Benjamin Franklin - Cuộc Đời Một Người Mỹ

Lượt đọc: 1832 | 4 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
người kiến tạo hòa bình paris, 1778-1785 đại sứ toàn quyền

Vào mùa hè năm 1778, một điều trở nên rõ ràng với ba ủy viên Mỹ là họ nên có một người phụ trách. Franklin nói với Quốc hội Lục địa rằng ba người họ không chỉ khó đồng tình về các chính sách mà giờ thậm chí còn khó làm việc dưới cùng mái nhà. Đến cả các phụ tá của họ còn cãi lộn nhau. Hơn nữa, Pháp đã chỉ định một vị đại sứ toàn quyền qua Mỹ và nghị định thư đòi hỏi tân quốc gia phải chỉ định một người đồng cấp để đáp lại. Arthur Lee tự đề cử mình và ủ mưu với các anh em trai để giành vị trí đó. John Adams thì khéo léo hơn: ông nói với bạn bè rằng bất chấp các lề thói làm việc và sự mềm mỏng với Pháp, Franklin vẫn là lựa chọn tối ưu. Dù không công khai vận động để có công việc này, nhưng vào tháng 7 năm 1778, Franklin mạnh mẽ đề nghị Quốc hội “tách chúng tôi ra”.

Chính phía Pháp đã vận động hành lang hộ Franklin. Họ tỏ rõ ông là người họ lựa chọn và Quốc hội đã thuận theo. Vào tháng Chín, với số phiếu là 12-1, ông được bầu làm đại sứ toàn quyền duy nhất. Bang không đồng ý là Pennsylvania, nơi các đối thủ của ông đặt câu hỏi về lòng trung thành của ông và cả Temple, con trai của một thống đốc trung thành với triều đình đang bị tống giam.1

Phải tới tháng 2 năm 1779, tin tức về việc bổ nhiệm của ông mới đến Paris, bởi chiến sự và mùa đông cản trở việc đi lại của tàu bè Mỹ.

Khi được tin, Arthur Lee phiền muộn và từ chối trao các tài liệu của anh ta cho Franklin. Về phần Adams, nhà viết tiểu sử của ông, David McCullough viết: “Sự sắp xếp mới đích xác là điều mà Adams đã đề xuất và tin tức ấy làm ông khổ sở hơn bao giờ hết.” Ông sớm rời bỏ Paris, ít nhất là tạm thời, để lên đường trở về Massachusetts.

Franklin đang phải chịu đựng chứng gout nên không thể lập tức trình thư giới thiệu mới của mình. Cuối tháng Ba, ông mới đến gặp nhà vua và các bộ trưởng của ngài. Lưu ý tới cảm giác đau đớn của Adams, Franklin cố gắng giữ mối quan hệ của họ thân mật. Ông viết một bức thư lịch sự và vui vẻ gửi Adams, trong đó mô tả các cuộc dạo chơi của mình tại Versailles và than rằng “nỗi khó nhọc này có phần quá sức với đôi chân của tôi và khiến tôi què quặt thêm gần một tuần nữa.” Trong thư hồi âm, Adams giữ bộ mặt hòa nhã, thậm chí còn tỏ ra ủng hộ lòng trung thành sâu sắc của Franklin đối với nước Pháp, cho dù ông hoài nghi sự khôn ngoan của việc trở nên quá gắn bó với họ. “Tôi rất vui khi ngài được triều đình tiếp đón ở cương vị mới và tin tưởng rằng ý kiến của ngài về thiện chí của triều đình này với nước Mỹ là công tâm”, ông nói.

Sự bình thản mong manh của Adams bị rung chuyển khi Franklin và phía Pháp quyết định trưng dụng con tàu lẽ ra sẽ đưa ông về nhà và sung nó vào hạm đội mà John Paul Jones lên kế hoạch dùng để chống lại quân Anh (sẽ được trình bày cụ thể dưới đây). Biết rõ Adams rất nóng lòng đợi ở cảng Nantes để khởi hành, Franklin rất hối lỗi. Ông thậm chí còn đề nghị Antoine de Sartine, Bộ trưởng Hải quân Pháp đầy quyền lực, viết thư giải thích về quyết định đó. Franklin hứa hẹn một con tàu khác sẽ có nhiệm vụ đưa Adams trở về sớm nhất có thể và Adams sẽ có dịp đi cùng vị tân đại sứ của Pháp được phái sang Mỹ.

Adams vờ như thông hiểu: “Không được phép ngăn trở dịch vụ công vì sự tiện lợi riêng của một cá nhân và vinh dự được đồng hành cùng ngài tân đại sứ sẽ bù đắp cho việc tôi không thể sớm trở về nhà.” Bày tỏ chút ít lịch sự giả tạo - thứ mà ông có tiếng là luôn thiếu - Adams thậm chí còn đi xa hơn khi để nghị Franklin “làm ơn giúp tôi gửi lời khen tới phu nhân Brillon và Helvétius, những quý bà có tính cách mà tôi hết sức ngưỡng mộ.”

Nhưng khi ngồi mặc tưởng lại tại cảng, Adams càng lúc càng trở nên cay đắng. Sau khi ăn tối với Jones, ông tuyên bố rằng vị thuyền trưởng là một kẻ “lập dị, bất thường” và trở nên giận dữ khi nghĩ Jones và Franklin đang tính toán để ông chậm chuyến về nhà. “Theo chỉ dụ, tôi sẽ phải chịu mọi trò hành xác”, ông viết trong nhật ký riêng. “Liệu tôi có thấy những kẻ đó khinh bỉ tôi hoặc có thấy họ kinh hãi tôi?” Như một sự tất yếu, ông bắt đầu gán những động cơ đen tối cho Franklin. Sôi sục tự ái, Adams bắt đầu ngờ rằng Franklin đang cản trở mình trở về vì sợ ông sẽ tiết lộ những sự thật nguy hiểm. “Liệu lão phù thủy già đó có sợ tiếng nói của tôi trong Quốc hội?” Adams viết trong nhật ký. “Ông ta có một số lý do, vì ông ta thường nghe thấy nó ở đó, tôi là nỗi kinh sợ với những kẻ làm việc xấu.”

Franklin vô tình quên mất những ngờ vực đen tối của Adams và vẫn cố thân mật trong các thư tín của ông. “Tôi sẽ trân trọng gửi lòng tôn kính của anh tới hai quý bà mà anh nhắc tới”, ông vui mừng hứa hẹn. Ông thậm chí còn đồng ý, sau ba lời đề nghị điếc tai từ Adams, rằng con tàu mới phải đi thẳng tới Boston - thay vì đi tới Philadelphia để tiện cho vị đại sứ Pháp. Nhưng việc đó vô ích. Những bóng ma bất tín đã nhiễm vào tâm trí Adams, và như định mệnh, chúng đã ám ảnh mối quan hệ của ông và Franklin khi ông trở lại vào năm sau.2

Trong khi Adams sục sôi, Arthur Lee cùng các huynh đệ của mình công khai tuyên bố cuộc chiến với Franklin ở Mỹ. Lee phát tán một lá thư buộc tội Franklin “thêu dệt các âm mưu nhỏ” và “gieo rắc sự chia rẽ nguy hại”, đồng thời anh ta đảm bảo để Quốc hội xem xét cơn mưa những lá thư buộc tội Franklin, đặt câu hỏi về danh dự của ông, điều mà Lee và Ralph Izard đã viết trước đây trong cùng năm đó.

Được con rể Richard Bache cảnh báo về các mưu toan đó, Franklin có thể dẹp được sự bất bình của anh em nhà Lee. Ông viết: “Uy danh quá lớn của ta khiến những quý ông bất hạnh đó đau đớn, bất hạnh trong tâm tính của họ và trong mụ mị; đó là những sự thống khổ không hề dễ chịu của đố kỵ, tức giận, hoài nghi, ghen tị và mạ lỵ.”

Tuy nhiên, ông còn thấy tổn thương hơn nhiều khi nghe Bache tường trình việc Lee và phe cánh của mình đang tấn công Temple, bởi ông yêu cháu trai mình với sự mù quáng khác với bản tính của ông. Bache viết: “Izard, nhà Lee và đồng bọn gây một số áp lực về việc cha thuê cháu trai làm thư ký riêng. Họ cho là điều đó không thể tin tưởng được vì những vấn đề căn bản về cha thằng bé.” Sau đó, anh nói thêm điểm xấu: “Họ có dự định đưa ra bản kiến nghị về việc loại bỏ nó.” Trong một thư riêng, Sally Bache tâm sự rằng chồng cô lo âu khi phải báo tin cho nhạc phụ về chiến dịch chống lại Temple bởi anh biết điều đó sẽ khiến ông buồn.

Hẳn là như vậy. “Có lẽ việc đó khá xứng đáng để cha cứu được một chàng trai trẻ có phẩm chất tốt thoát khỏi nguy cơ trở thành một đảng viên Bảo thủ,” ông viết cho Richard. Sau đó, khi nghĩ rằng Temple có thể bị triệu hồi, ông buông một tiếng kêu giận dữ:

Ta đã mất con trai mình, thế là quá đủ! Lẽ nào họ muốn thêm cháu trai ta nữa? Một ông già 70 tuổi như ta phải vượt biển giữa mùa đông theo chỉ thị của Quốc hội vì việc công và không có tùy tùng nào khác chăm lo cho ta. Ta vẫn ở đây, trên một đất nước xa lạ, nơi mà nếu lỡ ta nằm xuống, sự hiếu thảo ân cần của nó sẽ an ủi ta, và nếu ta chết đi, có một đứa trẻ vuốt mắt ta và lo cho di hài của ta.

Trong một lá thư gửi Sally cùng lúc đó, ông nhắc lại những cảm xúc ấy và nói thêm rằng nỗ lực giằng Temple ra khỏi ông là một điều tàn nhẫn nhưng vô ích. “Cha sẽ không rời bỏ thằng bé mà rời bỏ công việc này”, ông đe dọa. “Song cha tin tưởng rằng, dù những kẻ yếu đuối hay ác ý có thể đưa ra bất cứ thứ gì, Quốc hội cũng thừa khôn ngoan và tốt bụng để nghĩ tới việc đối xử với cha theo cách đó.” Thực tế, Quốc hội đã ủng hộ ông. Không có nỗ lực nghiêm túc nào để sa thải Temple: cậu vẫn là thư ký của phái đoàn Mỹ.3

Temple khi đó khoảng 19 tuổi, vẫn là một anh chàng tinh quái, tuy làm việc chăm chỉ nhưng ngoại trừ từ ông nội thì cậu giành được rất ít sự sủng ái sâu sắc. Khi có cuộc tranh cãi xoay quanh mình vào mùa hè năm 1779, Temple quyết định chứng tỏ dũng khí bằng việc tham gia một nhiệm vụ táo bạo cùng Lafayette: tung một đòn tấn công bất ngờ vào nước Anh.

Viên tướng người Pháp này hơn Temple gần 13 tuổi, anh vừa mới trở về sau khi phục vụ trong quân đội của George Washington. Vào lúc đó, cuộc Cánh mạng đã rơi vào một tình thế bế tắc cheo neo, các đoàn quân Anh dưới quyền Ngài Henry Clinton vẫn ẩn mình ở New York, nhưng tạm thời hầu như không làm được gì ngoài tiến hành những cuộc tấn công du kích. Vì thế, khi trở về Paris, Lafayette đã nung nấu kế hoạch táo bạo - tấn công nước Anh - và chia sẻ nó với Franklin và quân đội Pháp. “Ta rất ngưỡng mộ sự mau mắn trong tài năng của anh”, Franklin viết. “Chắc chắn bờ biển Anh và Scotland cực kỳ bỏ ngỏ và không phòng bị.” Ông thú nhận mình không hiểu rõ về chiến lược quân sự để “tự phụ khuyên anh làm việc đó”. Song, ông có thể đưa ra lời khích lệ. “Nhiều dẫn chứng lịch sử đã chứng minh rằng trong chiến tranh, các nỗ lực bị cho là bất khả thi, chính bởi lý do đó, thường trở nên khả thi và thực tế vì không ai kỳ vọng chúng xảy ra.”

Lafayette háo hức khi có Temple đứng về phía mình. “Chúng ta sẽ luôn ở cạnh nhau trong chiến dịch này, điều mà tôi đảm bảo rằng cậu sẽ đem lại cho tôi sự hài lòng rất lớn,” anh viết cho chàng trai trẻ. Về phần mình, vốn luôn là một gã công tử, Temple lo lắng về cấp bậc, danh hiệu, nhiệm vụ và đồng phục. Cậu muốn được trao nhiệm vụ của một sĩ quan chứ không chỉ là một người tình nguyện và cậu nhất định đòi quyền đeo lon sĩ quan, dù Lafayette khuyên rằng không nên. Khi những vấn đề này được giải quyết, việc xâm lấn Anh bị quân đội Pháp huỷ bỏ.

Franklin tỏ rõ sự thất vọng. “Ta tự huyễn hoặc mình rằng thằng bé có thể học được ở anh chút ít cách hành xử có duyên, khiến anh luôn đem lại niềm hân hoan lớn cho tất cả những ai biết anh”, ông viết cho Lafayette. Một lần nữa, cơ hội để Temple tự tạo dựng tên tuổi cho bản thân đã chìm nghỉm.4

JOHN PAUL JONES

Một phần kế hoạch xâm lấn nước Anh vẫn được tiến hành và nó thêm vào cuộc đời Franklin một nét tính cách nhiều màu sắc. Khi Lafayette đang lên kế hoạch lần đầu cho nhiệm vụ của mình, Franklin nói với anh rằng “nó sẽ phụ thuộc nhiều vào một vị chỉ huy hải quân gan dạ và thận trọng, biết rõ vùng bờ biển.” Thay vào đó, họ chọn một chỉ huy mà như Franklin đã biết, gan dạ nhiều hơn là thận trọng: John Paul Jones.*

Với tên khai sinh là John Paul, con trai của một người thiết kế cảnh trí người Scotland, anh đã lên tàu ra khơi từ tuổi 13, là thuyền phó thứ nhất trên một tàu chở nô lệ và sớm chỉ huy chiếc tàu buôn của riêng mình. Song, vị thuyền trưởng có cái đầu nóng này, người mà trong toàn bộ sự nghiệp rất hay khiêu khích sự thù địch, đã gặp rắc rối vì phạt roi một thành viên thủy thủ đoàn, người sau đó đã chết. Sau khi được xá tội, anh lại xuyên kiếm qua một thành viên thủy thủ đoàn khác khi hắn dọa nổi loạn. Vì thế, anh lánh tới Virginia, đổi họ của mình thành Jones và từ đầu cuộc Cách mạng đã giành được một chân trong hải quân hỗn tạp của nước Mỹ, gồm các tàu lùng và tàu thám hiểm cũ. Năm 1778, anh nổi tiếng nhờ tiến hành các cuộc tấn công táo bạo dọc bờ biển Anh và Scotland.

Trong một cuộc đột kích như thế, Jones quyết định bắt cóc một bá tước Scotland, song ông ta đang đi tắm nước nóng ở Bath không có nhà, vì thế thủy thủ đoàn ép bà vợ ông ta trao lại số bạc của gia đình. Cảm thấy tội lỗi, Jones quyết định chuộc lại số chiến lợi phẩm từ thủy thủ đoàn để trả lại cho họ và viết một lá thư văn vẻ cho vị bá tước, tuyên bố ý định của mình, rồi gửi bản sao của lá thư đó cho nhiều bạn hữu, trong đó có Franklin. Khi đó, ông đang đảm nhận nhiệm vụ khó khăn: đóng vai trò là giám sát viên người Mỹ của anh, đôi lúc cho anh tá túc ở Passy. Franklin đã cố gắng giúp Jones giải quyết vấn để, nhưng nó dẫn tới một sự trao đổi thư tín rối rắm với vị bá tước giận dữ và người vợ bối rối của ông ta, đến mức số bạc không được trả lại cho đến tận cuối cuộc chiến.

Franklin tin vị thuyền trưởng nóng nảy này sẽ làm lợi nhiều hơn - hoặc bớt gây hại đi - nếu thay vào đó, anh ta tập trung tập kích vào Quần đảo Channel. “Những chiếc tàu lùng ở Jersey luôn trêu ngươi chúng ta”, ông viết thư cho Jones vào tháng 5 năm 1778. “Người ta đã nói với ta rằng, chiếc tàu nhỏ của anh, vốn được một sĩ quan gan dạ chỉ huy, có thể thực hiện nhiệm vụ cao cả nếu đuổi theo chúng ở những nơi mà các tàu lớn không dám liều lĩnh.” Ông nói thêm gợi ý đó đến từ nơi có thẩm quyền cấp cao, hàm ý Bộ trưởng Hải quân Pháp vĩ đại, Antoine Sartine.5

Vốn không dễ sai bảo, Jones đáp rằng con tàu Ranger của anh quá “quái gở và chậm chạp”. Anh đòi hỏi lời hứa hẹn thưởng lớn để thuyết phục lính của mình nhận thêm nhiệm vụ. Tuy nhiên, anh biết nịnh nọt Franklin bằng cách gửi cho ông một bản sao của nhật ký chiến trận - chúng được Franklin đọc say sưa. Vì thế, dù không được phép của các ủy viên tương nhiệm bên Pháp, Franklin quyết định rằng nên giao cho Jones quyền chỉ huy một chiếc tàu mới đóng cho quân đội Mỹ ở Amsterdam. Tiếc là những người Hà Lan sốt sắng, vốn cô gắng giữ trung lập, đã cho kế hoạch này chìm xuồng, nhất là sau khi người Anh biết thông tin qua điệp viên Bancroft và gây áp lực.

Vào tháng 2 năm 1779, Franklin cuối cùng cũng có thể giúp bảo trợ cho Jones một tàu chiến 40 súng cũ tên là Duras. Anh nhanh nhảu đặt lại tên rửa tội cho nó là Chàng Richard để vinh danh người bảo trợ. Jones cảm động đến mức anh tới thăm Passy vào tháng đó để cảm tạ Franklin và chủ nhà Chaumont - người giúp cung cấp đồng phục và kinh phí cho Jones. Dường như có một lý do khác cho cuộc viếng thăm này: Jones có lẽ đang lén lút qua lại với phu nhân Chaumont.6

Trong thời gian này, có một sự việc xảy ra. Khi được làm rõ trong các bức thư tiếp sau, nó giống như một trò hề kiểu Pháp. Vợ người làm vườn của nhà Chaumont, một bà già nhăn nheo, buộc tội Jones định hãm hiếp bà ta. Franklin ám chỉ thoáng qua về cáo buộc ấy trong đoạn tái bút của một lá thư sau đó, nhưng Jones lại lầm tưởng rằng “bí mật mà ngài tinh tế nhắc đến” liên quan tới các tranh luận quanh việc anh giết viên thủy thủ nổi loạn mấy năm trước. Vì thế, Jones đã đưa ra một bài tường thuật dài và đau khổ về sự việc đau lòng cũ.

Bối rối và có phần thích thú với lời giải thích chi tiết của Jones về việc đâm kẻ làm loạn, Franklin đáp rằng ông chưa bao giờ nghe câu chuyện đó và báo cho anh biết “bí mật” ông ám chỉ liên quan tới cáo buộc của vợ người làm vườn rằng Jones đã “cố gắng cưỡng dâm bà ta” trong bụi cây của dinh thự vào “khoảng bảy giờ tối trước khi anh khởi hành”. Người đàn bà đã thuật lại nỗi kinh hoàng hết sức chi tiết, “một số điều trong đó không thích hợp để tôi viết lại”. Ba con trai của bà ta tuyên bố, họ quyết tâm giết chết anh. Song Jones không nên lo sợ: mọi người ở Passy xem câu chuyện đó là đề tài để đùa cợt. Nó “gây ra tràng cười lớn”, Franklin viết, “bà già đó là kẻ thô lậu, lỗ mãng, bẩn thỉu và xấu xí nhất ta có thể tìm thấy trong một ngàn người”. Việc quen với nỗi đói khát tình dục của Jones vẫn không đủ để ngăn phu nhân Chaumont đưa ra một tuyên bố vô tư đậm chất Pháp: “nó cho thấy rõ sức mạnh của lòng khao khát cũng như lòng can đảm của người Mỹ”.

Franklin trấn an Jones rằng cuối cùng họ đều kết luận đó chắc hẳn là một sự nhầm lẫn về nhân dạng. Như một phần của lễ mừng ngày Thứ Ba Béo*, hẳn là một cô hầu phòng đã mặc một bộ đồng phục của anh và họ suy đoán cô ta tấn công vợ của người làm vườn như một trò đùa. Điều bất hợp lý là người đàn bà này, dù dưới ánh sáng lờ mờ khi trời nhá nhem tối, đâu có thể dễ bị lừa như thế - ngay cả ông bạn kịch sĩ Beaumarchais của họ cũng không dám đưa một cảnh hãm hiếp tráo đổi quần áo như thế vào vở Đám cưới của Figaro. Song lời giải thích ấy đủ thỏa mãn để sự việc thôi được nhắc lại trong các thư sau.7

Những điều này xảy ra ngay khi Franklin đang giúp lên kế hoạch đề xuất Jones và Lafayette tiến hành lén tấn công nước Anh. Cả hai đã đến Passy và bỏ hàng giờ thận trọng đánh giá lẫn nhau dưới con mắt lo âu của Franklin. Cả hai viên sĩ quan đều tự cao nên họ sớm cãi lộn về các việc lớn nhỏ, từ chuyện ai sẽ phụ trách về hàng loạt sự vụ của cuộc xâm chiếm, cho đến việc lính của họ có ăn cùng bàn không. Để xoa dịu Jones, Franklin cố gắng vận dụng cách gián tiếp nhất. “Người ta thấy là các cuộc phạt chinh kết hợp giữa các lực lượng trên bộ và trên biển dễ thất bại bởi sự đố kỵ và hiểu lầm giữa sĩ quan của các binh chủng khác nhau”, ông chỉ ra. Tiếp theo, Franklin nói thêm, gần như trái với cảm nhận thật sự của ông: “Vì biết cả hai anh và lối suy nghĩ công tâm của các anh trong những trường hợp thế này, ta tin một điều như thế sẽ không thể xảy đến với các anh.” Song Franklin nói rõ rằng ông lo ngại dù rất cảm thông với tính khí của Jones. “Cư xử bình tĩnh và cẩn trọng là điều cần thiết”, ông cảnh báo. Anh phải nhớ rằng Lafayette là sĩ quan có cấp bậc và đó sẽ là “một thử thách với năng lực và sự phù hợp về mặt khí chất và tính tình của anh khi phải hành động hài hòa với người khác.”

Trong các chỉ thị chính thức dành cho Jones, Franklin thậm chí còn rõ ràng hơn khi yêu cầu anh phải kiềm chế, nhất là xét đến việc thủy thủ của anh trước đây từng bòn rút của cải của viên bá tước Scotland. “Dù người Anh đã thiêu rụi bừa bãi nhiều thành phố không được phòng bị ở Mỹ, anh không được theo gương này trừ phi họ từ chối một khoản tiền chuộc hợp lý; trong trường hợp đó sự hào hiệp của anh cũng như chỉ thị này sẽ hướng dẫn anh đưa ra thông báo kịp thời về ý định của mình để những người già cả, ốm yếu, phụ nữ và trẻ nhỏ được sơ tán đầu tiên.” Jones đáp: “Các chỉ thị tự do và cao quý của ngài sẽ khiến một kẻ hèn nhát trở nên can đảm.”8

Khi phần nhiệm vụ của Lafayette bị hủy, Franklin và người Pháp quyết định rằng Jones nên tiếp tục thực hiện một cuộc tập kích hải quân thuần túy vào tháng 9 năm 1779. Nó dẫn tới cuộc hải chiến hoang đường giữa Chàng Richard và con tàu Serapis được trang bị tốt hơn hẳn. Khi thuyền trưởng Anh buộc anh đầu hàng sau một đợt phản công dữ dội, ít nhất theo huyền thoại, Jones đã đáp rằng: “Ta vẫn chưa bắt đầu đánh!” Như Jones thuật lại chi tiết và sống động với Franklin về trận chiến: “Tôi trả lời ông ta bằng sự chối bỏ xác quyết nhất.”

Trong một con lạch nhỏ chết chóc, Jones tìm cách cột chàng Richard vào tàu Serapis, rồi lính của anh leo lên các cột buồm để ném lựu đạn vào kho vũ khí của tàu kẻ địch. Sau một trận chiến dài ba giờ, với phân nửa trong số 300 thành viên thủy thủ đoàn của anh đã chết hoặc bị thương, Jones giành được quyền điều khiển Serapis ngay trước khi Chàng Richard chìm. “Cảnh tượng đáng sợ ngoài sức mô tả của ngôn từ”, anh viết cho Franklin. “Nhân loại không thể không nhảy dựng lên và than rằng sao chiến tranh lại có thể gây ra những hậu quả chết chóc đến thế.”

Franklin rất tự hào về chiến thắng của Jones, họ thậm chí trở thành bạn thân hơn nữa. “Hầu như không có điều gì đề bàn tán ở Paris và Versailles ngoài hành động bình tĩnh và sự can đảm bền bỉ của anh trong trận chiến kinh hoàng đó”, ông đáp lời. Franklin đã giúp giới thiệu Jones, người khao khát có được sự kính trọng về mặt xã hội, vào Hội quán Tam Điểm Chín Chị Em và đi cùng anh khi khải hoàn vào chầu vua ở cung điện Versailles. Ông thậm chí còn sa vào các tranh cãi dài dòng, cay đắng giữa Jones với kẻ bất mãn Pierre Landais - thuyền trưởng tàu Liên minh - vốn là một thành viên trong hạm đội của Jones. Landais không chịu đến tiếp cứu trong trận đánh với tàu Serapis thực tế đã bắn vào Chàng Richard. Suốt hai năm sau đó, Franklin và Jones chống lại Landais, kẻ được Arthur Lee hậu thuẫn, về việc ai là thuyền trưởng của tàu Liên minh. Cuối cùng, Landais chiếm dụng con tàu và giương buồm bỏ trốn, Franklin khi ấy bị bao vây nên quyết định nên để người khác giải quyết việc đó. Ở Pháp, ông còn có những việc khác phải giải quyết.9

NGƯỜI BẠN CỦA TRIỀU ĐÌNH

Sự vắng mặt của John Adams ở Paris - điều khiến cả Franklin và triều đình Pháp đều hài lòng - không kéo dài bao lâu. Ông đã bỏ đi trong một tâm trạng thậm chí còn cay đắng hơn thường lệ sau khi Franklin được cử làm đại sứ duy nhất tại Pháp; song ông chỉ ở nhà được ít tháng vì Quốc hội quyết định phái ông trở lại Paris. Nhiệm vụ mới mà ông chính thức được giao là đàm phán một hiệp ước hòa bình với nước Anh - nếukhi thời cơ chín muồi. Vì thực tế hiện tại vẫn chưa phải lúc cho những cuộc thương thảo đó, Adams tự hài lòng với việc can thiệp vào nhiệm vụ của Franklin.

Điều này hoàn toàn khiến bộ trưởng ngoại giao Pháp Vergennes nổi giận. Khi tới Paris vào tháng 2 năm 1780, Adams công khai đề xuất thẩm quyền đàm phán với Anh của ông, Vergennes nhắc lại lời hứa của phía Mỹ rằng họ sẽ không hành động độc lập với Pháp. Adams không nên nói hay làm gì. Vergennes nghiêm khắc chỉ thị: “Trên hết, cần cẩn trọng để mục tiêu của sứ mệnh của ông không lọt vào tai triều đình Anh ở London.”10

Franklin cũng tức giận. Sự trở lại của Adams đe dọa phá hỏng công khai khẩn của ông với triều đình Pháp và nhắc ông nhớ tới những đòn công kích vào thanh danh của ông tại Quốc hội do Adams và phe cánh của nhà Lee tiến hành. Với tâm trạng tư lự, ông viết cho Washington một lá thư lấy cớ để khẳng định thanh danh của vị tướng nhưng rõ ràng phản ánh nỗi lo âu của ông về chính mình. “Tôi cần sớm từ bỏ cảnh này” - Franklin viết theo một lối nội tâm bất thường, không nhắc đến vị trí của ông ở Pháp mà là cuộc đời của ông trên thế giới này. Ông nói, ở Pháp uy danh lừng lẫy của Washington “không bị các mảng tối nhỏ của sự ghen ghét và đố kỵ mà các đồng bào và người cùng thời cố gắng phủ lên một bậc anh tài còn sống.” Rõ ràng, ông đang cố trấn an cả Washington và bản thân ông rằng lịch sử sẽ lãng quên “tiếng nói yếu ớt của những sự phẫn nộ thấp hèn đó”.11

Cụ thể hơn, Franklin tìm cách giải thích với bản thân ông, với các bạn bè (cũng như với lịch sử), tại sao Adams chứ không phải ông lại được chọn để thương thảo về một cơ hội hòa bình với nước Anh. Ngay khi Adams sắp qua, Franklin viết một lá thư cho người bạn cũ của ông, David Hartley, một nghị sĩ Quốc hội Anh. Trước đây hai người từng thảo luận về việc trao đổi tù binh và người do thám hòa bình. Hartley đề xuất một lệnh ngừng bắn mười năm giữa Anh và Mỹ. Franklin đáp rằng ý kiến riêng của ông là một lệnh ngừng bắn có thể có ý nghĩa song lưu ý rằng “cả tôi và ngài hiện đều không được ủy thác” đàm phán các vấn đề đó.

Thẩm quyền đó giờ thuộc về Adams và Franklin đưa ra ý kiến của chính mình về lựa chọn của Quốc hội: “Nếu Quốc hội đã phó thác cho người khác chứ không phải tôi để tiến hành đàm phán hòa bình khi việc đó khởi sự, như tôi được thông báo, thì có lẽ là bởi họ đã biết được một tư duy rất mới của tôi. Tôi cho là hầu như chưa từng tồn tại cái gọi là hòa bình xấu hoặc chiến tranh tốt. Có thể vì thế họ nghĩ rằng tôi dễ dàng bị dụ dỗ đưa ra các nhượng bộ không phù hợp.”12

Thực tế, Franklin thường dùng cách nói không có cái gọi là một nền hòa bình xấu hay một cuộc chiến tranh tốt và đã lặp lại nó với hàng chục bạn bè sau khi Cách mạng chấm dứt. Đôi khi nó được xem như một khẩu hiệu phản chiến để xếp Franklin vào hàng ngũ các nhà yêu chuộng hòa bình đáng kính trong lịch sử. Nhưng điều đó dễ gây hiểu lầm. Suốt đời mình, Franklin ủng hộ các cuộc chiến khi ông cảm thấy chúng được đảm bảo. Ông đã giúp lập đội dân quân ở Philadelphia và quyên góp quân nhu cho cuộc chiến với Pháp và người Anh-điêng. Dù lúc đầu ông nỗ lực để ngăn chặn Cách mạng, ông đã ủng hộ nó mạnh mẽ khi nhận thấy giành độc lập là việc không tránh khỏi. Các tình cảm trong thư của ông hướng đến cả Hartley lẫn lịch sử. Ông muốn lý giải tại sao mình không được chọn làm người đàm phán vì hòa bình. Có lẽ mưu mô hơn, ông muốn để bạn bè ở Anh biết rằng rốt cuộc ông có thể cung cấp một kênh tốt, hơn cả Adams, nếu những cuộc thương thảo bắt đầu.13

Cùng lúc đó, Franklin nhiệt thành tuân thủ liên minh với Pháp hơn hầu hết các đồng nghiệp Mỹ của ông. Điều này dẫn đến sự rạn nứt công khai lớn với Adams sau khi ông trở lại vào đầu năm 1780. Trước đó, căng thẳng giữa hai người chủ yếu xuất phát từ sự khác biệt về cá tính và phong cách song giờ đây nó có căn nguyên là sự bất đồng căn bản về chính sách: nước Mỹ có nên bày tỏ sự biết ơn, phục tùng và trung thành với nước Pháp.

Trong những ngày đầu Cách mạng, cả hai người đều chia sẻ một quan điểm có phần hơi biệt lập và ngoại lệ, một quan điểm từ đó đã trở thành sợi chỉ xuyên suốt lịch sử nước Mỹ: đất nước này không bao giờ nên là kẻ đi nài nỉ tìm kiếm sự hỗ trợ từ các quốc gia khác, nó nên rụt rè và thận trọng về việc tham gia vào các liên minh rối rắm với nước ngoài. Kể cả sau khi ông bắt đầu có tình cảm với nước Pháp kể từ năm 1777, Franklin vẫn nhắc lại nguyên tắc này. “Tôi vẫn chưa thay đổi ý kiến mình từng đưa ra trước Quốc hội rằng, một đất nước trinh khiết cần giữ gìn sự trinh khiết đó chứ không nên chạy quanh để cầu cạnh việc liên minh”, ông trấn an Arthur Lee. Trong cuộc đàm phán liên minh với Pháp, ông phản đối thành công việc đưa ra bất cứ nhượng bộ nào có thể đem lại cho Pháp sự độc quyền về thương mại hay các ưu huệ với Mỹ.

Tuy vậy, khi các hiệp ước được ký vào đầu năm 1778, Franklin trở nên tin tưởng mạnh mẽ vào việc tỏ lòng biết ơn và trung thành. Theo sử gia ngoại giao Gerald Stourzh ông “ca tụng sự nghĩa hiệp và hào phóng của Pháp bằng các từ ngữ mà nhiều khi chớm chạm tới sự kỳ cục”. Theo quan điểm của Franklin, sự trung thành của Mỹ với Pháp dựa trên cả chủ nghĩa hiện thực và lý tưởng. Ông diễn tả nó bằng các thuật ngữ đạo đức hơn là tính toán lạnh lùng thuần túy về lợi ích thương mại và cán cân quyền lực ở châu Âu. “Đây là một đất nước thật sự hào hiệp. Họ yêu thích vinh quang và đặc biệt bảo vệ những ai bị áp bức”, ông tuyên bố về Pháp trong lá thư gửi Quốc hội. “Nói với họ rằng thương mại của họ sẽ hưởng lợi nhờ thành công của chúng ta và họ có lợi khi giúp đỡ chúng ta thật không khác gì nói rằng ‘hãy giúp chúng tôi đi rồi chúng tôi sẽ không chịu ơn các vị’. Ngôn từ thiếu thận trọng và không phù hợp đó đôi lúc đã bị chính một số người của chúng ta ở đây sử dụng và nó chẳng đem lại lợi ích gì.”14

Trái lại, Adams có phần là một người lạnh lùng, thực tế hơn. Ông cảm thấy rằng Pháp đã ủng hộ Mỹ vì lợi ích quốc gia của chính họ: làm suy yếu Anh, giành được một quan hệ thương mại dễ sinh lợi mới; do đó hai bên không nợ nhau bất cứ sự hàm ơn về đạo đức nào. Ông tiên đoán chính xác, Pháp sẽ chỉ giúp Mỹ tới một điểm nhất định - họ muốn quốc gia mới này cắt đứt với Anh nhưng không trở nên quá mạnh, đến mức không còn cần sự ủng hộ của họ nữa. Adams cảm thấy Franklin thể hiện sự khúm núm quá mức với triều đình và trong lần trở về năm 1780 ông mạnh mẽ bày tỏ quan điểm này. Ông viết cho Quốc hội vào tháng Tư: “Chúng ta phải thận trọng với việc phóng đại suy nghĩ và cách thể hiện về sự hào hiệp và đại lượng của bất cứ cường quốc nào.”

Không có gì bất ngờ khi Vergennes chỉ muốn thương lượng với Franklin. Vào cuối tháng 7 năm 1780, ông đã trao đổi thư tín đủ căng thẳng với Adams về mọi thứ, từ định giá lại đồng tiền của Mỹ cho đến khai triển hải quân Pháp, đến mức ông cho là mình đúng khi gửi cho Adams một lá thư châm chích vừa có tính ngoại giao nghiêm túc, lại vừa có tính phi ngoại giao. Thay mặt triều đình Louis XVI, ông tuyên bố: “Nhà vua không cần mấy lời xúi giục của ngài để hướng sự chú ý của ngài đến các lợi ích của nước Mỹ.” Nói cách khác, Pháp sẽ không thương thảo với Adams nữa.15

Vergennes thông báo cho Franklin về quyết định này và gửi cho ông bản sao toàn bộ các thư từ gắt gỏng của Adams và đề nghị Franklin hãy “đưa tất cả ra trước Quốc hội”. Trong thư hồi âm, Franklin thẳng thắn quá mức với Vergennes, thực sự đến mức nguy hiểm, khi tiết lộ sự bất bình của chính ông với Adams. “Việc anh ta làm ngài mất vui như vậy xuất phát từ sự thiếu suy nghĩ của riêng anh ta, chứ không phải từ bất cứ chỉ thị nào mà anh ta nhận được.” Franklin tiếp tục công khai tách ông khỏi các hoạt động của Adams. “Anh ta chưa bao giờ báo cáo với tôi về công việc của mình ở châu Âu, trừ những gì tôi đọc trên báo”, Franklin nói với Vergennes. “Tôi cư xử với anh ta dựa trên sự lịch thiệp chứ không thân mật.” Ông kết luận bằng việc hứa gửi cho Quốc hội các thư tín xúc phạm của Adams mà Vergennes đã cung cấp.

Dù Franklin có thể và có lẽ nên gửi những lá thư ấy đi mà không bình luận gì, ông đã nhân cơ hội này viết một lá thư riêng (“với sự miễn cưỡng”) cho Quốc hội, nêu chi tiết các bất đồng của ông với Adams. Mâu thuẫn giữa họ một phần là vì sự khác biệt về phong cách. Adams tin vào việc khẳng định thẳng thừng quyền lợi của nước Mỹ, còn Franklin ủng hộ sự tín phục và quyến rũ về ngoại giao. Song mâu thuẫn cũng bắt nguồn từ sự khác biệt căn bản về triết lý. Adams nghĩ chính sách ngoại giao của Mỹ nên dựa trên chủ nghĩa hiện thực; trong khi Franklin tin rằng nó nên bao gồm cả yếu tố lý tưởng - đó vừa là nghĩa vụ đạo đức, vừa là một phần lợi lích quốc gia của Mỹ. Ông đã viết trong thư như sau:

Như ông Adams nói riêng với tôi, ông ấy cho rằng nước Mỹ đã quá tự do trong khi bày tỏ sự biết ơn với nước Pháp bởi nước này chịu ơn nước ta nhiều hơn là ngược lại; và rằng chúng ta nên thể hiện tinh thần trong các thỉnh cầu của mình. Tôi thấy rõ ông ấy đã nhầm lẫn về cơ bản và triều đình này cần phải được đối xử bằng lễ nghi và sự tinh tế. Tôi tin rằng nhà vua, vốn là một hoàng tử trẻ và có phẩm giá, tìm thấy niềm vui trong việc phản ánh sự từ bi quảng đại của hành vi khi tương trợ một dân tộc bị áp bức và xem đó là một phần vinh quang đối với vương triều của ngài. Tôi nghĩ thật đúng đắn khi chúng ta gia tăng niềm vui đó bằng việc bày tỏ lòng biết ơn; và sự bày tỏ lòng biết ơn như thế không phải nghĩa vụ mà là quyền lợi của chúng ta.16

Khi người Anh chưa sẵn lòng thương thảo với ông và người Pháp thì không còn muốn thương thảo với ông, Adams lại một lần nữa ôm mối uất hận rời Paris. Một lần nữa Franklin lại cố gắng giữ cho các bất đồng của họ khỏi trở thành vấn đề cá nhân. Adams đến Hà Lan để cố gắng kiếm một khoản nợ cho nước Mỹ. Franklin viết thư cho Adams và động lòng trước sự khó khăn của nhiệm vụ đó. Ông nói: “Từ lâu tôi đã bị nhạo báng với suy nghĩ về việc chúng ta chạy từ triều đình này sang triều đình khác đề cầu xin tiền bạc và tình bạn.” Và trong một lá thư sau đó, than phiền về việc mất quá nhiều thời gian để phía Pháp trả lời các đề nghị của chính ông, Franklin khôi hài viết cho Adams: “Tuy nhiên, tôi có cả hai ân sủng của một Ki-tô hữu - đức tin và hy vọng. Nhưng đức tin của tôi chỉ là thứ được tông đồ nói đến, còn bằng chứng của sự việc thì không thấy.” Ông nói thêm, nếu những nỗ lực chung đổ bể, “tôi sẽ sẵn sàng phá bỏ, chạy trốn hoặc vào tù với anh, vì điều đó sẽ làm Chúa vui lòng.”17

Việc nước Mỹ cần thêm tiền thực tế đã trở nên rất vô vọng vào cuối năm 1780. Đầu năm đó, viên chỉ huy người Anh, Ngài Henry Clinton, đã xuôi từ New York hướng về phía nam để cùng với phó tướng Cornwallis tung đòn tấn công vào Charleston, Nam Carolina. Thành công đến vào tháng Năm và Cornwallis thiết lập một bộ tư lệnh Anh ở đây sau khi Clinton trở về New York. Cũng trong mùa hè này, viên tướng Mỹ bất an Benedict Arnold đã trở cờ theo một cách khiến tên ông ta đồng nghĩa với phản bội. “Tình thế hiện tại”, Washington viết thư cho Franklin vào tháng Mười năm đó, “khiến một trong hai thứ sau đây thiết yếu với chúng ta: một nền hòa bình, hoặc sự hỗ trợ mạnh mẽ nhất từ các đồng minh, đặc biệt về vấn đề tiền bạc.”

Bởi vậy, trong đề nghị của ông gửi tới Vergennes vào tháng 2 năm 1781, Franklin đã sử dụng hết mưu chước của mình - sự biện hộ cá nhân pha trộn với lời khẩn cầu về chủ nghĩa lý tưởng và lợi ích quốc gia. “Tôi ngày một già cả”, ông nói và bổ sung rằng sự ốm yếu khiến ông có khả năng sẽ sớm nghỉ hưu. “Tình cảnh hiện nay rất nguy kịch.” Nếu nguồn tiền bổ sung không đến sớm, Quốc hội có thể mất đi ảnh hưởng và chính quyền mới sẽ chết yểu, còn Anh sẽ tái lập quyền kiểm soát với Mỹ. Ông cảnh báo điều đó sẽ làm nghiêng cán cân quyền lực theo hướng “đưa họ trở thành hung thần của châu Âu và tự do thực hiện đường lối xấc xược vốn rất tự nhiên với nước họ.”18

Đề nghị của ông thật táo bạo: 25 triệu livre.* Cuối cùng, Pháp đồng ý cấp 6 triệu, đây là một chiến thắng lớn đối với Franklin. Số tiền đó đủ để cứu sống hy vọng của người Mỹ.

Tuy vậy, Franklin đã nản chí. Ở quê nhà, kẻ thù của ông vẫn hằn học như xưa. “Sự cứu vớt nước Mỹ về chính trị phụ thuộc vào việc triệu hồi Tiến sĩ Franklin”, Ralph Izard viết thư cho Richard Lee. Kể cả Vergennes cũng bày tỏ một số hoài nghi và chúng cũng đến tai Quốc hội Lục địa. Ông viết cho vị đại sứ ở Philadelphia: “Dù đánh giá cao ông Franklin, tôi buộc phải thừa nhận rằng tuổi tác và sự ưa thích yên ổn của ông ấy tạo ra một sự thờ ơ không thích hợp với các nhiệm vụ mà ông ấy phụ trách.” Izard, được phe Lee và Adams hậu thuẫn, đã thúc đẩy một cuộc bỏ phiếu về vấn đề triệu hồi. Dù ông dễ dàng vượt qua, Quốc hội vẫn quyết định phái một đặc vụ để tiếp quản việc xử lý các giao dịch tài chính trong tương lai.

Vì thế, vào tháng Ba, sau khi nhận được tin về khoản tiền cho vay mới của Pháp, Franklin đã báo cho Quốc hội biết ông sẵn sàng từ chức. “Tôi đã qua tuổi 75”, ông viết và nói thêm mình đang chịu sự hành hạ của bệnh gout và sức khỏe yếu. “Tôi không hề biết năng lực tinh thần của mình đã suy yếu, có lẽ tôi là người sau cùng nhận ra điều đó.” Ở chốn quan trường đã 40 năm, ông đã nhận được “vinh dự đủ để thỏa mãn bất cứ tham vọng hợp lý nào và tôi không còn tham vọng gì khác ngoài việc được nghỉ ngơi, điều tôi mong sẽ được Quốc hội chấp thuận.”

Ông kết lại bằng một đề nghị cá nhân: mong các nghị sĩ tìm một công việc cho Temple, cháu trai ông, người đã từ chối cơ hội học luật để có thể phục vụ đất nước mình ở Paris. “Nếu họ nghĩ việc tuyển mộ nó làm thư ký cho một vị đại sứ ở bất cứ triều đình nào tại châu Âu, tôi tin họ sẽ có lý do để hài lòng với hành xử của nó và tôi sẽ biết ơn vì đã bổ nhiệm nó như một sự tri ân với tôi.”20

ỦY VIÊN HÒA BÌNH

Quốc hội bãi đơn xin từ chức của Franklin. Thay vào đó, như một bất ngờ dễ chịu, ông không những được giữ lại làm đại sứ tại Pháp, mà còn được giao thêm nhiệm vụ: một trong năm ủy viên tiến hành đàm phán hòa bình với Anh để kết thúc chiến tranh nếu và khi thời cơ đến. Bốn người khác là: John Adams (lúc đầu được dự kiến là nhà đàm phán duy nhất, lúc này vẫn đang ở Hà Lan), Thomas Jefferson (một lần nữa từ chối nhiệm vụ ở nước ngoài vì lý do cá nhân), Henry Laurens - thương gia và chủ đồn điền ở Nam Carolina (bị quân Anh bắt trên biển và giam tại Tháp London), và luật sư John Jay đến từ New York.

Việc lựa chọn Franklin gây tranh cãi và xuất phát một phần từ áp lực của phía Vergennes. Bất chấp các mối hoài nghi về sức lực của Franklin, vị bộ trưởng người Pháp chỉ định cho đặc sứ ở Philadelphia thay mình vận động hành lang và báo cáo với Quốc hội rằng hành vi của Franklin “nhiệt thành, ái quốc đồng thời cũng khôn ngoan và thận trọng”. Vergennes cũng đề nghị Quốc hội Mỹ chỉ thị phái đoàn mới không đi thêm bước nào nếu chưa có sự đồng ý của Pháp. Quốc hội thuận theo bằng việc đề ra các chỉ thị nghiêm ngặt cho các ủy viên: “phải thực hiện việc liên lạc trung thực và bí mật nhất mọi vấn đề với các bộ trưởng của đồng minh hào phóng của chúng ta - Hoàng đề nước Pháp; không cam kết điều gì trong các cuộc đàm phán về hòa bình hay ngừng bắn nếu Pháp không biết và không đồng thuận.”21

Adams kinh hoàng khi Mỹ bị trói buộc vào nguyên vọng của Pháp đến vậy và ông gọi đó là các chỉ thị “đáng xấu hổ”. Jay đồng ý và tuyên bố rằng, “ném mình vào tay Hoàng đế Pháp”, nước Mỹ sẽ không “tiến bộ cả về lợi ích và danh tiếng.” Trái lại, Franklin hài lòng với chỉ thị tuân thủ sự chỉ dẫn của nước Pháp. “Tôi đã có quá nhiều kinh nghiệm về sự tốt bụng của bệ hạ với chúng ta”, ông viết thư cho Quốc hội, “và về sự chân thành của vị bộ trưởng cương trực và đầy năng lực này [tức Vergennes], tới mức tôi không thể nào không nghĩ chúng ta đã trao đặt lòng tin sáng suốt và nó sẽ có hiệu quả đáng mừng.”22

Ông còn phấn khởi vì một thành công cá nhân. Vượt qua sự phản đối - kể cả của các bạn hữu như Silas Deane - Temple vẫn được bổ nhiệm làm thư ký của phái đoàn mới. Vinh dự của việc bổ nhiệm cháu ông và việc bãi đơn xin từ nhiệm của ông khiến Franklin trẻ lại. “Tôi xem sự tiếp tục này như một vinh dự và tôi thực sự đánh giá cao nó hơn lần bổ nhiệm đầu tiên vì tôi thấy mọi tác động của các kẻ thù của tôi không đủ để ngăn cản nó”, ông viết thư cho một người bạn.

Ông thậm chí còn viết một lá thư thân thiện khác cho Adams. Sứ mệnh đàm phán với nước Anh của Adams đã bị chia sẻ bởi xuất hiện thêm phái đoàn mới. Franklin nói với Adams rằng, việc cùng được bổ nhiệm là một vinh dự lớn cho họ, song nhăn nhó than thở rằng khả năng cao họ sẽ bị chỉ trích dù đạt được điều gì. “Tôi chưa bao giờ biết một nền hòa bình được kiến tạo, dù là thứ có lợi nhất, mà lại không bị chê bai là chưa toàn diện”, ông nói. “Câu nói ‘Chúa ban phước cho những ai kiến tạo hòa bình’, theo tôi, cần được hiểu ở thế giới khác, vì ở thế giới này họ thường bị nguyền rủa.”23

Là bậc thầy của mối quan hệ giữa quyền lực và ngoại giao, Franklin biết rằng sẽ không thể giành được trên bàn đàm phán thứ không thể giành được ngoài chiến trường. Ông chỉ có thể đàm phán về liên minh với Pháp sau khi Mỹ thắng trận Saratoga vào năm 1777. Và ông cũng sẽ chỉ có thể đàm phán một nền hòa bình phù hợp với Anh sau khi Mỹ và đồng minh Pháp giành một chiến thắng quyết định hơn thế.

Vấn đề đó được giải quyết vào tháng 10 năm 1781. Tướng Anh, Ngài Cornwallis, đã đưa quân từ Charleston lên phía bắc tìm cách giao chiến với lực lượng của Tướng Washington và đóng quân tại Yorktown, Virginia. Sự hỗ trợ của Pháp tỏ ra thật cấp bách: Lafayette di chuyển tới sườn phía nam của Cornwallis để chặn đường lui, một hạm đội Pháp chặn nơi cửa sông Chesapeake để loại trừ khả năng tẩu thoát bằng đường biển, pháo binh Pháp từ Đảo Rode được điều đến; 9.000 lính Pháp hội quân cùng 11.000 lính Mỹ dưới quyền chỉ huy của Tướng Washington. Hai toán quân 400 lính, một Pháp và một Mỹ, bắt đầu hợp sức tấn công và bắn phá liên tiếp ngày đêm với cường độ cao, đến mức ngày 17 tháng 10, khi Cornwallis phái một tay trống đi thông báo việc ông ta sẵn sàng đầu hàng, phải mất một lúc người ta mới để ý thấy anh ta. Đã bốn năm kể từ trận Saratoga, sáu năm rưỡi kể từ trận Lexington và Concord. Vào ngày 19 tháng 11, tin về chiến thắng của liên quân tại Yorktown đến tai Vergennes. Ông thông báo tới Franklin, lập tức nó được đăng trên tờ báo của Franklin ở Passy và được loan đi vào bình minh ngày hôm sau.

Mặc dù chiến tranh trên thực tế đã qua, Franklin vẫn thận trọng. Vẫn có nguy cơ nước Anh tái lập nỗ lực chiến tranh cho đến khi nội các hiện tại từ chức. “Tôi nhớ rằng, khi còn là một cậu bé mê đấm bốc, tôi được phép giáng cho đối thủ một cú hồi đòn kể cả sau khi anh ta nói rằng đã thấy đủ”, ông viết cho Robert Morris, Bộ trưởng Tài chính Mỹ. “Hãy để đòn của chúng ta là đòn chốt hạ.”24

Nội các của Ngài North cuối cùng cũng sụp đổ vào tháng 3 năm 1782 và được thay thế bởi nội các do Ngài Rockingham đứng đầu. Các cuộc thương lượng hòa bình giữa Mỹ và Anh có thể bắt đầu. Rất tinh cờ, trong số năm ủy viên Mỹ, khi đó chỉ duy Franklin đang có mặt ở Paris. Vì thế suốt vài tháng tiếp theo, cho đến khi Jay và sau đó là Adams tới, ông đã tự mình tổ chức việc đàm phán. Khi làm việc này, ông đối diện với hai nhân tố phức tạp:

• Mỹ đã cam kết phối hợp ngoại giao với Pháp và các đồng minh chứ không đàm phán riêng với London. Song, người Anh muốn có những cuộc thương thảo trực tiếp để đưa tới một nền hòa bình riêng rẽ với Mỹ. Bề ngoài, ban đầu, Franklin khăng khăng hành động phối hợp với Pháp. Nhưng phía sau hậu trường, ông đã sắp xếp những cuộc đàm phán hòa bình bí mật và trực tiếp với người Anh.

• Chính phủ Rockingham có hai vị bộ trưởng đối lập: quốc vụ khanh phụ trách ngoại giao, Charles Fox và quốc vụ khanh phụ trách thuộc địa, Ngài Shelburne. Họ phái các nhà đàm phán của riêng mình tới Paris. Franklin phải dùng mưu mẹo để đảm bảo đặc sứ của Shelburne - người ông thích hơn và thấy dễ sai khiến hơn - được trao nhiệm vụ đàm phán với người Mỹ.

CÁC CUỘC ĐÀM PHÁN BẮT ĐẦU

“Việc lớn đôi khi khởi sự từ những tình huống nhỏ,” Franklin ghi lại trong nhật ký khi ông bắt đầu các cuộc thương thảo hòa bình năm 1782. Trong trường hợp này, đó là cuộc gặp tình cờ giữa người tình si cũ của ông, phu nhân Brillon và Ngài Cholmondeley, một người Anh, bạn của Shelburne. Phu nhân Brillon đưa Cholmondeley đến gặp Franklin ở Passy, và qua người ấy, Franklin nhắn gửi sự trọng thị của mình tới vị quốc vụ khanh thuộc địa mới. Franklin đã biết tới và quý mến Shelburne ít nhất từ năm 1766, khi tiến hành vận động hành lang để được cấp một mảnh đất phía tây và thỉnh thoảng có ghé thăm dinh thự lớn của ông ở Wiltshire. Bà Helvétius cũng đóng một vai trò nhỏ; Shelburne mới gửi cho bà một vài khóm phúc bồn tử, và Franklin lịch sự viết thư rằng chúng đã đến nơi “theo một trật tự tuyệt vời”.25

Shelburne đáp lại bằng việc cử Richard Oswald, một thương nhân London chột mắt đã nghỉ hưu, trước đây là một kẻ buôn bán nô lệ và từng sống ở Mỹ để bắt đầu đàm phán với. Oswald đến nơi vào ngày 15 tháng 4 và lập tức cố gắng thuyết phục Franklin rằng Mỹ có thể có một thỏa thuận nhanh hơn và tốt hơn nếu họ đàm phán độc lập với Pháp. Franklin vẫn chưa sẵn sàng. Ông viết: “Tôi để ông ta biết rằng nước Mỹ sẽ không hành động mà không phối hợp với Pháp.” Thay vào đó, ông đưa Oswald đến điện Versailles vào ngày hôm sau để gặp Vergennes, người đề xuất sẽ tổ chức một hội nghị hòa bình chung tại Paris cho tất cả các bên tham chiến.26

Trên đường từ Versailles về, Oswald lại một lần nữa tranh luận về vấn đề hòa bình riêng rẽ. Ông nói, một khi vấn đề độc lập của Mỹ có thể được giải quyết qua thương lượng, nó không nên bị đình trệ trong khi các vấn đề liên quan chỉ riêng tới Pháp và Tây Ban Nha (trong đó có vấn đề quyền sở hữu với Gibraltar) vẫn còn đang tranh chấp. Ông bồi thêm lời đe dọa ngầm: nếu Pháp tham gia vào và đưa ra quá nhiều yêu sách, Anh sẽ tiếp tục chiến tranh và cung cấp tài chính cho nó bằng việc ngưng trả nợ công.

Franklin thẳng thắn đáp, vấn đề độc lập đã được giải quyết từ năm 1776. Nước Anh đơn giản nên chấp nhận nó thay vì đề nghị đàm phán về nó. Về việc ngưng trả nợ của họ để tái tục cuộc chiến, Franklin không hồi âm. “Tôi không muốn phản đối việc họ ngừng trả nợ, điều mà tôi cho là sẽ cắt cổ các chủ nợ của họ”, ông viết vào nhật ký. “Những lời đe dọa như thế vả chăng lại là sự khích lệ với tôi. Hãy nhớ câu ngạn ngữ cổ: kẻ đe dọa là kẻ sợ hãi.”

Thay vào đó, Franklin đề nghị rằng, Anh nên xem xét bồi thường cho Mỹ, nhất là “những nơi khổ sở vì bị các nhóm cướp bóc và đốt phá” mà Anh đã tranh thủ người Anh-điêng để tiến hành. “Không điều gì có xu hướng hòa giải lớn hơn thế”, ông nói, và điều đó sẽ dẫn tới việc tái tục hoạt động thương mại mà Anh cần lẫn muốn.

Ông thậm chí còn đề ra một kế hoạch bồi thường cụ thể: nước Anh nên đề nghị nhượng lại quyền kiểm soát Canada. Sau cùng thì số tiền mà Anh có thể kiếm được từ việc buôn bán lông thú Canada khá nhỏ so với số tiền mà họ tiết kiệm được nếu không phải bảo vệ nước này. Nó cũng ít hơn nhiều so với số tiền mà Anh có thể kiếm được thông qua việc nối lại thương mại với Mỹ, thứ sẽ theo sau một thỏa thuận thân thiện. Hơn nữa, số tiền mà Mỹ kiếm được từ việc bán đất trống ở Canada có thể được dùng để bồi thường cho các nhà ái quốc có nhà cửa bị quân Anh tàn phá và những người trung thành với nước Anh có tài sản bị người Mỹ tịch thu.

Sau lưng Pháp, Franklin đang chơi một trò cân bằng quyền lực ranh mãnh. Ông biết rằng, dù luôn đối địch với Anh, Pháp không muốn Mỹ được trao quyền kiểm soát Canada, bởi điều đó khiến biên giới của Mỹ an toàn hơn, bớt căng thẳng với Anh và bớt cả sự cần kíp của tình bạn với Pháp. Nếu Anh tiếp tục giữ Canada, “tất yếu chúng tôi sẽ phải xây dựng và củng cố liên minh với Pháp”, ông lý giải cho Oswald. Trong báo cáo gửi Vergennes về cuộc hội thoại với Oswald, Franklin không nhắc đến việc ông đã gợi ý nhượng lại Canada. Đây là dấu hiệu nhỏ đầu tiên cho thấy, dù Franklin nhất định muốn phối hợp với Pháp, ông sẵn sàng hành động đơn phương khi được đảm bảo.

Như thường lệ, Franklin phát biểu từ các ghi chú ông chuẩn bị sẵn và Oswald “cầu xin” được tin cậy để có thể trình chúng cho Shelburne. Sau một chút do dự, Franklin đồng ý. Oswald bị sự tin tưởng của Franklin hấp dẫn, còn Franklin nhận thấy Oswald là người hợp lý và không xảo trá. “Khi chia tay, chúng tôi còn hơn cả những người bạn tốt”, ông nhận xét.

Franklin có một điều hối tiếc về tài liệu mà ông giao cho Oswald: đề nghị rằng việc bồi hoàn có thể áp dụng cả với những người trung thành với nước Anh ở Mỹ có tài sản bị tịch thu. Vì thế ông đăng tải trên tờ báo ở Passy; rồi gửi cho Adams và những người khác một ấn bản giả của một tờ báo ở Boston có nội dung mô tả chi tiết đến rùng rợn nỗi kinh hãi mà người Anh đã gieo rắc lên người dân Mỹ vô tội. Mục đích của ông là nhấn mạnh rằng, không có sự cảm thông nào với những người trung thành với nước Anh, và chính người Mỹ mới xứng đáng được bồi thường. Ấn bản giả này có sức thuyết phục một cách khéo léo. Nó mô tả một lô hàng da đầu của dân Mỹ được tự nhận là do người Anh-điêng Seneca gửi sang Anh và một lá thư mà ông giả là của John Paul Jones. Để khiến nó thật hơn, ông thậm chí còn đưa thêm vài tin quảng cáo giả nhỏ về một ngôi nhà gạch mới được rao bán ở miền nam Boston và một con ngựa cái màu hồng thất lạc ở Salem.27

Nước Anh đồng ý với đề xuất của Vergennes về một hội nghị hòa bình dành cho tất cả các bên, nhưng điều đó đồng nghĩa với việc họ phải gửi thêm một đặc sứ mới đại diện cho quốc vụ khanh ngoại giao Charles Fox - thay vì quốc vụ khanh thuộc địa Shelburne. Đặc sứ mới có có cái tên không tốt đẹp: Thomas Grenville, con trai của George Grenville bị khinh bỉ, người đã áp đặt Luật Tem vào năm 1765. Nhưng Fox, vốn đã nhiều năm thông cảm với Mỹ, đảm bảo với Franklin rằng, chàng trai trẻ Grenville mới 27 tuổi là một người có thể tin cậy được. “Tôi biết quá rõ sự phóng khoáng trong tư tưởng của ngài nên không hề e sợ rằng bất cứ định kiến nào với cái tên của ông Grenville có thể ngăn cản ngài đánh giá cao các phẩm chất của trái tim và trí tuệ thuộc về anh ta, hay ngăn cản ngài trao niềm tin đầy đủ nhất cho sự chân thành trong mong ước hòa bình của anh ta.”28

Khi Grenville đến Paris vào đầu tháng Năm, Franklin liền dẫn anh ta tới Versailles. Chàng trai trẻ người Anh mắc sai lầm khi đề xuất với Vergennes rằng, nếu Anh trao độc lập cho Mỹ, Pháp sẽ trả lại một số đảo vùng Caribbe mà nước này đã chiếm được, và hòa bình có thể sẽ nhanh chóng được thiết lập.

Bằng nụ cười ẩn ý, Vergennes vặn lại nhà ngoại giao Anh quốc mới học việc và hạ thấp lời đề nghị hòa bình của anh ta. Ông nói: “Nước Mỹ không xin xỏ nó từ các vị. Có ông Franklin ở đây. Ông ấy sẽ trả lời anh về việc này.”

Franklin đáp: “Chắc chắn chúng tôi không thấy cần phải mặc cả để giành lấy một thứ thuộc về mình, đã được chúng tôi mua bằng xương máu và của cải.”

Cũng như Oswald, Grenville hy vọng có thể thuyết phục Franklin đàm phán một nền hòa bình riêng với Anh hơn là gắn với cả yêu sách của Pháp. Vì thế, vài ngày sau, anh ghé tới Passy và cảnh báo rằng, Pháp có thể sẽ đòi hỏi những điều không liên quan đến hiệp ước giữa nước này và Mỹ. Nếu điều đó xảy ra, Mỹ không nên bị hiệp ước đó ràng buộc, để rồi “tiếp tục cuộc chiến để giành lợi điểm như thế cho nước họ”.

Như đã làm với Oswald, Franklin từ chối nhượng bộ. “Tôi bày tỏ tình cảm nhiều hơn một chút về các chủ đề quyền lợi, bổn phận và lòng biết ơn nói chung”, Franklin nhận xét. Những kẻ muốn thoát khỏi nghĩa vụ thường “trở nên khéo léo khi đi tim lý lẽ và lập luận” để làm thế, song Mỹ không theo con đường đó. Kể cả nếu một người vay tiền người khác sau đó trả lại, họ vẫn nợ người kia lòng biết ơn: “Anh ta đã trả lại số tiền nợ, nhưng bổn phận vẫn còn đó.”

Grenville đáp rằng, điều này đã đưa ý tưởng về lòng biết ơn đi khá xa vì Pháp là bên thật sự hưởng lợi từ việc Mỹ tách khỏi Anh. Franklin nhất định cho rằng ông cảm nhận rất rõ về “cách thức cao quý và hào hiệp” mà Pháp đã hỗ trợ Mỹ. “Tôi không thể giày vò bản thân bằng việc nghĩ ra những lý lẽ nhằm giảm bớt đi bổn phận.”29

Grenville tiếp tục quấy rầy Franklin khi cố giấu đi sự thật rằng anh ta chỉ được ủy quyền đàm phán với Pháp mà không trực tiếp với Mỹ bởi Anh không thừa nhận Mỹ là một quốc gia độc lập. Franklin căn vặn anh ta về điểm này vào đầu tháng Sáu. Ông đặt câu hỏi tại sao ủy nhiệm thư của anh ta không thể hiện rõ sự ủy quyền đàm phán trực tiếp với Mỹ. Như Franklin thuật lại với Adams hôm sau: “Lời giải thích của anh ta không thể làm tôi thỏa mãn - anh ta cho là thiếu sót này nảy sinh từ việc sao chép lại một ủy nhiệm thư cũ.” Hẳn là điều đó không thuyết phục được Franklin. Ông nhất định đòi Grenville phải đưa một ủy nhiệm thư mới trước khi bắt đầu đàm phán bất cứ nội dung gì. Đây không chỉ đơn thuần là sự nghiêm cẩn của ngoại giao, như Franklin biết quá rõ. Ông đang đòi hỏi Anh chấp nhận sự độc lập của Mỹ như điều kiện tiên quyết của việc thương thảo. “Tôi hình dung được sự miễn cưỡng của vua nước Anh khi thực hiện bước đi đầu tiên này vì một ủy nhiệm thư như thế bản thân nó đã là một hình thức công nhận nền độc lập của chúng ta”, ông viết cho Adams.30

Franklin sẵn sàng hành động phối hợp với Pháp, song ông không có ý định để Anh đòi hỏi Pháp đàm phán thay mặt Mỹ. Vergennes đồng ý. “Họ muốn thương lượng với chúng tôi về các vị. Nhưng nhà vua [Pháp] sẽ không ưng thuận điều đó. Ngài cho là nó không nhất quán với danh dự của nước Mỹ. Các vị sẽ tự thương lượng.” Vergennes nói thêm, điều cần thiết duy nhất là “các hiệp ước đi cùng nhau và được ký cùng một ngày”.

Vergennes đã ngầm cho phép Franklin bắt đầu đàm phán riêng với người Anh, dù ý nhị hay không. Franklin có rất nhiều đòn bẩy, bởi nước Anh háo hức với các cuộc thương thảo như thế hơn và vì có hai nhà đàm phán Anh đang giành nhau để được tiến hành chúng. Khi Grenville trở lại Passy vào đầu tháng Sáu để tranh luận một lần nữa về việc thương thảo trực tiếp, lần này, Franklin quyết định “trốn tránh việc thảo luận” thay vì chối bỏ ý tưởng đó.

“Nếu Tây Ban Nha, Hà Lan và thậm chí cả Pháp đòi hỏi những điều kiện bất hợp lý, liệu nước Mỹ có nên kéo dài một cuộc chiến vì lợi ích của riêng họ?” Grenville hỏi.

Franklin đáp: “Hiện giờ ta không cần phải đi vào suy xét các vấn đề thuộc loại này”. “Nếu bất cứ cường quốc nào đưa ra đòi hỏi quá đáng, khi đó sẽ có đủ thời gian để chúng tôi xem lại bổn phận của mình là gì,” ông nói tiếp một cách đầy cám dỗ.

Bởi Grenville quá háo hức để tiến hành thương lượng trực tiếp, anh ta sẵn sàng tiết lộ cho Franklin biết mình đã được “chỉ thị công nhận nền độc lập của nước Mỹ trước khi hiệp ước bắt đầu”. Oswald cũng háo hức tiến hành thương lượng trực tiếp nên đã đến Passy hai ngày sau để nói bóng gió rằng ông ta sẵn lòng phục vụ như nhà đàm phán của nước Anh nếu Franklin thích ông ta hơn. Ông ta rụt rè; khăng khăng cho rằng mình không định hất cẳng Grenville vì bản thân đã già và không cần thêm vinh dự. Song rõ ràng Franklin hiện giờ đang ở trong một tình thế vui vẻ vì được lựa chọn giữa hai kẻ khao khát theo đuổi.

Oswald phức tạp hơn Grenville và ông ta có thể tỏ ra vừa háo hức hơn lại vừa đe dọa hơn. Hòa bình là thứ “tối quan trọng” với nước Anh, ông ta thừa nhận. “Các kẻ thù của nước Anh hiện làm mọi việc họ muốn với chúng tôi; bóng đã nằm nơi chân họ.” Mặt khác, có những người ở London có lẽ “hơi hoan hỉ thái quá” bởi chiến thắng gần đây của Anh với hải quân Pháp trong một trận đại chiến tại Tây Ấn. Nếu ông và Franklin không hành động sớm, họ có thể giành quyền kéo dài cuộc chiến. Oswald cảnh báo đã có những cuộc thảo luận nghiêm túc về việc cung cấp tài chính cho chiến tranh bằng việc hủy bỏ việc trả nợ với các trái phiếu trên 1.000 bảng - điều sẽ khiến đa phần dân chúng buồn lòng.

Franklin lưu ý, ông coi đây “như một kiểu hăm dọa”. Song, Oswald biết làm Franklin dịu đi bằng những lời bợ đỡ. “Ông ta nhắc đi nhắc lại việc các bộ trưởng coi trọng tôi”, Franklin ghi lại. “Họ tin rằng tôi biết cách để đưa đất nước này thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng hiện tại, việc mà có lẽ không ai nắm trong tay cơ hội tốt để thực hiên giống như tôi đang có lúc này.”

Oswald còn chiếm thêm cảm tình của Franklin khi tỏ ra đồng ý riêng với ông về các nội dung nên đưa vào hiệp ước. Khi Franklin lớn tiếng phản đối ý định bồi thường cho những kẻ trung thành với nước Anh có tài sản bị tịch thu và nói yêu cầu đó sẽ làm phát sinh một đòi hỏi ngược lại từ phía Mỹ - bồi thường cho mọi thành phố mà Anh đã thiêu rụi - Oswald bí mật cho biết, cá nhân ông ta cũng cảm thấy như thế. Ông ta cũng đồng ý với Franklin rằng nước Anh nên nhượng Canada lại cho Mỹ. Như thể ông ta đang cạnh tranh với chàng trai Grenville trẻ tuổi trong một buổi so giọng cho vị trí làm nhà đàm phán của nước Anh và cố gắng giành lấy sự tiến cử của Franklin.

Thực tế, dù kỳ lạ, nhưng đó là sự thật. Ông ta đưa cho Franklin lời nhắn trong đó Shelburne đã viết rằng sẽ trao cho Oswald một ủy nhiệm thư để đàm phán đặc biệt với Mỹ nếu Franklin muốn. Shelburne nói ông sẵn sàng trao cho Oswald bất cứ thẩm quyền nào mà “Tiến sĩ Franklin và ông đánh giá là có tác dụng giải quyết triệt để các vấn đề giữa Anh và Mỹ”. Shelburne nhắn nhủ thêm rằng, qua cách này, Anh có thể thúc đẩy nền hòa bình với Mỹ theo một cách thức rất khác giữa Anh và Pháp, vốn là hai quốc gia luôn đối địch với nhau.

Oswald rụt rè nhận xét, Grenville là một “quỹ ông trẻ rất lý trí”; anh ta hoàn toàn muốn giành quyền đàm phán trong sự phối hợp với nước Pháp. Tuy vậy, nếu Franklin cho việc Oswald trực tiếp thương thảo với Mỹ là hữu ích, ông ta “vui lòng bỏ thời gian và sự phục vụ”.

Franklin vui lòng chấp nhận. Ông nhận xét, hiểu biết của Oswald về nước Mỹ đồng nghĩa với việc, ông sẽ giỏi “thuyết phục chính phủ về các vấn đề hợp lý” hơn so với Grenville. Franklin còn hỏi Oswald liệu ông ta thích đàm phán với tất cả các nước, trong đó có Pháp, hay chỉ riêng Mỹ. Tất nhiên, Oswald lựa chọn câu trả lời thứ hai. “Ông ta nói không định tham gia đàm phán với các cường quốc khác,” Franklin viết. “Nếu ông ấy chấp nhận sự ủy thác nào, đó sẽ là đàm phán với Mỹ.” Franklin đồng ý viết thư bí mật gửi Shelburne đề xuất đường hướng đó.31

Một phần Franklin còn chịu sự thôi thúc của tình cảm với Oswald, người trạc tuổi ông. Ông ít thiện cảm với anh chàng Grenville, người đã khiến Franklin bực bội vì để lộ với tờ Bưu điện London Buổi tối tin tức không chính xác về các cuộc gặp giữa họ. “Ông Oswald, một ông lão, giờ đây dường như không có tham vọng gì khác ngoài việc được thấy mình hữu ích khi làm việc tốt”, Franklin nhận xét. “Anh Grenville, một chàng trai trẻ có ham muốn tự nhiên với việc tìm kiếm danh vọng, lại lấy đó làm mục đích của việc trở thành một nhà đàm phán năng nổ.” Franklin - dù vẫn tham vọng ở tuổi 76 - giờ lại tin vào tác dụng tiết chế của tuổi già.

Dù Franklin diễn kịch đại tài khi nhất định tỏ ý muốn Pháp tham dự mọi cuộc đàm phán, ông đã đi đến chỗ tin rằng, giờ đây quyền lợi của nước Mỹ đòi hỏi phải có kênh đàm phán độc lập và riêng biệt với Anh. Vì thế, một tuần sau cuộc gặp gỡ có tính động lực với Oswald, khi tới điện Versailles vào giữa tháng Sáu, Franklin ít thẳng thắn hơn thường lệ với Vergennes. “Chúng tôi đã nói về những nỗ lực chia rẽ hai nước [của nước Anh] và sự thận trọng của việc bám vào nhau và hành động phối hợp”, ông ghi lại. Tuy vậy, lần này ông giữ lại vài thông tin. Ông không nói cụ thể việc Oswald đề xuất một kênh đàm phán riêng hay đề nghị của ông về việc Anh nhượng lại Canada cho Mỹ.

Franklin cũng không hoàn toàn thẳng thắn với Quốc hội, vốn đã chỉ thị cho các ủy viên và được Franklin đồng ý: không làm điều gì mà phía Pháp không biết và ủng hộ. Cuối tháng Sáu, trong lá thư gửi Robert Livingston, tân Ngoại trưởng của Mỹ, Franklin báo cáo việc Anh đã phái tới hai đặc sứ, Oswald và Grenville, và tuyên bố ông đã phản đối nỗ lực ly gián Mỹ và Pháp của họ. “Ban đầu họ có phần hy vọng các cường quốc hiếu chiến sẽ đàm phán riêng rẽ, nước này tới nước kia, song phát hiện rằng điều đó bất khả thi. Sau vài thư tín qua lại, họ đã quyết nghị sẽ đàm phán với tất cả cùng lúc vì nền hòa bình chung.”

Tuy vậy, ngay hôm sau, ông nhắc lại mong muốn về kênh độc lập trong bức thư để Oswald gửi cho Shelburne: “Tôi chỉ dám hy vọng việc trao cho ngài [quyền lực] liên quan đến hiệp ước với nước Mỹ vẫn nằm trong dự tính.”

Tương tự, nước Anh cũng tiến hành một âm mưu cửa sau. Ngoài việc giữ các cuộc đàm phán không chính thức với Pháp, họ gửi các đặc sứ trực tiếp sang Quốc hội Lục địa để ra sức thuyết phục các nghị sĩ chấp nhận một kiểu chủ quyền nào đó cho nước Mỹ, để hai quốc hội độc lập cùng trung thành với một vị vua chung. Khi hay tin về lời mào đầu ấy, Franklin gửi thư cho Livingston cảnh báo họ phải ra sức phản đối. Ông tuyên bố: “Nhà vua thật lòng ghét chúng ta nhất”. Nếu ông ta được trao “bất kì mức độ quyền lực hay sự cai trị” nào đối với nước Mỹ, “nó sẽ sớm bị mở rộng bởi sự mua chuộc, mưu mô và vũ lực cho tới khi chúng ta phải thu mình lại thành thần dân tuyệt đối.”32

KẾ HOẠCH HÒA BÌNH CỦA FRANKLIN

Tình thế đàm phán được đơn giản hóa vào đầu tháng Bảy do cái chết của Ngài Rockingham. Shelburne lên nắm vị trí thủ tướng, Fox từ chức bộ trưởng ngoại giao, còn Grenville thì bị triệu hồi. Đây là thời điểm thích hợp đề Franklin đưa ra đề xuất hòa bình không chính thức song chính xác cho Oswald - vào ngày 10 tháng 7.

Đề xuất của ông được chia làm hai phần: những điều khoản “cần thiết” và những điều khoản “nên làm”. Bốn vấn đề sau rơi vào nhóm “cần thiết”: nền độc lập đầy đủ và toàn diện về mọi khía cạnh cho nước Mỹ, việc rút toàn bộ quân đội, những ranh giới an toàn và quyền đánh cá ngoài khơi bờ biển Canada. Nhóm “nên làm” có bốn điều khoản được đề xuất: trả các khoản đền bù cho thiệt hại của nước Mỹ, công nhận tội lỗi của nước Anh, một hiệp định thương mại tự do và nhượng lại Canada cho Mỹ.

Oswald lập tức gửi cho Shelburne mọi chi tiết, nhưng Franklin giữ kín các đề xuất này và không bao giờ ghi lại chúng. Ông cũng không bàn bạc hay thậm chí thông báo cho Vergennes về đề xuất ông đưa ra với Oswald.33

Vì thế, với một tầm nhìn rõ ràng và có phần thông đồng, Franklin đã dựng sân khấu cho các cuộc đàm phán cuối cùng và sẽ kết thúc cuộc Chiến tranh Cách mạng. Shelburne nhanh chóng thông báo cho Oswald rằng các đề xuất là “bằng chứng rõ ràng về sự chân thành của Tiến sĩ Franklin”. Ông nói, nước Anh sẵn sàng khẳng định nền độc lập của Mỹ như một tiền đề cho các cuộc đàm phán và nó nên “được thực hiện dứt khoát để tránh nguy cơ của sự thù hận trong tương lai”. Shelburne nói, nếu Mỹ bỏ các điều khoản “nên làm” và “chỉ giữ lại riêng các điều khoản được xem là cần thiết làm cơ sở đàm phán”, khi ấy ông tự tin rằng, một hiệp ước có thể nhanh chóng được ký kết. Dù việc này sẽ mất vài tháng, về cơ bản đó là những gì đã diễn ra.34

Tuy vậy, nghị quyết cuối cùng bị trì hoãn vì Franklin bị “căn bệnh gout độc ác” và sỏi thận tấn công, khiến ông kiệt lực trong phần lớn tháng Tám và tháng Chín. John Jay, người cuối cùng cũng tới Paris, đã tiếp quản vị trí trưởng đoàn đàm phán của ông. Chính trị gia người New York không biết xúc động này phản đối rằng, ngôn từ trong ủy nhiệm thư của Oswald, vốn cho phép ông ta đàm phán với “các thuộc địa và đồn điền được nhắc đến”, không tốt hơn nhiều so với của Grenville trước đây. Jay đòi Oswald tuyên bố rõ ràng rằng ông ta đang đàm phán với một đất nước độc lập trước khi các cuộc thương thảo đi xa hơn.

Khi Jay và Franklin đến gặp Vergennes, vị bộ trưởng người Pháp khuyên rằng, có lẽ không cần phải nhất quyết đòi ủy nhiệm thư của Oswald có một tuyên bố rõ ràng về chủ quyền của nước Mỹ. Franklin, người cũng đưa ra ý kiến cho rằng ủy nhiệm thư của Oswald có thể chấp nhận được, vui mừng bởi sự chấp thuận ngầm của Vergennes cho phép các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Anh tiếp diễn. Ông hiểu điều này như một cử chỉ hỗ trợ và cao thượng cho thấy “thiện chí nhã nhặn” của nước Pháp.

Cách hiểu của Jay, nham hiểm hơn nhưng chính xác hơn, là Vergennes không muốn Anh thừa nhận nền độc lập của Mỹ trừ phi đó là một phần của việc dàn xếp hòa bình liên quan tới Pháp và Tây Ban Nha. Ông báo cáo với Quốc hội: “Triều đình này đã chọn cách trì hoãn việc Anh công nhận nền độc lập của nước ta để giữ chúng ta dưới sự định hướng của họ” cho đến khi các đòi hỏi của Pháp và Tây Ban Nha được đáp ứng. “Tôi phải nói thêm rằng Tiến sĩ Franklin không nhìn nhận hành vi của triều đình này theo cùng một cách với tôi.”35

Sự hoài nghi của Jay về động cơ của Pháp dẫn tới một cuộc tranh cãi nóng bỏng với Franklin khi họ trở lại Passy sau cuộc gặp ở Versailles tối hôm đó. Jay cực kỳ tức giận. Ông nói với Franklin rằng, Vergennes đã đưa ra yêu sách của Tây Ban Nha khi đòi hỏi một số đất đai giữa dãy núi Allegheny và sông Mississippi. Franklin hoàn đồng ý Tây Ban Nha không nên được phép “giới hạn chúng ta”, song ông cho Jay một bài giảng nhỏ nhẹ về sự khôn ngoan khi mặc định một người bạn như nước Pháp đang hành động dựa trên lòng tin cậy cho đến khi có bằng chứng rõ ràng ngược lại. Jay vẫn tiếp tục bực bội khẳng định rằng Pháp chỉ cố gắng trì hoãn việc đàm phán. Trái lại, Franklin cho là Vergennes đã bày tỏ sự sẵn sàng thúc đẩy nó khi không phản đối ngôn từ trong ủy nhiệm thư của Oswald.

Song, các hoài nghi của Jay được củng cố khi ông biết rằng Vergennes đã phái một phụ tá sang London để thực hiện một nhiệm vụ bí mật. Vốn không tin cả Franklin lẫn Pháp, Jay tổ chức một cuộc điều tra bí mật bằng việc phái một đặc sứ của chính mình tới London. Điều đặc biệt hấp dẫn là kẻ được phái đi chính là Benjamin Vaughan, người bạn đồng thời là nhà xuất bản lâu năm của Franklin, vốn từng đến Paris thăm Franklin và làm những gì ông có thể để thúc đẩy hòa bình.

Jay yêu cầu Vaughan nói với Ngài Shelburne rằng ủy nhiệm thư của Oswald phải nói rõ việc ông ta đàm phán với “Liên bang”. Jay hứa hẹn rằng, một sự thừa nhận công khai nền độc lập của nước Mỹ ngay từ đầu sẽ giúp “cắt những sợi dây” ràng buộc Mỹ với Pháp. Shelburne, bởi muốn đạt được hòa bình trước khi chính phủ của ông bị lật đổ, sẵn sàng tiến đủ xa để làm Jay hài lòng. Giữa tháng Chín, nội các của ông trao một ủy nhiệm thư mới cho Oswald - “đàm phán với các ủy viên được các thuộc địa chỉ định dưới danh nghĩa 13 bang thống nhất” và khẳng định rằng nền độc lập của Mỹ có thể được thừa nhận như tiền đề của các thảo luận xa hơn.

Vì thế vào ngày 10 tháng 5, khi cả Jay và Franklin đều đã thỏa mãn và trở lại hòa hợp, các cuộc đàm phán thật sự bắt đầu. Oswald trình ra ủy nhiệm thư mới chính thức và Jay trình ra một hiệp ước dự thảo rất giống hiệp ước đã được Franklin đề xuất không chính thức từ tháng Bảy. Bổ sung duy nhất vào bốn điểm “cần thiết” của Franklin là một điều khoản chắc chắn làm hài lòng nước Anh, còn Pháp và Tây Ban Nha thì không - cả Anh và Mỹ sẽ đều có quyền tự do di chuyển trên sông Mississippi.

Tuy nhiên, động lực bị kéo chậm lại vài tuần sau khi Anh thành công trong việc đáp trả một cuộc tấn công của liên quân Pháp-Tây Ban Nha ở Gibraltar, nhờ đó khiến các bộ trưởng của họ trở nên bạo dạn hơn. Để chống lưng cho Oswald, Shelburne đã phái Henry Strachey, một viên chức nội các từng làm thư ký cho Đô đốc Howe, tới Paris. Ngay khi ông ta đến, John Adams cũng trở lại, đảm nhận vai trò một thành viên phái đoàn Mỹ.

Adams vẫn thô lỗ như xưa nay, đầy rẫy hoài nghi và đặt dấu hỏi về phẩm cách của mọi người trừ chính mình. Thậm chí Lafayette, vốn đã trở thành người thân cận của Franklin, cũng lập tức bị Adams đóng sầm cánh cửa vì có “tính cách ô tạp” và “tham vọng vô độ” của người “tô vẽ vì hào quang”. Adams cũng bày tỏ một cách công khai và phi ngoại giao sự bất tín của cá nhân ông với Vergennes vì đã không gặp ông trong suốt gần ba tuần, cho đến khi được nhắc nhở về về bổn phận của ông. (Vergennes, vốn mềm mỏng ngang với độ thô kệch của Adams, đã cản trở một Adams luôn cẩn trọng bằng việc tổ chức một bữa tiệc tối xa hoa và chuốc Adams say túy lúy với rượu vang và Madeira hảo hạng.)36

Tương tự, Adams ban đầu cũng ngần ngại ghé thăm Franklin vì phép xã giao mặc dù họ đã tiến hành trao đổi thư tín một cách lịch sự trong suốt thời gian Adams thực thi nhiệm vụ ở Hà Lan. Franklin lúc ấy gần như chỉ quẩn quanh ở Passy vì gout và sỏi thận. “Adams không thể chịu nổi việc đến gần ông ấy” - Matthew Ridley, một thương gia Mỹ ở Paris, đã ghi lại trong nhật ký của mình. Ridley, vốn là bạn của cả hai, sau cùng đã thuyết phục Adams rằng việc đó là cần thiết.

Adams đặc biệt hằn học vì gần đây đã nhận được tin về lá thư Franklin viết cho Quốc hội Mỹ theo chỉ thị của Vergennes, chính nó đã dẫn tới việc ông bị triệu hồi trước đó. Adams nói với một người bạn rằng Franklin chịu sự thúc đẩy của “thói ghen ghét hèn hạ” và “lòng đố kỵ bẩn thỉu”. Đó hoàn toàn là sự hiểu sai về Franklin, người cư xử vì tức giận hơn là ghen ghét và những tính xấu đôi lúc ông mắc phải không bao gồm thói đố kỵ quá mức.

Dù lý do là gì, Adams vẫn đầy tức tối vào thời điểm trở lại Paris. Ông viết: “Tôi thú nhận mình không có tình bạn với Franklin. Tôi thú nhận mình không thể làm bạn với một kẻ có tình cảm đạo đức như thế.” Adams còn nói nhiều hơn nữa trong nhật ký: “Sự xảo quyệt của Franklin là nhằm chia rẽ chúng tôi. Rốt cuộc, ông ta sẽ khiêu khích, sẽ nói bóng gió, sẽ lập mưu và sẽ thao túng.”37

Vì thế đó là một minh chứng tuyệt vời về sự hấp dẫn của Franklin đến mức sau cùng ông hòa thuận khá tốt với Adams khi họ cùng ngồi lại làm việc. Khi cuối cùng cũng chịu đến thăm Passy, Adams nói toạc ra rằng ông đồng ý với thái độ cứng rắn của Jay đối với nước Pháp: “Tiến sĩ lắng nghe tôi một cách kiên nhẫn, song không nói gì.” Tại cuộc họp giữa ba ủy viên ngày hôm sau, ông bình thản đồng ý với Adams và Jay rằng gặp gỡ các nhà đàm phán Anh mà không phối hợp với Pháp là điều hợp lý. Quay sang Jay, ông nói: “Tôi đồng tình với ý kiến của anh và sẽ tiếp tục làm việc với các quý ông này mà không tham vấn triều đình [Pháp].”

Việc Franklin sẵn sàng đàm phán và không tham vấn Pháp không có gì mới; ông đã theo cách tiếp cận đó trước khi Jay và Adams đến Paris. Song, ông làm ra vẻ đã chịu ảnh hưởng một phần từ quan điểm của hai ủy viên đồng nghiệp. Điều đó góp phần làm thái độ của Adams dịu đi. Franklin “đồng hành cùng chúng tôi bằng toàn bộ sự hài hòa và đồng thuận và tỏ ra có năng lực và hữu ích trong suốt quá trình đàm phán, cả nhờ sự thông thái và danh tiếng của ông”, Adams vui vẻ ghi lại trong nhật ký.

Về phần mình, Franklin tiếp tục có một cảm xúc đan xen của sự ngưỡng mộ và khó chịu với Adams như trước đây. Như ông nói với Livingston vài tháng sau đó khi các cuộc đàm phán đã xong: “Anh ta có ý tốt cho đất nước và luôn là người khôn ngoan, song vào một số lúc và trong một số việc, anh ta hoàn toàn mất trí.”38

 -   Quyền đánh cá ngoài khơi Newfoundland: Đây là một vấn đề lớn với Adams, vì như David McCullough chỉ ra, ông luôn hùng hồn rao giảng về “phần vốn cổ xưa của New England trong loài cá tuyết thiêng liêng”. Tương tự, Franklin cũng cứng rắn về điểm này. Ông đưa ra một lập luận kinh tế: số tiền dân Mỹ kiếm được từ đánh cá sẽ chi tiêu để mua hàng hóa sản xuất tại Anh khi tình bằng hữu được nối lại. Ông hỏi: “Lẽ nào các ngài sợ không có đủ cá hoặc sợ chúng tôi đánh bắt quá mức?” Anh nhượng bộ ở điềm này trong nỗi thất vọng của Pháp - vốn mong giành được đặc quyền đánh cá cho riêng họ. (Khi Franklin bị kẻ thù ở Mỹ cáo buộc đã ủng hộ quan điểm của Pháp, chống lại yêu sách về quyền đánh cá của người Mỹ, ông viết thư cho Jay và Adams yêu cầu họ xác nhận sự cứng rắn của ông; Jay ân cần làm theo, còn Adams thì miễn cưỡng hơn một chút.)39

-    Các khoản nợ của Mỹ với các thương nhân Anh từ trước chiến tranh: Franklin và Jay cho là chúng nên được xóa, vì nước Anh đã chiếm và tàn phá quá nhiều tài sản của người Mỹ. Tuy vậy, Adams nhất định cho rằng phải trả số nợ đó, và quan điểm này thắng thế.

-    Biên giới phía tây: Với tầm nhìn suốt đời về sự mở rộng của nước Mỹ, Franklin nhất định không muốn nước nào khác có chủ quyền với vùng đất giữa dãy Allegheny và sông Mississippi. Jay ghi lại: “Ông ấy nhất quán tuyên bố quan điểm rằng, chúng ta nên yêu cầu lấy Mississippi làm biên giới phía tây của mình.” Một lần nữa, đó không phải là điểm mà Pháp và Tây Ban Nha hẳn sẽ đồng ý nếu có một hội nghị hòa bình toàn thể. Nhưng Anh vui lòng chấp nhận lấy dòng sông này làm biên giới phía tây cùng với quyền tự do đi lại cho cả hai quốc gia.

-    Bồi thường cho những người Mỹ trung thành với nước Anh có tài sản bị tịch thu: Đây là vấn đề gây tranh cãi nhất và Franklin càng đổ thêm dầu vào lửa. Ông biện minh lập trường không thể thay đổi của mình trên cơ sở đạo đức. Những người đó đã góp phần gây ra cuộc chiến và tổn thất của họ nhỏ hơn nhiều so với những gì các nhà ái quốc Mỹ có tài sản bị quân Anh phá hủy đã phải chịu. Song, sự cứng đầu của ông cũng có yếu tố cá nhân. Trong số những người trung thành với nước Anh rõ rệt nhất có người bạn cũ của ông, Joseph Galloway, và đáng kể hơn là đứa con bị ông ghẻ lạnh, William. Sự phẫn nộ của ông với con trai và mong muốn công khai thể hiện nó có ảnh hưởng lớn tới thái độ của ông về vấn đề này và gây thêm một nỗi chua chát cá nhân đau đớn vào những tuần đàm phán cuối cùng.

Vào sinh nhật lần thứ 47 của Adams, ngày 30 tháng 10, các nhà đàm phán Mỹ và các đối tác Anh bắt đầu một tuần đàm phán căng thẳng, bắt đầu lúc 11 giờ mỗi buổi sáng và hầu như kết thúc muộn mỗi tối sau bữa ăn đêm. Phía Anh sẵn sàng chấp nhận bốn điểm cần thiết mà Franklin đã đề xuất từ tháng Bảy, nhưng các điểm nên làm như nhượng lại Canada thì không. Các tranh chấp chính họ gặp phải trong tuần đó là:

William đã được thả khỏi nhà ngục Connecticut nhờ một cuộc trao đổi tù nhân vào tháng 9 năm 1778, hiện sống ở New York - vùng chiếm đóng của quân Anh - và là chủ tịch Ủy ban Liên hội những người trung thành. Với thẩm quyền của mình, William khuyến khích một loạt các cuộc tập kích nhỏ song dữ dội vào các lực lượng Mỹ. Một trong số đó gây ra vụ hành hình treo cổ kiểu linsơ đối với một thuyền trưởng Mỹ. Tướng Washington đã đáp lại bằng lời đe dọa treo cổ một tù binh Anh tên là Charles Asgill, một sĩ quan trẻ và quan hệ rộng, nếu thủ phạm không bị đưa ra công lý.

Bạn bè và gia đình Asgill sử dụng sức ảnh hưởng lớn của họ để cố gắng cứu mạng anh ta, và Shelburne gửi một thỉnh cầu cá nhân xin Franklin can thiệp. Ông thẳng thắn từ chối. Ông đáp, mục đích của Washington là “khiến kẻ sát nhân có chủ ý bị trừng phạt”. “Nếu người Anh từ chối giao nộp hay trừng phạt kẻ thủ ác, điều đó có nghĩa là họ chọn giữ mạng kẻ này thay thuyền trưởng Asgill. Vì thế, đối với tôi, dường như lời thỉnh cầu nên được gửi cho các bộ trưởng của nước Anh.”40

Vấn đề trở nên cá nhân hơn với Franklin khi một tòa án binh ở Anh tha bổng người lính Anh bị buộc tội vì anh ta chỉ thi hành mệnh lệnh. Điều đó làm người Mỹ giận dữ, đòi bắt giữ người ra lệnh: William Franklin. Vì thế, 20 năm sau khi về Mỹ làm thống đốc New Jersey, William phải thận trọng lánh về London vào tháng 8 năm 1782. Ông tới nơi vào cuối tháng Chín khi vòng đàm phán hòa bình cuối cùng giữa cha mình và Oswald bắt đầu.

Vaughan láu táu khiến vấn đề càng phức tạp khi hối thúc Shelburne quan tâm tới William. Ông ta báo tin cho ngài thủ tướng biết việc mình đã bàn bạc vấn đề này với Temple Franklin ở Passy và anh “đã tâm sự rằng hy vọng thấy điều gì đó được làm cho cha mình”. Vaughan sau đó còn thêm thắt một niềm tin rất sai lầm của mình rằng việc đó sẽ có một “tác dụng xoa dịu” cách nhìn của Benjamin Franklin về nước Anh. Do đó, Shelburne đã gặp William và hứa hẹn làm tất cả những gì có thể cho ông và các nhà trung thành. Franklin thất vọng khi biết sự thể và đặc biệt giận dữ khi phát hiện việc can thiệp sai lầm của Vaughan xuất phát từ lệnh của chàng trai trẻ Temple - anh đã thay mặt cha mình can thiệp mà không nói gì với ông nội.41

Như thường lệ, Franklin bộc lộ tình cảm của ông qua một truyện ngụ ngôn ngắn. Ông viết, xưa kia có một con sư tử vĩ đại là chúa tể của khu rừng. “Trong số thần dân của nó có một bầy chó trung thành.” Song vua sư tử, “vì nghe lời xúi giục của những kẻ xấu xa” đã gây chiến với chúng. “Một vài con trong số đó thuộc giống chó lai - có nguồn gốc kết hợp giữa sói và cáo - bị tha hóa bởi những lời hứa hẹn về phần thưởng lớn của vị vua, đã rời bỏ bầy chó trung thực và đứng về hàng ngũ kẻ thù.” Khi bầy chó giành được tự do, lũ sói và cáo trong hội đồng của vua sư tử đã tụ tập để bàn việc bồi thường cho những con chó lai vẫn trung thành với vị vua. Song, một con ngựa đứng dậy “với một sự quả quyết và tự do đã trở thành sự quý phái trong bản tính của nó,” tranh cãi rằng bất cứ phần thưởng nào cho những kẻ gây huynh đệ tương tàn cũng bất công và sẽ dẫn đến các cuộc chiến tiếp theo. “Hội đồng có đủ lý trí để quyết định từ chối đòi hỏi đó”, Franklin kết luận.42

Trong những ngày đàm phán cuối cùng, Franklin trở nên cứng rắn hơn nữa, phản đối bất cứ sự bồi thường nào cho những người trung thành với nước Anh, ngay cả khi Adams và Jay tỏ ra có phần sẵn sàng thỏa hiệp về vấn đề này. Trước đây, Adams từng kết tội Franklin là kẻ không đáng tin vì cho là ông cảm thông với con trai mình. Giờ đây Adams bối rối khi thấy ông hiếu chiến đến vậy theo hướng khác. “Tiến sĩ Franklin rất cương quyết với phe Bảo thủ; ở điểm này ông ấy còn kiên định hơn ông Jay và chính tôi”, ông ghi lại trong nhật ký.

Xét tới ảnh hưởng của những người trung thành với nước Anh giờ di cư sang và sinh sống ở Anh, Shelburne biết nội các của ông sẽ sụp đổ nếu không làm gì thỏa mãn đòi hỏi của họ. Các nhà đàm phán của ông thúc bách cho tới ngày cuối cùng, nhưng Franklin dọa sẽ đánh đắm toàn bộ hiệp định vì điểm này. Ông lôi từ trong túi một mảnh giấy, nhắc lại yêu sách của chính ông rằng, nếu muốn bối thường bất cứ khoản nào cho tài sản của những ai trung thành với nó, nước Anh sẽ phải bồi thường cho tất cả các thành phố ở Mỹ bị tàn phá, hàng hóa bị chiếm đoạt và bắt giữ, các làng mạc bị thiêu rụi và kể cả thư viện của ông ở Philadelphia bị cướp phá.

Phía Anh bị ép phải dịu giọng. Sau khi nghe lời phê phán của Franklin, họ lui sang phòng kế bên, chụm đầu bàn bạc và trở lại để nói họ sẽ chấp nhận một lời hứa có phần vô nghĩa như một giải pháp thay thế: Quốc hội Mỹ sẽ “tha thiết đề nghị” các bang đưa ra bất cứ khoản bồi thường nào mà mỗi bang cảm thấy phù hợp đối với tài sản của những người trung thành với nước Mỹ bị tịch thu tại đó. Phái đoàn Mỹ biết rằng rốt cuộc các bang sẽ chẳng làm gì nhiều nên đã đồng ý. Tuy thế, Franklin vẫn đòi hỏi một điểm bảo lưu nhằm vào William: đề xuất này không áp dụng với những kẻ “đã dùng vũ lực để chống lại Liên bang”.

Sáng hôm sau, 30 tháng 11 năm 1782, phái đoàn đàm phán Mỹ cùng thư ký của họ, Temple Franklin, đã gặp gỡ phái đoàn của Anh tại sảnh của Oswald tại đại khách sạn Muscovite để ký hiệp định tạm thời có hiệu lực chấm dứt Chiến tranh Cách mạng. Tôn trọng các nghĩa vụ còn nợ nước Pháp, hiệp ước này sẽ không ràng buộc chính thức “cho đến khi các điều kiện của nền hòa bình giữa Anh và Pháp được thỏa thuận”. Việc này sẽ mất thêm chín tháng nữa. Song nằm ở ngay dòng mở đầu hiệp ước có một nội dung có hiệu lực lập tức và không thể hủy bỏ, tuyên bố rằng Liên bang “tự do, có chủ quyền và độc lập”.

Chiều hôm đó, các nhà đàm phán Mỹ đều đến Passy, nơi Franklin tổ chức bữa tiệc ăn mừng. Kể cả John Adams cũng thấy vui vẻ hơn, ít nhất vào lúc đó. Ông thừa nhận với bạn mình, Matthew Ridley, rằng Franklin đã hành xử “đúng mực và đáng kính”.43

XOA DỊU NGƯỜI PHÁP

Franklin phải lãnh nhiệm vụ khó khăn: giải thích cho Vergennes vì sao Mỹ lại vi phạm các bổn phận với Pháp và các chỉ thị của Quốc hội khi chấp thuận một hiệp ước mà không tham vấn ông. Sau khi gửi cho Vergennes một bản sao của hiệp ước mới ký và nhấn mạnh nó chỉ có tính tạm thời, Franklin đến gặp ông ở Versailles vào tuần sau đó. Vị bộ trưởng người Pháp nhận xét một cách lạnh nhạt nhưng nhã nhặn rằng, “tiến trình đột ngột ký kết các điều khoản đó” là việc “không thể chấp nhận được đối với nhà vua [Pháp]” và người Mỹ “chưa thật sự lịch thiệp”. Tuy vậy, Vergennes thừa nhận rằng, người Mỹ đã tự mình làm tốt và nhấn mạnh rằng, “cuộc trò chuyện của chúng ta có tính thân thiện”.

Chỉ khi Franklin tiếp tục đưa ra một lời đề nghị thô lỗ về việc vay thêm tiền từ Pháp, cùng thông tin rằng ông sẽ gửi hiệp ước hòa bình này tới Quốc hội, Vergennes lúc đó mới có cơ hội phản đối chính thức. Ông viết cho Franklin rằng, với ông, việc “bày tỏ niềm hy vọng nhất định về hòa bình cho nước Mỹ khi mà ngài còn thậm chí không thèm thông báo tình hình đàm phán cho phía chúng tôi” thật không đúng mực. Cho đến khi Pháp đàm phán xong với Anh, Mỹ có nghĩa vụ không xem xét phê chuẩn bất cứ thỏa thuận hòa bình nào. “Ngài có cả cuộc đời để thực hiện bổn phận của mình. Tôi cầu khẩn ngài xem xét cách thức làm tròn bổn phận với nhà vua”, Vergennes tiếp tục.44

Hồi âm của Franklin được xem là “một kiệt tác ngoại giao” và “một trong các lá thư ngoại giao nổi tiếng nhất”. Nó kết hợp một vài biểu hiện của sự ăn năn đáng kính và các kháng nghị về lợi ích quốc gia của Pháp. “Không có điều nào trong các thỏa thuận tạm thời này trái với lợi ích của nước Pháp”, ông nhận xét không hoàn toàn chính xác, “và không có nền hòa bình nào diễn ra giữa chúng tôi và nước Anh cho đến tận khi các vị định đoạt xong hòa bình của mình.” Sử dụng một từ tiếng Pháp gần tương đương với từ đúng mực, Franklin tìm cách tối thiểu hóa vi phạm của nước Mỹ:

Khi không tham vấn ngài trước khi ký kết, chúng tôi đã mắc lỗi xem thường một điểm về sự đúng mực. Song, điều này không xuất phát từ sự thiếu tôn trọng nhà vua, người chúng tôi kính yêu và tôn trọng, nên chúng tôi mong sẽ được lượng thứ. Và bởi công việc trọng đại được hoan hỉ tiến hành, cho đến nay đã gần đạt đến mức mỹ mãn, ấy là một vinh quang cho triều đại của Ngài, mong sao nó không bị hủy hoại chỉ vì sự cạn nghĩ của chúng tôi.

Không e ngại, ông tiếp tục thúc đẩy vấn đề vay nợ bổ sung. “Chắc chắn cả tòa lâu đài ấy sẽ sụp đổ ngay lập tức nếu ngài từ chối hỗ trợ chúng tôi thêm vì nguyên do đó.” Chưa hết, kèm theo sự khẩn khoản, ông đưa ra lời đe dọa ngầm: ông cảnh báo rằng, việc công bố vấn đề vi phạm có thể làm tổn hại lợi ích của cả hai nước. “Như tôi mới biết, người Anh tự tâng bốc mình vì đã chia cắt được chúng ta. Vì thế tôi mong hiểu lầm nhỏ này sẽ được giữ bí mật để họ thấy họ hoàn toàn nhầm lẫn.”45

Sửng sốt trước lá thư của Franklin, Vergennes đã gửi một bản sao tới đại sứ tại Philadelphia. “Anh có thể hình dung nỗi kinh ngạc của tôi”, ông viết. “Tôi nghĩ các thành viên có ảnh hưởng nhất Quốc hội nên được thông báo về hành vi rất bất thường của các ủy viên của họ với chúng ta.” Vergennes không đổ lỗi cho cá nhân Franklin, trừ việc nói rằng: “Ông ấy đã quá dễ dàng ngả theo thiên kiến của các cộng sự”. Vergennes tiếp tục nhận xét một cách chính xác rằng quốc gia mới hẳn sẽ không tham gia vào các liên minh rối rắm. “Chúng ta sẽ được nhận lại rất ít sau tất cả những gì đã làm vì nước Mỹ để bảo trợ cho sự tồn tại của quốc gia này”, ông than phiền.

Vergennes hầu như không có lựa chọn. Như Franklin đã cảnh báo, việc ép chậm tiến độ sẽ đưa Mỹ tiến đến liên minh với Anh nhanh hơn và khăng khít hơn. Vì thế, ông miễn cưỡng phải cho qua vấn đề, chỉ thị vị đại sứ không gửi thư phản đối chính thức lên Quốc hội Mỹ và thậm chí còn đồng ý cấp cho nước này một khoản vay khác.46

“Hai đấu sĩ ngoại giao lớn đã chính thức so gươm và triết gia đã sắc sảo tước khí giới của ngài bộ trưởng”, Carl Van Doren nhận định. Đúng vậy, nhưng có lẽ sẽ hay hơn nếu so sánh với thú chơi cờ của Franklin. Từ nước cờ mở đầu dẫn tới hiệp ước liên minh Mỹ - Pháp cho đến nước cờ chốt hạ đem lại hòa bình với Anh và vẫn giữ được tình bạn với Pháp, ông đã làm chủ một trò chơi không gian ba chiều chống lại hai đối thủ khó nhằn bằng cách bày tỏ sự nhẫn nại lớn lao khi các quân cờ không được xếp đặt như ý và thận trọng tận dụng lợi thế chiến lược khi có dịp.47

Franklin đã góp phần vào việc định hình ba văn kiện lớn của cuộc chiến: Tuyên ngôn Độc lập, liên minh với Pháp và hiệp ước với Anh. Giờ ông hướng suy nghĩ của mình đến hòa bình. “Mọi cuộc chiến tranh đều điên rồ, rất tốn kém và tàn độc”, ông viết cho Polly Stevenson. “Khi nào nhân loại mới tin điều đó và đồng ý giải quyết bất đồng bằng trọng tài? Nếu họ làm thế, kể cả bằng cách tung xúc xắc, điều đó vẫn còn tốt hơn việc đánh lộn và tàn phá lẫn nhau.” Với Joseph Banks, một trong số các bạn cũ ở Anh, ông tái khẳng định khẩu hiệu nổi tiếng nhưng có phần dễ gây hiểu lầm: “Không bao giờ có một cuộc chiến tranh tốt hoặc một nền hòa bình tồi.”48

BENNY VÀ TEMPLE

Thay vì trở về nhà ngay lập tức, Franklin quyết định tận hưởng nền hòa bình mới giành được và thư giãn bằng việc tận hưởng bạn bè, gia đình và các thú vui trí tuệ sẵn có trong khuôn viên bình dị của Passy. Benny, cháu trai ông, đang héo mòn ở trường học tại Geneva, nơi gần đây rơi vào bất ổn chính trị vì các kế hoạch trao quyền bầu cử cho mọi công dân. Giờ đây, khi nhiệm vụ ngoại giao của mình đã vãn, Franklin quyết định cho Benny trở lại Passy để nghỉ hè trong mùa hè năm 1783 - lần đầu tiên từ khi đi xa bốn năm trước.49

Khi cuối cùng cũng đoàn tụ với ông ngoại, người mà cậu rất háo hức gây ấn tượng, Benny đã hoàn toàn bị lôi cuốn. Franklin “rất khác những người già khác: họ phiền toái, than thở và bất mãn, còn ông của em thì hay cười và vui tươi như một người trẻ”, cậu nói với một vị khách tới thăm. Sự gần gũi cháu cũng sưởi ấm Franklin. Benny “đã được nuôi dạy rất tốt, rất tiến bộ trong học tập và cư xử”, ông viết cho cha mẹ cậu bé. Với Polly Stevenson, ông viết: “Thằng bé chiếm lấy tình cảm của ta mỗi ngày.”

Mùa hè đó, khi Benny bước sang tuổi 14, cậu được ông ngoại đưa ra sông Seine để tập bơi, còn anh họ Temple thì dạy cậu đánh kiếm và khiêu vũ. Temple cũng gây ấn tượng với cậu bằng việc giả vờ giết một con chuột bằng khí heli, sau đó làm nó sống lại và giết nó thật bằng cú sốc điện từ một quả pin của Franklin. “Con dám chắc anh ấy sẽ được xem là một ảo thuật gia ở Mỹ”, Benny viết thư cho cha mẹ.50

Franklin biết Benny rất ốm yếu, buồn bã ở trường và tình hình chính trị ở Geneva vẫn chưa ổn định. Vì thế ông quyết định cậu không cần quay lại trường dù cậu vẫn còn sách vở, quần áo ở đó. Trước đó, ông đã nghĩ tới việc gửi cậu sang Anh và nhờ Polly Stevenson chăm lo. Cô rất hào hứng với việc đó. Giờ đây, sợ rằng Benny sẽ mất kỹ năng tiếng Anh, ông đề xuất về khả năng này với Polly nghiêm túc hơn. “Việc đó liệu còn tiện cho con?” ông hỏi. “Thằng bé ngoan ngoãn và cư xử nhẹ nhàng, sẵn sàng tiếp thu và làm theo lời khuyên tốt; nó sẽ không nêu gương xấu cho lũ trẻ của con.” Polly thận trọng song vẫn sẵn sàng. “Con sợ thằng bé sẽ nghĩ chúng con không tao nhã và khó lòng ở được lâu, nhưng nếu sự thân mật của người Anh có thể bù đắp cho sự tinh tế của người Pháp, chúng con mong sẽ có dịp làm cậu ấy vui vẻ,” cô đáp.51

Bởi càng lúc càng quý mến Benny, Franklin lại quyết định cậu nên ở lại Passy. “Benny tỏ ra không muốn rời xa ta và quý mến Temple đến mức quyến luyến nên ta quyết định giữ nó lại”, ông giải thích với Polly trong một lá thư viết cuối năm 1783. “Thằng bé cư xử rất tốt, mọi người đều rất yêu quý nó.”

Franklin nghĩ có lẽ với khả năng ngôn ngữ của mình, Benny có thể trở thành một nhà ngoại giao. Tuy vậy, điều đó đòi hỏi cậu phải được bổ nhiệm vào bộ máy nhà nước, một việc tỏ ra khó khăn với Temple. Ông đã từng nói với Bache, cũng như với William con trai ông và nhiều người khác rằng, sự phụ thuộc vào sự bổ nhiệm của chính quyền hạ thấp phẩm giá con người. Giờ đây, một lần nữa ông lại bày tỏ tình cảm tương tự với Bache trong bức thư về con trai anh, Benny: “Cha quyết định cho thằng bé một nghề nghiệp để nó có thể có cái mà trông cậy vào và không cần xin xỏ ân huệ hay chức tước từ bất cứ ai.”52

Nghề mà Franklin chọn cho Benny là một công việc rõ ràng. Vào mùa thu đó, nhà in riêng nhỏ bé của ông ở Passy đang bận rộn in ấn các bản đoản khúc, vì thế ông vui mừng thấy cậu bé háo hức bắt đầu công việc tại đây. Ông thuê một thầy giỏi dạy cậu cách đổ khuôn chữ.

Tới mùa xuân, Franklin đã thuyết phục François Didot, chủ nhà in lớn nhất và nghệ thuật nhất ở Pháp, nhận cậu làm đệ tử. Số phận định sẵn của Benny là theo chân Franklin, từ một thợ in và cuối cùng là một biên tập viên báo chí.

Về phần Temple, ông đành chấp nhận xin xỏ ân huệ và chức tước cho anh. Khi đang hưởng mùa hè ngọt ngào năm 1783, ông thay mặt Temple tội nghiệp viết cho Ngoại trưởng Livingston một lời khẩn cầu tha thiết khác:

Cháu tôi đã trải qua thời gian tập sự gần bảy năm trong công việc của Bộ và rất có năng lực phục vụ Liên bang ở tuyến đó vì sở hữu mọi điều kiện cần thiết về kiến thức, nhiệt huyết, năng động, ngôn ngữ và tài diễn thuyết... Song, tôi không có thói quen nài xin việc làm cho cá nhân tôi hay cho bất cứ ai trong gia đinh, nên tôi sẽ không làm thế trong trường hợp này. Tôi chỉ hy vọng nếu nó được tuyển theo sự sắp xếp của ông, tôi sẽ được thông báo sớm nhất để trong lúc còn khỏe mạnh, tôi có thể đưa nó đi một chuyến quanh nước Ý rồi trở về qua ngả Đức. Tôi nghĩ một chuyến đi với tôi như thế sẽ có ích cho nó hơn là đi một mình. Đây là chuyến du lịch tôi đã hứa với nó từ lâu như một phần thưởng cho sự phục vụ trung thành và sự gắn bó hiếu thảo, ân cần của nó với tôi.

Temple không nhận được vị trí nào trong Bộ và cũng không thể cùng ông nội thực hiện chuyến du lịch lớn ấy. Thay vào đó, anh đã bắt chước ông và cha mình theo một cách ít đáng ca ngợi hơn Benny. Sau khi không cưới được con gái nhà Brillon, anh đã dan díu với Blanchette Caillot, một người đàn bà có chồng là một diễn viên thành công ở gần Passy. Anh có với cô một đứa con trai ngoài giá thú, Theodore. Điều mỉa mai tàn nhẫn là đứa trẻ đã qua đời vì đậu mùa. Cậu là đứa con ngoài giá thú duy nhất chết vì căn bệnh này trong ba thế hệ nhà Franklin.

Dù yểu mệnh song Theodore Franklin, con trai ngoài giá thú của con trai ngoài giá thú của con trai ngoài giá thú của chính ông là hậu duệ theo dòng nam sau chót của Benjamin Franklin. Cuối cùng, không còn ai trong gia tộc mang họ của ông.53

CƠN SỐT KHÍ CẦU

Một trong số những thú tiêu khiển Benny hưởng thụ cùng ông ngoại vào mùa hè và mùa thu năm 1783 là cảnh tượng kỳ vĩ của các chuyến bay bằng khí cầu đầu tiên. Kỷ nguyên du hành trên không bắt đầu từ tháng Sáu khi hai anh em Joseph - Etienne Montgolfier thả một quả cầu khí nóng không người gần Lyon. Nó lên tới độ cao 1,8 m. Nhà Franklin không có mặt lần đó, nhưng vào cuối tháng Tám, họ được thấy chuyến bay không người đầu tiên sử dụng khí hydro. Khoa học gia Jacques Charles đã thả một quả cầu bằng lụa có đường kính 3,6 m chứa đầy khí hydro, được tạo ra khi đổ axit sulfuric lên mạt sắt nóng. Sau một hồi kèn lớn, nó khởi hành trước sự chứng kiến của 50 nghìn người quan sát và bay hơn 45 phút trước khi tiếp đất tại một làng nhỏ cách đó 15 dặm. “Người dân quê nhìn thấy nó rơi xuống đã sợ hãi và tấn công nó bằng đá và dao đến mức nó rách tơi tả”, Franklin viết cho ngài Joseph Banks, chủ tịch Hội Hoàng gia.

Theo sau đó là cuộc chạy đua sản xuất khinh khí cầu có người lái đầu tiên, và anh em nhà Montgolfier đã chiến thắng vào ngày 21 tháng 11 với mô hình khí nóng của họ. Với một đám đông reo hò và vô số phụ nữ ngất xỉu, chiếc khí cầu khởi hành với hai người đàn ông khả kính mang theo rượu vang. Ban đầu họ vướng vào cành cây. “Khi đó tôi cảm thấy rất đau lòng cho họ, tưởng họ sẽ bị lật nhào hay bị bỏng“, Franklin thuật lại. Song họ sớm thoát ra và lướt qua sông Seine. Sau 20 phút, họ hạ cánh ở bờ bên kia và bật nút chai ăn mừng. Franklin nằm trong số các nhà khoa học danh giá ký giấy chứng thực chính thức về chuyến bay lịch sử vào buổi tối hôm sau, khi anh em nhà Montgolfier đến gặp ông ở Passy.

Anh em nhà Montgolfier tin sự nâng bổng không chỉ nhờ khí nóng mà còn nhờ khói, vì thế họ chỉ dẫn các “phi hành gia” dùng rơm và len ướt hơ qua ngọn lửa. Tuy vậy, Franklin thiên hơn về mô hình “ngọn lửa không cháy” sử dụng hydro của Charles và đã hỗ trợ tiền bạc cho chuyến bay có người đầu tiên trên một khí cầu như thế. Nó khởi hành mười ngày sau. Khi ông quan sát từ cỗ xe của mình đỗ gần Vườn Tuileries (chứng gout khiến Franklin không thể đứng với đám đông trên cỏ ướt), Charles và một cộng sự đã bay hơn hai giờ và hạ cánh an toàn cách đó 27 dặm. Một lần nữa, thông qua Banks, Franklin viết báo cáo cho Hội Hoàng gia: “Tôi đã dùng chiếc kính viễn vọng bỏ túi của mình để quan sát cho đến khi mất dấu đầu tiên là con người, sau đó là chiếc giỏ. Khi tôi lần cuối nhìn thấy quả cầu, có lẽ nó không lớn hơn một quả hồ đào.”

Kể từ khi tiến hành các thí nghiệm điện, Franklin tin rằng người ta ban đầu theo đuổi khoa học do sự lôi cuốn hiếu kỳ thuần túy, sau đó các công dụng thực tế sẽ đến từ những gì được khám phá. Lúc đầu, ông miễn cưỡng đoán xem công dụng thực tế của khí cầu là gì, song như ông nói với Banks, ông tin thí nghiệm với chúng một ngày nào đó “sẽ mở đường cho những khám phá triết học tự nhiên về những điều mà hiện chúng ta chưa có ý niệm”. Ông nhận định trong một lá thư khác, nó có thể có “các hệ quả quan trọng mà không ai thấy trước được.” Nổi tiếng hơn cả là cách biểu đạt cùng tình cảm đó nhưng mạnh mẽ hơn ông dùng để đáp lại câu hỏi của một người quan sát rằng liệu các khí cầu mới có thể có công dụng gì. Ông đáp lại: “Vậy một đứa trẻ mới sinh thì có công dụng gì?”54

Vì người Anh không thấy tác dụng của khí cầu và họ quá tự cao để theo sau người Pháp nên họ không chia sẻ niềm hân hoan đó. “Tôi thấy các thành viên khả kính hơn trong Hội Hoàng gia có xu hướng muốn chống lại cơn sốt khí cầu cho đến khi một thí nghiệm nào đó chứng tỏ nó có lợi ích cho xã hội hay khoa học” - Banks viết. Franklin chế giễu thái độ này. “Đối với tôi, từ chối tiến hành một thí nghiêm chắc chắn làm tăng sức mạnh của nhân loại về sự vật cho đến khi hiểu được sức mạnh đó có thể dùng để làm gì không phải là một lý do hay”, ông đáp. “Khi học cách điều khiển nó, chúng ta hy vọng một ngày nào đó có thể tìm ra công dụng cho nó, như cách con người đã làm với từ tính và điện: các thí nghiệm ban đầu về chúng vốn chỉ đơn giản là thú vui.” Vào đầu năm sau, ông đề ra khả năng về một ứng dụng thực tế của khí cầu: nó có thể là phương tiện để tiến hành chiến tranh, hay tốt đẹp hơn, đề gìn giữ hòa bình. “Thuyết phục các vị nguyên thủ về tính điên rồ của chiến tranh có thể là một hiệu ứng, vì việc bảo vệ địa hạt của họ giờ đây trở nên bất khả thi, ngay cả với người tài giỏi nhất”, ông viết cho bạn mình, nhà khoa học và thầy thuốc người Hà Lan, Jan Ingenhousz.

Tuy nhiên, chủ yếu Franklin thỏa mãn bản thân bằng việc tận hưởng cơn sốt và các thú vui quanh nó. Những chuyến bay diễu hành của các khí cầu sặc sỡ, được trang trí và mạ vàng theo kiểu cách tráng lệ trở thành một trào lưu ở Paris mùa đó. Chúng thậm chí còn ảnh hưởng tới mũ, kiểu tóc, thời trang và khiêu vũ. Temple Franklin và Benny Bache tự chế ra các mô hình thu nhỏ. Franklin đã viết một trong những bài giễu nhại điển hình như nhiều lần trước đây - dùng lời lẽ của một phụ nữ tưởng tượng giấu tên. “Nếu bạn cần một nguyên tố nhẹ hơn gấp mười lần khí dễ cháy để bơm đầy khí cầu, bạn có thể tìm được rất nhiều và thật sự tạo ra nó trong lời hứa của các tình nhân và các cận thần”, cô ta viết cho một tờ báo.55

NHÂN VẬT CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG

Ngay cả khi thả mình trong sự phù phiếm của Paris trước Cách mạng, Franklin tập trung phần lớn tác phẩm vào tư tưởng bình đẳng, chống thiên hướng thượng lưu với nguyện vọng xây dựng một xã hội Mỹ mới dựa trên các đức tính của tầng lớp trung lưu. Sally, con gái ông, gửi cho ông các mẩu báo về việc thành lập một chế độ tập ấm gọi là Hội Cincinnati do Tướng Washington đứng đầu, dành cho các sĩ quan cấp cao của quân đội Mỹ. Họ sẽ truyền lại tước vị cho con trai cả của mình. Để đáp lại, vào đầu năm 1784, Franklin đã chế nhạo tư tưởng này. Ông nói, người Trung Hoa đúng đắn khi vinh danh cha mẹ của những người đã thành tài vì họ có vai trò nhất định với việc đó. Còn hậu duệ của những người có danh tiếng vốn không liên quan tới việc giành được danh tiếng ấy, nên việc vinh danh họ “không chỉ vô lý và thiếu cơ sở mà còn dễ gây tổn thương cho chính các hậu duệ đó”. Ông tuyên bố, bất kì hình thức quý tộc hay thế tập nào đều “trực tiếp đi ngược lại nhận thức về đất nước mà họ đã long trọng tuyên bố”.

Trong thư, ông cũng chế giễu biểu tượng của chế độ Cincinnati mới, một con đại bàng hói - vốn đã được chọn làm biểu tượng quốc gia. Điều này tạo cảm hứng cho một trong những đoạn văn nổi tiếng nhất của Franklin về các giá trị Mỹ và câu hỏi về loài quốc điểu:

Tôi mong đại bàng hói chưa từng được chọn làm đại diện của nước ta; đó là loài chim có tính nết xấu, không biết kiếm ăn một cách lương thiện. Bạn có thể đã nhìn thấy chúng đậu trên một cái cây đã chết gần bờ sông để canh chừng lũ ó cá đang làm việc, bởi chúng quá lười để tự bắt cá... Nếu để so sánh thì gà tây là một loài chim khả kính hơn, chúng là cư dân bản địa thực sự của nước Mỹ. (Dù thật sự chúng có phần rỗng tuếch và ngớ ngẩn, song không vì thế mà chúng là biểu tượng tồi hơn). Là một loài chim can đảm, gà tây sẽ không ngần ngại tấn công một tên lính ném lựu đạn trong toán lính Anh.56

Franklin phải nghe những người muốn di cư qua Mỹ quá thường xuyên nên đầu năm 1784 ông in một tập sách song ngữ Anh - Pháp nhỏ nhằm khích lệ những người cần cù hơn trong số họ và làm những người tìm kiếm một cuộc đời nhàn hạ của tầng lớp trên nản chí. Với nhan đề, Thông tin cho những ai sẽ chuyển tới nước Mỹ, tiểu luận này là một trong những lần ông bày tỏ rõ nhất niềm tin xã hội Mỹ nên dựa trên các đức tính của tầng lớp trung lưu (hay “trung bình”, như đôi lần ông dùng để gọi họ với ý nghĩa khen ngợi), mà ông vẫn xem mình là một phần của nó.

Ông nói có ít người Mỹ giàu hay nghèo đến mức như ở châu Âu. “Thứ chủ đạo là một sự trung bình phổ quát vui vẻ.” Thay vì cảnh nghiệp chủ giàu có và tá điền chật vật, “hầu hết mọi người canh tác trên đất đai của họ” hoặc có nghề thủ công, buôn bán. Franklin đặc biệt cứng rắn với những ai tìm kiếm đặc quyền thế tập và những ai “không có phẩm chất nào khác để giới thiệu trừ xuất thân”. Ông nói, ở Mỹ “người ta không hỏi một người lạ xem anh ta là ai mà chỉ hỏi anh ta có thể làm được gì”. Với niềm tự hào riêng khi phát hiện ra mình có các tiền bối cần mẫn hơn là quý tộc, ông nói một người Mỹ thực thụ “sẽ thấy mình mắc nợ nhiều hơn với một nhà phả hệ nếu ông ta chứng minh được rằng tổ tiên và thân hữu suốt mười thế hệ của anh ta từng là thợ cày, thợ mộc, thợ làm thảm, thợ tiện, thợ dệt, thợ thuộc da và kể cả thợ khâu giày, bởi đó họ là những thành viên có ích cho xã hội, hơn là khi ông ta chỉ có thể chứng minh họ là các quý ông không tạo ra giá trị gì ngoài việc sống lười nhác trên lao động của kẻ khác.”

Franklin tuyên bố nước Mỹ đang kiến tạo một xã hội nơi “một người chỉ có Sự cao quý" nhưng không muốn lao động sẽ bị “xem thường và loại bỏ”, trong khi bất cứ ai có kỹ năng hữu ích sẽ đươc vinh danh. Tất cả điều đó tạo ra môi trường đạo đức tốt hơn. “Sự đồng đều về của cải gần như rộng khắp nước Mỹ buộc người dân phải có một kế sinh nhai, các thói tật thường phát xuất từ thói lười biếng được ngăn chặn ở mức độ cao”, ông kết luận. “Sự cần cù và lao động liên tục là cách thức giữ gìn đạo đức và phẩm giá.” Ông có ý định tả lại hiện trạng xã hội Mỹ song cũng tinh tế đề ra những gì ông muốn nó trở thành. Tựu chung lại, đó là khúc khải hoàn đẹp nhất cho các giá trị của tầng lớp trung lưu mà ông đại diện và giúp đưa nó trở thành một bộ phận của tính dân tộc mới.57

Tình cảm của Franklin với tầng lớp trung lưu và các đức tính cần cù, căn cơ của nó có nghĩa là các lý thuyết xã hội của ông có xu hướng kết hợp chủ nghĩa bảo thủ (như ta đã thấy, ông mơ hồ về các luật phúc lợi hào phóng dẫn tới sự phụ thuộc của người nghèo) và chủ nghĩa dân túy (ông phản đối đặc quyền thừa kế và sự giàu sang có được một cách lười nhác thông qua sở hữu điền sản lớn). Năm 1784, ông mở rộng các ý tưởng này với việc đặt câu hỏi về tính đạo đức của sự xa hoa cá nhân quá mức.

“Tôi vẫn chưa nghĩ ra giải pháp cho thói xa hoa,” ông than thở với Benjamin Vaughan. Một mặt, ham muốn xa hoa khích lệ con người ta làm việc chăm chỉ. Ông nhớ lại việc vợ mình từng tặng một chiếc mũ đẹp cho một cô gái quê và chẳng bao lâu tất cả thôn nữ trong làng đó đều ra sức đan găng tay để có tiền mua mũ đẹp. Điều đó dấy lên những tình cảm thực tế ở ông: “Không chỉ các cô gái vui hơn vì có mũ đẹp mà chính người dân Philadelphia cũng vui hơn khi được cung cấp găng tay ấm.” Song dành quá nhiều thời gian tìm kiếm sự xa hoa sẽ gây lãng phí và là một “tội lỗi công cộng”. Vì thế, ông đề xuất nước Mỹ nên áp thuế cao lên việc nhập khẩu trang sức phù phiếm.58

Ác cảm với sự giàu có quá mức cũng khiến ông bảo vệ mức thuế cao, nhất là đối với xa xỉ phẩm. Con người ta có “quyền tự nhiên” với tất cả những gì họ kiếm được mà cần thiết để hỗ trợ bản thân và gia đình họ “song tất cả tài sản dư thừa so với mục đích đó là tài sản của công chúng, những người đã tạo ra nó theo luật”, ông viết thư cho bộ trưởng tài chính Robert Morris. Tương tự, ông cũng tranh cãi với Vaughan rằng chính những người tìm cách bảo vệ việc sở hữu tài sản quá mức đã cho ra lò các đạo luật hình sự tàn ác. “Của cải thặng dư là do xã hội tạo ra”, ông nói. “Luật pháp đơn giản và nhẹ nhàng là đủ để bảo vệ các tài sản thuần túy thiết yếu.”59

Với một số người cùng thời, có xuất thân cả giàu lẫn nghèo, triết lý xã hội của Franklin có vẻ là một sự kết hợp lạ lùng của các niềm tin bảo thủ và cấp tiến. Tuy thế, thực tế, nó tạo ra một thế giới quan nhất quán của tầng lớp lao động. Khác với nhiều cuộc cách mạng sau đó, Cách mạng Mỹ không phải là cuộc nổi dậy cực đoan của giai cấp vô sản bị áp bức. Thay vào đó, nó được lãnh đạo chủ yếu bởi các thị dân, các chủ cửa hiệu có tài sản, với lời kêu gọi tập hợp khá tư sản: “Không đánh thuế khi thiếu sự đại diện”. Sự pha trộn niềm tin của Franklin trở thành thế giới quan của nhiều người Mỹ trung lưu: trung thành với đức tính cần cù, chăm chỉ; có niềm tin nhân từ vào các tổ chức tình nguyện giúp đỡ kẻ khác, sự phản đối bảo thủ của nó với cách ban phát dẫn tới thói lười nhác và ỷ lại cùng sự phản đối có phần mâu thuẫn với sự xa hoa không cần thiết, đặc quyền thế tập và tầng lớp sở hữu đất đai lười biếng.

Cuộc chiến kết thúc cho phép ông nối lại liên lạc thân tình với bạn bè cũ ở Anh, trong đó nổi bật nhất là vị chủ nhà in đồng nghiệp, William Strahan, người mà chín năm trước ông đã viết bức thư không gửi nổi tiếng, tuyên bố: “Ông là kẻ thù của tôi!” Đến năm 1780, ông đã đủ dịu lại để viết một bức thư ký tên “Người bạn cũ thân mến”, sau đó sửa thành “Người đầy tớ khiêm tốn thân mến lâu năm của bạn”. Vào năm 1784, ông ký tên: “Thân mến nhất!”

Một lần nữa họ tranh luận về lý thuyết của Franklin - cho rằng viên chức chính phủ cấp cao nên làm việc không nhận lương; và rằng chính phủ và xã hội Anh mục ruỗng từ bên trong. Tuy vậy, giọng điệu bây giờ đã trở nên đùa cợt khi Franklin đề xuất người Mỹ, “vốn có chút tình cảm sót lại” với người Anh, có lẽ nên giúp cai trị họ. “Nếu các vị không đủ lý trí và đạo đức để tự cai trị mình, hãy hủy bỏ bản hiến pháp cũ điên rồ và phái thành viên vào Quốc hội Lục địa”, ông viết. Sợ Strahan không hiểu mình đang đùa, Franklin thú nhận: “Ông sẽ nói lời khuyên của tôi có mùi rượu Madeira. Vâng đúng thế. Lá thư ngớ ngẩn này chỉ để hai ta tán gẫu khi uống sang chai thứ hai.”60

Franklin cũng dành nửa đầu mùa hè năm 1784 để thu góp thêm ký ức. Ông đã viết khoảng 40% cuốn Tự truyện về sau nổi tiếng tại nhà của Giám mục Shipley ở Twyford vào năm 1771. Giờ đây, đáp lại lời đề nghị của Vaughan - người nói rằng câu chuyện của ông sẽ góp phần giải thích “tính cách của một dân tộc mới”, ông đã viết thêm chừng 10% tác phẩm tại Passy. Thời điểm đó, ông tập trung vào sự cần thiết xây dựng một tính cách Mỹ mới và phần lớn những gì ông viết năm 1784 đều nhằm lý giải kế hoạch tự hoàn thiện nổi tiếng, theo đó ông ra sức rèn luyện 13 đức tính, từ căn cơ và cần cù đến tiết chế và khiêm tốn.

Bạn bè của ông ở Passy đặc biệt xúc động với chuyện về tấm bảng bằng đá đen mà Franklin dùng để ghi lại các nỗ lực nhằm hoàn thiện các đức tính đó. Vốn chưa đạt đủ mọi khía cạnh của sự khiêm tốn, Franklin đã tự hào khoe tấm bảng với Cabanis, thầy thuốc trẻ sống cùng phu nhân Helvétius. Cabanis rối rít khoe trong nhật ký: “Chúng tôi đã chạm vào tấm bảng quý giá. Chúng tôi cầm nó trong tay. Theo một cách nào đó, đây chính là biên niên kỷ của tâm hồn Franklin!”61

Trong lúc rảnh rỗi, Franklin hoàn thiện một trong các phát minh nổi tiếng và hữu dụng nhất của ông: kính hai tròng. Viết cho một người bạn vào tháng 8 năm 1784, ông cho biết minh “vui mừng vì chế ra cặp Kính Kép giúp ta nhìn rõ vật ở xa cũng như ở gần. Nó khiến đôi mắt có ích cho tôi hơn bao giờ hết.” Vài tháng sau, đáp lại lời đề nghị cung cấp thêm thông tin về phát minh này, Franklin viết chi tiết:

Cùng độ lồi của kính qua đó một người nhìn rõ nhất ở độ xa phù hợp để đọc sách lại không phù hợp để nhìn xa hơn. Trước kia tôi có hai cặp kính để đôi lúc thay đổi, như khi đi du lịch tôi thỉnh thoảng đọc một chút và thường muốn nhìn xa. Thấy rằng việc đổi kính rất phiền toái và không phải luôn sẵn sàng, tôi đã cắt các cặp kính và ghép hai nửa cặp vào cùng một gọng. Bằng cách đó, do tôi luôn đeo kính, tôi chỉ phải nhướn mắt lên hoặc xuống. Khi muốn nhìn gần hoặc xa, cặp kính phù hợp luôn sẵn sàng.62

Vì nổi tiếng vừa là một nhà khoa học vừa là một nhà lý luận, năm 1784 Franklin được nhà vua bổ nhiệm vào một ủy ban nghiên cứu các lý thuyết của Friedrich Anton Mesmer.* Là một bác sĩ trông rất lòe loẹt từ Vienna đến, Mesmer tin rằng bệnh tật nảy sinh từ sự rối loạn giả tạo của một dòng chất lỏng vũ trụ sinh ra bởi các thiên thể và có thể trị được nhờ kỹ thuật về từ lực động vật mà ông ta khám phá ra. Cách trị bệnh của Mesmer bao gồm đặt bệnh nhân quanh những bồn gỗ sồi khổng lồ chứa đầy thủy tinh và mạt sắt, trong khi thầy thuốc cầm một chiếc đũa sắt, làm họ nhiễm từ và thôi miên họ. Một dấu hiệu cho thấy chủ nghĩa Khai sáng đang mất kiểm soát: thuật thôi miên trở nên cực kỳ phổ biến ở Paris. Nó thế chỗ khí cầu, trở thành đam mê của thời đại, với các tín đồ bao gồm cả Lafayette, Temple Franklin và Hoàng hậu Marie-Antoinette.

Nhiều cuộc họp của ủy ban được tổ chức ở Passy, nơi mà bản thân Franklin, nhân danh khoa học, cũng đang sử dụng các phương pháp trị liệu này. Trong nhật ký, cậu bé Benny 14 tuổi tả lại một phiên trị liệu: các môn đệ của Mesmer “sau khi cho thôi miên nhiều người ốm... đã ra vườn để thôi miên cây cối.” Sức mạnh của sự gợi ý rõ ràng có thể tạo ra hiệu ứng kỳ lạ. Tuy vậy, các ủy viên xác định “vai trò của chúng ta đòi hỏi phải bình tĩnh, duy lý và cởi mở”. Vì thế họ bịt mắt bệnh nhân, không để họ biết họ có được các thầy thuốc của Mesmer trị liệu hay không. “Chúng tôi nhận thấy tự mình có thể chi phối họ để các câu trả lời của họ giống nhau dù có bị thôi miên hay không.” Họ kết luận rằng Mesmer đã gian lận và những gì diễn ra, theo báo cáo này, chỉ là “sức mạnh của trí tưởng tượng.” Một phụ lục không được công bố của báo cáo lưu ý rằng phép trị liệu này có tác dụng thôi thúc tình dục ở phụ nữ trẻ khi có sự “kích thích thơm ngon”.

Franklin viết cho Temple, khi đó không còn là đệ tử của Mesmer nữa, rằng bản báo cáo này đã hoàn toàn vạch trần các mớ lý thuyết. “Một số người nghĩ nó sẽ đặt dấu chấm hết với thuật thôi miên, song có vô số kẻ cả tin trên thế giới và những sự lừa dối dù vô lý vẫn luôn được ủng hộ suốt mọi thời đại,” ông nói.63

ĐOẠN KẾT

Một nỗi thất vọng của Franklin trong khi đàm phán với các nước châu Âu khác là việc ông lại phải cộng tác với John Adams lần nữa. Ông cho một người bạn biết, ông lo lắng về việc “hệ quả của một liên minh giữa sự ngu muội của tôi và sự tích cực của anh ta sẽ là gì?” Giai đoạn hiền dịu ngắn ngủi của Adams chỉ kéo dài vài tháng sau khi ký kết hiệp ước hòa bình tạm thời với Anh, sau đó ông trở lại là người hay nói xấu sau lưng. Adams viết cho Livingston: “Franklin là một chính trị gia khó hiểu. Nếu quý ông này và bức tượng thần Hermes bằng đá hoa cương trong hoa viên cung điện Versailles được đề cử vào chức đại sứ, tôi không do dự gì mà không bỏ phiếu cho bức tượng, bởi về nguyên tắc nó sẽ vô hại.”

Vì thế Franklin xúc động khi Thomas Jefferson, người đã hai lần từ chối sự ủy nhiệm của Quốc hội về việc cùng Franklin và Adams làm đại sứ ở Paris, rốt cuộc cũng đấu dịu và đến đây vào tháng 8 năm 1784. Jefferson có tất cả các điểm không có ở Adams: ngoại giao và hấp dẫn, thiên vị nước Pháp, cẩn trọng thay vì đố kỵ, yêu phụ nữ và các cuộc vui xã hội chứ không nghiêm ngặt kiểu Thanh giáo. Ông cũng là một triết gia, nhà phát minh và khoa học gia có sự hiếu kỳ Khai sáng ăn khớp hoàn hảo với Franklin.

Hơn thế nữa, Jefferson nhận thức rất rõ bóng tối bao phủ lên Adams. James Madison đã viết cho ông, than thở rằng các lá thư của Adams “bộc lộ sự phù phiếm và thiên kiến đối với triều đình Pháp, cùng sự hằn học với Tiến sĩ Franklin.” Jefferson đáp: “Ông ta ghét Franklin, ghét Jay, ghét người Pháp, ghét người Anh. Không hiểu ông ta có thể tán thành ai?”

Jefferson chia sẻ niềm tin của Franklin rằng chủ nghĩa lý tưởng và hiện thực nên cùng chia sẻ vai trò trong chính sách đối ngoại. “Lợi ích cao nhất của quốc gia cũng như con người phải nghe theo mệnh lệnh của lương tâm”, ông tuyên bố. Không như Adams, ông hoàn toàn kính trọng Franklin. “Tôi tôn kính và trọng thị nhân cách của Tiến sĩ Franklin ở Pháp hơn bất cứ nhân cách của người nào, dù ngoại lai hay bản địa”, ông viết, và khẳng định Franklin là con người và tặng vật vĩ đại nhất của thời đại.” Vài tháng sau, khi có tin mình được chọn để thay Franklin, Jefferson đưa ra câu trả lời nổi tiếng: “Thưa ngài, không ai thay thế được ông ấy, tôi chỉ là người kế nhiệm.”64

Jefferson thường ăn tối, chơi cờ với Franklin và nghe ông thuyết giảng về lòng trung thành mà Mỹ nợ Pháp. Sự hiện diện có tính xoa dịu của Jefferson thậm chí còn giúp Adams và Franklin hòa hợp hơn. Ba người vốn từng cùng soạn ra bản Tuyên ngôn giờ lại làm việc với nhau ở Passy gần như mỗi ngày trong suốt tháng Chín để chuẩn bị cho các hiệp ước châu Âu và các hiệp định thương mại mới. Thực tế, có rất nhiều điều mà ba nhà ái quốc có thể đồng thuận. Họ chia sẻ niềm tin về thương mại tự do, các giao ước mở và sự cần thiết chầm dứt hệ thống trọng thương của các thỏa thuận thương mại áp chế và các lĩnh vực ảnh hưởng hạn hẹp. Như Adams, với một lòng quảng đại bất thường, đã nhận xét: “Chúng tôi tiến triển với sự hòa hợp tuyệt vời, tinh thần hài hước và đồng thuận cao.”

Đối với cả con người và dân tộc, đây là mùa hòa giải. Nếu Franklin có thể xoa dịu quan hệ với Adams, mong sao ông có thể làm việc đó với con trai mình. “Cha thân yêu và kính mến”, William viết từ Anh mùa hè ấy. “Kể từ khi tàn cuộc chiến không vui giữa Anh và Mỹ, con đã sốt sắng muốn biên thư cho cha để cố gắng hồi sinh mối giao tình và liên hệ mà tới tận lúc các rắc rối gần đây nảy sinh, nó vẫn luôn là niềm tự hào và hạnh phúc của đời con.”

Đó là một cử chỉ cao thượng, nhã nhặn và ai oán từ một người con từ trước đến nay chưa bao giờ nói điều gì xấu về người cha ghẻ lạnh mình và chưa bao giờ hết yêu thương ông. Nhưng vẫn là một người mang họ Franklin, William không thể buộc lòng thừa nhận mình sai hay nói lời xin lỗi. “Dù con đã sai, con không thể làm gì khác. Đó là một lỗi phán xét, mà kể cả suy nghĩ chín chắn nhất của con cũng không thể khắc phục. Và con tin chắc nếu hoàn cảnh tương tự xảy ra ngày mai, hành vi của con vẫn sẽ giống hệt như thế.” William đề nghị được tới Paris nếu cha mình không muốn sang Anh để có thể giải quyết các khúc mắc bằng “một cuộc trò chuyện riêng.”65

Hồi âm của Franklin cho thấy nỗi đau của ông, song cũng hé lộ đôi chút hy vọng. Ông bắt đầu bằng việc nói là, ông “vui khi thấy con muốn khôi phục lại mối giao tình” và thậm chí còn tự nói thêm, “điều đó sẽ dễ chịu với cha”. Song, ông lập tức chuyển từ thương yêu sang giận dữ:

Thật sự không có gì từng làm cha đau đớn đến thế và gây cho cha những cảm giác bi thảm đến thế khi thấy mình bị đứa con trai duy nhất bỏ rơi lúc tuổi già. Không chỉ là bỏ rơi, cha còn phải thấy nó cầm vũ khí chống lại mình trong một tranh chấp mà ở đó danh dự, của cải và cả sinh mệnh của cha đều bị đe dọa. Con nói nhận thức về bổn phận của con với nhà vua và sự tôn kính với đất nước mình buộc con làm thế. Cha không thể chỉ trích con vì có tình cảm khác với cha trong việc công. Chúng ta là con người và đều có thể sai lầm. Quan điểm của chúng ta đâu có thuộc quyền của chính mình; chúng được hình thành và chịu sự chi phối rất lớn của hoàn cảnh, vốn thường không thể giải thích cũng như kháng cự. Tình thế của con cũng vậy nên ít ai sẽ chỉ trích con vì giữ mình trung lập, dù rằng có những nghĩa vụ tự nhiên cao hơn nghĩa vụ chính trị.

Đến đây ông tự ngắt lời: “Đây là một đề tài khó chịu. Cha từ bỏ nó”. Ông nói thêm: “Con qua đây lúc này chưa tiện”. Thay vào đó, Temple được phái tới London để làm trung gian. “Con có thể tâm sự với con trai mình mọi vấn đề gia đình mà con muốn trao đổi với cha.” Sau đó, ông bổ sung với một chút nhún nhường: “Cha tin con sẽ thận trọng tránh giới thiệu nó với hạng khách khứa mà nếu bị bắt gặp sẽ không phù hợp cho nó.” Temple là con trai của William, nhưng Franklin tỏ rõ ai là người kiểm soát cậu.66

Ở tuổi 24, Temple chưa có nhiều sự khôn ngoan bằng ông nội song có nhiều hơn hẳn thứ tình cảm gia đình gắn bó bình thường, kể cả với những người xa cách. Anh viết cho một người bạn ở London cho biết từ lâu đã mong trở lại để ôm lấy cha mình. Tuy nhiên, trong chuyến đi Anh, Temple thận trọng thể hiện lòng trung thành với ông nội, thậm chí còn xin phép ông nội trước khi đi chơi biển cùng cha.

Sau một vài tuần, Franklin bắt đầu sợ rằng Temple có thể bỏ ông để đi theo cha và ông đã trách móc anh vì viết thư quá thưa. “Ta đã sốt ruột đợi mỗi chuyến thư đến mà không có lời nào của cháu.” Franklin than thở rằng, ngoài các lý do khác, việc này làm ông bẽ mặt với những người luôn hỏi ông có tin gì của Temple không: “Cháu hãy xem ta phải cảm thấy thế nào, họ phải nghĩ thế nào và nói cho ta biết ta phải nghĩ gì về sự bỏ bê đó.” Trong tất cả thành viên gia đình, chỉ Temple mới làm cho ông có tính ghen tị và sở hữu như thế.

Về phần mình, Temple đang hoàn toàn an hưởng cuộc sống. Anh được đối xử như một hoàng tử nổi tiếng, được Hội Hoàng gia, ngài Thị trưởng chào đón; nhiều phụ nữ mở tiệc trà vinh danh anh. Temple được Gilbert Stuart vẽ chân dung. Một người bạn đưa cho anh danh sách các thợ giày và thợ may giỏi nhất và nói thêm: “Khi nào có hứng, hãy đi với các cô gái an toàn mà tôi cho là khá xinh đẹp.”67

Temple không giải quyết nổi khúc mắc ngăn cách cha và ông nội, nhưng anh có thể hoàn thành một phần nhiệm vụ khác của mình: đưa Polly Stevenson tới Passy. Ở tuổi 45, cô đã góa chồng mười năm và mẹ cô, người chủ nhà suốt một thời gian dài của Franklin, đã từ trần năm trước. (Khi viết thư báo tin buồn, Polly nói bà “yêu ông với tình cảm nồng nàn nhất.) Franklin viết cho Polly rằng cô phải đến gặp ông sớm vì giờ ông như một tòa nhà đòi hỏi “sửa chữa quá nhiều, đến lúc chủ nhà sẽ thấy việc giật sập nó và xây mới còn rẻ hơn.” Cuối mùa hè năm 1784, những lá thư của ông trở nên ta thán hơn. “Hãy đến đây, bạn thân mến, hãy sống với ta khi ta ở đây và đi với ta nếu ta thực sự trở về Mỹ.”68

Đầu tháng 12 năm 1784, nhiều người hội tụ về Passy, đem lại cho Franklin phiên bản gia đình hỗn huyết thỏa mãn nhất, gồm cả ruột thịt và con nuôi, mà ông rất muốn tề tựu quanh mình trong mùa đông cuối cùng ở Pháp. Có mặt ở đó để nuông chiều ông là Temple, Benny, Polly và các con cô, Thomas Jefferson cùng nhiều trí tuệ lớn khác, cộng thêm hai phu nhân Brillon và Helvétius và đoàn tùy tùng tuyệt vời của họ. “Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, nhiều gia đình của ông gần như ở thế cân bằng hoàn hảo, họ xích lại gần nhau trong một mạng lưới của sự thiện chí mà ông là trung tâm”,69 Eugenia Herbert và Claude-Anne Lopez và nhận định.

Polly thích thú với Temple khi gặp lại anh tại London sau mười năm và đùa Franklin về chuyện ông đã cố gắng giữ bí mật lai lịch của anh ngày đó. “Chúng con thấy cậu bé rất giống cha và thật sự thấy vậy dù ai cũng nghĩ mình không được tự ý nói ra điều đó. Chúng con đã giả vờ ngu dốt như những gì cha nghĩ về chúng con hoặc quyết định rằng chúng con nên như thế.” Điều đó cho cô cơ hội trách móc cả hai một chút: “Con tin có lẽ cha từng đẹp trai hơn cháu mình song khi ấy cha không thể đứng đắn bằng.”70

Nhưng, trừ ngoại lệ với ông nội cậu, sự quen thân với Temple không làm nảy sinh tình cảm quý mến. Polly bắt đầu hơi thất vọng với anh sau khi đến Passy. Cô viết cho một người họ hàng: “Cậu ta ưa ăn mặc đẹp và quá đắm chìm trong việc tự thấy mình quan trọng và quá bận rộn theo đuổi lạc thú, nên đó không thể là người có tính cách đáng mến hay đáng trọng.”

Trái lại, Benny, do được giáo dục ở Geneva và sẵn có thiên tính muốn làm người khác hài lòng, đã gây ấn tượng với Polly. “Sự lý trí và nam tính riêng của cậu bé không có dấu vết dù nhỏ nhất của thói công tử bột.” Cậu để tóc như một thiếu niên người Anh hơn là một công tử người Pháp và “với sự giản đơn trong cách ăn mặc, cậu vẫn giữ được sự giản dị, đáng yêu trong tính cách”. Có vẻ Temple trông giống Franklin hơn, song Benny - người bơi ở sông Seine, thả diều bằng đam mê, đưa Polly dạo quanh Paris mà vẫn cần mẫn với công việc tại nhà in - là người giống ông trong tâm hồn.70

TỪ BIỆT

Có những lúc, thực ra là nhiều lúc, khi Franklin viết về việc ông không muốn phá vỡ thiên đường nhỏ này mà muốn ở lại Pháp và chết trong vòng tay những người ông rất đỗi yêu thương và làm ông hài lòng. Bệnh gout và sỏi thận khiến viễn cảnh về một chuyến hải hành là một điều đáng khiếp sợ, trong khi những mẩu than hồng của niềm đam mê dành cho các quý bà ở Paris là một thứ gì đó ông vẫn có thể thưởng thức. Vào tháng 5 năm 1785, ông viết cho một người bạn, nhắc lại một trong những bài hát khi uống rượu cũ của mình:

Liệu tôi có thể chi phối những đam mê của mình bằng sự thống trị tuyệt đối;

Trở nên khôn ngoan hơn và tốt hơn khi sức khỏe hao mòn dần;

Bởi một sự suy nhược nhẹ nhàng chứ không phải gout hay sỏi thận.

“Nhưng điều gì đã báo hiệu cho lời ước ấy?” ông hỏi. “Tôi đã ca lời ca mong ước này cả ngàn lần khi còn trẻ và giờ đây ở tuổi 80, tôi nhận ra ba điều ngược lại đã xảy đến với mình: bị bệnh gout và sỏi thận hành hạ song vẫn chưa làm chủ được tất cả đam mê.”

Tuy nhiên, khi tháng đó ông nhận được tin Quốc hội cuối cùng đã chấp thuận đơn từ chức của ông và Temple không nhận được một chức vụ ở nước ngoài, ông quyết định rằng đã đến lúc trở về nhà. Từ Passy, ông viết thư cho Polly, khi đó đã về Anh, cầu xin cô đi cùng ông. Ông có toàn quyền đặt một khoang rộng rãi cho toàn gia đình. “Có thể con sẽ không bao giờ có cơ hội tốt đến thế.” Tuy nhiên, ít nhất vào lúc này, cô quyết định ở lại Anh.

Ông báo tin về kế hoạch đi lại cho em gái Jane và giải thích: “Anh tiếp tục làm việc cho đến tận cuối ngày hôm nay; lần này, anh nên trở về nhà và đi ngủ.” Những ẩn dụ đã bắt đầu len vào những thứ ông viết ra và ông mở rộng nó sang bạn ông, David Hartley, người đã giúp ông trong nhiều cuộc đàm phán. “Chúng ta là đồng nghiệp trong công việc tuyệt vời nhất, công việc vì hòa bình”, ông viết. “Tôi để lại ông trên cánh đồng này, còn tôi đã xong phần việc của ngày hôm nay, tôi sẽ trở về nhà và lên giường đi ngủ! Hãy chúc tôi có một đêm ngủ ngon và tôi cũng chúc ông một buổi tối vui. Xin từ biệt!”71

Những cuộc chia tay ở Passy thật kịch tính và đẫm lệ. “Mỗi ngày trong đời mình, em sẽ nhớ một con người vĩ đại, một nhà hiền triết, ông ấy muốn làm bạn với em”, phu nhân Brillon viết sau cuộc gặp cuối cùng. “Nếu việc nhớ đến người phụ nữ yêu ông nhất làm ông vui thì xin hãy nhớ đến em.”

Bà Helvétius cũng không chịu thua kém. “Hãy trở lại, bạn thân mến, hãy trở lại với chúng tôi”, bà viết một bức thư được gửi đuổi theo khi ông đã lên tàu. Ông tặng mỗi người bạn một món quà sẽ trở thành thánh tích: Cabanis nhận được cây gậy rỗng có thể làm lặng sóng hết sức ma thuật, mục sư Morellet được một tủ dụng cụ và ghế bành, còn chủ nhà Chaumont được một chiếc bàn có thể khéo léo nâng lên, hạ xuống. (Ông cũng gửi cho Chaumont hóa đơn ghi lại những sự nâng cấp mà ông đã làm với các căn hộ, trong đó có việc lắp đặt một cây cột thu lôi và sửa lại ống khói “để chữa căn bệnh không thể chịu nổi của nó.”)

Để chuyến đi tới cảng Le Havre của ông được thuận lợi, hoàng hậu Marie-Antoinette đã cử cỗ kiệu kín của bà, được kéo bởi những con la Tây Ban Nha vững chãi. Phu quân của bà, vua Louis XVI, đã ban cho Franklin một bức chân dung thu nhỏ của ngài, với 408 viên kim cương nhỏ viền bên. Franklin còn trao đổi tặng phẩm với Vergennes. Ông nhận xét với một trợ lý rằng, “sẽ không bao giờ nước Mỹ có một công bộc hăng hái và hữu ích hơn Franklin.”72

Benny ghi lại trong nhật ký ngày ông rời Passy, 12 tháng 7: “Một sự im lặng tang tóc ngự trị quanh ông, được phá vỡ chỉ bằng vài tiếng nấc nghẹn.” Jefferson đến chào tạm biệt ông và về sau nhớ lại: “Các quý bà làm ông nghẹt thở với những chiếc ôm. Và khi ông giới thiệu tôi là người kế nhiệm, tôi nói ước gì ông chuyển giao các đặc ân này cho tôi, song ông trả lời: ‘Anh còn quá trẻ, chàng trai ạ!'”73

Franklin dự định đi qua eo biển Manche, sau đó mới quyết định xem ông có thể chịu nổi việc vượt đại dương không. Nếu không, ông sẽ đi tàu thủy trở lại Le Havre, và cỗ kiệu của hoàng hậu, vốn vẫn đang ở đó chờ tin, sẽ đưa ông trở về Passy.

Tuy nhiên, như thường lệ, du hành là một liều thuốc bổ chứ không phải là sự khó nhọc đối với Franklin, và rốt cuộc, ông là hành khách duy nhất không say sóng khi đi qua eo biển. Khi đến Southampton, ông và đoàn tùy tùng của mình tới thăm một khoáng tuyền nước muối nóng. Ở đây, ông ghi lại trong nhật ký, ông tắm trong những con suối “và nằm ngửa thả nổi, ngủ thiếp đi và ngủ gần một giờ theo đồng hồ của tôi mà không chìm hay bị lật!”74

Có một cảnh kịch tính cuối cùng diễn ra, một khoảnh khắc xúc động sau chót trước khi ông có thể giong buồm trên chuyến vượt Đại Tây Dương lần thứ tám và cũng là lần cuối. Suốt bốn ngày, ông ngụ tại lữ quán Ngôi sao ở Southampton để đón một vài người bạn Anh chí cốt và nói lời chào từ biệt sau cùng. Linh mục Shipley tới cùng cô con gái Kitty. Benjamin Vaughan cũng tới. Franklin đã tha lỗi cho ông về việc làm cửa hậu cho Temple và Jay. Vaughan đang chuẩn bị xuất bản một phiên bản mới các tác phẩm của bạn mình. Đã có các bữa tối và tiệc mừng vĩ đại, được mô tả trong nhật ký như là “rất thân ái”.

Nhưng người quan trọng nhất đến gặp ông ở lữ quán Ngôi sao chỉ được nhắc tới sơ qua trong nhật ký. “Đã gặp con trai tôi từ London đến chiều hôm trước”, Franklin ghi chú. Không có sự hòa giải nào, cũng không có giọt lệ xúc động nào được ghi lại. Chỉ có cuộc đàm phán lạnh lùng về các món nợ và tài sản.

Franklin đã giành lại quyền kiểm soát Temple và tiến hành cuộc mặc cả cứng rắn thay mặt cháu trai mình. Ông yêu cầu William bán trang trại ở New Jersey cho Temple với giá thấp hơn mức William từng mua; và trừ vào giá này các khoản tiền mà William nợ ông suốt hàng thập kỷ, được ghi chép cẩn thận. Ông cũng giành quyền sở hữu tất cả đất đai mà William đòi hỏi ở New York. Đã giật khỏi tay William chính con trai mình, giờ đây ông lại rút dần tài sản và mối liên hệ của William với nước Mỹ.

Cuộc đoàn tụ cuối cùng của ba thế hệ nam giới nhà Franklin với quá nhiều sự căng thẳng cha-con đã kết thúc lạnh lùng đến nỗi không ai thấy phù hợp để bàn luận về nó. Nhật ký của Franklin không cung cấp thông tin cụ thể nào, và cũng không có ai ghi lại những điều ông từng viết hay kể ra. Ông và con trai không bao giờ gặp lại. William viết thư cho Sally, người em cùng cha khác mẹ, bốn ngày sau đó. Song kỳ lạ thay, ông huyên thuyên về con cái của cô và một bức chân dung định gửi cho cô mà không nhắc gì tới trận cãi nhau kịch tính. Điều liên quan nhất là ở cuối lá thư dài khi ông than thở về việc cả gia đình sắp được đoàn tụ ở Philadelphia: “Định mệnh đã ném anh sang nửa kia của địa cầu.” Thậm chí hàng chục năm sau, khi cả ông nội và cha đều đã ra đi, và rốt cuộc cũng có cơ hội xuất bản một tuyển tập về cuộc đời và sự nghiệp của ông nội, Temple chỉ nói một câu rời rạc và không hé lộ gì nhiều khi nhận xét rằng, Franklin “hài lòng khi gặp lại con trai mình, cựu thống đốc New Jersey” ở Southampton.75

William không được mời tới dự bữa tiệc chia tay diễn ra trên tàu của cha vào tối ngày 27 tháng 7. Được hồi sinh hoàn toàn nhờ chuyến đi và không tỏ chút hối hận nào về cuộc chia tay lạnh nhạt với con trai, Franklin thức với bạn bè đến bốn giờ sáng. Khi ông trở dậy muộn sáng hôm đó, khách khứa đã về hết, chỉ còn hai đứa cháu ở lại bên ông, và con tàu đã khởi hành để trở về nhà.


Nguồn: https://www.dtv-ebook.com
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 20 tháng 4 năm 2024

« Lùi
Tiến »