Xứ Hải Địa 3, Bến Bờ Xa Nhất

Lượt đọc: 260 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KẺ ĐIÊN

TÊN ĐIÊN, THỢ NHUỘM CỦA LORBANERY, ngồi co ro bên cột buồm, vòng hai cánh tay ôm lấy đầu gối, đầu thì gục xuống. Dưới ánh trăng mớ tóc đỏ bù xù của hắn nom như có màu đen. Chim Cắt đã quấn mình vào một tấm chăn và ngủ thiếp đi ở chỗ đuôi thuyền. Cả hai đều không cựa quậy. Arren ngồi ở mũi thuyền; cậu đã tự thề với mình là sẽ thức canh chừng suốt đêm. Nếu vị pháp sư muốn tin rằng gã hành khách điên rồ này sẽ không bất ngờ tấn công ông hay Arren vào lúc nửa đêm thì cứ mặc ông tin như vậy; còn Arren thì sẽ tin vào điều gì cậu nghĩ là đúng và sẽ tự đảm đương lấy trách nhiệm của mình.

Nhưng đêm ấy rất dài và hết sức yên tĩnh. Ánh trăng cứ tỏa xuống mặt biển, không hề thay đổi. Co người bên cột buồm, Sopli ngáy khò khò, những tiếng ngáy kéo dài, khe khẽ. Con thuyền nhẹ nhàng lướt về phía trước; Arren cũng dần chìm vào giấc ngủ. Có một lần cậu giật mình thức giấc và thấy mặt trăng chẳng cao hơn trước là mấy; cậu liền từ bỏ cái trọng trách bảo hộ mà cậu đã tự cho là đúng đắn, nằm xuống cho thoải mái hơn, và ngủ thiếp đi.

Cậu lại nằm mơ, dường như đêm nào cậu cũng mơ kể từ khi bắt đầu chuyến đi này, và mới đầu thì những giấc mơ chỉ là các hình ảnh vụn vặt rời rạc nhưng lại êm đềm dễ chịu một cách lạ kỳ. Cậu mơ thấy một cây cao mọc lên thế chỗ cho cột buồm của thuyền Trông Xa , những cành cây vươn dài, uốn cong, đầy lá xanh; một đàn thiên nga đang dẫn đường cho con thuyền, bay lượn trước mũi thuyền trên những cặp cánh khỏe; xa xa trên mặt biển xanh màu ngọc thạch, vươn lên một thành phố toàn những ngọn tháp trắng muốt. Rồi cậu thấy mình đang ở trong một trong những ngọn tháp đó, hối hả trèo lên các bậc thang xoáy ốc, chân bước nhẹ bỗng. Những cảnh tượng này nối tiếp nhau, lặp lại, thay đổi, rồi biến đi không để lại dấu vết gì; nhưng đột nhiên cậu lại rơi vào cảnh tranh tối tranh sáng mờ ảo đáng sợ trên vùng đồng hoang, với nỗi kinh hoàng tràn ngập trong lòng đến nỗi cậu không thể thở được. Nhưng cậu vẫn đi tới trước, bởi vì cậu phải làm vậy. Một hồi sau cậu chợt nhận ra rằng ở đây đi về phía trước cũng chính là đi thành vòng tròn và giẫm vào dấu chân của chính mình. Thế nhưng cậu phải ra khỏi đây, phải thoát khỏi nơi này. Cảm giác đó mỗi lúc một thúc bách hơn. Cậu bắt đầu chạy. Cậu càng chạy lâu, vòng chạy càng nhỏ lại và mặt đất càng dốc xuống. Cậu chạy trong ánh sáng chạng vạng đang tối dần lại, chạy mỗi lúc một nhanh hơn quanh cái miệng đang tụt xuống của một vực thẳm, một xoáy ốc khổng lồ hút cậu về phía bóng tối: đúng lúc cậu nhận ra điều này thì cậu bị trượt chân và ngã xuống.

“Con làm sao vậy, Arren?”

Chim Cắt cất tiếng hỏi cậu từ đuôi thuyền. Ánh bình minh mờ xám bao phủ lên bầu trời và mặt biển tĩnh lặng.

“Không sao ạ.”

“Con gặp cơn ác mộng đó phải không?”

“Không có gì ạ.”

Người Arren lạnh cóng, và tay phải cậu nhức nhối vì bị đè dưới mình. Cậu nhắm nghiền mắt lại chắn ánh sáng đang tỏa rạng và thầm nghĩ, “Ông ấy lúc nào cũng nói bóng nói gió, nhưng sẽ chẳng bao giờ nói thẳng ra cho mình biết chúng ta đang đi đâu, tại sao chúng ta lại phải đến đó, hay tại sao mình phải đi theo. Và giờ thì ông ấy lại kéo theo tên điên này đi cùng. Giữa mình và tên điên đó, ai là kẻ rồ dại hơn vì đã đi theo ông ấy? Có lẽ hai bọn họ sẽ hiểu được nhau đấy; tất cả các pháp sư bây giờ đều hóa điên cả rồi, Sopli nói vậy mà. Lẽ ra giờ này mình đã có thể ở nhà, ở nhà trong Cung Điện ở Berila, trong căn phòng có các bức tường chạm trổ của mình, với những tấm thảm đỏ trên sàn và một ngọn lửa ấm trong lò, và mình sẽ thức dậy để đi săn bằng chim ưng với phụ hoàng. Tại sao mình lại đi theo ông ấy? Tại sao ông ấy lại đem mình theo? Ông ấy bảo vì đây là con đường số mệnh của mình, nhưng đó chỉ là cách nói của các pháp sư mà thôi, dùng những từ ngữ hoa mỹ để làm cho mọi việc nghe có vẻ vĩ đại. Nhưng ý nghĩa thực của những từ ngữ ấy thì luôn nằm ở nơi khác. Nếu mình phải đi theo con đường nào thì đó phải là đường dẫn về nhà mình mới đúng, chứ không phải là lang thang vô định giữa vùng Tứ Hải như thế này. Mình còn có bổn phận ở nhà, vậy mà giờ mình lại trốn tránh chúng. Nếu ông ấy thực sự nghĩ rằng pháp thuật đang bị một kẻ thù nào đó làm hại, tại sao ông ấy lại chỉ đi đơn thương độc mã và đem theo mình mà thôi? Ông ấy đã có thể đem theo một pháp sư khác để trợ giúp - có thể đem theo hàng trăm pháp sư là đằng khác. Ông ấy đã có thể đem theo cả một đội quân, một đoàn chiến thuyền. Chẳng lẽ đây là cách đối phó với những mối hiểm nguy lớn hay sao, cử đến một ông già và một thằng bé đi trên một con thuyền cọc cạch như thế này? Thật là điên rồ. Chính ông ấy cũng đã hóa điên rồi; đúng như ông ấy nói, ông ấy đang đi tìm cái chết. Ông ấy đi tìm cái chết, và lại muốn đem mình theo cùng. Nhưng mình không điên, và cũng chưa già; mình sẽ không chịu chết đâu; mình sẽ không đi cùng ông ấy.”

Cậu chống khuỷu tay ngồi dậy, nhìn về phía trước. Vầng trăng đã mọc lên trước mặt họ khi họ rời Vịnh Sosara giờ lại đang lặn xuống cũng ở trước mặt họ. Phía sau, ở đằng Đông, ánh bình minh hiện lên mờ đục, yếu ớt. Trời không có nhiều mây nặng, mà chỉ phủ một lớp mỏng xám xịt, u ám. Sau đó ánh nắng mặt trời trở nên oi nóng hơn, nhưng là một ánh nắng bị che phủ, không chút rực rỡ.

Cả ngày hôm ấy họ đi men theo bờ biển Lorbanery, với hòn đảo thấp xanh rì nhô lên bên tay phải. Một cơn gió nhẹ thổi từ đất liền đến làm căng cánh buồm của họ. Đến gần tối họ vượt qua mũi đất dài cuối cùng; ngọn gió cũng ngừng lại. Chim Cắt lại dùng gió thần thổi vào buồm, và như một con chim ưng được sổ lồng, thuyền Trông Xa hăm hở lao vút về phía trước, để Hòn Đảo Lụa lại phía sau.

Suốt cả ngày tên Sopli Thợ Nhuộm chỉ ngồi co rúm ở một chỗ, rõ ràng là anh ta sợ con thuyền, sợ biển, bị say sóng và hết sức khốn khổ. Giờ anh ta mới cất giọng khàn khàn hỏi, “Chúng ta đang đi về phía Tây phải không?”

Mặt trời đang lặn rọi nắng vào thẳng mặt anh ta; nhưng Chim Cắt, vốn kiên nhẫn với ngay cả câu hỏi ngớ ngẩn nhất, vẫn gật đầu.

“Đến Obehol à?”

“Obehol nằm ở phía Tây Lorbanery.”

“Cách một đoạn đường rất xa về phía Tây. Có lẽ nơi ấy cũng nằm ở đó.”

“Nơi ấy trông như thế nào?”

“Làm sao mà tôi biết được? Làm sao mà tôi trông thấy nó được? Nó không nằm trên Lorbanery! Tôi đã săn lùng tìm kiếm nó suốt bao nhiêu năm trời, bốn năm, năm năm, trong bóng tối, vào buổi đêm, tôi nhắm nghiền mắt lại, lúc nào cũng nghe thấy người ấy gọi Đến đây, đến đây , nhưng tôi không thể đến đó được. Tôi không phải là một pháp sư hùng mạnh có thể tìm đường trong bóng tối. Nhưng có một nơi mà ta có thể đến giữa lúc ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời. Đó là điều mà già Mildi và mẹ tôi không thể hiểu nổi. Họ cứ đi tìm trong bóng tối. Rồi già Mildi chết, còn mẹ tôi thì mất trí. Mẹ tôi đã quên mất những lời thần chú chúng tôi dùng để nhuộm vải, nó đã ảnh hưởng đến trí não của mẹ. Mẹ chỉ muốn chết, nhưng tôi đã bảo mẹ hãy gắng đợi. Đợi cho tới khi tôi tìm được nơi ấy. Phải có một nơi nào chứ. Nếu người chết có thể từ cõi chết trở về dương thế, thì hẳn trên thế gian này phải có một nơi để cho chuyện đó xảy ra.”

“Người chết đang từ cõi chết trở về ư?”

“Tôi tưởng ông phải biết những chuyện như thế chứ,” Sopli nói sau một quãng im lặng, mắt liếc nhìn Chim Cắt.

“Ta muốn được biết chúng.”

Sopli không nói gì. Vị pháp sư đột nhiên nhìn thẳng vào anh ta, một cái nhìn chân thực, đầy uy quyền thuyết phục, mặc dù giọng ông vẫn nhẹ nhàng: “Có phải anh đang tìm kiếm cách để được trường sinh bất tử không, Sopli?”

Sopli nhìn lại ông hồi lâu; rồi anh ta giấu đầu tóc màu nâu đỏ bù xù của mình vào dưới hai cánh tay, hai bàn tay túm lại quanh cổ chân, và lắc lư người tới lui. Hình như mỗi khi sợ hãi anh ta lại thu mình vào tư thế ấy; và khi đang ở trong tư thế ấy thì anh ta không chịu nói hay chú ý tới bất kỳ điều gì người khác nói nữa. Arren quay đi không nhìn anh ta nữa, cảm thấy kinh tởm và tuyệt vọng. Làm sao họ có thể đi tiếp hàng bao nhiêu ngày hay bao nhiêu tuần nữa được, trên con thuyền dài có mười tám thước này, trong khi lại phải đem theo cả Sopli nữa? Thật chẳng khác nào phải chia sẻ cơ thể với một linh hồn bệnh hoạn...

Chim Cắt đến bên Arren ở chỗ mũi thuyền và quỳ một bên đầu gối xuống tấm ván ngang, mắt nhìn vào màn đêm xám xịt. Ông nói, “Tâm tính anh ta hết sức hiền lành.”

Arren không đáp lại. Cậu chỉ lạnh lùng hỏi, “Obehol là cái gì? Con chưa nghe thấy cái tên ấy bao giờ.”

“Ta chỉ biết tên và vị trí của nó trên hải đồ; không hơn gì... Nhìn kìa: các bạn của Gobardon đấy!”

Ngôi sao lớn màu vàng giờ đã nằm cao hơn trên bầu trời phía Nam, và bên dưới nó, vừa nhô lên khỏi mặt biển nhạt nhòa, là một ngôi sao trắng ở bên trái và một ngôi sao trắng xanh ở bên phải, tạo thành một hình tam giác.

“Chúng có tên không ạ?”

“Thầy Khởi Danh không biết. Có lẽ người ở Obehol và Wellogy sẽ có tên để đặt cho chúng. Ta cũng không biết nữa. Chúng ta đang tiến vào vùng biển lạ, Arren ạ, bên dưới Dấu Hiệu của sự Tận Thế.”

Cậu thiếu niên không trả lời, mắt nhìn những ngôi sao vô danh sáng rực bên trên mặt nước bao la với vẻ căm ghét.

Ngày nối ngày, họ cứ tiếp tục đi về phía Tây, trên mặt biển ấm áp của mùa xuân phương Nam, dưới bầu trời quang đãng. Thế nhưng Arren thấy như trong ánh sáng ban ngày có một vẻ gì đó mờ đục, như thể nó đã phải chiếu xiên qua một tấm kính. Nước biển chỉ hơi âm ấm khi cậu xuống bơi, và không khiến cậu dễ chịu hơn chút nào. Thứ đồ ăn ướp muối của họ chẳng có mùi vị gì. Tất cả không còn gì là tươi mới hay trong sáng nữa, ngoại trừ về đêm, khi những ngôi sao càng tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết. Cậu thường nằm ngắm nghía chúng cho tới lúc ngủ thiếp đi. Đêm nào ngủ cậu cũng mơ: luôn luôn là giấc mơ về vùng đồng hoang hoặc cái vực thẳm hoặc một khu thung lũng viền quanh là những vách đá cao vòi vọi hoặc một con đường dốc kéo dài bên dưới một bầu trời thấp; luôn luôn là thứ ánh sáng ảm đạm, là cái cảm giác kinh hoàng trong lòng cậu, và những cố gắng vô ích để chạy thoát.

Cậu không bao giờ kể về những giấc mơ ấy với Chim Cắt. Cậu không cho ông biết điều gì quan trọng, chỉ nói với ông về những chuyện thường ngày gặp phải trong lúc lái thuyền; và Chim Cắt, vốn chỉ nói khi được hỏi, giờ lại càng im lặng thường xuyên hơn.

Giờ đây Arren mới nhận ra mình đã thật xuẩn ngốc biết bao khi tin cậy đặt cả tâm hồn lẫn thể xác mình vào tay con người kín tiếng, không biết nghỉ ngơi này, người luôn để mặc những cơn bốc đồng nhất thời đưa đẩy hành động của mình và không làm bất kỳ điều gì để điều khiển cuộc đời mình, thậm chí còn không cố gắng tự cứu mạng mình nữa. Lúc này ông đang ở trong tâm trạng u uất, và Arren nghĩ đó là vì ông không dám đối mặt với thất bại của chính mình - thất bại của quyền năng pháp thuật, khi nó không còn là một quyền lực tối cao đối với con người nữa.

Đối với những người biết được những điều bí mật, thì cũng chẳng có nhiều bí quyết cho lắm trong thứ Chân Pháp Thuật mà Chim Cắt, cùng với bao nhiêu thế hệ phù thủy và pháp sư khác, đã nhờ vào đó để trở nên nổi tiếng và hùng mạnh. Pháp thuật ấy chẳng có gì ngoài việc biết cách điều khiển gió, thời tiết, hiểu biết về các loại thảo mộc chữa bệnh, và khả năng làm những trò ảo thuật như tạo ra sương mù, ánh sáng và thay hình đổi dạng, chúng có thể khiến kẻ dốt nát thán phục, nhưng kỳ thực chỉ là trò lừa gạt vặt vãnh mà thôi. Thực tế vẫn không hề bị thay đổi. Trong pháp thuật không có gì có thể đem lại cho các pháp sư quyền lực thực sự để thống trị con người; nó cũng chẳng ích gì khi chống lại cái chết. Các pháp sư cũng không hề sống lâu hơn người thường. Mọi lời thần chú bí truyền của họ cũng không thể ngăn cái chết lại, dù chỉ là trong giây lát.

Ngay cả trong những việc nhỏ, ta cũng không thể trông cậy vào pháp thuật được. Chim Cắt luôn hà tiện việc ra tay làm phép; họ nhờ vào ngọn gió bình thường để giương buồm bất cứ khi nào có thể, họ phải tự câu cá kiếm thức ăn, và họ dè sẻn nước uống cũng như các thủy thủ khác. Sau bốn ngày dài đằng đẵng lái thuyền đi ngược chiều một cơn gió thất thường, Arren xin ông hãy dùng gió thần thổi vào buồm để đẩy con thuyền đi, và khi ông lắc đầu, cậu đã hỏi, “Tại sao lại không ạ?”

“Ta sẽ không bắt người ốm phải chạy đua,” Chim Cắt nói, “hay đặt thêm một hòn đá lên cái lưng đã phải vác quá nặng.” Không rõ là ông đang nói về bản thân mình hay về thế gian nói chung. Câu trả lời của ông lúc nào cũng miễn cưỡng, khó hiểu. Arren thầm nghĩ đó chính là chỗ cốt lõi của pháp thuật: nói bóng gió đến những ý nghĩa cao cả bằng những lời nghe có vẻ tầm thường, và biến chuyện ngồi không chẳng làm gì hết, thành một hành động thông thái vô cùng.

Arren đã cố không để ý đến Sopli, nhưng đó là điều không thể; hơn nữa, chẳng mấy chốc cậu thấy mình gần như đã trở thành đồng minh của gã điên đó. Sopli không điên như cậu tưởng, hay ít ra là cũng không điên như những người điên khác, như cậu đã nghĩ khi mới thoạt trông thấy mái đầu rối bù và nghe những câu nói rời rạc của anh ta. Thực ra, có lẽ vẻ điên rồ nhất ở Sopli chỉ là nỗi sợ nước của anh ta. Anh ta đã phải vận hết lòng can đảm ra thì mới có thể bước xuống thuyền, và việc lênh đênh trên thuyền bao nhiêu lâu cũng không khiến anh ta bớt sợ hơn chút nào; lúc nào anh ta cũng chúi đầu xuống để khỏi phải trông thấy mặt nước bập bềnh rập rờn sóng vỗ quanh mình. Chỉ đứng dậy trên thuyền cũng khiến anh ta chóng mặt, phải bám chặt lấy cột buồm. Lần đầu tiên Arren nhảy từ mũi thuyền xuống nước để bơi, Sopli đã hét lên kinh hãi và khi Arren trèo lại lên thuyền thì kẻ khốn khổ đó vẫn còn xanh mét vì sợ. “Tôi tưởng cậu định nhảy xuống nước tự tử,” anh ta nói, làm cho Arren phải bật cười.

Chiều hôm đó, khi Chim Cắt đang ngồi thiền định, không nghe thấy và không chú ý tới bất kỳ điều gì, Sopli liền rón rén đến ngồi bên Arren trên tấm ván ngang. Anh ta hạ giọng thì thầm hỏi, “Cậu không muốn chết, phải không?”

“Tất nhiên là không rồi.”

“Ông ta thì có đấy,” Sopli nói, cằm hơi đưa về phía Chim Cắt.

“Sao anh lại nói vậy?”

Arren hỏi bằng giọng quyền uy, một giọng điệu hết sức tự nhiên đối với cậu, và Sopli cũng chấp nhận giọng điệu ấy, mặc dù anh ta phải hơn Arren khoảng mười đến mười lăm tuổi. Anh ta trả lời ngay, một cách lịch sự, mặc dù lời nói vẫn rời rạc, lúng túng như thường lệ, “Ông ta muốn đến được nơi bí mật ấy. Nhưng tôi không biết tại sao. Ông ta không muốn... Ông ta không tin... không tin vào lời hứa.”

“Lời hứa gì?”

Sopli đưa mắt liếc cậu, trong cái nhìn ấy như còn sót lại chút kiêu hãnh nam nhi đã tàn lụi của anh ta; nhưng vẻ oai nghiêm của Arren vẫn mạnh hơn. Anh ta đáp, rất khẽ khàng, “Cậu biết đấy. Lời hứa về sự sống ấy. Sự sống vĩnh hằng ấy.”

Một cơn rùng mình ớn lạnh chạy khắp người Arren. Cậu chợt nhớ lại giấc mơ của mình: vùng đồng hoang, vực thẳm, những vách đá, thứ ánh sáng lờ mờ. Đó chính là cái chết; chính là nỗi kinh hoàng trước cái chết. Cậu phải thoát khỏi cái chết, phải tìm được con đường ra khỏi đó. Và trên ngưỡng cửa là dáng người chìm trong bóng tối, bàn tay chìa ra một đốm sáng không lớn hơn hạt ngọc trai, đốm sáng của cuộc sống vĩnh hằng.

Lần đầu tiên Arren nhìn vào mắt Sopli: cặp mắt màu nâu nhạt, rất trong; và trong cặp mắt ấy cậu nhận ra rằng rốt cuộc mình đã hiểu được mọi chuyện, và Sopli cũng hiểu như thế.

“Ông ta ấy mà,” gã Thợ Nhuộm nói, cằm lại hếch về phía Chim Cắt, “ông ta không chịu cho người khác biết tên mình. Không ai có thể đem cái tên của ông ta đến đó được. Đường đi quá hẹp.”

“Anh đã trông thấy con đường ấy rồi ư?”

“Trong bóng tối của tâm trí tôi. Nhưng như thế chưa đủ. Tôi muốn tới được đó; tôi muốn được nhìn thấy nó. Nhìn thấy nó trên thế gian này, tận mắt nhìn thấy nó. Nếu như... nếu như tôi chết đi mà vẫn chưa tìm được con đường, chưa tìm được nơi ấy thì sao? Rất nhiều người không tìm được nơi ấy; phần lớn bọn họ còn không biết là nó tồn tại nữa kia. Chỉ có một vài người trong chúng ta là có quyền năng mà thôi. Nhưng rất khó khăn, bởi vì ta phải từ bỏ quyền năng đó để đến được nơi ấy... Không còn thần chú nữa. Không còn danh tính nữa. Để làm điều ấy chỉ trong trí óc thôi thì là quá khó. Và khi ta... chết đi, trí óc ta cũng… chết theo.” Mỗi lần nhắc đến từ “chết” anh ta lại ngắc ngứ. “Tôi muốn biết chắc chắn rằng tôi có thể quay trở lại. Tôi muốn đến được nơi ấy. Được ở phía dương gian. Tôi muốn được sống, được an toàn. Tôi ghét... tôi ghét cái nước biển này...”

Anh ta lại co rúm chân tay vào như con nhện lúc rơi xuống khỏi tấm mạng, và rụt mái tóc đỏ bờm xờm vào giữa hai vai, để khỏi phải nhìn thấy biển nữa.

Nhưng sau đó thì Arren không tránh nói chuyện với anh ta nữa, vì cậu biết Sopli không chỉ có chung những giấc mơ như cậu, mà còn chia sẻ cả nỗi khiếp sợ của cậu nữa; và trong trường hợp tồi tệ nhất, Sopli có thể giúp cậu chống lại Chim Cắt.

Họ cứ thế dong buồm đi mãi một cách chậm chạp trong những ngày trời lặng hay nhờ những cơn gió nhẹ thất thường, đi về phía Tây, nơi mà Chim Cắt giả vờ như Sopli đang dẫn họ tới. Nhưng Sopli không dẫn đường cho họ, anh ta chẳng biết gì về biển cả, chưa bao giờ trông thấy một tấm hải đồ, chưa bao giờ đặt chân lên một con thuyền, và lại sợ nước đến mê mụ. Chính vị pháp sư mới là người dẫn đường và là người đang cố tình dẫn họ đi lạc lối. Giờ thì Arren đã nhận ra điều này và cũng đã hiểu tại sao. Tổng Pháp Sư biết rằng họ và những người khác như họ đang tìm kiếm cuộc sống trường sinh bất tử, đã được hứa trao cho sự sống thần kỳ ấy hoặc bị thu hút về phía nó, và có thể sẽ tìm thấy nó. Vì lòng kiêu ngạo vô bờ của một vị Tổng Pháp Sư, ông e rằng họ sẽ đoạt được nó; ông ghen tị với họ, và sợ họ, không muốn có bất kỳ kẻ nào trên đời hùng mạnh hơn mình. Ông định sẽ đi ra giữa biển Đại Hải mênh mông, cách xa đất liền, cho đến khi họ đã hoàn toàn lạc đường và sẽ không bao giờ có thể quay trở lại nữa, ở đó họ sẽ chết khát. Ông sẵn sàng từ bỏ tính mạng mình để ngăn họ không bao giờ tìm được sự trường sinh bất tử.

Thỉnh thoảng, có khi Chim Cắt nói chuyện với Arren về những việc lặt vặt trên thuyền hay bơi với cậu trong làn nước biển ấm áp hay chúc cậu ngủ ngon dưới những ngôi sao lớn, sáng rực kia, những lúc ấy thì các ý nghĩ nọ đối với cậu thiếu niên là hết sức ngớ ngẩn. Khi ấy cậu sẽ liếc nhìn người bạn đồng hành của mình, nhìn gương mặt khắc khổ, nghiêm nghị, nhẫn nại ấy và tự nhủ, “Đó là chủ nhân và là bạn của ta.” Và cậu không thể tin được rằng mình đã nghi ngờ ông. Nhưng chỉ một lát sau cậu lại cảm thấy nghi ngờ, rồi cậu và Sopli sẽ đưa mắt nhìn nhau, cảnh báo cho nhau về kẻ thù chung của họ.

Ngày ngày ánh nắng nóng bức rọi xuống nhưng trời vẫn u ám. Những tia sáng mặt trời phủ lên mặt biển nhấp nhô sóng như một lớp quang dầu. Nước biển vẫn xanh, bầu trời cũng xanh không hề đổi sắc. Gió nhẹ nổi lên rồi lại ngừng thổi, và họ xoay buồm để đón lấy những cơn gió ấy, rồi lại chậm chạp tiến lên mà không biết bao giờ mới dừng lại.

Mãi đến một buổi chiều họ mới có được một cơn gió nhẹ thuận chiều, và Chim Cắt chỉ lên phía trên, về phía mặt trời lặn, miệng nói, “Trông kìa!” Cao tít bên trên cột buồm một đàn ngỗng biển đang bay như một cổ tự màu đen vạch lên nền trời. Đàn ngỗng đang bay về phía Tây: và khi đi theo chúng, ngày hôm sau thuyền Trông Xa đã thấy hiện ra trong tầm mắt một hòn đảo lớn.

“Đúng nó rồi,” Sopli nói. “Hòn đảo đó. Chúng ta phải đi đến đó.”

“Nơi anh đang tìm kiếm nằm ở đó ư?”

“Phải. Chúng ta phải lên bờ ở đó. Chúng ta chỉ có thể đi xa đến mức này mà thôi.”

“Hòn đảo này là đảo Obehol. Đằng sau nó thuộc vùng Nam Hải là một hòn đảo khác, Wellogy. Và trong vùng Tây Hải thì còn nhiều hòn đảo nữa nằm xa hơn về phía Tây, xa hơn cả Wellogy. Anh có chắc không, Sopli?”

Gã Thợ Nhuộm xứ Lorbanery trở nên giận dữ, mắt anh ta lại lộ vẻ man dại; nhưng Arren thấy lời nói của anh ta thì không hề điên chút nào, không giống như khi họ lần đầu nói chuyện với anh ta nhiều ngày trước trên đảo Lorbanery. “Có. Chúng ta phải lên bờ ở đó. Chúng ta đi thế này là đủ xa rồi. Nơi chúng ta đang tìm kiếm nằm ở đó. Ông muốn tôi phải thề rằng tôi biết chắc như thế ư? Tôi có phải đem tên tôi ra để thề không?”

“Anh không thể làm thế được,” Chim Cắt nghiêm khắc nói, ông phải ngước lên nhìn Sopli vì anh ta cao hơn ông, và lại vừa mới đứng dậy, tay bám chặt lấy cột buồm, để dõi mắt về phía đất liền trước mặt. “Đừng liều lĩnh, Sopli ạ.”

Mặt gã Thợ Nhuộm nhăn nhúm lại như thể đang trong cơn thịnh nộ hay bị đau đớn. Anh ta đưa mắt nhìn dải núi xanh ở đằng xa, phía trước con thuyền, cách một dải nước mênh mông, bập bềnh sóng vỗ, rồi nói, “Ông đã nhận tôi làm người dẫn đường. Đây chính là nơi đó. Chúng ta phải cập bến ở đây.”

“Dù gì thì chúng ta cũng phải cập bến thôi; trên thuyền đã hết nước ngọt rồi,” Chim Cắt nói, và đi đến chỗ bánh lái. Sopli ngồi xuống ở vị trí quen thuộc của mình bên cột buồm, miệng lẩm bẩm. Arren nghe thấy anh ta nhắc đi nhắc lại, “Ta xin đem tên mình ra mà thề. Đem tên mình ra mà thề,” và mỗi lần nói vậy, anh ta lại nhăn nhó như đang bị đau.

Ngọn gió từ phương Bắc đẩy họ đến gần hòn đảo hơn và họ đi men theo bờ biển, tìm một cái vịnh hoặc bến đỗ, nhưng khắp quanh bờ biển phía Bắc, những con sóng vỗ bờ liên tục ầm ầm đổ vào dưới ánh nắng nóng rực. Bên trong đất liền, những ngọn núi xanh rì được tắm trong ánh nắng ấy, cây xanh mọc kín lên đến tận đỉnh núi.

Sau khi đi vòng quanh một mũi đất, cuối cùng thì họ cũng tìm được một cái vịnh sâu hình lưỡi liềm với bãi cát trắng xóa. Ở đây sóng vỗ vào nhẹ nhàng hơn, sức mạnh của chúng đã bị mũi đất chặn lại, và thuyền có thể cập bến được. Trên cả bãi biển lẫn khu rừng phía trên cao đều không thấy có dấu hiệu gì của sự sống con người; họ không nhìn thấy một con thuyền, một mái nhà, hay một dải khói bếp nào. Cơn gió nhẹ ngừng lại ngay khi thuyền Trông Xa tiến vào vịnh. Tất cả đều im lìm, tĩnh lặng, nóng bức. Arren cầm lấy mái chèo, Chim Cắt thì giữ bánh lái. Âm thanh duy nhất vang lên là tiếng mái chèo kêu kẽo kẹt trong quai chèo. Những đỉnh núi xanh vươn cao bên trên bờ vịnh, bao trùm khắp xung quanh họ. Mặt trời đổ từng dải nắng trắng xóa, nóng hừng hực xuống nước. Arren nghe thấy rõ cả tiếng mạch máu đập thình thịch trong tai mình. Sopli đã rời khỏi vị trí an toàn bên cột buồm và khom người ngồi ở mũi thuyền, tay bám vào hai bên mép thuyền, mắt nhìn đăm đăm không dứt về phía đất liền. Khuôn mặt nâu sạm, đầy sẹo của Chim Cắt bóng lên vì mồ hôi, nom như được xoa dầu; ông liên tục đưa mắt nhìn từ những ngọn sóng vỗ bờ thấp đến khoảng dốc rậm rạp đầy cây cối bên trên bờ biển.

“Đi,” ông ra lệnh cho cả Arren và con thuyền. Arren chèo thêm ba nhịp thật lực, và thuyền Trông Xa nhẹ nhàng lướt vào bãi cát. Chim Cắt nhảy xuống để đẩy con thuyền ra xa khỏi đợt sóng xô cuối cùng. Khi đưa tay ra để đẩy thuyền, ông bị vấp và suýt nữa thì ngã, nhưng kịp bám vào đuôi thuyền, đứng lên được. Vận hết sức mình, ông đẩy con thuyền xuống nước trở lại nhờ một đợt sóng vừa rút xuống, rồi loạng choạng trèo qua mép thuyền trong khi nó đang nằm giữa bãi cát và mặt biển. “Chèo đi!” ông gắng gượng thốt lên, rồi nằm bò ra, mồ hôi chảy ròng ròng, cố lấy lại hơi thở. Ông đang nắm trong tay một ngọn giáo - một ngọn giáo đầu bằng đồng dài hai thước. Nó ở đâu ra? Một ngọn giáo khác lao tới trong khi Arren đang bối rối nắm lấy mái chèo; nó đâm trúng cạnh một tấm ván ngang, đập tan tấm gỗ ra làm hàng trăm mảnh, rồi lại bật ngược trở lại. Ở trên con dốc thấp bên trên bãi biển, dưới các tán lá, có những hình thù đang lom khom chạy qua chạy lại. Trong không khí vang lên những tiếng vun vút, vù vù. Arren bất thình lình chúi đầu xuống giữa hai vai, khom lưng lại, và chèo thật mạnh: hai nhịp để ra khỏi vùng nước nông, ba nhịp để quay thuyền, và thoát khỏi đó.

Sopli, ở mũi thuyền sau lưng Arren, bắt đầu hét lên. Hai cánh tay Arren bị túm lại đột ngột đến nỗi mái chèo bật lên khỏi mặt nước. Đầu một mái chèo đập vào bụng cậu, làm cậu hoa cả mắt và nghẹt thở trong giây lát. “Quay lại! Quay lại!” Sopli đang hét lên. Con thuyền bỗng chồm lên trên mặt nước, và tròng trành dữ dội. Ngay khi cậu đã túm lại được hai mái chèo, Arren giận dữ quay phắt về phía sau. Sopli không còn ở trên thuyền nữa.

Xung quanh họ chỉ có vùng nước sâu thẳm của cái vịnh đang nhấp nhô sóng, chói lòa ánh phản chiếu của mặt trời.

Arren lại ngớ ngẩn quay nhìn sau lưng mình, rồi quay sang nhìn Chim Cắt đang quỳ bên đuôi thuyền. “Ở kia,” Chim Cắt nói, chỉ sang bên, nhưng ở đó chẳng có gì ngoài biển cả và ánh nắng chói mắt. Một mũi giáo phóng tới, cách con thuyền chừng vài thước, rơi tõm xuống nước và biến mất. Arren chèo thêm mười hay mười hai nhịp thật lực, rồi chèo ngược lại, và quay sang nhìn Chim Cắt một lần nữa.

Hai bàn tay và cánh tay trái của ông đẫm máu; ông đang rịt một cuộn vải buồm vào vai. Ngọn giáo mũi bằng đồng đang nằm dưới đáy thuyền. Khi Arren nhìn thấy nó ban nãy thì không phải là ông đang cầm nó trong tay; nó nhô ra từ hõm vai của ông, chỗ mũi giáo đã cắm vào. Giờ ông đang lướt mắt nhìn mặt nước nằm giữa họ với bãi cát trắng, ở đó có mấy hình người nhỏ xíu nhảy nhót, dao động dưới đợt hơi nóng bốc lên. Mãi một hồi lâu sau ông mới nói, “Chèo tiếp đi.”

“Sopli...”

“Anh ta đã không trồi lên khỏi mặt nước.”

“Anh ta đã chết đuối ạ?” Arren sững sờ hỏi lại.

Chim Cắt gật đầu.

Arren tiếp tục chèo cho đến khi bãi cát chỉ còn là một đường thẳng màu trắng bên dưới khu rừng và những đỉnh núi xanh hùng vĩ. Chim Cắt ngồi bên bánh lái, vẫn ép cuộn vải vào vai nhưng chẳng chú ý gì tới nó.

“Một mũi giáo đã đâm trúng anh ta ạ?”

“Anh ta đã nhảy xuống.”

“Nhưng anh ta - anh ta không biết bơi. Anh ta sợ nước mà!”

“Phải. Sợ đến chết. Anh ta muốn... Anh ta muốn vào được đến đất liền.”

“Tại sao họ lại tấn công chúng ta ạ? Họ là ai?”

“Hẳn họ ngỡ chúng ta là kẻ địch. Con... con giúp ta giữ cái này một lát được không?” Đến lúc ấy Arren mới thấy mảnh vải ông rịt vào vai đã ướt đẫm, đỏ thắm.

Ngọn giáo đã cắm vào chỗ giữa khớp vai và xương quai xanh, đâm thủng một mạch máu chính, khiến vết thương chảy máu không ngừng. Chim Cắt bảo Arren xé một chiếc áo vải lanh ra thành nhiều dải làm băng quấn tạm quanh vết thương. Rồi Chim Cắt nhờ cậu đưa cho ông ngọn giáo, và khi Arren đặt nó lên ngang đầu gối ông, ông liền đưa tay phải ra, giơ lên trên mũi giáo, dài và mảnh như lá liễu, làm bằng đồng rèn sơ sài; dường như ông định nói gì đó, nhưng một phút sau ông đành lắc đầu bỏ cuộc. “Ta không còn đủ sức đọc thần chú nữa,” ông nói. “Để sau vậy. Rồi sẽ ổn cả thôi. Con đưa chúng ta ra khỏi cái vịnh này được chứ, Arren?”

Cậu thiếu niên lặng lẽ quay trở về chỗ mái chèo. Cậu gò lưng mải miết chèo, và nhờ sức lực trong tấm thân dẻo dai, uyển chuyển của cậu, chẳng mấy chốc cậu đã đưa được thuyền Trông Xa ra khơi, thoát khỏi cái vịnh hình trăng lưỡi liềm. Bầu không khí nóng bức, tĩnh lặng của buổi trưa miền Nam Hải bao trùm lên mặt biển. Cánh buồm rũ xuống. Mặt trời rọi nắng chói lòa qua một màn mây mù, và những đỉnh núi xanh nom như run rẩy, rung động trong hơi nóng. Chim Cắt nằm duỗi dài ra dưới lòng thuyền, đầu tựa lên tấm ván ngang gần chỗ bánh lái; ông nằm im không nhúc nhích, môi và mi mắt hé mở. Arren không muốn cứ phải nhìn vào mặt ông, cậu liền quay đi nhìn về phía đuôi thuyền. Từng đợt hơi nóng bốc lên dập dờn trên mặt nước, tựa như những tấm mạng nhện giăng từ trên trời xuống. Hai cánh tay cậu run lên vì mệt, nhưng cậu vẫn chèo tiếp.

“Con đang đưa chúng ta đi đâu vậy?” Chim Cắt cất giọng khàn khàn hỏi và cố ngồi dậy. Khi quay đầu lại, Arren trông thấy cái vịnh hình lưỡi liềm lại đang vòng cái tay màu xanh của nó quanh con thuyền, trông thấy bãi cát trắng trước mặt, và những đỉnh núi dồn lại trên đầu. Cậu đã đưa thuyền quay trở lại mà không biết.

“Con không thể chèo được nữa,” cậu nói, rút chèo lên và đến nằm co người bên mũi thuyền. Cậu vẫn tưởng như Sopli đang còn trên thuyền, ở sau lưng cậu, bên cột buồm. Họ đã đi cùng nhau bao nhiêu ngày trời, và cái chết của anh ta bất ngờ quá, phi lý quá, khiến cậu không thể hiểu được. Cậu không còn hiểu được bất kỳ điều gì nữa.

Con thuyền lơ lửng trôi nổi trên mặt nước, cánh buồm rũ xuống bên cột. Thủy triều đã bắt đầu tiến vào vịnh và dần dần, bằng những cú đẩy nhỏ, xô mạn thuyền Trông Xa theo dòng chảy, trôi gần hơn về phía cái vạch trắng của bờ vịnh phía đằng xa.

Trông Xa ,” vị pháp sư âu yếm nói, tiếp theo là một hai từ Cổ Ngữ nữa; thế là con thuyền nhẹ nhàng quay mũi về phía ngược lại và lướt đi trên mặt biển nóng rực, rời khỏi eo vịnh.

Nhưng chỉ chưa đầy một giờ sau, cũng chậm rãi và nhẹ nhàng như vậy, nó không đi tiếp nữa, và cánh buồm lại rũ xuống. Arren quay lại nhìn vào lòng thuyền và thấy người bạn đồng hành của mình vẫn nằm nguyên như trước, nhưng đầu ông đã ngật về phía sau một chút và mắt ông nhắm nghiền.

Arren cảm thấy một nỗi kinh hoàng nặng trĩu, ghê sợ, dần dần đè nặng trong lòng mình, khiến cậu không còn làm gì được, như thể nó đang quấn chặt thân thể và đầu óc cậu bằng những sợi chỉ mảnh. Trong lòng cậu không nổi lên chút can đảm nào để chống lại nỗi sợ ấy; cậu chỉ lờ mờ cảm thấy một chút oán giận trước số mệnh của mình.

Cậu không nên để con thuyền trôi nổi ở vùng biển này, đến gần bờ biển của một hòn đảo có những kẻ tấn công người lạ; đầu óc cậu biết rõ điều đó, nhưng nó chẳng có ý nghĩa gì mấy. Nếu không làm vậy thì cậu sẽ phải làm gì? Chèo thuyền trở lại đảo Roke ư? Cậu đã bị lạc, lạc hoàn toàn, không còn hy vọng gì nữa, lạc lối giữa biển cả mênh mông vùng Nam Hải. Cậu sẽ không bao giờ có thể đưa con thuyền trở lại vùng đất an toàn, sau hàng bao nhiêu tuần lênh đênh trên biển như vậy. Cậu chỉ có thể dựa vào chỉ dẫn của vị pháp sư, nhưng giờ Chim Cắt đã bị thương và bất lực, cũng đột ngột và phi lý như cái chết của Sopli vậy. Mặt ông thay đổi, các đường nét dãn ra, vàng vọt; có lẽ ông đang hấp hối. Arren nghĩ cậu nên đưa ông vào nằm dưới tấm vải buồm để tránh nắng, và cho ông uống nước; người vừa mất máu cần được uống nước. Nhưng đã nhiều ngày nay rồi họ chịu thiếu nước; thùng nước ngọt đã gần cạn rồi. Nhưng có quan trọng gì nữa đâu? Có cố gắng nữa thì cũng chẳng được gì, chẳng ích gì. Vận may của họ đã hết.

Hàng tiếng đồng hồ trôi qua, mặt trời vẫn rọi xuống, và hơi nóng u ám bao trùm lấy Arren. Cậu ngồi im lìm, không cựa quậy.

Một hơi gió mát thoảng qua trán cậu. Cậu ngẩng lên. Trời đã tối: mặt trời đã lặn, ở đằng Tây chỉ còn một ánh đỏ mờ đục. Thuyền Trông Xa chậm chạp tiến lên nhờ một cơn gió nhẹ thổi từ phía Đông đến, men theo những bờ biển dốc, cây cối rậm rạp của đảo Obehol.

Arren đi xuống lòng thuyền và chăm sóc cho người bạn đồng hành của mình, dọn cho ông một cái đệm rơm bên dưới tấm vải buồm và cho ông uống nước. Cậu làm những việc này một cách vội vã, mắt không rời những dải băng quấn, chúng đã cần được thay, vì vết thương vẫn chưa cầm máu hẳn. Chim Cắt, suy nhược và yếu ớt, không nói gì; ngay cả lúc ông uống nước ùng ục, mắt ông vẫn nhắm chặt, và uống xong, ông lại chìm ngay vào giấc ngủ, dường như ông thèm ngủ hơn là khát nước. Ông nằm im lặng; và khi cơn gió nhẹ ngưng thổi trong bóng tối, không có ngọn gió thần nào nổi lên thế chỗ nó, để rồi con thuyền lại trôi lừ đừ trên mặt biển phẳng lặng, nhấp nhô sóng. Nhưng giờ thì dãy núi vươn lên cao vòi vọi ở bên phải con thuyền đã chuyển màu đen thẳm, nổi bật trên nền trời rực rỡ đầy sao. Arren ngắm dãy núi một lúc lâu. Cậu thấy đường nét của chúng có vẻ gì đó quen quen, như thể cậu đã từng thấy chúng trước kia, như thể cậu đã biết rõ chúng suốt cả đời mình.

Khi nằm xuống ngủ, cậu quay mặt về phía Nam, và ở kia, cao tít bên trên mặt biển trống trải, ngôi sao Gorbadon tỏa sáng. Bên dưới nó là hai ngôi sao tạo thành hình tam giác, và bên dưới chúng lại là ba ngôi sao khác vừa mọc lên thành một đường thẳng, tạo thành một hình tam giác lớn hơn. Rồi, trong đêm đó, lại có thêm hai ngôi sao nữa vươn lên khỏi vùng nước đen óng ánh bạc; chúng cũng có màu vàng như Gorbadon, nhưng nhạt hơn, nằm ở cạnh bên phải của hình tam giác, chéo từ phải sang trái. Vậy là tám trong số chín ngôi sao đã mọc lên, trong chòm sao tạo thành hình người đàn ông, hoặc là hình cổ tự Agnen của tiếng Hardic. Nhưng Arren thấy chòm sao ấy chẳng giống hình người đàn ông chút nào, trừ phi đó là một người đàn ông hết sức méo mó dị dạng, như các hình thù của những chòm sao khác; nhưng hình cổ tự thì lại rõ rành rành, với nét móc và nét chéo, tất cả đều đầy đủ, chỉ trừ có nét chữ cuối cùng để hoàn thành cổ tự đó, là ngôi sao vẫn chưa mọc.

Mắt ngắm chòm sao, Arren ngủ thiếp đi.

Khi cậu thức giấc lúc bình minh thì thuyền Trông Xa đã trôi ra xa khỏi Obehol. Một màn sương phủ lên toàn bộ hòn đảo và bờ biển, chỉ để lộ ra một chút đỉnh núi, rồi mỏng đi thành một lớp mù bên trên mặt nước Nam Hải tím ngắt, che mờ những ngôi sao muộn cuối cùng.

Cậu quay sang nhìn người bạn đồng hành của mình. Chim Cắt thở không đều, như vì cơn đau dội lên trong giấc ngủ nhưng vẫn không đủ để khiến ông tỉnh dậy. Dưới ánh sáng lạnh lẽo, mờ nhạt, mặt ông hằn lên đầy nếp nhăn, nom già hẳn đi. Khi nhìn ông, Arren chỉ thấy một ông già không còn chút quyền lực nào, không còn pháp thuật, không còn sức mạnh, thậm chí không còn cả tuổi trẻ, chẳng còn gì nữa. Ông đã không cứu được Sopli, hay tránh cho ngọn giáo khỏi đâm trúng mình. Ông đã đưa họ vào cảnh khốn cùng và đã không cứu được họ. Giờ thì Sopli đã chết, ông thì sắp chết, và rồi Arren cũng sẽ chết. Tất cả là vì lỗi của ông; tất cả đều là vô ích, hão huyền.

Arren nhìn ông bằng con mắt rõ ràng của nỗi tuyệt vọng, và không thấy gì hết.

Trong đầu óc cậu không hiện lên ký ức về cái đài phun nước bên dưới bóng cây thanh lương trà, hay vầng hào quang rực sáng trong sương mù trên con tàu chở nô lệ, hay ở vườn cây ăn quả tàn rụi ở nhà của gia đình Thợ Nhuộm. Trong lòng cậu không có chút kiêu hãnh hay bướng bỉnh nào nổi dậy. Cậu ngắm ánh ban mai ló rạng trên mặt biển yên tĩnh, ngắm những đợt sóng nhồi thấp cuồn cuộn, đắm mình trong ánh sáng có màu như ngọc tím; tất cả đều chỉ như một giấc mơ, hư ảo, không chút sinh khí, không có gì là thực. Và sâu thẳm bên trong giấc mơ ấy, sâu thẳm bên dưới lòng biển, thì không có gì hết - chỉ là một khe hở, một khoảng trống. Không có đáy sâu nào cả.

Con thuyền vẫn trôi về phía trước, chậm chạp và thất thường, tùy theo ý thích nhất thời của cơn gió. Phía sau, những đỉnh núi của Obehol chìm vào bóng tối, nổi bật lên nền trời với vầng thái dương mới nhô lên, và từ đó một luồng gió thổi đến, đẩy con thuyền ra khơi, xa khỏi đất liền, xa khỏi thế gian.

« Lùi
Tiến »