Xứ Hải Địa 3, Bến Bờ Xa Nhất

Lượt đọc: 265 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ORM EMBAR

SUỐT CẢ ĐÊM ẤY, CÁI ĐÊM NGẮN NHẤT TRONG NĂM, các ngọn đuốc cháy rực trên những chiếc bè tụ lại thành một hình tròn lớn, bên dưới bầu trời đầy sao, tạo nên một vòng lửa bập bùng trên mặt biển. Người dân bè mảng nhảy múa, không dùng kèn trống hay bất kỳ thứ nhạc cụ nào khác ngoài nhịp điệu của bàn chân trần đập lên những chiếc bè lớn đang bập bềnh trên sóng, trong khi chất giọng cao, yếu ớt của các ca sĩ vang lên thật ai oán giữa mặt biển mênh mông, quê hương của họ. Đêm đó trời không trăng, và chỉ nom thấy thân hình các vũ công lờ mờ dưới ánh sao cùng với ánh đuốc. Thỉnh thoảng một tấm thân lại sáng lóe lên như con cá nhảy bật khỏi mặt nước, đó là một chàng trai trẻ vừa nhún mình từ bè này sang bè khác: bằng những cú nhảy dài và cao, họ ganh đua với nhau, cố nhảy qua hết cả vòng tròn những chiếc bè và múa trên từng chiếc một, để rồi lại quay trở về chỗ cũ, trước khi ngày mới bắt đầu.

Arren nhảy cùng họ, bởi vì lễ Trường Vũ được tổ chức trên mọi hòn đảo ở vùng Quần Đảo, tuy những bước nhảy và các bài hát có khác nhau. Nhưng đến cuối đêm đó, khi nhiều vũ công đã ngừng nhảy múa để ngồi xuống xem hoặc ngủ gà gật, còn giọng hát của các ca sĩ thì đã khàn đi, cậu cùng với một nhóm mấy chàng trai nhảy những bước cao đến bè của vị tộc trưởng, rồi ở lại đó trong khi các chàng trai kia đi tiếp.

Chim Cắt đang ngồi cùng với vị tộc trưởng và ba bà vợ của ông ta, gần bên ngôi đền. Ở giữa hai con cá voi chạm bằng gỗ tạo thành khung cửa đền, một ca sĩ đang ngồi, giọng hát cao vút của người ấy suốt đêm vẫn chưa yếu đi chút nào. Anh hát không biết mệt mỏi, tay đập lên sàn bè gỗ để giữ nhịp.

“Anh ta hát về cái gì thế ạ?” Arren hỏi vị pháp sư, cậu không thể nghe rõ lời ca, vì tất cả đều được kéo dài ra, còn giai điệu thì đầy những nốt luyến láy kỳ lạ.

“Về loài cá voi xám, về chim hải âu và những cơn bão... Họ không biết các bài hát về những vị anh hùng và vua chúa. Họ không biết tên Erreth-Akbe. Lúc trước anh ta hát về Segoy, về chuyện người dựng nước giữa biển khơi ra sao; trong số các truyền thuyết của con người họ chỉ nhớ được có thế thôi. Còn những bài hát khác đều là về biển khơi cả.”

Arren lắng nghe: cậu nghe thấy ca sĩ bắt chước tiếng kêu như huýt sáo của con cá heo, hòa quyện bài hát của mình với tiếng kêu ấy. Cậu ngắm khuôn mặt trông nghiêng của Chim Cắt nổi bật dưới ánh đuốc, đen nhánh và rắn chắc như một hòn đá, nhìn thấy mắt các bà vợ của vị tộc trưởng long lanh lấp lánh trong khi họ khe khẽ nói chuyện với nhau, cảm thấy chiếc bè đang từ từ trôi trên mặt biển lặng, và dần dần chìm vào giấc ngủ.

Đột nhiên cậu bừng tỉnh: ca sĩ đã im bặt. Không chỉ có người ngồi cạnh họ, mà cả những người khác nữa, những người đang ngồi trên các bè ở gần hay cách xa đó. Giọng hát yếu ớt của họ đã tắt ngấm như tiếng kêu từ xa vẳng lại của loài chim biển, và tất cả đều im lìm.

Arren nhìn qua vai về phía Đông, tưởng trời đã sáng. Nhưng chỉ thấy vầng trăng muộn vừa mới mọc, đang vươn lên vàng rực giữa những ngôi sao mùa hè.

Và khi nhìn về phía Nam thì cậu thấy, cao tít trên trời, là ngôi sao vàng Gobardon, bên dưới là tám người bạn của nó, kể cả ngôi sao cuối cùng: Cổ Tự Tận Thế đã hiện ra rõ ràng, rực lửa bên trên mặt biển. Quay sang Chim Cắt, cậu thấy khuôn mặt sạm đen của ông cũng hướng về phía chòm sao.

“Sao anh không hát nữa?” vị tộc trưởng hỏi ca sĩ. “Trời đã sáng đâu, thậm chí còn chưa hửng lên kia mà.”

Người đó lắp bắp đáp, “Con không biết.”

“Hát tiếp đi! Lễ Trường Vũ vẫn chưa kết thúc.”

“Con không nhớ lời ca nữa,” ca sĩ nói, giọng lạc đi như vì sợ. “Con không hát được nữa. Con quên mất bài hát rồi.”

“Vậy thì hãy hát một bài khác!”

“Không còn bài hát nào nữa. Đã kết thúc rồi,” ca sĩ kêu lên, rồi cúi gập người về phía trước cho đến khi anh ta nằm gục trên sàn chiếc bè, và tộc trưởng kinh ngạc nhìn anh ta.

Những chiếc bè tròng trành dưới ánh đuốc bập bùng, trong im phắc. Sự im lặng của biển khơi bao bọc lấy cái khoảng nhỏ xôn xao, nơi có sự sống và ánh sáng này, rồi nhận chìm nó. Không một vũ công nào nhúc nhích.

Khi ấy Arren thấy như những ngôi sao đang rực rỡ bỗng mờ đi, thế nhưng ánh sáng ban ngày vẫn không hiện ra ở phương Đông. Một nỗi kinh hoàng xâm chiếm cậu, và cậu tự nhủ, Mặt trời sẽ không mọc nữa. Sẽ không còn ngày mới nữa.

Vị pháp sư đứng dậy. Một ánh sáng mờ nhạt, trắng xóa, tỏa ra dọc theo cây quyền trượng của ông, sáng nhất ở chỗ cổ tự bằng bạc được khảm vào cây gỗ. “Lễ hội vẫn chưa kết thúc,” ông nói, “và đêm cũng chưa tàn. Arren, con hãy hát lên.”

Arren đã toan nói, “Con không thể, thưa ngài!”... nhưng cậu nhìn chín ngôi sao nằm ở phía Nam, rồi hít một hơi dài và cất tiếng hát. Mới đầu giọng cậu còn khẽ và khàn đục, nhưng càng hát giọng cậu càng khỏe hơn, và cậu hát bài ca cổ xưa nhất, về Sự Ra Đời của Éa, sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối, cùng với việc đất liền được dâng lên khỏi mặt biển nhờ Người đã thốt lên từ ngữ đầu tiên, vị Cố Vương, Segoy.

Bài hát chưa hết thì bầu trời đã ngả sang màu xanh xám, và chỉ còn mặt trăng cùng với ngôi sao Gobardon là còn tỏa sáng lờ mờ. Những ngọn đuốc kêu lên xèo xèo khi gió bình minh thổi tới. Rồi bài ca kết thúc, Arren im lặng; và các vũ công đã tập hợp lại để nghe cũng lặng lẽ quay về bè của mình, trong khi ánh ngày rạng lên ở phía Đông.

“Bài hát hay lắm,” vị tộc trưởng nói. Giọng ông có vẻ không cả quyết, mặc dù ông vẫn cố nói thật bình thản. “Kết thúc lễ Trường Vũ trước khi nó được hoàn thành quả là không hay chút nào. Ta sẽ ra lệnh đánh cho lũ ca sĩ lười nhác kia một trận bằng roi nilgu.”

“Hãy an ủi họ thì hơn,” Chim Cắt nói. Ông vẫn còn đang đứng, và giọng điệu của ông hết sức nghiêm nghị. “Không ca sĩ nào lại lựa chọn sự câm lặng cả. Đi theo ta, Arren.”

Ông quay về túp lều, và Arren đi cùng ông. Nhưng sự kỳ dị của buổi bình minh đó vẫn chưa hết, bởi vì đúng lúc đường chân trời đằng Đông sáng trắng lên thì từ phía Bắc bay tới một con chim khổng lồ: nó bay cao đến nỗi cặp cánh của nó phản chiếu lại ánh nắng vẫn còn chưa rọi tới mặt đất, và mỗi lần vỗ cánh lại tỏa ra ánh sáng vàng óng trên không trung. Arren kêu lên một tiếng và đưa tay chỉ. Vị pháp sư cũng giật mình nhìn lên. Rồi nét mặt ông trở nên đắc thắng một cách dữ dằn, và ông thét to, “ Nam heitha arw Ged arkvaissa! ”, trong thứ Ngôn Ngữ Kiến Tạo nó có nghĩa là, Nếu ngươi đi tìm Ged thì hãy đến đây.

Vậy là, tựa một quả rọi bằng vàng vùn vụt lao xuống, với cặp cánh dang rộng vươn cao, vỗ ầm ầm trong không khí, với bộ vuốt có thể chộp một con bò mộng dễ dàng như chộp một con chuột nhắt, với những lưỡi lửa tỏa khói nghi ngút cuồn cuộn trong mũi, con rồng hạ xuống trên chiếc bè đang tròng trành, như một con diều hâu.

Người dân bè mảng kêu thét lên; người co rúm lại, người nhảy xuống biển, có người thì lại đứng im quan sát với vẻ kinh ngạc át hết mọi nỗi sợ.

Con rồng liệng qua lại trên đầu họ. Cặp cánh có màng của nó có lẽ phải dài tới chín mươi thước, tính từ đầu cánh này đến đầu cánh kia; chúng sáng óng lên dưới ánh nắng ban mai như khói có những tia vàng, còn thân mình nó cũng dài không kém, nhưng mảnh dẻ hơn, cong cong như mình chó săn, có móng như thằn lằn, có vảy như rắn. Dọc theo sống lưng hẹp của nó là một hàng gai nhọn lởm chởm, nom giống như gai hoa hồng, nhưng những cái gai bắt đầu ở cái bướu trên lưng thì dài ít nhất là ba thước, rồi cứ nhỏ dần lại đến mức cái gai cuối cùng ở chót đuôi không dài hơn một lưỡi dao nhỏ. Những chiếc gai này màu xám, vảy con rồng cũng có màu xám sắt, lấp lánh ánh vàng. Mắt nó xanh lè, con ngươi chỉ là hai vạch thẳng.

Bị thôi thúc bởi nỗi sợ cho bộ tộc hơn là cho bản thân mình, vị tộc trưởng của người dân bè mảng chạy từ trong lều của ông ta ra, tay cầm một cây lao móc dùng để đánh cá voi: nó dài hơn cả người ông và cắm một mũi ngà nhọn hoắt, có ngạnh. Ông giương cây lao lên bằng cánh tay gầy gò đầy gân, rồi chạy tới trước để lấy đà ném cây lao về phía cái bụng hẹp, phủ vảy mỏng của con rồng đang lơ lửng bên trên chiếc bè. Arren, sực tỉnh sau một hồi lâu sững sờ, nhìn thấy ông, liền vội xông tới, túm lấy cánh tay đẩy ông ngã nhào, cùng với cây lao. “Ông định chọc tức nó bằng cái kim vớ vẩn này hay sao?” cậu hổn hển. “Hãy để Chúa Rồng nói trước đã!”

Vị tộc trưởng, choáng váng vì bị đẩy xuống, chỉ đờ đẫn nhìn chằm chằm vào Arren, vào vị pháp sư, và con rồng. Nhưng ông ta không nói gì. Rồi con rồng lên tiếng.

Không ai ở đó ngoài Ged, người nó nói chuyện cùng, có thể hiểu được nó, bởi vì loài rồng chỉ dùng Cổ Ngữ, vốn là tiếng nói của chúng. Giọng nó rất nhẹ nhàng, hơi rít lên, gần giống như tiếng phì phì của một con mèo khi bị chọc giận, nhưng lớn hơn nhiều, và có một nhạc điệu đáng sợ. Bất kỳ ai nghe thấy giọng nói ấy cũng phải im lặng và lắng nghe.

Vị pháp sư đáp lại bằng mấy lời ngắn gọn, rồi con rồng lại nói tiếp, vẫn lơ lửng trước mặt ông bằng cặp cánh đập liên tục: Arren thấy trông nó thậm chí giống như một con chuồn chuồn đang lơ lửng trong không trung.

Rồi vị pháp sư đáp lại bằng một lời, “ Memeas ,” nghĩa là, Ta sẽ đến; rồi ông giơ cao cây quyền trượng bằng gỗ thủy tùng của mình lên. Con rồng mở miệng, và một cuộn khói uốn lượn tuôn ra từ bộ hàm của nó. Cặp cánh vàng lại đập mạnh như tiếng sấm sét, tạo ra một cơn gió mạnh tỏa mùi khen khét: rồi nó quay đi và vỗ đôi cánh đồ sộ, bay về phía Bắc.

Im lặng bao trùm những chiếc bè, chỉ nghe thấy tiếng khóc thét lên của mấy đứa trẻ, và tiếng những người phụ nữ đang dỗ chúng. Đám đàn ông trèo từ dưới biển lên, vẻ ngượng ngùng; và mấy cây đuốc bị bỏ quên vẫn bập bùng cháy dưới những tia nắng đầu tiên.

Vị pháp sư quay sang nhìn Arren. Mặt ông bừng sáng, có thể là ánh sáng của niềm vui, cũng có thể là ánh sáng của nỗi giận dữ vô bờ, nhưng giọng nói của ông vẫn nhẹ nhàng. “Chúng ta phải đi thôi, chàng trai ạ. Con hãy chào từ biệt mọi người đi.” Nói đoạn ông quay lại cảm ơn vị tộc trưởng, tạm biệt ông ta, rồi từ chiếc bè lớn đó đi ngang qua ba chiếc bè khác, vẫn còn nằm gần nhau sau buổi hội vũ, cho tới khi ông đến được chiếc bè nơi thuyền Trông Xa đang được cột vào. Con thuyền đã đi theo ngôi làng bè mảng trong suốt cuộc hành trình trôi nổi, chậm rãi, kéo dài về phía Nam, lòng thuyền trống không lắc lư phía sau những chiếc bè, nhưng những Người Con của Biển Khơi đã đổ đầy nước mưa dự trữ vào thùng đựng nước ngọt của thuyền, và chất đầy thức ăn lên thuyền, với mong muốn được tỏ lòng tôn kính đối với hai vị khách, vì nhiều người trong số họ tin rằng Chim Cắt là một trong những Vĩ Nhân, đã lấy hình hài con người thay vì hình hài cá voi. Khi Arren đến nơi thì ông đã giương buồm. Arren tháo dây thừng rồi nhảy xuống thuyền, và ngay lập tức con thuyền tách ra khỏi chiếc bè, cánh buồm căng phồng lên nhờ một làn gió mạnh, mặc dù lúc ấy chỉ thoang thoảng có một hơi gió ban mai. Con thuyền nghiêng đi để quay đầu và tiến về phía Nam, theo dấu đường bay của con rồng, lướt đi nhẹ nhàng như một chiếc lá bay theo chiều gió.

Khi Arren quay đầu nhìn lại, cậu thấy ngôi làng bè mảng chỉ còn là những mẩu gỗ nhỏ xíu trôi nổi rải rác trên mặt biển: duy có những túp lều và những ngọn đuốc là nổi lên. Chẳng mấy chốc cả những thứ này cũng chìm vào ánh mặt trời buổi sớm phản chiếu lấp lánh trên mặt nước. Thuyền Trông Xa lao về phía trước. Mũi thuyền xuyên qua những con sóng làm bọt nước trong veo như pha lê bắn tóe lên, thuyền lao nhanh đến nỗi hơi gió nó tạo ra thổi tung tóc Arren và làm cậu phải nheo mắt.

Không có ngọn gió bình thường nào trên thế gian có thể giúp con thuyền nhỏ ấy đi nhanh đến thế, trừ phi là trong dông bão, mà ngay cả khi ấy thì nó sẽ vẫn bị những con sóng lớn lúc biển động chặn lại. Thứ đang đẩy nó lướt vun vút về phía trước không phải là gió của trái đất, mà là thần chú và quyền năng của vị pháp sư.

Ông đứng bên cột buồm một hồi lâu, mắt cảnh giác nhìn ra xa. Rồi cuối cùng ông ngồi xuống ở chỗ quen thuộc bên bánh lái của mình, đặt một tay lên bánh lái, và quay sang Arren.

“Đó là Orm Embar,” ông nói, “con rồng xứ Selidor, hậu duệ của rồng Orm vĩ đại đã giết Erreth-Akbe và bị người hạ gục.”

“Có phải nó đang đi săn không, thưa ngài?” Arren hỏi; vì cậu không dám chắc vị pháp sư đã nói chuyện với con rồng với sự chào đón hay là với vẻ đe dọa.

“Nó đang săn tìm ta. Cái gì mà loài rồng đã muốn tìm thì chúng sẽ tìm thấy. Nó đến để nhờ ta giúp đỡ.” Ông bật cười. “Và đó là điều mà ta sẽ không tin nếu có người nào đó nói với ta: một con rồng mà lại đi tìm con người để cầu xin sự giúp đỡ. Và lại không phải con rồng nào khác, mà chính là con rồng ấy! Nó không phải là con rồng già nhất, mặc dù nó cũng đã khá già rồi, nhưng là con rồng mạnh nhất. Nó không thèm che giấu tên thật của mình, như loài người và các con rồng khác. Nó không bao giờ phải sợ có kẻ nào sẽ có quyền lực mạnh hơn nó. Nó cũng không xảo trá như những con rồng khác. Cách đây đã lâu lắm rồi, trên đảo Selidor, nó đã tha mạng cho ta, và nó đã cho ta biết một bí mật lớn lao; nó cho ta biết cách tìm lại Cổ Tự Quốc Vương. Ta tìm được Vòng Tròn của Erreth-Akbe chính là nhờ có nó. Nhưng ta chưa bao giờ nghĩ rằng ta sẽ phải trả một món nợ như vậy, với một chủ nợ như thế!”

“Nó đã hỏi điều gì ạ?”

“Nó muốn chỉ cho ta con đường mà ta đang tìm kiếm,” vị pháp sư đáp, mặt nghiêm lại. Rồi, sau một quãng im lặng, ông tiếp tục, “Nó nói, ‘Ở phương Tây có một Chúa Rồng khác; hắn đang tiêu diệt chúng ta, và quyền lực của hắn mạnh hơn của chúng ta.’ Ta hỏi, ‘Mạnh hơn cả quyền lực của người ư, Orm Embar?’ và nó đáp lại, ‘Mạnh hơn cả ta. Ta cần ngài giúp đỡ: hãy đi theo ta ngay.’ Và ta đã vâng lệnh nó.”

“Ngài không biết gì hơn ạ?”

“Rồi ta sẽ biết được nhiều hơn.”

Arren cuộn sợi thừng buộc thuyền lại, cất nó đi, và đi làm mấy việc lặt vặt khác trên thuyền, nhưng suốt cả thời gian ấy, một nỗi hồi hộp phấn khích cứ ngân vang trong lòng cậu như sợi dây cung căng ra, và khi cậu lên tiếng thì sự phấn khích ấy cũng thốt ra trong lời nói của cậu. “Đây là một người dẫn đường tốt hơn tất cả những người dẫn đường khác!” cậu reo lên.

Chim Cắt nhìn cậu rồi cười. “Phải,” ông nói. “Ta nghĩ là lần này thì chúng ta sẽ không bị lạc đường nữa đâu.”

Vậy là hai người bắt đầu cuộc chạy đua ngang qua mặt biển rộng. Vùng biển không có tên trên hải đồ của người dân bè mảng cách đảo Selidor ít ra là một ngàn dặm hoặc hơn, vì Selidor nằm ở cực Tây, cách xa mọi hòn đảo khác của xứ Hải Địa. Ngày qua ngày, lướt lên khỏi đường chân trời quang quẻ phía Đông rồi chìm vào đường chân trời đỏ ối đằng Tây, dưới ánh vàng rực của mặt trời và ánh bạc của những vì sao, con thuyền lao về phía Bắc, hoàn toàn đơn độc trên biển cả mênh mông.

Thỉnh thoảng, những đám mây dông giữa hè lại quần tụ ở đằng xa, phủ lên đường chân trời những cái bóng màu tím; khi ấy Arren thường ngắm nhìn vị pháp sư đứng dậy và dùng lời nói cùng với bàn tay làm phép, ra lệnh cho những đám mây ấy bay về phía họ, bắt chúng đổ mưa lên thuyền. Chớp lóe lên giữa những đám mây, sấm nổ ầm ầm. Nhưng vị pháp sư vẫn đứng vững, bàn tay giơ lên, cho đến khi mưa xối xả trút xuống người ông, người Arren, trút vào những chiếc bình họ đã đặt sẵn, và trút lên thuyền, lên biển, dữ dội đến nỗi cả những ngọn sóng cũng phải chịu cúi đầu. Ông và Arren cười sung sướng, bởi vì họ có đủ thức ăn, mặc dù không nhiều, nhưng nước thì họ rất cần. Và họ rất thích thú khi thấy cơn bão hung hăng khủng khiếp vẫn phải nghe theo mệnh lệnh của vị pháp sư.

Arren ngạc nhiên khi thấy người bạn đồng hành bây giờ lại sử dụng quyền năng của ông một cách dễ dãi đến thế, và một lần cậu đã nói, “Khi chúng ta mới bắt đầu cuộc hành trình, con thấy ngài chẳng làm phép bao giờ.”

“Bài học đầu tiên, và cũng là bài học cuối cùng ở đảo Roke, đó là Chỉ làm những gì cần thiết . Không hơn không kém!”

“Nếu vậy thì hẳn những bài học ở giữa là để dạy cho ta biết cái gì là cần thiết.”

“Đúng vậy. Ta phải luôn nghĩ tới sự Cân Bằng. Nhưng khi chính sự Cân Bằng cũng đã bị phá hủy - khi ấy thì ta phải nghĩ tới những điều khác. Và điều quan trọng trên hết, đó là sự gấp rút.”

“Nhưng tại sao tất cả các pháp sư ở miền Nam Hải... và hẳn là bây giờ thì cả các pháp sư ở những nơi khác nữa - thậm chí cả những ca sĩ người bè mảng - đều đã bị mất quyền năng của họ, trong khi ngài vẫn giữ được các pháp thuật của mình?”

“Bởi vì ta không ham muốn bất kỳ điều gì ngoại trừ quyền phép của ta,” Chim Cắt nói.

Rồi một lát sau, ông nói thêm một cách vui vẻ hơn, “Và nếu ta sắp bị mất quyền phép, thì ta sẽ sử dụng nó thật tốt trong khi ta vẫn còn có nó.”

Quả thực, giờ đây ở ông có một vẻ gì đó hết sức vô tư lự, và ông sử dụng pháp thuật của mình với một niềm vui thích mà Arren, vốn trước kia đã thấy ông thường cẩn thận đến thế, không thể đoán được. Tâm trí của một thuật sĩ thường thích thú với những trò ảo thuật; một vị pháp sư cũng chính là một nhà ảo thuật. Trò cải trang của Chim Cắt khi ở Thành Hort, đã làm Arren băn khoăn đến thế, ông chỉ coi là một trò chơi; một trò chơi rất tầm thường là đằng khác, đối với một người có thể tùy ý thay đổi không chỉ khuôn mặt, giọng nói của mình, mà còn thay đổi được cả thân thể và hình dạng của mình, để biến thành cá, chim ưng hay cá heo, nếu muốn. Một lần ông đã nói, “Nhìn này, Arren: ta sẽ chỉ cho con thấy Gont,” và bảo cậu nhìn vào chiếc thùng đựng nước ngọt của họ, mà ông vừa mở ra và đang đầy tràn nước. Rất nhiều phù thủy hạng xoàng cũng có thể khiến cho một hình ảnh hiện lên trên mặt nước phẳng, và ông đã làm vậy: trong thùng nước hiện lên hình một đỉnh núi cao viền mây, vươn lên trên mặt biển xám. Rồi hình ảnh đó thay đổi, và Arren trông thấy rõ ràng một vách đá trên ngọn núi đảo đó. Tựa như cậu là một con chim, một con hải âu hay đại bàng, đang chao liệng trên ngọn gió ngoài khơi và nhìn qua luồng gió để thấy được vách đá vươn cao hai ngàn thước bên trên những con sóng vỗ bờ. Trên một dải đá cao chìa ra trên vách núi ấy, có một ngôi nhà nhỏ. “Đó là Re Alibi,” Chim Cắt nói, “và người sống ở đó là thầy của ta, Ogion, người xưa kia đã từng chặn đứng cả một cơn động đất. Người chỉ chăn dê, thu hoạch thảo mộc và sống trong cảnh tĩnh lặng. Không biết giờ người có còn hay đi dạo trên các đỉnh núi nữa không; người đã già lắm rồi. Nhưng nếu Ogion mất, thì ta sẽ biết, chắc chắn ta sẽ biết, ngay cả trong thời khắc này...” Giọng nói của ông không có vẻ gì là cả quyết; và trong một thoáng, hình ảnh trong thùng nước lay động, như thể chính vách núi đang đổ xuống. Rồi hình ảnh trở lại rõ ràng, và giọng nói của ông cũng vậy: “Từ cuối mùa hè và trong suốt mùa thu, người thường một mình đi lên các khu rừng. Người đã gặp ta lần đầu tiên trong một chuyến đi như vậy, khi ta còn là một chú nhóc trong một ngôi làng trên núi, và người đã cho ta một cái tên. Và cho ta cả cuộc đời nữa.” Hình ảnh trong thùng nước giờ hiện ra như thể người nhìn là một con chim bay lượn giữa những cành cây, đang dõi mắt xuống những thảo nguyên nằm thoai thoải, rực nắng bên dưới đỉnh núi đá phủ tuyết, nhìn về một con đường dốc dẫn xuống khu rừng tối om, xanh rì, lốm đốm tia nắng vàng. “Không có sự tĩnh lặng nào có thể so được với sự tĩnh lặng của những khu rừng ấy,” Chim Cắt nói vẻ khao khát.

Hình ảnh đó mờ nhòa đi, và trong thùng chẳng còn gì nữa ngoài mặt trời giữa trưa đang phản chiếu lại giữa mặt nước, tỏa ánh sáng chói mắt.

“Ở nơi ấy,” Chim Cắt nói, đưa mắt nhìn Arren với một vẻ giễu cợt lạ lùng, “ở nơi ấy, nếu một ngày kia ta có thể quay trở lại đó, thì ngay cả con cũng không thể đi theo ta.”

Đất liền hiện ra trước mặt họ, xanh thẳm, thấp tè trong ánh nắng chiều như một dải sương mờ. “Đó có phải là Selidor không ạ?” Arren hỏi, tim đập thình thịch, nhưng vị pháp sư chỉ đáp, “Ta đoán đó là Obb, hoặc là Jessage. Chúng ta chưa đi được đến nửa đường mà, chàng trai.”

Đêm đó họ đi qua các eo biển nằm giữa hai hòn đảo ấy. Họ không nhìn thấy ánh lửa, nhưng trong không khí có mùi khói khét lẹt, đặc quánh đến nỗi phổi họ rát bỏng vì phải hít thở thứ khói ấy. Đến sáng hôm sau, khi họ nhìn lại, thì hòn đảo ở phía Đông, Jessage, chỉ còn toàn một màu đen sì, cháy rụi đến hết tầm mắt từ bờ biển vào tít sâu trong đất liền, và bao phủ trên đó là một lớp bụi mờ xanh xám.

“Họ đã đốt hết các cánh đồng,” Arren nói.

“Phải. Và cả những ngôi làng nữa. Trước kia ta đã từng ngửi thấy mùi khói ấy rồi.”

“Người ở miền Tây Hải này là dân mọi rợ hay sao ạ?”

Chim Cắt lắc đầu. “Chỉ là nông dân và người thành thị thôi.”

Arren nhìn không dứt cảnh tro tàn hoang phế của hòn đảo, nhìn những thân cây trong vườn quả héo quắt nổi bật trên nền trời; và mặt cậu đanh lại. “Những cái cây ấy thì đã hại gì đến họ?” cậu hỏi. “Tại sao họ lại phải trừng phạt cỏ cây vì tội lỗi của bản thân họ? Con người thật là dã man vì đã đốt cháy cả một vùng đất chỉ vì có chuyện tranh chấp với người khác.”

“Họ không được ai chỉ dẫn cả,” Chim Cắt nói. “Không có vua; còn những người thuộc hoàng tộc và những người có pháp thuật thì đều đã quay lưng lại, đã bị giam cầm trong trí óc của chính mình, để tìm kiếm cánh cửa thoát khỏi cái chết. Ở Nam Hải đã vậy, nên ta đoán ở đây cũng thế.”

“Và tất cả những điều này là việc làm của một con người thôi ư - kẻ mà con rồng đã nhắc đến ư? Thật không thể tin được.”

“Tại sao lại không? Nếu có một vị Thượng Hoàng của toàn xứ sở, thì đó sẽ chỉ là một con người. Và người sẽ trị vì toàn thế giới. Một con người có thể hủy diệt cũng dễ dàng như cai trị vậy: hoặc là làm Thượng Hoàng, hoặc là làm kẻ Chống Thượng Hoàng.”

Trong giọng nói của ông lại có cái vẻ giễu cợt hay thách thức, khiến Arren lại bị chạm nọc.

“Một quốc vương thì phải có kẻ hầu hạ, quân lính, sứ giả, binh tướng. Ông ta chỉ có thể cai trị nhờ vào thuộc hạ của mình. Vậy thì thuộc hạ của kẻ - kẻ Chống Thượng Hoàng này đâu?”

“Chúng nằm trong trí óc chúng ta ấy, chàng trai ạ. Chính là trong trí óc chúng ta. Kẻ phản bội cũng chính là cái bản ngã đang kêu gào, Ta muốn sống; cứ mặc cho thế gian sụp đổ, miễn là ta được sống! Cái tâm hồn bội phản ấy nằm sâu thẳm bên trong chúng ta, như con sâu nằm trong quả táo. Kẻ đó lên tiếng dỗ dành tất cả chúng ta. Nhưng chỉ có một vài người hiểu được hắn. Các pháp sư và phù thủy. Các ca sĩ; những người kiến tạo. Và cả anh hùng, những người muốn được là bản thân mình. Được làm bản thân mình là một điều hiếm có và hết sức tuyệt diệu. Được làm bản thân mình mãi mãi : điều đó chẳng phải còn tuyệt vời hơn thế hay sao?”

Arren nhìn thẳng vào Chim Cắt. “Ngài sẽ nói với con rằng điều đó không hề tuyệt vời hơn. Nhưng xin hãy cho con biết tại sao. Khi bắt đầu cuộc hành trình này thì con còn là một đứa trẻ, một đứa trẻ không hề tin vào cái chết. Ngài vẫn còn coi con là một đứa trẻ, nhưng con đã học hỏi được chút ít, tuy không nhiều, nhưng cũng là một chút gì đó; con đã học được rằng cái chết tồn tại và con sẽ phải chết. Nhưng con chưa học được cách vui mừng với điều ấy, cách đón chào cái chết của mình, hay của ngài. Nếu con yêu cuộc sống, thì tại sao con lại không được căm ghét sự kết thúc của cuộc sống? Tại sao con lại không được phép muốn có sự trường sinh bất tử?”

Thầy dạy đấu kiếm của Arren ở Berila là một người đàn ông chừng sáu mươi tuổi, thấp bé, đầu hói, lạnh lùng. Suốt bao nhiêu năm, Arren chẳng ưa gì ông, mặc dù cậu biết ông là một kiếm sĩ cừ khôi. Nhưng một ngày kia, trong lúc tập luyện, cậu đã làm ông thầy mất cảnh giác, suýt nữa đã tước được kiếm của ông, và cậu không bao giờ có thể quên được cái vẻ vui sướng không thể tin nổi, đến mức phi lý, đã thoáng hiện ra trên gương mặt lạnh lùng của ông thầy, niềm hy vọng, niềm hạnh phúc - đây là một kẻ ngang tài ngang sức, cuối cùng thì ta cũng đã tìm được một kẻ ngang tài ngang sức! Kể từ đó trở đi, ông thầy đã luyện rèn cho cậu một cách không thương xót, và bất kỳ khi nào họ đấu kiếm với nhau, trên khuôn mặt của ông cũng nở ra nụ cười không chút khoan nhượng ấy, Arren càng dồn ông vào thế bí thì nụ cười ấy càng tươi hơn. Và giờ trên mặt Chim Cắt cũng là một nụ cười như thế, tựa như một ánh thép lóe lên dưới tia sáng mặt trời.

“Tại sao con lại không được phép muốn có sự trường tồn bất tử? Làm sao con có thể không mong muốn điều đó được? Tất cả mọi người đều muốn được trường sinh bất tử, và sức mạnh của nó phụ thuộc vào việc ta mong muốn nó đến mức nào - nhưng hãy coi chừng đấy; con là người có thể sẽ đạt được mong muốn của mình.”

“Và khi ấy thì sao ạ?”

“Khi ấy thì sẽ là như thế này đây: một vị quốc vương giả nắm quyền, mọi tri thức của loài người bị quên lãng, các ca sĩ sẽ trở nên câm lặng, mọi con mắt sẽ mù lòa. Chính điều này! - chính là cơn bệnh, là trận dịch đang bao trùm lên thế gian, là vết đau mà chúng ta đang tìm cách chữa lành. Có hai mặt, Arren ạ, hai mặt tạo thành một thể thống nhất: dương gian và âm thế, ánh sáng và bóng tối. Đó là hai cực của sự Cân Bằng. Sự sống nảy sinh từ cái chết, cái chết lại nảy sinh từ sự sống; là hai cực trái ngược nhưng chúng lại hòa quyện với nhau, cái này sinh ra cái kia, và sẽ muôn đời được tái sinh. Và cùng với chúng, tất thảy đều được tái sinh, bông hoa trên cây táo, ánh sáng của những vì sao. Trong sự sống có cái chết. Trong cái chết là sự tái sinh. Nếu vậy thì cuộc sống còn là gì nữa nếu không có cái chết? Cuộc sống muôn đời không thay đổi, kéo dãi mãi mãi, vĩnh hằng ư? - Như thế thì cuộc sống ấy có khác gì cái chết - cái chết mà không được tái sinh?”

“Nhưng thưa ngài, nếu có nhiều điều phụ thuộc vào cuộc sống của một con người đến vậy, nếu tính mạng của một con người có thể phá hủy cả sự Cân Bằng của toàn thế giới, thì chắc chắn nó sẽ không thể - không được phép...” cậu lúng túng ngừng lời.

“Ai ngăn cấm? Ai cho phép?”

“Con không biết ạ.”

“Ta cũng không biết. Nhưng ta biết một con người, một cuộc đời, có thể gây ra nhiều điều xấu xa đến mức nào. Ta biết điều đó quá rõ. Ta biết thế, bởi vì chính ta cũng đã làm như vậy. Ta đã phạm phải tội ác ấy, cũng chính bởi vì lòng kiêu ngạo vô nghĩa. Ta đã mở ra cánh cửa giữa hai thế giới, chỉ một khe hở nhỏ thôi, để chứng tỏ rằng ta còn mạnh hơn cả cái chết... Khi ấy ta còn trẻ và cũng chưa phải đối mặt với cái chết - giống như con vậy... Để đóng cánh cửa đó lại, Tổng Pháp Sư Nemmerle đã phải dồn hết sức lực, quyền phép của mình, và cuối cùng đã hy sinh cả tính mạng của mình. Con có thể thấy đêm ấy đã để lại dấu vết trên mặt ta như thế nào; nhưng Tổng Pháp Sư thì đã bị nó giết chết. Ồ, cánh cửa giữa ánh sáng và bóng tối có thể mở ra được, Arren à, phải dùng nhiều sức mạnh, nhưng điều đó là có thể làm được. Nhưng để đóng nó lại thì là một chuyện khác hẳn.”

“Nhưng thưa ngài, chuyện ngài vừa kể đó hẳn phải khác chuyện này chứ...”

“Vì sao? Vì ta là người tốt ư?” Cái vẻ lạnh lùng đanh thép như trong mắt con diều hâu lại hiện lên trong cái nhìn của Chim Cắt. “Người tốt là thế nào, Arren? Người tốt là người không chịu làm việc xấu, không chịu mở cánh cửa dẫn vào bóng đêm, trong tâm hồn không có chút đen tối nào ư? Nhìn lại mà xem, chàng trai. Hãy nhìn xa hơn một chút; những điều con học được đây sẽ cần thiết để giúp con đến được nơi con phải đến. Con hãy nhìn vào lòng mình xem! Chẳng phải con đã nghe thấy một giọng nói cất tiếng gọi Đến đây hay sao? Chẳng phải con đã đi theo tiếng gọi ấy hay sao?”

“Đúng thế ạ. Con - con vẫn chưa quên. Nhưng con ngỡ... con tưởng rằng giọng nói đó là của... của hắn.”

“Phải, đó là tiếng gọi của hắn. Và cũng là giọng nói của con nữa. Làm sao hắn có thể cất tiếng gọi ngang qua đại dương mênh mông để đến với con, nếu không dùng giọng nói của chính con? Làm sao hắn có thể vẫy gọi những người biết cách lắng nghe, những pháp sư, những người kiến tạo và tìm kiếm, những người đã nghe theo tiếng gọi ấy trong lòng mình? Tại sao hắn lại không gọi ta? Đó là bởi vì ta không chịu nghe; ta sẽ không bao giờ nghe theo tiếng gọi ấy nữa. Con sinh ra đã có quyền lực, Arren ạ, cũng như ta vậy; quyền lực để điều khiển những người khác, điều khiển tâm hồn họ; và đó là gì nếu không phải là quyền lực để điều khiển sự sống và cái chết? Con vẫn còn trẻ, con đang đứng ở ranh giới của tương lai, ở vùng đất của bóng tối, trong lãnh địa của những giấc mơ, và con nghe thấy giọng nói ấy gọi Đến đây . Nhưng ta, ta đã già rồi, ta đã làm hết những gì ta phải làm, sẵn sàng đối mặt với cái chết của mình, đã đi đến đoạn cuối của cuộc đời, ta biết chỉ có một quyền lực duy nhất là đích thực và đáng có mà thôi. Và đó không phải là quyền lực để chiếm đoạt, mà là quyền lực để đón nhận.”

Đảo Jessage đã lùi xa sau lưng họ, chỉ còn là một vệt xanh trên biển, nom như một vết bẩn.

“Nếu vậy thì con cũng là kẻ đi theo hắn rồi,” Arren nói.

“Đúng vậy. Nhưng ta lại là người đi theo con.”

“Nhưng hắn là ai ạ? Hắn là cái gì?”

“Ta nghĩ hắn chỉ là một con người - một con người như con và ta vậy.”

“Có phải là kẻ mà có lần ngài đã nhắc đến - tên pháp sư ở Havnor có thể gọi hồn người chết đến không ạ? Có phải là hắn không ạ?”

“Rất có thể là hắn. Hắn có quyền lực vô cùng hùng mạnh, và hắn luôn muốn dùng quyền lực ấy để chống lại cái chết. Và hắn lại biết những lời Đại Thần Chú trong cuốn Tri Thức của Paln. Khi ta sử dụng lời thần chú ấy thì ta mới chỉ là một thằng nhóc ngốc nghếch, và ta đã đem tai họa đến cho chính mình. Nhưng nếu một kẻ già đời, một kẻ có sức mạnh, sử dụng nó mà không cần biết đến hậu quả, thì hắn có thể đem tai họa đến cho tất cả chúng ta.”

“Chẳng phải ngài đã nghe nói rằng kẻ đó đã chết rồi đấy sao?”

“Ừ,” Chim Cắt đáp, “đúng thế.”

Và họ không nói gì nữa.

Đêm đó mặt biển đầy ánh lửa. Những con sóng lớn bị mũi thuyền Trông Xa rẽ sang hai bên và cử động của từng con cá trông qua mặt nước đều được viền những tia sáng lấp lánh. Arren ngồi chống tay lên mép thuyền, đầu áp vào cánh tay, ngắm nhìn những nét bạc sáng rực uốn lượn, cuộn xoáy dưới nước. Cậu đưa tay xuống nước rồi rút tay lên, và ánh sáng tuôn chảy xuống từ những ngón tay của cậu. “Ngài nhìn này,” cậu nói. “Con cũng là pháp sư đấy.”

“Con không có khả năng ấy đâu,” người bạn đường của cậu bảo.

“Không có khả năng đó thì con chẳng có ích gì cho ngài khi chúng ta phải đối mặt với kẻ thù của mình cả,” Arren nói, mắt vẫn không rời những ánh lấp lánh không ngừng trên sóng nước.

Bởi vì cậu hy vọng - đã hy vọng ngay từ khi họ bắt đầu cuộc hành trình này - rằng lý do Tổng Pháp Sư chọn cậu, chỉ một mình cậu, làm bạn đồng hành cho chuyến đi, đó là vì cậu có một quyền năng bẩm sinh nào đó, thừa hưởng được từ vị tổ tiên Morred của mình, quyền năng đó sẽ chỉ được bộc lộ ra vào thời khắc hiểm nguy nhất, khi nó được cần đến nhất: và cậu sẽ tự cứu mình, cứu được cả Tổng Pháp Sư và toàn bộ thế gian khỏi kẻ thù xấu xa. Nhưng gần đây cậu đã nhớ lại niềm hy vọng ấy, và cảm thấy như mình đang đứng từ một quãng rất xa để nhìn lại nó; cũng giống như nhớ lại chuyện thuở còn nhỏ xíu, cậu đã hết sức ước ao được đội thử chiếc vương miện của phụ hoàng, và đã khóc òa lên khi bị cấm làm vậy. Niềm hy vọng này cũng không đúng lúc và ấu trĩ không kém. Cậu không có chút quyền lực pháp thuật nào, sẽ không bao giờ có cả.

Quả thực, rồi sẽ có một ngày kia, khi cậu có thể, và bắt buộc phải đội chiếc vương miện của phụ hoàng và lên ngôi Vương xứ Enlad. Nhưng giờ điều đó dường như chỉ còn là một việc nhỏ nhặt, và quê nhà của cậu chỉ còn là một hòn đảo nhỏ bé, xa xôi. Không phải là vì cậu không còn trung thành với quê hương. Lòng trung thành của cậu đã lớn lên, hướng về một đối tượng vĩ đại hơn, một niềm hy vọng rộng lớn hơn. Cậu cũng đã biết được điểm yếu của mình, nhờ đó đoán được sức mạnh của mình; và cậu biết là mình cũng rất mạnh mẽ. Nhưng sức mạnh ấy thì có ích gì khi mà cậu không có khả năng gì hết, không có gì khác để dâng lên cho chủ nhân của mình ngoại trừ lòng tận tụy và tình yêu thương không bao giờ thay đổi? Ở nơi họ sắp đến, liệu những điều ấy có đủ không?

Chim Cắt chỉ nói, “Để thấy được ánh sáng của ngọn nến, ta phải đem nó vào nơi tăm tối.” Arren nhắc lại những lời ấy để cố tự an ủi mình; nhưng cậu chẳng thấy dễ chịu hơn là bao.

Sáng hôm sau khi họ thức dậy, mặt nước đã trở nên xám xịt, không khí u ám. Bên trên cột buồm, bầu trời sáng lên màu xanh như ngọc bích, vì màn sương chỉ nằm dưới thấp. Với những người phương Bắc như Arren đến từ Enlad và Chim Cắt đến từ Gont, màn sương ấy cũng thân thiết như một người bạn cũ vậy. Nó nhẹ nhàng ôm lấy con thuyền, khiến họ không nhìn xa được, và họ cảm thấy như được trở về một căn phòng cũ quen thuộc sau nhiều tuần lênh đênh giữa một nơi trống trải, sáng chói, gió thổi lồng lộng. Họ đang tiến dần vào vùng khí hậu của xứ mình, và có lẽ giờ họ đang ở ngang vĩ độ với đảo Roke.

Cách vùng biển đầy sương nơi thuyền Trông Xa đang tiến vào chừng bảy trăm dặm về phía Đông, ánh nắng sáng trong đang chiếu lên những tán lá cây trong Cụm Rừng Nội Tại, lên đỉnh Đồi Roke xanh tươi, lên những mái nhà cao lợp đá xám của Nhà Chính.

Trong một căn phòng ở tòa tháp Nam, phòng làm việc của một nhà thuật sĩ, chất đầy những bình cổ cong, nồi chưng cất, các chai lọ với bầu chai to, cổ chai uốn vòng, những lò luyện thành dày, những ngọn đèn nhỏ xíu, rồi cặp gắp, ống bễ, giá đỡ, kìm, ống dẫn, hàng ngàn chiếc hộp, lọ nhỏ và bình được nút kín, đánh dấu bằng tiếng Hardic hoặc một thứ cổ tự bí ẩn nào đó, cùng với vô số các dụng cụ khác dùng trong thuật giả kim, thổi thủy tinh, luyện kim loại và nghề y, trong căn phòng ấy, giữa những bàn và ghế bừa bộn, là hai vị thầy Biến Hóa và Triệu Tập của trường Roke.

Trong tay mình, thầy Biến Hóa tóc bạc đang cầm một viên đá lớn, nom như một viên kim cương chưa được gọt giũa. Đó là một viên đá pha lê, sâu thẳm trong lòng đá ánh lên màu ngọc tím và hoa hồng, nhưng bên ngoài thì trong trẻo tựa nước nguồn. Thế nhưng khi mắt ta nhìn vào sự trong trẻo đó, ta sẽ không thấy được sự trong trẻo, cũng không thấy hình ảnh phản chiếu của những sự vật xung quanh, mà chỉ thấy những mặt phẳng và chiều sâu dẫn ta vào trong, vào sâu hơn, cho tới khi nó đưa ta đến với một cõi mộng và không tìm được đường ra nữa. Đây chính là Viên Đá Shelieth. Nó đã nằm trong tay các ông hoàng xứ Way một thời gian dài, khi thì chỉ là một thứ đồ chơi trong kho báu của họ, khi thì là thứ bùa giúp chữa bệnh mất ngủ, cũng có khi lại được dùng vào một mục đích đáng sợ hơn: kẻ nào nhìn quá lâu vào chiều sâu không đáy của viên pha lê đó mà không hiểu mình đang nhìn thấy gì thì sẽ hóa điên. Tổng Pháp Sư Gensher, người xứ Way, khi đến Roke đã mang theo mình Viên Đá Shelieth, vì trong tay một vị pháp sư thì nó sẽ cho người đó nhìn thấy sự thật.

Thế nhưng sự thật lại khác nhau, phụ thuộc vào người cầm nó.

Vì vậy mà thầy Biến Hóa, khi cầm viên đá trong tay và nhìn qua bề mặt lồi lõm, gồ ghề vào trong đáy sâu vô tận, lấp lánh những màu sắc nhạt của nó, phải miêu tả lại những gì mình thấy. “Tôi trông thấy trái đất, như thể tôi đang đứng trên Đỉnh Núi Onn ở trung tâm thế giới và nhìn thấy tất cả trải dài dưới chân mình, thấy được cả những hòn đảo xa nhất của vùng Tứ Hải xa xôi nhất, và xa hơn cả thế nữa. Tất cả đều rõ ràng. Tôi thấy những con tàu ở eo biển Ilien, những đống lửa bếp ở Torheven, và mái của ngọn tháp nơi chúng ta đang ngồi đây. Nhưng quá đảo Roke thì không còn gì nữa. Ở phía Nam, không có đất liền. Ở phía Tây, không có đất liền. Ở chỗ của Wathort tôi không thấy gì hết, cũng không thấy được bất kỳ hòn đảo nào của vùng Tây Hải, thậm chí những hòn đảo gần như Pendor cũng không. Còn Osskil và Ebosskil nữa, chúng đâu rồi? Đảo Enlad bị bao phủ trong một màn sương xám mờ như mạng nhện. Mỗi lần tôi nhìn lại thì lại có thêm những hòn đảo khác biến mất, và mặt biển nơi chúng vẫn nằm thì trống trải và phẳng lì, như trước thời Khai Thiên Lập Địa...” và giọng nói của ông ngập ngừng thốt lên mấy từ cuối cùng, như thể phải khó khăn lắm chúng mới thoát ra khỏi miệng ông được.

Ông đặt viên đá xuống cái giá đỡ bằng ngà và lùi ra xa khỏi nó. Gương mặt hiền lành của ông cau lại. Ông nói, “Hãy cho tôi biết ngài nhìn thấy gì.”

Thầy Triệu Tập cầm viên pha lê lên và chậm rãi xoay xoay nó trong lòng bàn tay như để tìm một lối vào trên bề mặt gồ ghề nhưng bóng như gương ấy. Ông cầm nó một lúc lâu, nhìn nó hết sức chăm chú. Rồi cuối cùng ông đặt nó xuống và nói, “Thầy Biến Hóa, tôi thấy rất ít. Chỉ những cái nhìn thoáng qua, những hình ảnh vụn vặt, không có gì là nguyên vẹn cả.”

Thầy Biến Hóa tóc bạc siết chặt hai bàn tay. “Chẳng lẽ chính điều đó không phải là lạ hay sao?”

“Thế nghĩa là thế nào?”

“Mắt ngài lúc nào cũng bị mù ư?” thầy Biến Hóa kêu lên, như đang trong cơn thịnh nộ. “Ngài không thấy là...” và ông lắp bắp mấy lần mới thốt ra được, “Ngài không thấy là có một bàn tay che mắt ngài, cũng như một bàn tay đang bịt miệng tôi hay sao?”

Thầy Triệu Tập nói, “Ngài đã căng thẳng quá rồi.”

“Hãy gọi Linh Hồn của Viên Đá đến đây,” thầy Biến Hóa nói, cố gắng bình tĩnh trở lại, nhưng giọng ông nghe như nghẹt đi.

“Tại sao?”

“Tại sao ấy à, vì tôi yêu cầu ngài.”

“Kìa, thầy Biến Hóa, ngài đang thách thức tôi đấy ư - như lũ trẻ trước cái hang gấu vậy? Chúng ta vẫn còn là trẻ con ư?”

“Phải! Trước những điều tôi thấy trong Viên Đá Shelieth thì tôi chỉ còn là một đứa trẻ - một đứa trẻ đang khiếp hãi. Hãy gọi Linh Hồn của Viên Đá đến. Tôi phải cầu xin ngài thì mới được hay sao?”

“Không,” vị pháp sư cao lớn đáp, nhưng ông nhíu mày, và quay lưng lại với ông già. Rồi dang rộng hai tay làm một cử chỉ khoan thai để bắt đầu câu thần chú cho pháp thuật của mình, ông ngẩng đầu lên và thốt ra từng âm tiết một của lời triệu tập. Trong lúc ông đọc thần chú, một ánh sáng bắt đầu hiện lên trong lòng Viên Đá Shelieth. Căn phòng tối sầm lại xung quanh nó; những bóng đen tụ lại với nhau. Khi các bóng đen đã dày đặc còn viên đá thì rực sáng, ông đưa hai tay nhấc viên pha lê lên trước mặt mình, và nhìn vào vầng hào quang của nó.

Ông im lặng hồi lâu, rồi lên tiếng. “Tôi nhìn thấy Suối Nguồn Shelieth,” ông khẽ nói. “Những cái hồ, cái ao nhỏ, những dòng thác, những cái hang như được che phủ bằng một tấm rèm nước bạc, nơi dương xỉ mọc dày trên các bờ suối phủ rêu, nhìn thấy lòng cát gợn sóng, nhìn thấy nước bắn tóe lên và chảy trôi, nhìn thấy nước trào ra từ những đầu nguồn nằm sâu trong lòng đất, nhìn thấy con suối thần bí và ngọt dịu là ngọn nguồn của tất cả mọi dòng nước.” Ông lại im lặng, và cứ đứng thế một lát, mặt tái đi như bạc dưới ánh sáng của viên đá. Rồi ông thốt lên một tiếng kêu không thành lời, tuột tay để rơi viên pha lê xuống sàn đánh “rầm” một tiếng, khuỵu gối xuống, và mặt vùi vào hai bàn tay.

Lập tức những bóng đen biến mất. Ánh nắng mùa hè lại tràn vào căn buồng lộn xộn. Viên đá lớn nằm lăn lóc dưới gậm bàn, giữa đám bụi và rác rưởi, nhưng vẫn còn nguyên vẹn.

Thầy Triệu Tập mò mẫm đưa tay ra túm lấy tay thầy Biến Hóa, như một đứa trẻ. Ông hít một hơi dài. Mãi một lúc sau ông mới đứng dậy được, tuy vẫn phải dựa vào thầy Biến Hóa, và ông nói, môi hơi run run cố mỉm cười, “Tôi sẽ không chấp nhận những lời thách thức của ngài nữa đâu.”

“Ngài đã thấy gì, Thorion?”

“Tôi nhìn thấy suối nguồn. Tôi thấy chúng chìm xuống, các dòng nước cạn hết, hai bờ suối co rút lại. Và bên dưới tất cả đều đen sì, khô cằn. Ngài đã nhìn thấy biển cả thuở trước khi Khai Thiên Lập Địa, nhưng tôi lại thấy cái... tôi thấy điều gì sẽ xảy ra tiếp theo... tôi nhìn thấy cảnh Tận Thế.” Ông liếm môi. “Giá mà Tổng Pháp Sư đang ở đây,” ông nói.

“Tôi lại mong chúng ta đang đi cùng người.”

“Nhưng người đang ở đâu? Giờ chẳng ai có thể tìm được người nữa.” Thầy Triệu Tập nhìn qua ô cửa sổ, nhìn lên bầu trời xanh trong veo. “Không tiếng gọi nào được người đáp lại, không lời triệu tập nào đến được với người. Người đang ở nơi mà ngài vừa nhìn thấy chỉ có mặt biển trống trải. Người đang đi tới nơi các dòng suối cạn khô. Người đang ở nơi mà pháp thuật của chúng ta không thể giúp ích gì được... Thế nhưng có lẽ vẫn còn những lời thần chú có thể đến được chỗ của người lúc này, những lời thần chú trong cuốn Tri Thức của Paln.”

“Nhưng đó là những lời thần chú dùng để gọi người chết về dương thế.”

“Có những lời thần chú dùng để đưa người sống đến cõi âm.”

“Ngài không nghĩ là Tổng Pháp Sư đã chết rồi chứ?”

“Tôi nghĩ người đang đi về phía cái chết và bị hút về phía nó. Và tất cả chúng ta cũng vậy. Quyền năng của chúng ta đang dần dần biến mất, cả sức mạnh của chúng ta, cả niềm hy vọng và vận may của chúng ta nữa. Các dòng suối đang cạn khô rồi.”

Thầy Biến Hóa nhìn ông với vẻ mặt lo ngại. “Đừng tìm cách gọi người về, Thorion à,” cuối cùng ông nói. “Người đã biết mình đi tìm cái gì, từ rất lâu trước khi chúng ta biết được. Với người, thế giới này cũng giống như Viên Đá Shelieth kia vậy: người nhìn vào đó và thấy được những sự thật chân chính, thấy những điều phải xảy ra... Chúng ta không thể giúp người được. Các lời đại thần chú đã trở nên vô cùng nguy hiểm, mà những lời thần chú nguy hiểm nhất chính là nằm trong cuốn sách Tri Thức ông nhắc đến ấy. Chúng ta phải đứng vững, theo lời người dặn dò, chăm lo bảo vệ những bức tường của Roke, và tiếp tục ghi nhớ các Danh Tính.”

“Phải,” thầy Triệu Tập nói. “Nhưng tôi phải suy nghĩ thêm về việc này.” Nói đoạn ông rời khỏi căn phòng trên tòa tháp, bước chân hơi nặng nề, nhưng mái đầu đen nhánh, cao quý của ông vẫn ngẩng cao.

Sáng hôm sau thầy Biến Hóa đến tìm ông. Khi bước vào phòng của thầy Triệu Tập, sau một hồi gõ cửa mà không có ai đáp lại, ông thấy thầy Triệu Tập đang nằm sóng soài trên sàn nhà bằng đá, như thể đã bị một cú đánh mạnh đẩy về phía sau. Hai tay ông dang rộng như đang sắp sửa làm phép, nhưng bàn tay ông lạnh giá, và mắt ông mở trừng trừng mà không nhìn thấy gì. Mặc cho thầy Biến Hóa quỳ bên ông, gọi ông với quyền uy của một pháp sư, gọi tên ông, Thorion, tới ba lần liền, ông vẫn nằm im. Ông chưa chết, nhưng sự sống trong ông chỉ còn lại vừa đủ để giữ cho tim ông đập rất chậm, và giữ lại một chút hơi thở thoi thóp trong lồng ngực ông. Thầy Biến Hóa nắm lấy tay ông và thì thầm, “Ôi, Thorion, chính tôi đã bắt ngài nhìn vào Viên Đá. Đây là lỗi của tôi!” Rồi ông vội vã ra khỏi phòng và nói với tất cả những người mình gặp, học trò cũng như các vị thầy, “Kẻ thù đã tìm đến chỗ chúng ta rồi, đã tìm được đến đảo Roke bất khả xâm phạm, và đã đập trúng tâm điểm sức mạnh của chúng ta!” Bình thường ông vẫn là một người hiền lành, nhưng giờ trông ông lạnh lùng và khủng khiếp đến nỗi ai nhìn thấy cũng phải sợ. “Hãy chăm sóc thầy Triệu Tập,” ông nói. “Nhưng giờ còn ai có thể gọi linh hồn ông ấy về nữa, khi mà chính bậc thầy của pháp thuật ấy đã gục ngã?”

Ông đi thẳng về buồng mình, và tất cả đều tránh đường cho ông bước qua.

Người ta gọi ngay thầy Thảo Mộc đến. Ông bảo họ đặt Thorion, thầy Triệu Tập, lên giường, đắp chăn ấm cho ông; nhưng ông không chế thứ thuốc chữa bệnh nào, ông cũng không đọc những lời thần chú giúp cơ thể bị bệnh dễ chịu hay tâm hồn bất an được thanh thản hơn. Ở cùng ông có một trong số các học trò của ông, một cậu bé còn chưa được lên lớp, nhưng rất khá môn y thuật, và cậu bé hỏi, “Thưa thầy, chúng ta không thể làm gì để giúp thầy Triệu Tập hay sao ạ?”

“Ở bên này của bức tường thì không,” thầy Thảo Mộc nói. Rồi, chợt nhớ ra mình đang nói chuyện với ai, ông thêm vào, “Thầy Triệu Tập không ốm, chàng trai ạ; nhưng dù ông ấy có bị sốt hay bị một bệnh gì đó về thể chất thì ta cũng không biết liệu y thuật của chúng ta có giúp ích gì được không. Có vẻ như gần đây các món thảo mộc của ta không còn mùi vị gì cả; và mặc dù ta vẫn đọc những lời thần chú chữa bệnh, chúng chẳng còn công hiệu nữa.”

“Cũng giống như thầy Thi Sĩ nói hôm qua ấy ạ. Thầy đang dạy dở một bài ca cho chúng con thì bỗng dừng lại và nói, ‘Ta không biết bài ca này có nghĩa là gì.’ Rồi thầy đi thẳng ra khỏi phòng. Có mấy cậu cười phá lên, nhưng con thì thấy như sàn nhà vừa sụp xuống dưới chân vậy.”

Thầy Thảo Mộc nhìn khuôn mặt chất phác, thông minh của cậu bé, rồi nhìn xuống khuôn mặt lạnh cứng, đờ đẫn của thầy Triệu Tập. “Ông ấy sẽ quay trở lại với chúng ta,” ông nói. “Các bài ca sẽ không bị lãng quên đâu.”

Đêm đó thầy Biến Hóa rời khỏi đảo Roke. Không ai biết ông đi bằng cách nào. Ông ngủ trong căn phòng có cửa sổ nhìn ra vườn; sáng hôm sau ô cửa sổ mở tung, còn thầy Biến Hóa thì đã biến mất. Họ đoán ông đã dùng khả năng Biến Hóa của mình để hóa thành một con chim hoặc con thú, hay thậm chí là một làn gió hay một hơi sương, bởi vì không có hình thù hay vật chất gì nằm ngoài quyền phép của ông, rồi rời Roke dưới hình dạng ấy, có lẽ là để đi tìm Tổng Pháp Sư. Một số người khác thì biết rằng người biến hình có thể bị mắc kẹt trong bùa phép của chính mình nếu khả năng hay ý chí của ông bị lung lay, và họ lấy làm lo sợ cho ông, nhưng họ không thổ lộ nỗi lo ấy với bất kỳ ai.

Vậy là ba vị pháp sư đã rời khỏi Hội Đồng Thông Thái. Khi ngày tháng trôi qua mà vẫn không thấy có tin tức gì của Tổng Pháp Sư, thầy Triệu Tập vẫn nằm như người chết, và thầy Biến Hóa thì vẫn không trở về, một bầu không khí u ám ảm đạm dần bao trùm lên Nhà Chính. Các cậu học trò thì thào bàn tán với nhau, có những cậu đã tính đến chuyện rời khỏi Roke, vì họ không còn được dạy những điều họ đến đây để học nữa. Một cậu nói, “Có lẽ tất cả những chuyện pháp thuật và quyền năng này ngay từ đầu đã chỉ toàn là dối trá rồi cũng nên. Trong số các thầy, chỉ còn thầy Ảo Thuật là vẫn còn làm phép được, mà những pháp thuật ấy thì chúng ta đều biết, chỉ là ảo ảnh vớ vẩn mà thôi. Và giờ thì các thầy khác đều trốn mất hoặc không chịu làm gì hết, bởi vì trò bịp của họ đã bị bại lộ rồi.” Một cậu khác đang lắng nghe cũng chêm vào, “Ờ, mà pháp thuật là gì cơ chứ? Cái thứ Chân Pháp Thuật này là cái gì, ngoài một mớ những chuyện ra vẻ bề ngoài? Nó đã bao giờ cứu sống người chết hay thậm chí là giúp người ta sống lâu hơn chưa? Chắc chắn là nếu các pháp sư quả thật có thứ quyền lực mà họ vẫn khoe khoang, thì họ đã sống trường sinh rồi!” Và cậu ta cùng cậu học trò kia bắt đầu kể cho nhau nghe về cái chết của những vị pháp sư hùng mạnh, nào là Morred bị giết trong chiến trận, Nereger bị Pháp Sư Xám sát hại, rồi Erreth-Akbe bị giết bởi một con rồng, và Gensher, vị Tổng Pháp Sư trước, ốm chết trên giường mình chẳng khác gì một người bình thường. Một số cậu học trò lắng nghe vẻ khoái trá, vì chúng có trái tim đầy ghen tức; những cậu khác thì lắng nghe mà lòng đau đớn.

Trong suốt khoảng thời gian ấy, thầy Kiến Tạo cứ ở lại trong Cụm Rừng và không cho phép ai bước vào.

Nhưng người Giữ Cửa, mặc dù người ta không hay nhìn thấy ông, thì vẫn không thay đổi. Mắt ông không hề bị che phủ bởi một bóng tối nào. Ông vẫn mỉm cười, và giữ cho những cánh cửa ở Nhà Chính sẵn sàng để đón chủ nhân của nó quay về.

« Lùi
Tiến »