Trong chuyến hải hành vượt đại dương lần cuối này, Franklin không cảm thấy cần nghiên cứu hay thậm chí đề cập tới tác dụng bình ổn mặt nước xao động của dầu. Dù đã hứa hẹn nhiều với bạn bè, ông cũng không bắt tay viết tiếp cuốn tự truyện mà ông mở đầu như một bức thư gửi cho “con trai thân yêu” mà ông đã bỏ rơi.
Thay vào đó, ông theo đuổi thứ đam mê vừa thư giãn vừa tiếp sức cho tâm trí ông, đó là các truy vấn khoa học trên mặt nước với các thực nghiệm chi tiết và hệ quả thực tế. Kết quả là, ông đã giãi bày trong 40 trang những quan sát và lý thuyết về rất nhiều đề tài hàng hải, đầy các biểu đồ, bản vẽ và bảng số liệu. Có lúc ông dừng lại, thú nhận: “Tính càm ràm của một ông già đã tóm được tôi”, rồi lại tiếp tục. “Tôi nghĩ giờ tôi có thể dốc cạn một lần và mãi mãi ngân sách hàng hải của mình.”
Đó là một ngân sách đầy đặn: lý thuyết về cách thiết kế vỏ tàu để tối thiểu hóa độ cản gió và nước, được minh họa bằng biểu đồ; bản mô tả các thí nghiệm cũ của ông và đề xuất các thí nghiệm mới; ảnh hưởng của các luồng gió lên các vật thể với nhiều hình dạng; cách dùng quân bài cắt nhỏ đề đánh giá sức gió; cách chuyển hóa thí nghiệm này vào việc dùng lá buồm và cột buồm; cách dùng ròng rọc để tránh cáp neo bị đứt; phân tích cách nước tràn vào tàu khi xuất hiện lỗ thủng; các đề xuất chia khoang vỏ tàu theo cách của người Trung Hoa; lịch sử những con tàu bị nguy hiểm đã bị đánh chìm hoặc sống sót, và lời suy đoán vì sao; những so sánh uyên bác giữa kayak của dân Eskimo, thuyền chèo của Trung Hoa, ca nô Ấn Độ, thuyền buồm Bermuda và ghe buồm đảo Thái Bình Dương; các đề xuất chế tạo cánh quạt nước và cánh quạt khí; và nhiều, nhiều nữa, trang này nối trang kia, biểu đồ này nối biểu đồ kia.
Franklin cũng một lần nữa chuyển hướng chú ý sang Dòng Vịnh. Lần này ông nghĩ ra một thí nghiệm để kiểm chứng liệu nó mở xuống tầng nước sâu hay chỉ giống như một con sông nước nóng chảy gần bề mặt đại dương. Một chiếc chai rỗng có đậy nút ở miệng được hạ xuống 35 sải, ở điểm đó, áp lực nước đẩy chiếc nút chai vào trong, cho phép nước tràn vào. Nước lấy được từ độ sâu này lạnh hơn 6 độ so với trên bề mặt. Một thí nghiêm tương tự, sử dụng một thùng đựng cá mòi với hai van, đã phát hiện ra nước ở dưới đáy, dù chỉ ở độ sâu 18 sải, lạnh hơn 12 độ so với nước trên bề mặt. Ông đưa ra các biểu đồ và bản đồ nhiệt độ, cùng lời kiến nghị rằng “hàn thử biểu có thể là công cụ hữu ích cho một nhà hàng hải”. Nó có thể giúp các thuyền trưởng nương theo Dòng Vịnh để đi về hướng đông và tránh đi về hướng tây, nhờ đó có thể tiết kiệm được khoảng một tuần đi lại.1
Ngoài ra, ông còn viết các bài báo có độ dài tương tự với nhiều kết quả thí nghiệm về cách sửa ống khói không thoát và cách xây bếp lò tốt hơn. Từ góc nhìn hiện đại, các lý thuyết này có vẻ ám ảnh vì sa đà vào chi tiết, song một điều cần nhớ là chúng đề cập tới một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất của thời đại ấy: thứ bồ hóng gây nghẹt thở - tai họa của đa số gia đình và thành phố. Tất cả cùng lúc, đó là đợt tuôn trào khoa học phi thường nhất của ông kể từ các thí nghiệm điện vào năm 1752. Và cũng như các nghiên cứu trước, các nghiên cứu mà ông thực hiện trong lần vượt biển năm 1785 cho thấy đánh giá riêng của ông - thứ thuộc về một con người tài hoa, nếu không muốn nói là thiên tài - với sự kết hợp lý thuyết khoa học, phát minh kỹ thuật, các thí nghiệm thông minh và ứng dụng thực tế.2
Khi Franklin và hai cháu về đến cầu tàu Phố Chợ của Philadelphia vào tháng 9 năm 1785 - 62 năm sau lần đầu ông chen lấn lên bờ ở nơi đây khi còn là một cậu bé 17 tuổi bỏ nhà đi. “Chúng tôi được đám đông chào đón với những tiếng hò hét và đi kèm theo những lời tung hô vào tận cửa nhà.” Đại bác nổ, chuông ngân lên, Sally ôm chầm lấy ông và những giọt lệ lăn trên má Temple. Vốn từ lâu lo lắng về sự tổn hại mà phe Lee và Adam có thể gây ra với uy tín của mình, Franklin giờ rất nhẹ nhõm. “Sự chào đón nồng nhiệt tôi nhận được từ dân chúng đồng hương vượt xa kỳ vọng của tôi ”, ông tự hào viết cho John Jay.3
Tề tựu quanh ông trong ngôi nhà trên Phố Chợ lúc này, thậm chí còn hơn khi ở Passy, là sự quần tụ thật vinh dự của một gia đình gồm cả con cháu thật và nhận nuôi mà ông hằng thích thú. Có Sally, người con gái luôn hiếu thảo đóng vai trò quản gia và chồng cô Richard Bache, dù không bao giờ thành công nhưng luôn dễ tính. Bên cạnh Benny và Willy, giờ nhà Bache có thêm bốn đứa trẻ nữa - “bốn con chim non luôn níu lấy hai đầu gối ông ngoại và mang cho tôi niềm vui lớn” - và một em bé nữa sắp ra đời. Sau một năm, Polly Stevenson đã thực hiện lời hứa sẽ qua đây, cùng với cả ba đứa con. “Về hoàn cảnh gia đình”, Franklin viết cho Giám mục Shipley, “hiện giờ mọi thứ vui vẻ như tôi có thể mơ ước. Xung quanh tôi là con cháu: một người con gái có hiếu và tình cảm và sáu đứa cháu trong nhà.”4
Benny vào học ở Học viện Philadelphia do ông ngoại thành lập (lúc này đã được đặt lại tên mới - Đại học Bang Pennsylvania). Sau khi tốt nghiệp vào năm 1787, anh trở thành một chủ nhà in toàn thời gian. Franklin rất vui, gần như quá vui mừng. Ông dựng cho Benny một cửa hàng, giúp anh chọn và đúc phông chữ và gợi ý những cuốn sách mà anh nên xuất bản. Tuy vậy, sở trường tạo ra những cuốn sách bán chạy nhất như Niên giám Richard Nghèo Khổ đã nhường chỗ cho mong ước về những cuốn có tính soi rọi và giáo dục hơn. Cuối cùng, Benny bắt đầu lúng túng, dù chỉ chút ít, về sự hiện diện quanh quất của ông ngoại. Dù vậy, anh vẫn trung thành với vai trò thư ký và người ghi chép của Franklin.
Temple nỗ lực để biến mình thành một nông dân lịch lãm trên điền sản tước đoạt được từ tay cha mình ở New Jersey, song tính khí của anh không phù hợp để quan tâm nhiều đến mùa màng và gia súc. Trong một dự định được lên kế hoạch sơ sài nhằm tạo ra một lâu đài trưng bày, anh làm phiền các bạn bè Pháp của mình, nhờ họ gửi cho anh những con hươu mẫu (anh cho là thịt nai Mỹ thật vô vị), chó săn và trang phục cho các tay thợ của anh. Sau khi bầy hươu liên tục chết trên đường, Temple trở về làm một gã công tử thị thành và dành phần lớn thời gian cho các buổi tiệc tùng ở Philadelphia. Trong khi đó, ông nội anh, người duy nhất đặc biệt yêu quý anh, vẫn tiếp tục những nỗ lực vô ích nhằm kiếm cho anh một vị trí trong bộ.
Dù ít đi lại hơn trước, Franklin vẫn thích giao du như khi còn là một thương nhân trẻ. Và số ít ỏi các thành viên còn sống sót trong các hội đoàn cũ của ông nối lại việc tụ họp, thường là tại nhà ông. Trong đội cứu hỏa tự nguyện mà ông thành lập vào năm 1736, giờ chỉ bốn người còn sống, nhưng Franklin truy được họ và triệu tập một cuộc họp. Hội Triết học Mỹ đôi lúc tổ chức các phiên họp trong phòng ăn của ông và đã bầu Temple làm một thành viên mới vào năm 1786, cùng hầu hết các bằng hữu trí tuệ mà Franklin đã kết giao ở châu Âu qua nhiều năm như le Veillard, la Rochefoucauld, Condorcet, Ingenhousz và Cabanis. Để dành cho “môn khoa học quản trị khó khăn và phức tạp” cùng sự hiếu kỳ nghiêm túc mà hội triết học đã từng áp dụng với khoa học tự nhiên, Franklin tổ chức một nhóm đồng hành, Hiệp hội Truy vấn Chính trị, với thành viên là những người bạn cấp tiến trẻ tuổi của ông, chẳng hạn như Thomas Paine.
Franklin đã đến độ tuổi không còn lo sợ lãng phí thời gian. Suốt hàng giờ liền, ông chơi bài tây hay kipbi với bạn bè. Ông cho Polly biết, việc này đôi lúc khiến ông nhói lên những cơn cắn rứt lương tâm ngắn ngủi. “Nhưng một suy nghĩ khác đến để xoa dịu ta, nó thì thầm: 'Ngươi biết linh hồn là bất tử; thế thì tại sao ngươi lại bần tiện chút ít thời gian khi mà ngươi có cả sự vĩnh cửu phía trước?' Vì ta dễ dàng bị thuyết phục, và như các sinh vật có lý trí khác, thường thỏa mãn với một lý do nhỏ khi nó phù hợp với điều tâm trí muốn làm, ta lại xáo các quân bài và bắt đầu một ván mới.”5
Nhận thấy khu chợ phong phú của nông dân, bây giờ mở rộng tới dãy nhà thứ ba của Phố Chợ nơi ông sống và cung cấp nguồn nông sản tiện lợi hơn việc tự nuôi trồng, ông chuyển mảnh đất trồng rau của mình thành một khu vườn Passy bỏ túi với lối đi rải sỏi, những cây bụi và một cây dâu tằm rợp bóng. Một vị khách ghé thăm đã tả lại khuôn viên mới này: “Chúng tôi bắt gặp ông trong vườn, ngồi trên một bãi cỏ, dưới một tán dâu tằm rất rộng với vài quý ông và hai, ba quý bà khác... Chiếc bàn trà được bày dưới tán cây, và bà Bache, con gái duy nhất của Tiến sĩ, phục vụ trà cho cả nhóm bạn bè của ông. Bà có ba đứa con ở bên cạnh. Chúng có vẻ yêu quý ông ngoại quá đỗi.”6
Đó là một lối sống giữ khoảng cách an toàn với bệnh gout. Hiện thời, chứng sỏi thận của ông ngày càng tệ hơn. Ông cho Veillard biết, nó hành hạ ông ngay cả khi ông đi bộ hoặc đi tiểu. “Vì tôi sống điều độ, không uống rượu, lại tập thể dục với quả tạ hằng ngày, tôi tự huyễn hoặc rằng viên sỏi không to lên như lẽ ra nó phải thế, và rằng tôi vẫn có thể tiếp tục chịu đựng được. Những người sống lâu là những người uống cạn tới đáy của cốc rượu cuộc đời sẽ phải thấy trước việc mình gặp chút cặn là lẽ thường.”
Hai mươi hai năm trước, ông đã tự trông coi từng chi tiết của việc xây dựng ngôi nhà mới trên Phố Chợ và ông thậm chí còn chỉ dẫn cho Deborah từ xa các tiểu tiết liên quan tới trang trí và nội thất. Song, ông chỉ sống ở đây các quãng ngắn. Giờ đây, ông thấy nó quá chật chội cho gia đình mở rộng, các buổi tụ họp và sự giải trí của mình. Vì thế, ông cho là đã đến lúc bắt tay vào cuộc xây dựng mới.
Bất chấp tuổi tác, ông vẫn thấy viễn cảnh đó lôi cuốn. Ông tìm được niềm vui trong các chi tiết của việc thiết kế và sự thành thục kỹ năng. Ông có niềm đam mê với các cải tiến và trù tính hiện đại, yêu thích sự hồi hộp của việc xây dựng. Như ông viết cho Veillard, ông thấy vui khi trông coi các “thợ nề, thợ mộc, thợ đá, họa sĩ, thợ kính” bởi đã ngưỡng mộ tay nghề của họ từ khi còn là một đứa trẻ ở Boston. Hơn nữa ông biết rằng bất động sản là một khoản đầu tư: giá nhà đang lên nhanh và giá cho thuê cũng vậy.7
Ông lên kế hoạch phá ba ngôi nhà cũ ông sở hữu trên Phố Chợ và thay thế chúng bằng hai ngôi nhà rộng hơn. Ông đã tán tỉnh Deborah tại một trong ba ngôi nhà đó và làm việc như một người thợ in non trẻ trong ngôi nhà còn lại, song sự hoài cổ không phải là một tình cảm mạnh với ông. Tuy nhiên, ông buộc phải thay đổi kế hoạch do một thách thức về ranh giới khối bất động sản. “Nhà hàng xóm bất đồng về ranh giới hai nhà nên tôi buộc phải dừng lại cho đến khi tranh chấp được giải quyết bằng luật pháp”, ông viết cho cô em gái Jane ở Boston. “Trong lúc đó, vì nhân công và vật liệu đã sẵn sàng, anh yêu cầu họ cơi nới ngôi nhà anh đang ở. Giờ nó quá nhỏ cho gia đình ngày một lớn của anh.”
Chái nhà ba tầng mới, được thiết kế để nối liền mạch với ngôi nhà đang tồn tại, dài 33 thước và rộng 16 thước, giúp ông nới rộng không gian lên một phần ba. Nơi tầng trệt là một bàn ăn dài đủ chỗ cho 24 người và trên tầng ba là các phòng ngủ mới. Điểm đẹp nhất, được kết nối bởi một lối đi tới “buồng ngủ tuổi già tốt nhất của tôi”, là một thư viện chiếm toàn bộ tầng hai. Với các giá sách cao từ sàn tới trần, nó chứa 4.276 cuốn sách, khiến nó trở thành “thư viện tư nhân lớn nhất, và về cơ bản, tốt nhất ở Mỹ”, như một khách tới thăm đã thốt lên (với đôi chút phóng đại). Như ông đã thú nhận với Jane: “Anh gần như không biết biện bạch thế nào về việc xây thư viện ở một cái tuổi sẽ sớm buộc anh phải rời bỏ nó, nhưng chúng ta đã quen với việc quên rằng mình đã già lấy xây dựng làm thú vui.”8
Cuối cùng, ông có thể xây hai ngôi nhà mới nữa, một trong số đó trở thành xưởng in của Benny và ông thiết kế một hành lang có mái vòm giữa chúng dẫn vào sân trước ngôi nhà mới tân trang của ông, quay lưng ra Phố Chợ. Việc xây dựng mới cho phép ông đưa vào thực tế nhiều ý tưởng về an toàn hỏa hoạn mà ông đã ủng hộ suốt nhiều năm. Dầm gỗ trong một phòng không được nối trực tiếp với dầm gỗ trong phòng khác, mặt sàn và cầu thang được trát thạch cao kín và một cửa sập được mở ra nóc nhà để “một người có thể trồi lên và dội nước xuống mái nhà lợp ván trong trường hợp nhà bên cạnh cháy.” Ông hài lòng nhận thấy, trong quá trình tu sửa ngôi nhà chính, một tia chớp đã làm chảy đầu chiếc cột thu lôi cũ khi ông ở Pháp, song ngôi nhà không hề hấn gì. “Vậy là nhìn chung, phát minh này cũng có ích gì đó cho nhà phát minh.”9
Bên cạnh sách vở, thư viện mới của ông trưng bày rất nhiều dụng cụ khoa học, bao gồm các thiết bị điện và một cỗ máy thủy tinh mô tả sự lưu thông của máu trong cơ thể. Để thoải mái đọc sách, ông đặt một ghế bành trên cái đu với một quạt treo trên đầu chạy bằng bàn đạp chân. Trong các dụng cụ âm nhạc có một chiếc armonica, một phong cầm, một “thủy tinh cầm” giống chiếc armonica của ông, một vĩ cầm lớn và những quả chuông.
Ông nhập của James Watt, nhà chế tạo đầu máy hơi nước Birmingham nổi tiếng, chiếc máy sao chép thô sơ đầu tiên và đưa ra một số cải tiến với nó. Các tài liệu được viết bằng một loại mực khô chậm chế từ gôm a-ráp, kế đó được ấn lên các tờ giấy mỏng ẩm để tạo ra bản sao, miễn là mực vẫn còn ướt, thường là trong một ngày. Vốn đã sử dụng chiếc máy này lần đầu ở Passy, Franklin thích nó tới mức ông đặt một chiếc khác tặng cho Jefferson.10
Franklin đặc biệt tự hào về một phát minh tiện dụng, một cánh tay cơ khí có thể trả lại và thay thế những cuốn sách ở các giá bên trên. Ông viết một bài mô tả về nó với những hình vẽ và biểu đồ cùng những bí kíp, cũng chi tiết như các lý thuyết khoa học mà ông đã viết khi vượt đại dương. Đó là nét điển hình của ông. Suốt đời mình, ông thích đắm chìm trong sự chi tiết và vụn vặt theo một cách ám ảnh đến mức ngày nay nó có thể bị coi là lập dị. Ông tỉ mỉ trong việc mô tả từng chi tiết kỹ thuật của các phát minh của mình, dù nó là cánh tay (nối dài) cho thư viện, bếp lò hay cột thu lôi. Trong các tiểu luận, trải dài từ các cuộc tranh luận liên quan đến quyền thế tập hay các thảo luận về thương mại, ông cung cấp hàng xấp những phép tính chi tiết và các chú giải về mặt lịch sử. Thậm chí trong các bài văn giễu nhại hài hước nhất của mình, ví dụ như đề xuất về việc nghiên cứu về trung tiện, sự thân tình của ông được gia tăng nhờ việc đưa vào các thông tin nửa nghiêm túc, chi tiết, các phép tính và các tiền lệ uyên bác.11
Thiên hướng này được bộc lộ một cách quyến rũ nhất trong lá thư dài mà ông viết cho cô bạn nhỏ Kitty, con gái của giám mục Shipley, về nghệ thuật có được những giấc mơ dễ chịu. Nó bao gồm tất cả các lý thuyết của ông, một số có cơ sở hơn số khác, về dinh dưỡng, tập luyện, không khí trong lành và sức khỏe. Ông khuyên rằng nên tập thể dục trước chứ không phải sau bữa ăn. Cần phải luôn giữ nguồn không khí trong lành trong phòng ngủ; ông nhắc lại rằng Methuselah luôn ngủ ngoài cửa.* Ông đề ra một lý thuyết uyên thâm, dù không có giá trị về mặt khoa học, về cách không khí trong một căn phòng ngột ngạt bị bão hòa và vì thế ngăn cản lỗ chân lông con người thải ra “các hạt thối rữa”. Sau một thảo luận đầy đủ về khoa học và giả khoa học, ông đưa ra ba cách quan trọng để tránh các giấc mơ khó chịu:
#1. Bằng việc ăn uống điều độ, mồ hôi sẽ tiết ra ít hơn trong một khoảng thời gian nhất định; nhờ đó ga giường sẽ hấp thụ mồ hôi lâu hơn trước khi bị bão hòa, và chúng ta nhờ đó có thể ngủ lâu hơn trước khi bị khó chịu vì ga giường từ chối tiếp nhận thêm mồ hôi.
#2. Việc sử dụng các loại ga giường mỏng và thoáng hơn sẽ giúp các hạt mồ hôi thấm qua chúng dễ dàng hơn, chúng ta đỡ thấy khó chịu và gắng gượng được lâu hơn.
#3. Khi bạn bị sự khó chịu này đánh thức và cảm thấy không thể dễ dàng ngủ lại, hãy vỗ và lật chiếc gối, giũ kỹ ga trải giường ít nhất 20 lần, sau đó để cái giường thoáng và dịu mát đi; trong lúc đó, vẫn tiếp tục ở trần, và đi quanh phòng cho đến khi làn da có thời gian xả hết tải của nó, vốn sẽ nhanh hơn khi không khí khô và lạnh hơn. Khi bạn bắt đầu cảm thấy khó chịu vì không khí lạnh, hãy trở về giường và bạn sẽ sớm chìm vào giấc ngủ, sẽ ngủ ngon và dễ chịu... Nếu bạn quá lười ra khỏi giường, thay vì thế, bạn có thể nhấc ga giường bằng một tay và một chân để hút vào nhiều không khí trong lành và lại đẩy nó ra ngoài bằng việc thả chúng rơi xuống. Việc này nếu được lặp lại 20 lần sẽ rũ sạch mồ hôi mà chúng đã hấp thụ, cho phép bạn ngủ ngon hơn sau đó. Song phương pháp này không tốt bằng phương pháp trước. Với những ai không thích phiền toái và có đủ tiền sắm hai chiếc giường, họ sẽ được hưởng sự xa hoa lớn khi tỉnh giấc trên chiếc giường nóng và chuyển sang chiếc mát hơn.
Ông kết luận bằng một nhận xét ngọt ngào: “Có một trường hợp mà ở đó sự quan sát chính xác nhất hoàn toàn không hiệu quả. Ta không cần đề cập trường hợp này với cháu, bạn thân mến của ta, song sự mô tả của ta về nghệ thuật này sẽ không hoàn hảo nếu thiếu nó. Vấn đề là khi kẻ muốn có những giấc mơ đẹp lại không chăm lo giữ gìn thứ quan trọng hơn tất thảy, một lương tâm tốt đẹp."12
Vào lúc đó, Pennsylvania đang thịnh vượng. Ông gửi thư tới một người bạn, nói “mùa màng bội thu, người lao động có nhiều công việc để làm.” Nhưng như thường lệ, các chính trị gia của bang bị chia làm hai phe. Một phe là những người dân túy, chủ yếu bao gồm các chủ cửa hiệu địa phương và nông dân vùng hẻo lánh. Họ ủng hộ một hiến pháp bang rất dân chủ và một cơ quan lập pháp đơn viện được bầu trực tiếp mà Franklin đã góp phần soạn ra; Phía bên kia là những người sợ sự cai trị của đám đông, bao gồm giới nghiệp chủ thuộc các tầng lớp trung lưu và thượng lưu. Franklin phù hợp về mặt triết lý với cả hai nhóm nên cả hai đều tìm kiếm sự ủng hộ của ông và ông đều gia ơn cho họ. Vì thế, cả hai phe đã đề cử ông vào hội đồng hành pháp của bang và sau đó là chủ tịch hội đồng này, tương đương với vị trí thống đốc. Ông được bầu gần như với sự nhất trí hoàn toàn.13
Vui mừng thấy mình vẫn được yêu mến đến thế, ông rất tự hào về kết quả bầu cử này. Ông nói với một người cháu trai: “Dù đã già, ta không trở thành vô cảm với danh tiếng.” Ông thừa nhận với Giám mục Shipley rằng, “phần còn lại của tham vọng mà tôi cứ tưởng bản thân mình đã thoát khỏi” đã cám dỗ ông thành công.
Ông cũng vui vì sau nhiều năm chứng kiến uy danh của mình bị châm chích bởi những đòn tấn cống có tính đảng phái, ông có thể giành lại uy tín bằng việc đặt mình trên cuộc xung đột. Benjamin Rush thổ lộ sau khi ăn tối với Franklin: “Ông đã phá tan cơn thịnh nộ đảng phái ở bang của chúng tôi, hay mượn phép so sánh từ một trong những khám phá của ông: chính sự hiện diện và lời khuyên của ông, giống như dầu trên mặt nước xao động, đã giúp bình ổn các đợt sóng tranh chấp phe phái.” Đó là một tài năng mà sẽ sớm phục vụ ông và đất nước rất tốt.14
HỘI NGHỊ LẬP HIẾN NĂM 1787
Với những ai để ý, sự cần kíp của một hiến pháp liên bang mới trở nên rõ ràng chỉ vài tháng sau khi Các Điều khoản Liên bang được phê chuẩn năm 1781, khi một sứ giả đưa đến Quốc hội tin tức lạ kỳ về chiến thắng Yorktown. Vì không có tiền trong quốc khố để trả các chi phí cho sứ giả, các nghị sĩ phải moi những đồng xu từ trong túi họ. Theo Các Điều khoản, Quốc hội không được quyền áp thuế hoặc làm nhiều việc khác. Thay vào đó, nó cố gắng trưng thu tiền từ các bang, điều mà các lãnh đạo thuộc địa từng muốn vua nước Anh làm; và các bang, đúng như nhà vua và các bộ trưởng từng lo sợ, thường không đáp lại.Vào năm 1786, tình trạng xấu dần. Một sĩ quan trước đây tham gia Chiến tranh Cách mạng tên là Daniel Shays đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy của nông dân nghèo miền tây Massachusetts chống lại việc thu thuế và thu nợ. Người ta sợ tình trạng hỗn loạn sẽ lan rộng. Quốc hội, vốn vẫn nay đây mai đó, lúc này đang họp ở New York. Họ thường không đủ tiền để trả các hóa đơn và đôi khi không thể tập hợp đủ số đại biểu tối thiểu. Mười ba bang không chỉ muốn độc lập với nước Anh mà còn tách biệt với nhau. New York áp phí với tất cả tàu bè từ New Jersey và bang này trả đũa bằng việc đánh thuế một ngọn hải đăng cảng New York ở Sandy Hook. Các bang khác đang trong quá trình hình thành (gồm một bang được đặt tên là Franklin, về sau đổi lại thành Tennessee) nỗ lực tìm giải pháp cho mối quan hệ tiềm năng với các bang đã tồn tại. Khi những người định cư muốn thành lập bang mới mang tên Franklin tìm đến ông đề xin lời khuyên về cách xử lý các tuyên bố đối đầu của Bắc Carolina, ông nói rằng nên đưa toàn bộ vấn đề ra Quốc hội, điều mà ai cũng biết sẽ không có mấy tác dụng.15
Sau khi Maryland và Virginia không giải quyết được một số tranh chấp biên giới và hàng hải, một hội nghị đa phương được triệu tập ở Annapolis để giải quyết chúng cùng các vấn đề lớn hơn về thương mại và hợp tác. Chỉ năm bang tới dự và đạt được rất ít nội dung, song James Madison và Alexander Hamilton cùng những người khác, nhận thấy sự cần thiết của một chính phủ quốc gia mạnh hơn, đã dùng hội nghị này để kêu gọi một hội nghị quốc gia được lập nên với danh nghĩa chỉ là để sửa đổi Các Điều khoản Liên bang. Nó được lên kế hoạch tổ chức tại Philadelphia vào tháng 5 năm 1787.
Sự đặt cược thật khổng lồ. Như Franklin, người được chọn là một trong những đại biểu của Pennsylvania, làm rõ trong thư gửi Jefferson ở Paris: “Hiến pháp liên bang của chúng ta nhìn chung bị coi là có khiếm khuyết, và một hội nghị, ban đầu do Virginia đề nghị, sau đó được Quốc hội tiến cử, sẽ nhóm họp ở đây vào tháng tới để sửa chữa nó và đề xuất một số tu chính án... Nếu không có lợi, ắt nó sẽ có hại, vì nó sẽ cho thấy chúng ta không có đủ trí tuệ để tự cai quản chính mình.”16
Vậy là họ tụ họp vào mùa hè nóng và ẩm bất thường của năm 1787 đề soạn thảo trong tuyệt mật một bản Hiến pháp Mỹ mới. Nó sẽ trở thành bản hiến pháp thành công nhất từng được bàn tay con người viết ra. Trong bức thư đánh giá nổi tiếng sau này, Jefferson gọi những người có mặt ở đây là một “hội đồng á thần.” Nếu vậy, họ chủ yếu là các á thần trẻ - Hamilton và Charles Pinckney mới 29 tuổi. (Hão huyền về tuổi tác cũng như của cải của mình, Pinckney vờ như mới 24 tuổi để trở thành thành viên trẻ nhất, trong khi thật sự người trẻ nhất là Jonathan Dayton từ New Jersey, 26 tuổi.) Ở tuổi 81, Franklin là thành viên già nhất, cách người gần nhất 15 tuổi và chính xác là gấp đôi độ tuổi trung bình của các thành viên còn lại.17
Khi Tướng Washington về tới thành phố vào ngày 13 tháng 5, việc đầu tiên ông làm là ghé thăm Franklin. Ông được Franklin mở phòng ăn mới của mình và trọng đãi một thùng bia đen. Trong nhiều vai trò mà nhà hiền triết nổi tiếng của Philadelphia đảm nhiệm tại hội nghị, có vai trò một chủ nhà biểu tượng. Khu vườn của ông và bóng mát của cây dâu, chỉ cách tòa thị chính vài trăm thước, trở thành một nơi nghỉ ngơi sau các cuộc tranh luận. Các đại biểu có thể nói chuyện trong lúc uống trà, nghe Franklin kể chuyện và lắng xuống trong một tâm thế sắn sàng thỏa hiệp. Trong 16 bức tranh tường lớn trên Hội trường Đại Nghiệm ở điện Capitol của Hoa Kỳ, tả lại các cảnh nói lên tầm quan trọng lịch sử của ông, từ Hiệp ước Mayflower tới các cuộc tuần hành đòi quyền bầu cử của phụ nữ, có một cảnh vườn với Hamilton, Madison và James Wilson nói chuyện cùng Franklin dưới bóng cây dâu tằm.
Nếu còn sức khỏe và còn tham vọng, Franklin có thể trở thành người duy nhất ngoài Washington có cơ hội trở thành chủ tịch hội nghị. Thay vào đó ông chọn cách đề cử Washington. Không may, những cơn mưa nặng hạt và sự bùng phát của chứng sỏi thận khiến ông bỏ lỡ ngày khai mạc, 25 tháng 5, vì thế ông yêu cầu một thành viên khác trong phái đoàn mình đề cử Washington. Madison ghi lại trong nhật ký hội nghị rằng, “sự đề cử vẻ vang đặc biệt tới từ bang Pennsylvania, vì chỉ Tiến sĩ Franklin có thể được xem là đối thủ”.
Thứ Hai ngày 28 tháng 5, Franklin đến nhận chỗ của ông ở một trong 14 chiếc bàn tròn tại Phòng Đông của tòa thị chính, nơi ông đã ngồi suốt nhiều năm. Theo một số lời thuật sau này, đó là một lối vào lớn: để giảm thiểu cơn đau, người ta kể lại, ông đã được vận chuyển nguyên khối từ nhà, trong một chiếc ghề bọc kín mà ông mua từ Paris. Chiếc ghế được bốn tù nhân của nhà ngục Phố Walnut khiêng. Họ giữ chiếc ghế phía trên những thanh đòn đàn hồi và đi nhẹ nhàng để tránh bất cứ cú xóc đau đớn nào.18
Vẻ mặt ôn hòa và dễ mến đáng kính của Franklin khi ông tới nhận chỗ ngồi mỗi sáng và ưu tiên kể chuyện hài hước hơn là hùng biện tranh luận đã đem lại một sự hiện diện có tác dụng xoa dịu. “Mỗi ngày ông bày ra một cảnh tượng của lòng nhân từ trác tuyệt bằng việc đến hội nghị đúng giờ”, Benjamin Rush cho biết và nói thêm, Franklin đã tuyên bố rằng hội nghị này là “cuộc họp uy nghiêm và khả kính nhất mả ông từng dự”.
Franklin có thể nhiều lúc lung lay, hơi thiếu tập trung trong các bài phát biểu và thỉnh thoảng gây khó hiểu với một vài đề xuất của mình. Nhưng thường thì các đại biểu vẫn tôn trọng và luôn dễ dãi với ông. William Pierce đến từ Georgia, một thành viên có mặt, đã ghi lại được một cách ấn tượng sự pha trộn cảm xúc này:
Tiến sĩ Franklin nổi tiếng là triết gia vĩ đại nhất đương thời; ông dường như hiểu được mọi sự vận hành của tự nhiên. Chính bầu trời cũng tuân lệnh ông và các đám mây sinh ra sấm sét để bị cầm tù trong cột thu lôi của ông. Song phải nói gì về ông trong vai trò một chính trị gia, hậu thế sẽ định đoạt. Chắc chắn ông không thật tỏa sáng trong hội nghị chung. Ông không phải diễn giả và có lẽ cũng không để chính trị vướng bận sự chú tâm của mình. Tuy vậy, ông là một người phi thường, biết kể những câu chuyện theo một cách hấp dẫn hơn bất cứ thứ gì tôi từng nghe.
Trong bốn tháng sau đó, nhiều kiến nghị mà Franklin ưa thích - một cơ quan lập pháp đơn viên, những lời cầu nguyện, một hội đồng hành pháp thay vì một tổng thống, không lương bổng cho các viên chức - được lịch sự lắng nghe và đặt lên bàn, đôi khi với chút lúng túng. Tuy vậy, ông mang đến diễn đàn hội nghị ba sức mạnh độc đáo và quan trọng khiến ông trở thành trung tâm của thỏa hiệp lịch sử đã cứu vớt dân tộc này.
Thứ nhất, ông cởi mở với dân chủ hơn đa số các đại biểu khác, những người có xu hướng xem từ này và khái niệm về nó là một thứ nguy hiểm hơn là đáng mong mỏi. Elbridge Gerry từ Massachusetts tuyên bố: “Những thứ xấu xa chúng ta trải qua đều do dân chủ quá đà.” Roger Sherman từ Connecticut cũng đồng ý rằng, người dân nên “càng ít can thiệp vào chính phủ càng tốt”. Franklin thì ở điểm cuối của dải quang phổ. Dù không thích luật lệ đám đông, ông ủng hộ bầu cử trực tiếp, tin tưởng người bình dân và chống lại bất cứ thứ gì tương tự chủ nghĩa tinh hoa. Hiến pháp ông đã soạn thảo cho Pennsylvania, với cơ quan lập pháp đơn viện được bầu cử phổ thông, là bản hiến pháp có tính dân chủ nhất trong tất cả các bang mới.
Thứ hai, ông về cơ bản là người đi nhiều nhất trong đa số các đại biểu. Ông không chỉ hiểu các quốc gia châu Âu mà còn hiểu 13 bang, đánh giá cao những điểm chung và những khác biệt giữa họ. Là một giám đốc bưu điện, ông đã kết nối nước Mỹ với nhau. Ông là một trong số ít người ở đây đến thăm đều cả hai bang Carolina cũng như Connecticut, những nơi ông từng nhượng quyền mở xưởng in. Ông có thể thảo luận, như đã từng làm, về việc trồng cây chàm với một chủ đồn điền Virginia và về kinh tế thương mại với một thương nhân Massachusetts.
Thứ ba, và là điều có vẻ quan trọng nhất, ông là hiện thân của tinh thần bao dung Khai sáng và thỏa hiệp thực dụng. “Cả hai bên phải từ bỏ một số yêu sách của mình”, có lúc Franklin giảng giải bằng một câu đã trở thành thần chú của ông. “Chúng ta được cử tới đây để tham vấn chứ không phải để tranh cãi với nhau”, một lần khác ông nói. “Đằng sau tính cách thẳng thắn, thành thật ấy là một tính cách rất phức tạp, nhưng bản tính dễ chịu của ông đã hòa giải các lợi ích đối nghịch hết lần này tới lần khác”, sử gia hiến pháp Richard Morris viết.19
Ba đặc tính này tỏ ra vô giá trong việc giải quyết các vấn đề căn cốt mà hội nghị phải đối diện. Vấn đề lớn nhất trong số đó là, liệu Mỹ vẫn là 13 bang độc lập hay sẽ trở thành một quốc gia, hay một sự kết hợp kỳ diệu của cả hai, nếu như các á thần có thể khéo léo đến vậy, như Franklin đã đề xuất lần đầu từ năm 1754 trong Kế hoạch Albany về Liên minh. Vấn đề này được biểu hiện ra theo nhiều cách cụ thể: Liệu Quốc hội sẽ được người dân bầu trực tiếp hay do các cơ quan lập pháp cấp bang cử ra? Liệu tính đại diện sẽ dựa trên dân số hay ngang bằng cho mọi bang? Liệu chính phủ quốc gia hay chính quyền các bang là tối cao?
Nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc vì các vấn đề trên. Một số người - Franklin ban đầu cũng nằm trong số đó - ủng hộ tạo ra một chính phủ quốc gia tối cao và thu hẹp các bang xuống vai trò phụ thuộc. Trái lại, có những người cực lực phản đối bất kỳ sự đầu hàng nào của chủ quyền bang, điều đã được định rõ trong Các Điều khoản Liên bang. Lời kêu gọi hội nghị tuyên bố rõ ràng rằng, mục đích của nó là để sửa đổi các Điều khoản chứ không phải từ bỏ chúng. Những người ủng hộ quyền của các bang cực đoan nhất thậm chí còn từ chối tham dự. “Tôi ngửi thấy mùi chuột”, Patrick Henry tuyên bố. Samuel Adams biện minh cho sự vắng mặt của ông bằng cách nói: “Tôi vấp ngã ở ngưỡng cửa. Tôi đối diện một chính phủ quốc gia thay vì một liên minh các bang có chủ quyền.”20
Dẫn đầu phái đoàn Virginia là Edmund Randolph và Madison. Họ đến Philadelphia từ sớm và xúc tiến những việc mà chính nhóm ủng hộ quyền lợi các bang sợ hãi: đề xuất bãi bỏ hoàn toàn Các Điều khoản và bắt đầu lại từ đầu với một hiến pháp mới vì một chính phủ quốc gia mạnh. Nó sẽ được một Hạ viện mạnh do người dân bầu cử trực tiếp lãnh đạo, dựa trên nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ. Hạ viện sẽ chỉ định thành viên của thượng viện, tổng thống và bộ máy tư pháp.
Franklin từ lâu đã ủng hộ cơ quan lập pháp với một viện duy nhất được bầu trực tiếp, bởi ông thấy không có lý gì khi đặt sự kiểm soát lên nguyện vọng dân chủ của người dân, và ông đã thiết kế một hệ thống như thế ở Pennsylvania. Song trong tuần đầu tiên, một nửa hội nghị cho là đề xuất này quá dân chủ. Madison ghi lại: “‘Cơ quan lập pháp quốc gia phải bao gồm hai nhánh’ là điều được đồng ý mà không có tranh luận hay bất đồng nào, trừ từ phía Pennsylvania, có lẽ vì chiều ý Tiến sĩ Franklin, người được biết luôn ủng hộ cơ quan lập pháp đơn viện.” Một sửa đổi được đưa ra với đề xuất của Virginia. Để chính quyền các bang được đóng góp trong Quốc hội mới, các đại biểu quyết định Thượng viện (được gọi là Senate theo tiền lệ của La Mã) sẽ được cơ quan lập pháp các bang lựa chọn thay vì Hạ viện. (Điều này có hiệu lực cho đến tận năm 1913.)*21
Tuy vậy, vấn đề trung tâm vẫn chưa được giải quyết. Liệu việc bỏ phiếu trong hai viện của Quốc hội sẽ theo tỷ lệ dân số như theo Các Điểu khoản Liên bang hay đồng đều giữa các bang? Cuộc tranh luận này không chỉ là về mặt triết lý giữa những người ủng hộ một chính quyền quốc gia mạnh và những người ủng hộ bảo vệ quyền lợi của các bang. Nó cũng là một cuộc đấu tranh quyền lực: các bang nhỏ, chẳng hạn Delaware và New Jersey, sợ rằng họ sẽ bị các bang lớn như Virginia và New York thao túng.
Cuộc tranh cãi trở nên nóng bỏng, đe dọa phá vỡ hội nghị, nên vào ngày 11 tháng 6, Franklin quyết định đã đến lúc phải vãn hồi tinh thần thỏa hiệp. Ông đã viết trước bài phát biểu của mình và bởi sức khỏe yếu, ông nhờ một đại biểu khác đọc to nó. “Cho tới điểm này, khi vấn đề về đại diện theo tỷ lệ xảy đến với chúng ta, mọi cuộc tranh luận đã được tiến hành với sự nhẹ nhàng và chừng mực tuyệt vời”, ông mở đầu. Sau khi thỉnh cầu các vị đại biểu tham vấn thay vì tranh cãi, ông bày tỏ một cảm nghĩ mà ông đã rao giảng suốt đời, bắt đầu với các quy tắc mà ông viết cho Hội Kín của mình 60 năm trước về sự nguy hiểm của sự quả quyết quá mức trong tranh luận. “Việc tuyên bố một ý kiến cố định và quyết tâm không thay đổi nó chẳng khai sáng cũng như chẳng thuyết phục chúng ta”, ông nói. “Sự tích cực và ấm áp ở một bên sẽ sinh ra thứ tương tự nó ở bên kia một cách tự nhiên.” Ông nói, cá nhân ông đã sẵn sàng sửa chữa nhiều quan điểm, trong đó có mong muốn về cơ quan lập pháp đơn viện. Giờ là lúc mọi thành viên cần thỏa hiệp.
Franklin tiếp tục đề xuất một số gợi ý, trong đó có vài cái là hợp lý, số còn lại khá lạ lùng. Ông ủng hộ ý tưởng đại diện theo tỷ lệ với một ví dụ lịch sử về Scotland. Dù có tỷ lệ đại diện nhỏ trong Quốc hội Anh song nó không hề bị Anh thao túng. Sau đó, với tình yêu dành cho chi tiết, ông đưa ra một loạt tính toán dài dòng cho thấy, các bang nhỏ hơn có thể tập hợp đủ phiếu để ngang bằng quyền lực của các bang lớn hơn. Có các giải pháp khác nhau để xem xét. Có lẽ các bang lớn có thể từ bỏ một phần đất đai của mình cho các bang nhỏ. “Nếu thấy cần phải thu nhỏ Pennsylvania, tôi không phản đối trao một phần đất của nó cho New Jersey và một phần cho Delaware.” Song nếu việc này không khả thi, ông đề xuất một ý kiến còn phức tạp hơn: có thể có các khoản đóng góp thuế ngang nhau, trưng thu từ tất cả các bang và việc chi tiêu số tiền đó sẽ được định đoạt bởi số phiếu ngang nhau trong Quốc hội; sau đó có một khoản trưng thu bổ sung từ các bang lớn và việc chi tiêu số tiền đó sẽ được bỏ phiếu theo tỷ lệ.22
Phát biểu của Franklin dài, phức tạp và nhiều lúc khó hiểu. Liệu tất cả chúng có phải là các đề nghị nghiêm túc hay chỉ là những lời bàn luận có tính lý thuyết? Các thành viên có lẽ không biết. Ông không hề kiến nghị biểu quyết về đề nghị điều chỉnh biên giới hay lập ra các khoản ngân quỹ riêng biệt, và các đại biểu khác cũng vậy. Quan trọng hơn cả các ý tưởng chi tiết này là tiếng nói chừng mực và hòa giải của ông. Bài phát biểu của ông thể hiện sự cởi mở với các ý tưởng mới và không có chỗ cho việc ủng hộ một chiều đã đem lại thời gian để hạ nhiệt bầu không khí, và lời kêu gọi về những thỏa hiệp mang tính sáng tạo của ông đã có tác dụng.
Một vài phút sau đó, Roger Sherman từ Connecticut đứng dậy đề xuất một cách tiếp cận khả thi khác: Hạ viện sẽ phân bổ theo số dân và mỗi bang có quyền biểu quyết ngang nhau trong Thượng viện. Samuel Johnson, cũng từ bang này, giải thích tính hợp lý của giải pháp mà sau này được gọi là Thỏa hiệp Connecticut. Về một số mặt, quốc gia mới là một “xã hội chính trị”, còn về các mặt khác, nó là một liên minh của các bang độc lập; nhưng hai khái niệm này không nhất thiết mâu thuẫn với nhau, chúng có thể được kết hợp thành “các nửa của một tổng thể độc đáo”. Tuy nhiên, ít có sự thảo luận nào về đề xuất này. Với kết quả bỏ phiếu 6-5, ý tưởng này tạm thời bị bác bỏ. Phương án đại diện theo tỷ lệ ở cả hai viện được ủng hộ.
Khi trời ngày càng nóng hơn, cuộc tranh luận về tính đại diện cũng vậy. William Paterson từ New Jersey đã đề xuất một ý kiến trái ngược dựa trên việc sửa đổi Các Điều khoản Liên bang thay vì bãi bỏ chúng. Ông mô tả một cơ quan lập pháp đơn viện, ở đó mỗi bang, dù lớn hay nhỏ, sẽ chỉ có một lá phiếu. Các bang lớn hơn có thể đập tan ý tưởng này, song cuộc thảo luận căng thẳng tới mức một đại biểu từ Delaware cảnh báo, nếu các bang lớn muốn áp đặt chính quyền quốc gia, “các bang nhỏ sẽ tìm kiếm liên minh với nước ngoài có địa vị và đáng tin cậy hơn để được nâng đỡ và đòi lại công lý”.
Một lần nữa, tới lúc Franklin phải cố gắng vãn hồi sự bình tĩnh và lần này ông làm việc đó theo một cách không ai ngờ. Trong bài phát biểu ngày 28 tháng 6, ông đề xuất họ nên mở đầu mỗi phiên họp bằng lời cầu nguyện. Ông nói, với một hội nghị “mò mẫm như thể đi trong bóng tối để tìm chân lý chính trị, cớ sự làm sao cho đến giờ chúng ta chưa một lần nghĩ đến việc khiêm tốn cầu xin Cha của ánh sáng soi rọi cho hiểu biết của chúng ta?” Rồi ông nói thêm một khúc mà được định đoạt sẽ nổi như cồn mai sau: “Càng sống lâu, tôi càng gặp nhiều bằng chứng thuyết phục của chân lý rằng Chúa cai quản mọi sự vụ của con người. Và nếu ngay cả một con chim sẻ rơi xuống đất cũng không lọt khỏi mắt ngài, lẽ nào một đế chế có thể vươn dậy mà không có sự trợ giúp của ngài?”
Franklin là một người có đức tin, thậm chí còn rõ hơn khi ông có tuổi, vào một sự quan phòng khá chung chung và nhiều khi mơ hồ của đấng tối cao. Ông tin vào nguyên lý cho rằng Thiên Chúa có lòng quan tâm nhân từ tới mọi sự vụ của con người. Song, ông chưa bao giờ bày tỏ nhiều đức tin vào một ý niệm cụ thể hơn về sự quan phòng đặc biệt, cho rằng Chúa sẽ trực tiếp can thiệp dựa trên lời cầu nguyện cá nhân. Vì thế câu hỏi đặt ra là: liệu ông đưa ra đề xuất về lời cầu nguyện dựa trên niềm tin tôn giáo sâu sắc hay vì niềm tin chính trị thực dụng rằng nó sẽ khuyến khích sự bình tĩnh trong các cuộc thảo luận?
Như thường lệ, có lẽ nó chứa đựng các yếu tố của cả hai, nhưng vế sau có lẽ chiếm nhiều hơn một chút. Chưa ai từng thấy bản thân Franklin cầu nguyện công khai, và ông hiếm khi đi lễ nhà thờ. Song, ông cho là, việc nhắc nhở hội đồng á thần này nhớ tới sự hiện diện của một Thiên Chúa vĩ đại hơn nhiều và rằng, lịch sử cũng đang dõi theo họ, là điều hữu ích. Để thành công, họ phải biết kính sợ tầm vóc của việc họ làm và khiêm nhường chứ không xác quyết. Ông kết luận, nếu không, “chúng ta sẽ bị phân tán bởi quyền lợi địa phương thiên lệch và nhỏ bé của mình, các dự định của chúng ta sẽ bị đảo lộn và bản thân chúng ta sẽ trở thành một nỗi tủi hổ, tiếng xấu lưu đến hậu thế.”23
Hamilton cảnh báo rằng, việc bất ngờ thuê một cha tuyên úy có thể khiến công chúng sợ hãi và nghĩ rằng “sự lúng túng và bất đồng trong hội nghị đã dẫn tới giải pháp này”. Franklin đáp rằng, một cảm quan về một sự báo động từ bên ngoài hội trường có thể giúp ích cho các cuộc thảo luận bên trong hơn là gây hại. Một ý phản đối khác được khơi dậy: không có tiền để trả cho vị linh mục. Ý kiến này bị lặng lẽ xếp xó. Ở cuối bản sao của bài phát biểu này, Franklin thêm vào một nhận xét ngạc nhiên: “Trừ ba hoặc bốn người, hội nghị đều cho là cầu nguyện là việc không cần thiết!”24
Đã tới lúc Franklin đề xuất các giải pháp thế tục hơn. Hai ngày sau bài phát biểu về việc cầu nguyện - vào thứ Bảy ngày 30 tháng 6 - ông giúp trình ra kiến nghị về một quá trình sẽ phá tan tình trạng bế tắc, và trong một chừng mực rất rộng, giúp định hình quốc gia mới.
Những người khác đã thảo luận các phương án thỏa hiệp và giờ là lúc bám vào một phương án và đề xuất nó.
Đầu tiên, Franklin trình bày ngắn gọn vấn đề: “Các ý kiến đa dạng làm nổi bật hai điểm. Nếu áp dụng đại diện theo tỷ lệ, các bang nhỏ tranh cãi rằng quyền tự do của họ sẽ gặp nguy hiểm. Nếu áp dụng bình đẳng đầu phiếu, các bang lớn lo rằng tiền của họ sẽ gặp nguy hiểm.”
Sau đó, ông nhẹ nhàng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thỏa hiệp, sử dụng một phép so sánh xuất phát từ tình cảm của ông dành cho những người thợ thủ công và công việc xây dựng: “Khi đóng một chiếc bàn lớn mà các cạnh của hai tấm ván không khớp, nghệ nhân sẽ xén đi một chút từ cả hai và tạo ra một cái mộng ngon lành. Tương tự ở đây, cả hai phía phải từ bỏ một phần đòi hỏi của họ.”
Cuối cùng, ông đưa một sự thỏa hiệp khả thi vào bản kiến nghị cụ thể. Các đại diện trong Hạ viện sẽ được bầu cử phổ thông và theo tỷ lệ dân số. Nhưng ở Thượng viện, “cơ quan lập pháp của một vài bang sẽ lựa chọn và cử số lượng đại biểu ngang nhau”. Hạ viện có thẩm quyền căn bản về thuế khóa và chi tiêu, Thượng viên có thẩm quyền phê chuẩn các viên chức hành pháp và các vấn đề về chủ quyền quốc gia.25
Hội nghị tiếp tục chỉ định một ủy ban có cả Franklin để phác họa chi tiết thỏa hiệp này. Rốt cuộc, vào ngày 16 tháng 7, nó đã được thông qua với một số phiếu sít sao và rất giống với hình thức ông đề xuất. “Đây là chiến thắng lớn của Franklin ở hội nghị này khi ông là tác giả của một thỏa hiệp giúp gắn kết các đại biểu với nhau”, Van Doren tuyên bố.
Có lẽ tuyên bố này dành cho ông hơi quá nhiều vinh dự. Ông không phải tác giả của ý tưởng này, cũng không phải người đầu tiên đề xuất nó. Nó phát triển từ đề xuất của Sherman từ bang Connecticut và nhiều người khác. Tuy vậy, vai trò của Franklin hết sức quan trọng. Ông là hiện thân của tinh thần thỏa hiệp và đã ra lời kêu gọi nó, ông chọn lựa giải pháp thích hợp nhất đang có, hiệu chỉnh nó, viết kiến nghị và chọn thời điểm đúng đắn để trình nó ra. Uy tín, sự trung lập và nổi bật của ông khiến nó “dễ nuốt” hơn với tất cả mọi người. Vị nghệ nhân đã xén bỏ chút ít từ cả hai phía và tạo ra một mộng nối đủ tốt để giữ vững một quốc gia suốt hàng thế kỷ.
Vài ngày sau khi đề ra phương án thỏa hiệp, Franklin đón vài đại biểu đến dùng trà ở vườn nhà, trong số đó có Elbridge Gerry từ Massachusetts - người hoài nghi hàng đầu về nền dân chủ không trói buộc. Song khu vườn rợp bóng của Franklin là nơi mà những cuộc tranh cãi có thể lắng xuống. Gerry đi cùng một mục sư Massachusetts tên là Manasseh Cutler, một nhân vật đẫy đà và thân thiện, có mặt ở thành phố để thúc đẩy các quy hoạch đất của Công ty Ohio mà ông đã giúp thành lập. Trong nhật ký, Cutler nhớ lại, “hai đầu gối của tôi va vào nhau” trước ý nghĩ sắp được gặp nhà hiền triết nổi tiếng. Nhưng lập tức ông thấy dễ chịu bởi phong cách khiêm tốn của Franklin. “Tôi hết sức hân hoan với kiến thức sâu rộng mà dường như ông có về mọi đề tài, sự sáng rõ của trí nhớ, sự mạch lạc và mau lẹ của năng lực trí tuệ bất kể tuổi tác của ông”, Cutler viết. “Cách cư xử của ông dễ chịu một cách hoàn hảo, và mọi thứ ở ông dường như tỏa ra một sự tự do và niềm hạnh phúc vô hạn. Ông có một dòng máu hài hước không ngừng chảy cùng sự lanh lợi hiếm thấy, điều đó cũng tự nhiên và vô thức như chính hơi thở của ông.”
Biết Cutler là một nhà thực vật ham học hỏi, Franklin đã giới thiệu một vật kỳ lạ ông mới nhận được: một con rắn dài 25 cm có hai cái đầu được tạo hình hoàn hảo và được bảo quản trong một cái chai. Franklin suy đoán đầy hứng khởi: hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu một cái đầu của con rắn muốn đi về bên trái của một cây cọc, cái đầu còn lại muốn đi về bên phải và chúng không thể nhất trí với nhau. Ông vừa định so sánh nó với vấn đề mới được tranh luận trong Quốc hội thì một số đại biểu khác ngăn ông lại. “Ông ấy dường như quên rằng mọi thứ trong hội nghị cần được giữ bí mật sâu sắc”, Cutler nhận xét. “Song, ông được nhắc về tính bí mật của những vấn đề trong hội nghị nên đã dừng lại, và tôi mất đi cơ hội được nghe câu chuyện ông định kể.”
Không nghi ngờ gì, điều mà Franklin định nói cũng là điều ông từng nói trong hội nghị của bang Pennsylvania vào năm 1776 khi lập luận rằng cơ quan lập pháp lưỡng viện có thể mang số phận của một con rắn hai đầu trong truyền thuyết - chết đói vì hai cái đầu không thể nhất trí nên đi qua một cái cọc về hướng nào. Thực tế, trong một bài viết năm 1789 ca ngợi cơ quan lập pháp đơn viện của Pennsylvania, ông lại một lần nữa nhắc đến cái ông gọi là “ngụ ngôn chính trị nổi tiếng về con rắn hai đầu”. Tuy nhiên, ông đồng tình rằng, để thúc đẩy sự thỏa hiệp nhằm tạo ra một Quốc hội quốc gia, hai cái đầu có thể tốt hơn một cái.26
Với các vấn đề khác, Franklin cũng thường đứng về phía ủng hộ nền dân chủ trực tiếp với ít câu thúc hơn. Thí dụ, ông phản đối việc trao cho tổng thống quyền phủ quyết các đạo luật của quốc hội, vốn được ông xem như cái kho chứa nguyện vọng của người dân. Ông nhắc lại rằng, các thống đốc thuộc địa từng dùng quyền này để cưỡng đoạt thêm ảnh hưởng và tiền bạc, bất cứ khi nào cơ quan lập pháp muốn thông qua một đạo luật. Khi Hamilton ủng hộ chế định tổng thống gần như một nhà quân chủ có nhiệm kỳ suốt đời, Franklin nhận định rằng ông chính là minh chứng sống về việc cuộc đời một con người đôi khi kéo dài hơn sự ưu việt về trí tuệ và thể chất của kẻ đó. Trái lại, sẽ dân chủ hơn nếu trả tổng thống về vai trò một công dân bình thường sau khi mãn nhiệm. Ông nói, lập luận “việc trở về với đại chúng nhân dân là một sự hạ thấp” là trái ngược với các nguyên tắc cộng hòa. Trong các chính phủ tự do, nhà cầm quyền là công bộc, còn dân chúng là bề trên và chúa tể của họ. Do đó, một nhà cầm quyền trở về làm dân thường không hề hạ thấp mà còn thăng hạng cho họ.”
Tương tự, ông lập luận rằng, Quốc hội nên có quyền luận tội tổng thống. Trong quá khứ, khi việc luận tội là bất khả thi, phương pháp duy nhất để nhân dân loại trừ một nhà cầm quyền hủ bại là ám sát ông ta, “khi đó ông ta không chỉ bị tước đi mạng sống mà cả cơ hội chứng minh nhân cách của mình”. Franklin cảm thấy sẽ dân chủ hơn nếu quyền hành pháp nằm trong tay một hội đồng nhỏ như ở bang Pennsylvania, thay vì một người. Đây là một cuộc tranh luận khó khăn khi mà có sự hiện diện của Washington vì người ta mặc định rộng rãi ông sẽ là tổng thống đầu tiên. Vì thế, Franklin nhấn mạnh một cách ngoại giao rằng, người đầu tiên nắm cương vị nhiều khả năng sẽ nhân từ, còn người kế tiếp (có lẽ ông dự cảm rằng đó là John Adams) có thể nuôi dưỡng khuynh hướng độc đoán hơn. Về vấn đề này Franklin thua, song hội nghị đã quyết định hiến định vai trò của Nội các.
Ông cũng ủng hộ dù bất thành việc bầu trực tiếp các thẩm phán liên bang, thay vì để tổng thống hay Quốc hội lựa chọn họ. Như thông lệ, ông đưa ra lập luận bằng cách kể một câu chuyện. Theo thực tiễn tại Scotland, các thẩm phán được các luật sư trong nước đề cử, nên họ luôn chọn những người có năng lực nhất trong giới của họ đề khỏi phải cạnh tranh. Họ còn chia sẻ thói quen của người này cho nhau biết. Ở Mỹ, để cử tri đưa ra lựa chọn tốt nhất sẽ đem lại cho họ quyền lợi cao nhất và là cách nên làm.27
Nhiều đại biểu tin chắc chỉ những ai sở hữu số tài sản đáng kể mới đủ điều kiện nhậm chức, vì đó là điều kiện ở hầu hết các bang trừ Pennsylvania. Charles Pinckney trẻ tuổi đến từ Nam Carolina còn đi xa đến mức đề xuất rằng, mức ràng buộc tài sản cho vị trí tổng thống nên là 100.000 đô-la, cho đến khi người ta chỉ ra rằng điều kiện đó có thể loại trừ Washington. Theo lời Madison, Franklin đã đứng dậy và “bày tỏ việc ông không thích mọi thứ có xu hướng làm xấu tinh thần của người bình dân”. Sự nhạy cảm dân chủ của ông bị xúc phạm bởi bất cứ gợi ý nào cho rằng Hiến pháp “nên bộc lộ sự thiên vị lớn với người giàu”. Trái lại, ông nói “một số kẻ đểu giả tôi từng quen biết là những kẻ đểu giả giàu nhất.” Tương tự, ông công khai chống lại bất cứ ràng buộc tài sản nào đối với quyền bầu cử. “Chúng ta không nên làm băng hoại đạo đức và tinh thần chí công vô tư của người bình dân.” Về các điểm này ông đã thành công.28
Chỉ ở một vấn đề, Franklin đã chọn quan điểm có thể xem là ít dân chủ hơn, dù ông không thừa nhận như vậy. Ông cho rằng, các viên chức liên bang nên phục vụ không lương. Trong cuốn Tính cấp tiến của Cách mạng Mỹ, sử gia Gordon Wood tranh cãi rằng, đề xuất của Franklin phản ánh “những cảm xúc cổ điển của giới lãnh đạo quý tộc”. Ngay cả John Adams, người nhìn chung giữ quan điểm ít dân chủ hơn, đã viết từ London rằng, dưới một chính sách như thế “tất cả các nhiệm sở sẽ bị kẻ giàu độc quyền, còn tầng lớp nghèo khổ và trung lưu sẽ bị loại trừ, và theo sau lập tức sẽ là sự chuyên chế quý tộc”.
Tôi cho rằng Franklin không có ý định đưa ra một đề xuất bảo vệ giới tinh hoa hay có tính loại trừ. Trái lại, ông xem nó là một cách để giới hạn các ảnh hưởng có tính tha hóa. Trong nhiều thư tín về chủ đề này, ông chưa bao giờ nghĩ (dù ông nên nghĩ tới nó) kế hoạch của mình có thể giới hạn các vị trí đó cho những ai đủ điều kiện làm việc không lương. Thực tế, ông dường như khá mơ hồ về lập luận của mình. Thay vào đó, quan điểm của ông dựa trên niềm tin về các công dân tình nguyện và sự hiểu biết sâu sắc rằng sự theo đuổi lợi nhuận đã làm tha hóa chính phủ Anh. Đó là lập luận ông đã đưa ra khi trao đổi thư tín với William Strahan ba năm trước; và ông sử dụng ngôn ngữ gần như giống hệt tại diễn đàn hội nghị:
Có hai niềm đam mê ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc làm của con người. Đó là tham vọng và tham lam; tức tình yêu với quyền lực và tình yêu với tiền bạc. Nếu tách riêng, mỗi thứ có sức mạnh lớn trong việc thúc đẩy con người hành động; song một khi hợp nhất vì cùng một mục tiêu, chúng sẽ gây ảnh hưởng thô bạo nhất, theo nhiều người thấy... Và những người phấn đấu cho sự ưu việt sinh lợi này, bằng tất cả sự ồn ào của âm mưu, sức nóng của ganh đua, sự thóa mạ lẫn nhau của các bè phái, việc xé thành từng mảnh các nhân cách tốt đẹp nhất, sẽ thuộc loại người nào? Đó không phải là những người khôn ngoan, điềm đạm, những người yêu hòa bình và trật tự tốt đẹp, những người phù hợp nhất cho lòng tin. Đó là những kẻ táo tợn và hung bạo, những kẻ có đam mê mạnh mẽ và hành động không biết mệt mỏi vì những mưu cầu cá nhân.
Về vấn đề này, hầu như ông không nhận được sự ủng hộ, và ý tưởng của ông bị gạt sang một bên mà không cần thảo luận. “Nó hết sức được trân trọng, nhưng chủ yếu vì tác giả của nó, chứ không xuất phát từ bất cứ niềm tin nào về phương tiện hay tính thực tế của nó”, Madison ghi lại.29
Suốt mùa hè dài và nóng nực, vẫn có những dịp cho sự hài hước. Gouverneur Morris từ Pennsylvania, người sở hữu một ngòi bút căng thẳng và nghiêm trọng nhưng nhiều lúc đóng vai anh hề quốc hội. Hamilton thách anh ta, với tiền cược bằng giá một bữa tối, nếu dám vỗ vào đôi vai khắc khổ, đáng sợ của Washington và nói: “Tướng quân thân mến, tôi thật vui khi thấy ngài trông rất khỏe!” Morris làm theo nhưng sau khi thoát khỏi cái nhìn của Washington, anh ta tuyên bố mình sẽ không bao giờ lặp lại việc đó dù đổi cả ngàn bữa ăn tối. Elbridge Gerry - vốn luôn phản đối quân đội thường trực lớn - đã so sánh nó một cách phóng đãng với một của quý cương cứng: “Sự đảm bảo tuyệt vời cho sự yên ổn bên trong, song lại là sự cám dỗ nguy hiểm với những chuyến phiêu lưu bên ngoài.”30
Khi mùa hè qua đi, nhiều thỏa thuận đã đạt được, kể cả về vấn đề nô lệ. Một vài thành viên buồn bã vì thấy kết quả cuối cùng lấy mất quá nhiều chủ quyền của các bang, những người khác lại thấy nó chưa tạo ra một chính phủ quốc gia đủ mạnh. Luther Martin khó tính của Maryland khinh bỉ nhạo báng rằng, họ đã pha chế ra một thứ “liên khúc hoàn hảo” và bỏ đi trước khi biểu quyết lần cuối.
Ông đã đúng, trừ sự nhạo báng đầy khinh bỉ. Thực tế liên khúc này gần nhất với sự hoàn hảo mà con người có thể đạt được. Từ ba từ thâm thúy đầu tiên, We the people (Chúng ta những người dân), tới các thỏa hiệp được phân độ cẩn thận và sự cân bằng theo sau chúng, nó tạo ra một hệ thống khéo léo trong đó quyền lực của chính phủ quốc gia cũng như của các bang phát nguyên trực tiếp từ dân chúng. Vì thế nó đáp ứng khẩu hiệu trên đại ấn của quốc gia, được Franklin đề xuất từ năm 1776, E Pluribus Unum (Muôn người như một).
Với sự khôn ngoan của một kỳ thủ kiên nhẫn và tính thực tế của một khoa học gia, Franklin nhận thấy rằng họ thành công không chỉ vì họ tự tin, mà vì họ sẵn sàng thừa nhận mình có thể sai lầm. “Chúng ta đang thực hiện các thí nghiệm chính trị”, ông viết thư cho la Rochefoucauld. Với Du Pont de Nemours, ông thú nhận: ‘Chúng ta không thể kỳ vọng chính quyền mới sẽ được thành lập như một ván cờ có thể được chơi bởi một bàn tay lão luyện, không vướng một sai sót nào.”31
Chiến thắng cuối cùng của Franklin là bộc lộ các tình cảm này bằng một sự lôi cuối đầy hài hước nhưng mạnh mẽ trong bài phát biểu bế mạc hội nghị. Bài phát biểu là một minh chứng cho giá trị của sự bao dung trí tuệ và cái xấu xa của việc mặc định bất khả sai lầm; và nó tuyên cáo cho hàng thế kỷ về một tín điều khai sáng sẽ trở thành trung tâm của trí tuệ Mỹ. Đó là những ngôn từ hùng hồn nhất mà Franklin từng viết ra - và có lẽ là những ngôn từ đẹp nhất về sự kỳ diệu của hệ thống Mỹ và tinh thần thỏa hiệp đã kiến tạo ra nó từng được bất cứ ai viết ra:
Tôi thừa nhận rằng tôi không hoàn toàn tán thành bản Hiến pháp hiện nay; nhưng thưa các ngài, tôi không chắc tôi sẽ không bao giờ tán thành nó: Vì đã sống trên đời lâu năm, tôi đã trải qua nhiều trường hợp, với thông tin tốt hơn và sự suy xét đầy đủ hơn, tôi bắt buộc phải thay đổi ý kiến ngay cả về các chủ đề quan trọng mà tôi từng cho là đúng, để rồi phát hiện ra điều ngược lại. Vì thế, khi càng có tuổi, tôi càng quen với việc nghi ngờ sự xét đoán của riêng mình và tôn trọng sự xét đoán của người khác hơn.
Hầu hết mọi người, thực tế cũng như hầu hết tôn giáo, nghĩ họ sở hữu chân lý, và bất cứ khi nào có ai đó khác biệt với họ thì ắt là kẻ sai lầm. Nhà kháng cách Steele, trong một lời đề tặng, đã nói với Giáo hoàng rằng, sự khác biệt duy nhất giữa hai giáo hội trong quan điểm về tính chắc chắn của giáo lý của họ, là Giáo hội La Mã không thể nào sai lầm và Giáo hội Anh giáo cũng không bao giờ thuộc về phía sai. Song dù nhiều cá nhân đánh giá cao sự bất khả sai lầm của họ cũng như giáo phái của họ, ít ai bày tỏ nó một cách tự nhiên như một quý bà Pháp nào đó, trong cuộc tranh luận nhỏ với chị gái mình đã nói: “Chị ạ, em không biết nó xảy ra như thế nào nhưng em chưa gặp ai luôn đúng ngoài em.”
Thưa các ngài, với những tình cảm này, tôi đồng ý với Hiến pháp về tất cả sai sót của nó - nếu có - vì tôi nghĩ rằng, một chính phủ chung cần thiết cho chúng ta... Tôi cũng hoài nghi liệu bất cứ hội nghị nào khác mà chúng ta triệu tập được có thể kiến tạo một bản Hiến pháp tốt hơn; vì khi chúng ta tập hợp một nhóm người để tận dụng lợi thế của trí tuệ tập thể, ta không tránh khỏi việc tập hợp cùng nhóm người ấy tất cả thiên kiến, ham mê, sai lầm trong quan điểm, lợi ích địa phương và cái nhìn ích kỷ của họ. Từ một tập thể như thế liệu chúng ta có thể nào trông đợi một sản phẩm hoàn hảo?
Thưa các ngài, tôi kinh ngạc khi nhận thấy hệ thống này tiệm cận sự hoàn thiện đến vậy. Tôi nghĩ nó sẽ khiến kẻ thù của chúng ta kinh ngạc bởi họ đang tự tin chờ nghe các hội đồng của chúng ta hỗn loạn như những kẻ xây tháp Babel* và các bang của chúng ta đã bên bờ chia cắt, chỉ họp tại đây để cắt cổ lẫn nhau. Thưa các ngài, tôi đồng ý với Hiến pháp này vì tôi không kỳ vọng điều gì tốt hơn và vì tôi không chắc rằng nó không phải là bản tốt nhất.
Ông kết lại bằng lời khẩn khoản: “Vì lợi ích của hậu thế, chúng ta cần hành xử chân thành và nhất trí.” Vì mục đích đó, ông kiến nghị hội nghị chọn phương án tuyên bố tài liệu đã được tất cả các bang chấp thuận. Điều này cho phép ngay cả thiểu số đại biểu không nhất trí với nó được ký. “Tôi không thể ngừng bày tỏ một mong ước rằng, mỗi thành viên hội nghị này, dù vẫn còn ít nhiều phản đối nó, sẽ cùng tôi nhân dịp này, nghi ngờ đôi chút sự bất khả sai lầm của bản thân. Và để thể hiện sự nhất trí của chúng ta, hãy đề tên mình trên văn kiện này.”32
Vậy là khi Franklin kết thúc, đa số các đại biểu, kể cả những người vẫn hoài nghi, đã hưởng ứng lời thúc giục của ông. Họ xếp hàng theo phái đoàn các bang để thực hiện lễ ký kết lịch sử. Trong lúc họ ký, Franklin hướng sự chú ý của họ tới hình mặt trời được chạm trổ sau ghế của Washington, và nhận xét rằng trong nghệ thuật, các họa sĩ thường khó phân biệt giữa một vầng mặt trời đang mọc và sắp lặn. Ông nói: “Trong lúc diễn ra phiên họp này với những lên xuống của niềm hy vọng và nỗi lo sợ về vấn đề của nó, tôi thường nhìn phía sau của ngài Tổng thống mà không thể biết đó là vầng mặt trời đang mọc hay sắp lặn. Nhưng bây giờ, sau cùng, tôi vui mừng khi biết đó là một vầng mặt trời đang mọc chứ không phải sắp lặn.”
Theo câu chuyện được James McHenry từ Maryland ghi lại, Franklin đã đưa ra quan điểm của mình một cách mạnh mẽ hơn với bà Powel - một người phụ nữ sốt sắng tiếp cận ông bên ngoài hội trường.
Bà ta hỏi các đại biểu đã cho dân chúng kiểu chính phủ nào? Ông đáp lại: “Một nền cộng hòa, thưa bà, nếu bà có thể giữ được nó.”33
Sử gia Clinton Rossiter gọi bài phát biểu bế mạc của Franklin là “màn trình diễn đáng nhớ nhất của một cuộc đời đáng nhớ” và học giả Đại học Yale Barbara Oberg gọi nó là “đỉnh cao trong cuộc đời tuyên truyền, thuyết phục và tán tỉnh người khác của Franklin.” Với sự khéo léo và tự hạ mình khi sử dụng phép phủ định kép - “Tôi không chắc tôi sẽ không bao giờ tán thành nó”, “Tôi không chắc nó không phải thứ tốt nhất” - ông nhấn mạnh sự khiêm tốn và ghi nhận khả năng mắc sai lầm của con người như một điều cần thiết để thiết lập quốc gia. Các đối thủ công kích lối tiếp cận thỏa hiệp của Franklin là thiếu nguyên tắc. Song đó là mục đích nơi thông điệp của ông. Oberg chỉ ra: “Cơ sở của sự thỏa hiệp không phải những thứ như chủ nghĩa anh hùng, phẩm giá hay sự chắc chắn về đạo đức; mà nó là bản chất của quá trình dân chủ.”34
Suốt đời mình, qua suy nghĩ và hành động, Franklin đã giúp thiết lập nền móng cho nền cộng hòa dân chủ mà Hiến pháp đã đặt ra. Từ khi còn là một chàng trai trẻ, ông đã dạy các thương nhân đồng nghiệp cách trở thành công dân có trách nhiệm, cần cù và đạo đức. Sau đó, vì lợi ích của họ và lợi ích chung của cộng đồng, ông tìm cách đưa họ vào các hiệp hội - Hội Kín, thư viện, đội cứu hỏa, đội lính gác khu dân cư và đội dân quân. Sau đó, ông tạo ra các mạng lưới, từ dịch vụ bưu điện cho đến Hội Triết học Mỹ, được thiết kế nhằm hỗ trợ những mối quan hệ sẽ gắn kết một quốc gia đang trỗi dậy. Cuối cùng, vào thập niên 1750, ông bắt đầu thúc đẩy các thuộc địa giành sức mạnh thông qua sự thống nhất, đứng kề nhau vì các mục đích chung theo một cách định hình nên bản sắc dân tộc.
Từ đó, ông đã góp công xây dựng mọi văn kiện trọng đại dẫn tới sự thành lập nền cộng hòa mới. Ông là người duy nhất ký vào cả bốn văn kiện lập quốc của nước Mỹ: Tuyên ngôn Độc lập, Hiệp ước với Pháp, Hiệp ước hòa bình với Anh và Hiến pháp. Chưa kể, ông còn thiết lập kế hoạch liên bang đầu tiên cho nước Mỹ (Kế hoạch Albany dang dở từ năm 1754) theo đó các bang độc lập cùng chia sẻ quyền lực với chính phủ quốc gia. Và Các Điều khoản Liên bang do ông đề xuất năm 1775 gần gũi với bản Hiến pháp cuối cùng hơn nhiều so với Các Điều khoản thay thế, được thông qua năm 1781, vốn yếu hơn và yểu mệnh hơn.
Trong cuốn Thời kỳ Khai sáng ở nước Mỹ, Henry May viết rằng, Hiến pháp phản ánh “mọi giá trị của chủ nghĩa Khai sáng tiết chế và cả những thiếu sót của nó: niềm tin rằng mọi thứ có thể được giải quyết bằng thỏa hiệp.” Với Franklin, hiện thân của phong trào Khai sáng và tinh thần thỏa hiệp của nó, đây khó có thể coi là một thiếu sót. Với ông, thỏa hiệp không chỉ là lối tiếp cận thực dụng mà còn là lối tiếp cận đạo đức. Để có thể bao dung, khiêm tốn và tôn trọng người khác thì cần phải thỏa hiệp. Suốt hơn hai thế kỷ, điều được cho là thiếu sót này đã phục vụ khá tốt cho Hiến pháp và quốc gia mà nó lập ra về đa số mọi vấn đề. Lúc đó và cả sau này, chỉ có một vấn đề lớn không thể giải quyết được bằng thỏa hiệp lập hiến: chế độ nô lệ. Đó thực sự là vấn đề mà khi đã đi gần hết cuộc đời, Franklin vẫn chọn một lập trường không khoan nhượng.35
HẠ MÀN
Vai trò của Franklin trong phép màu tại Philadelphia lẽ ra có thể là đoạn kết phù hợp cho một sự nghiệp được dành để kiến tạo cơ hội cho một nền cộng hòa dân chủ và tự do. Đối với hầu hết mọi người, ít nhất là hầu hết mọi người ở thời đại của ông khi sắp sang tuổi 82, như thế có lẽ đã đủ đề thỏa mãn mọi tham vọng. Giờ đây nếu muốn, ông có thể rút lui khỏi cuộc đời hoạt động xã hội của mình, biết chắc rằng ông được kính trọng rộng rãi và sống lâu hơn bất cứ kẻ thù nào. Tuy vậy, một tháng sau khi trình bày về Hiến pháp liên bang mới tại Hội đồng Lập pháp Pennsylvania, ông chấp nhận việc được tái cử cho một nhiệm kỳ chủ tịch của bang này thêm ba năm nữa. “Anh có ý định từ chối một năm làm chủ tịch để có thể tự do thực hiện một chuyến đi tới Boston vào mùa xuân”, ông viết cho em gái. “Tính đến giờ anh đã có trên 50 năm làm công chức.”
Thực tế, ông không bao giờ đi, và cũng không gặp lại em gái mình nữa. Bệnh sỏi thận của ông và sức khỏe của bà khiến họ buộc phải hài lòng với những lá thư thay cho những cuộc thăm nom. Ngoài ra, ông không ngại nói thật, lòng kiêu hãnh khiến ông vẫn coi trọng sự thừa nhận của công chúng. “Nó đem lại cho anh niềm vui không hề nhỏ; và anh nghĩ nó cũng đem lại niềm vui cho em gái anh, vì sau nỗ lực dài như thế, anh đáng được các công dân đồng hương bầu lại lần thứ ba”, ông nói. “Sự tin tưởng rộng rãi và không giới hạn của toàn thể dân chúng như thế này đã tâng bốc thói phù phiếm của anh hơn tất cả những gì một người quý phái có thể làm.”
Những lá thư mà Franklin gửi cho em gái mình chứa đầy những nhận xét thẳng thắn như thế, nhất là trong các năm sau này. Có lúc ông mắng mỏ: “Bưu điện của em bị quản lý rất tồi” và chỉ trích xu hướng hay mắc vào những mối thù vặt của bà. Điều ấy dẫn tới một đoạn nhạc vui về việc nhà Franklin “luôn là đối tượng của một sự giận hờn nhỏ.” Ông hỏi điều gì đã xảy ra với những người anh em họ Folger ở Nantucket? “Họ cực kỳ nhút nhát, nhưng anh ngưỡng mộ lối ăn nói thẳng thắn thật thà của họ. Khoảng một năm trước, anh mời hai người họ tới ăn tối. Họ trả lời rằng sẽ đến nếu không thể làm tốt hơn. Anh cho là họ đã làm tốt hơn vì anh không gặp lại họ sau đó.”36
Với Noah Webster, nhà tự điển học nổi tiếng đã dành tặng Các luận văn về Ngôn ngữ Anh cho ông, Franklin than thở rằng, việc sử dụng từ mới dễ dãi sẽ làm hư ngôn ngữ này. Đó là lời phàn nàn chung của các nhà văn cứng nhắc nhưng hơi lạ lùng với một Franklin vui vẻ, người từng có thú vui sáng tạo ra những từ tiếng Anh mới, thậm chí còn vui hơn nữa khi gây cười cho các quý bà Paris qua những từ tiếng Pháp mới. “Tôi thấy một động từ hình thành từ danh từ notice (sự chú ý); ví dụ, ‘Nếu không vì người đàn ông đó, tôi hẳn đã không chú ý đến điều này.’ Một động từ nữa hình thành từ danh từ advocate (sự ủng hộ); ví dụ, ‘Quý ông người ủng hộ hay đã ủng hộ kiến nghị đó.’ Một động từ khác lại hình thành từ danh từ progress (sự tiến triển) nó là từ kỳ cục và khả ố nhất trong số ba từ trên; ví dụ: ‘Ủy ban, vốn đã tiến triển, quyết định hoãn lại.’ Nếu ông cũng tán đồng ý kiến của tôi về những cách tân này, thì xin hãy dùng quyền hạn của mình để bài xích chúng.”37
Cuối cùng ông cũng trở lại với việc viết tiếp cuốn tự truyện. Ông đã viết 87 trang bản thảo ở Twyford vào năm 1771 và sau đó thêm 12 trang nữa ở Passy vào năm 1784. Từ tháng 8 năm 1788 cho đến tháng 5 năm 1789, ông viết đều đặn và hoàn tất thêm 119 trang nữa, đến giai đoạn ông đến nước Anh làm đại diện thuộc địa. “Tôi loại bỏ mọi sự kiện và chi tiết không có xu hướng làm lợi cho độc giả trẻ”, ông viết cho Vaughan. Mục đích của ông vẫn là cung cấp một cuốn sách hướng dẫn tự lực cho tầng lớp trung lưu tham vọng của nước Mỹ thông qua việc mô tả “thành công của tôi trong việc vươn lên từ nghèo khó” và “lợi ích của một số cách cư xử mà tôi quan sát được.”38
Lúc này ông đang phải chịu đựng một cơn đau nặng hơn từ bệnh sỏi thận, và đành phải dùng laudanum, một thứ thuốc gốm á phiện pha với rượu. “Tôi bị gián đoạn vì cơn đau cùng cực, buộc tôi phải dùng tới thuốc phiện, và giữa lúc chờ cả hai phát tác, tôi có rất ít thời gian để viết thứ gì”, ông phàn nàn với Vaughan. Ông cũng lo lắng những thứ ông viết không đáng xuất bản. “Hãy cho tôi biết ý kiến thẳng thắn của ông, tôi nên xuất bản hay tốt nhất giấu biệt nó đi, vì tôi đã quá già và yếu ớt cả về tâm hồn lẫn thể xác đến nỗi không thể đặt lòng tin vào sự đánh giá của bản thân”, ông đặt câu hỏi. Giờ đây ông đã bắt đầu đọc cho Benny ghi lại thay vì tự viết, nhưng ông cũng chỉ có thể hoàn thành thêm vài trang nữa.
Bạn bè gửi cho ông nhiều liệu pháp trị sỏi thận, trong đó có cả một gợi ý từ Vaughan khiến Franklin vui mừng, rằng một liều nhỏ độc cần có thể hữu dụng. Có lúc, ông đủ vui vẻ về bệnh tật của mình để nhắc lại câu châm ngôn “ai uống đến cạn cốc sẽ gặp phải cặn” như ông từng nói với người bạn cũ Elizabeth Partridge. Ông cho biết mình vẫn “cười đùa và kể những câu chuyện như khi bà gặp tôi lần đầu, một chàng trai trẻ tuổi 50.”39
Nhưng Franklin bắt đầu chấp nhận sự thật rằng ông không còn sống được bao lâu nữa và các thư tín của ông khoác một giọng chia ly lạc quan. Ông viết cho Caty Ray Green, cô gái chiếm tâm trí và trái tim ông 35 năm trước: “Cho tới giờ, cuộc đời dài này đã vui vẻ ở mức chịu đựng được. Nếu được sống lại lần nữa, tôi sẽ không phản đối gì mà chỉ ao ước được làm điều các tác giả làm trong lần ấn hành thứ hai các tác phẩm của họ, đó là sửa chữa vài lỗi in ấn.” Cùng năm đó, khi Washington trở thành tổng thống, Franklin viết thư để bày tỏ niềm vui mừng vì vẫn còn sống: “Để thanh thản cho riêng mình, tôi nên chết từ hai năm trước; Song dù những năm qua đã trôi qua trong đớn đau dữ dội, tôi hài lòng vì mình đã sống, vì chúng đã cho tôi được thấy tình trạng của chúng ta bây giờ.”40
Ông cũng lạc quan về cuộc cách mạng hiện đang sôi nổi ở nước Pháp thân yêu. Ông nhận xét rằng, sự bùng nổ của các tình cảm dân chủ đang tạo ra một số “sai lầm và rắc rối”, Song nó sẽ dẫn tới một nền dân chủ vĩ đại hơn và cuối cùng là một hiến pháp tốt hơn. Vì thế, hầu hết thư từ mà ông gửi tới bạn bè ở Pháp đều vui vẻ một cách không thích hợp. “Ông liệu có còn sống?” ông viết cho nhà khoa học Pháp Jean-Baptiste Le Roy, bạn và hàng xóm của ông tại Passy, vào cuối năm 1789. “Hay đám đông ở Paris đã nhầm cái đầu của một nhà độc quyền về tri thức với một nhà độc quyền về ngô và cắm cọc nó mang đi giễu phố?” (Cũng trong lá thư đó, ông đưa ra nhận xét nổi tiếng rằng “không có thứ gì là chắc chắn trừ cái chết và thuế khóa.”) Ông trấn an Louis-Guillaume le Veillard, láng giềng và là bạn thân nhất của ông ở Passy, rằng tất cả đều vì điều tốt đẹp. “Khi quá trình lên men xong xuôi và các phân tử gây vẩn đục lắng xuống, thứ rượu sẽ trong và ngon, cổ vũ trái tim những người uống nó.”41
Franklin đã sai, sai một cách đáng buồn về cuộc Cách mạng Pháp, dù ông không sống đủ lâu để biết điều đó. Le Veillard chẳng bao lâu sẽ bỏ mạng dưới máy chém. Cùng chung số phận đó là nhà hóa học Lavoisier, người đã làm việc với ông trong cuộc điều tra Mesmer. Condorcet, nhà kinh tế học đã đi cùng ông trong những cuộc gặp gỡ lừng danh với Voltaire, sẽ bị hạ ngục và rồi ông tự sát bằng thuốc độc trong xà lim. Còn la Rochefoucauld, người giúp dịch hiến pháp các bang cho Franklin và miệt mài thư từ với ông kể từ khi ông rời Pháp, sẽ bị đám đông ném đá đến chết.
CHẾ ĐỘ NÔ LỆ
Trong năm cuối cùng của cuộc đời Franklin bước vào công vụ cuối cùng, một trận thánh chiến về đạo đức góp phần cải thiện một trong số ít nhược điểm của cuộc đời đấu tranh cho tự do. Suốt phần lớn thế kỷ 18, chế độ nô lệ đã trở thành một chế định mà ít người da trắng nào phải phân vân. Ngay cả ở Philadelphia, nơi đậm tình anh em, sở hữu nô lệ tiếp tục gia tăng đến tận thập niên 1760, khi gần 10% cư dân thành phố là nô lệ. Song quan điểm bắt đầu có sự tiến bộ, nhất là sau những lời như chuông reo của bản Tuyên ngôn và các thỏa thuận vụng về trong Hiến pháp. Bất chấp việc sở hữu 200 nô lệ, George Mason từ Virginia gọi chế định này là “nguy hiểm” tại Hội nghị Lập hiến và tuyên bố “mỗi chủ nô là một bạo chúa nhỏ; họ mang sự phán xét từ thiên đường lên một đất nước”.Các quan điểm của Franklin cũng đã tiến bộ. Như ta đã biết, trong phần lớn cuộc đời mình, ông từng sở hữu một hoặc hai nô lệ trong nhà. Khi còn là một chủ nhà in trẻ, ông đã cho chạy những tin quảng cáo mua bán nô lệ. Song vào năm 1729, ông cũng đã đăng tải một trong các tác phẩm chống chế độ nô lệ đầu tiên của đất nước này và tham gia tổ chức Cộng sự của Tiến sĩ Bray để mở trường học cho người da đen ở Mỹ. Deborah cũng ghi danh cho người hầu trong nhà bà vào học ở trường Philadelphia, và sau khi đến thăm trường, Franklin đã “đánh giá cao hơn khả năng tự nhiên của chủng người da đen”. Năm 1751, trong “Quan sát về sự gia tăng của nhân loại”, ông mạnh mẽ lên án chế độ nô lệ, nhưng chủ yếu từ giác độ kinh tế hơn là đạo đức. Vào thập niên 1770, khi bày tỏ sự chia sẻ với nhà vận động xóa bỏ chế độ nô lệ người Philadelphia, Anthony Benezet, ông nhất trí rằng việc nhập cảng thêm nô lệ mới nên được chấm dứt lập tức, nhưng ông thừa nhận sự ủng hộ việc xóa bỏ nó hoàn toàn bằng việc nói rằng “sớm hay muộn” nó sẽ đến. Là người đại diên cho bang Georgia ở London, ông đã bảo vệ quyền sở hữu nô lệ của thuộc địa này. Nhưng trong các bài viết, chẳng hạn bài “Vụ án Somerset và thương mại nô lệ” năm 1772, ông rao giảng rằng, tội lỗi lớn nhất của nước Anh chống lại nước Mỹ là việc đưa sang đây chế độ nô lệ.
Đỉnh điểm sự thay đổi của Franklin là năm 1787, khi ông chấp nhận chức chủ tịch Hiệp hội Ủng hộ việc Xóa bỏ Chế độ Nô lệ Pennsylvania. Tổ chức đó cố gắng thuyết phục ông trình thỉnh nguyện thư chống lại chế độ nô lệ tại Hội nghị Lập hiến, nhưng vì hiểu các thỏa hiệp khó khăn giữa miền nam và miền bắc, ông đã giữ im lặng về vấn đề này. Tuy nhiên, sau đó ông trở nên công khai.
Một trong những lập luận chống lại việc xóa bỏ lập tức mà Franklin đã và đang ủng hộ là, việc trả tự do cho hàng trăm ngàn nô lệ trưởng thành vào xã hội mà không có sự chuẩn bị là một điều phi thực tế và không an toàn. (Có khoảng 700.000 nô lệ ở Mỹ trên tổng dân số bốn triệu vào năm 1790.) Do đó, hiệp hội kêu gọi xóa bỏ chế độ nô lệ của ông không chỉ dấn thân để giải phóng nô lệ mà còn giúp họ trở thành các công dân tốt. “Chế độ nô lệ là một sự hạ thấp nhân phẩm tồi tệ tới mức việc kết liễu nó, nếu không được tiến hành với sự cẩn trọng, đôi lúc có thể trở thành nguồn gốc của các tội lỗi nguy hiểm”, Franklin viết trong bài diễn thuyết tháng 11 năm 1789 trước cử tọa từ phía hiệp hội. “Những con người bất hạnh, từ lâu đã bị đối xử như cầm thú, quá thường xuyên chìm dưới chuẩn mực chung của nhân loại. Những xiềng xích trơ tráo đã trói buộc cơ thể anh ta cũng cản trở hoạt động trí tuệ và làm băng hoại các tình cảm xã hội trong trái tim anh ta.”
Như thường lệ, Franklin soạn thảo cho hiệp hội một hiến chương chi tiết đến tỉ mỉ và những quy trình “để cải thiện điều kiện của người da đen tự do.” Có một ủy ban 24 thành viên, được chia làm bốn tiểu ban:
Một Tiểu ban Điểu tra, có trách nhiệm trông coi về đạo đức, hành vi chung và tình hình bình thường của những người da đen tự do, cung cấp cho họ lời khuyên và sự chỉ bảo...
Một Tiểu ban Bảo vệ, có trách nhiệm xếp đặt trẻ con và thanh niên với những người phù hợp để họ có thể học được nghề kinh doanh hoặc các công việc khác (qua một thời gian tập sự hay phục dịch vừa phải)...
Một Tiểu ban Giáo dục, có trách nhiệm trông coi việc hướng dẫn học hành của trẻ em và thanh niên người da đen tự do. Có thể gây ảnh hưởng để họ theo học thường xuyên các trường đã được lập sẵn trong thành phố này, hoặc lập ra các trường học khác với mục tiêu này...
Một Tiểu ban Việc làm, có trách nhiệm nỗ lực tìm kiếm công ăn việc làm cho những người da đen tự do có khả năng lao động; vì thất nghiệp sẽ dẫn tới nghèo đói, lười biếng và nhiều thói quen xấu xa khác.42
Thay mặt hiệp hội, Franklin trình một thỉnh nguyện thư về vấn đề xóa bỏ chế độ nô lệ lên Quốc hội vào tháng 2 năm 1790. “Nhân loại đều được Đấng Toàn năng tạo ra, là các đối tượng được Ngài chăm lo như nhau và được thiết kế như nhau để hưởng niềm vui của hạnh phúc”, thỉnh nguyện thư tuyên bố. Nhiệm vụ của Quốc hội là đảm bảo “những lời cầu chúc tự do cho nhân dân của Liên bang”, và điều này nên được thực hiện “không phân biệt màu da”. Quốc hội, do đó, nên trao “tự do cho những con người bất hạnh ấy, bởi họ là những người duy nhất trên mảnh đất tự do này bị hạ thấp và làm tôi tớ vĩnh viễn.”43
Franklin và thỉnh nguyện thư của ông bị các nghị sĩ ủng hộ chế độ nô lệ vây quanh lên án, nổi bật nhất trong số đó là nghị sĩ Quốc hội James Jackson từ Georgia, người tuyên bố trước Hạ viện rằng Kinh thánh đã trừng phạt kẻ nô lệ và nếu không có chế định đó sẽ không có ai làm các công việc gian khổ, nóng nực trên các đồn điền. Đó là sự bày biện hoàn hảo để Franklin viết nên áng văn giễu nhại tuyệt vời sau cùng, chỉ một tháng trước khi ông mất.
Ông bắt đầu nghiệp viết lách của mình 68 năm trước khi còn là một cậu thợ học việc 16 tuổi, trong vai một góa phụ có tên Silence Dogood. Kể từ đó, ông đã xây dựng một sự nghiệp khai sáng cho độc giả với những câu chuyên hư cấu tương tự như Xử án Polly Baker và Một sắc lệnh của nhà vua xứ Phổ. Trong tinh thần của tiểu luận Nhà vua xứ Phổ và với nguồn trích dẫn học thuật phù hợp, ông đã đăng tải ẩn danh trên một tờ báo địa phương bài phát biểu được tỏ ra là của một thành viên của nội các Algiers một thế kỷ trước.
Nó có một sự tương đồng gay gắt với bài phát biểu của Nghị sĩ Jackson. “Thiên Chúa thật vĩ đại và Mahomet là đấng tiên tri của ngài”, nó mở đầu một cách xác thực. Sau đó, nó đi vào đả kích một thỉnh nguyện thư của một giáo đoàn thanh giáo đòi hỏi châm dứt tình trạng bắt và biến thành nô lệ những người Công giáo châu Âu sang làm việc ở Algeria: “Nếu chúng ta phản đối việc biến dân chúng của họ làm nô lệ, ai sẽ trồng cấy trên đất đai của chúng ta trong thời tiết nóng nực này? Ai sẽ làm những công việc chung trong thành phố và trong nhà chúng ta? Sự kết liễu với chế độ nô lệ đối với “những kẻ không tín ngưỡng” sẽ khiến giá đất và địa tô giảm xuống một nửa.
Ai sẽ bồi thường cho những người chủ về thiệt hại của họ? Nhà nước sẽ làm ư? Liệu quốc khố của chúng ta có đủ?... Và nếu chúng ta trả tự do cho các nô lệ, thì cần phải làm gì với họ đây? Ít người trong số họ sẽ trở về nước; họ biết quá rõ những khó khăn lớn hơn họ sẽ phải đối diện ở đó; họ sẽ không theo tôn giáo thần thánh của chúng ta; họ sẽ không học được lối cư xử của chúng ta; người dân của chúng ta sẽ không tự làm ô uế bằng việc hôn phối với họ. Chúng ta phải cưu mang họ như lũ ăn mày đầu đường xó chợ, hoặc chịu để tài sản của mình làm mồi cho họ cướp bóc? Với những người từ lâu đã quen với chế độ nô lệ, họ sẽ không thể làm việc kiếm sống nếu không bị bắt buộc.
Và tình trạng hiện nay của họ có gì đáng thương đến vậy?... Ở đây họ được đưa tới mảnh đất nơi mặt trời Hồi giáo chiếu ánh dương và tỏa sáng trong sự huy hoàng vẹn đầy. Họ có cơ hội làm quen với một giáo lý chân chính, nhờ đó cứu rỗi được linh hồn bất tử của họ... Khi phục vụ chúng ta, chúng ta chăm lo cho họ mọi thứ và họ được đối xử bằng lòng nhân ái. Như tôi được biết, người lao động trên chính đất nước họ còn phải chịu điều kiện ăn, ở, mặc tồi tàn hơn thế…
Họ đã nhầm lẫn lớn làm sao khi tưởng tượng rằng Kinh Koran không cho phép chế độ nô lệ! Chưa cần trích dẫn gì thêm, chẳng phải hai lời dạy: “Này những người chủ, hãy đối xử với nô lệ của các anh bằng lòng nhân ái; Này những kẻ nô lệ, hãy phục vụ chủ các ngươi bằng niềm vui và sự trung thành” chính là bằng chứng rõ ràng cho điều ngược lại?... Hãy để chúng ta từ nay không phải nghe thêm đề xuất giải phóng nô lệ Công giáo khả ố này nữa, bởi một khi thông qua nó, sự hạ giá đất đai, nhà cửa của chúng ta sẽ tước đoạt tài sản của quá nhiều công dân lương thiện, từ đó gây ra sự bất bình rộng khắp và kích động các cuộc nổi dậy.44
Trong bài giễu nhại của ông, Franklin ghi lại rằng nội các Algeria cuối cùng đã phản đối thỉnh nguyện thư trên. Tương tự, Quốc hội Mỹ xác định rằng họ không có thẩm quyền để giải quyết thỉnh nguyện thư về việc xóa bỏ chế độ nô lệ của Franklin.
LÊN GIƯỜNG
Không nhạc nhiên khi đến cuối đời, nhiều người trăn trở về niềm tin tôn giáo của mình. Franklin chưa bao giờ tham dự đủ một buổi lễ nhà thờ, cũng không tin theo một giáo phái nào. Ông thấy việc tập trung vào các vấn đề thế tục hữu ích hơn là các vấn đề tinh thần. Lần thoát chết gang tấc trong trận đắm tàu khi tới gần bờ biển nước Anh năm 1757, ông đã nói đùa với Deborah rằng: “Nếu là một tín hữu Công giáo, có lẽ dịp này anh nên thề thốt xây nhà nguyện cho một vị thánh nào đó; song vì không phải, nên nếu có thề thốt gì, thì đó nên là việc xây một ngọn hải đăng.” Tương tự, khi một thị trấn ở Massachusetts tự đặt tên là Franklin đề nghị ông cúng dường một quả chuông nhà thờ vào năm 1785, ông nói họ hãy bỏ gác chuông và xây một thư viện, ông sẽ gửi “những cuốn sách thay cho quả chuông vì tri thức đáng ưu tiên hơn thanh âm”.45Khi nhiều tuổi hơn, niềm tin vô định của Franklin với một Thiên Chúa nhân từ dường như trở nên vững chắc hơn. “Nếu không bởi sự công bằng trong chính nghĩa của chúng ta, nhờ đó nhận được sự can thiệp của Thiên Chúa chúng ta hằng tin tưởng, chúng ta hẳn đã bại vong”, ông viết cho Strahan sau cuộc chiến. “Nếu tôi từng là một kẻ vô thần thì giờ tôi đã nên tin vào Đấng tối cao cùng sự cai quản của Thần tính'.
Việc ông ủng hộ tôn giáo có xu hướng dựa trên niềm tin rằng: khiến con người cư xử tốt hơn là một điều hữu ích và hợp lý, hơn là vì được tạo cảm hứng từ thần thánh. Ông viết một lá thư, có lẽ được gửi năm 1786 cho Thomas Paine, để đáp lại một bản thảo chế nhạo lòng sùng kính tôn giáo. Franklin cầu xin người nhận thư không xuất bản luận thuyết dị giáo của mình, song ông làm vậy vì các lập luận đó có thể có ảnh hưởng độc hại lên thực tế, chứ không phải vì chúng sai lầm. “Bản thân anh có thể dễ dàng sống cuộc đời đạo đức mà không cần sự hỗ trợ nhận được từ tôn giáo”, ông nói, “nhưng hãy nghĩ về phần đông nhân loại gồm những đàn ông, đàn bà yếu ớt và dốt nát, những người trẻ tuổi thuộc cả hai giới thiếu kinh nghiệm và suy nghĩ, những người cần động cơ tôn giáo để ngăn họ mắc những thói tật xấu.” Ngoài ra, ông nhận xét rằng, các hậu quả đối với tác giả có lẽ sẽ đáng ghê tởm. “Kẻ khạc nhổ ngược gió chính là kẻ tự khạc nhổ vào mặt mình.” Nếu lá thư đích thực được gửi cho Paine thì nó đã có tác dụng. Từ lâu, ông đã chuẩn bị một đợt công kích hiểm ác vào đức tin tôn giáo có tổ chức mà sau này ông đặt tên là Thời đại của Lý trí. Song, ông đã trì hoãn việc xuất bản nó thêm bảy năm, cho đến tận gần cuối đời.47
Vai trò trọng yếu nhất mà Franklin đảm nhiệm về tôn giáo - và đó là một vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình thành nền cộng hòa khai sáng mới của ông - là việc làm một tông đồ của lòng bao dung. Ông đã góp tiền cho quỹ xây dựng của mỗi và mọi giáo phái tại Philadelphia - trong đó có 5 bảng cho Hội Thánh Mikveh Israel để dựng hội đường mới vào tháng 4 năm 1788. Ông đã phản đối những sự tuyên thệ và kiểm tra tôn giáo trong hiến pháp của Pennsylvania lẫn hiến pháp liên bang. Trong dịp lễ ngày 4 tháng 7 năm 1788, Franklin quá mệt nên không thể ra khỏi giường khi đám diễu hành đi qua dưới cửa sổ nhà ông. Lần đầu tiên, do những sắp xếp mà Franklin đã quan sát “giáo sĩ thuộc các giáo phái Ki-tô khác nhau bước đi tay trong tay cùng các giáo sĩ Do Thái”.48
Lời tổng kết cuối cùng về tư tưởng tôn giáo của ông tới vào tháng trước khi ông mất, để đáp lại những câu hỏi của mục sư Ezra Stiles, Chủ tịch Đại học Yale. Franklin bắt đầu với việc nhắc lại tín điều cơ bản của ông: “Tôi tin vào Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo Vũ trụ. Tôi tin rằng ngài cai quản nó bằng sự quan phòng, rằng ngài phải được phụng thờ, rằng phụng vụ dễ được chấp nhận nhất mà chúng ta dâng lên ngài chính là thông qua việc làm điều thiện với những người con cái khác của ngài.” Đây là những niềm tin căn bản với mọi tôn giáo; mọi thứ khác chỉ là vật trang sức thuần túy.
Tiếp theo, ông trả lời câu hỏi của Stiles về việc ông có tin vào Jesus hay không. Đây là lần đầu tiên ông bị hỏi trực tiếp câu hỏi đó. Franklin đáp, hệ thống đạo đức mà Jesus mang lại “là thứ tốt nhất thế giới từng thấy hoặc sẽ có thể thấy”. Song về vấn đề liệu Jesus có phải thần thánh không, ông đưa ra một câu trả lời khôi hài và thẳng thắn đến bất ngờ. Ông tuyên bố rằng: “Tôi có vài nghi ngờ về thần tính của Ngài; dù đó là một câu hỏi tôi không dám võ đoán, chưa bao giờ nghiên cứu và nghĩ rằng không cần phải khiến tôi bận lòng về nó khi mà tôi sắp sửa có cơ hội được biết sự thật theo cách ít rắc rối hơn.”49
Lá thư cuối cùng Franklin viết, thích hợp làm sao, lại là cho Thomas Jefferson - người thừa kế tinh thần của ông trong vị trí tông đồ hàng đầu của quốc gia về lòng tin vào lý trí, thực nghiệm cùng sự bao dung của chủ nghĩa Khai sáng. Jefferson đã đến thăm Franklin bên giường và cung cấp tin tức về các bạn bè đang bị vây khốn ở Pháp của họ. Jefferson nhận xét: “Ông ấy đã lần lượt xem xét tất cả với một tốc độ và sự linh hoạt gần như quá mức với sức khỏe của mình.” Jefferson ca ngợi ông vì đã đi được xa đến vậy trong những dòng hồi ký, thứ mà anh đoán rằng sẽ rất là huấn thị. Franklin đáp: “Tôi không dám nói nhiều về nó, nhưng tôi sẽ cho anh một thí dụ.” Nói đoạn, ông xé ra một trang mô tả những tuần đàm phán cuối cùng của ông ở London để ngăn chặn chiến tranh và nhất định muốn Jefferson giữ nó làm lưu niệm.
Jefferson tiếp tục bằng việc hỏi han một vấn đề phức tạp cần giải quyết: trong hòa đàm Paris, những tấm bản đồ nào đã được sử dụng để vẽ các ranh giới phía tây của nước Mỹ? Khi Jefferson dời gót, Franklin nghiên cứu vấn đề rồi viết cho anh lá thư cuối cùng. Trí nhớ của ông sáng rõ đủ để mô tả chính xác những quyết định họ đã đưa ra và những tấm bản đồ họ đã sử dụng, liên quan tới nhiều con sông chảy vào Vịnh Passamaquoddy.50
Ngay sau khi hoàn tất lá thư, trận sốt và những cơn đau tim của Franklin bắt đầu xấu đi. Suốt 10 ngày, ông nằm trên giường, ho nặng, thở khó nhọc. Sally và Richard Bache ở bên ông cùng Temple và Benny. Polly Stevenson cũng ở đó, buộc ông khẳng định rõ hơn niềm tin tôn giáo của mình và hài lòng thấy ông treo một bức Ngày Phán xét bên giường. Chỉ một lần trong thời gian này ông ngồi dậy được một lúc ngắn và muốn chiếc giường của mình được dọn để có thể “chết một cách phong nhã”. Sally bày tỏ hy vọng rằng ông đang phục hồi và có thể sống thêm nhiều năm nữa. Ông dịu dàng đáp: “Cha hy vọng là không”.51
Sau đó, một khối áp-xe trong phổi ông bị vỡ, làm ông cấm khẩu. Benny đến bên giường và ông nội anh đưa tay ra nắm lấy tay anh hồi lâu. Vào 11 giờ đêm hôm đó, ngày 17 tháng 4 năm 1790, Franklin qua đời ở tuổi 84.
Từ năm 1728, khi còn là một anh thợ in non trẻ, thấm đẫm lòng tự hào mà ông tin mỗi con người chân thật nên có với nghề nghiệp của mình, Franklin đã soạn ra cho bản thân - hoặc ít nhất cho thú tiêu khiển của ông - một đoạn văn bia táo bạo, phản ánh quan điểm hài hước của ông về tiến trình hành hương của ông qua thế giới này:
Thân xác của B. Franklin, Thợ in;
(Như bìa cửa một cuốn sảch cũ,
Nội dung đã hao mòn,
Chữ nghĩa và màu mạ vàng đã mất đi)
Nằm đây, làm mồi cho giun dế.
Nhưng tác phẩm sẽ không mất đi:
Vì nó sẽ, (như ông hằng tin) xuất hiện một lần nữa,
Trong một phiên bản mới và trang nhã hơn,
Được Tác giả
Hiệu đính và sửa chữa.52
Tuy nhiên, không bao lâu trước khi qua đời, ông quy định một thứ đơn giản hơn được đặt lên khu mộ nơi ông nằm bên vợ mình. Ông viết, bia mộ của ông là một phiến đá hoa cương “1,8 m dài, 1,2 m rộng, trơn, chỉ có một họa tiết nhỏ quanh cạnh phía trên cùng dòng chữ: Benjamin và Deborah Franklin.”53
Gần hai vạn người đưa tiễn, đông chưa từng thấy từ trước đây, đã tề tựu tại Philadelphia để nhìn xe tang của ông đi tới khu nghĩa địa của Nhà thờ Ki-tô, cách nhà ông vài dãy phố. Diễu hành phía trước di hài ông là các giáo sĩ của thành phố - tất cả họ, thuộc mọi giáo phái.