ĐẾN KHOẢNG GIỮA TRƯA NGÀY HÔM ĐÓ, Chim Cắt cựa mình đòi uống nước. Uống xong, ông hỏi, “Chúng ta đang đi về đâu vậy?” Bởi vì cánh buồm đang căng phồng trên đầu ông, và con thuyền thì đang lao vun vút trên đợt sóng nhồi như một con én.
“Hướng Tây, hoặc là Tây Bắc ạ.”
“Ta thấy lạnh quá,” Chim Cắt nói. Mặt trời đang rọi xuống con thuyền nhỏ như đổ lửa.
Arren không nói gì.
“Hãy cố giữ hướng đi về phía Tây. Wellogy nằm ở phía Tây Obehol. Ở đó có đất liền. Chúng ta cần nước ngọt.”
Cậu thiếu niên chỉ nhìn về phía trước, về phía mặt biển trống trải.
“Có chuyện gì vậy, Arren?”
Cậu không đáp.
Chim Cắt gắng ngồi dậy, và khi không ngồi lên nổi, ông với tay tìm cây quyền trượng của mình đang đặt bên hộp đựng dụng cụ; nhưng nó nằm quá tầm với của ông, và khi ông cố cất tiếng nói thì đôi môi khô nẻ của ông không thể thốt ra nổi một từ. Máu lại trào ra bên dưới lớp băng quấn đã ướt đẫm và khô lại thành một lớp vảy cứng, tạo thành những đường tơ nhỏ xíu đỏ thắm trên bộ ngực nâu sạm của ông. Ông hít vào một hơi và nhắm mắt lại.
Arren nhìn ông một cách vô cảm, rồi quay đi ngay. Cậu đi về phía trước thuyền và lại khom mình ngồi ở mũi tàu, mắt nhìn về phía trước. Miệng cậu khô khốc. Ngọn gió Đông đang thổi đều đặn trên mặt biển rộng này khô khan như một cơn gió sa mạc vậy. Trong thùng nước của họ chỉ còn lại khoảng hơn một lít nước; trong tâm trí của Arren thì số nước này là để dành cho Chim Cắt chứ không phải là cho cậu; cậu chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ uống chỗ nước đó cả. Cậu đã mắc dây câu cá, vì kể từ khi họ rời khỏi Lorbanery cậu đã học được rằng cá sống có thể làm dịu cả cơn đói lẫn cơn khát; nhưng trên dây câu không có mồi. Điều đó cũng chẳng quan trọng gì. Con thuyền đang lướt đi trên vùng biển hoang vắng. Trên đầu, mặt trời cũng đang di chuyển từ phương Đông đến phương Tây, một cách chậm rãi, nhưng cuối cùng thì vẫn vượt trước con thuyền cả một khoảng cách của bầu trời và là người thắng cuộc.
Một lần Arren tưởng như cậu đã thoáng trông thấy một vệt màu xanh ở phía Nam, không biết là mây hay là núi; con thuyền đã đi về phía Tây Bắc hàng giờ đồng hồ rồi. Cậu không tìm cách chạy ngược hướng gió và quay thuyền lại, mà cứ để mặc thuyền trôi đi. Đó có thể là đất liền thật, cũng có thể không phải; dù thế nào chăng nữa thì cũng không quan trọng. Đối với cậu toàn thể mặt biển mênh mông lộng gió, rực nắng này đều có vẻ mờ nhạt, hư ảo.
Bóng tối buông xuống, rồi ánh mặt trời lại hiện lên, rồi lại đến bóng tối, rồi ánh sáng, cứ thế nối tiếp nhau như nhịp dùi trên mặt trống căng của bầu trời.
Cậu đưa tay qua mạn thuyền và thả xuống nước. Trong một khoảnh khắc, cậu nhìn thấy nó, rõ ràng: bàn tay xanh mướt của cậu bên dưới làn nước đầy sức sống. Cậu cúi xuống, mút những ngón tay ướt. Nước mặn chát, làm môi cậu rát bỏng, nhưng rồi cậu lại mút tiếp. Rồi ruột gan cậu cuộn lên, và cậu gục xuống nôn, nhưng chỉ có một ít mật trào lên cháy rát trong họng. Không còn nước để cho Chim Cắt uống nữa, và cậu không dám lại gần ông. Cậu nằm xuống, người run rẩy, bất chấp cái nóng dữ dội. Tất cả đều im lìm, khô khan, và sáng rực: sáng rực đến khủng khiếp. Cậu đưa tay lên mắt, che đi ánh sáng đáng sợ đó.
Họ đứng trong lòng thuyền, ba người tất cả, gầy như que củi, giơ xương, mắt to, nom như những con diệc hay con sếu màu đen kỳ lạ. Giọng họ cũng nhỏ nhẹ như tiếng chim. Cậu không hiểu họ đang nói gì. Một người quỳ bên trên đầu Arren, với một cái túi da sẫm màu trong tay, và đổ thứ gì trong đó vào miệng Arren: là nước. Arren uống lấy uống để, bị sặc, rồi lại uống tiếp cho đến khi cạn cả túi nước. Rồi cậu nhìn quanh và cố gượng đứng dậy, hỏi, “Ông ấy đâu, ông ấy đâu rồi?” Bởi vì trong thuyền Trông Xa , ngoài cậu ra, chỉ còn ba người đàn ông cao gầy, lạ mặt nọ.
Họ trố mắt nhìn cậu, không hiểu.
“Người kia ấy,” cậu khàn khàn nói, cổ họng cộm ráp và đôi môi khô, cứng đờ của cậu không thốt nổi nên lời, “bạn tôi ấy...”
Một người trong số bọn họ nhận ra vẻ hốt hoảng của cậu, mặc dù không hiểu lời cậu nói, ông ta đặt bàn tay gầy gò lên tay cậu và đưa tay kia lên chỉ. “Kia kìa,” ông ta bảo cậu vẻ an ủi.
Arren nhìn. Và cậu trông thấy, đằng trước con thuyền và quanh phía Bắc con thuyền, chỗ thì túm tụm lại với nhau, chỗ thì rải rác khắp mặt biển, toàn là bè: nhiều bè đến nỗi nom chúng như lá thu rụng xuống mặt hồ. Bè nằm thấp, mấp mé mặt nước, ở giữa mỗi chiếc là một hai túp lều hay nhà gỗ nhỏ, và có mấy chiếc bè có cả cột buồm. Chúng trôi nổi trên mặt biển như lá, dâng lên và hạ xuống hết sức nhẹ nhàng trong khi những đợt sóng nhồi lớn của biển miền tây trào qua bên dưới.
Dải nước dùng làm đường đi lại sáng lên như bạc giữa những chiếc bè, và bên trên đầu là mấy đám mây dông lớn, tím ngắt và vàng rực, làm bầu trời phía Tây tối sầm lại.
“Kia kìa,” người đó lại nói, chỉ vào một chiếc bè lớn nằm gần thuyền Trông Xa .
“Còn sống chứ?”
Cậu nằm ngửa, duỗi dài chân tay, mắt nhìn lên một cái mái thô sơ màu lá cây, lốm đốm những vệt nắng. Cậu tưởng mình đang nằm trong vườn táo ở Semermine, nơi các hoàng thân xứ Enlad thường đến nghỉ hè, trên rặng đồi nằm phía sau Berila; cậu tưởng mình đang nằm trên lớp cỏ dày rậm ở Semermine và nhìn lên ánh nắng qua vòm lá táo.
Một lát sau cậu nghe thấy tiếng nước vỗ rập rình trong những chỗ trống bên dưới chiếc bè, nghe thấy giọng nói nhỏ nhẹ của những người bè mảng, cất lên thứ tiếng Hardic quen thuộc của vùng Quần Đảo, nhưng ngữ điệu và ngữ âm thì đã thay đổi nhiều đến nỗi gần như không thể hiểu nổi; và cậu nhớ ra mình đang ở đâu - cách xa Quần Đảo, cách xa Tứ Hải, cách xa mọi hòn đảo khác, lạc lối ngoài biển khơi. Thế nhưng cậu không hề lo ngại và vẫn nằm thoải mái tựa hồ cậu đang nằm trên bãi cỏ trong vườn quả ở quê nhà vậy.
Sau đó cậu nghĩ rằng mình nên ngồi dậy, và khi ngồi dậy, cậu thấy mình đã gầy xọp đi, da cháy nắng, đôi chân thì run rẩy nhưng vẫn còn đứng lên được. Cậu gạt tấm phên đan dùng làm tường cho túp lều sang một bên và bước ra ngoài, dưới ánh nắng chiều. Trời đã đổ mưa trong lúc cậu còn ngủ. Các súc gỗ đóng bè lớn, vuông vắn, nhẵn mịn, được gắn chặt lại với nhau bằng dầu trám thuyền, đều thấm ướt, sẫm màu lại, và mái tóc của những con người gầy guộc, mình trần kia, đều đen óng, rũ xuống vì nước mưa. Nhưng một nửa bầu trời phía Tây đã trở nên quang đãng, cho mặt trời hiện ra chiếu sáng, còn những đám mây thì đang hướng về phía Đông Bắc, thành từng cụm ánh bạc.
Một người đàn ông đến trước mặt Arren, vẻ cảnh giác, dừng lại cách cậu vài bước. Ông ta rất mảnh khảnh, thấp bé, không cao hơn một chú bé mười hai tuổi; cặp mắt đen thẳm của ông rất dài và to. Ông cầm trong tay một ngọn giáo với cái mũi bằng ngà có ngạnh chĩa ra.
Arren nói với ông ta, “Đa tạ ông cùng bộ tộc của ông vì đã cứu mạng tôi.”
Người đàn ông gật đầu.
“Xin ông đưa tôi đến chỗ người bạn đồng hành của tôi được không ạ?”
Người đó quay đi và lên giọng hét to một tiếng chói tai, như tiếng kêu của con hải âu. Rồi ông ta ngồi xổm xuống trên hai gót chân, dáng như đang chờ đợi, và Arren cũng làm theo.
Các bè đều có cột buồm, nhưng cột buồm của chiếc bè nơi họ đang ngồi thì chưa được dựng lên. Cánh buồm có thể được căng lên những cột buồm này, cánh buồm khá nhỏ nếu đem so với bề ngang của bè. Buồm làm bằng một thứ vải nâu, không phải vải bạt hay vải lanh, mà là một thứ sợi, nhìn thì có vẻ là được đập dập cho liền lại chứ không dệt vào nhau, giống như khi người ta làm vải nỉ. Một chiếc bè ở cách đó chừng phần tư dặm vừa kéo dây hạ buồm xuống và giờ đang chậm rãi tìm đường đi lại giữa những chiếc bè khác, kéo cái này lại gần, đẩy cái kia ra xa, cho tới khi nó đến bên chiếc bè chỗ Arren đang ngồi. Khi giữa hai chiếc bè chỉ còn một khoảng nước rộng độ ba thước, người đàn ông ngồi cạnh Arren liền đứng dậy và nhảy phóc qua một cách gọn ghẽ. Arren cũng làm theo, nhưng loạng choạng ngã, phải dùng hai bàn tay và đầu gối để chống người dậy; vì chân cậu không còn sức bật nữa. Cậu tự mình đứng dậy, và thấy người đàn ông bé nhỏ nhìn cậu không phải với vẻ chế giễu mà là khen ngợi: rõ ràng là sự bình tĩnh của Arren đã khiến ông ta phải tôn trọng.
Chiếc bè này rộng hơn và nổi trên mặt nước cao hơn tất cả những chiếc bè khác, được ghép bởi những súc gỗ dài bốn mươi thước và rộng bốn đến năm thước, đen nhánh, nhẵn bóng vì dùng lâu năm và dầm mưa dãi nắng. Nhiều bức tượng kỳ lạ chạm khắc bằng gỗ đứng quanh mấy túp lều hoặc những khoảng có rào bao bọc trên bè, và ở bốn góc bè là bốn cây cột cao, trên đỉnh gắn mấy chùm lông chim hải âu. Người dẫn đường của Arren đưa cậu đến túp lều nhỏ nhất, và cậu thấy Chim Cắt đang nằm ngủ ở đó.
Arren ngồi xuống bên trong túp lều. Người dẫn đường của cậu quay trở lại chiếc bè kia, và không ai đến làm phiền cậu cả. Khoảng một giờ sau, một người phụ nữ đem thức ăn đến cho cậu: một món xúp cá nguội với những mẩu rong biển xanh xanh, trong veo, mặn nhưng rất ngon; và một chén nhỏ đựng đầy một thứ nước có mùi ẩm mốc cũ kỹ, lại thoang thoảng vị hắc của dầu trám thùng. Nhìn cách người phụ nữ đưa cho cậu chén nước ấy, cậu biết rằng bà đang trao cho cậu một báu vật, một thứ phải được trân trọng. Cậu kính cẩn uống cạn chén nước và không hỏi xin thêm nữa, mặc dù cậu có thể uống thêm mười chén như vậy.
Vết thương ở vai Chim Cắt được băng bó cẩn thận; ông ngủ say, bình thản. Khi thức giấc, mắt ông cũng đã trong trẻo trở lại. Ông nhìn Arren và mỉm cười, cái cười vui tươi, rạng rỡ, luôn có vẻ đối chọi lại với nét mặt khắc khổ của ông. Đột nhiên Arren lại muốn khóc. Cậu đưa tay ra nắm lấy tay Chim Cắt và không nói gì cả.
Một người dân bè mảng đến gần họ và ngồi xuống trong bóng mát của túp lều lớn bên cạnh: hình như đó là một ngôi đền, với một họa tiết hình vuông vô cùng tinh xảo gắn trên ô cửa, và các rầm cửa thì làm từ hai súc gỗ lớn, chạm khắc thành hình hai con cá voi xám đang cất tiếng kêu. Người vừa đến cũng thấp bé, gầy gò như những người khác, thân hình thì giống như một chú bé, nhưng khuôn mặt thì lại hết sức rắn rỏi, sạm đi vì nắng gió và tuổi tác. Ông không mặc gì khác ngoài một chiếc khố, nhưng dáng điệu đường hoàng khiến ông nom vẫn như đang khoác trên mình bộ quần áo sang trọng nhất. “Để ông ấy ngủ,” ông nói, và Arren liền rời khỏi chỗ Chim Cắt để đến bên cạnh ông.
“Ngài hẳn là tộc trưởng của bộ tộc này,” Arren nói, cậu có thể nhận ra một ông hoàng ngay từ cái nhìn đầu tiên.
“Đúng vậy,” người đàn ông gật đầu đáp. Arren đứng thẳng trước mặt ông, không hề nhúc nhích. Cặp mắt sẫm màu của ông ta nhìn vào mắt cậu trong một thoáng: “Cậu cũng là một ông hoàng,” ông nhận xét.
“Đúng vậy,” Arren trả lời. Cậu rất muốn tìm hiểu xem làm sao vị tộc trưởng của người dân bè mảng lại biết được điều đó, nhưng cậu vẫn tỏ ra bình thản. “Nhưng ở đây thì tôi chỉ phục vụ chủ nhân của tôi, người đang nằm kia.”
Vị tộc trưởng nói mấy lời mà Arren không hiểu được chút nào: những từ ngữ đã bị thay đổi đến mức không nhận ra nổi, hoặc là những cái tên mà cậu không biết; rồi ông hỏi, “Tại sao hai vị lại đến Balatran?”
“Chúng tôi đang đi tìm...”
Nhưng Arren không rõ cậu nên kể bao nhiêu phần sự thật với ông ta, thậm chí còn không rõ cậu nên nói gì nữa. Những việc họ đã trải qua, mục đích của cuộc hành trình của họ, tất cả dường như xảy ra cách đây đã lâu lắm rồi, tất cả đều mờ mịt, rối tung trong đầu cậu. Cuối cùng, cậu nói, “Chúng tôi đến Obehol. Người trên đảo tấn công chúng tôi đúng lúc chúng tôi chuẩn bị lên bờ. Chủ nhân của tôi bị thương.”
“Còn cậu?”
“Tôi thì không bị thương,” Arren nói, chỉ có vẻ bình thản lạnh lùng cậu học được trong thời thơ ấu ở chốn cung đình mới giúp cậu giữ được điềm tĩnh. “Nhưng có một - có một điều gì đó giống như là cơn điên. Một người đi cùng chúng tôi đã nhảy xuống biển tự vẫn. Có một nỗi kinh hoàng...” Cậu ngừng lại, và đứng im lặng.
Vị tộc trưởng nhìn cậu bằng cặp mắt đen mờ đục. Cuối cùng ông nói, “Vậy có nghĩa là các vị đến đây là do tình cờ.”
“Thưa phải. Chúng ta có còn đang ở vùng Nam Hải không ạ?”
“Nam Hải ấy à? Không. Các hòn đảo...” Vị tộc trưởng đưa bàn tay đen sạm, mảnh dẻ lên khoát thành một đường vòng cung, không lớn hơn một phần tư chu vi của chiếc la bàn, từ phía Bắc sang phía Đông. “Các hòn đảo nằm ở đó,” ông nói. “Tất cả các hòn đảo.” Rồi đưa tay chỉ vùng biển tối trước mặt họ, từ phía Bắc đến phía Tây và phía Nam, ông nói, “Ở đây chỉ có biển mà thôi.”
“Ngài đến từ vùng đất nào ạ, thưa tộc trưởng?”
“Không có vùng đất nào cả. Chúng ta là những Người Con của Biển Khơi.”
Arren nhìn vào gương mặt sắc sảo của ông. Cậu nhìn quanh mình, ngắm chiếc bè lớn với ngôi đền và những bức tượng thần khổng lồ, mỗi bức được chạm từ một khúc cây nguyên khối, những vị thần vĩ đại có hình hài pha trộn giữa cá heo, cá biển, con người và chim biển; ngắm người dân đang bận rộn làm việc, đan lát, chạm khắc, câu cá, nấu nướng trên những cái bục cao, chăm sóc đám trẻ con; ngắm những chiếc bè khác, ít nhất là bảy mươi cái, nằm rải rác khắp mặt nước thành một vòng tròn đường kính chừng một dặm. Đó là một ngôi làng đích thực: với những dải khói mảnh bốc lên từ các căn nhà ở đằng xa, với giọng trẻ con lanh lảnh vẳng tới theo làn gió. Đó là một ngôi làng, và dưới nền móng của nó là đáy đại dương sâu thẳm.
“Các vị có bao giờ lên đất liền không ạ?” cậu thiếu niên hạ thấp giọng hỏi.
“Mỗi năm một lần. Chúng ta đi đến Đụn Cát Lớn. Ở đó chúng ta chặt cây và ghép bè. Đó là vào mùa thu, rồi sau đó chúng ta sẽ đi theo cá voi xám để lên phía Bắc. Vào mùa đông chúng ta tách riêng mỗi bè đi một hướng. Đến mùa xuân chúng ta sẽ quay lại Balatran để gặp nhau. Khi đó mọi người sẽ đi lại giữa các bè, sẽ có chuyện cưới xin, và tổ chức lễ Trường Vũ. Vùng nước này gọi là Đường Balatran; từ đây dòng chảy lớn sẽ chảy về phía Nam. Vào mùa hè chúng ta sẽ thả bè trôi theo dòng chảy lớn cho đến khi gặp được các Vĩ Nhân, loài cá voi xám, đang bơi về phía Bắc. Khi ấy chúng ta lại đi theo cá voi, và cuối cùng sẽ quay lại bãi biển Emah ở Đụn Cát Lớn, ở lại đó một thời gian ngắn.”
“Nghe thật là tuyệt, thưa tộc trưởng,” Arren nói. “Tôi chưa bao giờ nghe nói đến một dân tộc nào như vậy cả. Quê hương của tôi ở cách đây rất xa. Thế nhưng ở đó, trên hòn đảo Enlad, chúng tôi cũng tổ chức lễ Trường Vũ vào đêm hạ chí.”
“Người dân đất liền các cậu giẫm đạp lên mặt đất để làm cho nó an toàn hơn,” vị tộc trưởng khô khan đáp lại. “Chúng ta thì nhảy múa trên mặt biển sâu.”
Một lát sau, ông lại hỏi, “Chủ nhân của cậu tên gọi là gì?”
“Chim Cắt ạ,” Arren đáp. Vị tộc trưởng nhắc lại những âm tiết ấy, nhưng rõ ràng là chúng không có nghĩa gì đối với ông ta cả. Và chính điều đó, hơn bất kỳ cái gì khác, đã khiến Arren hiểu rằng câu chuyện ấy là có thật, rằng những con người này sống trên biển hết năm này qua năm khác, lênh đênh trên biển cả cách xa mọi hòn đảo, cách xa mọi hơi hướng của đất liền, cách xa cả đường bay của những loài chim đất liền, nằm ngoài ranh giới tri thức của con người.
“Ông ấy đã suýt chết,” vị tộc trưởng nói. “Ông ấy cần được ngủ. Cậu hãy quay lại bè của Sao đi; ta sẽ cho gọi cậu đến sau.” Ông ta đứng dậy. Mặc dù ông có vẻ hoàn toàn tự tin, rõ ràng là ông không được tự tin cho lắm về Arren; ông không biết mình nên đối xử với cậu thiếu niên như với một người ngang hàng hay như với một chú bé. Trong trường hợp này thì Arren thích được đối xử như một chú bé hơn, và cậu ngoan ngoãn lui đi, nhưng chợt nhận thấy mình đang gặp phải một rắc rối riêng. Hai chiếc bè đã trôi ra xa nhau, và giờ đây, nằm giữa chúng là một khoảng nước sóng sánh rộng một trăm thước, sóng gợn lăn tăn.
Vị tộc trưởng của những Người Con của Biển Khơi lại lên tiếng nói với cậu, bằng hai từ ngắn gọn. “Bơi đi,” ông bảo.
Arren rón rén tụt xuống nước. Làn da cháy nắng của cậu được tắm trong nước biển mát lạnh, thật dễ chịu. Cậu bơi ngang qua khoảng trống rồi trèo lên chiếc bè kia, và trông thấy một nhóm năm sáu em nhỏ và mấy người trẻ tuổi đang ngắm cậu với vẻ tò mò thích thú không giấu giếm. Một cô bé nhỏ xíu nói, “Anh bơi như là cá mắc câu ấy.”
“Thế anh phải bơi như thế nào?” Arren hỏi, vẻ hơi ngượng ngùng nhưng lịch sự; quả thực cậu không thể tỏ ra thô lỗ với một con người nhỏ bé đến vậy được. Cô bé nom như một bức tượng nhỏ bằng gỗ mun đánh bóng, mảnh dẻ, xinh xẻo. “Như thế này này!” cô bé trả lời, và lao xuống làn nước cuộn sóng, lấp lánh ánh nắng, tựa như một con hải cẩu. Mãi một lúc lâu sau, từ một khoảng cách xa không thể tưởng tượng được, cậu mới nghe thấy tiếng kêu lanh lảnh của cô bé và thấy mái đầu đen nhánh của em nhô lên khỏi mặt nước.
“Đi nào,” một cậu thiếu niên nói, cậu ta có lẽ là bằng tuổi Arren, nhưng về tầm vóc và chiều cao thì chỉ như một đứa trẻ mười hai tuổi: đó là một anh chàng mặt mày nghiêm nghị, trên lưng xăm hình một con cua màu xanh. Cậu ta nhảy xuống nước, và tất cả cùng nhảy, kể cả một em bé mới lên ba; vì vậy Arren cũng đành phải lao theo, cố không để cho nước bắn tóe lên.
“Phải lặn như lươn ấy,” cậu thiếu niên nọ trồi lên ở bên cạnh vai cậu và bảo.
“Như cá heo ấy,” một cô bé xinh xắn có nụ cười rất tươi cũng nói, rồi biến mất dưới đáy nước sâu.
“Như em đây này!” em bé ba tuổi vừa hét lên vừa nhấp nhô dưới nước như một cái chai.
Suốt chiều hôm đó, cho đến tận lúc trời tối hẳn, và cả ngày dài hôm sau, dưới ánh nắng vàng rực, và cả những ngày sau đó nữa, Arren bơi lội, trò chuyện và làm việc cùng với đám trẻ trên bè của Sao. Còn về những sự việc đã xảy ra trong cuộc hành trình của cậu kể từ buổi sáng Xuân Phân khi cậu cùng Chim Cắt rời khỏi đảo Roke, không hiểu vì sao cậu lại thấy là những điều lạ lùng nhất; bởi vì chúng chẳng liên quan gì tới những việc đã xảy ra trước đó, dù là trong cuộc hành trình hay trong cả cuộc đời cậu; và lại càng không liên quan gì tới những việc sắp xảy ra. Đêm đêm, khi nằm xuống ngủ cạnh những người khác, bên dưới bầu trời đầy sao, cậu thầm nghĩ, “Cứ tựa như mình đã chết, và đây là thế giới bên kia, ở nơi xa xăm hơn cả tận cùng trái đất này, dưới ánh mặt trời, giữa những người con trai và con gái của biển cả...”
Trước khi chìm vào giấc ngủ, cậu thường đưa mắt nhìn về chân trời phía Nam để tìm kiếm ngôi sao màu vàng và hình Cổ Tự Tận Thế, cậu luôn nhìn thấy Gobardon cùng với hình tam giác nhỏ hoặc hình tam giác lớn; nhưng giờ những ngôi sao mọc muộn hơn, và cậu không bao giờ có thể thức đợi cho đến khi toàn bộ chòm sao hiện lên khỏi đường chân trời. Suốt đêm, suốt ngày, những chiếc bè trôi về phía Nam, nhưng biển cả thì không hề thay đổi, bởi vì cái gì luôn luôn đổi thay thì không bao giờ khác đi; những cơn dông tháng năm trôi qua, đến đêm những ngôi sao lại mọc, và ban ngày thì mặt trời tỏa nắng không ngừng.
Cậu biết rằng cuộc sống của người dân bè mảng không phải lúc nào cũng dễ dàng, thư thái như trong mơ thế này. Cậu hỏi mùa đông họ sống ra sao, và được nghe kể về những cơn mưa dầm, những đợt sóng nhồi lớn, những chiếc bè đơn độc, tách biệt khỏi nhau, lênh đênh trôi nổi trên biển cả u ám, tăm tối, hết tuần này sang tuần khác. Mùa đông vừa rồi, trong một cơn bão kéo dài cả tháng, họ đã thấy những con sóng lớn đến nỗi “trông như đám mây dông ấy,” họ miêu tả như vậy, vì họ chưa bao giờ trông thấy đồi núi. Một đợt sóng vừa hạ xuống thì đã thấy đợt sóng khác kéo đến, khổng lồ, cách xa hàng dặm, vùn vụt lao tới họ. Liệu những chiếc bè có chống chịu nổi những con sóng dữ đến thế không? cậu hỏi, và họ đáp có, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Vào mùa xuân khi họ gặp nhau ở Đường Balatran, thường thấy thiếu mất hai, ba, có khi là tới sáu chiếc bè...
Họ kết hôn rất sớm. Cua Xanh, cậu thiếu niên có con vật mang tên mình xăm trên lưng, và cô bé xinh xắn Hải Âu đã là vợ chồng, mặc dù cậu mới có mười bảy tuổi và cô thì ít hơn hai tuổi; giữa các chiếc bè có rất nhiều cặp vợ chồng như vậy. Những đứa trẻ sơ sinh bò trườn hay đi lẫm chẫm quanh bè, chúng được buộc vào bốn cái cọc ở cái lều giữa bè bằng những sợi dây dài, rồi đến trưa nóng thì sẽ lại bò vào lều và nằm chồng chất lên nhau mà ngủ. Những đứa lớn hơn thì chăm những đứa bé, còn đàn ông và đàn bà thì làm việc chung với nhau. Tất cả đều thay phiên nhau đi hái thứ rong biển lớn, màu nâu, thường mọc ở Balatran, tên gọi là nilgu , có tua như dương xỉ và thường dài từ tám mươi đến một trăm thước. Tất cả cùng nhau giã nilgu ra thành vải và bện những sợi dây thô ấy thành thừng hay lưới đánh cá; họ cùng câu cá, phơi cá, đẽo gọt răng cá voi thành các công cụ, và cùng nhau làm tất cả những việc khác trên bè. Nhưng họ luôn có thời gian dành cho việc bơi lội, trò chuyện, và không có thời hạn nào bắt buộc các công việc phải được hoàn thành đúng lúc. Họ không tính giờ: chỉ có ngày và đêm. Sau mấy ngày đêm như vậy thì Arren thấy mình như đã sống trên bè một khoảng thời gian dài không tính nổi, và Obehol chỉ còn là một giấc mơ, những chuyện trước đó nữa lại là một giấc mơ nhạt nhòa hơn, còn việc cậu đã từng sống trên đất liền và là hoàng tử xứ Enlad thì đã xảy ra trong một thế giới khác.
Khi cuối cùng cậu cũng được gọi đến bè của vị tộc trưởng, Chim Cắt ngắm nghía cậu hồi lâu rồi nói, “Trông con lại giống như cậu bé Arren ta đã thấy trong Sân Đài Phun Nước: khỏe khoắn như một con hải cẩu vàng óng vậy. Cuộc sống ở đây thích hợp với con đấy, chàng trai.”
“Đúng vậy ạ, thưa ngài.”
“Nhưng đây là đâu? Chúng ta đã để lại các mốc địa giới sau lưng. Chúng ta đã vượt qua cả giới hạn của tấm bản đồ... Cách đây đã lâu rồi, ta từng được nghe kể về người bè mảng, nhưng ngỡ rằng đó chỉ là một trong những truyền thuyết của vùng Nam Hải, một chuyện tưởng tượng không có thật. Vậy mà chúng ta lại được giải thoát bởi sự tưởng tượng ấy, và tính mạng chúng ta được cứu sống bởi một chuyện thần thoại.”
Ông vẫn mỉm cười, như thể ông cũng đã chia sẻ cuộc sống thoải mái vô tận dưới ánh nắng mùa hè ấy; nhưng mặt ông đã hốc hác đi và trong mắt ông là một bóng tối không gì thắp sáng được. Arren nhìn thấy điều đó, và đối mặt với nó.
“Con đã phản bội...” Cậu mở lời, rồi dừng lại. “Con đã phản bội lòng tin của ngài dành cho con.”
“Sao lại thế, Arren?”
“Ở đó - ở Obehol. Khi ngài cần đến con. Ngài bị thương và cần con giúp đỡ. Con đã không làm gì cả. Con thuyền trôi, và con cứ để mặc cho nó trôi đi. Ngài đang phải chịu đau đớn, vậy mà con không làm gì cho ngài cả. Con nhìn thấy đất liền - con nhìn thấy đất liền, và thậm chí còn không tìm cách quay thuyền lại...”
“Im lặng, chàng trai,” vị pháp sư nói, kiên quyết đến nỗi Arren nghe theo ngay. Rồi, ông nói tiếp, “Hãy cho ta biết lúc ấy con nghĩ gì.”
“Không gì cả, thưa ngài - con chẳng nghĩ gì hết! Con nghĩ có cố gắng làm việc gì thì cũng chẳng còn ích lợi gì nữa. Con nghĩ rằng quyền pháp của ngài đã biến mất rồi... không, con nghĩ rằng ngài chưa bao giờ có quyền pháp gì hết. Con nghĩ rằng ngài đã đánh lừa con.” Mồ hôi tươm ra ướt má Arren, và cậu phải bắt mình thốt ra từng lời, nhưng cậu vẫn nói tiếp. “Con thấy sợ ngài. Con sợ cái chết. Con sợ đến nỗi con không dám nhìn ngài, vì con nghĩ ngài sắp chết. Con không nghĩ được bất kỳ điều gì nữa, ngoại trừ rằng - rằng sẽ có một cách giúp con thoát chết, nếu con có thể tìm được nó. Nhưng suốt trong lúc ấy, sự sống cứ đang cạn dần, như thể nó cũng đang bị một vết tử thương và máu đang rỉ ra khỏi đó... giống như vết thương của ngài vậy. Chỉ khác là vết thương ấy nằm ở khắp mọi nơi, trên tất cả mọi vật. Và con không làm gì, chẳng làm gì hết, chỉ cố trốn khỏi nỗi kinh hoàng trước cái chết mà thôi.”
Cậu ngừng lại, không chịu nổi khi phải thốt ra sự thật bằng lời như vậy. Không phải là nỗi hổ thẹn đã làm nghẹn lời cậu, mà chính là nỗi khiếp sợ, vẫn là nỗi khiếp sợ trước kia. Giờ thì cậu đã hiểu tại sao cậu lại thấy cuộc sống thanh bình trên những chiếc bè trôi nổi trên biển, dưới ánh mặt trời này, có vẻ giống như cuộc sống ở thế giới bên kia hay trong một giấc mơ, không có thực. Đó là bởi vì trong thâm tâm, cậu biết rõ thực tế chỉ là một nơi trống rỗng: không có sự sống, hơi ấm, màu sắc hay âm thanh; không có ý nghĩa gì hết. Ở đó không có tầm cao hay chiều sâu. Tất cả những hình hài, ánh sáng và màu sắc lung linh trên biển và trong đôi mắt của loài người kia, chỉ là những ảo ảnh chập chờn trên một khoảng trống nông cạn, không hơn không kém.
Chúng biến mất, chỉ để lại sự lạnh lẽo và vô hình. Chẳng còn gì khác.
Chim Cắt đang nhìn cậu, và cậu phải cúi xuống để tránh cái nhìn ấy. Nhưng trong tâm trí Arren bỗng vang lên một giọng nói, có lẽ là của lòng can đảm hay của sự giễu cợt: dù gì thì đó cũng là một giọng nói ngạo nghễ cay nghiệt, và nó bảo cậu, “Đồ hèn! Đồ hèn! Ngươi còn định ném cả điều này đi nữa hay sao?”
Vậy là cậu ngẩng lên, và cố gắng hết sức, cậu nhìn thẳng vào mắt người bạn đồng hành của mình.
Chim Cắt đưa bàn tay rắn rỏi của mình và nắm chặt lấy tay cậu, và như vậy là họ chạm vào nhau cả bằng ánh mắt và bằng thể chất. Ông gọi Arren bằng tên thật của cậu, cái tên mà ông chưa bao giờ thốt ra: “Lebannen.” Ông nhắc lại: “Lebannen, đây là sự thật. Và con đã hiểu được sự thật đó. Không có nơi nào là an toàn, không có sự kết thúc. Phải có sự im lặng thì ta mới nghe được lời nói; phải có bóng tối thì ta mới thấy được các vì sao. Một điệu vũ thì luôn múa trên một nơi trống rỗng, trên một vực thẳm khủng khiếp.”
Arren siết chặt hai bàn tay và cúi xuống áp trán vào tay Chim Cắt. “Con đã phụ lòng tin của ngài,” cậu nói. “Con sẽ lại phụ lòng ngài, và sẽ phản bội cả bản thân mình. Con không có đủ sức mạnh!”
“Con có đủ sức đấy.” Giọng nói của vị pháp sư hết sức nhẹ nhàng, nhưng dưới sự nhẹ nhàng ấy là một vẻ nghiêm khắc, cũng chính là sự nghiêm khắc đã lên tiếng từ đáy sâu của hổ thẹn trong lòng Arren để chế giễu cậu. “Cái gì con đã đem lòng yêu thương thì con sẽ yêu thương đến trọn đời. Sứ mệnh nào con đã nhận lấy thì con sẽ hoàn thành. Con là người đáp lại những niềm hy vọng; con có thể tin cậy được. Nhưng mười bảy năm là một khoảng thời gian không dài để con có đủ vũ khí chống lại sự tuyệt vọng... Hãy nghĩ xem, Arren. Chối bỏ cái chết cũng chính là chối bỏ sự sống.”
“Nhưng con đã đi tìm cái chết - của ngài và của con!” Arren ngẩng đầu lên và nhìn Chim Cắt chằm chằm. “Cũng giống như Sopli đã nhảy xuống biển tự vẫn...”
“Sopli không đi tìm cái chết. Anh ta muốn thoát khỏi cái chết, cũng là thoát khỏi cuộc sống. Anh ta đi tìm sự an toàn: anh ta muốn chấm dứt nỗi khiếp sợ - nỗi khiếp sợ cái chết của mình.”
“Nhưng có cách - có đường. Có một con đường dẫn ta trở về từ cái chết. Dẫn ta về với sự sống. Dẫn ta đến với cuộc sống sau cái chết, cuộc sống không còn cái chết. Đó chính là - chính là cái họ tìm kiếm. Hare và Sopli, những người đã từng là pháp sư. Đó cũng chính là cái chúng ta tìm kiếm. Ngài - ngài, hơn bất kỳ ai hết - phải biết về con đường đó...”
Bàn tay rắn rỏi của vị pháp sư vẫn nắm chặt lấy tay cậu. “Ta không biết,” Chim Cắt nói. “Đúng, ta có biết cái mà họ tưởng là họ đang tìm kiếm. Nhưng ta biết đó chỉ là một lời dối trá. Hãy nghe ta đây, Arren. Con sẽ phải chết. Con không thể sống mãi được. Không người nào hay vật nào tồn tại mãi mãi. Không có gì là bất tử. Nhưng chỉ chúng ta mới có khả năng biết rằng mình sẽ chết. Và đó là một món quà vô cùng quý báu: tri thức về bản thân mình. Bởi vì chúng ta chỉ có được cái mà chúng ta biết một ngày kia chúng ta sẽ mất, cái mà chúng ta sẽ sẵn sàng từ bỏ... Tri thức ấy, nỗi đau khổ của chúng ta, báu vật của chúng ta, nhân tính của chúng ta, không thể tồn tại vĩnh hằng. Nó phải thay đổi; nó phải biến mất, như một cơn sóng biển. Con có muốn bắt biển cả phải đứng im và thủy triều ngừng lại, chỉ để cứu một ngọn sóng, để cứu sống bản thân mình không? Con có muốn từ bỏ sự khéo léo của hai bàn tay, tình yêu trong con tim, cùng với ánh sáng của buổi bình minh và hoàng hôn, chỉ để mua lấy sự an toàn cho chính mình - sự an toàn mãi mãi - hay không? Đó chính là điều họ muốn làm, ở Wathort và Lorbanery và nhiều nơi khác nữa. Đó chính là thông điệp mà những người biết lắng nghe đã nghe thấy: Nếu chối bỏ cuộc sống, các người có thể chối bỏ cả cái chết và sống mãi mãi!... Nhưng ta đã không nghe thấy thông điệp ấy, Arren ạ, vì ta không muốn nghe. Ta sẽ không nghe theo lời khuyên của kẻ tuyệt vọng. Ta đành làm kẻ điếc; ta đành làm người mù. Con là người dẫn đường của ta. Con, với sự trong trắng và lòng can đảm của con, với sự ngây ngô và lòng trung thành của con, con là người dẫn đường của ta... đứa trẻ mà ta cử đi trước ta, tiến vào bóng tối. Ta đi theo sự khiếp sợ của con, nỗi đau của con. Con nghĩ rằng ta đã tàn nhẫn với con, Arren; nhưng con không thể biết được ta đã tàn nhẫn đến mức nào đâu. Ta sử dụng tình yêu thương của con như người ta dùng nến, đốt cháy nó, để soi đường cho mình. Và chúng ta phải đi tiếp. Chúng ta phải đi tiếp. Chúng ta phải đi hết con đường này. Chúng ta phải đi đến nơi biển cả cạn khô và niềm vui tắt ngấm, đến nơi mà nỗi khiếp sợ chí tử của con kéo con tới.”
“Nơi đó là ở đâu, thưa ngài?”
“Ta không biết.”
“Con không thể dẫn ngài tới đó. Nhưng con sẽ đi cùng với ngài.”
Cái nhìn của vị pháp sư hướng về phía cậu đầy vẻ nghiêm trang, nhưng không sao dò thấu nổi.
“Nhưng lỡ con lại thất bại và phản bội lòng tin của ngài...”
“Ta sẽ tin con, người con của Morred.”
Rồi cả hai cùng im lặng.
Trên đầu họ, những bức tượng thần chạm khắc vươn lên cao vút và khe khẽ lắc lư, nổi bật trên nền trời phương Nam xanh thẳm: thân hình của cá heo, đôi cánh xếp lại của chim mòng biển, và khuôn mặt của con người, với cặp mắt bằng vỏ sò nhìn chằm chằm không chớp.
Chim Cắt khó nhọc đứng dậy, bởi vì ông vẫn chưa lại sức sau khi bị thương. “Ta mệt mỏi vì cứ phải ngồi không thế này rồi,” ông nói. “Cứ lười biếng mãi ta sẽ phát phì mất.” Ông bắt đầu đi bộ dọc theo chiều dài chiếc bè, và Arren đi cùng ông. Họ vừa đi vừa nói chuyện; Arren kể cho Chim Cắt nghe hàng ngày cậu làm gì, cho ông biết cậu đã làm bạn với ai trong những người dân bè mảng. Chim Cắt thèm vận động hơn là có đủ sức, và chẳng mấy chốc ông đã mệt nhoài. Ông dừng lại bên một cô gái đang dệt vải từ rong nilgu trên khung cửi đằng sau Ngôi Đền thờ các Vĩ Nhân, nhờ cô đi tìm vị tộc trưởng cho ông, rồi quay lại túp lều của mình. Vị tộc trưởng đi đến đó, nhã nhặn chào ông, và vị pháp sư cũng đáp lại như vậy; rồi cả ba người cùng ngồi xuống trên những tấm thảm bằng da hải cẩu đốm, trải trên nền túp lều.
“Tôi đã nghĩ về những điều ngài nói với tôi,” vị tộc trưởng chậm rãi lên tiếng với một vẻ lịch sự trang nghiêm. “Về chuyện người ta định tìm đường quay trở về với thân xác của mình sau khi chết, định từ bỏ việc thờ cúng các vị thần, bỏ mặc cơ thể mình và hóa điên. Đây là một việc hết sức xấu xa và một hành động rồ dại vô cùng. Và tôi cũng đã nghĩ, Những chuyện ấy thì liên quan gì tới chúng tôi? Chúng tôi chẳng vướng bận gì tới những người đất liền, với những hòn đảo của họ, cuộc sống của họ, những chuyện kiến tạo và phá hủy của họ. Chúng tôi sống trên biển, và cuộc đời của chúng tôi thuộc về biển cả. Chúng tôi không mong gì có thể cứu được họ; chúng tôi cũng không cần phải trừ bỏ họ. Sự điên rồ ấy không thể lan tới đây được. Chúng tôi không lên đất liền; người đất liền cũng không đến với chúng tôi. Hồi tôi còn trẻ, chúng tôi thường kể chuyện về những người đi thuyền đến Đụn Cát Lớn, khi chúng tôi đến đó để chặt gỗ làm bè và dựng nhà trú đông. Chúng tôi thường thấy thuyền buồm đến từ Ohol và Welwai (ông gọi Obehol và Wellogy như vậy), đi theo đàn cá voi xám vào mùa thu. Họ thường bám theo bè của chúng tôi từ xa, vì chúng tôi biết rõ đường đi và nơi gặp gỡ trên biển của các Vĩ Nhân. Nhưng tôi chỉ trông thấy người đất liền có vậy thôi, và giờ thì họ không đến nữa. Có lẽ họ đã hóa điên và đánh nhau hết rồi. Hai năm trước, trên Đụn Cát Lớn, nhìn về Welwai ở phía Bắc, chúng tôi thấy khói bốc lên từ một đám cháy lớn suốt ba ngày liền. Và nếu có thế thật thì chuyện ấy có ảnh hưởng gì đến chúng tôi? Chúng tôi là những Người Con của Biển Khơi. Chúng tôi chỉ đi theo biển mà thôi.”
“Thế nhưng khi trông thấy một con thuyền của người đất liền đang trôi dạt, các vị đã kéo nó lại,” vị pháp sư nói.
“Có người trong số chúng tôi bảo rằng làm thế là không khôn ngoan chút nào, và lẽ ra chúng tôi nên để mặc con thuyền trôi đến tận cùng của biển khơi,” vị tộc trưởng bình thản đáp lại bằng cái giọng cao vút của mình.
“Ngài không phải là một trong những người ấy.”
“Không, tôi đã nói rằng, họ là người đất liền thật, nhưng chúng ta phải giúp họ, và bọn họ đã nghe theo tôi. Nhưng chúng tôi không dính dáng gì tới những việc hai vị định làm. Nếu quả thực người đất liền đang hóa điên thì người đất liền phải tự mình giải quyết việc đó. Chúng tôi chỉ đi theo con đường của các Vĩ Nhân. Chúng tôi không thể giúp các vị tìm kiếm thứ gì cả. Các vị còn muốn ở với chúng tôi ngày nào thì chúng tôi xin vui lòng đón tiếp các vị ngày ấy. Chỉ còn ít ngày nữa là đến lễ Trường Vũ rồi; sau đó chúng tôi sẽ quay về phương Bắc, đi theo dòng chảy về hướng Đông, đến cuối mùa hè nó sẽ lại đưa chúng tôi tới vùng biển bên cạnh Đụn Cát Lớn. Nếu ngài muốn ở lại với chúng tôi cho đến khi vết thương khỏi hẳn, xin cứ tự nhiên. Còn nếu ngài muốn đem thuyền ra đi, thì cũng xin cứ tự nhiên.”
Vị pháp sư cảm ơn ông, và tộc trưởng đứng dậy, mảnh dẻ, cứng nhắc như một con diệc, rồi để họ lại với nhau.
“Sự ngây thơ không có sức mạnh để chống lại điều xấu xa,” Chim Cắt nói, với một thoáng mỉa mai. “Nhưng nó vẫn có sức mạnh để làm điều thiện... Ta nghĩ là chúng ta sẽ ở lại với họ thêm một thời gian nữa, cho đến khi ta khỏe hẳn lại.”
“Thế là phải đấy ạ,” Arren nói. Vẻ yếu ớt về thể chất của Chim Cắt khiến cậu sửng sốt và lo lắng; cậu quyết tâm sẽ bảo vệ ông khỏi gục ngã vì sự nóng vội và bứt rứt của chính mình, sẽ bắt ông phải đợi ít nhất là cho đến khi hết hẳn đau đớn, rồi mới đi tiếp.
Vị pháp sư nhìn cậu, có vẻ ngạc nhiên vì sự đồng tình của cậu.
“Người ở đây rất nhân hậu,” Arren nói tiếp, không nhận thấy vẻ kinh ngạc của ông. “Hình như họ không phải chịu thứ tâm bệnh như những người ở Thành Hort và các hòn đảo khác. Có lẽ sẽ không có hòn đảo nào mà chúng ta lại nhận được sự giúp đỡ và chào đón nồng hậu như của những người dân lang thang này.”
“Rất có thể là con nói đúng.”
“Và cuộc sống của họ về mùa hè rất dễ chịu...”
“Quả vậy. Nhưng nếu cả đời phải ăn cá nguội, không bao giờ được nhìn thấy một cây lê nở hoa hay nếm vị nước suối nguồn, thì rốt cuộc cũng chán ngán lắm!”
Vậy là Arren quay trở lại bè của Sao, làm lụng, bơi lội, ngâm mình trong nước với những cô cậu thiếu niên khác, trò chuyện với Chim Cắt vào những buổi tối mát mẻ, và ngủ dưới bầu trời đầy sao. Cứ thế ngày tháng trôi qua, đưa họ tới gần hơn với lễ hội Trường Vũ vào đêm hạ chí, trong khi những chiếc bè lớn chậm rãi trôi theo dòng chảy của biển khơi về phía Nam.