Tháng 4 năm 1778, ít lâu sau khi các hiệp ước giữa Mỹ và Pháp được ký kết, John Adams đến Pháp làm một trong ba ủy viên Mỹ, thế chỗ Silas Deane mới bị triệu hồi. Người Pháp không hề động lòng trước sự đổi người này. Edward Bancroft báo cáo với lãnh đạo mật vụ ở London rằng: “Ông Deane được đánh giá cao ở đây và người kế nhiệm ông ta, J. Adams, bị hoài nghi nhiều.” Bancroft cho biết Adams cũng không vui vẻ. “Adams thật sự thất vọng khi thấy mọi thứ đã hoàn tất và đã tính chuyện trở về.”
Khi làm việc cùng nhau trong Quốc hội, Adams ban đầu không tin tưởng Franklin, sau đó trải qua một sự xáo trộn về cảm xúc: sửng sốt, oán giận, ngưỡng mộ và ghen tị. Trong chuyến đàm phán với Ngài Howe ở Đảo Staten (khi họ phải chung nhau một chiếc giường và một cửa sổ mở), ông thấy Franklin vừa thú vị vừa phiền toái. Vì thế, khi đến Paris, có lẽ không thể tránh khỏi việc Franklin và ông sẽ tận hưởng và chịu đựng một hỗn hợp phức tạp sự khinh bỉ và ngưỡng mộ miễn cưỡng dành cho nhau, như họ đã từng trước đây.
Một số người thấy mối quan hệ đó khó hiểu: Adams không bằng lòng hay tôn trọng Franklin? Franklin thấy Adams điên rồ hay cứng rắn? Họ ưa hay không ưa nhau? Câu trả lời, vốn không hoàn toàn khó hiểu đến vậy vì sự thật là trong mối quan hệ giữa hai người vĩ đại và mạnh mẽ, họ thường có những cảm xúc mâu thuẫn về nhau và hơn thế nữa.
Họ đều rất thông minh nhưng tính cách lại khá khác biệt. Adams cứng nhắc, thẳng thắn và hay tranh cãi; còn Franklin thì lôi cuốn, ít nói và hay tán tỉnh. Adams cứng nhắc trong đạo đức và lối sống cá nhân, Franklin thì vui vẻ có tiếng. Adams học tiếng Pháp nhờ nghiền ngẫm các cuốn sách ngữ pháp và ghi nhớ một tập hợp các điếu văn; Franklin (người ít quan tâm đến ngữ pháp) học ngôn ngữ này bằng cách nằm dài trên những chiếc gối của các bạn nữ giới và viết cho họ các mẩu chuyện nhỏ thú vị. Adams thấy thoải mái khi đối chất với người khác, còn Franklin thích quyến rũ họ; điều này cũng đúng khi họ giải quyết các vấn đề quốc gia.
Adams 42 tuổi khi ông đến Paris, trẻ hơn Franklin 30 tuổi và trẻ hơn William con trai Franklin chừng 5 tuổi. Là người nhạy cảm với những lời thóa mạ, cả thực tế lẫn tưởng tượng, cảm xúc ban đầu của Adams về Franklin có phần mạnh hơn chiều ngược lại. Đôi khi ông bị chi phối đến mức gần như phân tâm bởi sự thờ ơ và nuông chiều bản thân của Franklin. “Ông ấy đố kỵ và hoài nghi những ai không góc cạnh, những ai di chuyển dễ dàng hơn trong các vòng tròn mịn màng”, nhà sử học Đại học Berkeley, Robert Middlekauff, viết về Adams trong một nghiên cứu lớp lang có tiêu đề “Benjamin Franklin và các kẻ thù của ông”. Ông ấy “không có khả năng làm cử chỉ dễ dàng và không có khả năng làm những việc giả tạo nhỏ giúp người ta dễ sống ở đời.” Trong cuốn tiểu sử kiệt tác về Adams, David McCullough cảm thông và công tâm hơn với ông nhưng cũng truyền tải sự phức tạp lớn trong thái độ của ông đối với Franklin.1
Hầu hết nỗi bất bình của Adams đều bắt nguồn từ sự đố kỵ được ngụy trang sơ sài. Ông bất bình vì bị lu mờ. Franklin có “sự độc quyền về tiếng tăm ở đây và sự thiếu đứng đắn khi bày tỏ nó”, Adams than thở với một người bạn sau vài tháng ở Paris. Nhưng khi đọc vài điều không hay mà ông nói về Franklin, điều quan trọng phải lưu ý là đã có lúc này hay lúc khác, Adams ném các tính từ khó chịu về phía gần như tất cả mọi người ông gặp. (Thí dụ, ông từng tả George Washington như một gã “đầu cừu”.) Bất chấp mâu thuẫn cá nhân, Adams và Franklin vẫn gắn bó với nhau bởi đều chia sẻ lòng yêu nước và nhiệt huyết đối với nền độc lập của nước Mỹ.
Franklin giúp đỡ cho Adams ở Passy và ghi danh cho John Quincy Adams, cậu con trai 10 tuổi của ông, vào trường nội trú nơi Benny Bache đang theo học. Ông cũng đưa người đồng nghiệp mới tới tất cả các nhóm xã hội và văn hóa của ông - trong đó có cái ôm lớn với Voltaire tại Học viện Hoàng gia. Ngay ngày đầu tiên Adams ở Passy, Franklin đưa ông cùng đến ăn tối ở nhà cựu Bộ trưởng Tài chính Jacques Turgot và những ngày kế tiếp hai người tới phòng khách của nhiều phụ nữ - lối quyến rũ của họ hấp dẫn Franklin và khiến Adams kinh hãi.
Điều kinh hãi hơn với một Adams khắt khe là phong cách sống và làm việc của Franklin. Adams gặp rầy rà với thứ mà ông cho là cái giá của tiện nghi xa hoa ở Passy - nhưng sau đó thậm chí còn buồn hơn khi biết Chaumont tham vọng không thu tiền thuê nhà của họ. Ngay sau khi tới nơi, Adams xả ngay vào nhật ký của ông nỗi khó khăn của việc bắt Franklin tập trung vào công việc:
Tôi nhận thấy rằng công việc của nhóm ủy viên chúng tôi sẽ không bao giờ hoàn tất trừ phi tôi làm nó... Cuộc sống của Tiến sĩ Franklin là cảnh tiêu khiển không ngừng ... Khi bữa sáng muộn vừa kết thúc, một đám đông xe ngựa đã đến để dự tiệc do ông ấy đãi... Một số là triết gia, học giả, nhà kinh tế; một vài người thuộc nhóm nhỏ những người bạn khiêm tốn theo nghĩa đen của ông ấy, họ được ông thuê dịch các tác phẩm xưa cũ của mình, như Chàng Richard và Polly Baker, như tôi được biết,... Nhưng nói chung, phần lớn họ là phụ nữ và trẻ nhỏ, đến để có vinh dự gặp gỡ Franklin vĩ đại và để hân hoan kể những câu chuyện về sự giản dị của ông ấy, về cái đầu hói của ông ấy...
Ông ấy được mời ăn tối hằng ngày và không bao giờ từ chối trừ phi chúng tôi đã mời bạn bè đi ăn cùng. Tôi luôn được mời đi kèm ông ấy cho đến khi hiểu ra tôi cần nói lời cáo lỗi nếu muốn có chút ít thời gian để học tiếng Pháp và làm việc của phái đoàn. Ông Franklin luôn giữ trong túi một cuốn sổ làm bằng sừng, trong đó ông ghi lại mọi lời mời ăn tối và ông Lee nói đó là việc duy nhất ông ấy đúng giờ... Vì buổi chiều và buổi tối được dành cho những mỗi bận tâm và thú vui dễ chịu và trọng đại như thế nên ông ấy thường về nhà từ 9 giờ đến 12 giờ đêm.2
Một trong số các bạn Pháp của Franklin có góc nhìn tích cực hơn về thói quen làm việc của ông: “Ông ăn, ngủ và làm việc bất cứ khi nào thấy phù hợp, tùy theo nhu cầu. Không bao giờ có ai nhàn nhã hơn, dù chắc chắn ông ấy giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ.” Hai sự mô tả về phong cách của Franklin này không chỉ cho thấy sự khác biệt trong quan điểm về ông mà còn trong quan điểm về công việc. Franklin luôn cần cù, và ở Mỹ, thậm chí ông còn tin rằng nên tạo hình ảnh cần cù. Nhưng ở Pháp, nơi hình ảnh thư thái được coi trọng hơn, ông biết cách tiếp thu phong cách mới. Claude-Anne Lopez nhận định: “Ở xứ Mỹ thuộc địa, thật tội lỗi khi ai đó trông lười nhác; còn ở Pháp, thật tầm thường khi ai đó trông bận rộn.”3
Một ngày, có người Pháp hỏi Adams liệu ông có ngạc nhiên khi Franklin không bao giờ dự các nghi lễ tôn giáo. “Không”, Adams cười đáp, “vì ông Franklin không có...” Adams không nói hết câu vì sợ quá báng bổ.
“Ông Franklin chỉ kính ngưỡng tự nhiên vĩ đại - điều đó đã thu hút nhiều người thuộc cả hai giới ủng hộ ông ấy”, người Pháp này nói.
Adams đáp: “Đúng, tất cả đám vô thần, tự nhiên thần giáo và không tôn giáo, cũng như tất cả triết gia và quý bà đều ở trên tàu của ông ấy.”
“Vâng”, người Pháp vẫn tiếp tục, “ông ấy nổi tiếng là triết gia và nhà lập pháp vĩ đại của nước Mỹ.”
Đến đây, Adams không kìm nổi sự bực tức của mình. “Ông ấy là một triết gia lớn, còn trong vai trò một nhà lập pháp của nước Mỹ, ông ấy đóng góp rất ít”, ông nói với người Pháp kia. “Có một niềm tin rộng rãi ở Pháp, Anh và toàn bộ châu Âu rằng chiếc đũa điện của ông ấy đã hoàn tất toàn bộ cuộc cách mạng này; nhưng không có gì thiếu cơ sở hơn thế... Kể cả hiến pháp Pennsylvania, dù dở tệ, cũng không phải do ông ấy viết ra.” (Adams không phải là người có tư tưởng dân chủ bằng Franklin và tin là cần kiềm hãm quyền lực của người dân nên gay gắt phản đối mô hình cơ quan lập pháp đơn viện.)4
Sau một vài năm, Franklin cũng chán ngán Adams và tuyên bố: “vào một số lúc và ở một số việc, ông ta hoàn toàn mất trí”. Nhưng lúc này, ông vẫn thấy Adams có thể chịu được, thậm chí nhiều lúc còn đáng ngưỡng mộ. Ông cũng vui vẻ biến Adams thành một phần đời sống xã hội của mình, bất chấp việc Adams không mấy nhiệt tình với những thứ phù phiếm như thế.5
VOLTAIRE
Các triết gia Pháp, cũng như Franklin, háo hức sống với thế giới thực thay vì chìm đắm trong sự trừu tượng thâm thúy. Phiên bản Kinh Thánh thế tục của họ là Bách khoa toàn thư do Diderot tập hợp, bao gồm những bài viết của Turgot về kinh tế học, của Montesquieu về chính trị, của Rousseau về nghệ thuật, của Condorcet về khoa học, và Helvétius về nhân học. Ngự trị như Vua và Chúa của họ (hoặc có lẽ đều không phải, vì ông hoài nghi cả hai) là Voltaire, một người đóng góp vô danh cho Bách khoa toàn thư nhưng hết sức nổi bật trong đời sống trí tuệ của Pháp.Voltaire và Franklin là hai người bạn tâm giao, ít nhất trong suy nghĩ của công chúng Pháp. Cả hai đều là hiện thân lớn tuổi của trí tuệ và lý trí của chủ nghĩa Khai sáng, khôi hài nhưng biết giễu nhại sâu cay, những người hạ bệ sự chính thống và giả tạo, những đệ tử của tự nhiên thần giáo, những hộ vệ của lòng bao dung và là các vị tông đồ của cách mạng. Vì thế điều không tránh khỏi không chỉ là việc hai nhà hiền triết sẽ gặp nhau mà những cuộc gặp gỡ của họ còn thu hút trí tưởng tượng của công chúng, thậm chí hơn cả việc Franklin gặp nhà vua.6
Vào đầu năm 1778, Voltaire đã 84 tuổi và ốm yếu đến mức có tin đồn ông đã qua đời. (Phản ứng của ông, thậm chí còn hay hơn Mark Twain trong tình huống tương tự, là: các thông báo này đều chính xác, nhưng hơi sớm.) Vào tháng Hai, Franklin trang trọng tới thăm nhà ông, xin ông chúc phúc cho cháu trai 7 tuổi, Benny Bache. Trong lúc 20 môn đệ kinh ngạc nhìn cảnh đó và rỏ “mấy giọt nước mắt dịu dàng”, Voltaire để tay lên đầu cậu bé và nói bằng tiếng Anh: “Chúa Trời và tự do”. Theo lời Condorcet, một trong số các chứng nhân, ông còn nói thêm: “Đây là phép ban phước duy nhất phù hợp với cháu trai ông Franklin.”
Một số người chế giễu, xem đây là một màn khoe mẽ giả dối. Một trong những tờ báo thận trọng ở Paris kết tội họ vì dàn dựng một cảnh có tính “nịnh hót kiểu trẻ con”. Và khi vị cựu thống đốc Massachusetts, Hutchinson, biết tin về lễ giáng phước “Chúa Trời và tự do”, ông nhận xét: “Thật khó nói từ nào trong số hai từ này thường bị dùng vào mục đích xấu nhiều nhất”. Tuy vậy, về cơ bản, tin tức về cuộc gặp đã được trân trọng loan báo khắp châu Âu.7
Franklin và Voltaire còn diễn một màn hội ngộ kịch tính hơn thế tại Học viện Hoàng gia vào ngày 29 tháng 4 cùng năm. Franklin ăn mặc giản dị đã thành thương hiệu: áo khoác trơn, không tóc giả, không có đồ trang sức nào ngoài cặp kính. Voltaire chỉ một tháng nữa thì lìa đời nên gầy mòn và yếu ớt. Đám đông yêu cầu họ trao nhau một cái ôm kiểu Pháp, một hành động mà theo lời Condorcet, đã làm dậy lên “sự tung hô ồn ào như thể đó là Solon ôm Sophocles”. Sự so sánh với các triết gia Hy Lạp vĩ đại, một người nổi tiếng về luật pháp, một người về văn học, được truyền tụng khắp châu Âu, như nhân chứng John Adams thuật lại với sự ngạc nhiên và bất bình quen thuộc:
Họ nhất tề reo hò muốn Ông Voltaire và Ông Franklin được giới thiệu với nhau. Điều đó vẫn chưa thỏa mãn, phải có gì đó hơn thế. Cả hai nhà triết học của chúng ta dường như đều không đoán trước được mong muốn hay kỳ vọng đó là gì nhưng họ vẫn nắm lấy tay nhau. Song điều này chưa đủ. Tiếng ồn ào vẫn tiếp tục cho đến khi có lời giải thích: Chúng ta phải ôm kiểu Pháp. Hai nam diễn viên già tại nhà hát vĩ đại của triết học và sự phù phiếm này khi đó đã ôm nhau bằng việc bá vai người kia trong tay mình và hôn vào má người kia, sau đó cơn hỗn loạn đã lắng xuống. Song tiếng hò hét lập tức lan đi khắp vương quốc - và tôi cho là khắp châu Âu: Thật đáng yêu khi được chứng kiến Solon ôm hôn Sophocles.8
Học viện Hoàng gia đóng vai trò một trong những cơ sở của Franklin trong giới tinh hoa trí thức Paris. Một nơi khác là Hội quán Tam Điểm nổi tiếng, được biết đến với cái tên Hội quán Chín Chị Em, để vinh danh các thi thần. Hội Tam Điểm ở Pháp phát triển từ chỗ chỉ là các câu lạc bộ xã hội của giới doanh nhân, hình thức chủ yếu của nó ở Mỹ, song dần trở thành một phần của cuộc vận động dẫn đầu bởi các triết gia và các nhà tư tưởng tự do - những người thách thức tính chính thống của cả giáo hội và triều đình. Triết gia có tư tưởng rất tự do Claude-Adrien Helvétius là người đầu tiên hình dung về một siêu hội quán ở Paris, nơi đầy chật các nhà văn và họa sĩ lớn nhất. Khi ông qua đời, người vợ góa của ông, phu nhân Helvétius (người sẽ còn được nhắc đến nhiều ở phần sau), đã giúp kinh phí để nó ra đời năm 1776.
Franklin và Voltaire tham gia Hội quán Chín Chị Em vào tháng 4 năm 1778, cùng tháng với cuộc gặp gỡ công khai của họ tại Học viện. Quán trọ đem lại cho Franklin những người ủng hộ có thế lực và những buổi tối thú vị. Nhưng nó cũng rủi ro. Cả nhà vua và các giáo sĩ đều thận trọng về quán trọ nổi loạn này - và về tư cách thành viên của Franklin tại đó.
Cuộc tranh luận về quán trọ bị đẩy lên cao vào tháng 11 năm 1778, khi nó tổ chức một buổi lễ tưởng niệm cho Voltaire. Vài tháng trước trong lúc lâm chung, ông đã xua đuổi các linh mục muốn làm những nghi lễ cuối cùng cho mình. Một vài người bạn như Condorcet và Diderot, nghĩ rằng việc tránh buổi lễ này là điều khôn ngoan hơn. Song Franklin không chỉ có mặt mà còn tham dự vào nó.
Hội trường được phủ màu đen, chiếu sáng bằng ánh nến mờ ảo. Có các bài hát, bài phát biểu và bài thơ công kích giới tăng lữ và sự chuyên chế ở mọi hình thức. Cháu gái Voltaire bày ra một bức tượng bán thân do Houdon tạc. (Houdon, là một thành viên, cũng tạc một tượng bán thân của Franklin cho hội quán, hiện được đặt ở Bảo tàng Nghệ thuật Philadelphia.) Sau đó một ánh lửa làm hiện ra bức tranh lớn vẽ cảnh Voltaire hiển thánh, đang vươn lên từ ngôi mộ của ông để trình diện các nữ thần của Sự thật và Bác ái nơi thiên đàng. Franklin lấy chiếc vòng hoa Tam Điểm từ trên đầu mình, trang trọng đặt nó phía dưới bức tranh. Mọi người sau đó dời sang phòng khánh tiết, nơi đợt nâng ly chúc mừng đầu tiên dành một lời tỏ lòng tôn kính Franklin - “sấm sét bị cầm tù chết dưới chân ngài” - và với nước Mỹ.
Louis XVI, dù cũng là một hội viên Tam Điểm, rất tức giận vì cảnh tượng này nên đã tạo áp lực thông qua các hội quán Tam Điểm khác để trục xuất hội quán Chín chị Em. Sau 9 tháng tranh luận, tình thế được giải quyết khi hội quán Chín Chị Em tự cơ cấu lại và Franklin tiếp quản vị trí Huynh trưởng, hay Đại sư phụ, của nó. Suốt các năm sau đó, Franklin đã dẫn dắt nhiều người Mỹ vào hội này, trong đó có cháu trai ông, Temple, điệp viên Edward Bancroft và chiến binh hải quân John Paul Jones. Ông còn góp phần tạo ra ở bên trong hội quán một nhóm có chút tương đồng với Hội Triết học Mỹ của ông - được biết đến với tên gọi Hội Apollonian.9
PHU NHÂN BRILLON
Dù các hội viên Tam Điểm và các triết gia rất có sức hấp dẫn song Franklin trong đám bạn bè nam giới, Franklin không phải nhân vật vang danh gì. Trong nhiều cái trứ danh của ông, có việc ông là một người tình già phóng túng huyền thoại, người có nhiều tình nhân trong số các quý bà của Paris. Thực tế, sự thật ít kích thích hơn một chút. Những người bạn nữ giới nổi tiếng của ông chỉ là tình nhân trong suy nghĩ và tâm hồn. Nhưng điều đó hầu như không làm cho mối quan hệ của họ bớt đi phần thú vị.Mối quan hệ đầu tiên trong số này là với người láng giềng tài năng và dễ xúc động ở Passy, phu nhân Brillon de Jouy, một nhạc sĩ giỏi, được biết đến nhờ những màn trình diễn trên phong cầm và những cây dương cầm kiểu mới đang thịnh hành ở Pháp. Khi gặp Franklin lần đầu vào mùa xuân năm 1777, cô lo mình quá nhút nhát để tạo ấn tượng tốt. Vì thế ngày tiếp theo, cô nhờ một người bạn chung gửi cho cô một vài giai điệu nhạc Scotland mà cô biết Franklin thích. “Tôi sẽ tập chơi chúng và sáng tác một số bản cùng phong cách!” cô viết. “Tôi thật sự mong đem lại cho người đàn ông vĩ đại này vài giây phút thư thái sau những giờ bận rộn và cũng để hân hạnh được gặp ông.”
Từ đó, tình bạn mãnh liệt của họ bắt đầu. Nó sớm bị cáo buộc về mặt tình dục và trở thành đề tài cho nhiều tin đồn. Adams và nhiều người khác kinh ngạc bởi việc được phu nhân Brillon xem như “thói quen ngọt ngào ngồi vào lòng ông” của cô và bởi những chuyện kể về những đêm muộn họ ở bên nhau. “Tôi dám chắc ngài đã hôn vợ tôi”, chồng cô từng viết thư cho Franklin như thế.
Nhưng ông Brillon nói thêm trong thư: “Tiến sĩ thân mến, hãy để tôi hôn đáp trả ngài.” Quan hệ giữa Franklin với phu nhân Brillon, cũng như mối quan hệ của ông với nhiều người phụ nữ nổi tiếng khác, vẫn luôn phức tạp và không bao giờ thật sự đến đích. Như Claude-Anne Lopez đã mô tả khéo léo: đó là một thứ tình yêu bạn hữu, trong đó Franklin chấp nhận đóng vai “cha thân thương” - một người cha lả lơi kỳ quặc.10
Phu nhân Brillon, khi gặp Franklin mới 33 tuổi, bị vùi trong những niềm đam mê trái ngược và tâm trạng thất thường. Chồng cô hơn cô 24 tuổi (nhưng trẻ hơn Franklin 14 tuổi) là một người giàu có, lẩm cẩm và không chung thủy. Cô có hai con gái đều sở hữu giọng hát đẹp và sống ở một trong những dinh thự sang trọng nhất làng Passy, nhưng vẫn dễ lên cơn trầm cảm và tự thương hại. Dù cô không nói được tiếng Anh, cô và Franklin đã trao đổi 130 bức thư trong suốt hơn tám năm của mối quan hệ giữa họ. Cô không chỉ quyến rũ mà còn điều khiển được ông.
Cô làm việc đó nhờ soạn và chơi nhạc cho ông, tạo ra một phòng khách vây quanh ông và viết cho ông những lá thư xu nịnh bằng tiếng Pháp, ở ngôi thứ ba. Cô tuyên bố “suy nghĩ rằng cô ấy đôi khi có thể giải khuây cho ông Franklin, người cô ấy yêu quý và trân trọng bởi ông xứng đáng, là một nguồn vui thật sự với cô ấy.” Khi người Mỹ thắng trận Saratoga, cô soạn một khúc khải hoàn có nhan đề Cuộc hành quân của những người vùng lên (thỉnh thoảng nó vẫn được trình diễn cho tới nay) và chơi cho ông nghe trong một buổi hòa nhạc riêng tư. Họ cũng tán tỉnh nhau trong những cuộc cờ. “Cô ấy vẫn hơi phật ý về sáu ván cờ mà ông đã thắng một cách tàn nhẫn và cảnh báo ông rằng cô ấy sẽ không từ bất cứ việc gì để trả thù” - bà Brillon tự viết về mình với giọng trêu đùa.11
Vào tháng 3 năm 1778, sau vài tháng chỉ có âm nhạc và chơi cờ, Franklin đã sẵn sàng cho một điều gì hơn thế. Vì thế ông khiến cô kinh ngạc với một vài thuyết thần học trụy lạc của mình và thách thức cô có được tâm hồn ông. “Ông thật tốt khi trao gửi cho em sự cải đạo của ông”, cô viết, giờ đã thoải mái để dùng ngôi thứ nhất. Các đề xuất của cô đầy hứa hẹn, thậm chí có tính gợi ý. “Em biết điểm yếu của kẻ hay hối hận trong mình và em phải chịu đựng nó! Miễn ông ấy yêu Chúa, yêu nước Mỹ và yêu em trên tất cả mọi thứ, em sẽ tha thứ cho ông ấy tất cả mọi tội lỗi của hiện tại, quá khứ và tương lai”
Phu nhân Brillon tiếp tục mô tả bảy trọng tội, vui vẻ nói rằng ông đã chế ngự tốt sáu tội đầu tiên, từ kiêu ngạo đến lười biếng. Khi sang tới tội thứ bảy về ham muốn, cô trở nên hơi rụt rè: “Tội thứ bảy - em sẽ không gọi tên nó. Tất cả những người đàn ông vĩ đại đều mắc tội đó... Ông đã yêu, cha thân mến; ông luôn tốt bụng và đáng yêu; bởi thế ông được yêu lại! Điều đó có gì đáng nguyền rủa?”
“Cô ấy hứa hẹn đưa tôi lên thiên đường trên một con đường quá ngọt ngào”, Franklin mừng rối rít trong lá thư hồi âm. “Tôi hoan hỉ khi nghĩ tới việc mình được tha thứ các tội lỗi sau này.” Quay trở lại với Mười Điều Răn, ông lập luận rằng thực ra có hai điều nữa nên được thêm vào: sinh sôi để lấp đầy trái đất và yêu thương nhau. Ông cho rằng mình đã luôn tuân thủ hai điều này rất tốt và lẽ nào điều đó không “bù đắp cho việc tôi thường xuyên không tuân thủ một trong mười điều kia? Tôi muốn nói tới điều răn cấm chúng ta khao khát vợ của láng giềng - một điều mà tôi thú nhận rằng mình thường xuyên vi phạm.”12
Than ôi, phu nhân Brillon lấy đây làm tín hiệu để vội vàng rút lui. “Em không dám quyết định câu hỏi đó một khi chưa hỏi ý kiến của kẻ láng giềng có vợ bị ông thèm muốn,” cô có ý nhắc tới chồng mình. Cô giải thích rằng có một chuẩn mực kép buộc cô phải tuân thủ. “Ông là đàn ông còn em là đàn bà nên dù chúng ta có thể ý nghĩ giống nhau, chúng ta phải nói năng và hành xử khác nhau. Có lẽ việc một người đàn ông có ham muốn và đầu hàng nó không có hại gì lớn; còn một người đàn bà có thể có ham muốn nhưng cô ta không được đầu hàng.”
Cô hầu như không biết chính chồng mình cũng theo chuẩn mực kép này. Một lần nữa, Adams lại là người đã ghi lại chi tiết đầy kinh ngạc sau khi Franklin dẫn ông đi ăn tối với “một nhóm bạn bè đông đảo thuộc cả hai giới” tại nhà Brillon. Phu nhân Brillon gây ấn tượng với Adams là “một trong những người phụ nữ đẹp nhất nước Pháp”, trong khi chồng cô là “một kiểu điền chủ thô kệch.” Giữa đám đông ấy có một người phụ nữ “giản dị và vụng về”. “Về sau, tôi được cả Tiến sĩ Franklin và cháu trai ông cho biết người phụ nữ đó là bồ của ông Brillon”, Adams viết. Ông cũng suy đoán, lần này không chính xác, rằng phu nhân Brillon đang qua lại với một người hàng xóm khác. “Tôi kinh ngạc khi những người này có thể sống với nhau trong một tình bạn hiển nhiên như thế mà thật sự không cắt cổ nhau. Tôi đúng là không hiểu thế giới.”
Một năm sau, phu nhân Brillon phát giác việc chồng cô qua lại với người phụ nữ trẻ vụng về kia: cô Jupin, vốn là gia sư của hai con gái nhà này. Cô cấm cửa người phụ nữ trẻ này khỏi nhà mình và bắt đầu sợ rằng cô ta có thể xin làm quản gia cho Franklin. Trong một cuộc gặp kín ở văn phòng của ông, sau khi được ông đảm bảo rằng mình không có ý định thuê người phụ nữ đó, phu nhân Brillon viết cho ông một bức thư nhẹ nhõm. “Thưa Cha thân yêu, tâm hồn em đã lắng xuống vì nó đã trút bỏ chính nó vào tâm hồn ông; vì nó không còn sợ rằng cô J - có thể đến ở cùng ông và trở thành nỗi đau khổ của ông.”13
Thậm chí cả trước cơn ghen này, phu nhân Brillon đã bắt đầu một cuộc thập tự chinh để ngăn Franklin hướng sự chú ý của ông tới những người đàn bà khác, mặc dù cô không sẵn sàng đáp lại sự nhiệt thành của ông. “Khi ông dàn trải tình bạn của mình như ông đã làm, tình bạn của em sẽ bị thu hẹp lại; nhưng từ nay trở đi em phải cố gắng nghiêm khắc hơn với các lỗi lầm của ông”, cô đe dọa.
Trong lá thư hồi âm mạnh mẽ nhưng vẫn quyến rũ, Franklin lập luận rằng cô không có quyền có tính sở hữu như thế. “Em đã từ bỏ và hoàn toàn loại ra mọi thứ có thể là xác thịt trong tình cảm của hai ta, chỉ ban cho tôi vài nụ hôn theo lối văn minh và chân thật, những nụ hôn mà em trao cho những thân quyến nhỏ tuổi của mình”, ông trách móc. “Tôi nhận được thứ gì đặc biệt đến mức có thể ngăn cản tôi trao điều tương tự cho kẻ khác?”
Trong bức thư, ông đề xuất một bản thỏa ước về “hòa bình, tình bạn và tình yêu” giữa hai người, bao gồm chín điều khoản. Nó bắt đầu với những điều khoản mà cô sẽ chấp nhận, sau đó là các điều khoản tuyên bố những điều gần như ở chiều ngược lại mà ông sẽ chấp nhận. Trong số đó có một điều khoản nói rằng “Ông E sẽ đến với cô bất cứ khi nào cô gọi” và một điều khác nói rằng ông sẽ “ở lại với cô chừng nào cô thích.” Mặt khác, các quy định cho ông bao gồm một điều khoản nói rằng “ông sẽ rời xa phu nhân B bất cứ khi nào ông thích” và một điều khác quy định “ông sẽ ở chơi lâu chừng nào ông thích”. Điều cuối cùng của thỏa ước là điều có lợi cho ông: “Ông sẽ yêu bất cứ người phụ nữ nào khác mà ông cảm mến.” Tuy nhiên, ông nói thêm ông “không hy vọng lắm” rằng cô sẽ đồng ý với điều khoản cuối cùng đó; và trong mọi trường hợp, “tôi tuyệt vọng trong việc tìm thấy một người phụ nữ nào khác khiến tôi có thể yêu bằng sự dịu dàng tương tự.”14
Để mô tả ham muốn tình dục của ông, Franklin đã sử dụng những lời lẽ rất tục. “Cậu nhỏ đáng thương của tôi, người mà lẽ ra em phải nên ấp ủ, thay vì béo tốt và vui vẻ như trong các bức tranh của em, lại gầy gò và đói kém vì thèm khát sự nuôi dưỡng mà em đã từ chối nó một cách nhẫn tâm.” Phu nhân Brillon tiếp tục cuộc nói chuyện với việc gọi ông là một Epicurus,* người “muốn có một tình yêu mũm mĩm tròn trịa” và gọi chính mình là một Platon, luôn “cố gắng làm mòn đi những mũi tên nhỏ của ông”. Trong một lá thư gợi ý khác, ông kể câu chuyện ngụ ngôn về một người đàn ông từ chối cho bạn mình mượn ngựa. Ông không như thế. “Em biết rằng tôi sẵn sàng hiến dâng cho em những con ngựa khỏe đẹp của tôi.”
Sau hàng tá những tung hứng qua lại đầy nhục cảm giữa hai người như thế, phu nhân Brillon đã dừng lại - ít nhất là trên giấy - để từ chối một lần và mãi mãi các đòi hỏi của ông về một tình yêu hữu hình hơn. Để đáp lại, cô cũng từ bỏ nỗ lực ngăn cản ông tìm kiếm tình yêu ở chốn khác. “Chủ nghĩa Platon có thể là giáo phái đồng tính bậc nhất, song nó đem lại sự bảo vệ thuận tiên cho phái đẹp,” cô viết. “Bởi thế, người đàn bà vì thấy việc đó là phù hợp, đã khuyên người đàn ông hãy vỗ béo thứ mình yêu thích ở các bàn khác ngoài bàn của cô, vốn luôn chỉ có thực đơn quá thanh đạm cho khẩu vị tham lam của anh ta.”15
Lá thư này, kết thúc bằng một lời mời uống trà vào ngày hôm sau, không kết thúc mối quan hệ của họ. Thực chất, nó chuyển sang một dạng khác. Phu nhân Brillon tuyên bố từ nay trở đi cô sẽ đóng vai một cô con gái ngưỡng mộ ông, và cô giao cho ông vai người cha giàu tình thương.
Người con gái dịu dàng và thiết tha này đang nói chuyện với cha mình. Em từng có cha, đó là người đàn ông tốt nhất, là người bạn đầu tiên và thân thiết nhất của em. Em mất cha quá sớm! Ông thường hỏi em: “Lẽ nào tôi không thể thế chỗ những gì em nuối tiếc?” Và ông từng kể cho em về thói quen nhân đạo của những kẻ hung ác nhất định, những người nuôi các tù binh chiến tranh và đặt họ thế chỗ thân nhân đã chết. Ông đã chiếm lấy trong trái tim em vị trí của người cha ấy.
Franklin, hoặc vì ham muốn hoặc vì cần kíp, đã chính thức đồng ý. “Cô bạn thân mến của tôi, tôi chấp nhận lời đề nghị mà em đã từ tâm đưa ra khi nhận tôi làm cha với sự hài lòng vô tận”, ông viết. Sau đó ông trở nên triết lý. Ông nói Benny và Temple quan trọng với ông vì ông phải xa “người con gái yêu thương” ở Philadelphia nên luôn phải có một đứa trẻ ở bên “để chăm lo cho tôi trong cuộc sống và dịu dàng vuốt mắt tôi khi tôi yên nghỉ”. Ông hứa sẽ cố gắng đóng tròn vai này. “Tôi yêu em như một người cha với toàn bộ trái tim mình. Đúng là có đôi lúc tôi ngờ rằng trái tim ấy muốn đi xa hơn nhưng tôi sẽ cố gắng che giấu nó từ bên trong.”16
Sự chuyển hóa của mối quan hệ này tạo cảm hứng để Franklin viết trong những mẩu truyện nhỏ nuối tiếc và tự sự nhất. Con thiêu thân được ông viết cho cô sau một buổi đi dạo trong vườn. (Chủ đề của nó bắt nguồn từ một bài ông đã đăng trên Nhật báo Pennsylvania 50 năm trước đó.) Ông kể rằng mình tình cờ nghe trộm được tiếng than của một con ruồi nhỏ có sinh mệnh ngắn ngủi khi nó nhận ra bảy giờ của nó trên hành tinh sắp sửa kết thúc.
Tôi đã nhìn thấy nhiều thế hệ sinh ra, nảy nở và mãn phần. Bạn bè hiện nay của tôi là con, cháu của những người bạn thời trẻ của tôi, những người mà, than ôi, giờ đã khuất bóng! Tôi cũng sẽ sớm đi theo họ vì theo quy luật tự nhiên, dù vẫn đang khỏe mạnh, tôi không dám kỳ vọng tôi sống được thêm bảy hay tám phút nữa. Mọi sự cực nhọc và công sức của tôi giờ kết thành trên giọt mật tụ trên chiếc lá này, thứ mà tôi không để sống để hưởng thụ!...
Các bạn của tôi an ủi tôi với ý nghĩ về tên tuổi mà họ nói rằng tôi sẽ để lại sau khi ra đi và bảo tôi rằng tôi đã sống đủ lâu, nhờ tự nhiên và nhờ vinh dự. Song danh tiếng có nghĩa lý gì với một con thiêu thân không còn tồn tại nữa?...
Với tôi, sau mọi sự háo hức mưu cầu, hiện giờ không có thú vui nào còn lại ngoài sự suy tư về một cuộc đời dài đầy ý nghĩa, những cuộc trò chuyện đáng trân trọng với một vài con thiêu thân thuộc phái đẹp và thi thoảng là một nụ cười hiền lành và một điệu nhạc từ một BRILLANTE luôn hòa nhã. [Trong nguyên bản tiếng Pháp, các từ cuối cùng chỉ rõ hơn người được nhắc đến: toujours amiable Brilion]17
Suốt những năm còn lại ở Pháp, thậm chí trong các lá thư sau khi ông trở về Mỹ, Franklin vẫn giữ mối liên hệ tình cảm với phu nhân Brillon. Sự sắp đặt mới của họ vẫn cho ông những sự tự do như chơi cờ với một người bạn chung đến tận đêm khuya trong nhà tắm của cô trong lúc cô ngầm mình trong bồn và quan sát. Nhưng các cuộc cờ trong nhà tắm như thế diễn ra khá trong sau với một bức mành gỗ theo phong cách lúc bấy giờ. “Cha e rằng chúng ta đã khiến con không thoải mái vì để con phải ở lâu như thế trong bồn tắm”, ông giãi bày vào ngày hôm sau, kèm theo lời hứa tinh nghịch: “Cha sẽ không bao giờ đồng ý bắt đầu một cuộc cờ với người láng giềng trong nhà tắm của con nữa. Liệu con có thể tha thứ cho cha về sự khinh suất?” Chắc chắn là cô có thể. “Không, thưa cha tốt bụng, hôm qua cha không làm con ốm thêm chút nào”, cô đáp. “Con vui vì được nhìn thấy cha và nó bù đắp cho nỗi mệt mỏi nho nhỏ do con rời khỏi bổn tắm hơi quá muộn.”
Đã từ bỏ khả năng xảy ra một mối tình lãng mạn nơi trần thế, họ tự mua vui bằng việc hứa hẹn yêu nhau trên thiên giới. Có lúc cô trêu đùa ông: “Em hứa sẽ làm vợ ông trên thiên đàng với điều kiện ông không được chinh phục quá nhiều tiên nữ trong lúc chờ đợi em. Em muốn có một người chồng chung thủy sẽ ở bên cạnh em vĩnh viễn.”
Hầu như hơn ai hết, cô có thể nói rõ điều gì khiến ông trở nên hấp dẫn đối với phụ nữ: “Sự vui tươi và khéo chiều chuộng khiến tất cả phụ nữ đều yêu ông vì ông đều yêu họ.” Với cả sự sâu sắc và tình cảm, cô tuyên bố: “Ông kết hợp trái tim tử tế nhất với bài giảng đạo đức sâu sắc nhất, kết hợp sự tinh nghịch hài hước với trí tưởng tượng sinh động. Ông cho thấy những gã đàn ông thông minh nhất biết để trí tuệ của họ vĩnh viễn bị vỡ tan khi va phải các tảng đá của tính nữ.”18
Trong các năm tiếp theo, Franklin đã giúp phu nhân Brillon vượt qua những cơn trầm cảm của mình và ông cố gắng, như chúng ta sẽ thấy, thúc đẩy hôn sự giữa Temple và một trong hai ái nữ của cô. Nhưng dần dần, kể từ năm 1779, ông hướng chú ý sang một phụ nữ khác, người này có một gia đình còn thú vị hơn nữa và sống ở ngôi làng Auteuil kế bên.
PHU NHÂN HELVÉTIUS
Anne-Catherine de Ligniville d’Autricourt xuất thân từ một gia đình quý tộc lớn ở Lorraine, song cô là con thứ 10 trong 20 người con, vì thế thiếu của hồi môn. Bởi vậy, khi cô 15 tuổi, độ tuổi có thể gả chồng, cô được gửi đến một tu viện. Rốt cuộc, chắc hẳn tính khí của cô không hợp với cuộc đời tu tập - và số tiền chu cấp cho cô cũng không đủ. Ở tuổi 30, tiền cấp dưỡng của cô hết sạch, vì thế cô đã đến Paris, được một bà dì tốt bụng ở đó cưu mang. Bà dì này đã bỏ chồng, trở thành một tiểu thuyết gia và mở một phòng khách luôn đầy chật các trí thức sáng sủa và hơi phóng túng.Tại đây, sự lanh lợi và nhan sắc của Anne-Catherine hấp dẫn nhiều gã si tình, nổi bật nhất là nhà kinh tế học Turgot, ít hơn cô tám tuổi, về sau trở thành bộ trưởng tài chính và một người bạn của Franklin. Turgot hấp dẫn, song không đủ giàu, vì thế cô đã cưới một người đã có sự nghiệp vững vàng hơn: Claude-Adrien Helvétius.
Helvétius là một trong khoảng 50 quan thầu thuế của nước Pháp, tổ chức được triều đình trao nhiệm vụ rất dễ sinh lời: thu thuế nắm các khế ước cho thuê đất. Khi đã trở nên giàu có, Helvétius bắt đầu tìm cách thỏa mãn những khao khát về xã hội và trí tuệ của ông. Bởi thế nhà tài phiệt giàu có này đã kết hôn với nữ quý tộc nghèo và, như đã đề cập ở trên, trở thành một triết gia nổi bật góp phần lên kế hoạch cho hội quán Tam Điểm chín Chị Em. Công trình lớn của ông, Linh hồn (1758), là một sự tán thành gây tranh cãi với chủ nghĩa khoái lạc vô thần, cho rằng tình yêu đối với sự vui thú thúc đẩy hành vi của con người. Quanh ông quần tụ những ngôi sao của chủ nghĩa Khai sáng, trong đó có Diderot, Condorcet, Hume thỉnh thoảng từ Edinburgh tới thăm và Turgot - vẫn ủng hộ dù là một kẻ si tình bị bỏ rơi.
Khi Helvétius qua đời vào năm 1771, năm năm trước khi Franklin đến, bà quả phụ Anne-Catherine, giờ đây là phu nhân Helvétius, đã gả hai ái nữ của mình cho những người đàn ông mà họ chọn, cho mỗi con một trong số các lâu đài của gia đình và mua một trang trại thênh thang ở Auteuil gần Passy. Bà linh hoạt, cởi mở - và phù hợp với xuất thân quý tộc nghèo của mình, bà có phần là người có tinh thần tự do, phóng túng, luôn thích tỏa ra một mùi hương trần tục. Có một nhận định thường được nhắc lại, được gán cho nhiều người song có lẽ được phát biểu đầu tiên bởi nhà văn nổi tiếng Fontenelle người đã ở cuối tuổi 90 khi thường ghé tới phòng khách của bà. Ngắm nhìn phu nhân Helvétius trong một bộ phục sức ở nhà ít trang trọng, ông thốt lên: “Ôi, ta như thể ở tuổi 70 lần nữa!”
Ở Auteuil, bà trồng một khu vườn theo tinh thần tự do, tránh mọi lề lối kiểu Pháp, nuôi một đàn vịt và chó để tạo thành một bầy thú ồn ào và hổ lốn. Phòng khách của bà cũng có nhiều đặc tính tương tự. Bạn bè mang cho bà các giống cây hiếm, các vật nuôi lạ và các ý tưởng khiêu khích. Bà dung dưỡng tất cả mọi thứ đó tại một nơi được gọi đùa là “Học viện Auteuil”.19
Ở cùng phu nhân Helvétius là hai linh mục và một vị giúp lễ:
• Linh mục André Morellet, một nhà kinh tế chính trị nổi bật, có đóng góp cho Bách khoa toàn thư, gần 50 tuổi. Morellet lần đầu kết bạn với Franklin vào năm 1772 tại bữa tiệc trong nhà ở Anh, khi ông trổ tài làm lặng sóng bằng cây gậy thần. Hai người có chung tình yêu với rượu quý, âm nhạc, các lý thuyết kinh tế và phát minh thực tế.
• Linh mục Martin Lefebvre de la Roche, gần 40 tuổi, cựu tu sĩ dòng Biển Đức mà (theo lời Morellet) “Helvétius đã thâu nhận sau một trào lưu hoàn tục.”
• Pierre-Jean-Georges Cabanis, một chàng thi sĩ độc thân ngoài 20 tuổi, từng dịch trước tác của Homer, theo học ngành dược, có một cuốn sách về các bệnh viện và kính trọng Franklin: những chuyện kể và giai thoại về ông được anh trung thành ghi lại.
“Chúng tôi đàm luận về đạo đức, chính trị và triết học”, la Roche nhớ lại. “Đức bà d’Auteuil kích thích việc làm đỏm của bạn còn mục sư Morellet tranh luận qua lớp phấn sáp và dẫn dắt các lập luận của ông để chứng minh những điều chúng tôi không tin.”20
Chính Turgot, vẫn còn phải lòng phu nhân Helvétius, là người đầu tiên đưa Franklin đến gặp bà vào năm 1778, khi bà đã gần 60 tuổi song vẫn lanh lợi và xinh đẹp. Đám đông hỗn tạp trong nhà bà chất chứa đầy sự giễu cợt và bất kính về trí tuệ như thể được may đo hoàn hảo cho thị hiếu của Franklin. Chẳng bao lâu sau, ông đã viết cho bà một lá thư, trong đó ông mô tả sức hút của bà:
Tôi đã tự mình tìm cách xây dựng một vài giả thuyết để giải thích vì sao bà lại có quá nhiều bạn bè đủ loại như vậy. Tôi thấy rằng các chính khách, triết gia, thi sĩ và học giả thuộc mọi lĩnh vực đều gắn bó với bà như cọng rơm dính vào một giọt hổ phách tốt... Chúng tôi tìm thấy trong lối giao thiệp ngọt ngào của bà sự nhân từ quyến rũ, sự chu đáo dễ mến, sự bố trí để làm hài lòng và được hài lòng, những thứ chúng tôi không phải luôn tìm được trong lối giao thiệp của nhau... Khi có bà bên cạnh, chúng tôi không chỉ hài lòng với bà mà còn hài lòng với người khác và với chính mình.21
Không có gì ngạc nhiên khi John Adams bị sốc về cả phu nhân Helvétius lẫn toàn bộ đám người trong nhà bà khi Franklin đưa ông đi cùng trong một chuyến tới thăm. Ông đả kích hai vị linh mục: “Tôi nghĩ mình có đủ quyền lực để tha thứ một tội lỗi cũng như họ có đủ quyền lực để phạm tội.” Ông bình luận về một trong những nghịch lý ở ngôi nhà này: “Không có loại chính quyền cộng hòa nào có thể tồn tại với những lối cư xử như thế của quốc dân.” Vợ ông, Abigail, còn khiếp sợ hơn khi lần sau bà tới chơi. Bà đã mô tả phu nhân Helvétius với một ngòi bút phóng túng đầy lôi cuốn:
Tóc của bà ta dợn sóng; trên đó đội một chiếc mũ rơm nhỏ với một chiếc khăn tay bằng tơ mỏng dơ bẩn phía sau... Bà ta tiếp tục làm chủ cuộc trò chuyện trong bữa tối, thường xuyên khóa tay mình vào tay của ông Tiến sĩ và thi thoảng dang cánh tay đặt lên thành ghế của các quý ông ngồi hai bên và vung tay hờ hững lên cổ ông Tiến sĩ... Tôi hết sức tởm lợm và không bao giờ muốn quen biết với những quý bà thuộc loại này. Sau bữa tối, bà ta ném mình xuống một chiếc trường kỷ để phô bày không chỉ đôi chân mình. Bà ta có một con chó táp nhỏ và yêu thích nó chỉ sau ông Tiến sĩ. Bà ta hôn hít nó và khi nó tè ướt sàn thì bà ta lấy luôn chiếc áo của mình để lau khô.22
Franklin không chỉ tán tỉnh phu nhân Helvétius. Vào tháng Chín năm 1779, ông nhiệt tình ngỏ lời cầu hôn theo một cách mà quá nửa là nghiêm túc song vẫn đủ khôi hài để giữ gìn danh tiết của cả hai. “Nếu quý bà đó muốn trải qua những ngày của mình với ông ấy, thì đổi lại ông ấy cũng muốn trải qua những đêm của mình với bà ấy”, ông viết thông qua Cabanis, dùng đại từ ngôi thứ ba. “Trong khi ông ấy đã cho bà ấy nhiều ngày của mình - dù chúng còn lại rất ít - bà ấy không tỏ ra biết ơn vì chưa từng cho ông ấy dù chỉ một đêm của mình, cứ để nó trôi qua thật sự hoài phí mà chẳng đem lại niềm vui cho ai trừ Poupon [con chó của bà] .”23
Bà dẫn dắt ông nhẹ nhàng: “Tôi hy vọng sau khi viết những thứ đẹp đẽ như thế trên giấy, ông sẽ đến và nói ra vài lời”, bà viết nguệch ngoạc. Ông tiếp tục cuộc thăm dò của mình một cách thông minh song vẫn thờ ơ một cách hài hước bằng cách viết tặng bà hai câu chuyện nhỏ. Câu chuyện đầu tiên được viết để nói lên tiếng nói của những con ruồi sống trong căn hộ của ông. Chúng than phiền về nỗi hiểm nguy phải đối diện từ những con nhện ở Passy và cảm ơn bà đã bắt ông quét sạch mạng nhện. “Chỉ còn lại một điều để chúng ta mơ ước, đó là được thấy hai ông bà cuối cùng thành người một nhà”, chúng kết luận.24
Turgot, bây giờ ghen tị hơn là thích thú với Franklin, khuyên bà từ chối lời cầu hôn và bà đã nghe theo. Nhưng ông đã làm mới cuộc theo đuổi của mình bằng một trong những mẩu chuyện nổi tiếng nhất ông từng viết - Những cánh đồng thiên đường. Trong đó, ông kể lại giấc mơ đi lên thiên đường và trao đổi vấn đề này với người chồng quá cố của bà và người vợ quá cố của ông, hai người họ cũng đã lấy nhau. Ông đề xuất họ trả thù sau khi khen ngợi bề ngoài của phu nhân Helvétius so với người vợ quá cố.
Bực bội trước quyết định man rợ của bà, được bày tỏ đầy xác quyết trong buổi tối hôm nọ, đó là bà sẽ ở giá suốt đời vì tôn trọng người chồng thân thương, tôi đã về nhà, nằm xuống giường và tin rằng minh đã chết, để rồi thấy tôi đang ở những cánh đồng thiên đường... [Ông Helvétius] đón tiếp tôi rất lịch sự, ông ấy nói rằng đã biết tôi một thời gian bởi danh tiếng của tôi ở đây. Ông ấy hỏi tôi cả ngàn điều về chiến tranh, về tình hình tôn giáo, về quyền tự do và chính phủ Pháp hiện nay. Ông ấy không hề hỏi gì về người bạn thân của bà, phu nhân H-; tuy nhiên bà ấy vẫn quá đỗi yêu quý bà và tôi vừa mới từ chỗ bà ấy về một giờ trước.
A! Ông ấy nói: ‘Ông bạn làm tôi ấy nhớ lại hạnh phúc cũ của mình song cần phải quên nó đi để có thể có hạnh phúc ở đây. Suốt vài năm trước đây, tôi chỉ nhớ đến bà ấy. Cuối cùng tôi cũng được an ủi. Tôi đã cưới một người vợ mới. Người giống bà ấy nhất mà tôi có thể tìm được. Sự thật là bà ấy không quá xinh đẹp nhưng có óc phán đoán tốt, tinh thần có phần vượt trội chút ít và bà ấy yêu tôi vô cùng. Việc không ngừng học hỏi của bà ấy là để làm tôi hài lòng. Bà ấy thật ra đang đi săn tìm rượu quý ngon nhất và thức ăn quý ngon nhất để chiêu đãi tôi tối nay. Hãy ở lại cùng tôi rồi ông bạn sẽ được gặp bà ấy.’
...Vừa dứt lời, phu nhân H - mới bước vào cùng rượu quý: vào phút ấy tôi nhận ra bà chính là phu nhân F -, một người bạn cũ của tôi. Tôi reo lên với bà ấy nhưng bà ấy lạnh lùng nói với tôi: “Tôi đã là vợ tốt của ông suốt 49 năm 4 tháng, gần một nửa thế kỷ và hài lòng về điều đó. Giờ đây, tôi đã tạo dựng một mối quan hệ mới và nó sẽ kéo dài vĩnh cửu.”
Bị xúc phạm bởi lời từ chối từ nàng Eurydice* của mình, tôi đột nhiên quyết định rời bỏ những linh hồn vô ơn đó và trở về với mặt đất tốt đẹp, đề lại nhìn thấy ánh mặt trời và thấy bà. Tôi đang ở đây! Chúng ta hãy trả mối thù này!25
Bên dưới sự phù phiếm này lẩn khuất một ước muốn chân thành - bạn bè của ông nghĩ vậy, kể cả đối thủ thân thiện Turgot - nhưng sự biểu đạt một cách hoa mỹ khiến nó có vẻ an toàn và thông minh. Vẫn thấy chưa thoải mái với các ràng buộc sâu sắc về tình cảm, Franklin thực hiện một chiêu trò cách ly hoàn hảo. Thay vì đeo đuổi trong bí mật và khiến nó có tính chất nghiêm túc nguy hiểm, ông công khai thực hiện việc đó bằng việc đưa câu chuyện lên một tờ báo riêng vài tháng sau. Khi làm vậy, ông bày trái tim mình ra ngoài cho mọi người cùng thấy và ở đó nó có thể an toàn nhảy nhót trong lãnh địa nằm giữa sự chân thành và sự tự trào. Như Claude-Anne Lopez nhận định: “Theo một cách nào đó, Franklin chưa bao giờ hoàn toàn ràng buộc bản thân trong tình yêu. Ông luôn nén lại một phần và quan sát diễn tiến bằng sự khôi hài.”
Với phu nhân Helvétius, cả sự nghiêm túc và sự đùa cợt công khai đều quá mức. Theo một bức thư Turgot viết cho một người bạn chung, bà lánh đi vào tháng 6 năm 1780, dành trọn kỳ nghỉ hè ở Tours với hy vọng rằng “bà ấy sẽ quên đi, nếu có thể, tất cả những sự xáo trộn đã giày vò bà”. Ông nói thêm rằng kỳ nghỉ là tốt nhất “không chỉ đối với sự yên tĩnh của riêng bà mà còn giúp tái lập nó trong đầu người khác (tức Franklin), người đã gây rắc rối một cách thật thiếu thận trọng.”26
Về phần Franklin, vũ điệu khéo léo của những lời tán tỉnh nửa nghiêm túc, không cần đáp lại, dù thật sự là như thế, có tác dụng trẻ hóa cả thân thể và tâm hồn ông. “Tôi thấy mình không già đi chút nào”, ông viết thư cho một người bạn vào mùa xuân đó. “Khi đã đến tuổi 70 và nhận ra nếu tiếp tục đi xa hơn trên cùng con đường này, có thể nó sẽ dẫn tôi tới mộ phần, tôi đã dừng gấp, xoay người và đi ngược trở lại. Tôi đã làm điều đó được bốn năm nên giờ ông có thể coi như tôi 66 tuổi.”27
NHỮNG ĐOẢN KHÚC
Một sản phẩm của những cuộc tán tỉnh của Franklin ở Passy và Auteuil là một loạt truyền thuyết và cổ tích, thí dụ Con thiêu thân, Những con ruồi và Những cánh đồng thiên đường đã nhắc đến ở trên. Chúng được ông viết ra để mua vui cho bạn bè. Ông gọi chúng là các đoản khúc, một thuật ngữ tiếng Pháp để chỉ một đoạn nhạc ngắn vui tươi và ông đăng tải nhiều đoản khúc như thế trên tạp chí riêng mà ông lập ra ở Passy. Chúng tương tự như những truyện ngắn ông đã viết trước đây như Xử án Polly Baker, song khoảng hơn mười tác phẩm viết ở Passy mang một chất Pháp nhẹ nhàng.Chúng trở thành đối tượng của nhiều lời bình có tính tâng bốc. Theo Alfred Owen Aldridge: “Các đoản khúc của Franklin kết hợp niềm hân hoan với chân lý đạo đức. Chúng nằm trong số các kiệt tước văn chương nhẹ nhàng của thế giới.” Điều này không chính xác. Ý nghĩa của các tác phẩm đó thể hiện chủ yếu ở chỗ đem lại cái nhìn về cá tính của Franklin hơn là giá trị văn học của chúng, vốn có phần hơi mỏng. Chúng là các trò chơi trí tuệ vui như một bài tập với năm ngón tay. Đa số chúng đều cho thấy sự tự trào khôi hài điển hình của Franklin, dù một số có phần nặng nề trong nỗ lực dạy bài học đạo đức.28
Đoản khúc thú vị nhất là Cuộc hội thoại giữa bệnh Gout và ông Franklin, tiền thân của kiểu quảng cáo Alka Seltzer cũ, trong đó một người đàn ông bị chiếc dạ dày của mình mắng nhiếc. Khi ông nằm liệt giường vì chứng bệnh này vào tháng 10 năm 1780, phu nhân Brillon viết cho ông một bài thơ có nhan đề Nhà hiền triết và bệnh Gout, với ẩn ý chứng bệnh này bắt nguồn từ tình yêu của ông với “một nàng thơ, đôi khi là hai, ba, bốn”. Nó có một số câu sau:
“Hãy điều độ, thưa Tiến sĩ thân mến,” bệnh Gout nói
“Đây là đức tính mà ông không nổi bật.
Ông thích đồ ăn, thích trò chuyện ngọt ngào với các quý cô,
Ông chơi cờ trong khi nên đi bộ.”
Franklin trả lời vào một đêm khuya với một đoạn hội thoại dài và vui nhộn, trong đó bệnh gout chì chiết ông vì ưa hưởng lạc và vì Franklin thích giáo huấn, nó đề ra một lộ trình tập thể dục và hít thở không khí trong lành:
ÔNG F: Eh! oh! eh! Ta đã làm gì mà phải chịu những nỗi đau khổ dã man này?
BỆNH GOUT: Rất nhiều! Ông ăn uống quá tự do và nuông chiều đôi chân mình quá mức khiến chúng lười biếng.
ÔNG F: Ai đang buộc tội ta vậy?
BỆNH GOUT: Là ta, chính ta, bệnh Gout.
ÔNG F: Sao! Chính là kẻ thù trong người ta?
BỆNH GOUT: Không, không phải kẻ thù của ông.
ÔNG F: Ta nhắc lại, kẻ thù của ta; ngươi không chỉ hành hạ thân xác ta tới chết mà còn hủy hoại thanh danh của ta. Ngươi chỉ trích ta là một kẻ tham ăn và một bợm rượu; song cả thế giới, vốn đều biết ta, giờ đây sẽ chứng nhận ta không phải là cả hai loại đó.
BỆNH GOUT: Thế giới có thể nghĩ những gì mà nó muốn; nó luôn rất tự mãn về bản thân và đôi khi cả về bạn bè nó. Nhưng tôi biết rất rõ khối lượng thịt và đồ uống phù hợp cho một người tập thể dục ở một mức độ hợp lý sẽ là quá mức với một người không bao giờ tập thể dục...
Nếu cuộc sống của ông ít vận động thì những thú vui, những trò giải trí của ông ít nhất phải tích cực. Ông nên đi bộ hay cưỡi ngựa; hoặc nếu thời tiết ngăn cản những việc đó thì hãy chơi bi-a. Giờ chúng ta hãy xem xét lối sống của ông. Trong khi buổi sáng thì dài và ông có thời gian rảnh rỗi để ra ngoài, ông sẽ làm gì? Tại sao thay vì có một bữa sáng ngon miệng nhờ một bài thể dục chào ngày mới, ông lại tự mua vui bằng những cuốn sách, những tập san, những tờ báo mà nhìn chung không đáng đọc? Chưa kể ông còn ăn một bữa sáng quá mức, bốn món trà với kem, một hoặc hai miếng bánh mì nướng bơ, với vài lát bò sấy - những món mà tôi cho rằng không hề dễ tiêu hóa.
Lập tức sau đó, ông ngồi xuống bàn để viết hoặc trò chuyện với những người liên quan tới ông trong công việc. Thời gian trôi qua đến một giờ chiều mà không có bất cứ loại vận động cơ thể gì. Nhưng tất cả những điều này tôi đều có thể tha thứ xét về phương diện, như ông nói, điều kiện làm việc ít vận động. Thế nhưng ông thường làm gì sau bữa tối? Đi bộ trong những khu vườn xinh đẹp của những người bạn mà ông vừa ăn tối cùng là lựa chọn của một người có lý trí. Còn ông lại dính chặt lấy bàn cờ, nơi ông vùi mình suốt hai, ba giờ!
... Ông biết những khu vườn của ông Brillon và những lối đi đẹp mà nó sở hữu; ông biết đoạn cầu thang đẹp gồm một trăm bậc dẫn từ sân thượng phía trên xuống bãi cỏ phía dưới. Ông có thói quen đến thăm gia đình đáng mến đó hai lần mỗi tuần sau bữa tối và “đi bộ một dặm lên xuống cầu thang tương đương với đi bộ mười dặm trên đường bằng” chính là châm ngôn của ông. Ông có cơ hội tập tành theo cả hai cách này! Ông đã nắm lấy nó chưa và có thường xuyên không?
ÔNG F: Tôi không thể ngay lập tức trả lời câu hỏi này.
BỆNH GOUT: Tôi sẽ làm việc đó thay ông: Chưa từng!29
Ông gửi đoản khúc này cho phu nhân Brillon cùng một lá thư táo bạo bác bỏ việc bài thơ của cô kết luận rằng “các nàng thơ đã góp phần gây ra chứng bệnh đau đớn này”. Ông nói: “Khi còn trai trẻ, tôi hưởng thụ nhiều đặc ân của phái đẹp hơn bây giờ và tôi không bị gout. Vì thế, nếu các quý bà ở Passy thể hiện nhiều hơn nữa lòng bác ái Ki-tô giáo mà tôi thường đề nghị với em trong vô vọng, tôi sẽ không phải khổ sở vì bệnh gout như bây giờ.” Lúc này, tình dục đã thành chủ đề vui đùa hơn là căng thẳng giữa hai người. “Em sẽ làm hết sức mình vì ông theo tinh thần bác ái của một Ki-tô hữu, nhưng loại trừ nhánh bác ái Ki-tô giáo của ông - cô trả lời.
Franklin viết các đoản khúc như một cách để trau dồi kỹ năng ngôn ngữ; ông sẽ dịch chúng tới lui, đưa cho các bạn hữu như linh mục la Roche xem, sau đó bổ sung các điểm chỉnh sửa. Thí dụ, ông viết câu chuyện trả giá quá đắt để mua chiếc còi khi còn nhỏ ra hai cột: bên trái tiếng Pháp, bên phải tiếng Anh, bỏ trống phần lề để sửa chữa. Vì phu nhân Brillon không nói tiếng Anh, ông gửi cho cô bản tiếng Pháp của các tác phẩm của mình và thường chỉ cho cô những chỗ đã được người khác chính sửa.
Về mặt ngữ pháp, cô dễ dãi hơn đạo đức. “Người sửa tiếng Pháp của ông đã làm hỏng cả tác phẩm” - cô nói về các điểm mà la Roche đã biên tập trong cuộc hội thoại với bệnh gout. “Hãy cứ để tác phẩm của ông như nó vốn thế, sử dụng các từ ngữ nói lên điều gì ông muốn và cười vào mũi các nhà ngữ pháp, những người làm yếu đi câu văn của ông bởi sự thuần khiết của họ.” Thí dụ, Franklin hay tạo ra các từ tiếng Pháp mới như indulger (to indulge, tức nuông chiều); và các bạn ông sau đó sẽ sửa lại. Tuy nhiên, phu nhân Brillon lại thấy những từ mới này thật quyến rũ. “Một vài người ưa sự thuần khiết có thể lý sự cùn với chúng ta vì những con chim đó cân nhắc từ ngữ dựa trên một cán cân của sự uyên bác lạnh lùng,” cô viết. Song “vì ông dường như bộc lộ mình mạnh mẽ hơn một nhà ngữ pháp, sự đánh giá của em nghiêng về ủng hộ ông.”30
Franklin thấy sự phân biệt giống đực, giống cái của tiếng Pháp đặc biệt khó nắm bắt và ông thậm chí còn đùa cợt bằng cách để từ “nam tính” ở giống cái và “nữ tính” ở giống đực khi than thở việc việc phải tra cứu những điều như thế trong từ điển. “Suốt 60 năm nay [từ tuổi 16], những thứ thuộc về giống đực, giống cái - tôi không nói về các hình thái và các thời - đã khiến tôi gặp nhiều rắc rối”, ông nhận xét khôi hài. “Tôi sẽ hạnh phúc hơn nhiều khi lên thiên đường, nơi người ta nói rằng mọi sự phân biệt như thế sẽ bị xóa bỏ.”
Vậy thì tiếng Pháp của Franklin tốt tới đâu? Vào năm 1780, ông đã đọc và viết được với sự hoa mỹ và thích thú lớn dù không phải luôn chuẩn về phát âm và ngữ pháp. Cách tiếp cận này hấp dẫn phần lớn bạn bè ở đây, nhất là phụ nữ, song không hề ngạc nhiên khi nó xúc phạm John Adams. “Người ta nói Tiến sĩ Franklin nói tiếng Pháp rất tốt nhưng khi để ý một cách khắt khe tôi nhận thấy ông ấy không nói chuẩn ngữ pháp”, Adams chê bai. “Ông ấy thừa nhận với tôi là ông ấy hoàn toàn không để tâm đến ngữ pháp. Cả lối phát âm của ông ấy cũng vậy, dù nhiều quý ông, quý bà người Pháp rất khen ngợi và chính ông ấy dường như cũng nghĩ nó rất tốt, tôi sớm nhận ra rằng nó không chính xác.”31
Đoản khúc hấp dẫn các bạn người Pháp nhất của ông có nhan đề Câu chuyện. Đó là một truyện ngụ ngôn nói về lòng khoan dung tôn giáo. Một sĩ quan Pháp khi sắp lìa đời kể lại một giấc mơ trong đó ông đến cổng thiên đàng và nhìn thấy Thánh Peter hỏi mọi người về tôn giáo của họ. Người đầu tiên đáp anh ta theo Công giáo và Thánh Peter nói: “Hãy tìm chỗ của con giữa các tín hữu Công giáo.” Một thủ tục tương tự áp dụng với một tín hữu Anh giáo và một tín hữu Quaker. Khi vị sĩ quan thú nhận ông ta không theo tôn giáo nào, Thánh Peter đã độ lượng nói: “Con cũng có thể vào; chỉ cần tìm cho mình một chỗ ở bất cứ nơi nào con có thể.” (Franklin có vẻ đã sửa lại bản thảo một vài lần đề làm rõ luận điểm về lòng bao dung. Trong một phiên bản, ông thể hiện nó mạnh mẽ hơn: “Hãy cứ vào và chọn bất cứ chỗ nào con muốn.”)32
Câu chuyện này nhắc lại nhiều tác phẩm ngắn trước đây của Franklin ủng hộ lòng khoan dung tôn giáo. Mặc dù niềm tin của Franklin vào một Thiên Chúa nhân từ trở nên mạnh mẽ hơn khi ông lớn tuổi, việc ông không cổ vũ riêng giáo phái nào được các trí thức Pháp rất tán dương. Một người quen của Franklin viết: “Các nhà tư tưởng tự do của chúng ta đã khéo léo điều tra ông về tôn giáo của mình và họ đinh ninh đã phát hiện ra ông là một trong số họ, nghĩa là ông không có tôn giáo nào.”33
CHƠI CỜ VÀ TRUNG TIỆN
Một trong các đam mê nổi tiếng của Franklin là chơi cờ, minh chứng là ván cờ lúc đêm muộn trong buồng tắm của phu nhân Brillon. Ông nhận thấy trò chơi này là một ẩn dụ đối về cả ngoại giao và cuộc đời, một điểm mà ông minh định trong một đoản khúc viết năm 1779: Đạo lý của chơi cờ. Tác phẩm này dựa trên một tiểu luận ông đã phác thảo từ năm 1732 cho Hội kín Philadelphia. Ông mở đầu: “Chơi cờ không chỉ đơn thuần là một thú tiêu khiển lười biếng. Một vài phẩm chất trí tuệ rất quý giá, có ích trong đời sống con người có thể được tiếp thu và củng cố thông qua nó. Vì cuộc đời cũng tựa như một ván cờ, ở đó chúng ta có những điểm phải giành được, những đối thủ và kẻ thù phải chiến đấu cùng.”Ông tin rằng chơi cờ dạy chúng ta về tầm nhìn xa, sự thận trọng và tầm quan trọng của việc không nản chí. Còn có một nghi lễ quan trọng cần được thực hành: đừng bao giờ hối thúc đối thủ, đừng bao giờ tìm cách dối trá bằng việc vờ đi một nước tồi và đừng bao giờ hả hê trong chiến thắng: “Hãy kiềm chế mong muốn chiến thắng đối thủ và hài lòng với việc chiến thắng bản thân.” Thậm chí, có lúc cần thận trọng để đối thủ rút lại một nước đi sai: “Có thể cuối cùng bạn thực sự thua đối thủ trong ván cờ, nhưng bạn giành được thứ quan trọng hơn, đó là sự kính trọng của anh ta.”34
Vào một trong những ván cờ muộn của Franklin tại Passy, một người đưa tin đến cùng một loạt thư tín quan trọng từ Mỹ. Franklin xua anh ta đi cho đến khi cuộc chơi kết thúc. Một lần khác, ông đang chơi cờ với một đối thủ ngang sức - nữ công tước Bourbon - bà đã vô tình đi một nước để sơ hở quân vua. Bỏ qua luật lệ, ông lập tức tóm lấy nó. “Chúng tôi không nắm các Quân vương như thế”, nữ công tước nói. “ Franklin đáp lại với câu nổi tiếng: “Ở Mỹ chúng tôi làm thế.”35
Một đêm ở Passy, ông say đắm với ván cờ khi những ngọn nến leo lét chực tắt. Không chịu từ bỏ, ông bảo đối thủ của mình đi tìm thêm nến. Người ấy nhanh chóng trở lại với ánh mắt kinh ngạc cùng tin tức rằng bên ngoài trời đã sáng. Franklin mở tung các cửa chớp. “Anh nói đúng, trời đã sáng,” ông nói. “Ta hãy đi ngủ thôi!”
Tình huống ấy tạo cảm hứng cho một đoản khúc ông viết về nỗi ngạc nhiên khi phát hiện ra mặt trời đã lên và tỏa ánh ban mai lúc 6 giờ sáng. Nên lưu ý là trong giai đoạn này của cuộc đời ông không còn chung niềm tin với Richard Nghèo Khổ rằng nên ngủ sớm và dậy sớm. Ông tuyên bố rằng phát hiện này sẽ khiến độc giả ngạc nhiên: “Những người ở với tôi không bao giờ nhìn thấy ánh mặt trời trước buổi trưa.” Điều đó dẫn ông đến kết luận rằng chỉ cần con người thức dậy sớm hơn, họ sẽ tiết kiệm được nhiều tiền nến. Ông thậm chí còn đưa ra các phép tính giả khoa học về số tiền có thể thu được từ Kế hoạch Tiết kiệm này nếu trong các tháng mùa hè, người dân Paris có thể chuyển giờ ngủ của họ lên sớm bảy tiếng: gần 97 triệu livre - “một số tiền khổng lổ mỗi năm thành phố Paris có thể tiết kiệm nhờ tận dụng ánh dương thay cho ánh nến.”
Franklin kết lại bằng việc trao ý tưởng này cho công chúng mà không đòi hỏi quyền tác giả hay khen thưởng. “Tôi chỉ mong được vẻ vang nhờ nó”, ông tuyên bố. Cuối cùng ông đã vẻ vang hơn những gì ông tưởng tượng: hầu hết lịch sử của việc sáng tạo ra Giờ Tiết Kiệm Ánh Sáng (DST) đều lấy ý tưởng từ tiểu luận của Franklin, dù ông viết nó một cách chế giễu và không thực sự có ý định vặn đồng hồ lên một giờ vào mùa hè.36
Tiểu luận này, vốn giễu nhại cả thói quen sinh hoạt lẫn các luận thuyết khoa học, phản ánh sự ảnh hưởng của Jonathan Swift (như ông đã viết khi còn trẻ). “Nó là kiểu châm biếm mà Swift hẳn đã viết để thế chỗ Một đề xuất khiêm tốn nếu ông đã có năm năm bầu bạn với các quý bà Helvétius và Brillon”, Alfred Owen Aldridge nhận xét.37
Một trò đùa khoa học tương tự, thậm chí còn vui vẻ và nổi tiếng (hoặc có lẽ là tai tiếng) hơn, là lời đề nghị chế nhạo mà ông gửi cho Học viện Hoàng gia Brussels, nói họ nên nghiên cứu nguyên nhân và cách chữa trị việc trung tiện. Nhận định rằng các lãnh đạo học viện, trong khi mời gọi các câu hỏi nghiên cứu đã tuyên bố “đề cao tính hữu dụng”, ông đề xuất một “câu hỏi nghiêm túc”, xứng đáng với “kỷ nguyên khai sáng này”:
Ai cũng biết khi tiêu hóa thức ăn thông thường, ở trong ruột con người hình thành hay tạo ra một lượng khí lớn. Việc cho phép luồng khí này thoát ra ngoài và hòa với không khí thường gây khó chịu cho người xung quanh bởi thứ mùi hôi thối đi cùng. Bởi thế những người có giáo dục thường tránh sự thất thố như vậy, họ cố gắng ngăn cản sự thúc bách phải cho luồng khí đó thoát ra của tự nhiên. Điều đó rất trái với tự nhiên, chẳng những thường gây khổ sở lớn trong hiện tại mà còn gây ra bệnh tật trong tương lai...
Nếu không phải vì thứ mùi khó chịu đáng ghét đi cùng việc thoát khí như thế, những người lịch thiệp có thể sẽ không cẩn phải cố gắng kiềm chế xì hơi khi có người xung quanh nữa, nó cũng chỉ giống như họ đang khạc nhổ hoặc hỉ mũi. Câu hỏi treo giải của tôi vì thế sẽ là:
Tìm ra một thứ thuốc nào đó lành mạnh mà không khó chịu để trộn vào thức ăn hoặc nước sốt, khiến cho việc thải khí từ cơ thể chúng ta không chỉ không gây khó chịu mà còn dễ chịu như hương nước hoa.
Vờ tỏ ra nghiêm túc trong khoa học, Franklin tiếp tục giải thích tại sao các loại thức ăn và khoáng chất thay đổi mùi của những lần trung tiện. Liệu một khoáng chất như vôi có giúp làm cho mùi đó trở thành dễ chịu? “Điều này đáng được thí nghiệm!” Bất cứ người nào khám phá được vấn đề này sẽ được hưởng “sự vẻ vang bất tử” vì nó hữu ích hơn nhiều so với “những khám phá khoa học khác đã làm cho các nhà triết học nổi tiếng trước đây”. Ông nhận xét, tất cả các công trình của Aristotle và Newton ít có ích gì với những người sình bụng. “Những đường xoáy của Descartes đâu có giúp một người với những cơn lốc xoáy trong ruột thấy dễ chịu!” Việc phát minh ra một thứ nước hoa trung tiện sẽ giúp các vị chủ nhà xả khí tự do vì an ủi rằng nó sẽ đem lại sự thư thái cho khách khứa. So với sự sang trọng này, “tất cả những phát kiến trước đây đều không đáng giá một xu”.*
Khi đăng câu chuyện đùa cợt này trên tờ báo riêng ở Passy, hẳn Franklin cũng ngại ngùng nên ông không bao giờ đưa nó ra trước công chúng. Tuy vậy, ông đã gửi cho bạn bè và đặc biệt lưu ý rằng một trong số họ có thể quan tâm: Joseph Priestley, nhà hóa học và chuyên gia về khí nổi tiếng, “người duy nhất có quyền huênh hoang”.38
Còn một bài luận ngụy khoa học thú vị nữa được viết dưới dạng lá thư gửi linh mục Morellet. Nó tán dương sự kỳ diệu của rượu vang và của... khuỷu tay con người:
Chúng ta đã biết tới phép lạ hóa nước thành rượu vang trong đám cưới của Cana. Nhưng sự biến đổi này, nhờ sự nhân từ của Chúa, diễn ra hằng ngày trước mắt chúng ta. Hãy quan sát những giọt mưa từ thiên đường rơi xuống các vườn nho của chúng ta; ở đó chúng ngấm vào rễ của từng gốc nho, rồi được cất thành rượu. Đó là một bằng chứng bất biến cho thấy Chúa yêu thương chúng ta và muốn thấy chúng ta hạnh phúc. Phép màu được nhắc đến ở đây được Người thực hiện chỉ để đẩy nhanh quá trình này.
Về khuỷu tay con người, ông giải thích rằng nó quan trọng vì phải được đặt đúng chỗ, nếu không sẽ khó uống rượu. Nếu Chúa đặt khuỷu tay thấp hơn một chút, cẳng sẽ tay khó để chạm tới miệng. Tương tự, nếu khuỷu tay được đặt cao hơn một chút, cẳng tay sẽ cao quá miệng ta. “Chính bởi thực trạng hiện nay chúng ta mới có thể uống rượu dễ dàng: chiếc ly đưa chính xác vào miệng. Với một ly rượu trong tay, chúng ta hãy ngưỡng mộ sự thông thái nhân từ này. Hãy ngưỡng mộ và hãy uống!”39
NHỮNG VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH
Vòng tròn mới của các thành viên gia đình thứ hai này khiến ông đặt gia đình thật của mình ở đâu? Ở nơi xa xôi. Sally, con gái, người luôn ngưỡng mộ ông, đã viết về sự cần mẫn của cô trong việc trùng tu căn nhà của họ ở Philadelphia sau khi quân Anh rút đi vào tháng 5 năm 1778. Trong khi thư tín từ các bạn nữ giới người Pháp của ông mở đầu bằng “Cha thân yêu”, hầu hết những lá thư xuất phát từ con gái ruột của ông mở đầu một cách cứng nhắc hơn: “Ngài thân mến và đáng kính.” Các thư hồi âm của ông được gửi cho “Sally thân mến” và đôi lúc là “Con thân mến của ta”. Chúng chủ yếu bày tỏ niềm vui mừng về thành tích của các cháu, nhưng đôi khi cũng có những lời khen mang tính khích lệ. “Nếu con biết những lá thư của con làm cha vui đến mức nào, cha tin con sẽ viết đều đặn hơn”, có lúc ông đã khiển trách.Đầu năm 1779, Sally viết về giá cả đắt đỏ ở Mỹ và cô đã bận rộn tự dệt những chiếc khăn trải bàn ra sao. Tuy vậy, không may cô đã sai lầm nhắc đến việc được mời tới vũ hội vinh danh Tướng Washington và đặt mua từ Pháp những chiếc ghim cài, đăng ten và lông vũ để trông mình sành điệu hơn. “Chưa bao giờ có nhiều xiêm y và thú vui đến thế” cô rối rít khoe với cha và mong ông sẽ gửi về vài đồ phụ kiện để cô có thể tự hào khoe thẩm mỹ của ông.
Lúc đó, Franklin đang viết các đoản khúc ngọt ngào cho những người bạn Pháp và hứa hẹn sẽ mua cho Polly Stevenson một đôi khuyên tai kim cương nếu một trong vài vé số của ông trúng thưởng. Nhưng ông đáp bằng sự thất vọng khi thấy Sally xin xỏ vài đồ xa xỉ. “Việc con đặt mua những chiếc ghim cài dài màu đen, đăng ten và lông vũ khiến ta thấy kinh tởm như thể con bỏ muối vào món dâu tây của ta”, ông chì chiết. “Ta đã thấy con sẽ bỏ việc dệt vải sang một bên và ăn mặc lộng lẫy để đi vũ hội! Con gái thân mến của ta, dường như con không biết, trong tất cả mọi vật đắt đỏ trên thế giới, lười nhác là thứ đắt nhất.” Ông gửi cho cô một vài vật cô đề nghị mà ông cho là “có ích và cần thiết”, song kèm theo một lời khuyên không hề khôi hài về các loại trang sức phù phiếm. “Nếu con mặc những chiếc áo diềm đăng ten xếp nếp bằng vải lanh mịn như ta và chẳng cần bận tâm sửa mấy lỗ thủng, thì sẽ đến lúc chúng có ren; còn lông vũ, con gái thân yêu ạ, con có thể lấy được từ đuôi của bất cứ con gà trống nào ở Mỹ.”40
Rõ ràng bị tổn thương, cô đáp lại bằng việc mô tả chi tiết mình cần cù và tiết kiệm thế nào, và cô cố gắng tìm lại sự sủng ái của ông bằng việc gửi qua một ít lụa Mỹ tự dệt ở nhà để ông tặng hoàng hậu Marie-Antoinette. Biết rằng cha mình mong muốn ủng hộ ngành công nghiệp lụa địa phương, cô nhận xét, “nó sẽ cho thấy lụa từ Mỹ ra sao.”
Đó là một cử chỉ ngọt ngào, với tất cả mọi yếu tố - sự cần cù, bất vị kỷ, sự quảng bá sản phẩm của nước Mỹ và sự tôn kính với nước Pháp. Điều đó lẽ ra đã phải hấp dẫn Franklin. Than ôi, súc lụa bị ố vì nước biển trên đường đi và tệ hơn nữa, cha cô chế giễu toàn bộ kế hoạch này. “Ta băn khoăn vì sao trong khi chân con mang một đôi giày quý mà đầu con lại nghĩ tới việc tặng quần áo cho một Hoàng hậu”, ông viết đáp lại. “Cha sẽ xem liệu những vết ố có thể được che đi bằng thuốc nhuộm và sẽ dùng nó để may quần áo mùa hè cho cha, Temple và Benny.” Tuy nhiên, cuối cùng, ông đã lựa một cách viết hiền lành và nhã nhặn hơn. “Tất cả mọi thứ con đặt hàng sẽ được gửi, vì con vẫn là cô gái ngoan, biết kéo sợi và đan bít tất cho cả nhà.”41
Trái tim của Franklin tỏ ra mềm yếu hơn khi nghe tin tức về các cháu. Cuối năm 1779, Sally sinh đứa con thứ tư và đặt tên rửa tội cho cậu là Louis theo tên nhà vua Pháp, với hy vọng làm hài lòng Franklin. Cái tên đó ít gặp ở Mỹ đến mức nhiều người hỏi đứa trẻ là trai hay gái. Khi thấy cậu con trai Willy đọc Kinh Lạy Cha sau một cơn ác mộng và cầu nguyện Hercules, cô xin lời khuyên của cha: “Liệu tốt nhất con nên chỉ dẫn thằng bé chút ít về tôn giáo hay cứ để nó cầu nguyện Hercules thêm một chút?” Ông đáp với ẩn ý khôi hài rằng cô nên dạy con trai “hướng sự thờ phụng của nó một cách phù hợp hơn bởi vì thần tính của Hercules giờ đã khá lỗi thời”. Sally vâng lời. Ít lâu sau, cô viết thư cho biết, Willy đang học Kinh Thánh rất cừ và cậu bé “có trí nhớ kỳ lạ” với mọi loại văn chương. “Nó đã học lời điếu của Anthony trên xác Caesar và hầu như không thể đọc mà không giàn giụa nước mắt.” Cô kể thêm về cô bé Elizabeth rất thích ngắm ảnh ông ngoại “và thường cố gắng dùng một mẩu bánh táo, thứ mà con bé thích nhất trên đời, để dụ cha ra khỏi khung tranh chơi cùng nó.”42
Sally cũng tìm một dự án giúp cô tìm được sự ủng hộ thuần túy của cha. Chứng kiến quân đội của Washington khổ sở trong những bộ đồng phục rách rưới vào tháng 12 năm 1779, cô kêu gọi phụ nữ ở Philadelphia tiến hành lạc quyên, mua vải và may hơn 2.000 chiếc áo cho các đoàn quân bị bao vây. “Con rất bận rộn với việc cắt vải và may áo cho các chiến sĩ”, cô thuật lại. Khi Washington muốn trả tiền để mua thêm áo, các phụ nữ đã từ chối và tiếp tục làm việc miễn phí. “Con mong cha tán thành những việc chúng con làm”, cô viết và rõ ràng là muốn nhận được từ ông một lời khen ngợi. Tất nhiên Franklin tán thành. Ông viết thư hồi âm và ca ngợi cô vì lòng ái quốc; sau đó thuật lại những việc làm của cô để đăng báo tại Pháp.43
Benny, con trai của cô, cũng cảm thấy sự thất thường trong tình cảm của Franklin dù cậu bé đã bị tách khỏi gia đình Bache đề cùng theo ông sang châu Âu. Sau hai năm ở trường nội trú gần Passy và chỉ gặp ông ngoại mỗi tuần một lần, cậu bé 9 tuổi ít nói khăn gói sang Geneva theo học ở một trường tư thục và không gặp lại ông suốt hơn bốn năm. Dù yêu nước Pháp song Franklin cảm thấy một nền quân chủ Công giáo không phải nơi tốt nhất đề giáo dục cháu mình. Ông viết cho Sally: “Ta muốn hướng nó thành một tín hữu Trưởng lão theo chủ nghĩa cộng hòa.”44
Benny được Philibert Cramer, nhà ngoại giao Pháp, đồng thời cũng là chủ nhà xuất bản của Voltaire, đưa qua Geneva. Vốn luôn thiếu thốn tình cảm và hình ảnh người cha, Benny bám lấy Cramer song anh ta đột ngột qua đời vài tháng sau. Vì thế cậu bé sống một thời gian cùng quả phụ của Cramer, cô Catherine. Sau đó, cậu được trông coi bởi Gabriel Louis de Marignac, từng là một nhà thơ và sĩ quan quân đội, hiện điều hành trường tư thục này.
Vì cô đơn khủng khiếp, Benny đã xin ông ngoại đưa anh trai William hoặc bạn học cũ tại Passy, John Quincy Adams, sang đây cùng cậu. Ít nhất, liệu cậu có thể có một bức hình của Franklin và vài tin tức?
Franklin, vốn luôn muốn gửi chân dung của mình ra ngoài, liền ban cho cậu một bức cùng tin tức về thành tựu của Sally trong việc cấp áo cho binh lính của Washington. “Hãy cần mẫn học tập để có thể đủ trình độ phục vụ đất nước và xứng đáng với một người mẹ tốt như thế” - ông viết. Ông cũng báo tin bốn bạn học cũ của Benny ở Passy đã chết vì đậu mùa và cậu nên biết ơn vì đã được chủng ngừa từ khi còn nhỏ. Ngay cả biểu hiện tình cảm của ông vẫn có lưu ý dự phòng: “Ta vẫn luôn yêu cháu nhiều nếu cháu tiếp tục là một cậu bé ngoan”, ông khép lại lá thư.45
Benny học rất giỏi trong năm đầu tiên và còn đạt giải ở trường trong cuộc thi dịch tiếng Latin sang tiếng Pháp. Franklin gửi cho cậu bé chút tiền để có thể tổ chức tiệc ăn mừng mà người đạt giải sẽ mời cả lớp theo truyền thống. Ông cũng nhờ Polly Stevenson khi đó vẫn ở London chọn vài quyển sách tiếng Anh cho Benny vì cậu đang có dấu hiệu quên mất ngôn ngữ này. Polly biết cách nịnh người bạn già nên đã chọn một quyển sách có nhắc tới Franklin.46
Nhưng rồi Benny đã rơi vào nỗi sợ hãi của một thiếu niên bị trầm cảm - có lẽ bởi vì Franklin cũng như Temple không bao giờ tới thăm cậu, và cậu cũng không bao giờ được đưa về Passy nghỉ. Phu nhân Cramer, người vẫn để mắt tới cậu, cho biết cậu trở nên nhút nhát và lười biếng. “Thằng bé có trái tim tuyệt vời, xúc cảm, lý trí và nghiêm túc nhưng lại không vui tươi, không có sức sống. Nó lạnh lùng, ít nhu cầu, ít tưởng tượng.” Cậu không chơi đánh bài, không gây lộn, không cho thấy dấu hiệu sẽ có lúc cậu phát lộ tài năng hay đam mê lớn nào. (Cô đã sai khi suy đoán như vậy, vì về sau, Benny đã trở thành một biên tập viên báo chí dám xông pha.) Khi cô gợi cho Benny nhớ lại cậu từng giật giải tiếng Latin và rõ ràng có khả năng làm một học sinh giỏi, “thằng bé trả lời lạnh lùng đó thuần túy là may mắn”, cô viết cho Franklin. Và khi cô đề nghị giúp cậu xin thêm tiền trợ cấp từ ông ngoại, cậu không tỏ ra có chút thích thú nào.
Cha mẹ cậu trở nên lo lắng. Richard Bache rụt rè đề nghị có lẽ Franklin nên thu xếp thời gian tới thăm Benny. “Chúng con sẽ rất vui nghe tin cha có lúc nào đủ rảnh rỗi để đến thăm thằng bé ở Geneva,” Bache viết và nhận xét “chuyến đi có thể tốt cho sức khỏe của cha”. Nhưng đó là một đề nghị nửa vời được đưa ra gần như vì hối lỗi. “Con ngờ rằng thời gian của cha luôn bận bịu với những việc trọng đại hơn”, anh vội nói thêm. Về phần cô, phu nhân Cramer đề nghị ít nhất ông cũng nên viết thư cho Benny thường xuyên hơn.47
Franklin không có thời gian đi Geneva, nhưng ông đã soạn cho cậu một bài luận mô phạm nhỏ, khẳng định giá trị của giáo dục và sự cần cù. Ông viết rằng những người học hành cần cù “luôn sống thoải mái trong những ngôi nhà đẹp” trong khi những kẻ lười biếng, bỏ bê trường lớp “thì nghèo khổ, bẩn thỉu, rách rưới, dốt nát, luẩn quẩn và sống trong những căn chòi, gác xép tồi tàn.” Franklin ưa bài giảng này tới mức ông sao một bản và gửi cho Sally. Cô thổ lộ: “Willy sẽ thuộc lòng nó.” Trái lại, Benny thậm chí còn không thông báo đã nhận được nó. Vì thế Franklin đã gửi cậu một bản sao khác và yêu cầu cậu dịch sang tiếng Pháp và gửi trở lại để chắc chắn cậu hiểu nó.48
Sau cùng, Benny tìm được một người bạn đưa cậu ra khỏi cơn mê: Samuel Johonnot, cháu một người bạn của Franklin ở Boston, mục sư Samuel Cooper. Là một cậu bé “hay làm loạn và kết bè phái”, cậu bị đuổi khỏi trường ở Passy, và Franklin đã thu xếp đưa cậu vào trường tư thục Geneva. Cậu là một học trò thông minh, đứng đầu lớp và thúc đẩy để Benny giành vị trí trang trọng thứ ba.
Ảnh hưởng của Johonnot tới Benny về mặt xã hội còn rõ ràng hơn nữa. Cậu bắt đầu phát triển thêm dòng máu nổi loạn của gia đình. Có lần, một con mèo cắn chết một con chuột lang thú cưng của hai đứa trẻ nên chúng quyết định sẽ giết bất cứ con mèo nào để trả thù - và chúng làm thật. Khi Benny đi khiêu vũ lần đầu, cậu căng thẳng đến độ thấy nhẹ nhõm khi một đám cháy bên kia phố khiến buổi khiêu vũ phải kết thúc đột ngột. Nhưng rồi cậu đi dự một buổi khiêu vũ khác và đến lần thứ ba thì đã hoàn toàn thoải mái. Cậu viết cho ông ngoại rằng giờ cậu đang vui vẻ, kể cho ông nghe về những chuyến đi săn bướm, hái nho và sau cùng mạnh dạn tỏ ý muốn xin thêm trợ cấp cùng một chiếc đồng hồ vàng. Cậu trấn an ông đó là một món quà thực tế và hứa sẽ giữ gìn nó cẩn thận.
Franklin đáp cùng một lối như với đề nghị của Sally về đăng ten và lông vũ: “Ta không đủ tiền để mua đồng hồ vàng cho trẻ con”, ông viết. “Cháu không nên vòi vĩnh từ ta những thứ đắt tiền, vốn ít hoặc không mấy hữu ích với cháu.” Ông cũng kinh hoàng khi cậu bé Johonnot xin phép cho cậu và Benny trở lại Paris. Điều này khiến ông ra một lời cảnh báo nghiêm khắc được gửi cho Johonnot nhưng nhắm đến cả hai cậu bé: “Đã đến lúc các cháu nghĩ tới việc xây dựng tính cách nam nhi vững chãi.”49
Mệnh lệnh này lẽ ra nên áp dụng với người cháu còn lại của ông, Temple. Cậu đã đến Pháp để tiếp tục việc học nhưng không ghi danh vào trường đại học nào mà cũng không theo khóa học nào. Temple đủ năng lực làm việc ở phái đoàn Mỹ, song cậu dành phần lớn thời gian săn bắn, cưỡi ngựa, tiệc tùng và theo đuổi phụ nữ. Vì muốn giúp cậu ổn định cuộc sống với một món hồi môn và một công việc, Franklin để xuất một cuộc hôn nhân giữa cháu trai tinh quái của ông và con gái lớn của Brillon, Cunégonde.
Điều này không có gì mới. Không thể sửa được tính thích mai mối dù chưa từng thành công, Franklin không ngừng cố gắng - thường với sự nửa nghiêm túc khôi hài - để gả con cháu ông cho con cháu những người bạn. Tuy nhiên, lần này ông thật sự nghiêm túc, đúng hơn là rền rĩ một cách chân thành. Lá thư đưa ra đề nghị chính thức của ông được viết bằng thứ tiếng Pháp vụng về chưa qua chỉnh sửa của bạn bè. Ông tuyên bố phu nhân Brillon như là con gái ông và bày tỏ mong muốn con gái cô cũng sẽ trở thành cháu ông. Ông nói rằng Temple, được nhà Brillon gọi là Franklinet, đã đồng ý với đề xuất này, nhất là sau khi Franklin hứa “ở lại Pháp cho đến ngày cuối cùng của đời mình” nếu hôn sự diễn ra. Sau khi lặp lại mong muốn có con cháu xung quanh để “vuốt mắt khi tôi nhắm mắt”, ông đi vào ca ngợi các đức tính của Temple: “không có tật xấu nào” và “có những thứ cần thiết để cuối cùng sẽ trở thành một người đàn ông danh giá.”
Đã biết rõ Temple, nhà Brillon không thể đồng ý với đánh giá đó. Họ chắc chắn không chấp nhận lời cầu hôn. Lý do chính họ đưa ra là Temple không theo Công giáo. Đó là điểm khởi đầu để Franklin - như ông thường làm trước đây - viết về sự cần thiết phải có lòng bao dung tôn giáo và rằng, ở cốt lõi, tất cả các tôn giáo đều có các nguyên tắc cơ bản như nhau. (Trong số năm điểm ông liệt kê ra trong thư có châm ngôn tôn giáo của chính ông hay được nhắc đến: “Cách phục vụ Thiên Chúa tốt nhất chính là làm điều thiện cho con người.”)
Trong thư hồi âm, phu nhân Brillon đồng ý rằng “chỉ có một tôn giáo và một đạo đức”. Tuy vậy, cô và chồng từ chối chấp thuận cuộc hôn nhân. “Chúng tôi cần phải tuân thủ tập quán của đất nước mình”, cô nói. Ông Brillon đã sắp nghỉ hưu và muốn một người con rể kế nghiệp ông ở vị trí nhà thầu thuế. “Vị trí này là thứ quan trọng nhất trong tất cả tài sản của chúng tôi”, cô viết và lờ đi việc cô thường than thở với Franklin rằng cô mắc kẹt trong một cuộc hôn nhân sắp xếp vì lý do tiền bạc. “Nó đòi hỏi một người hiểu biết luật phát và tập quán của nước chúng tôi và cùng tôn giáo với chúng tôi.”
Franklin nhận thấy sự phản đối của ông Brillon có lẽ bắt nguồn từ điều gì đó không đơn thuần là tôn giáo của Temple. “Có thể có những lý do khác mà ông ấy chưa nói với tôi và tôi không có quyền làm phiền ông ấy”, ông viết thư cho phu nhân Brillon. Về phần mình, suốt một năm dài, Temple bắt đầu chuỗi những mối quan hệ với những người phụ nữ thượng lưu và hạ lưu, trong đó có một nữ bá tước Pháp và một cô gái Ý, cho đến khi bất ngờ phải lòng, dù ngắn ngủi, cô con gái thứ của nhà Brillon, khi đó mới 15 tuổi. Lần này, ông Brillon dường như sẵn sàng chấp nhận việc liên minh và thậm chí đề nghị cả vấn đề công việc và hồi môn, song anh chàng Temple dễ thay lòng đã chuyển sang những người phụ nữ khác, trong đó có một người tình đã kết hôn. Mối tình đó rốt cuộc khiến cậu trở thành thế hệ thứ ba của nhà Franklin có con trai ngoài giá thú.50