Câu Chuyện Quanh Nồi Cao Voi

Câu Chuyện Quanh Nồi Cao Voi

Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
đi tìm xương voi

❊ ❊ ❊

Tôi viết lại câu chuyện này trong một viện quân y đã chiến ở miền tây Thừa Thiên. Bây giờ đang là tháng mười một dương lịch. Mùa mưa vừa đi qua ở triền tây dãy núi. Con sông A Lin nước dâng dầy ứ các hố bom hai ven bờ. Loại cua núi màu đỏ tía bò rào rào dưới khóm le[1]. Ếch nhái kêu thưa thớt và trầm đục, từng tiếng như vỡ ra từ các bong bóng nước có váng bùn. Trên vách đá phía sau dãy lán thảng thốt vút lên tiếng vượn hót nỉ non uốn lượn, gợi nhớ những chuyện cổ xưa.

Các trận đánh dữ dội giữa ta và hơn mười tiểu đoàn địch thuộc lữ đoàn dù 101 của Mỹ và tiểu đoàn 3 của ngụy, mới diễn ra cách đây ít lâu.

Hai người bạn nhỏ của tôi, chú Muôn và chú Thay đã rời mặt trận, ra Bắc học.

Tôi mở ba-lô, lấy ra một gói giấy, vật kỷ niệm của hai người bạn nhỏ, bác sỹ viện trưởng Nguyễn Đình Thà mới đưa cho tôi: một miếng cao voi bằng hai bao diêm, cắt mịn bốn góc như một miếng kẹo hồng. Tôi đưa lên mũi ngửi. Một mùi thơm hăng hăng ngòn ngọt bay lên. Cao voi cũng đen đen hồng hồng như cao ban long[2] , cao hổ cốt,[3] nhưng trong hơn. Mặt miếng cao nhăn nheo như mặt bàn tay người. Nghe nói cao voi chữa được nhiều bệnh nhưng đặc biệt là bổ gân. Chỉ cần ăn một lạng cao voi, có thể khỏe gân, rắn cốt, leo đèo lội suối không mỏi. Các chiến sĩ quân Giải phóng chiến đấu ở đây không mấy ai không biết đến loại cao voi độc đáo này.

Chẳng phải đến bây giờ người ta mới biết nấu cao bằng xương voi. Ông già Mây trong bản Mây đã kể lại chuyện quan Thẩm thời Nguyễn Nhạc đã lên vùng núi Phong Điền sức dân đi tìm xương voi về nấu cao. Chỉ trong khoảng một tháng, Thẩm đã chở về Phú Xuân[4] hàng yến cao. Đến bây giờ, trong một số hang đá ở ngọn nguồn sông A Lin vẫn còn dấu vết của các bếp nấu cao voi thời ấy.

Câu chuyện đó đến tai bác sỹ viện trưởng Nguyễn Đình Thà. Bác sỹ là người đã có tuổi, tóc lốm đốm bạc, đuôi mắt chân chim; vốn ít nói nhưng nghe không sót một câu chuyện nào của những người xung quanh. Bác sỹ Thà mời cụ Mây vào viện chơi và hỏi tỉ mỉ về cách nấu cao voi. Bác sỹ hình dung trước mắt mình có những mâm cao lát phẳng, được cắt ra phát cho thương bệnh binh.

Việc nấu cao voi như thế là đã hết sức rõ ràng, nhưng cái khó vẫn là ở chỗ lấy đâu ra xương voi bây giờ? Vẫn biết rằng trên núi, xương voi không thiếu. Hàng năm đồng bào đi săn, hạ được con voi nào thì xẻo thịt mang về, bỏ xương lại. Có con voi già ốm chết năm bảy năm xương vẫn còn. Có cả những nghĩa địa voi ở trên núi. Nhiều người đi rừng vẫn gặp. Nhưng lấy ai là người đưa đường bây giờ?

Hai ngày sau, bác sỹ Thà gặp được hai chú bé: Muôn và Thay.

Hai chú bé có lẽ ngang tuổi nhau, mười ba hay mười bốn. Một chú da đen sạm, mũi hếch, gầy khẳng, lên Muôn; một chú thấp hơn, có vành tai tròn xoe, lên Thay. Cả hai vận quần cộc, mặc áo bộ đội rộng dài thùng thình.

Muôn xách một khẩu súng trường theo sau Thay, chạy dọc bờ suối, thỉnh thoảng lại bắn tòm một phát xuống nước, kiếm cá. Bác sỹ Thà và hai chiến sỹ cảnh vệ nhìn hai chú bé một cách chăm chú. Đợi cho hai chú bé đi ngang qua khúc suối trước mặt, một chiến sỹ gọi lại:

– Ai cho các em dùng súng? Súng lấy đâu ra ? Lại đây ! – Hợi, người béo lùn, làm bộ giận dữ quát. Hai chú bé mở to đôi mắt, tỏ vẻ ngạc nhiên nhiều hơn là sợ hãi. Chân tay, quần áo các chú lấm đầy bùn đất.

Súng lấy đâu ra? Hợi hỏi lại.

– Súng của chúng tôi, lấy của Mỹ chớ đâu.

Hai chiến sỹ trẻ nhìn bác sỹ Thà, cười. Hợi cầm lấy khẩu súng và ngắm. Sau đó, anh tháo tung tất cả các bộ phận của khẩu súng rồi để lộn xộn trên tấm lá cọ ở trước mặt. Muôn và Thay vẫn đứng im, nước từ trong giỏ cá nhỏ xuống đất từng giọt, từng giọt. – Đó, súng của Mỹ, tôi phá hỏng rồi.

Hai chú bé cười. Muôn ngồi xuống lắp lại, cái trước cái sau đúng thứ tự. Bắt đầu là cái lò xo, và cuối cùng là cái chốt an toàn. Lắp xong, Muôn ấn khóa nòng đánh rốp một cái, bóp cò, lắp băng rồi khoác súng vào vai, gọn gàng như một anh lính thực thụ.

Bác sỹ đưa hai chú bé vào phòng mình, đưa cho mỗi chú vài cái bao, một thứ kẹo tự nấu, toàn là mùi dầu cù là.

– Các em có biết gần đây chỗ nào có xương voi không ? – Bác sỹ hỏi. Hai chú bé nhìn nhau, tỏ ra không hiểu.

– Xương con voi ấy mà. Các ông già trong bản đi săn, bắn con voi, các anh ở đây muốn lấy xương nó. – Để làm gì? – Muôn vừa nhá kẹo vừa hỏi, tiếng nói lúng búng trong miệng.

– Chữa bệnh. Xương voi làm thuốc cho các chú thương binh. Các em có biết, đưa các anh ở đây đi tìm.

– Biết chớ. Đi thì đi. Muôn ăn kẹo xong, xốc quần và bắt đầu liếc nhìn căn phòng.

– Ngay sáng mai được không? Có cần nói với bố mẹ không?

– Bố mẹ nó chết rồi. Thay đáp.

Bác sỹ nhìn xuống đất, nơi có cái giỏ cá đang róc rách mấy con tràu con trò gì đấy.

– Ơ...

Muôn xách giỏ cá, nói dứt khoát:

– Mai ta đi hè! Có cần thêm người đi không? Lấy xương voi cho thương binh, cả bản người ta đi đấy.

Bác sỹ tiễn hai chú bé ra đến bờ suối, dặn dò mấy câu rồi đứng sững người, nhìn hai cái áo rộng thùng thình chạy như bay dọc triền nước chảy. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng súng của hai chú bắn, nghe rõ cả tiếng nước ở dưới suối té lên cùng với những viên cuội nhỏ.

---❊ ❖ ❊---

Sáng sớm hôm sau, đồng chí Thiết được sỹ, đồng chí Thanh y tá, và Hợi, chiến sĩ cảnh vệ của viện quân y dã chiến cùng hai chú Muôn và Thay, bắt đầu lên rừng tìm xương voi.

Dải Trường Sơn dài hàng nghìn cây số với hàng vạn quả núi cao thấp khác nhau. Qua tỉnh Thừa Thiên, các quả núi dướn lên, cao chót vót và chia thành hai dải nhỏ. Triền phía đông đang nhấp nhô, khúc khuỷu bỗng trở lại bằng phẳng mọc đầy lau lách và các rừng le xanh rì. Ở đó, các chú chồn vàng và chuột chũi sống chung trong các cồn đất toàn cỏ khô ấm áp. Triền phía tây núi dựng đứng như thành và khoảng giữa các quả núi cao đó, là những thung lũng cây cối già nua, lực lưỡng, đường bệ; chính đấy là nơi từng đàn voi lớn voi nhỏ thường qua lại.

Toán người đi tìm xương voi vượt qua một con sông nhỏ, nước trong đến nỗi chỉ nhìn thôi, đã thấy lạnh.

Image

Muôn và Thay đi trước..

Những con sông ở đây thường là như vậy, không có một cánh buồm. Họ leo lên những tảng đá lưng trâu đầy rêu rồi lại trèo lên lèn đá xám. Khi núi từ thung lũng bay lên như khói, nghi ngút một vùng.

Muôn và Thay đi trước, chốc chốc lại đứng đợi ba đồng chí ở viện. Cả ba anh bộ đội đều mang sọt sau lưng, một cái nồi, một ít gạo, vài tấm vải nhựa và võng để ngủ rừng. Mỗi người một khẩu tiểu liên đeo chéo sau lưng.

Trong lúc chờ ba anh bộ đội, Muôn và Thay ngồi phệt trên tảng đá, ăn quả chuôm chuôm.

– Chúng mày đi đâu lên đây?

Muôn và Thay giật mình quay lại. Ông già Mây đứng ngay bên cạnh:

– Trên động Câu có trực thăng Mỹ xuống, quay về thôi. Nói rồi ông già xuống núi, con dao bọc vỏ đánh lạch cạch sau lưng.

Ba anh bộ đội đã lên tới nơi. Họ ngồi nghỉ quanh tảng đá.

Từ trên cao nhìn xuống, một con đường ô-tô mới mở, luồn lách qua các thung lũng rồi ngang nhiên vắt qua đỉnh núi, ở đó, lở lói hố bom một màu đỏ quạch. Đêm đêm, trên con đường đó, âm ỉ tiếng xe của ta đưa hàng vào mặt trận.

Dù pháo sáng giặc thả rơi trắng các cánh rừng. Dù vắt trên cành cây, phơi trên tán lá. Dù rớt trên mặt đất bị bom xé nát thành nhiều miếng giẻ trắng lốm đốm trên đất đá nhầu nát. Nhiều cây đổ dập vụn như tăm.

Đây là vùng giáp ranh giữa ta và địch. Đại bác Mỹ từ bên kia dốc Con Mèo, động Cây Tre có thể bắn tới. Từng cánh quân ta đi rậm rịch trong các cánh rừng già để rồi bất thần, nổ ra một trận đánh quyết liệt.

– Các chú, ta quay sang phía Bãi Đá thôi. Ở đó cũng có xương voi, trên động Câu có địch rồi. Ông già Mây vừa cho biết.

– Thật không? – Thanh hỏi.

Thay đáp:

– Có thấy trực thăng của Mỹ đáp xuống.

Vừa lúc ấy, chín chiếc trực thăng, có phóng pháo AD.6 đi kèm bay ngang qua đầu, tiếng nổ lạch bạch như tiếng máy bơm nước.

Hợi, chiến sỹ cảnh vệ quay sang đồng chí dược sỹ:

– Anh Thiết! Theo tôi biết thì trên vùng động Câu không có bãi bằng, trực thăng làm sao xuống được? Chúng đi trinh sát đấy thôi.

Toán người tiếp tục đi, nhưng lần này họ thận trọng hơn, súng lên đạn sẵn và đi sát gần nhau, không để hai chú bé đi vượt lên như trước nữa. Mấy cái sọt không đánh lạch cạch sau lưng làm Hợi cứ ngoảnh lại phía sau. Hợi vốn không phải là người của viện. Anh là dũng sỹ diệt Mỹ cấp ưu tú, đã từng đánh sân bay A Sầu, lại đã từng tham gia đánh địch trong trận Cô-Ca-Va năm trước. Cách đây nửa năm, Hợi bị thương về nằm viện. Mất sức, phải điều về hậu phương, nhưng anh xin được ở lại và chính thức trở thành chiến sỹ cảnh vệ của viện quân y dã chiến. Cha Hợi là một ông già làm nghề gọt cối đá, và anh cũng làm nghề ấy một cách thành thạo. Về viện được ít ngày, anh đã làm hàng chục cái cối xay bột, vừa để viện dùng, vừa có quà tặng các đơn vị giao liên gần đó. Mấy cô gái trong viện thường gọi anh là Hợi cối đá. Tinh anh nhất mực, nói là làm. Hợi làm thân với hai chủ bé rất nhanh.

– Ai dạy Muôn tháo lắp súng thế?

Hợi hỏi, vừa đưa tay kéo chủ bé từ dưới tảng đá lên. – Chú tôi, tên Phất, đội trưởng du kích đó. Bây giờ đi Giải phóng quân rồi.

Anh Thiết dược sỹ đi sau hỏi với lên:

Các em đem súng đi bắn cá, hết đạn thì làm sao?

– Hết sao được, còn nhiều ! – Thay đáp, – Hết thì đánh Mỹ mà lấy đạn chớ!– Muôn thêm vào. Khẩu súng vẫn mang gọn gàng trên vai. Nghĩ một lát, Muôn nói thêm:

– Nghe mấy chú nói, chúng tôi không lấy đạn đi bắn cá nữa. Để có dịp, lại bắn Mỹ.

Trời đã chiều rồi. Mặt đất thì thẫm lại nhưng mặt nước lại ánh lên. Nắng còn rớt lại đôi ba vệt vàng rực trên mấy ngọn cây cao.

Tốp người đi tìm xương voi đã đến đỉnh động Câu. Hoàn toàn yên tĩnh, không thấy địch.

– Vùng này có xương voi rồi đó. Nhưng tối rồi, ngày mai kiếm. Muôn nói và đổi súng qua vai bên kia.

Tiếng tắc kè kêu thủng thẳng như đếm từng tiếng. Mấy con chồn bay có cánh dơi, thân cáo, thấy trời chập choạng, bắt đầu đi ăn. Từ trên ngọn cây cao, những con chồn bay buông mình cho rơi xuống, đôi cánh xòe rộng như một mảnh bóng tối lượn tròn rồi lẫn vào bóng tối của các lùm cây.

Tốp người tìm xương voi nghỉ lại trong một hang đá. Họ bắt đầu nhóm lửa thổi cơm. Một tấm bạt được đem chắn phía cửa hang để che ánh lửa. Hai chú bé ngồi mân mê mấy khẩu súng tiểu liên mới. Ánh lửa trong hang bập bùng soi, lúc mờ lúc tỏ. Những giọt nước nhỏ li ti bám lên nhũ đá lấp loáng.

---❊ ❖ ❊---

Cơm nước xong, ba anh bộ đội ngồi hỏi chuyện hai chú bé. Muôn kể về cái bản Mây của mình.

Trong lúc ấy, họ không biết rằng, cách đó không quá hai trăm thước, tại một cái hang khác, một tốp thám báo của bọn ngụy cũng đang ngồi bên cạnh một bếp lửa. Cửa hang cũng được che một tấm bạt, nhưng bếp không đốt bằng củi mà bằng những thanh nhựa Mỹ. Ánh sáng trắng ấy không bập bùng như lửa củi mà như ánh đèn đất, vì vậy mà khuôn mặt của các tên giặc đều trơ ra, bộc bạch từ con mắt đến bộ râu. Chúng có tất cả tám tên. Đồ đạc để lộn xộn trong một góc hang. Những cái dù còn nguyên cả dây, được trải dưới nền hang làm chỗ nằm. Hai tên cầm súng gác ở bên ngoài đi đi lại lại, bốn con mắt nhìn chăm chăm vào bóng tối mung lung của rừng già.

Xa xa, tiếng con nai, con hoẵng đi tìm ổ đẻ, kêu «cao! cao!» từng tiếng thưa thớt. Tiếng voi đi dưới thung lũng, tiếng cành cây gãy nghe khô gọn và bí mật. Rừng già Trường Sơn tung lên trời những con đại bàng đất, hai cánh đập ào ào như một làn gió. Cây rừng lặng lẽ thả rơi quả chín xuống lòng mình, tiếng rơi lộp độp như những giọt nước lớn thường rụng dưới tán cây sau mỗi cơn mưa.

Lúc ấy, trong hang đá của tốp người đi tìm xương voi, lửa vẫn sáng bập bùng.

– Nhà tôi trước kia ở bên kia dốc Bãi Đá – Muôn bắt đầu kể – Sau ngày giặc Mỹ dồn dân lập ấp thì chuyển về bản Mây. Cha tôi trước kia cũng hay đi săn. Tôi thường theo cha tôi khi có những cuộc săn lớn. Săn hổ thì người làng không cho trẻ con đi theo. Tôi với Thay lúc ấy chưa biết dùng súng. Chúng tôi chỉ đi mang thức ăn cho các ông già trong bản. Bắn được con voi nào, chúng tôi giúp người già mang thịt về. Thịt voi ngon nhất là cái vòi, ăn giòn như tai lợn. Thịt voi giống như thịt trâu, riêng thịt ở cái vòi thì không giống. Một miếng thịt ở vòi voi chỉ nhỏ bằng ngón tay, nấu lên, nó phồng bằng ba ngón tay.

– Một con voi, đem về bản, ăn mấy ngày thì hết? Thanh tò mò hỏi.

Trong bếp, lúc này lửa đã tắt, Muôn cời than thổi cho đỏ lên rồi bảo:

– Hết ngay làm sao được, riêng quả tim của một con voi lớn cũng nặng đến ba mươi lô. Cả bản, nhà nào cũng đem thịt voi sấy khô ăn dần. Ấy là trước đây thôi, chớ từ ngày giặc Mỹ đến, chúng bắn đại bác, giội bom, thú rừng chạy đi cả, khó bắn lắm. Cả bản Mây chúng tôi có nuôi hai con voi, một con đã đưa đi chiến dịch chở gạo, còn một con già lắm rồi, chỉ nuôi để ấm cái bản thôi.

– Nghe nói bên động Cồn Dài cũng có nhiều xương voi, phải không Muôn?

Hợi hỏi. Muôn không đáp, tay Muôn cầm hòn đá củ gạch lia lia trên nền hang, đầu Muôn cúi xuống. Thay kéo áo Hợi, bảo:

– Chú đừng nói đến Cồn Dài, cha hắn bị thằng Khung ác ôn xô xuống vực chết ở đó. Trước đây chúng tôi hay đến Cồn Dài bắt cua núi, từ ngày ấy không ai đến Cồn Dài nữa. Thằng Muôn bây giờ ở với tôi, má nó và các em nó cũng bị pháo ở A Sầu câu lên chết cả rồi.

Lúc này, Muôn ngẩng lên. Ánh lửa ở mấy thanh củi vừa bùng lên soi rõ khuôn mặt chú bé, đôi mắt ướt nước. Muôn nắm lấy tay đồng chí Thiết dược sỹ:

– Lần này, các chú cho tôi theo với. Lần trước tôi theo dân bản đi chuyển gạo cho Giải Phóng ở Cô-Ca-Va, tôi đi theo ông già Thôm. Ông mù cả hai mắt, lưng ông đeo mấy quả đạn cối. Còn tôi thì đi trước cho ông già vịn vào vai mà đi. Người ta chuyển được ba chuyến thì tôi và ông già cũng chuyển được một chuyến. Sau lần ấy, tôi xin đi theo mấy chú Giải phóng, nhưng các chú không cho đi. Lần này, mấy chú cho tôi đi theo.

Image

Nghe nói bên động Cồn Dài có nhiều xương voi, phải không Muôn?

Thiết không trả lời. Anh ôm Muôn vào lòng. Cái xương vai gầy guộc của chú chạm vào ngực anh. Cái mái tóc hắc mùi cỏ khô của chú dụi vào cổ anh. Thiết nghĩ đến các em anh ở nhà. Anh nghĩ đến những cái bánh đậu, nghĩ đến những cái cầu trượt ở vườn hoa. Anh nghe thấy đâu đấy vắng tiếng trống trường và một đàn trẻ chạy ùa ra sân nắng, bước chân đạp lên những lá sau rụng.. Nhưng đây vẫn là cái hang đá giữa rừng. Lửa bếp tắt rồi. Mùi tóc của Muôn vẫn bay ấm lên mặt anh.

Im lặng quá, hình như mọi người ngủ cả rồi hay sao? Không, mọi người vẫn thức. Tiếng Hợi họ húng hằng trong khe đá, tiếng Thanh chạm vào khẩu súng lạch cạch, và tiếng Muôn:

– Các chú đi ngủ thôi, để tôi gác cho.

Mười lăm phút sau, trong hang hoàn toàn im lặng. Không phải một người gác ở cửa hang mà là hai người: anh Thiết và Muôn.

Muôn không chịu đi ngủ, chú ngồi nghe Thiết kế chuyện về các em anh ở quê hương.

Câu chuyện của Thiết lúc đầu đã hấp dẫn Muôn một cách kỳ lạ, khi thì chú hít không khí rất mạnh qua kẽ răng, khi thì chú đấm đấm vào lưng Thiết hỏi đi hỏi lại một vài chi tiết trong câu chuyện. Nhưng dần dà, khi trời về khuya, các câu chuyện ấy thưa thớt hơn, nhất là từ lúc ở dưới thung lũng có một đàn đom đóm đột ngột bay lên.

Những con đom đóm rừng rất to. Khác với đom đóm ngoài đồng thường tắt sáng lập lòe, đom đóm rừng lúc nào cũng đỏ lừ, bay lên từ những đám cỏ mục, tung vãi lên trời như tàn lửa. Muôn đứng dậy, chạy theo một con đom đóm vừa bay qua trước mặt. Chú giơ tay đập cho con đom đóm rơi xuống. Con đom đóm rơi đến gần mặt đất lại bay lên, vạch một đường sáng vòng vèo. Muôn chạy theo cái đốm lửa ấy, bóng chú khuất sau tảng đá bên trái bang.

Thiết ngồi im, nghe bước chân của Muôn. Anh nhìn những đốm sáng từ dưới thung lũng cứ tung lên mãi.

Thiết nhớ đến một câu ca dao ở quê anh: « Bao giờ đom đóm bay ra, hoa gạo rụng xuống, bà già cất chăn ». Nhưng cảnh vật ở đỉnh núi Trường Sơn này không giống ở quê anh. Cuối mùa thu mà đàn ve rừng vẫn còn kêu ran. Và bây giờ, giữa mùa đông mà đom đóm đã bay ra nhiều thế! Có lẽ năm nay nắng sớm.

Thiết đang nghĩ miên man thì bỗng một tràng tiểu liên nỗ chói tai ngay bên cạnh. Mọi người trong hang bật dậy. Thiết xách súng chạy về phía súng nổ. Vừa được mấy bước, anh đã gặp Muôn chạy về.

– Có... địch ! Muôn vừa thở gấp vừa nói hổn hển. Mấy người trong hang đã chạy ra, tìm vị trí bắn trên các mô đá. Muôn nói thầm vào tai mọi người, hơi thở nóng phà theo câu nói:

– Tôi thấy một tên đứng ở cửa hang bên kia, quay trở lại báo mấy chú, vừa bước vào cành khô thì gãy «cấc!». Địch thấy động bắn ra, may mà không làm sao. Hợi vẫy tay cho Muôn theo mình và ra hiệu cho mọi người chuẩn bị chiến đấu. Muôn dẫn Hợi đến gần cái hang đá bên kia, chú cố nhón năm đầu ngón chân cho không gây tiếng động.

Ba bóng đen ở cửa hang. Hợi không thể biết là trong hang có bao nhiêu đứa. Muôn cầm hòn đá giơ giơ lên trời ra hiệu. Hợi không hiểu. Chưa kịp hỏi, Muôn đã ném mạnh hòn đá lên một tán cây cao đánh «xoạt» một tiếng. Lập tức, một vệt đèn pin chiếu lên đó và tắt nhanh.

Tiếng mấy thằng địch:

– Đù mẹ, tắt đèn đi, lộ ráo bây giờ!

Có mấy con chim con thú mà đã bắn bậy. Ở trước cửa hang biến đi hai bóng đen.

Hợi và Muôn quay trở lại. Họ trao đổi nhanh chóng với nhau ở cửa hang. Mọi người phán đoán là địch không đông, chỉ khoảng hai mươi đứa trở xuống. Phải đánh. Mọi người quyết định sẽ nổ súng vào lúc trời tảng sáng, lúc ấy nhìn mặt đất rõ hơn, có điều kiện để diệt gọn địch ở một nơi rừng quá rậm.

Thanh ngồi trước của hang đếm lại số băng đạn mang theo. Thấy bồn chồn không yên, hết nhìn trời lại nhìn đất. Các ngôi sao vẫn vàng chóe ở trên trời và mặt đất thì vẫn tối om.

Hợi trở lại xem xét một lần nữa cái hang của bọn thám báo ngụy. Không có gì khác. Hoàn toàn ắng lặng. Tên lính gác không đi đi lại lại nữa mà ngồi gục đầu trên cánh tay, súng tựa vào vai, đầu súng hơi rung lên theo nhịp thở của hắn.

Hợi quay trở lại. Thiết xem xét lại lần cuối mọi việc chuẩn bị cho trận đánh.

Mặt đất vẫn còn tối nhưng ánh lân tinh ở các cây mục trong rừng đã nhạt dần, đấy là dấu hiệu trời sắp sáng. Rừng lạnh hơn. Sương mù dưới thung lũng bắt đầu dâng lên phủ ướt cây cối.

Sự việc diễn ra rất nhanh. Khi loạt tiểu liên của Hợi nổ, tên lính gác ngã nhào không kịp kêu lên một tiếng. Bọn ở trong hang xô ra. Súng của Thiết, Hợi, Thanh và Muôn đồng loạt lên tiếng. Tiếng nổ hình như không phát ra từ các nòng súng, các nòng súng chỉ chớp lửa, còn tiếng nổ dữ dội thì lại như ở cái miệng hang bắt ra. Tấm bạt trước cửa hang rơi xuống ngay từ loạt đạn thứ hai. Xác sáu tên giặc nằm chồng lên nhau. Sau những loạt súng nổ liên tiếp, rừng trở nên yên tĩnh, một sự yên tĩnh lạ lùng.

Muôn nhìn mấy tên giặc ở cửa hang chạy ra, đứa thì bắn được một băng đạn, đứa thì không bắn được viên nào, đã gục chết. Không hiểu sao, một liên tưởng lạ lùng đến với Muôn. Chú nghĩ đến những buổi đi hun chuột, phải khói, những con chuột trong hang cũng chạy xộc ra như thế. Ý nghĩ ấy lóe lên rất nhanh. Trong đám khói đang tan dần, Muôn đến cửa hang, reo to:

– Chúng chết cả rồi!

Muôn bắn một phát súng vào trong hang, bắn để thỏa cái khoái của chú chứ không nhằm cái gì. Không ai kịp ngăn lại, Muôn xách súng chạy vào hang. Một loạt súng nổ. Hai tên giặc ở trong ngách đá chạy ra, vừa chạy vừa bắn. Nhưng số phận hai tên giặc ấy cũng không hơn gì đồng bọn của chúng.

---❊ ❖ ❊---

Xương voi đây rồi. Xương voi lấm đầy đất cát của rừng già cổ xưa. Xương voi lấp dưới lá cây rừng Trường Sơn một năm hai mùa rụng lá. Từng đoạn xương voi trắng đục dài như lóng nứa dại được xếp vào sọt. Vùng động Câu vô khối là xương voi. Thiết, Thanh và Thay xếp xương voi vào cái hang nhỏ mà máu của Muôn đã chảy rồi xếp đầy ba sọt, gùi về.

Ấy là công việc của ngày hôm sau.

Bây giờ thì họ xúm lại quanh Muôn. Vết thương không đến nỗi nặng. Vai trái của chú đã được băng lại. Máu ướt đẫm ống tay áo.

– Muôn, có đau lắm không?

Muôn nằm trên võng, mở mắt mệt mỏi nhìn xung quanh;

– Thay mô rồi? Đưa mấy chú sang bên kia lèn, xương voi ở bên đó rất nhiều.

Thiết đến bên Muôn, đặt tay lên trán chú bé:

– Có xương voi rồi!

Thiết giơ cho Muôn thấy cái cặp tài liệu dày cộp của bọn thám bảo ngụy.

Họ vui vẻ xuống núi. Nắng sớm rực rỡ choàng lên động Câu một màu trắng sáng.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »