủ đô của những vùng Đất Mới, những vùng đất mà "do ý chí của Chúa và bằng lao động cực nhọc, ông đã chinh phục cho đất nước Tây Ban Nha". Có một lý do khác nữa khiến ông muốn dừng lại tại Santo Domingo: Ông đã cảm thấy một cơn bão sắp đến. Về cơn bão này tôi sẽ đề cập đến ở chương cuối, nói về tài đi biển của Colombo. Bây giờ chúng ta quan tâm đến ngày 29 tháng 6. Vào ngày đó, Colombo đã ra lệnh dừng, không thả neo, tại một hải lý ở bên ngoài cảng Santo Domingo. Colombo cử Pedro de Terreros trung thành lên bờ; trong chuyến đi thứ ba, cũng Pedro de Terreros đã được cử lên bờ, ở Paria trên đất liền để chiếm lĩnh cho các vua Công giáo, khi Colombo bị ốm vì bệnh thấp khớp và viêm mắt.
Terreros trở về với một câu trả lời thô bạo. Lệnh của nhà vua là không được đổ bộ lên Hispaniola và Ovando không có ý định vi phạm điều đó. Colombo tức điên người. Tuy nhiên qua Terreros ông biết rằng hầu hết ba mươi hai chiếc tàu đến với Ovando đang ở trong cảng, sẵn sàng đi về Tây Ban Nha, chở nhiều vàng, Colombo đã gửi một bức điện, nói rằng việc xuất phát của họ cần hoãn lại ít nhất tám ngày vì một trận bão lớn sắp xẩy ra. Không thể vào cửa sông Ozama để tránh bão, nay là hải cảng Santo Domingo; Colombo lo lắng tìm nơi trú ẩn khác cho bốn chiếc tàu của ông cách đó một vài dặm về phía Tây, dọc theo bờ biển, tại một nơi được bảo vệ từ phía Bắc và phía Tây.
Tất cả bốn chiếc tàu của ông đều qua khỏi trận bão và Colombo lại khởi hành ra biển. Ông định đi vào vùng chưa được khảo sát của vùng Biển Ca-ri-bê, đinh ninh rằng đi về phía Tây ông sẽ tìm thấy lục địa, và đi dọc bờ biển lục địa đó cuối cùng ông sẽ tìm thấy eo biển đi đến Ấn Độ Dương và những vùng India. Ông không còn quan tâm tới Cuba, Giamaica cũng thế. Tuy vậy ngày 17 tháng 7, trong cảnh yên tĩnh phẳng lặng, dòng nước biển đã đưa những con tàu đi về phía Nam Đông Nam tới rìa phía đông đảo Giamaica, những Núi Xanh (Blue Mountains) lộng lẫy hiện ra trong phạm vi tầm nhìn. Từ đó gió Đông-nam và dòng nước xích đạo đã đẩy những con tàu về phía Tây-bắc. Nhưng ngày 27 tháng 7 gió bắt đầu thổi từ Đông-bắc, và những con tàu đã đi 360 dặm trong 3 ngày, khi một thủy thủ trông thấy một ngọn núi xanh đẹp. Đó là đảo Guanaja, trong vịnh Honduras. Những tên cướp biển người Anh định cư trên đảo từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã xây dựng thủ đô của họ trên những cọc trong phá nước mặn để phòng thủ khi bị tấn công. Tại đó, ngày nay vẫn còn dân cư.
Thành phố Guanaja hiện nay trông giống như một Venizia thu nhỏ, những nhà gỗ, theo một kiểu kiến trúc đặc sắc lai Anh. Trên đảo không có nhà ở, chỉ có nghĩa địa, bạn bè và gia đình đưa người chết đến đó trong một đám rước trên thuyền. Ngày nay như thế và thời của những tên cướp biển cũng như thế. Khi người Tây Ban Nha bắt đầu những cuộc lùng sục trừng phạt, những tên cướp biển đưa phụ nữ, trẻ em, những đồ châu báu và thức ăn của họ lên những chiếc thuyền, đi theo eo biển tới bờ biển phía Bắc, Playa de los Soldados. Trên cạnh phía Tây của đảo có một cái dốc rất phù hợp cho sự phòng ngự lâu dài, cao hơn một nghìn ba trăm thước Anh, có rừng, hang động, vịnh nhỏ, những con suối và cây ăn quả.
Bartlomeo đã đổ bộ lên đây ngày 31 tháng 7 năm 1502. Colombo bị bệnh thấp khớp nên ở lại trên tàu. Cùng ngày đó một chiếc thuyền độc mộc lớn đục từ một cây gỗ có kích thước khổng lồ đã đến vịnh, nơi các tàu Tây Ban Nha thã neo. Chiếc thuyền này dài bằng một chiếc thuyền buôn và rộng tám thước Anh, có nơi trú ẩn cho phụ nữ, trẻ em và cả hàng hóa khỏi bị nước biển và mưa. Hơn bốn mươi người trên thuyền, hai mươi nhăm người đàn ông, cộng với phụ nữ và trẻ em như Don Fernando nói trong cuốn Lịch sử. Hàng hóa của chiếc thuyền gồm có những chiếc áo khoác bằng lông và những sơ mi lớn không có tay, mẫu mã kỳ kạ, màu sắc sặc sỡ, những chiếc khố có màu sắc lòe loẹt, giống những chiếc khố ở Granada; những thanh kiếm bằng gỗ cả hai lưỡi đều có chạm đá lửa, hoặc đá núi lửa sắc như thép; những chiếc rìu và những cái chuông, những lưỡi dao cạo và dao thái bằng đồng; những cán bễ và lò để làm đồng; và những rìu nhỏ bằng đá, màu vàng sáng loáng có chuôi bằng gỗ. Những sản phẩm này rõ ràng là của một nền văn hóa tiền tiến hơn mọi thứ mà Colombo đã phát hiện trong những chuyến đi biển trước. Thức ăn trên thuyền cũng giống thức ăn ở Arawak – ngô, khoai lang, củ từ - nhưng một cái mới là đồ uống ủ men có mùi bia của Anh. Và nhất là có nhiều lạc "hạnh nhân ca-cao" mà những người trên thuyền lớn dùng làm tiền để buôn bán với những người Anh-diêng ở trong làng.
Kích thuốc và cách trang trí nổi bật của chiếc thuyền, số lượng sản phẩm, sợi dệt, kỹ xảo về đồng, đá và gỗ, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi - tất cả những điều này cho ta thấy đại thể một nền văn hóa rất khác những nền văn hóa đã gặp trước. Cuối cùng Nhà Phát kiến đã thấy những dấu hiệu của một nền văn hóa lớn. Đàn ông, đàn bà và trẻ em trong chiếc thuyền lớn là những người Maya, chính xác là những người Chontal Maya. Họ sống ở góc Đông-Nam của Vịnh Campeche; vịnh này tách Yucatán khỏi phần còn lại của Mê-hi-cô. Quen với việc tìm một cách dể dàng đường đi trong cái mê hồn trận đường thủy và những bãi lầy, những người Chontal Maya sử dụng thuyền rất thành thạo. Vì thế những người Aztecs gọi đất của những người Maya là "Xứ sở của thuyền độc mộc".
Họ hoạt động ở vùng biển bán đảo Yucatán. Hàng hóa của họ vận chuyển trên đất liền từ những cao nguyên của Mê-hi-cô tới những cảng của Tabasco, một trong những bang của Mê-hi-cô (Mexico) hiện nay vẫn có những người Maya sinh sống. Tại đó họ chở đầy những thuyền Iớn rồi đi dọc theo bờ biển Yucatán, đi từ Nam đến Bắc trên bờ biển phía Tây và từ Bắc xuống Nam trên bờ biển phía Đông cho đến khi họ đến bờ biển Mopan (ngày nay là miền Nam Belize), Guatemala và Honduras. Ở đây người Chontal Maya có những cơ sở buôn bán, một trong những cơ sở đó là làng Playa de los Soldados trên đảo Guanaja. Những người Chontal Maya mang hàng của họ đến đây và trước hết đổi lấy ca cao từ đất liền Honduras.
Những mặt hàng bằng đồng trong chiếc thuyền lớn có lẽ từ miền trung Mê-hi-cô đến, sợi là những sản phẩm của Yucatán, có được thông qua việc đổi hàng lấy hàng trên dọc đường. Nhưng như Colombo đã nhận thấy nếu tất cả những hàng hóa này chỉ rõ "của cải, nền văn minh và công nghiệp" cho tới lúc đó chưa biết, ca-cao (nói đúng hơn là hạnh nhân ca-cao) đáng được bàn riêng. Colombo nhận ra tầm quan trọng của việc tìm ra ca-cao hay không? Rõ ràng không. Người ta có thể nói Colombo đã tìm ra ngô, hạt tiêu, khoai lang, sắn, dứa và nhiều cây khác nhưng không nói đến ca-cao, vì ông đã không nhận thấy tầm quan trọng của cây đó. Colombo cũng như những người cùng đi với ông trong chuyến đi thứ tư đều không mang về tin tức gì về loại cây đó cho thế giới Công giáo. Tin đó chỉ đến với cuộc chinh phục Mê-hi-cô của Tây Ban Nha mấy năm sau.
Colombo rất muốn thay đổi một phần những kế hoạch của ông và theo những người trong thuyền độc mộc. Nếu ông làm như vậy thì ông đã tới được Yucatán, và ông đã được thấy những đài kỷ niệm và phát hiện ra nền văn minh Mê-hi-cô, cùng với nền văn minh Peru, có sức hấp dẫn lớn đối với nước Châu Mỹ ít nhất trong ba thế kỷ. Ông đã không làm điều mà những nhà sử học cho rằng ông nên làm. Ông nghĩ sau này ông có thể dễ dàng đến thăm đất nước mà những người trên ca-nô đến đây đã lợi dụng gió xích đạo thổi từ Cu Ba đến nước đó. Bây giờ ông có ý định tìm con đường sang Ấn Độ Dương, việc này ông chỉ có thể thực hiện bằng cách đi xa hơn về phương Nam. Trong thời tiết tốt, người ta có thể trông thấy bờ lục địa từ đảo Guanaja. Colombo phải đi theo dọc bờ biển đó nếu ông muốn tìm đường sang Ấn Độ, điều ông đã từng mong ước thiết tha. Vì vậy ông chỉ mua được hàng hóa của những người Maya có trên thuyền, bán những chiếc chuông nhỏ thông thường, những gương soi nhỏ và những đồ vật không có giá trị khác. Colombo ngạc nhiên vì sự khiêm tốn của những người phụ nữ, họ không giống những người đã gặp trước đây, họ ăn mặc kín đáo, thậm chí che mặt như những tín đồ Hồi giáo ở đảo Granada,
Colombo ra lệnh cho người của ông phải tôn trọng họ. Ông cưỡng bức giữ người chỉ huy chiếc thuyền lại, một ông già tên là Giumbe, sau đặt tên lại là Juan Pérez. Ông ta thông minh nhanh nhẹn nên trở thành một phiên dịch viên rất hữu ích.
Trong tuần lễ thứ hai của tháng 8-1502, sau khi đi qua nhiều đảo lớn và nhỏ, cuối cùng Colombo đã tới lục đja Bắc Mỹ. Những người dân à đây mặc những chiếc áo nhuộm màu không có tay và "những chiếc khố nhỏ ở những phần kín của cơ thể họ". Nhưng chi tiết có ý nghĩa nhất là những chiếc áo chẽn mặc sát người, hoặc áo vét-tông có nhồi bông dày, Don Fernando gọi đó là những "áo giáp bằng bông". Những áo chẽn này - không trông thấy trong ba cuộc đi biển lầnn trước , ở trên những đảo Ca-ri-bê (Caraïbes) cũng như ở Venerucla . cũng giống những chiếc áo do những người đàn ông trên chiếc ca-nô tại Guanaja mặc và bán. Những áo đó là dấu hiệu của một nền văn minh tiên tiến, nền văn minh Maya, trải rộng trên một diện tích đáng kể trên lãnh thổ nước Cộng hòa Honduras ngày nay - Copán là một trong những địa điểm khai quật khảo cổ lớn về người Maya - nửa đường tới bờ biển Đại Tây Dương của Honduras. Theo Don Fernando, đường biên giới giữa nền văn hóa Maya và những người man rợ là vùng Punta Caxinas, ngày nay là Caô (Caos) Honduras và Trujillo (Thành phố thứ ba của xứ Perou).
Ngày Chủ nhật, 14 tháng 8 năm 1502, những tàu biển đã thả neo tại cửa một con sông lớn. Colombo bị ốm. Bartolomeo đi lên bờ "với những lá cờ, những thuyền trưởng và nhiều thủy thủ để dự lễ Misa". Ngày thứ tư tiếp theo, 17 tháng 8, người Tây Ban Nha chính thức chiếm quyền sở hữu dưới danh nghĩa Vua và Hoàng hậu Công giáo. Lần này Colombo biết đó không phải là một hòn đảo mà là một lục địa. Như vậy chính ở Honduras nước Tây Ban Nha đã nhận quyền cơ bản đối với toàn bộ Trung Mỹ nhờ có Colombo và Bartoloneo. Sau khi chiếm quyền sở hữu, người Tây Ban Nha ra đi, quay mũi thuyền về hướng Đông. Đáng lẽ họ phải đi dọc theo bờ biển tới một mũi đất, tại đó bờ biển quay về hướng Nam - như Giumbe đã nói và những người Anh - diêng khác khẳng định. Làm như vậy không khó, nhưng lần thứ hai, Colombo đã phải đương đầuu với một chuyến đi dọc theo bờ biển chật vật nhất trong lịch sử hàng hải. Lần thứ hai nhưng trong những bối cảnh hoàn toàn khác. Tháng 12 năm 1493 họ phải đậu tại chỗ ở phía Bắc đảo Haïti, còn chuyến đi dọc bờ biển Honduras vào tháng 8 và tháng 9 năm 1502 thì quanh co vì lý do ngược lại: bão liên tiếp không dứt. Đi 170 dặm hết 26 hay 28 ngày.
Chỉ đến ngày 12 tháng 9, những chiếc tàu mới tới một nơi bờ biển hạ thấp xuống phía Nam hàng trăm dặm. Chỗ này bây giờ vẫn còn gọi là Capo Gracias a Dios ("Mũi đội ơn Chúa"), một cái tên chỉ có kinh nghiệm của Colombo mới biện hộ được. Colombo cảm ơn Chúa vì những cơn bão và gió ngược chiều cuối cùng đã hết và bờ biển quay về phương Nam. Ông đã có ý định đi về hướng Nam nên ông quyết định không đi theo chiếc ca-nô của người Maya khi nó quay trở về. Mục tiêu thèm khát của ông là tìm thấy eo biển ở phương Nam.
Đi vòng mũi Gracias a Dios, những tàu đi dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Nicaragua ngày nay. Chúng theo bờ biển, vượt qua biên giới giữa Nicaragua và Costa Rica ngày nay. Ngày 25 tháng 9, tới bờ biển Đại Tây Dương thuộc Costa Rica nhiều núi non, một vùng mà người Anh-diêng gọi là Cariai. Tại đây, họ dừng lại, được che chở bởi một hòn đảo đầy ánh nắng có những cây chiêu liêu(1) và cây cọ bao phủ. Colombo đặt tên đảo là Huerta ("Vườn cây ăn quả") và quyết định ở lại một thời gian để chữa tàu và cho những người trên tàu nghỉ ngơi. Hải cảng Limon là cửa ngõ của Costa Rica và nơi buôn bán ở Đại Tây Dương. Hòn đảo Colombo đặt tên là La Huerta nằm trong vùng vịnh Limon. Đảo đó gọi là Uva ("Nho") hay Uvita trong nhiều thế kỷ, đến năm 1985 tên do Colombo đặt lại được phục hồi.
Cũng như ở Guanaja, Colombo đã tới ngưỡng cửa của một xã hội tân tiến. Trên những cao nguyên một nền văn minh đặc sắc đã nảy nở, một trong những nền văn hóa Trung Mỹ trong thế kỷ XV đã đạt đến trình độ phức tạp về công nghệ và cũng có những cơ cấu xã hội phát triển cùng sự tiến bộ về trí tuệ - ngày nay là trung tâm của một trong những quốc gia tiến bộ nhất tại Tân Thế Giới, ở đây lần đầu tiên trên đất Mỹ người ta thấy một ngôi nhà hàng gỗ lớn và những ngôi mộ xây dựng với kỹ xảo tinh vi. Lời bình luận của ông có ý nghĩa: "Những người Anh - diêng này thông minh hơn bất cứ những người nào khác tại những vùng đất đó".
Tất cả những điều này quan trọng đối với lịch sử cuộc phát kiến vĩ đại nhưng không quan trọng đối với tiểu sử Colombo. Ông đã viết thư cho Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha: "Trên đồi, tôi đã trông thấy một ngôi mộ to như một ngôi nhà, tất cả đều chạm trổ, tôi còn nghe nói đến những tác phẩm nghệ thuật ưu việt khác". Chỉ hai dòng, tuy nhiên ông đã để mười dòng để diễn đạt một cuộc đấu giữa một con lợn (thực tế là con lợn lòi) và một con khỉ đột. Việc phát hiện những dấu hiệu về nền văn hóa tiền tiến nhất tại những vùng Đất Mới không làm cho Colombo xúc động, vì ông khăng khăng trong niềm tin rằng ông vẫn ở châu Á và tìm ra những dấu hiệu về nền văn minh châu Á thì không có gì lạ. Marco Polo đã tìm thấy nhiều nền văn minh hơn và những nền văn minh đó tốt đẹp hơn nhiều; ông sẽ tìm thấy như vậy. Nếu những phát kiến mới dẫn đến một cái gì thì đó là trái với điều mà những nhà sử học hiện đại mong chờ. Colombo giải thích những dấu hiệu này để khẳng định thêm rằng ông đang ở châu Á, vì vậy chúng tăng cường thêm quyết định của ông tiếp tục đi dọc theo bờ biển để cuối cùng tới eo biển dẫn đến vịnh Bengal và Ấn Độ.
Chú thích :
(l). Bản tiếng Anh ghi: Myrobalans,
- Bản tiếng ý: Mirabolani.