Xứ Hải Địa 3, Bến Bờ Xa Nhất

Lượt đọc: 259 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LORBANERY

TỪ CÁCH XA MƯỜI DẶM, ngang qua mặt biển lấp lánh ánh mặt trời, đã trông thấy đảo Lorbanery vươn lên xanh rì, một màu xanh như của lớp rêu mọc bên miệng đài phun nước. Khi đến gần, hòn đảo tan ra thành những tán lá, những thân cây, bóng mát, rồi đường phố, nhà cửa, khuôn mặt và quần áo của người dân, cùng với bụi bặm, tất cả những thứ ấy gộp vào để tạo nên một hòn đảo có con người sinh sống. Thế nhưng, bao trùm lên khắp hòn đảo vẫn là một màu xanh: vì trên mọi mẫu đất không có nhà cửa hay đường đều được trồng một thứ cây dâu tằm thấp, tán tròn, lá dùng để nuôi những con tằm nhỏ bé, nhả ra thứ tơ sẽ cuộn thành sợi, rồi được những người đàn ông, đàn bà và trẻ nhỏ ở Lorbanery dệt thành lụa. Vào lúc hoàng hôn, trên trời đầy những con dơi nhỏ màu xám bay ra để bắt những con tằm này. Chúng ăn mất rất nhiều tằm, nhưng dân đảo đành chịu cho chúng làm vậy, và không người thợ dệt lụa nào dám giết chúng, vì họ coi việc giết loài dơi xám này là một điều hết sức xúi quẩy. Họ nói rằng, nếu con người có thể sống nhờ vào con tằm được, thì loài dơi cũng có quyền làm vậy.

Các ngôi nhà ở đây nom rất lạ, với những ô cửa sổ nhỏ trổ chẳng có quy luật nào hết, mái lợp cành dâu tằm, tất cả đều phủ một lớp rêu và địa y xanh mướt. Trước kia nơi đây từng là một hòn đảo trù phú, giống như mọi hòn đảo khác của vùng Tứ Hải, và chút giàu có trước kia vẫn còn sót lại trên những căn nhà quét vôi cẩn thận, đồ đạc sang trọng, trên những guồng quay tơ cùng với khung cửi trong các túp nhà tranh và nhà xưởng, và trên cầu tàu bằng đá ở bến cảng Sosara nhỏ, nơi có mấy tàu buôn thường đậu lại. Nhưng giờ trên bến cảng không có con tàu nào. Nước vôi ở những căn nhà đã bạc đi, trong nhà không có đồ đạc mới, phần lớn các guồng quay tơ và khung cửi đều nằm im, phủ một lớp bụi dày, mạng nhện giăng đầy giữa những cần quay, giữa những khung ngang và khung dọc.

“Pháp sư ấy à?” ông trưởng làng Sosara nói, đó là một người thấp bé với khuôn mặt nâu bóng, chai sạn cũng như gót chân trần của ông ta vậy. “Ở Lorbanery này làm gì có pháp sư. Chưa bao giờ có cả.”

“Ai mà có thể tưởng tượng nổi chuyện ấy chứ?” Chim Cắt nói vẻ thán phục. Ông đang ngồi với tám chín người dân làng khác, uống rượu cất bằng quả dâu tằm, một thứ rượu vang nhẹ, nhần nhận đắng. Vì bắt buộc, ông đã đành phải nói với họ là mình đến vùng Nam Hải này để tìm kiếm ngọc lam, nhưng ông không hề tự giả dạng hay cải trang cho người bạn đồng hành của mình, ngoại trừ việc Arren đã để lại thanh gươm của cậu trên thuyền như thường lệ, và nếu Chim Cắt có đem theo cây quyền trượng pháp thuật của mình thì cũng không ai nhìn thấy nó hết. Mới đầu người dân làng đón chào họ với vẻ ủ rũ không chút thiện cảm, và họ sẵn sàng trở nên ủ rũ và thù địch như vậy bất kỳ lúc nào; chỉ có sự khéo léo và uy lực của Chim Cắt mới khiến họ phải miễn cưỡng đón chào hai người lạ mặt. “Hẳn ở đây các vị có những người trồng cây rất giỏi,” giờ ông lại lên tiếng. “Nếu vườn cây ăn quả bị một đợt sương giá muộn thì họ sẽ làm thế nào?”

“Chẳng làm gì cả,” một người gầy giơ xương ngồi ở cuối hàng đáp lại. Tất cả dân làng đều ngồi thành một hàng, tựa lưng vào bức vách của nhà trọ, dưới mái hiên lợp tranh chìa ra. Làn mưa thưa thớt nhưng nặng hạt của tháng Tư rơi lộp độp lên mặt đất, chỉ cách chân họ một quãng.

“Mưa mới là thứ nguy hiểm, chứ không phải là sương giá,” ông trưởng làng nói. “Mưa làm kén tằm bị thối. Không ai có thể làm trời ngừng mưa được. Cũng chưa từng có ai làm được.” Ông ta có vẻ rất hằn học khi nói đến chuyện phù thủy và pháp thuật; còn một số người trong số đám dân làng thì có vẻ luyến tiếc hơn. “Trước kia trời có bao giờ mưa vào dịp này đâu,” một người trong số họ lên tiếng, “hồi ông già ấy vẫn còn sống ấy mà.”

“Ai cơ? Già Mildi ấy à? Lão ta có còn sống nữa đâu. Lão ta chết rồi,” ông trưởng làng nói.

“Người ta thường gọi ông ta là Lão Trồng Vườn,” người gầy còm nói. “Phải. Gọi ông ta là Lão Trồng Vườn,” một người khác phụ họa theo. Sự im lặng lại bao trùm lên tất cả, cũng như màn mưa kia.

Arren đang ngồi phía trong ô cửa sổ của căn nhà trọ chỉ có một buồng. Cậu đã tìm được một cây đàn luýt cũ treo trên tường, một cây đàn thân dài, ba dây, giống như loại đàn thường chơi trên Đảo Lụa, và giờ cậu cũng chơi nó, ngập ngừng chạm vào dây đàn, làm chúng phát ra những âm thanh không lớn hơn tiếng mưa rơi lên mái nhà tranh.

“Ở khu chợ tại Thành Hort, tôi đã thấy có loại vải được rao bán là vải lụa Lorbanery,” Chim Cắt nói. “Có một vài tấm là vải lụa thật. Nhưng không có tấm nào là lụa Lorbanery cả.”

“Mấy năm nay mùa màng kém lắm,” người đàn ông gầy còm nói. “Đã bốn, năm năm nay rồi.”

“Năm năm rồi, nếu tính từ đêm Dã Nguyệt,” một ông già xen vào bằng giọng lầm bầm, tự đắc, “kể từ khi già Mildi chết, phải, ông ta đã chết, mà ông ta làm gì đã già được bằng tôi. Thế mà ông ta đã chết, đúng vào đêm Dã Nguyệt.”

“Hàng hóa hiếm làm cho giá cả tăng lên,” ông trưởng làng nói. “Giờ giá một súc lụa loại mịn vừa, nhuộm xanh, bằng giá của những ba súc vải cùng loại ấy trước kia.”

“Nếu chúng ta còn bán được. Tàu thuyền có đến đâu? Mà thuốc nhuộm xanh thì lại là đồ rởm nữa,” người gầy còm nói, châm ngòi cho một cuộc bàn cãi kéo dài đến gần nửa giờ giữa đám dân làng về chất lượng thứ thuốc nhuộm họ dùng trong các xưởng dệt lụa lớn.

“Ai chế tạo các thứ thuốc nhuộm ấy?” Chim Cắt hỏi, và một cuộc tranh cãi mới lại nổ ra. Cuối cùng ông nhận được câu trả lời, đó là toàn bộ việc nhuộm vải vốn được trông coi bởi một gia đình cũng tự gọi mình là pháp sư; nhưng nếu họ có là pháp sư thật thì họ đã mất hết quyền phép rồi, và cũng không ai tìm được quyền phép ấy nữa, như người đàn ông gầy còm đã nhận xét một cách chua chát. Tất cả, ngoại trừ ông trưởng làng, đều đồng tình rằng thứ thuốc nhuộm màu xanh lơ nổi tiếng và màu đỏ thắm không ai có thể bắt chước được của Lorbanery, thứ màu được đặt tên là “lửa rồng”, dùng để nhuộm áo cho các bà hoàng ở Havnor thời xa xưa, giờ không còn tốt như trước nữa. Có thứ gì đó trong chúng đã biến mất. Có thể nguyên nhân là những cơn mưa trái mùa này, hoặc là đất dùng để chế thuốc nhuộm, hoặc là chất tinh chế. “Hoặc là vì con mắt của những kẻ không biết phân biệt giữa màu xanh da trời đích thực với màu xanh bùn,” người đàn ông gầy còm nói và đưa mắt lườm ông trưởng làng. Ông trưởng làng không thèm đáp lại vẻ thách thức ấy; rồi họ im lặng trở lại.

Thứ rượu vang dâu dường như chỉ làm cho tâm trạng họ càng thêm chua chát, mặt họ càng thêm nhăn nhó. Giờ đây không còn âm thanh gì khác ngoài tiếng mưa rơi rả rích lên vô vàn phiến lá ở các vườn quả trong thung lũng và tiếng sóng biển rì rầm ở đoạn cuối con đường, cùng tiếng đàn luýt khe khẽ vang lên trong bóng tối trong nhà.

“Nó có biết hát không, thằng bé trông như con gái đi cùng ông ấy?” ông trưởng làng hỏi.

“Có, nó biết hát. Arren! Con hát một bài gì đó cho chúng ta nghe đi, chàng trai.”

“Con không thể bắt cái đàn này chơi được cái gì ngoài các cung thứ,” Arren thò đầu ra cửa sổ, mỉm cười nói. “Nó chỉ muốn than khóc thôi. Các vị muốn nghe bài gì ạ?”

“Bài gì mới ấy,” ông trưởng làng càu nhàu.

Cây đàn khẽ rung lên một chút; nhưng cậu đã biết cách điều khiển nó. “Có lẽ ở đây chưa ai được nghe bài này,” cậu nói, rồi cất tiếng hát:

Bên eo biển trắng xóa đảo Soléa

dưới những cành tử hoa trĩu bông ngả xuống

bên mái đầu nàng cúi gằm vì đau khổ

khóc than cho người yêu dấu đã ra đi,

bên cành hoa trắng và cành hoa đỏ

bên nỗi đau không bao giờ nguôi ngoai

tôi xin thề với người, Serriadh

người con của mẹ tôi, người con của Morred

xin nguyện sẽ ghi nhớ mối thù này

mãi mãi, cho tới tận vĩnh hằng.

Tất cả đều im lìm: những khuôn mặt chua chát, những bàn tay và thân hình khắc khổ vì làm lụng vất vả. Họ ngồi yên trong ánh hoàng hôn ấm áp đầy hơi nước của hòn đảo phương Nam, lắng nghe bài hát vang lên như tiếng kêu của một con ngỗng xám trên mặt biển lạnh của đảo Soléa, đầy đau thương, khắc khoải. Bài hát hết đã lâu mà họ vẫn còn ngồi im như vậy.

“Nhạc gì mà lạ thế,” một người ngập ngừng lên tiếng.

Một người khác, vốn tin chắc rằng đảo Lorbanery là trung tâm của toàn thế gian và vũ trụ, thì nói, “Nhạc ngoại bang bao giờ cũng kỳ cục, u sầu như thế đấy.”

“Thế thì xin cho chúng tôi nghe mấy bài hát của các vị đi,” Chim Cắt nói. “Chính tôi cũng đang muốn được nghe một bản nhạc vui vẻ. Thằng bé chỉ biết hát về các vị anh hùng đã quá cố từ thời xưa thôi.”

“Để tôi hát cho,” người vừa gọi bài hát của Arren là nhạc ngoại bang nói, khẽ hắng giọng, rồi bắt đầu hát bài ca về một thùng rượu ngờ nghệch, tham lam, rồi hò dô, nào ta lên đường! Nhưng chẳng có ai hòa giọng hát đoạn điệp khúc cùng với ông ta, và tiếng hò dô của ông ta uể oải ngừng lại.

“Giờ chẳng còn ai hát hò cho đúng cách nữa,” ông ta bực bội nói. “Chỉ tại bọn trẻ tuổi cả, lúc nào cũng tìm cách cắt xén, thay đổi những phong tục cũ, và không chịu học các bài hát cổ.”

“Không phải vì thế đâu,” người gầy gò đáp lại, “mà vì chẳng còn việc gì được làm đúng cách nữa cả. Tất cả đều sai lệch hết.”

“Đúng, đúng, đúng,” ông cụ già lão nhất khò khè phụ họa, “vận may đã hết rồi. Chính là thế đấy. Vận may đã hết rồi.”

Sau đó thì chẳng còn mấy chuyện mà nói nữa. Đám dân làng lẻ tẻ bỏ về theo nhóm hai ba người một, cho đến khi chỉ còn lại mình Chim Cắt ngồi ngoài cửa sổ và Arren ngồi bên trong. Rồi cuối cùng Chim Cắt bỗng nhiên bật cười. Nhưng tiếng cười của ông không có chút gì là vui vẻ.

Bà vợ của ông chủ nhà trọ rụt rè bước vào, trải chăn đệm lên sàn nhà cho họ, rồi lại đi ra, và họ nằm xuống ngủ. Nhưng những thanh xà nhà cao vút bên trên lại lủng lẳng đầy dơi. Suốt cả đêm chúng bay ra bay vào ô cửa sổ không có kính, kêu rít lên chói cả tai. Chỉ đến lúc bình minh chúng mới quay trở lại và nằm im, mỗi con cuộn mình lại thành một bọc nhỏ màu xám gọn gàng treo ngược trên các thanh xà.

Có lẽ chính sự ồn ào của bầy dơi đã khiến giấc ngủ của Arren cũng trở nên bất an. Đã nhiều đêm rồi cậu chưa được ngủ trên bờ; cơ thể cậu không quen với mặt đất đứng yên, và khi ngủ thiếp đi, cậu thấy mình vẫn như đang lắc lư, lắc lư... thế rồi mặt đất bỗng tụt xuống dưới lưng cậu và cậu giật thót mình tỉnh giấc. Khi cuối cùng cũng ngủ được thì cậu lại mơ thấy mình vẫn còn đang bị xiềng trong khoang con tàu chở nô lệ; còn những người bị xiềng cùng với cậu thì đã chết cả. Mấy lần cậu thức dậy, cố thoát ra khỏi giấc mơ ấy, nhưng khi vừa ngủ trở lại thì ngay lập tức lại mơ thấy nó. Cuối cùng, cậu thấy như mình chỉ còn lại một mình trên con tàu, nhưng vẫn bị xiềng nên không thể cử động nổi. Rồi bỗng một giọng nói trầm trầm, kỳ lạ, vang lên trong tai cậu. “Hãy rũ bỏ xiềng xích đi,” giọng nói ấy bảo. “Hãy rũ bỏ xiềng xích đi.” Nghe vậy cậu liền thử nhúc nhích, và thấy đã có thể cựa quậy: cậu đứng dậy được. Cậu đang ở trên một cánh đồng hoang vu rộng bát ngát, mờ ảo, dưới một bầu trời nặng trĩu mây đen. Một nỗi kinh hoàng ngự trị trên mặt đất và trong bầu không khí dày đặc sương, một nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Nơi này chỉ toàn nỗi khiếp sợ, nó chính là nỗi khiếp sợ; và cậu đang bị lạc ở đây, mà xung quanh lại không có một lối đi nào. Cậu phải tìm ra đường đi, nhưng không tìm thấy gì hết, và cậu thấy mình nhỏ xíu lại như một đứa trẻ, như một con kiến, trong khi nơi ấy lại quá rộng lớn, dường như vô tận. Cậu cố bước đi, bị vấp ngã, rồi tỉnh dậy.

Giờ đây khi cậu đã tỉnh ngủ thì nỗi khiếp sợ chỉ còn ở trong lòng cậu chứ cậu không còn nằm trong nỗi khiếp sợ nữa; thế nhưng nó vẫn không kém phần khủng khiếp và vô tận. Cậu thấy như bị bóp nghẹt bởi bóng tối đen ngòm của căn phòng, và phải nhìn ra ô vuông lờ mờ vốn là cái cửa sổ để tìm mấy ngôi sao, nhưng mặc dù mưa đã tạnh, trên bầu trời vẫn không có một ngôi sao nào. Cậu nằm thức chong chong, sợ hãi, trong khi bầy dơi lặng lẽ bay ra bay vào trên những đôi cánh mỏng. Thỉnh thoảng cậu lại nghe thấy tiếng kêu yếu ớt của chúng, chỉ vừa đủ thấp để tai người nghe được.

Buổi ban mai sáng rực cuối cùng cũng kéo đến, và cả hai đều dậy sớm. Chim Cắt sốt sắng hỏi thăm người dân làng về ngọc lam. Mặc dù không người nào biết ngọc lam là gì, tất cả bọn họ đều có ý kiến riêng của mình về thứ đá ấy và bàn cãi một hồi lâu; trong lúc ông lắng nghe, nhưng kỳ thực là đang lắng nghe tin tức về một việc khác, chứ không phải là ngọc lam. Sau đó ông cùng với Arren đi theo hướng mà ông trưởng làng đã gợi ý, về phía khu mỏ nơi thứ đất màu dùng để chế thuốc nhuộm xanh được khai thác. Nhưng đi được một đoạn thì Chim Cắt lại rẽ ngang sang bên.

“Đúng là nhà ấy đây,” ông nói. “Họ bảo rằng cái gia đình thợ nhuộm và pháp sư đã bị mất hết quyền năng ấy sống ở ven đường này mà.”

“Nói chuyện với họ thì có ích gì không ạ?” Arren hỏi, cậu vẫn còn nhớ quá rõ Hare.

“Những điều rủi ro này phải có một tâm điểm,” vị pháp sư trả lời vẻ gay gắt. “Phải có một nơi mà vận may biến đi đầu tiên. Ta cần được chỉ dẫn để tìm đến tâm điểm ấy!” Rồi ông đi tiếp, và Arren đành phải đi theo.

Ngôi nhà đứng một mình giữa khu vườn cây ăn quả, một căn nhà vững chãi bằng đá, nhưng từ lâu cả căn nhà lẫn đất đai đều đã bị bỏ mặc, không được chăm sóc gì. Những chiếc kén tằm không có ai nhặt, giờ đã phai màu, bám trên các cành cây xơ xác, và mặt đất bên dưới thì phủ đầy một lớp rác rưởi toàn xác chết ấu trùng và bướm đã lột xác. Dưới tán những cây cao mọc sát nhau, ngôi nhà tỏa ra một mùi lưu cữu thối rữa, và khi họ tiến về phía đó, Arren bỗng bất thần nhớ đến nỗi kinh hoàng đã chế ngự cậu suốt đêm qua.

Họ chưa kịp đến được cánh cửa ra vào thì nó đã bật mở. Một người đàn bà tóc bạc lao ra, cặp mắt đỏ ngầu trợn lên nhìn họ, miệng hét, “Cút đi, bọn đáng nguyền rủa, đồ trộm cắp, vu khống, dối trá, lũ ngu độn bần tiện kia! Đi ngay, cút, xéo đi! Cầu cho bọn mi đời đời gặp điều rủi!”

Chim Cắt đứng phắt lại, có hơi ngạc nhiên, rồi nhanh chóng đưa tay lên làm một động tác kỳ lạ. Ông chỉ thốt ra có một từ, “Đi!”

Nghe vậy người đàn bà thôi không quát tháo. Bà ta trố mắt nhìn ông.

“Sao mi lại làm thế?”

“Để ngăn chặn Lời Nguyền của bà.”

Bà ta nhìn ông thêm một hồi lâu, rồi cuối cùng mới cất tiếng khàn khàn hỏi, “Các vị là người lạ?”

“Đến từ phương Bắc.”

Bà ta bước tới trước. Mới đầu Arren đã muốn cười khi trông thấy bà ta, một bà già đứng gào thét trên ngưỡng cửa nhà mình, nhưng khi nhìn bà ta gần hơn thì cậu chỉ cảm thấy nỗi hổ thẹn. Bà ta hết sức dơ dáy, ăn mặc lôi thôi, hơi thở hôi hám, và trong mắt bà ta có cái nhìn đau đớn đến tột cùng.

“Tôi không còn khả năng nguyền rủa ai nữa,” bà ta nói. “Không còn quyền phép gì nữa.” Bà ta bắt chước động tác của Chim Cắt. “Ở xứ các ông người ta vẫn còn làm thế ư?”

Ông gật đầu. Ông bình thản nhìn bà ta, và bà ta cũng đáp lại cái nhìn ấy. Rồi với nét mặt dần dần thay đổi, bà ta hỏi, “Quyền trượng của ông đâu?”

“Ở đây tôi không để lộ nó ra được, bà chị ạ.”

“Đúng là không nên. Nó sẽ khiến ông không có được sự sống. Giống như quyền phép của tôi ấy: nó khiến tôi không giành được sự sống. Vậy nên tôi đã đánh mất nó. Tôi đã đánh mất tất cả những gì tôi biết, đánh mất hết mọi từ ngữ, mọi cái tên. Chúng tuồn ra khỏi miệng, khỏi mắt tôi thành từng sợi dây mảnh như mạng nhện. Trên thế gian có một lỗ hổng, và ánh sáng đang tuột qua lỗ hổng đó biến mất. Và các lời thần chú cũng biến mất cùng với ánh sáng. Ông có biết điều đó không? Con trai tôi cứ ngồi cả ngày nhìn vào bóng tối để tìm kiếm lỗ hổng ấy. Nó nói nó sẽ nhìn được tốt hơn nếu bị mù. Nó đã đánh mất kỹ năng chế thuốc nhuộm rồi. Chúng tôi đã từng là gia đình Thợ Nhuộm của Lorbanery đấy. Nhìn này!” Bà ta đưa ra trước mặt họ hai cánh tay gầy gò, gân guốc, từ bàn tay đến tận vai bám loang lổ một thứ hỗn hợp đủ loại thuốc nhuộm không thể tẩy sạch. “Không thể cọ sạch thuốc nhuộm trên da,” bà ta nói, “nhưng trí óc thì có thể gột rửa hết thảy. Trí óc không giữ lại một màu sắc nào cả. Ông là ai?”

Chim Cắt không đáp. Ông lại nhìn vào mắt người đàn bà; và Arren đứng bên ngắm họ với vẻ lo ngại.

Đột nhiên bà ta run lẩy bẩy và hạ giọng thì thào thốt lên, “Tôi biết ông...”

“Phải. Người cùng hội cùng thuyền thì sẽ nhận ra nhau, bà chị ạ.”

Thật kỳ lạ khi nhìn người đàn bà vừa lùi ra xa vị pháp sư vẻ sợ sệt như muốn chạy trốn khỏi ông lại vừa vươn về phía ông vẻ khao khát như muốn quỳ sụp xuống dưới chân ông.

Ông đưa tay ra nắm lấy tay bà. “Bà có muốn lấy lại được mọi quyền phép của mình, mọi cái tên, mọi pháp thuật không? Tôi có thể cho bà điều đó.”

“Ngài chính là Vĩ Nhân,” bà ta thì thầm. “Ngài là Vua của Bóng Tối, Chúa Tể của Màn Đêm...”

“Không phải. Tôi không phải là vua chúa gì hết. Tôi là một con người, một người bình thường, là anh em của bà, là người giống như bà.”

“Nhưng ông sẽ không chết chứ?”

“Có, tôi sẽ chết.”

“Nhưng ông sẽ trở về từ cõi chết và sống mãi.”

“Tôi không thể. Không ai có thể làm như vậy cả.”

“Nếu vậy thì ông không phải - không phải là Vĩ Nhân của bóng tối,” bà ta nhíu mày nói, và đưa mắt liếc nhìn ông, không còn quá sợ hãi như trước nữa. “Nhưng ông cũng là một Vĩ Nhân. Chẳng lẽ lại có hai người sao? Tên ông là gì?”

Nét mặt nghiêm nghị của Chim Cắt dịu đi trong chốc lát. “Tôi không thể cho bà biết điều đó được,” ông nhẹ nhàng nói.

“Tôi sẽ nói với ông một điều bí mật,” bà ta bảo. Bà ta đứng thẳng dậy, đối mặt với ông, và trong giọng nói cũng như dáng đứng của bà ta có một thoáng vẻ tự trọng trước kia bà ta đã từng sở hữu. “Tôi không muốn cứ sống, sống, sống mãi, trường sinh bất tử. Tôi muốn nhớ lại được danh tính đích thực của mọi vật hơn. Nhưng chúng đã biến mất hết rồi. Những cái tên giờ chẳng còn có nghĩa gì nữa. Không còn điều bí mật nào nữa. Ông có muốn biết tên của tôi không?” Mắt lóe sáng, hai bàn tay siết lại thành nắm đấm, bà ta cúi người về phía trước và thì thầm: “Tên tôi là Akaren.” Rồi bà ta gào lên, “Akaren! Akaren! Tên tôi là Akaren! Giờ thì chúng đều đã biết cái tên bí mật của tôi, tên thật của tôi, và không còn bí mật nào nữa, không còn sự thật nào nữa, không còn cái chết nữa - cái chết - cái chết!” Bà ta nức nở gào lên từ cuối cùng ấy, miệng sùi bọt.

“Hãy im lặng, Akaren!”

Bà ta im bặt. Nước mắt tràn xuống hai bên gò má bẩn thỉu, có vương mấy món tóc bạc rối bù.

Chim Cắt đưa hai bàn tay lên ôm lấy khuôn mặt nhăn nheo, đẫm nước mắt ấy, rồi hết sức nhẹ nhàng, hết sức dịu dàng, hôn lên mắt người đàn bà. Bà ta đứng im bất động, mắt nhắm nghiền. Sau đó ông ghé miệng vào gần tai bà ta, khẽ nói một vài từ bằng Cổ Ngữ, lại hôn bà một lần nữa, rồi buông bà ta ra.

Khi bà ta mở mắt, cặp mắt bà đã trong sáng trở lại, và bà ta nhìn ông hồi lâu bằng cái nhìn tư lự, đầy băn khoăn kinh ngạc. Cái nhìn ấy tựa như cái nhìn của một đứa trẻ mới chào đời nhìn mẹ nó; cũng giống như cái nhìn của một người mẹ dành cho đứa con của mình. Bà ta chậm rãi quay đi, bước về chỗ cánh cửa, đi vào nhà và khép cánh cửa lại sau lưng mình: tất cả đều không một tiếng động, với cái vẻ ngạc nhiên câm lặng vẫn còn nguyên trên gương mặt.

Cũng lặng lẽ như vậy, vị pháp sư quay trở lại con đường. Arren đi theo ông. Cậu không dám thốt ra một câu hỏi nào. Bỗng vị pháp sư dừng lại ở giữa vườn cây ăn quả hoang phế, rồi nói, “Ta đã lấy đi cái tên cũ của bà ta, và đặt cho bà ta cái tên mới. Nó cũng giống như là được tái sinh vậy. Với bà ta thì không còn có thể hy vọng giúp đỡ gì hơn thế được nữa.”

Giọng ông nghẹn lại, đầy căng thẳng.

“Bà ta đã từng có rất nhiều quyền phép,” ông nói tiếp. “Không phải chỉ là một bà phù thủy hay bà lang bình thường, mà là một người phụ nữ biết pháp thuật, có kỹ năng, biết cách dùng kỹ năng của mình để tạo ra cái đẹp, một người phụ nữ đầy kiêu hãnh và đáng kính. Đó là cuộc đời trước kia của bà ta. Và tất cả những cái đó đã bị bỏ phí.” Ông đột ngột quay đi, men theo những lối mòn giữa các cây ăn quả, rồi đến đứng bên cạnh một thân cây, lưng quay về phía Arren.

Arren đứng đợi ông dưới ánh mặt trời nóng nực lốm đốm đổ qua các tán lá. Cậu biết Chim Cắt sẽ cảm thấy hổ thẹn nếu phải chia sẻ mọi cảm xúc của mình với cậu; và thực ra nếu ông có làm vậy thì cậu cũng sẽ chẳng biết phải làm gì hay nói gì. Nhưng cậu hết sức thương cảm cho người bạn đồng hành của mình, giờ tình cảm của cậu không còn là lòng tôn thờ yêu kính một cách lãng mạn như ban đầu nữa, mà xót xa đau đớn hơn, như thể một sợi dây đã nối liền hai trái tim của họ, làm thành một mối ràng buộc không gì tháo gỡ nổi. Trong tình yêu cậu dành cho ông, giờ cậu thấy còn có cả sự đồng cảm: không có nó thì tình yêu cũng không được tôi luyện, không hoàn toàn, và sẽ không thể tồn tại bền vững được.

Chim Cắt mau chóng quay trở lại chỗ cậu, bước đi dưới bóng lá xanh của vườn cây. Họ không nói gì mà chỉ lặng lẽ đi bên nhau. Trời rất nóng những giọt nước mưa còn sót lại đêm qua giờ đã bốc hơi hết, và bụi cuộn lên trên mặt đường dưới chân họ. Sáng sớm hôm ấy đối với Arren có vẻ thật ảm đạm và đìu hiu, tựa hồ vẫn còn bị ảnh hưởng bởi cơn ác mộng của cậu; giờ đây cậu sung sướng bước đi dưới ánh nắng gay gắt hay bóng cây dịu mát, bước đi một cách vui vẻ mà không cần phải bận tâm tới đích đến của họ.

Như thế lại càng hay, bởi vì họ chẳng làm được gì hết. Cả chiều hôm đó họ hỏi chuyện những người thợ mỏ khai thác thứ đất để chế phẩm nhuộm, và cò kè mặc cả mấy miếng đá mà người ta nói là ngọc lam. Khi họ mệt mỏi quay về Sosara, dưới vầng mặt trời đang đổ lửa xuống gáy, xuống đầu họ, Chim Cắt nhận xét, “Đây chẳng qua là khoáng thạch màu xanh lam; nhưng ta nghĩ là ở Sosara họ cũng chẳng phân biệt được đâu.”

“Người ở đây thật là kỳ cục,” Arren nói. “Tất cả mọi việc với họ đều thế; họ không hề phân biệt được sự khác nhau. Cũng giống như hôm qua một người đã nói với ông trưởng làng ấy, ‘Ông không phân biệt được màu xanh da trời thật với màu xanh bùn...’ Họ than phiền về thời buổi khó khăn, nhưng họ không biết thời buổi khó khăn bắt đầu từ khi nào; họ kêu ca rằng hàng hóa kém chất lượng, nhưng họ không làm gì để thay đổi điều đó; họ thậm chí còn không biết được sự khác biệt giữa một thợ thủ công và một pháp sư, giữa sự khéo tay thông thường và Chân Pháp Thuật. Như thể trong đầu họ không có ranh giới phân cách hay màu sắc gì rõ ràng vậy. Mọi thứ với họ đều như nhau; mọi thứ đều chỉ toàn một màu xám.”

“Phải,” vị pháp sư trầm ngâm nói. Ông lẳng lặng bước đi hồi lâu, đầu co lại giữa hai vai như một con chim ưng; mặc dù thấp bé, ông vẫn bước những bước rất dài. “Họ đang thiếu điều gì?”

Arren đáp ngay, không hề do dự, “Niềm vui trong cuộc sống ạ.”

“Đúng thế,” Chim Cắt lại nói, đồng tình với câu trả lời của Arren, nghiền ngẫm nó trong một lát. Cuối cùng ông lên tiếng, “Ta rất mừng là con có thể suy nghĩ giúp ta, chàng trai ạ. Ta cảm thấy vô cùng mệt mỏi và mụ mẫm. Trái tim ta đã trĩu nặng từ sáng nay, từ sau khi chúng ta nói chuyện với người đàn bà trước kia tên là Akaren. Ta không thích những sự hoang phí và hủy diệt. Ta không muốn phải có một kẻ thù. Nếu ta có kẻ thù, thì ta cũng không muốn đuổi theo hắn, tìm ra hắn, đối mặt với hắn... Nếu ta phải truy tìm một thứ gì đó thì nó phải là một báu vật, chứ không phải là một vật đáng ghê tởm.”

“Một kẻ thù ư, thưa ngài?” Arren hỏi.

Chim Cắt gật đầu.

“Khi bà ta nói về Vĩ Nhân, về Vua của Bóng Tối, phải chăng...”

Chim Cắt lại gật đầu. “Ta nghĩ vậy,” ông nói. “Ta nghĩ chúng ta không chỉ phải tìm đến một nơi nào đó, mà còn phải tìm thấy một kẻ nào đó nữa. Thứ đã tràn qua hòn đảo này chính là sự xấu xa, độc ác: chính nó đã gây ra sự tàn phá, đau khổ này, chính nó đã làm biến mất mọi quyền năng và lòng tự hào. Đây là kết quả việc làm của một ý chí xấu xa. Nhưng ý chí ấy thậm chí còn không thèm dừng lại ở đây, không thèm nhận ra Akaren hay Lorbanery. Dấu vết mà chúng ta phải lần theo là dấu vết của sự hủy diệt, giống như bám theo một chiếc xe kéo bị tuột dốc lăn xuống sườn núi và nhìn nó gây ra một trận tuyết lở vậy.”

“Liệu bà ta - Akaren ấy - có thể cho ngài biết thêm điều gì về kẻ thù này không ạ - ví dụ như hắn là ai, hắn đang ở đâu, hay hắn là thứ gì chẳng hạn?”

“Giờ thì không, chàng trai ạ,” vị pháp sư đáp lại, giọng nhẹ nhàng nhưng buồn bã. “Chắc chắn là bà đã có thể cho ta biết điều đó. Trong sự điên dại của bà ta vẫn còn chút pháp thuật. Thực ra, sự điên dại ấy chính là pháp thuật của bà. Nhưng ta không thể bắt bà nói cho ta biết được. Bà ta đã phải chịu quá nhiều đau đớn rồi.”

Nói đoạn ông tiếp tục bước đi, đầu vẫn cúi gằm giữa hai vai, như thể chính ông cũng đang phải chịu đựng một nỗi đau, và hết lòng mong tránh được nỗi đau ấy.

Arren quay đầu lại khi nghe thấy tiếng chân lệt xệt trên con đường ở phía sau lưng. Một người đàn ông đang đuổi theo họ, cách một quãng xa nhưng đang bắt kịp rất nhanh. Bụi đường và mái tóc dài xoăn tít tạo thành một vầng hào quang đỏ ối quanh người anh ta dưới ánh mặt trời đang ngả dần về phía Tây, và cái bóng dài của anh ta trôi nổi trên những thân cây và lối đi giữa các vườn cây ăn quả ven đường, nom thật kỳ quặc. “Nghe này!” anh ta hét lên. “Khoan đã! Tôi đã tìm thấy nó rồi! Tìm thấy rồi!”

Anh ta vội vã lao tới và bắt kịp họ. Bàn tay Arren đầu tiên định chộp lấy khoảng không nơi lẽ ra có chuôi thanh gươm của cậu, rồi lần tìm chuôi con dao đã mất của cậu, rồi cuối cùng cuộn lại thành nắm đấm, tất cả chỉ trong vòng nửa giây. Cậu cau mặt bước tới trước. Người lạ mặt nọ cao hơn Chim Cắt một cái đầu, có đôi vai rộng: một người điên mắt trợn ngược, hơi thở hổn hển, miệng nói lảm nhảm. “Tôi đã tìm thấy nó rồi!” anh ta luôn mồm, trong khi Arren hỏi, “Ngươi định nói gì?” bằng một giọng nói cùng với vẻ mặt thật nghiêm nghị và đầy đe dọa, hòng chế ngự được anh ta. Người đó cứ tìm cách vượt qua cậu để đến chỗ Chim Cắt; Arren lại bước ra chắn trước mặt anh ta.

“Anh là Thợ Nhuộm của Lorbanery,” Chim Cắt nói.

Nghe vậy Arren cảm thấy mình đã thật ngốc nghếch khi cố tìm cách bảo vệ người bạn đồng hành của mình; cậu liền bước tránh sang một bên. Bởi vì chỉ cần vị pháp sư thốt ra mấy từ ấy, kẻ điên nọ lập tức thôi không thở hổn hển nữa, hai bàn tay to bám đầy thuốc nhuộm thôi không co quắp nữa; mắt anh ta dịu đi; và anh ta gật đầu.

“Tôi đã từng làm thợ nhuộm,” anh ta nói, “nhưng giờ tôi không biết nhuộm nữa.” Rồi anh ta liếc mắt nhìn Chim Cắt và nhe răng cười, lắc mái đầu tóc đỏ rậm rạp đầy bụi. “Ông đã lấy mất cái tên của mẹ tôi,” anh ta nói. “Giờ thì tôi không biết mẹ là ai, mẹ cũng không biết tôi là ai nữa. Mẹ vẫn còn yêu thương tôi, nhưng mẹ đã bỏ tôi mà đi rồi. Mẹ đã chết rồi.”

Tim Arren thắt lại, nhưng cậu thấy Chim Cắt chỉ khẽ lắc đầu. “Không, không,” ông nói, “bà ấy chưa chết.”

“Nhưng rồi sẽ có lúc ấy. Mẹ tôi sẽ chết.”

“Phải. Đó là kết quả tất yếu của cuộc sống,” vị pháp sư nói. Người Thợ Nhuộm có vẻ băn khoăn trước điều này trong một phút, rồi anh ta bước tới trước mặt Chim Cắt, túm lấy vai ông, và cúi người xuống bên cạnh ông. Anh ta cử động nhanh đến nỗi Arren không kịp ngăn lại, nhưng cậu cũng đến đủ gần để nghe được anh ta thì thầm, “Tôi đã tìm thấy cái lỗ trong bóng tối. Đức Vua đang đứng đó. Người trông coi nó; người cai quản nó. Người cầm trong tay một ngọn lửa nhỏ, một cây nến nhỏ. Người thổi vào nó và nó tắt đi. Rồi người lại thổi vào nó lần nữa và nó lại cháy bùng lên! Nó lại cháy bùng lên!”

Chim Cắt không hề gạt anh ta ra. Ông chỉ hỏi, “Anh đang ở đâu khi anh trông thấy điều đó?”

“Trên giường.”

“Đang nằm mơ?”

“Không.”

“Anh đã đi qua bức tường ranh giới?”

“Không,” Thợ Nhuộm đáp, giọng đột nhiên trở nên nghiêm trang, gần như có vẻ lúng túng. Anh ta buông vị pháp sư ra, và bước lui lại một bước. “Không, tôi - tôi không biết đó là ở đâu. Tôi đã tìm thấy nó. Nhưng tôi không biết là ở đâu.”

“Đó chính là điều tôi cần biết,” Chim Cắt nói.

“Tôi có thể giúp ông.”

“Bằng cách nào?”

“Ông có một con thuyền. Ông đã đi thuyền đến đây, và sẽ dùng thuyền rời khỏi đây. Ông định đi về phía Tây phải không? Đường đó đúng đấy. Đó chính là đường dẫn tới nơi người xuất hiện. Phải có một nơi nào đó, một nơi nào đó trên thế gian này , bởi vì người còn sống - không phải chỉ như những linh hồn, những bóng ma đã vượt qua bức tường ranh giới đâu - ta không thể mang bất cứ thứ gì ngoại trừ linh hồn qua bức tường, nhưng đây chính là cơ thể, mà là cơ thể sống thực; đây chính là da thịt đã được trường sinh bất tử. Tôi đã trông thấy ngọn lửa bùng lên trong bóng tối nhờ vào hơi thở của người, một ngọn lửa đã bị thổi tắt. Tôi đã nhìn thấy.” Khuôn mặt của người đàn ông thay đổi hẳn, như có một vẻ đẹp man dại dưới ánh hoàng hôn vàng rực, đỏ thắm. “Tôi biết người đã chiến thắng cả cái chết. Tôi biết điều đó. Tôi đã đánh đổi cả quyền năng pháp thuật của mình để biết được điều đó. Tôi đã từng là pháp sư đấy! Và ông cũng biết điều đó, và giờ ông đang đi đến đó. Hãy cho tôi đi cùng.”

Ánh nắng chiều cũng rọi lên mặt Chim Cắt, nhưng nét mặt ông vẫn khắc khổ, không hề thay đổi. “Ta chỉ đang cố tìm đường đến đó mà thôi.”

“Xin hãy cho tôi đi cùng với ông.”

Chim Cắt gật đầu gọn lỏn. “Nếu anh có thể sẵn sàng khi chúng ta chuẩn bị giương buồm,” ông nói, vẫn lạnh lùng như trước.

Người Thợ Nhuộm lại bước lui một bước nữa và đứng ngắm nhìn ông, nét hớn hở trên mặt anh ta dần dần bị bao trùm bởi một vẻ kỳ lạ, u ám; tựa như lý trí đang cố vật lộn để vượt qua cơn dông tố của những lời nói, cảm xúc và ảo ảnh đang làm cho anh ta loạn óc. Cuối cùng anh ta lặng lẽ quay đi không nói một lời, lại chạy xuôi con đường, rồi biến mất trong đám bụi mờ vẫn chưa lắng xuống lúc anh ta chạy đến. Arren thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.

Chim Cắt cũng thở dài, nhưng dường như trái tim ông thì không nhẹ nhõm hơn chút nào. “Vậy đấy,” ông nói. “Những cuộc hành trình kỳ lạ thì phải có những người dẫn đường kỳ lạ. Chúng ta đi tiếp thôi.”

Arren lại bước đi bên ông. “Ngài sẽ không đưa anh ta đi cùng chứ ạ?” cậu hỏi.

“Cái đó còn tùy thuộc vào anh ta.”

Trong một thoáng giận dữ Arren tự nhủ: Cũng còn tùy thuộc cả vào mình nữa chứ. Nhưng cậu không nói gì, và họ tiếp tục bước đi trong im lặng.

Người dân làng Sosara đón họ trở về không lấy gì làm mặn mà. Tất cả mọi sự xảy ra trên một hòn đảo nhỏ như Lorbanery đều lan truyền rất nhanh, và chắc chắn đã có người trông thấy họ rẽ vào nhà của gia đình Thợ Nhuộm và nói chuyện với người điên nọ trên đường. Ông chủ quán trọ phục vụ họ chẳng lịch thiệp gì cho lắm, và vợ ông ta thì có vẻ chết khiếp khi trông thấy họ. Tối hôm đó khi những người đàn ông trong làng đến ngồi dưới mái hiên quán trọ, tất cả bọn họ đều cố tình không thèm bắt chuyện với hai người lạ, nhưng lại rất vui vẻ sôi nổi tán chuyện với nhau. Nhưng họ chẳng có nhiều tài hóm hỉnh để mà chia sẻ, và sự vui tươi cũng chóng tàn. Họ ngồi im lặng một lúc lâu, rồi rốt cuộc ông trưởng làng cũng hỏi Chim Cắt, “Ông có tìm thấy thứ đá xanh của ông không?”

“Tôi có tìm thấy mấy viên đá xanh,” Chim Cắt lịch sự đáp lại.

“Chắc là Sopli chỉ chỗ cho ông chứ gì.”

“Ha, ha, ha,” những người khác cười phá lên khi nghe thấy câu nói mỉa mai tài tình này.

“Hẳn Sopli là anh chàng tóc đỏ?”

“Thằng điên ấy đấy. Sáng nay ông đã đến thăm mẹ nó.”

“Tôi đi tìm một pháp sư,” vị pháp sư nói.

Người đàn ông gầy gò, ngồi gần ông nhất, nhổ vào bóng tối, rồi hỏi, “Để làm gì?”

“Tôi nghĩ có thể tìm hiểu thêm về thứ mà tôi đang tìm kiếm.”

“Người ta đến Lorbanery này chỉ để mua lụa thôi,” ông trưởng làng nói. “Họ không đến đây để mua ngọc. Họ không đến đây để mua bùa chú. Hay để tìm kiếm những chuyện phù phép vớ vẩn, những trò bịp của bọn phù thủy. Ở đây chỉ có người dân lương thiện làm những công việc lương thiện mà thôi.”

“Đúng vậy. Ông ấy nói đúng đấy,” những người khác phụ họa theo.

“Và chúng tôi không muốn có loại người nào khác ở đây cả, nhất là những kẻ ngoại bang đến rình mò, chõ mũi vào việc của chúng tôi.”

“Đúng vậy. Ông ấy nói đúng đấy,” dàn đồng ca lại lên tiếng.

“Nếu quanh đây có tên pháp sư nào không điên thì chúng tôi sẽ cho hắn một công việc tử tế trong xưởng, nhưng bọn phù thủy chẳng bao giờ biết làm ăn cho đứng đắn cả.”

“Họ có thể chứ, nếu có công việc tử tế cho họ làm,” Chim Cắt nói. “Nhà xưởng của các vị đều trống không, vườn cây ăn quả thì không được chăm sóc, những súc lụa trong kho của các vị thì đều đã dệt từ lâu rồi. Các vị làm gì ở Lorbanery này vậy?”

“Chúng tôi chăm lo công việc của riêng mình,” ông trưởng làng vặc lại, nhưng người gầy gò tức tối xen vào, “Tại sao thuyền buôn không đến nữa, thử trả lời cho chúng tôi nghe xem nào! Chúng làm gì ở Thành Hort? Có phải là vì hàng hóa của chúng tôi đã kém đi không?...” Ông ta bị những lời phản bác giận dữ khác cắt ngang. Họ quát tháo lẫn nhau, đứng bật dậy, ông trưởng làng dứ nắm đấm vào mặt Chim Cắt, một người khác rút dao ra. Đám đông đã phát điên. Arren đứng dậy ngay lập tức. Cậu nhìn Chim Cắt, nghĩ rằng ông sẽ đứng lên giữa vầng hào quang pháp thuật và lộ rõ quyền năng của mình để bắt đám người kia phải câm lặng. Nhưng không. Ông cứ ngồi đó, nhìn từ người này sang người khác, lắng nghe những lời dọa dẫm của họ. Và dần dần họ im lặng trở lại, dường như họ không thể giữ được nỗi giận dữ lâu cũng như họ không thể giữ nổi niềm vui. Con dao lại được tra vào trong vỏ; những lời đe dọa chuyển thành lời nhạo báng. Họ bắt đầu quay về nhà như lũ chó sau khi cắn nhau, người thì vênh váo, kẻ thì len lén.

Khi chỉ còn lại hai người với nhau, Chim Cắt liền đứng dậy, đi vào trong quán trọ và uống một hớp nước thật dài từ cái bình đặt bên cửa. “Đi thôi, chàng trai,” ông nói. “Ta phải nghe thế là đủ lắm rồi.”

“Chúng ta xuống thuyền ạ?”

“Ừ.” Ông đặt lên bục cửa sổ hai đồng bạc để trả tiền trọ, rồi nhấc bọc hành lý nhẹ của họ lên. Arren rất mệt và buồn ngủ, nhưng khi nhìn quanh căn buồng của quán trọ, ngột ngạt, ảm đạm, trên xà nhà đầy những con dơi không lúc nào yên, cậu lại nhớ tới đêm qua trong căn buồng ấy, và liền đi theo Chim Cắt ngay. Lúc đi xuống con phố độc nhất, tối tăm của Sosara, cậu cũng nghĩ nếu họ đi bây giờ thì tên điên Sopli sẽ không thể đi theo họ nữa. Thế nhưng khi họ xuống đến bến cảng thì thấy anh ta đã đứng đợi họ bên cầu tàu rồi.

“Anh đây rồi,” vị pháp sư nói. “Lên thuyền đi, nếu anh muốn đi cùng.”

Không nói một lời, Sopli trèo xuống thuyền và ngồi co ro bên cột buồm, như một con chó kếch xù, lông lá bờm xờm. Đến nước này thì Arren buộc phải phản kháng. “Thưa ngài!” cậu nói. Chim Cắt quay lại; họ đứng đối mặt nhau trên cầu tàu, bên trên con thuyền.

“Trên đảo này toàn người điên cả, nhưng con cứ ngỡ là ngài không giống họ. Tại sao ngài lại đưa hắn theo ạ?”

“Để làm người dẫn đường.”

“Dẫn đường - đến với những sự điên rồ khác hay sao? Dẫn đường đến chuyện chết đuối, đến cái chết vì bị dao cắm vào lưng hay sao?”

“Dẫn đến cái chết, nhưng bằng đường nào thì ta không biết.”

Arren nói một cách nóng nảy, và mặc dù Chim Cắt đáp lại hết sức nhẹ nhàng, trong giọng nói của ông có thoáng một nét dữ dằn. Ông không quen với việc bị người khác tra hỏi. Nhưng kể từ khi Arren tìm cách bảo vệ ông khỏi tên điên này trên con đường lúc ban chiều chỉ để nhận ra sự bảo hộ của cậu thật vô ích và không cần thiết, thì cậu đã cảm thấy một chút cay cú, làm giảm sút và phá hủy lòng ngưỡng mộ tận tụy trào dâng trong cậu sáng hôm đó. Cậu không thể bảo vệ được Chim Cắt; cậu không được phép quyết định điều gì hết; cậu không thể, và thậm chí cũng không được phép hiểu cuộc hành trình của họ là để tìm kiếm điều gì. Cậu chỉ bị lôi theo trên đường đi, vô dụng chẳng khác nào một đứa bé. Nhưng cậu không còn là trẻ con nữa.

“Con sẽ không cãi lại ngài, thưa ngài,” cậu nói với vẻ lạnh lùng nhất có thể. “Nhưng điều này thì... thì thật là quá ư phi lý!”

“Đây là một việc phi lý. Chúng ta sẽ đi đến nơi sự hợp lý không thể đưa chúng ta tới được. Con có muốn đi cùng hay không?”

Những giọt nước mắt giận dữ trào lên trong mắt Arren. “Con đã nói con sẽ đi theo ngài và phụng sự ngài. Con sẽ không nuốt lời.”

“Thế thì tốt,” vị pháp sư nghiêm nghị nói, và đã định quay đi. Nhưng rồi ông lại quay lại nhìn Arren. “Ta cần con, Arren ạ; và con cần ta. Bởi vì ta xin nói với con điều này, ta tin rằng con đường chúng ta đi đây là con đường con phải đi theo, không phải vì nghe lời ta hay vì trung thành với ta, mà bởi vì con đường này đã nằm trong số phận của con từ trước khi con gặp ta; từ trước khi con đặt chân đến Roke; từ trước khi con rời khỏi Enlad. Con không thể từ bỏ nó được.”

Giọng ông vẫn không dịu đi chút nào. Arren trả lời ông cũng với vẻ lầm lầm như vậy, “Làm sao con có thể bỏ đi được, khi mà con đang ở nơi cùng trời cuối đất này, lại không có thuyền bè gì cả?”

“Đây là nơi cùng trời cuối đất ấy ư? Không, nơi ấy còn xa lắm. Có lẽ rồi chúng ta cũng sẽ đi đến đó đấy.”

Arren gật đầu và nhảy xuống thuyền. Chim Cắt tháo dây buộc rồi dùng một ngọn gió thần nhè nhẹ thổi vào cánh buồm. Ngay khi họ rời khỏi vũng đậu trống trải, ảm đạm của Lorbanery, một luồng gió trong lành, se lạnh từ trong bóng tối thổi tới từ phía Bắc, và vầng trăng hiện ra ánh bạc trên mặt biển phẳng lặng trước mặt họ, rồi đi theo ở phía bên trái trong khi con thuyền hướng về phía Nam men theo bờ biển của hòn đảo.

« Lùi
Tiến »