Câu Chuyện Quanh Nồi Cao Voi

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
khi nồi cao đang sôi

❊ ❊ ❊

Ba ngày đầu kể từ ngày bếp nấu cao nhóm lửa, mọi việc diễn ra bình thường. Muôn và Thay ngủ ngay bên nồi cao, trên hai chiếc vòng dù. Con Liu Liu thì nằm ở dưới. Buổi sáng Muôn về bản lấy thức ăn, buổi trưa, Thay đem trâu đến thả ở thung lũng gần viện. Nồi cao thì vẫn đang sôi. Nước trong nồi cao lúc đầu thì trong veo, sau ngả sang màu vàng và bây giờ thì nâu thẫm. Bom và đại bác địch chuyển làn sang phía bên kia Bãi Đá.

Sáng sớm ngày thứ tư, Muôn và Thay đang khiêng củi vào bếp thì Hợi, chiến sỹ cảnh vệ của viện trở về. Hai chú bé reo lên:

– Chú Hợi! Các chú khác mô rồi?

Hợi đặt ba-lô xuống, tháo súng và vừa cởi đôi giày ướt sũng ra, vừa nói:

– Các em đã nấu cao rồi đấy à, giỏi đó! Chú định về mang xương voi đi, các em và dân bản đã giúp rồi tốt quá.

Con Liu Liu quẳng lên mấy tiếng rồi đến liếm chân Hợi.

– Chó của Thay đấy à? Tay Muôn đã đỡ chưa? Hợi hỏi.

Muôn đến bên Hợi, tháo băng cho anh xem. Vết thương chưa lành hẳn nhưng đã khô, Hợi buộc băng lại.

– Vết thương khỏi rồi. Các em ở đây có buồn không? Anh cho cái kèn ác-mô-ni-ca đấy, lục trong túi ba-lô mà lấy. Chà, đói rồi, Muôn có gì cho anh ăn không?

Muôn chạy lại góc nhà, đem đến một cái giỏ đan bằng tre mà chú gọi là cái «típ», trong ấy có để mấy củ sắn luộc từ hôm trước đã lạnh cứng.

– Mì đỏ, chú ăn đi. Ăn hết, lấy nữa.

Trong lúc ấy, Thay đã tìm được cái kèn; một cái kèn chính cống, hai hàng lỗ vuông xanh kẹp giữa hai miếng sắt sáng loáng, nó kêu nhiều tiếng một lúc: « Tòe toe, tỏe... tòe ».

Ở chơi với hai chú bé một lát, Hợi đeo ba-lô trở về khu viện mới.

Cái khu nhà trống hơ trống hác lại chỉ còn hai chú bé và con chó Liu Liu.

Thay ngồi vắt vẻo trên võng thổi kèn. Cái kèn thổi thế mà dễ. Cử thổi là kêu. Thổi mãi cũng thành bài. Bài kèn của Thay chỉ có một câu thổi đi thổi lại: « Tòe... toe toe tỏe tòe, toe toe tỏe toe... ». Muôn nghe tiếng kèn, ngồi thừ bên bếp lửa. Con Liu Liu thì ngồi dưới đất ngẩng lên chủ nó trên võng, nghe kèn. Nhưng Liu Liu không nghe được lâu. Thấy con chuột, con gián bén mảng đâu đấy, nó lại chạy ra đuổi một cách hăng hái, làm rộn cả cái sân viện rộng thênh. Đuổi chuột thì nó cúi đầu, đuổi gián thì nó ngẩng đầu; đớp trượt, hai hàm răng nó chạm vào nhau câng cấc. Đuổi chuột đuổi gián chán thì nó lại vào bếp, nằm dưới cái võng, quay mõm vào lưng mà nhấm rận. Nó gãi, chân đạp lên cổ, lên tai lạch xạch.

Bếp nấu cao đỏ rực lửa và than hồng. Mấy cay củi gỗ muối – một loại gỗ có vỏ sần sùi – nổ lách tách suốt đêm. Nồi cao voi sôi xinh xịch, hơi bay nghi ngút. Tiếng đại bác vẫn nổ «thịch thình, thịch thình» phía động Cây Tre dều dền như giã gạo. Bom của máy bay B. 52 rền rít ở khu vực Bãi Đá, tiếng nổ rung đất.

Đêm ấy, Muôn và Thay ngủ rất ngon lành. Một đứa ngủ trên võng, một đứa ngủ ngay ở dưới đất, bên cạnh bếp lò.

Sáng sớm hôm sau, đại bác địch bỗng chuyển làn. Chưa đầy năm giờ sáng, một quả đạn nổ rất gần, làm hai chú bé tỉnh dậy. Chưa kịp định thần, một quả đạn nổ ngay ở đầu nhà. Bụi trên mái lá rụng xuống lả tả.

Muôn và Thay chạy vào hầm. Con Liu Liu cũng đã kịp chạy vào đó. Liu Liu đã quá quen cái cảnh này rồi. Hai tháng trước, một trận đại bác của giặc đã làm con Liu Liu lạc mất hai ngày. Nó vào hầm, hầm sập, không ra được. Thay đi tìm nghe thấy tiếng nó trong hầm. Liu Liu bị đất đè, què một chân sau. Liu Liu quý chú và biết chịu đau. Phải lết một chân mà nó vẫn vẫy đuôi mừng chủ. Liu Liu khỏe lại rất mau. Người ta bảo, chó liền da, gà liền xương, thật đúng.

Bây giờ thì Liu Liu đang nép vào lòng Thay. Đại bác vẫn nổ xung quanh. Không biết nó nổ phía nào mà ánh chớp hất cả vào hầm.

– Chúng nó định đánh vào đây à?

– Súng còn bao nhiêu đạn?

Thay đếm lại từng viên đạn. Còn tất cả mười lăm viên. Bao nhiêu thì bao, sợ gì, chúng mày cử đến đây – Muôn nghĩ bụng. Chú bé hình dung xem nếu có mặt bác sỹ viện trưởng lúc này thì chú sẽ giải quyết ra sao ? Chú ấy sẽ bảo; «Phải tổ chức đánh địch.» Chúng cho bắn đại bác liên tiếp như vậy là để dẹp đường, chúng sẽ đến.

Đại bác vừa ngớt, Muôn từ hầm chạy ra. Trời đã sáng, khu viện sập thêm hai ngôi nhà nữa. Cây cối, lá cọ, giấy mà bừa bộn ngoài sàn. Sức ép của đạn đại bác làm lửa ở bếp lò tắt ngấm. Muôn đang định nhóm lại bếp thì máy bay địch lại đến giội bom. Mỗi lần bom nổ, mặt nồi cao lại gợn lên một vài vòng sáng; khi thì từ phải sang trái, khi thì từ trái sang phải.

Nửa giờ sau, gió thổi mạnh đột ngột. Tiếng máy bay cũng tắt. Bầu trời tối sầm lại. Mưa. Những cơn mưa núi vẫn thường ập đến bất ngờ như thế. Màn nước trắng xóa che khuất khu rừng già, che khuất hàng cây quanh viện, và sau cùng, che khuất tất cả.

Bếp lò lại được nhóm lên. Con Liu Liu ở ngoài sân chạy vào, ướt hết, nó xù lông rũ nước và đến nằm bên bếp lửa. Nồi cao lại sôi sùng sục.

Nhìn đám hơi nước từ nồi cao bốc lên, Muôn lầm bẩm : «Cao ni cho các chú thương binh, tốt lắm đó», Và Muôn nghĩ đến chú Ích, một chú thương binh mà Muôn đã gặp cách đây nửa năm. Không biết chú Ích đang ở đâu? Ngày ấy mà có được ít cao cho chú Ích thì tốt biết mấy !

Muôn đang nghĩ vẫn vơ thì nghe thấy tiếng người lao xao xung quanh. Mưa mau hạt nên không nhìn thấy gì cả. Muôn bấm Thay ra hiệu nép vào một góc nhà. Súng đã lên đạn chĩa nòng ra cửa. Toán người vừa đến đã vào dãy lán đối diện với nhà bếp.

Mua ngớt dần, có thể nhìn thấy thấp thoáng những bộ quần áo xanh lá cây. Đó là một đoàn bộ đội của ta hành quân qua. Những tấm nilông ướt sũng vắt lên các tấm liếp. Ba-lô, súng đạn xếp lên các sàn nứa. Có lẽ họ đi từ rất xa đến, giày và ống quần bết bùn. Họ hỏi thăm đường sang khu K rồi lại tiếp tục đi. Từng đoàn bộ đội nối tiếp nhau đi qua, lúc thưa, lúc mau, hối hả. Những người lính của các đơn vị bộ binh đi khuất lại đến xe thồ. Đó là đoàn dân công của các bản ở dọc hai bờ sông A Lin phục vụ chiến dịch. Muôn và Thay nhận ra người quen ở các bản bên kia Bãi Đá và thú vị làm sao, hai chú bé gặp lại con voi của bản mình. Nó đi thồ gạo cho mặt trận. Trên lưng voi chất những bao gạo to tướng.

Đến hai giờ chiều thì đoàn dân công đi hết.

Ba giờ chiều, giặc cho chia chiếc trực thăng đổ quân xuống vùng bản Mây. Đứng ở cổng viện, Muôn và Thay thấy những chiếc trực thăng đứng im trên không rồi hạ dần xuống, nhìn rõ cả những con số ghi trên thân máy bay.

– Chúng nó vô bản mình rồi!

Thay kêu lên khi nhìn thấy một đụn khói đen từ phía bản Mây đang ùn lên. Tiếng súng máy từng tràng, từng tràng nổ, lúc thưa thớt, lúc liên hồi, nghe mà nôn nao lòng dạ. Muôn toan xách súng chạy về nhưng Thay giữ lại. Những mảnh tàn tro của các mái lá bay tung trên trời như những cánh bướm màu đen rồi rụng xuống lả tả.

Đợi đêm đến, Muôn và Thay lần về bản. Hai đứa không đi theo đường chính mà đi vòng đường suối trở về.

Từ trên đồi cao nhìn xuống, những cái cột nhà cháy còn đỏ rực, lửa liếm trên thân cây gỗ đứng thẳng. Một vài vạt lửa lớn hơn còn đang chảy loang ra. Có lẽ địch còn đóng gần đó. Thỉnh thoảng lại có một quả pháo sáng bắn lên trời. Không biết người trong bản có việc gì không, họ chạy đâu cả?

Thay khóc. Muôn đấm vào lưng bạn:

– Khóc chi! Nó đốt bản mình, mình phải tìm cách đánh lại nó chứ. Người trong bản họ không ngồi im mô. Họ lên núi cả rồi, ngày mai đi tìm.

Đêm ấy, bếp nấu cao vẫn cháy sáng, nhưng hai chú bé không ngủ trong nhà, đề phòng địch đến bất ngờ. Muôn và Thay mắc võng trong vườn cây sau viện; ở đó, có thể nhìn bao quát con đường qua suối. Thỉnh thoảng Thay lại chạy về coi lửa. Thay đã bảo Muôn, hai đứa rời lên núi, nhưng Muôn không nghe vì sợ mất nồi cao của các chú bộ đội.

Cả ngày không có gì vào bụng, bây giờ Muôn mới thấy đói cồn cào. Thay ở trong bếp ra, đưa Muôn một miếng sắn nướng. Cũng là miếng sắn thôi, sao bây giờ thấy ngon thế! Bóc hết vỏ cháy đen ra, miếng sắn bở tơi, bột trắng lấp lánh, bay hơi nóng thơm nức.

Ăn miếng sắn xong, Muôn và Thay nằm thu lu trên võng ngủ. Con Liu Liu thì vẫn chạy lăng xăng quanh vườn rồi vào nằm bên nồi cao voi. Gió lạnh thổi hun hút. Thay đã ngáy từ lâu mà Muôn chưa ngủ được. Muôn không thấy sợ mà chỉ thấy lo. Ở đây thì không được rồi, địch rất gần. Dân bản giờ ở đâu không biết? Hay là sang K, K1, H, theo các chú bộ đội? Muôn nghĩ miên man một lúc rồi ngủ lúc nào không hay.

Giấc ngủ mới ngon lành làm sao! Hai cái võng rộng lọt thỏm hai đứa trẻ; hai đầu võng im phăng phắc. Nhìn đứa trẻ ngủ, khó có thể hình dung được xung quanh đó bao nhiêu biến động đã xảy ra. Tội ác giặc là một làn sóng, sự trừng phạt của nhân dân cũng là một làn sóng, xô ngược chiều nhau, ào ạt và dữ dội. Thế mà quanh hai cái võng lúc này thật im lìm. Suối chảy êm ru. Con Liu Liu khoanh mình nằm ngủ dưới võng, bên đống lá khô.

Một tiếng nổ dữ dội đâu đó làm Muôn thức dậy. Mặt trăng cuối tháng bây giờ mới mọc, đỏ ối như màu lửa. Chưa bao giờ Muôn thấy một cái mặt trăng đỏ như thế! Mấy con chim «đắp tát» mới đi ăn về, kêu váng cả cánh rừng. Trời đang sáng dần. Muôn chạy vào thêm lửa cho nồi cao, lúc ra võng thì Thay đã dậy. Muôn nhảy lên võng, bảo bạn:

– Mày ở lại đây, tao đi tìm dân bản. Thấy, tao về báo.

Thay không nghe:

– Để tao đi. Lúc về, tao mang mì về cho.

Không ai nhường ai. Hai đứa trẻ đánh cuộc nhau bằng cách mỗi đứa cầm một hòn đá, ai ném trúng cái cây trước mặt thì được đi. Cả hai đều ném trúng, Lại bày trò khác. Ai trả lời trúng rằng con Liu Liu đang có ở bếp hay không có ở bếp; cả hai đều trả lời là «có», nên cũng không thành. Cuối cùng, thì ném thia lia. Muôn thua. Và thế là Thay đi. Khẩu súng để Muôn giữ. Thay đeo một cái giỏ, một con dao, rời cổng viện, chạy như bay về phía động Cây Tre, nơi mà cả hai đứa đều đoán là dân làng lên ở đó.

Bên nồi cao, chỉ còn Muôn và con chó Liu Liu. Toán giặc đổ xuống vùng bản Mây nhưng không dám nống ra. Khu vực viện vẫn yên tĩnh.

Cho thêm mấy cây củi to vào bếp lò, Muôn đeo súng đi xuống suối kiếm rau, bắt cá. Con Liu Liu vẫn chạy ở đằng sau. Hái được nắm rau tai voi, bắt được mấy con cá tràu, Muôn mang về bếp, cho vào ống bơ nấu ăn.

Vắng Thay rồi, buồn quá. Con Liu Liu thì không biết nói chuyện. Nó cũng biết đùa nghịch đấy, khi thì đứng bằng hai chân sau, hai chân trước với lên cào Muôn, khi thì chạy vào trong các lán tha về đủ thứ: ống bơ, giẻ rách, que củi... Nhưng nó rất mau chán. Chỉ được một lúc, nó đã lủi thủi đi ra đầu nhà, vừa đi vừa vươn dài mình ra mà ngáp, gọi lại thì chỉ vẫy đuôi thờ ơ.

Muôn cầm cái kèn của Thay lên thổi một tiếng khiến chính Muôn giật mình. Muôn nhìn xung quanh. Vẫn chẳng có gì khác ngoài con Liu Liu đã trở lại. Tiếng kèn làm cho cảnh khu nhà đã tĩnh mịch lại tĩnh mịch hơn.

Nhưng cảnh tĩnh mịch ở đó không lâu. Ngày hôm sau, một cánh quân cả Mỹ lẫn ngụy nống ra, đã đến đóng quân ngay bên cạnh bếp nồi cao đang sôi, Muôn đang đưa một cây củi vào bếp thì nghe thấy tiếng súng tiểu liên bắn ngay ở đầu nhà. Định chạy ra ngoài nhưng không kịp nữa. Muôn trèo tót lên xà nhà, chui vào cái cuộn cót treo gần đầu hồi, trong đó đầy giấy vụn và dây dợ.

Đám lính Mỹ nói xì xồ ở dãy nhà bên cạnh. Ba tên lính ngụy xông vào bếp, mặt mày vừa hăm hở, vừa nhớn nhác.

– Bếp còn lửa. Có người!

Một đứa kêu lên. Cả ba tên đều nổ súng bắn vào các bức vách. Toán lính ở nhà bên kia cũng bắn mấy loạt. Mấy tên Mỹ chạy sang. Mặt thằng nào cũng đỏ hàm đỏ hia. Mắt chúng sâu, nên những cái mũi đã khoằm lại càng khoằm.

– Sục sạo quanh nhà!

Một tên sỹ quan ngụy đeo súng trễ xuống hông ra lệnh. Mấy tên giặc chạy ra ngoài. Một lát, chúng chạy vào, không tìm được gì. Chúng nó thì thầm bàn tán rồi xúm lại bên bếp lửa. Một tên tìm được cái ống bơ thức ăn. Tên béo ị cầm cái que chọc vào nồi cao, khua.

– Cao hổ cốt đây, của bọn trong bản. Việt Cộng thì đã đi lâu rồi. Thúc lửa vào bọn bay, cao chín ta mang theo ngâm rượu, tốt lắm đó.

Vừa nói hắn vừa nhìn ngó xung quanh và ngước mắt nhìn lên đầu hồi, nơi Muôn đang nằm im, nghe không sót một câu nào của giặc.

– Cái chi trên đó?

Tên giặc đưa cái gậy lên chọc một cái. Bụi, mồ hỏng, giấy vụn rơi xuống. Không thấy có gì đáng chú ý, chúng xúm lại hơ lửa.

– Rét bỏ mẹ. Kế hoạch đầu voi đuôi chuột. Hẹn gặp nhau ở đây mà bọn nó chết ở đâu rồi? Nằm trơ ở cái lán này để ăn đạn của Việt Cộng à?

Lũ giặc nhồm nhoàm nhai bánh và văng tục.

Muôn nằm ôm súng thấy mỏi chân quá. Có một cái lọ hay cái chai thúc vào lưng đau quá mà không dám trở mình. Chờ tối đến sẽ liệu. Cùng lắm thì cho thằng béo ị kia một viên đạn..

Thằng Bảy Gậy là thằng tồi – Tên béo ị lại nói lảm nhảm với mấy tên kia – Đóng chốt còn bị đánh tơi tả, lại bảo mò đi sục, hắn thì rúc đầu vào trong chăn. – Thưa anh Bắc Tiến, – một tên nào đứng ở cửa nói vào – ta còn ở đây đến bao giờ?

– Đợi tiểu đoàn 2. Chúng nó thuộc đường hơn. Trông vào mấy cái bản đồ để ăn mìn à? Đến chỗ thằng Bốn, coi đã liên lạc được với Bảy Gậy chưa. Mau lên!

Giữa lúc ấy có tiếng chó sủa ngoài cổng. Đúng tiếng con Liu Liu. Tiếng chó sủa ngày một gần, vừa sủa vừa chạy. Con Liu Liu chạy xộc vào bếp, lại gặp mấy thằng giặc ở đó, nó vừa sủa vừa chạy ra.

Một loạt súng nổ. Không nghe thấy tiếng con Liu Liu sủa nữa. Con Liu Liu chết rồi! Muôn nghĩ đến Thay Không biết bây giờ Thay đang ở đâu. Thay ơi, đừng về đây nữa. Muôn nằm thương con Liu Liu, tội cho nó quá. Lũ giặc ác kia, chúng bay phải đền tội!

Hai tên lính ngụy đã khiêng con Liu Liu vào bếp, mình nó đẫm máu. Muôn nhớ đến những lúc nó đi săn chồn, nó đùa với Muôn, nhớ lúc nó núp dưới hầm tránh bom... Tao thương mày, tao nhớ mày lắm Liu Liu ơi! Muôn nhắm mắt lại, thấy như đang có lưỡi con Liu Liu mỏng, mềm, ướt và ấm đang liếm trên bàn chân mình.

Ở ngoài núi, Thay đang đi dưới chân dốc Ông Cụ, cách Bãi Đá không xa. Thay đã tìm thấy dân bản. Dân bản Mây đã lên Bãi Đá lập trại, làm bãi chông, chuẩn bị súng ống và cung tên đánh giặc, Hôm trước, giặc đổ quân xuống bản bắn chết một cụ già đang ốm và năm con trâu. Cả bản tụ tập trên núi. Số người khỏe xung phong đi dân công phục vụ chiến dịch, người già yếu ở nhà làm lại nhà cửa và lo chuyện gieo tỉa.

Thay trở lại khu nhà của viện để đón Muôn đi. Nửa đường gặp đoàn bộ đội hành quân, một đơn vị trước đây đã từng đóng ở bản Mây, định đi sang vùng động Cây Tre nhưng lại đi nhầm sang Bãi Đá. Thay đưa các chú sang đến dốc Ông Cụ, trỏ đường và trở về.

Thay xách một gói to toàn củ mì và thịt nai nướng, đem cho Muôn. Chắc Muốn đang đói lắm đây. Mùi thịt nướng bay lên thơm quá. Chính Thay cũng đang đói, nhưng Thay không ăn, để dành cho bạn.

Thay hăm hở chạy trên con đường quen thuộc. Đến cổng viện, Thay giật mình, bọn giặc đã đóng đầy sân. Thay quay lại và cắm đầu chạy. Không kịp rồi, một toán giặc từ phía động Cồn Dài đi sang đã bắt được Thay cách bìa rừng không xa.

Bọn giặc trói tay Thay lại. Gói thức ăn bị mở tung. Chúng nó ăn ngấu nghiến mấy củ sắn và ít thịt nướng ngay trước mặt Thay. Thay nhìn trừng trừng vào lũ giặc, tức muốn nổ mắt. Không chừng chúng bắt được Muôn rồi, Muôn ơi! Chúng nó cười hô hố, kéo Thay trở lại khu viện.

Từ trên cao nhìn xuống, Muôn suýt kêu lên. Tay Thay bị trói bằng một sợi dây thừng to, áo Thay rách toạc một miếng sau lưng.

Tên sỹ quan ngụy béo ị vào bếp, nhìn Thay, tay cầm gọng cái kính mát quay quay:

– Nhóc con! Bếp cao mày nấu, phải không? Thay không ngẩng lên:

– Ừ.

- Nấu cao cho ai? Cho Việt Cộng phải không, hả?

– Nấu cho bản.

– Bản mày đâu?

– Cháy rồi.

– Bản nào?

– Mây.

Image

Nấu cao cho ai? Cho Việt cộng phải không? -

– Hừ. Sao không nấu trong bản? Doanh trại nào đây?

– Không biết. Bản cháy thì ra đây nấu.

Thằng béo ị đá Thay một cái rồi bỏ đi. Chúng nó kéo nhau ra sân ăn cơm chiều. Tên lính gác thì vẫn ngồi xổm trên bếp lò. Muôn muốn gọi Thay một tiếng mà không gọi được. Thay ngồi trên mấy thanh củi, sợi dây thừng chúng thít chặt quá, hai tay mỏi nhừ. Muôn trở mình: không may, một thanh nứa gãy đánh cắc một tiếng. Tên lính gác ngẩng lên, đứng dậy, đi lại nhìn ngó xung quanh. Tên lính gác đi ra ngoài cửa, rồi quay vào. Hắn lại đến ngồi xổm trên bếp lò. Tim Muôn đập rộn ràng. Muôn nhớ đến trò chơi ú tim. «Hú, tao ở đây kia mà!» Muôn nghĩ bụng, đợi thằng lính gác kia đi ra ngoài, sẽ ném một mẩu nứa xuống chỗ Thay cho Thay biết. Mà không, cứ để đó, đợi đêm đến, chúng nó ngủ hết, sẽ trèo xuống cởi trói cho Thay. Hai đứa sẽ chạy ngay về khu căn cứ. Muôn vẫn ôm khẩu súng trong lòng. Tên lính gác vẫn ngồi đó. Ngon quá, chỉ bóp cò một cái là hắn đi đời.

Tên béo ị và lũ giặc đã quay vào. Chúng hút thuốc phì phèo. Hai ba cái vỏ bao thuốc Ru-bi vứt bừa trên nền nhà. Khói thuốc bay trắng gian bếp. Nồi cao vẫn sôi. Chúng mày muốn ở lại đây đến khi nồi cao chín kia à, liệu có ở được không chứ!

Lũ giặc tán những chuyện tục tĩu và cười ngất, tiếng cười khàn và đục. Miệng tên nào cười cũng há ra, răng to đến là to. Muôn nhìn rõ hết. Chúng nó ăn những gì mà răng chúng to thế kia chứ ! Những cái răng bịt vàng thì vàng đã đành, những cái răng khác cũng vàng. Những cái mồm cười hoặc ấy hẳn đã ăn gà ăn vịt bản Mây, đã ăn thịt con Liu Liu, đã ăn đồ hộp Mỹ, không chừng chúng ăn cả thịt người nữa !

Khói thuốc tan đi, gian nhà bếp lại sặc những mùi rượu, không phải mùi rượu đoác, mùi rượu này là mùi rượu Mỹ, cay hắc. Muôn nhớ đến những buổi cùng Thay đi đồ rượu đoác. Cây đoác còn gọi là cây bùng bang, cây bủng báng; thân giống cây cọ, lá giống cây dừa, quả nhiều xúc xỉu như quả dâu da. Gỗ cây đoác phơi khô, giã bột, làm bánh ăn được. Những ngày đói kém, - bản Mây không có lúa cũng chẳng có mì, chỉ ăn bột gỗ cây đoác. Chặt ngọn cây đoác, cho vào thân cây một ít men rồi đục lỗ và hứng ở thân cây, vài ngày sau rượu sẽ chảy ra, thơm ngọt. Sáng sáng Muôn và Thay vác ống nửa vào rừng đoác lấy rượu. Mùi rượu đoác bay thơm suốt cả con đường về...

Muôn đang nghĩ miên man thì một tên Mỹ từ ngoài đi vào. Nó nhìn chăm chăm vào Thay. Tên Mỹ quay sang tên sỹ quan ngụy béo ị, hất hàm về phía Thay, ra hiệu.

– Nhóc con! − Tên béo ị gọi – Bọn Việt Cộng ở đây đi bao giờ ?

Thay không ngẩng lên:

– Đi lâu rồi.

– Đi về phía nào?

Thay nói thủng thẳng:

– Khi họ đi, tôi ở trong bản, không biết. Chúng có bao nhiêu người?

– Đông lắm.

Thằng Mỹ nói với tên béo ị mấy câu bằng thứ tiếng của hắn, tiếng nào cũng cứ cong lên. Tên sỹ quan ngụy quay lại hỏi tiếp:

– Gần đây, chỗ nào có Việt Cộng đóng?

– Không biết.

– Mày nói láo!

Bọn giặc xông vào đá Thay túi bụi. Một thanh củi trong bếp bật ra, than đỏ bắn tung lên. Tên béo ị gắp một cục than hồng bỏ vào cổ áo Thay. Hòn than rơi xuống lưng áo, dừng lại ở sợi dây lưng đeo dao. Ở trên cao nhìn xuống thấy Thay quằn quại, Muôn muốn thét lên. Hòn than đốt cháy áo Thay thành một lỗ thủng, rồi rơi xuống đất, tắt. Hòn than trở lại màu đen, còn mặt tên giặc trở về màu xám.

– Mày có biết đường đi K, không? – Tên béo phiên dịch lời tên Mỹ.

– K, là chi không biết.

– Kho, súng, đạn, gạo của Việt Cộng, biết chứ?

– Không biết.

Tên béo ị quẳng mẩu thuốc lá xuống đất, nhổ nước bọt, đưa mấy thanh củi vào bếp cho lửa tiếp tục cháy, hạ lệnh cởi trói cho Thay. Chúng nói với nhau bằng tiếng Anh. Một tên lính ngụy còn trẻ, mặt xanh rớt, mặc quần áo rộng thùng thình, mang vào một chậu cơm và thức ăn. Lúc này, Thay đã được cởi trói, đang xoa xoa vết bỏng sau lưng.

– Cơm đó, thịt đó, ăn đi. Xài dữ vào. Quân đội Cộng hòa và người Mỹ rất thương trẻ con.

Thay ngồi im một lát, rồi với một cử chỉ dứt khoát, quyết định, ăn. Bát đầu tiên Thay chỉ ăn cơm không. Xới bát thứ hai, Thay mới gắp đến đĩa thịt. Vừa bỏ miếng thịt lên bát, Thay đã buông đũa xuống. Chúng nó giết mất con Liu Liu rồi! Thay đặt mạnh bát xuống và đứng dậy. Bọn giặc nhìn nhau.

– Mày thuộc đường đi sang các bản gần đây chứ? – Tên béo ị hỏi.

Thay im lặng. Thay vẫn nghĩ đến con Liu Liu.

− Đường núi quanh đây mày thuộc chứ? – Tên béo ị hỏi lại.

Với giọng đầy căm giận, Thay nói như quát:

– Thuộc. Nhưng tao không dẫn !

− À, thằng Việt Cộng nhóc con, giỏi!

Cùng với tiếng «giỏi», tên béo ị đá Thay ngã sấp xuống nền nhà. Thay vực dậy, phủi bụi, vành tai sát vào đá tứa máu. Tên Mỹ gọi tên béo ị đến, chỉ tay vào nồi cao. Lập tức, hai tên giặc chạy đến, nắm chặt lấy một cánh tay Thay, kéo đến bếp lò. Chúng dúi tay Thay xuống sát mặt nồi cao đang sôi, chuẩn bị nhưng cái cánh tay nhỏ bé ấy xuống. Tên béo ị trợn tròn mắt quát:

– Có đưa đường không?

– Không!

– Nhúng xuống!

Trên cao, Muốn nhìn rõ cánh tay của Thay bị lũ giặc từ từ nhúng xuống nồi cao như thể nhúng cái chân gà vào nước sôi để lột da. Thay thét lên một tiếng. Cao voi trong nồi nóng bỏng và đặc sệt theo tay Thay giãy mạnh bắn tung tóe ra xung quanh. Lũ giặc dạt cả ra. Cánh tay bên trái của Thay bốc hơi nghi ngút. Cao voi bám đen từ khuỷu tay đến các đầu ngón tay.

– Sáng mai, không đưa đường, tao sẽ cho cả người mày vào nồi.

Tên giặc quay lại xem phản ứng của Thay, nhưng lúc ấy chủ bé đã ngất đi vì bỏng. Muôn không nhìn thấy Thay nữa, lũ giặc đã bu quanh. Nước mắt chảy nóng hai má. Muôn cắn môi cho tiếng khóc khỏi bật ra. Chúng mày làm quá hơn chút nữa thì súng này phải nổ, chết cùng chết.

Tên y tá của lũ giặc đi đến tiêm cho Thay tỉnh lại. Hắn đưa panh, gạt lớp cao trên tay Thay đề băng: gạt đến đâu, da tuột ra đến đấy. Thay ngất đi lần nữa.

Khi Thay tỉnh lại thì trời cũng đã bắt đầu tối. Bếp lửa nấu cao sáng chập chờn. Mặt lũ giặc đứa sấp đứa ngửa, đứa thì bạnh cằm, đứa thì gồ má như lũ quỷ sử túc trực bên cạnh vạc dầu.

Thay bị trói ghì một tay vào cột...

– Đường núi quanh đây, mày thuộc chứ?

– Thuộc. Nhưng tao không dẫn.

– Có đưa đường không?

– Không !... Không !... Không !...

Bên tại Muôn cứ văng vắng những câu hỏi, câu đáp ấy.

Trời khuya dần. Bếp cao lúc tắt lửa, lúc lại bừng sáng. Lũ giặc nằm ngổn ngang trên nền nhà. Tên lính gác vẫn ngồi xổm bên bếp lò, hút thuốc phì phèo. Chỉ chờ cho tên lính gác ngủ gục, Muôn sẽ lần xuống, cắt dây trói cho Thay. Hai đứa sẽ cướp lấy mấy khâu tiểu liên nằm ở góc nhà kia, tiện tay, lia cho chúng mấy băng. Có thể Thay không chạy được vì đã mất sức. Muôn sẽ cõng Thay lên Bãi Đá. Phải ăn một bữa mì cho no nê rồi đi tìm lá thuốc dấu chữa cho Thay mau lành. Mãi cái thằng chết bờ chết bụi kia không ngủ đi, nó ngáp cái gì mà ngáp lắm thế! Hai ngày không có hạt cơm vào bụng, ngửi mùi thuốc của nó muốn nôn. Mà kìa, tên lính gác đã ngủ rồi, đầu nó rũ xuống, các sợi tóc chải lật giờ xõa xuống, duỗi thẳng. Cái cổ nó dài đến là dài.

Muôn nhẹ nhàng có chân, trườn xuống. « Cắc!» Một thanh nứa lại gãy. Tên lính gác bừng tỉnh. Ba bốn lên giặc nằm gần đó vục dậy. Những trận bị tập kích trước đây đã làm chúng mất hồn. Tiếng động nào mà chẳng làm chúng sợ! Mấy tên giặc lại nằm xuống. Tên lính gác đứng dậy, bật lửa hút thuốc rồi đi ra ngoài. Thay ngửa mặt nhìn lên. Hai chú bé đã nhận ra nhau.

Trời đã sáng. Dự định của Muôn không thực hiện được.

Bọn địch huýt còi tập hợp. Chúng chưa kịp thu dọn đồ đạc thì từ phía động Cây Tre dội tới đủ các cỡ súng. Quân ta bắt đầu tấn công. Muôn nằm nghe rõ cả tiếng súng đại liên. Lũ giặc trên sân viện nháo nhác như lá khô gặp gió. Bọn giặc thu xếp ba-lô, xoong, nồi. Có lẽ chúng chuẩn bị rút đi.

Tên béo ị từ ngoài chạy xộc vào bếp. Tiếng súng ở phía động Cây Tre vẫn dội tới như nứa nổ khi cháy nhà, như tiếng các thanh sắt cùng một lúc đập vào các thanh sắt.

– Nhìn nồi cao đây, có đưa đường không? Thay ngẩng mặt nhìn thẳng vào tên giặc. Thay không cô đơn nữa, Thay đang có Muôn ở ngay bên cạnh. Tên giặc thét lớn:

– Có đưa đường không?

Thay cũng thét lớn :

– Không!

Lũ giặc ở ngoài sân chạy vào. Muôn đưa mũi súng nhằm tên sỹ quan ngụy béo ị. Tên giặc vừa giơ dao cắt sợi dây trói thì một quả đạn đại bác nổ ngay ở sân viện.

Một loại, lại một loạt đại bác nữa nổ ngay ở dãy nhà bên cạnh. Bọn giặc mạnh ai nấy chạy, bò theo rãnh nước quanh nhà, tìm hầm. Căn nhà thuốc bên kia đang bốc cháy.

Trận mưa pháo của quân ta đã làm sân viện mờ mịt bụi khói. Trong tiếng đại bác và tiếng kêu của lũ giặc, Muôn nhảy xuống đất, chạy tới cắt dây trói cho Thay.

Mấy tên giặc nào đó đã phát hiện thấy hai chú bé chạy trong đám khói. Muôn và Thay đã chạy qua gần hết cái sân viện, nghe tiếng đạn đại bác réo, cả hai nằm xuống. Đạn nổ, lại vục dậy chạy. Mấy viên đạn súng lục bắn đuổi theo, nhưng vô ích, bóng Muôn và Thay đã khuất sau dãy nhà cháy ngùn ngụt.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »