Mấy sọt xương voi mang về đổ dồn lại thành một đống lớn ở góc sân của viện. Việc viện quân y lấy xương voi về nấu cao phục vụ thương binh lan ra rất nhanh. Các chiến sỹ giao liên, các đơn vị bộ binh đóng ở quanh vùng đều lượm xương voi về tặng viện. Đống xương voi ngày càng to.
Bác sỹ viện trưởng Nguyễn Đình Thà nhìn đống xương ước lượng có thể nấu được hai nồi cao. Ít ra cũng được năm ki-lô-gam cao. Cách đây ít lâu, viện đã tự làm lấy được rượu chế bằng cơm nguội thừa và gạo mục, gạo đổ. Rừng Trường Sơn khá nhiều loại cây men rượu, thứ men rất nóng, chỉ cần vài quả men to bằng quả ổi đã làm cho cả rá cơm tấy lên, thơm lừng. Số rượu cất được, thêm ít cao voi, sẽ thành một thứ rượu bổ đặc biệt. Tất cả thương bệnh binh của chiến trường đến viện này đều sẽ được uống rượu cao voi bồi dưỡng sức khỏe.
Bác sỹ Thà tính đếm một lát rồi quay vào phòng. Anh vừa ngồi xuống ghế thì nghe có tiếng chân người lội qua suối nước trước cửa. Bác sỹ ngẩng lên thấy Thay đang đi vào viện, tay cầm một bọc vải.
– Thay, vào đây em.
Chú, Muôn khỏi đau chưa? Dân bản cho tôi mang thuốc và thức ăn đến cho Muôn.
Chú bé nói rồi ngồi xuống bậc cửa. Cái áo rộng che kín mu bàn chân.

Chú, Muôn khỏi đau chưa?
Bác sỹ Thà mở gói vải thấy có một bộ quần áo, một gói thuốc nam, một ít thịt nướng bọc trong lá chuối và mấy cái bánh bột sắn. Anh lẳng lặng gói lại rồi dắt Thay sang thăm Muôn.
Tối hôm ấy Thay không về nhà. Thay ở lại cùng chẻ xương voi với các chú bộ đội. Chả là lúc chiều, khi Thay sắp về bản thì ông già Mây và ông Hay, cha Thay đến thăm Muôn. Lúc ấy y tá Thanh đang xếp các khúc xương voi vào nồi to chuẩn bị nấu. Ông già Mây đến gần, bảo :
– Không được, đồng chí ơi! Phải cạo ngoài, nạo trong, chẻ nhỏ ra. Cái nồi cao voi nó không ưng để to thể đâu!
Thế là tối hôm ấy, một buổi chẻ xương voi đông vui bắt đầu.
Ngồi quanh đống xương voi có ông già Mây, ông Hay, Thay, bác sỹ Thà, y tá Thanh, chiến sỹ cảnh vệ Hợi, và một số chiến sỹ ở viện. Mỗi người cầm một con dao rựa, chẻ xương voi như chẻ củi. Nói chẻ xương voi như chẻ củi là nói hai việc ấy giống nhau ở cái dáng người làm, chứ xương voi cứng, phải dùng chày gõ ba bốn cái lên sống dao, cái xương voi mới mẻ ra. Tiếng chẻ xương voi chỉ chát chí chát vang lên trong ngôi nhà nứa có để hai ngọn đèn phòng không sáng lờ mờ.
Từ bên phòng ngoại khoa, Muôn nghe tiếng chẻ xương voi và tiếng cười vang đến, chú không nằm yên được. Muôn ngồi dậy, đứng lên, đi ra cửa. Muôn lần đến phòng chẻ xương voi. Vai chú vẫn buộc băng trắng nhưng đã đỡ đau hơn hôm trước.
Muôn được đón vào phòng và ngồi ngay bên cạnh ngọn đèn dầu phía sau Thay.
Ông già Mây vừa chẻ xương voi vừa kể chuyện cổ tích cho mọi người nghe. Miệng ông vẫn ngậm một cái tẩu thuốc rất to, loại tẩu thuốc chỉ thấy ở vùng này. Đó là cái tẩu thuốc gọt bằng gỗ mạy-đeng, to bằng cái chén, có chạm khắc những nét văn hoa rất công phu. Khói thuốc lá tỏa trắng phòng. Mùi thuốc lá thơm hăng, thứ thuốc đặc biệt của những người dân sống trên đỉnh núi Trường Sơn. Ông kể chuyện «Sự tích cái vòi voi»:
Người dân vùng núi ni đến ở đây từ bao giờ không biết, nhưng loài voi đã đến đây từ khi ở khắp vùng động Câu, Bãi Đá, động Cây Tre chưa có một cái nhà nào. Con đường mà dân bản đi kiếm củi hái măng bây giờ đều là đường voi đi cả.
Chuyện kể rằng ngày xưa, loài voi không có vòi, không có ngà như bây giờ.
Trên núi, có Chúa núi chín đầu chín mắt, nó còn có cái gậy thần có cắm vòi vạn năng. Nhà Chúa núi xây bằng gỗ mạy-đeng, thứ gỗ đỏ như máu và rắn như sắt thép. Nhà Chúa núi còn có hai thanh kiếm sừng rất quý. Hàng năm, loài cầy hương phải đến nộp xạ thơm để Chúa núi tẩm củi đun bếp ; loài rết phải đến nộp ngọc; loài hươu phải nộp sừng, nộp gạc. Loài voi chẳng có gì để nộp, phải chặt bớt đuôi mình để nộp cho Chúa núi làm chổi quét nhà. Loài voi chịu khổ hơn các loài, vì voi chạy chậm lắm. Voi thường phải nai lưng kéo gỗ cho Chúa núi. Nặng quá, không đi được, Chúa núi dùng đôi kiếm sừng thúc vào lưng, bắt phải đi. Chạy trốn, nó dùng gậy thần có vòi vạn năng cuốn vào chân, lôi lại.
Chúa núi thu phục được hầu hết các con vật ở dãy núi Trường Sơn. Nghe nói chỉ có ba loài không theo Chúa núi, là Cóc tía, Kiến đen và Đại Bàng; hai loài sống dưới đất và một loài sống trên cao. Cóc tía sống trong hang đá, phun nhựa độc ra, Chúa núi sợ mù mắt, không dám làm gì. Kiến đen có thể theo cái vòi vạn năng chạy lên cái gậy, leo vào cắn cổ Chúa núi. Còn Đại Bàng thì bay tít trên cao, Chúa núi không có phép gì bắt nổi.
Một hôm Voi đến nhà cô Thỏ, hỏi:
– Cô Thỏ ơi, sống với Chúa núi cực khổ quá. Có cách chi chống lại hắn không?
Cô Thỏ xếp hai tai to dài của mình xuống lưng, nói:
– Chống chi nổi, gan như bác Cóc tía còn sợ nữa là.
Voi đến nhà Chồn dài đuôi, hỏi:
– Anh Chồn ơi, sống với Chúa núi cực khổ quá. Có cách chi chống lại hắn không?
Chồn dài đuôi thu đuôi vào lòng mình:
– Chống chi nổi, gan như Cóc tía còn sợ nữa là...
Voi đến nhà Cóc tía. Cóc tía ở dưới một tảng đá lớn ở ven suối. Nghe có tiếng chân bước mạnh ở cửa hang, Cóc tía quát lớn:
– Đứa mô đó, làm chi đến đây?
Voi bảo:
– Bác Cóc ơi, sống với Chúa núi cực khổ quá. Có cách chi chống lại hắn không?
Cóc tia phùng miệng, súc khan mấy cái rồi tặc lưỡi, nói:
– Ờ, có chứ. Nhưng phải có Đại Bàng và Kiến đen giúp sức mới xong.
Thế là, ngay tối hôm đó, Voi, Kiến đen, Cóc tía và Đại Bàng họp lại.
Đại Bàng bay khắp vùng rừng Trường Sơn báo cho muôn loài biết kế hoạch hành động. Kiến đen bò vào nhà Chúa núi rình sẵn.
Sáng hôm sau, Cóc tía đến nhà Chúa núi:
– Dạ thưa Chúa núi – Cóc tía súc miệng khan mấy cái, tặc lưỡi, rồi chắp hai chân trước, cung kính thưa. Tôi là Cóc, trước đây có tội, nay đến trình ngài.
– À, mày là thắng Cóc tía. Gan như mày mà cũng phải đến đây hả, có việc gì?
– Dạ thưa Chúa núi, hôm nay, họ nhà Cóc chúng tôi có giỗ. Mời Chúa sang ăn cỗ. Tiện thể, chúng tôi nộp luôn cho Chúa kho nhựa độc đặc biệt của họ nhà Cóc chúng tôi, để Chúa trừng phạt kẻ nào trái lời.
Đang khi Chúa núi nửa tin nửa ngờ, Cóc tía nói:
– Họ nhà Cóc chúng tôi sở dĩ có được chút lòng dũng cảm là nhờ cái gan, Hôm nay tôi sẽ lấy gan mình cho Chúa ăn, nhưng khi đến nhà, Chúa chớ có mang theo gươm theo gậy mà gây động, hiểu lầm, họ sẽ phun nhựa độc ra đó.
Nói rồi Cóc tía gọi Mèo rừng đang đi gần đó:
– Chú Mèo rừng, lại đây. Ta tự nướng mình cho Chúa ăn gan. Khi nào thấy có mùi thơm bay lên thì chủ lấy gan ta ra rồi mang về hang bên kia cho Chúa nhắm rượu nghe!
Nói rồi Cóc tía nhảy vào bếp lửa. Mèo rừng xù lông vì kinh ngạc. Chúa núi khoái trá mang buồng gan cùng Mèo rừng sang họ nhà Cóc ăn cỗ.
Trong lúc ấy, Kiến đen dẫn Voi đến phá của nhà Chúa núi, chỉ cho Voi thấy cái vòi vạn năng và đôi kiếm sừng. Vội vã, Voi không biết lấy mấy thứ đó bằng cách nào, liền ngậm cả vào miệng (chính vì vậy mà ngày nay loài voi có cái vòi và đôi ngà). Voi lấy được mấy vật quý của Chúa núi, đường bệ tiến về phía hang Cóc.
Chúa núi ăn phải gan Cóc tía đang say lảo đảo, lại bị các con vật kia xúm đến đánh. Voi dùng vòi vạn năng quật chết Chúa núi.
Từ đấy, mọi loài vật trên núi Trường Sơn đều sống tự do.
Nhớ đến cái chết dũng cảm của Cóc tia. Voi thường dùng vòi phun nước như muốn dập tắt ngọn lửa đang thiêu Cóc.
Voi nhớ đến Kiến, người bạn nhỏ đưa đường cho mình, mỗi khi ăn cỏ, Voi thường rũ kỹ cho hết kiến rồi mới ăn..
Kể đến đó, ông già Mây chấm lửa hút thuốc. Cái miệng tẩu nuốt lấy ngọn lửa, và ông phà lên làn khói trắng đục. Tiếng chẻ xương voi chí chát, chí chát như tiếng rừng xa xưa trong câu chuyện cổ vẫn còn vang tới.
Câu chuyện về khuya càng ran lên. Mọi người bàn đến việc khai thác rừng canh-ki-na ở bên kia Bãi Đá, nói đến bãi đất nhiều cây hà thủ ô sau động Cây Tre.
Đêm khuya dần theo tiếng gõ mõ lốc cốc, lốc cốc, mỗi lúc một mau.
Rồi tiếng chim gõ mõ cũng lại thưa dần. Về sáng, như mệt mỏi, rừng già ngủ thiếp đi bên cái dùi cái mõ vô hình của mình.
Trời đã sáng, một buổi sáng trong veo từ nền trời đến mặt đất. Lá rừng vừa nhìn rõ màu xanh đã thấy máy bay trinh sát OV.10 lượn tròn trên đầu. Đó là loại máy bay hai thân, cánh bằng, tiếng kêu nghe ong ong như người ngái ngủ giữa trưa nghe tiếng nhặng bay trong nồi đồng. Thỉnh thoảng, chiếc máy bay trinh sát Mỹ lại bắn mấy quả đạn khỏi xuống một thung lũng nào đấy.
Chiếc trinh sát hai thân bay đi, lại thấy trôi lang thang trên mây một chiếc máy bay trinh sát điện tử cải tiến từ máy bay vận tải hạng nặng năm động cơ AC.130. Chúng đi đo tọa độ cho máy bay B.52 ném bom.
Chưa đầy nửa giờ sau, từ phía động Cây Tre bay đến sáu chiếc phóng pháo xkai-rai-đơ. Chúng lượn tròn ba vòng, tung xuống hàng chục tấn truyền đơn rồi bay đi. Cả vùng rừng trắng xóa các tờ truyền đơn Mỹ in bằng chữ Việt, nhỏ bằng bàn tay. Mỗi khi gió thổi, những tờ truyền đơn ấy lại bay lên xao xác như lá khô.
Muôn ra đứng ở cổng viện. Chú bé cảm thấy buổi sáng nay hơi khác lạ, hình như giặc sắp giở chứng. Những lần giặc đổ quân năm trước, cũng thường bắt đầu bằng một buổi sáng giống như sáng nay.
Tám giờ ba mươi. Viện quân y dã chiến nhận được điện khẩn cấp của Bộ Tư lệnh mặt trận. Toàn viện phải di chuyển trước năm giờ chiều. Thương bệnh binh chuyển về tuyến sau.
Ban chỉ huy viện hội ý chớp nhoáng và việc chuẩn bị hành quân bắt đầu.
Mười một giờ trưa, viện di chuyển.
Ông già Mây, ông Hay và Thay đến đón Muôn ra viện. Cả bốn người đứng thẫn thờ ở giữa sàn nhìn các đồng chí bộ đội xếp đồ đạc lên xe. Bác sỹ viện trưởng Nguyễn Đình Thà, dược sỹ Thiết, y tá Thanh, chiến sỹ cảnh vệ Hợi đến tạm biệt hai ông già và hai chú bé. Thay ôm lấy tay Thiết, khóc thút thít.
Bác sỹ Thà cảm ơn hai ông già ở bản. Cuối cùng, anh nói:
– Vùng này có thể có chiến sự ác liệt, viện quân y di chuyển để thực hiện nhiệm vụ mới. Chúng con nhất định sẽ trở về. Số xương voi chưa kịp nấu, chúng con còn để lại, đề nghị bà con dân bản trông nom hộ. Khi có điều kiện, chúng con cử người về nấu hoặc mang đi. Chúng con định để ba đồng chí ở lại làm cao voi, nhưng không được.
– Để đó chúng tôi nấu cho!– Thay ngắt lời bác sỹ Thà.
Bác sỹ đưa tay choàng hai chú bé vào lòng mình:
– Không được! Các em phải trở về bản. Địch sẽ đến đấy.
Anh quay sang ông già Mây:
– Nếu tình hình ổn định mà chúng con chưa về kịp thì nhờ dân bản nấu hộ, còn hiện nay cứ tạm để đấy. Thôi, chúng con chào dân bản! Chào Muôn và Thay nhé!
Họ bắt tay nhau. Ba chiếc ô-tô nổ máy. Thể là viện quân y dời đi rồi.
Hai ông già đã trở về bản, nhưng hai chú bé vẫn còn nán lại. Tay trái Muôn vẫn còn đeo băng. Hai chú bé dẫu nhau đi quanh cái khu nhà trống hơ trống hác, nhặt ống tiêm và chai lọ. Xa các anh, thấy vẩn vơ thì nhặt chơi rồi lại vứt đi thế thôi, chứ các thứ ấy Muôn và Thay đã chán từ lâu. Hai chủ bé đang đi trong sân viện thì bỗng nghe thấy tiếng ô-tô. Thay reo lên:
– Các chú ấy trở lại!
Cả hai chạy ra đường. Một đoàn xe vận tải đang tiến đến, lá ngụy trang xanh um, chui qua các lùm cây rủ tán xuống mặt đường.
Chiếc xe đi đầu dừng lại. Một anh lái xe còn rất trẻ, ngó đầu ra khỏi buồng lái:
– Em! Đường đi K, là đường nào?
Muôn trỏ tay. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh qua suối, rú ga nặng nề. Bạt phủ thùng xe phập phồng. Muôn và Thay nhìn rõ những hòm gỗ vuông có đai sắt. Đoàn xe đi rồi, hai chú còn cãi nhau một lúc lâu là xe chở thuốc nổ hay chở đạn cối 81. Mãi xế chiều, Muôn và Thay mới về bản.
---❊ ❖ ❊---
Sau hai ngày giặc ném bom, tám tiểu đoàn địch đã đổ xuống thung lũng A Khơi, phía tây động Cây Tre, cách viện mười hai ki-lô-mét. Cánh quân đầu tiên của địch đã chạm trán với các đội du kích táo bạo và mưu trí ở hai bờ sông A Lin. Các trận đánh lớn chưa thấy diễn ra. Vùng bản Mây hoàn toàn yên tĩnh.
Buổi sáng ngày thứ tư kẻ từ ngày viện di chuyển, Muôn và Thay trở lại mấy dãy lán quen thuộc.
Trừ căn nhà câu lạc bộ của viện bị đạn đại bác làm sập, còn hầu như không có gì thay đổi. Giàn phong lan vẫn xanh, đung đưa trên mảnh dây thép chăng ở các lối đi. Các khung cửa có rèm vải nhuộm màu vẫn im lặng như tờ.
Trong tiếng gầm rít của máy bay và tiếng đại bác nổ rung bốn phía, Muôn và Thay chất xương voi lên nồi. Công việc này đã được cha Thay và ông già Mây bày cho. Quả thật, nấu cao voi không phải dễ như nấu bánh tét. Nấu bánh tét chỉ mất một ngày một đêm. Nấu cao voi mất những mười ngày mười đêm. Nấu cao voi cũng giống như việc đánh giặc, phải biết kiên trì. Xương voi đã chẻ, phải xếp cho đều ở xung quanh nồi. Ở giữa đặt cái âu đan bằng tre. Qua ngày thứ tư thì bắt đầu chắt nước từ cái âu ấy sang một cái nồi khác, rồi cô cho đặc lại. Dặn cách làm xong, cha Thay dặn Thay:
– Cứ xếp xương lên nồi, đổ nước vào và nhóm lửa. Buổi chiều cha sẽ ra xem lại. Phải nấu ngay để có cao cho các anh bộ đội ở mặt trận.
Và thế là xương voi được chất lên nồi nấu.
Từ nay cho hết mười ngày mười đêm, bên cạnh cái nồi cao nấu ngay trong khu vực bếp của viện, chỉ có hai chú bé, một con trâu khua mõ lốc cốc ở đâu đấy và còn có thêm con chó Liu Liu theo Thay ra nằm cạnh nồi cao sưởi lửa.